1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quá trình phát triển văn hoá giáo dục huyện tĩnh gia thanh hoá từ năm 1945 2004

53 407 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quá trình phát triển văn hoá - giáo dục huyện Tĩnh Gia - tỉnh Thanh Hoá từ năm 1945 đến năm 2004
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Thanh Hóa
Chuyên ngành Văn hóa - Giáo dục
Thể loại Đề tài nghiên cứu
Năm xuất bản 2004
Thành phố Thanh Hóa
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 263,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài “Quá trình phát triển văn hoá - giáo dục huyện Tĩnh Gia- tỉnh Thanhhoá từ năm 1945 đến năm 2004” nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống bớc đầu về những thành tựu văn hoá - giáo dục

Trang 1

Phần 1: mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Về mặt khoa học.

Thanh Hoá là cầu nối giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, bên cạnh sự nổi tiếng

về di tích và cảnh đẹp thiên nhiên, nơi đây còn sản sinh ra nhiều nhân tài cho đấtnớc Vì thế “ Lịch triều hiến chơng loại chí” của Phan Huy Chú viết “ Vẻ nonsông tốt tơi, chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vơng tớng, khí tinh hoa tụ họp nẩy

ra nhiều văn nho, bởi vì đất thiêng thì nhiều ngời giỏi nên nẩy ra nhiều bậc phithờng, vợng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nớc” Hiện nay ThanhHoá có 27 huyện, thị, trong đó có một thành phố( thành phố Thanh Hoá), hai thịxã( Sầm Sơn và Bỉm Sơn), một khu đô thị mới Nghi Sơn

Tĩnh Gia là huyện đồng bằng ven biển, gắn bó máu thịt với tỉnh ThanhHoá, với Tổ quốc trong tiến trình lịch sử, vì vậy vùng đất “Nam Thanh Bắc Nghệ”này cũng mang đầy đủ truyền thống văn hoá lâu đời của dân tộc, đồng thời cũngmang sắc thái riêng của một vùng quê xứ Thanh- một vùng“ Địa linh nhân kiệt”

Suốt chiều dài lịch sử của huyện, Tĩnh Gia không ngừng xây dựng và pháttriển quê hơng về mọi mặt,trong đó văn hoá-giao dục là một trong những lĩnh vựcnổi bật Vì vậy nên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng năm 2001 đ-

ợc tiến hành dới khẩu hiệu “Trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới” là khát vọng vơntới một tầm cao văn hoá trong điều kiện lịch sử mới Đại hội IX có điều kiệnquán triệt sâu sắc t tởng Hồ Chí Minh về văn hoá Văn hoá đối với chúng ta làmột mặt trận, một lĩnh vực cực kỳ quan trọng Đại hội tiếp tục thực hiện Nghịquyết TW5 khoá VIII về xây dựng và phát triển văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm

đà bản sắc dân tộc và tiếp tục kế thừa truyền thống văn hiến của cha ông, coi hiềntài là nguyên khí của quốc gia, yêu cầu phải chuẩn hoá, hiện đại hoá và xã hộihoá hoạt động giáo dục

Đề tài “Quá trình phát triển văn hoá - giáo dục huyện Tĩnh Gia- tỉnh Thanhhoá từ năm 1945 đến năm 2004” nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống bớc đầu

về những thành tựu văn hoá - giáo dục mà nhân dân Tĩnh Gia đạt đợc trong suốtgần 60 năm Từ đó góp phần thiết thực vào nghiên cứu văn hoá - giáo dục ThanhHoá trong hơn nữa thế kỷ qua.Thông qua đó khẳng định đờng lối phát triển vănhoá của Đảng và Nhà nớc ta từ năm 1945 đến nay thực sự đúng đắn, sáng tạo,mang lại lợi ích thiết thực cho mọi ngời dân, đồng thời là động lực thúc đẩy kinh

Trang 2

tế, chính trị, xã hội phát triển, tạo nguồn lực con ngời cho công cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, phát triển đất nớc.

1.2 Về mặt thực tiễn.

Từ lâu văn hoá - giáo dục có một vị trí hết sức quan trọng trong đờisống xã hội Triều đại bao nhiêu lần hng vong, giang sơn bao nhiêu lần đổi chỗ,song nhân dân ta vẫn tiếp tục xây dựng thêm bề dày truyền thống văn hoá

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành sự quan tâm đặc biệt đến việc đàotạo nhân tài cho quốc gia:

“ Vì lợi ích mời năm trồng cây

Vì lợi ích trăm năm trồng ngời”

Thực tế cho thấy giữa kinh tế – xã hội và văn hoá - giáo dục có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau Kinh tế – xã hội phát triển sẽ thúc đẩy, tạo đà cho văn hoá

- giáo dục có điều kiện nở rộ Ngợc lại, văn hoá - giáo dục phát triển sẽ góp phần

ổn định trật tự xã hội, ứng dụng thành tựu khoa học vào đời sống, tạo mục tiêu,

động lực để kinh tế phát triển

Thông qua việc nghiên cứu đề tài “Quá trình phát triển văn hoá - giáo dụchuyện Tĩnh Gia - tỉnh Thanh Hoá từ năm 1945 đến 2004” chúng tôi hy vọng sẽgóp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu sự phát triển văn hoá - giáo dục nớc nhàgần 60 năm qua Qua đề tài để hiểu rõ hơn lịch sử dân tộc, góp phần quan trọngvào việc giáo dục cho mỗi ngời trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá

độc đáo của địa phơng Tĩnh Gia, vào kho tàng văn hoá - giáo dục chung của dântộc nói chung và Thanh Hoá nói riêng

Gần sáu mơi năm tồn tại và trởng thành, văn hoá-giáo dục Tĩnh Gia sảnsinh ra và đào tạo ra nhiều bậc hiền tài, trí thức cho đất nớc Đây chính là tài sảnvô giá, lao động cùng với trí tuệ, tài và đức của họ đã góp phần làm rạng rỡ nonsông đất nớc, quê hơng Đề tài góp phần giáo dục truyền thống yêu quê hơng đấtnớc, qua đó nhắn nhủ thế hệ trẻ hôm nay trên quê hơng Tĩnh Gia biết kế thừa vàphát huy những truyền thống tốt đẹp của ông cha

Là một ngời con của quê hơng, tô mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào

sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá - giáo dục huyện nhà qua khoá luận tốtnghiệp với đề tài “ Quá trình phát triển văn hoá - giáo dục ở huyện Tĩnh Gia –Thanh Hoá từ 1945 đến 2004”

Trang 3

2- Lịch sử vấn đề.

Việc nghiên cứu văn hoá - giáo dục nớc ta đã đợc nhiều tác giả tiến hành

và đạt đợc kết quả nhất định nh các tác phẩm: Đại cơng lịch sử Việt Nam (3 tập),Tiến trình lịch sử Việt Nam, Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay,…(giáo trình đại(giáo trình đạihọc, cao đẳng), Các nhà khoa bảng Việt Nam, Những ông nghè ông cống triềuNguyễn, Lịch triều hiến chơng loại chí,…(giáo trình đại

Tuy nhiên, nghiên cứu về văn hoá - giáo dục ở huyện Tĩnh Gia xa và naycha có một công trình nào đề cập toàn diện và có hệ thống mà còn nằm tản mục ởmột số tài liệu sau:

- Bài viết trong các Tạp chí giáo dục Thanh Hoá

Đổ Văn Phác: Đồng hành cùng đất nớc; ấm áp nghĩa tình trong Hơng đất Tập bút ký phóng sự, NXB Thanh Hoá, 1998

Lê Anh San: Trờng tiểu học đầu tiên của phủ Tĩnh Gia trong tác phẩm “TĩnhGia - Quê hơng - đất nớc - con ngời” của Hội đồng hơng Tĩnh Gia tại Hà Nội,NXB Thanh niên Hà Nội, 1998

- Các báo cáo, Nghị quyết của Đảng Bộ huyện về phát triển văn hoá-giáo dục

- Các báo cáo tổng kết hàng năm của ngành giáo dục - đào tạo, phòng văn hoá

- Năm mơi năm giáo dục Thanh Hoá: Sự kiện và thành tựu NXB Thanh Hoá, 1995

- Địa linh Tào Sơn - Tĩnh Gia - Thanh Hoá trong “ cội nguồn ”, tập 3, NXBvăn hoá dân tộc, Hà Nội, 1999

- Lịch Đảng bộ các xã trong huyện, báo cáo nội bộ tình hình phát triển củacá xã nhân dịp tổng kế đợt, thời kỳ, cuối năm

Các tài liệu này đề cập ít nhiều đến văn hoá - giáo dục ở Tĩnh Gia - ThanhHoá, nhng cha nghiên cứu một cách toàn diện về sự phát triển của văn hoá giáodục huyện Tĩnh Gia trong khoảng thời gian từ 1945 đến 2004 Do đó với t cách làmột chuyên khảo độc lập, chúng tôi muốn tìm hiểu và giới thiệu một cách kháiquát văn hoá giáo dục Tĩnh Gia từ năm 1945 đến năm 2004 trên cơ sở kế thừa cácnguồn t liệu ở địa phơng nh sách, báo, tạp chí

3 Đối t ợng và phạm vi nghiên cứu.

Trang 4

Với đề tài “Quá trình phát triển văn hoá - giáo dục ở huyện Tĩnh Gia –Thanh Hoá từ năm 1945 đến 2004”, cần xác định đợc vị trí địa lý, điều kiện tựnhiên, truyền thống văn hoá - giáo dục khoa cử Tĩnh Gia trớc Cách mạng thángTám, vì đó là cơ sở để hình thành và đặt nền móng cho văn hoá - giáo dục TĩnhGia không ngừng phát triển ở giai đoạn sau.

Đối tợng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là những thành tựu văn hoá - giáodục trong hơn nửa thế kỷ qua (1945 – 2004)

Vì vậy, phạm vi nghiên cứu về văn hoá - giáo dục của đề tài là ở một huyệnTĩnh Gia thuộc tỉnh Thanh Hoá, trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 2004

Trang 5

4 Nguồn tài liệu và ph ơng pháp nghiên cứu.

“Quá trình phát triển văn hoá - giáo dục ở huyện Tĩnh Gia – Thanh Hoá”

là đề tài chuyên khảo nhằm tổng kết thành tựu, bài học kinh nghiệm về văn hoá giáo dục trong suốt chặng đờng gần 60 năm qua Do đó, khi nghiên cứu khôngthể tập trung vào nguồn tài liệu cơ bản, đó là các tác phẩm thông sử Việt Nam,chuyên khảo về giáo dục khoa cử ở nớc ta Ngoài nguồn tài liệu đó, trong quátrình nghiên cứu, tôi chủ yếu khai thác các sách viết về tỉnh Thanh Hoá, các t liệubáo cáo sơ kết, tổng kết, số liệu thống kê hàng năm về văn hoá - giáo dục huyệnnhà hiện còn lu trữ tại Phòng văn hoá, Phòng giáo dục - đào tạo, th viện…(giáo trình đạiĐể xác

-định tính chính xác khoa học, tôi còn trực tiếp tiếp xúc, gặp gỡ, tiếp thu ý kiếncủa nhiều cán bộ văn hoá - giáo dục huyện Tĩnh Gia

Để hoàn thành đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phơng pháp lịch

sử, lôgích, thống kê, lập bảng so sánh, đối chiếu, tổng hợp…(giáo trình đạiNgoài ra, để đảm bảotính chính xác, khi thu thập, su tầm, xử lý, nghiên cứu t liệu và biên soạn đề tàichúng tôi sử dụng phơng pháp luận mác xít và t tởng Hồ Chí Minh để rút ranhững nhận xét sát thực về văn hoá - giáo dục huyện Tĩnh Gia từ năm 1945 đến2004

Đề tài cũng góp phần vào việc nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địaphơng Thông qua đó giáo dục lòng yêu quê hơng đất nớc, giữ gìn và phát huytruyền thống văn hoá dân tộc cho thế hệ trẻ ngày nay

Trang 6

6 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, tranh

ảnh, khoá luận đợc kết cấu gồm 3 chơng

Chơng 1: Khái quát quá trình phát triển văn hoá - giáo dục Tĩnh Gia trớcCách mạng tháng Tám 1945

Chơng 2: Tình hình văn hoá - giáo dục Tĩnh Gia trong kháng chiến chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975)

Chơng 3: Quá trình phát triển văn hoá - giáo dục Tĩnh Gia từ năm 1976

Tĩnh Gia trớc cách mạng tháng tám 1945

Trang 7

1.1- Điều kiện tự nhiên - xã hội.

1.1.1- Điều kiện tự nhiên.

Huyện Tĩnh Gia nằm ở Đông Nam tỉnh Thanh Hoá, phía Bắc giáp huyệnQuảng Xơng, phía Tây giáp huyện Nh Xuân, Nông Cống, phía Nam giáp huyệnQuỳnh Lu (Nghệ An), phía Đông là biển

Trên đất liền, Tĩnh Gia nằm dọc theo quốc lộ 1A từ Bắc đến Nam dài 35

km, từ Đông sang Tây rộng 18km Diện tích tự nhiên của huyện là 43817,2ha,trong đó đất nông nghiệp là 10111,18 ha, đất chuyên dùng 3,315 ha, đất ở 939,17

ha, đất cha sử dụng 18476,8 ha

Là một huyện đồng bằng nhng vùng núi chiếm 1/4 diện tích, tập trung vềphía Tây và phía Nam của huyện Đây là điều kiện tốt để Tĩnh Gia phát triển kinh

tế lâm nghiệp Ruộng đồng tập trung ở đồng bằng ven sông, ven biển

Nằm ở cực Nam của tỉnh Thanh Hoá, khí hậu Tĩnh Gia một mặt mangnhững nét đặc trng chung của tỉnh đó, là khí hậu nhiệt đới gió mùa, đồng thời cónét riêng biệt đó là mùa hè nóng do ảnh hởng của gió Tây khô nóng, mỗi năm có

từ 13,14 đợt tập trung vào tháng 7 - 8 và gió vào tháng 10 - 11 đạt 2,2m/s Vì thếTĩnh Gia bị ảnh hởng rất lớn của bão, Tĩnh Gia có bờ biển dài nên có thêm gióbiển

Biển Tĩnh Gia có chiều dài 41 km, có 2 hòn đảo lớn là Nghi Sơn và Hòn

Mê Bờ biển phẳng mịn màng và có 3 cửa lạch lớn: Lach Ghép, Lạch Bạng vàLạch Hà Nẫm Biển thuộc phần biển nông của Vịnh Bắc Bộ, mức độ mặn vừaphải theo mùa Tài nguyên Biển phong phú có nhiều tôm và nhiều loại hải sảnquý nh cá thu cá chim, tôm hùm, mực với tiềm năng về biển nh vậy tạo điềukiện cho kinh tế Tĩnh Gia phát triển các nghề nh: nghề làm muối, nghề đánh bắthải sản; hiện nay Tĩnh Gia đang phát triển nghành du lịch biển

Tĩnh Gia có 3 hệ thống sông ngòi chính: Sông Yên, sông Lạch Bạng, sông

Hà Nẫm Ngoài ra còn có hệ thống sông đào đợc khởi công từ thời Tiền Lê - hệthống sông đào này đợc hoàn thành qua nhiều thơi kỳ, đi từ Nam Định đến huyện

Kỳ Anh ( Hà Tĩnh) đoạn sông ở địa phận Tĩnh Gia gọi là Kênh Than

Tĩnh Gia có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, ngoài mỏ Kẽm ởTam Sơn, xã Tân Trờng còn có nguyên liệu để sản xuất vật liệu xây dựng nh séttrắng, cát thuỷ tinh Đặc biệt là đá vôi để làm xi măng ở phía Nam huỵên có trữ l-ợng trên 1000 tỷ tấn

Trang 8

Tĩnh Gia có hai tuyến đờng giao thông quan trọng là quốc lộ 1A và đờngsắt Bắc-Nam Đây là huyết mạch nối các vùng miền, với các tỉnh thành trong n-

ớc Ngoài hệ thống giao thông chính, còn có những tuyến đờng giao thông khácnối liền các huyện, xã với nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sinh hoạt, đi lạicủa ngời dân, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội và giao lu tiếp xúcvăn hoá với các huỵên, tỉnh khác trong nớc

Nh vậy, với điều kiện tự nhiên thuận lợi, tài nguyên thiên nhiên phong phú

có biển, có rừng, có đồng bằng, sông ngòi thiên nhiên tạo cho Tĩnh Gia một tiềmnăng kinh tế lớn mạnh Song cũng gây ra khó khăn nhất định nh: thiên tai, hạnhán, lũ lụt, ôi nhiễm môi trờng Ngời dân Tĩnh Gia với truyền thống lao động cần

cù, sáng tạo, giầu lòng yêu nớc thơng nòi, quyết tâm xây dựng quê hơng trởthành một trong những vùng kinh tế – xã hội phát triển tiêu biểu của tỉnhThanh Với truyền thống đó nhân dân Tĩnh Gia đã vợt qua muôn vàn khó khăn,học tập rèn luyện và vơn lên để phát triển quê hơng

ý thức đợc tầm quan trọng của việc duy trì bản sắc văn hoá truyền thốngdân tộc, các tầng lớp nhân dân huyện Tĩnh Gia một mặt vừa kế thừa truyền thốnghiếu học của ông cha, mặt khác vừa phát huy tinh thần ham học hỏi, giao l u tiếpxúc với các vùng phụ cận, tạo dựng nên văn hoá - giáo dục mang sắc thái riêng,góp phần xây dựng quê hơng, đất nớc giầu mạnh

1.1.2: Điều kiện xã hội

Trải qua những thăng trầm lịch sử, cùng với chiều dài phát triển của đất

n-ớc, đất và ngời Tĩnh Gia cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là tên huyện, tên xã và

địa vực hành chính

Hiện nay Tĩnh Gia có 217.811 ngời, gồm đa số dân tộc kinh, một số ít làdân tộc Thái Bà con theo đạo Thiên Chúa là 14.000 ngời, chiếm hơn 6% dân sốcủa huyện

Nền kinh tế chủ yếu của Tĩnh Gia là kinh tế nông nghiệp Hiện tại huyện

đang phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản và đánh bắt hải sản; ở phía Nam huyện

đang phát triển công nghiệp

Thời thuộc Hán, Tĩnh Gia thuộc phần đất phía Đông Nam huyện C Phong củaquận Cửu Chân, đến thời Tam Quốc(220-280) Tĩnh Gia là vùng đất huyện ThờngLạc, thời nhà Tuỳ, Đờng là huyện An Thuận

Trang 9

Sau khi nớc ta giành đợc quyền độc lập tự chủ thế kỷ X và trải qua cáctriều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, địa danh Tĩnh Gia không thay đổi - huyện AnThuận Đến thời Trần, Hồ(thế kỷ XIII – XIV và đầu thế kỷ XV) Tĩnh Gia có têngọi là huyện Cổ Chiếu Thời thuộc Minh có tên là huyện Cổ Bình thuộc châu CửuChân lệ vào phủ Thanh Hoá Năm Quang Thuận thứ X (1469) dới đời vua LêThánh Tông mới đặt tên là huyện Ngọc Sơn do phủ Tĩnh Ninh kiêm lý [16;209].

Tên Ngọc Sơn có từ đây và tồn tại đến giữa thế kỷ XIX (1838) cùng với

đặc đổi tên một số huyện nh Thuy Nguyên Thành Thiệu Hoá, Lôi Dơng ThànhThọ Xuân thì huyện Ngọc Sơn đợc gọi là phủ Tĩnh Gia Sau Cách mạng thángTám có tên là Huyện Tĩnh Gia

Đầu thế kỷ XIX ( giữa đời Gia Long) huyện Ngọc Sơn có 4 tổng là VănTrinh, VănTrờng, Liên Trì và Duyên La bao gồm có 220 xã, thôn, trang, phờng,tộc, giáp Năm Minh Mệnh thứ 12 ( 1831), phủ Tĩnh Gia bao gồm 4 tổng của vàthêm 2 tổng mới tách ra từ Văn Trờng và Văn Trinh thành 6 tổng “ Đến trớcCách mạng tháng Tám năm 1945 huyện Tĩnh Gia có 5 tổng là Văn Trờng, YênThái, Sen Trì, Văn Trinh, Tuần La, bao gồm 206 làng, thôn (có 198 làng có đồngtuyện và 5 đồng truyện của chánh tổng) [9;5]

Từ năm 1945 đến 1964, địa vực Tĩnh Gia không thay đổi Tháng 12/1964thực hiện Quyết định số 117/CP của Hội đồng Chính phủ Tĩnh Gia tách 7 xã Tr -ờng Minh, Trờng Trung, Trờng Sơn, Trờng Giang, Tợng Lĩnh, Tợng Sơn , TợngVăn sáp nhập vào huyện Nông Cống

Ngày 15 tháng 3 năm 1965, thực hiện Nghị quyết số 99/NV của Bộ Nội

vụ, huyện Tĩnh Gia thành lập một xã mới là xã Tân Trờng Ngày 15/3/1973, TĩnhGia có thêm một xã mới nữa là xã Phú Lâm Chính phủ ra quyết định 287/CPchia xã Thanh Kỳ của huyện Nh Xuân thành 2 xã Thanh Kỳ và Phú Sơn Xã PhúSơn sáp nhập vào huyện Tĩnh Gia Ngày 14/12/1984 Hội đồng Bộ trởng có quyết

định 163 QĐ/HĐBT chia xã Hải Thợng thành 3 xã: Hải Thợng, Nghi Sơn, Hải

Hà và thành lập thi trấn huyện lỵ Tĩnh Gia ( Thị trấn Còng) Đến nay Tĩnh Giagồm 34 xã và thị trấn, các xã gồm; Hải Châu, Hải Ninh, Hải An, Tân Dân, HảiLĩnh Ninh Hải, Hải hoà, Hải Thanh, Hải Bình, Tĩnh Hải, Hải Yến, Hải Thợng ,Hải Hà, Nghi Sơn, Thanh Sơn, thanh Thuỷ, Các Sơn, Anh Sơn, Hùng Sơn, NgọcLĩnh Triêu Dơng, Định Hải, Hải Nhân, Bình Minh, Nguyên Binh, Phú Sơn, PhúLâm, Xuâm Lâm, Mai Lâm, Trúc Lâm, Tùng Lâm, Trơng Lâm,Tân Trờng

Tĩnh Gia có điều kiện tự nhiên xã hội tơng đối thuận lợi, có biển có rừng

có đồng bằng nên “đất lành chim đậu”; c dân Tĩnh Gia ngày càng đông đúc Nếu

Trang 10

vào những năm 1926 – 1930 c dân Tĩnh Gia khoảng 58.700 ngời thì đến năm

1960 có gần 100.000 ngời Năm 1999 là 219.104 ngời Đến nay Tĩnh Gia có dân

số đông vào thứ 4 so với 27 huyện, thị của tỉnh Thanh Hoá

ở vào cực Nam của Tỉnh Thanh Hoá - một vùng “ địa linh nhân kiệt” ngờidân Tĩnh Gia có truyền thống cần cù lao động sản xuất, có nhiều ngời tài đứccống hiến cho đất nớc, cho dân tộc và quê hơng trong suốt chặng đờng xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc

Vùng Phá Voi (Bắc và Nam sông Yên ) vào những năm 40 của thế kỷ I, dớithời Hai Bà Trng, nơi đây đã diễn ra những trận chiến đấu cuối cùng của nghĩaquân Đô Lơng – Chu Bá chống lại cuộc đàn áp của Mã Viện

Thời nhà Lý, Vua Lý Thái Tổ đã cử Lý Nhật Quang đến vùng Biện Sơn,vùng Hải Bình ngày nay xây dựng kho đạn, nạo vét sông ngòi.Thời Trần, thời Lêmảnh đất này lúc là tiền tuyến, lúc là hậu phơng cùng cả nớc và Thanh Hoá xâydựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt độc lập, tự chủ và hùng cờng

Cuối năm 1788 đầu năm 1789 cả vùng Tĩnh Gia lại sôi động nhộn nhịp

đón đoàn quân Tây Sơn do Quang Trung – Nguyễn Huệ chỉ huy rầm rộ tiến raBắc tiêu diệtg quân Thanh xâm lợc Nhân dân Tĩnh Gia tự hào về những đónggóp nhân tài, vật lực vào chiến thắng mùa xuân Kỷ Dậu(1789) của Quang Trung– Nguyễn Huệ đập tan 29 vạn quân Thanh xâm lợc

Tinh hoa văn hoá - truyền thống yêu quê hơng của ngời Tĩnh Gia lại bừngsáng vào cuối và giữa thế kỷ XIX khi đất nớc ta bị thực dân Pháp xâm lợc, rồi

đến kháng chiến chống đế quốc Mỹ và khi đất nớc xây dựng chủ nghĩa xã hội.Những hơng ớc các làng, những địa danh đã minh chứng cho vùng đất Tĩnh Gia

có truyền thống văn hoá, trọng sự học hành, có kỷ cơng trật tự, đoàn kết xây dựngquê hơng giầu đẹp Trong quá trình đó ngời dân Tĩnh Gia còn để lại cho hậu thếnhững nét văn hoá đến ngày nay vẫn đợc lu truyền Đó là những trò diễn dângian, những nghề truyền thống nổi tiếng Tất cả tạo nên một sắc thái văn hoáriêng của ngời và đất Tĩnh Gia trong sắc thái “văn hoá” xứ Thanh đa dạng, phongphú

1.2 Khái quát tình hình phát tiển văn hoá - giáo dục Tĩnh Gia tr ớc Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Không rõ ảnh hởng của Sĩ Nhiếp, ngời đợc nhân dân ta tôn làm “ Namgiao học tổ” có tác dụng đến ái Châu thế nào, nhng điều biết chắc chắn là, hồi

Trang 11

đó con cháu có gia đình thuộc tầng lớp trên đã đợc học hành theo từng hoàn cảnhnhất định.

Thế kỷ X, Lý Công Uẩn lên ngôi, Nho giáo đợc thừa nhận Cũng từ đâyNho học bắt đầu đợc hình thành và phát triển Năm 1075, Lý Thánh Tông mởkhoa thi đầu tiên với tên gọi Minh kinh bác học Năm 1076 lập Quốc Tử Giámcho con em quan lại vào học Giáo dục khoa cử Nho học tồn tại ở nớc ta đếnnăm 1919 dới đời vua Khải Định

Trong lịch sử khoa cử 844 năm ấy có tổng số 187 khoa thi (đại khoa), lấy

đậu 2291 Tiến sĩ Từ con số trên cho chúng ta thấy rằng, truyền thống văn hoágiáo dục đã có ngay từ thế kỷ XI và truyền thống đó đợc gìn giữ và phát huy ngàymột vững chắc ở các thế hệ tiếp theo

Tĩnh Gia có lịch sử khoa cử 444 năm(1475-1919), kể từ khi có vị khaikhoa là ông Đỗ Tơng (Thôn An Lộc – xã Phấn Tĩnh) đỗ Tiến sĩ khoa thi năm ấtMùi, đời vua Lê Thánh Tông (1475) đến khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn(1919) là ông Trơng Hữu Thiện (Làng Thiên ứng) Gia phả các dòng họ hiện còn

lu giữ ghi chép những ngời đỗ đạt tính từ thời Lê Sơ về sau Nhng chắc hẳn việcgiáo dục, học hành ở Tĩnh Gia đã có từ thời Lý Trần, song có thể vì trong khoa cửcha có ngời đổ đạt cao, cũng có thể tài liệu bị thất lạc nên đến nay cha biết rõlắm

Tính từ khoa thi năm 1475 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, huyện TĩnhGia có 9 Tiến sĩ (đại khoa) trong giáo dục khoa cử thời phong kiến, bao gồm:

1 Đỗ Tơng: Thôn An Lạc, xã Phấn Tĩnh, đỗ khoa thi năm ất Mùi 1475

2 Nguyễn Lệnh Đự: Xã Văn Lâm, nay là xã Trờng Lâm, đỗ khoa thi GiápDần ( 1554), đời vua Lê Trung Tông

3 Lơng Chí: Làng Tào Sơn, nay là xã Thanh Thủy, đỗ khoa thi Kỷ Sửu( 1589),

Trang 12

7 Lơng Lâm: Làng Tào Sơn, nay là xã Thanh Sơn, đỗ khoa ất Mùi(1715), đờivua Lê Dụ Tông.

8 Lê Khắc Doãn: làng Liên Trì, nay là xã Triêu Dơng, đỗ khoa thi Đinh Mùi(1907) đời vua Thành Thái

9 Trơng Hữu Thiệu: làng Thiên Ưng, nay thuộc huyện Nông Cống đỗ khoa thi1918

Nh vậy trải qua hơn 4 thế kỷ, Tĩnh Gia có 9 ngời đỗ Tiến sĩ Lịch sử giáo dụckhoa cử Tĩnh Gia cũng ghi danh các vị hơng cống, bao gồm:

1 Hoàng Tơng: Thôn Can Trúc, nay thuộc huyện Nông Cống, đỗ năm 1699

2 Lơng Mật: Làng Tào Sơn, nay thuộc xã Thanh Sơn, đỗ năm 1699

3 Lơg án: Làng Tào Sơn, nay là xã Thanh Thuỷ, đỗ năm 1699

Trang 13

18 Nguyễn Bảo: xã Khoa Trờng, đỗ năm 1738.

19 Lơng Lu: xã Thanh Thuỷ, đỗ năm 1743

20 Nguyễn Đoan Ngng: xã Tợng Sơn, nay thuộc Huyện Nông Cống, đỗ năm1743

21 Lê Trong Toản: xã Hải Yến, đỗ năm 1747

33 Lê Thì Kinh: Hai Anh em ở thị trấn Còng, đỗ năm 1783

34 Lê xuân Mai: xã Hải Yến, đỗ năm 1783

35 Cao Nguyên Luận: xã Hải Yến, đỗ năm 1813

Ngoài ra theo sách “Đăng khoa lục” còn có Tiến sĩ Lê Huy Tiên: Làng liêntrì xã Triêu Dơng, đỗ năm 1867; Tống Văn Bồng (còn gọi là Ông Cử Tống ThanhSơn) ở Tào Sơn nay là xã Thanh Sơn; Nguyễn Quang Cảnh, Thôn Ngọc Đờng naythuộc xã Hải Yến đậu Phó bảng thời Minh Mệnh, đợc vua ban biểu “ Phô tấu tr-ờng minh, văn học mẫn bác”

Ngoài các vị Tiến sĩ, Cử nhân, ở thế kỷ XVI đất và ngời Ngọc Sơn – TĩnhGia còn sản sinh ra một nhân vật kiệt xuất đó là Đào Duy Từ (1572 – 1634) quê

ở làng Hoa Trai nay là xã Nguyên Bình Với trí lớn tài cao Đào Duy Từ đã cốnghiến nhiều công lao trên tất cả các lĩnh vực chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục

Trang 14

Đặc biệt là trong giáo dục, ông mở trờng học, tự đặt ra lệ thi tuyển các chức dịch,

ông là ngời đã cử tuyển cho Chúa Nguyễn một viên tớng tài ba Nguyễn Hữu Tiến( Quê ở Tĩnh Gia )

Với công lao to lớn trên tất cả các lĩnh vc, chỉ 8 năm (1626-1634) mà cơnghiệp chúa Nguyễn thay đổi hẳn, đất Đàng Trong có văn hiến và quy củ Ngàynay, nhiều nơi lấy tên ông đặt cho trờng học, đờng phố Điều đặc biệt là chínhtrên quê hơng ông (xã Nguyên Bình – Tĩnh Gia Thanh Hoá) có ngôi trờngmang tên ông: Trờng Trung học cơ sở Đào Duy Từ ( Tiền thân là trờng cấp IINguyên Bình) Thầy và trò luôn cố gắng và tự hào với tên của trờng mình

Ngoài những thành tựu về giáo dục thì nền văn hoá của Huyện Tĩnh Giacũng phát triển nh lễ hội, phong tục tập quán, tín ngỡng đợc đợc giữ gìn và pháthuy Thuần phong mỹ tục luôn luôn đợc nhân dân coi trọng, các lễ hội nh lễ hộibơi trãi ở các làng ven lạch Bạng – Lễ hội này diễn ra ngày 17 và 18 tháng 4 âmlịch hàng năm Mỗi làng sắm riêng một bộ chèo dàng cho thi bơi chải bằng gỗ

“choại vàng”, vừa dẻo, vừa cứng, sơn đỏ ở phía trên và sơn vàng ở phía mái Đây

là bộ “chèo thờ”, quanh năm gác trên quá giang của đình làng, chỉ khi vào hộimới đem ra dùng [18;149]

Từ lễ hội này các làng vùng ven Lạch Bạng tổ chức đợc môn thể thao củahuyện, của tỉnh và đất nớc những vận động viên bơi lội, tô thêm truyền thống củadân “kẻ biển” quê hơng

Ngoài lễ hội bơi trải, nhân dân Tĩnh Gia còn tổ chức các lễ hội: chơi cờngời đầu xuân, hội thi hát, lễ cầu ma, phong tục tế lễ nhớ ơn các bậc tiền bối –tiêu biểu là bài văn tế 4 cụ tổ làng Ngọc Đờng

Cây ngàn thớc trãi đòi phen gió giữ,

Tay trồng cây thêm tỏ đức tài bồi

Giếng t mùa sau mấy trận nắng hồng

Ngời khai giếng mới đáng công ghi tạc

Giang sơn ấy nhờ ai khai tịch

Bởi ngày xa mới có ngày nay

Cơ nghiệp này tích cuộc lâu dài

Xem sử mới, khôn quên sử trớc

Trang 15

Với những lễ hội truyền thống, nhân dân Tĩnh Gia đã đúc kết đợc nhữngcâu ca quen thuộc: “Ai về vùng đất Tĩnh Gia mà xem câu hát lễ hội đầu xuân ghé qua Thanh Thuỷ mà xem bảy cô thôn nữ dân quân bắn tàu bay Mỹ rơi ngangqua cầu ”

Với tinh thần cần cù, sáng tạo, nhân dân Tĩnh Gia đã và đang phát triển vănhoá giáo dục ngày một vững mạnh

Khi hiệp ớc Hác măng (1883) và Patơnốt (1884) đợc ký kết với triều đìnhHuế, thực dân Pháp cơ bản hoàn thành công cuộc xâm lợc nớc ta Từ đây, cũng

nh nhân dân cả nớc và Thanh Hoá nói chung, nhân dân Tĩnh Gia nói riêng đoànkết bớc vào thời kỳ đấu tranh giành độc lập tự chủ

Từ 1885 đến 1896, Thanh Hoá nói chung, Tĩnh Gia nói riêng sôi nổi chốngPháp của tầng lớp văn thân, sĩ phu yêu nớc nh Phạm Bành, Đinh Công Tráng,Tống Duy Tân đến các thủ lĩnh miền núi nh Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc và nhândân các làng xã Tầng lớp sĩ phu Nho học Tĩnh Gia, Thanh Hoá có nhiều đónggóp trong phong trào Cần Vơng cuối thế kỷ XIX.Sau khi dập tắt phong trào CầnVơng, thực dân Pháp triển khai chơng trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất(1897 – 1914) Đi đôi với thủ đoạn khai thác, bóc lột nặng nề về kinh tế, thựcdân Pháp tăng cờng thực hiện chính sách văn hoá - giáo dục ngu dân nhằm rungủ ý thức dân tộc và tinh thần đấu tranh của nhân dân ta Trong khi đó văn hoá -giáo dục Thanh Hoá còn hết sức lạc hậu, phong tục tập quán lạc hậu còn đè nặng.Cho đến năm 1927, cả Tỉnh Thanh Hoá mới có một trờng trung học và 10 trờngtiểu học Huyện Tĩnh Gia có 1 trờng tiểu học gồm 6 lớp và vài trờng t thục tiểuhọc Nhng tất cả các trờng học đều phải chịu sự kiểm soát gắt gao của Pháp Giáodục Pháp - Việt nhỏ giọt thay thế giáo dục Hán học ở Tĩnh Gia - Thanh Hoá nóiriêng, cả nớc nói chung

Năm 1918, khoa thi Hơng cuối cùng đợc tổ chức tại trờng thi Nghệ An chohọc trò Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh dự thi Năm 1919, khoa thi Hội cuối cùng

đợc tổ chức tại Huế Nền giáo dục khoa cử Nho học ở nớc ta kết thúc sau 845năm tồn tại và phát triển Từ đây nền giáo dục Tây học chính thức thay thế giáodục Hán học Bớc đầu của nền giáo dục Tây học là mở các trờng sơ học Tĩnh Giangay từ năm 1920, 1921 có hai trờng sơ học, đó là: Trờng sơ học Tào Sơn và tr-ờng sơ học Ngọc Đờng

Các thầy giáo đầu tiên của trờng sơ học gồm:

Trang 16

1 Thầy Nguyễn Duy Vận: Đậu Tú tài khoa thi năm Mậu Ngọ (1918) trờng thiNghệ An Năm 1921 ông đợc bổ làm giáo viên trờng sơ học Ngọc Đờng, rồi sangtrờng Tào Sơn Năm 1925 cụ xin thôi dạy trờng công mà về quê mà nhà mở trờngt.

2 Thầy Lê Dinh: có bằng tiểu học, làm giáo viên trờng Tào Sơn

3 Thầy Lê Cù Đằng: có bằng tiểu học.Dạy học từ năm 1923 đến năm 1945 ởtrờng Tào Sơn và trờng Ngọc Đờng

4 Thầy Tuy: Giáo viên trờng Tào Sơn

5 Thầy Gạch: Giáo viên trờng Tào Sơn

6 Thầy Nghị: Quê ở Huyện Đông Sơn

Ban đầu, cha xây dựng đợc trờng lớp, thầy và trò phải học nhờ nhà ôngCai Xanh, năm 1923 làng Ngọc Đờng xây thêm đợc 2 phòng học, nhng học sinh

có 3 lớp nên thầy giáo Đằng dạy kèm 2 lớp dự bị và 1 lớp sơ đẳng (cả 2 lớp ngồichung 1 phòng học) Lớp đồng ấu (1939) do thầy Nghị dạy Năm 1939 làng Ngọc

Đờng xây dựng thêm 1 phòng học nữa, lớp đồng ấu do thầy Lê Quang Bích dạy,lớp dự bị do thầy Trần Văn Tấn dạy, lớp sơ đẵng do thầy Lê Cù Đằng dạy

Học sinh đến trờng sơ học Ngọc Đờng gồm các làng Vinh Quang, Cao L,Trung Dịch, Văn Yên, Kim Cốc, Hu Lại, Chỉ Trung Các nơi ở xa làng Ngọc Đ-ờng thì học sinh đi học ít

Một số thế hệ học sinh của trờng sơ học gồm:

1 Lê Quang Thiện: Đậu tuyển sinh năm 1924

2 Trần văn Dênh: Đậu sơ học yếu lợc năm1924

3 Nguyễn Bá Tráng: Đậu sơ học yếu lợc năm 1936

4 Trần Văn Huân: Đậu sơ học yếu lợc năm 1943

5 Lê Văn Vũ: Đậu sơ học yếu lợc năm 1943

6 Lê Văn Vng: Đậu sơ học yếu lợc năm 1943

Con em trong vùng có bằng sơ học yếu lợc đều học ở hai trờng sơ họcTào Sơn và sơ học Ngọc Đờng.Theo thống kê cha đầy đủ mỗi năm số ngời đậu ratrờng từ 30 – 40 ngời

Trang 17

Vào thời điểm ấy, chính nhờ có trờng sơ học mà nhân dân Tĩnh Gia cũng

đợc xếp vào hàng “ dân có chữ”- đi ra khỏi làng không bị coi thờng Có một sốngời Tĩnh Gia sau này thành đạt đều đi lên từ trờng sơ học

1 Lê Ngọc Cuông: Kỹ s công chính tham gia lãnh đạo cớp chính quyền ở HàTĩnh tháng 8 năm 1945

2 Cao Văn Thả: Bí th Huyện Uỷ Tĩnh Gia năm 1964 - 1965

3 Cao Bình Dân: Sĩ quan quân đội

4 Lê Nguyên Tảo: Phó Giáo s đại học tổng hợp Hà Nội.Nay là đại học khoahọc xã hội và nhân văn

5 Cao Văn Từ: Tiến sĩ hoá học.Công tác tại Sở khoa học môi trờng TỉnhThanh Hoá

6 Lê Văn Cảnh: Sĩ quan quân đội Đại tá về hu

7 Trần Văn Dơng: Bí th Huyện uỷ Tĩnh Gia năm 1985-1986

8 Trần Văn Huân: Kỹ s cao cấp làm việc tại Hà Nội

Nh vậy, chỉ sau khi kết thúc nền giáo dục khoa cử Nho học (1919), ngaysau đó (1920) Tĩnh Gia có trờng sơ học Lúc đầu có ngời cho học chữ Quốc ngữ (

a, b, c ) là sự điểm nhục, họ không học nhng do ảnh hởng phong trào DuyTân họ cũng nhận thức ra và coi chữ quốc ngữ là phơng tiện cần thiết nên trờngsơ học lại thu hút học sinh đi học, không chỉ có con em gia đình giàu có, quanlại, công chức mà con em nhân dân bình dân trong huyện cũng đợc đi học

Trong thời kỳ chuyển tiếp, ở Tĩnh Gia cũng có một số ngời vừa học chữNho vừa học chữ Quốc ngữ, chữ Pháp nh cụ Trần Văn Duy, Lê NguyênPhong(còn gọi là cụ Hội Phong) Sau làm hội viên Viện Dân biểu Trung kỳ, cóqua lại Huế và quen Phan Bội Châu, cụ Phan tặng cụ Lê Nguyên Phong bài văn tế

4 Cụ Tổ làng Ngọc Đờng Bài văn nh sau:

Bốn vị Tổ tiên ta :

Lòng dốc thơng nòi

Tài thi giết giặc

Phun mây thét gió, tiếng nhân nghĩa làm trống chiêng

Trang 18

Lê -Nguyễn- Trần- Cao bốn cụ nhất tâm, nhất đức,bát diện chu toàn.

…(giáo trình đại

- Cụ Lê thì dốc lng, đổ túi, vứt kim tiền mà cổ vũ anh em

- Cụ Nguyễn thì nấp án khêu đèn mợn bút mực để tính toan phơng lợc

- Cụ Cao thì lùa quân vào mặt trận, dẹp chông gai xông sắt đá, cứu giống nòi

mà toan vứt cả thân

- Cụ Trần thì vác đầu đến cửa quan, rẽ xiềng khoá cam tội tù, nặng đạo nghĩa

mà đành liều cả xác …(giáo trình đại

(Phan Bội Châu - Đông năm 1938)

Trong không khí đấu tranh chống thực dân pháp, mùa hè năm 1923 nhiều giáoviên Tĩnh Gia cùng 200 giáo viên toàn tỉnh đấu tranh chống việc thực dân Phápbắt giáo viên thực hiện nộp thuế thân

Cùng với phong trào đấu tranh chống Pháp, phong trào đòi xoá bỏ tục lệ xôicân gà lợt, xoá bỏ tệ nạn rợu chè, cờ bạc Nhân dân Tĩnh Gia còn tổ chức đợchội hiếu hỷ, hội cày đồng, hội đọc sách, hội tơng tế…(giáo trình đại tại các làng Ngọc Đờng,Khả La, Phong Thái, Tào Sơn và mở các trờng T thục, có nhiều học trò theo học ởcác lớp t thục

Tháng 2/1938 đồng chí Lê Th, Phó Bí th Tỉnh Uỷ đã chỉ đạo thành lập Banvận động cách mạng huyện Tĩnh Gia do đồng chí Nguyễn Hữu Vơn làm trởngban Ban vận động có nhiệm vụ tuyên truyền sách báo của Đảng, tổ chức họcchữ Quốc ngữ, ủng hộ Trung Hoa chống Nhật Phong trào học chữ Quốc ngữphát triển mạnh trong toàn Huyện, mỗi thành viên trong Ban vận động đã ủng hộmột tạ thóc để nuôi thầy và giúp đỡ học trò nghèo

Về văn hoá, thực dân Pháp đã du nhập văn hoá thực dân vào các làng xã,các tệ nạn xã hội và hủ tục nặng nề nh ma chay, cới xin, cúng tế, cờ bạc, rựơu chè

và nhiều tệ nạn khác, làm cho đời sống ngời lao động thêm tối tăm, cực khổ.Chúng thực hiện chính sách ngu dân vong bản, tự ti dân tộc hòng kìm hảmnhân dân ta trong vùng ngu tối đễ bề cai trị Song với sự tiếp thu có chọn lọc,nhân dân Tĩnh Gia không ngừng học tập để vơn lên Trong thời gian này Tĩnh Gia

có một số ngời đậu Tú Tài, Cử nhân cao đẳng của nền học vấn Tây học nh: Cửnhân Luật Lê Ngọc Chấn, Tú tài phùng Quang Lan,Tú tài Lê Ngọc Cấn ( em trai

Lê Ngọc Chấn) sau tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng chuẩn bị cho tổngkhởi nghĩa ở tỉnh nhà

Trang 19

Trong kỳ Điplome (kỳ thi hết cấp 2) Trần Văn Phúc đậu đầu tiên của Trung

Kỳ, sau làm phán sự Bắc Bộ Phủ (th ký ngoại hạng, thợng hạng Bắc Bộ Phủ).Năm 1950 Trần Văn Phúc về Tĩnh Gia làm Hiệu trởng trờng Hải Bình lúc đó tr-ờng có 4 lớp

Năm 1940, dới hai tầng áp bức Nhật - Pháp, nhân dân Tĩnh Gia nói riêng

và nhân dân cả nớc nói chung đã tạm gác bút nghiên, tham gia phong trào khángPháp đuổi Nhật Tiếp đó phong trào “kháng Nhật cứu nớc” nổ ra khắp nơi trongcả nớc Tĩnh Gia vừa đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng vừa tăng cờnghọc chữ Quốc ngữ Hội truyền bá chữ Quốc ngữ ra đời tháng 7 năm 1938 thu hútnhiều đối tợng tham gia Hội góp phần tuyên truyền giáo dục tinh thân yêu nớc,

đẩy lùi và tiến tới xoá bỏ những yếu tố văn hoá thực dân, chống tệ nạn xã hội Mặt khác, nhờ hoạt động tích cực của các Hội truyền bá chữ Quốc ngữ đã tậptrung đợc một lực lợng to để chuẩn bị lực lợng cách mạng, góp phần làm nênthắng lợi Cách mạng tháng Tám năm 1945

Cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời,giải phóng ngời dân khỏi mọi gông xiềng nô lệ Một cuộc đổi đời cha từng có đốivới mỗi ngời dân Việt Nam Toàn thể dân tộc Việt Nam nói chung, nhân dân TĩnhGia - Thanh Hoá nói riêng phấn khởi xây dựng chế độ mới, tin tởng tuyệt đối vào

sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch Những chính sách của chính quyền cáchmạng thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho văn hoá - giáo dục huyện Tĩnh Gia pháttriển trong giai đoạn tiếp theo

Trang 20

chơng 2 TìNH HìNH văn hoá - giáo dục Tĩnh Gia trong KHáNG CHIếN chống THựC DÂN pháp Và Đế QUốC mỹ (1946 - 1975)

2.1 Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1946 - 1954.

Cách mạng tháng Tám thàng công, lần đầu tiên nhân dân làm chủ vậnmệnh của mình Từ đây bắt đầu một trang sử mới trong tiến trình phát triển củavăn hoá - giáo dục cả nớc cũng nh huyện nhà, song cũng đầy thách thức và khókhăn

Sự thống trị của thực dân phong kiến trong suốt gần một thế kỷ để lại hậuquả nặng nề cho Tĩnh Gia, đây là nguồn tài chính trống rỗng, lơng thực khanhiếm, số ngời chết đói ở Tĩnh Gia chiếm tỷ lệ cao so với toàn Tỉnh và cả nớc, hơn95% dân số mù chữ, ngời dân hầu nh không có công ăn việc làm, phần lớn diệntích đất bị bỏ hoang lụt lội, thiên tai, các tệ nạn xã hội khác đang hoành hành

Đứng trớc khó khăn thử thách đó, Đảng bộ huyện Tĩnh Gia nêu cao quyếttâm thực hiện nghiêm túc Chỉ thị “ kháng chiến kiến quốc” nhiệm vụ đầu tiên vàbức thiết là giải quyết nạn đói, chống nạn đói Một phong trào “hũ gạo tiết kiệm”,

“ngày đồng tâm” đợc phát động Kết quả toàn huyện góp đợc 7.0990 kg gạo ủng

hộ các gia đình nghèo đói Bà con với tinh thần tơng thân tơng ái, “lá lành đùm lárách” đã tích cực giúp đỡ lẫn nhau vợt qua khó khăn.Chính quyền địa phơng phát

động phong trào tăng gia sản xuất với khẩu hiệu “tấc đất tấc vàng”

Hậu quả của chính sách ngu dân để lại hết sức nặng nề nh mê tín dị đoan,rợu chè, cờ bạc, nghiện hút còn rất phổ biến, chính trị cha ổn định Thực hiện chủtrơng của Đảng, Chính phủ về giải quyết giặc dốt, Ban vận động thanh toán nạn

mù chữ đã đợc thành lập từ huyện xuống làng xã Mỗi thành viên của Ban đãtích cực tuyên truyền tổ chức cho nhân dân học chữ Quốc ngữ với phơng châmngời biết chữ dạy ngời cha biết chữ, ngời biết nhiều dạy cho ngời biết ít nhờ đóphong trào phát triển ngày càng sâu rộng Hầu hết các đình chùa, nhà dân rộng

Trang 21

rãi đều sử dụng làm lớp học Đêm đêm trong các làng xã bà con nhộn nhịp đihọc, học ngoài trời, học trong nhà, viết bằng phấn, bằng than, bằng gạch, bằngchì, bằng bút Tất cả tấn công vào giặc dốt, diệt giặc dốt trở thành một phongtrào quần chúng sôi nổi của các đoàn thể cứu quốc, thu hút mọi nơi mọi lứa tuổi,mọi gia đình.

Ngày 08/ 9/ 1945, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra Sắc lệnh bãi

bỏ ngạch học quan, giải tán Bộ Giáo dục – Mỹ học cũ ở Huế, thành lập Bộquốc gia giáo dục tại Hà Nội do ông Vũ Đình Hoè giữ chức vụ Bộ trởng đầu tiên.Sắc lệnh số 20 quy định việc học chữ Quốc ngữ không mất tiền cho tất cả mọingời Hạn định trong một năm tất cả mọi ngời từ 8 tuổi trở lên, phải biết đọc biếtviết Ai trong số đó không đảm bảo điều đó phải nạp tiền phạt [17;23-24]

Theo Sắc lệnh đó, ngày 21-1-1946, toàn huyện khai giảng lớp học bình dânhọc vụ do đồng chí Nguyễn Danh San phụ trách-sau này ông làm Hiệu trởng tr-ờng bổ túc công nông Đến đầu 1946 Tĩnh Gia có hơn 51 lớp học bình dân học vụtrong đó có có các thầy giáo tham gia nh thầy Toán, thầy Thừa, thầy Tuy Phongtrào bình dân học vụ và phong trào học chữ Quốc ngữ diễn ra sôi động và phongphú các tổ lu động kiểm tra sự hiểu biết chữ Quốc ngữ đợc triển khai ở khắp nơi

Cùng với phong trào bình dân học vụ, một chiến dịch bài trừ nạn cờ bạc,rựơu chè và những tệ nạn xã hội khác đợc phát động và từng bớc xây dựng nếpsống mới trên quê hơng

Việc chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân đợc chi bộ và chính quyền hết sứcquan tâm Trong diều kiện còn gặp nhiều khó khăn về thuốc men, đội ngũ cán bộcủa Đảng và chính quyền trực tiếp vận động bà con cùng ăn sạch,ở sạch,phát huynhững bài thuốc cổ truyền, thực hiện nếp sống văn hoá- văn minh

Cuối năm 1948, toàn huyện có 80% dân số thanh toán nạn mù chữ, 55%tổng số cụ bà cụ ông biết đọc, biết viết, đội ngũ giáo viên bình dân học vụ ngàycàng trởng thành cả về số lợng lẫn chất lợng Các xã: Các Sơn, Hải Châu, ThanhSơn, Nguyên Bình có phong trào tốt đợc tuyên dơng Tại đây đợc nhiều cán bộchủ chốt quan tâm, đông đảo quần chúng tích cực phấn khởi học tập

Cùng với nhiệm vụ xoá nạn mù chữ cho nhân dân lao động, việc xây dựngnếp sống văn hoá mới, chống mê tín dị đoan và tệ nạn xã hội cũng đợc chú trọngthc hiện Hơn nữa công tác giáo dục phổ thông đợc xem trọng hầu hết các xãtrong huyện đã có trờng phổ thông cấp 1 (Sau này là trờng tiểu học)

Trang 22

Năm 1949, công tác giáo dục có bớc phát triển mới(sau năm 1949 chuyểnqua hệ thống giáo dục 9 năm) Hầu hết các xã đều có trờng cấp I và cấp II với

2527 học sinh và 101 thầy cô giáo, trong khi trớc đó huyện chỉ có một trờng cấp

II quốc lập và 3 trờng cấp II dân lập

Mặc dù trong điều kiện chiến tranh, song năm học 1948 -1949, Huyện uỷvẫn quyết định xây dựng một trờng cấp II mới, vì thế tổng số học sinh lên cấp IIlên tới 487 học sinh và có 18 thầy cô giáo Trờng sơ học Ngọc Đờng trở lại khaitrờng, nếu nh tháng 9/1945 có 4 lớp thì sang niên học 1947-1948 có thêm 1 lớpnữa, năm 1948-1949 có thêm một lớp nhất do thầy Lê Mạnh Cung dạy

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bớc vào giai đoạn quyết liệt,Thanh Hoá cùng cả nớc vẫn là hậu phơng an toàn vững chắc Tình hình giáo dụcTĩnh Gia vẫn phát triển, trờng lớp đợc duy trì nh trờng sơ học Ngọc Đờng, trờngcấp II Nguyên Bình, trờng t thục cấp II Thanh Sơn

Trờng cấp II Nguyên Bình lúc đầu đặt ở xã Hải Hoà, sau dời đến NguyênBình, là trờng sớm nhất huyện có tổ lao động xã hội chủ nghĩa Bây giờ trờngmang tên danh nhân Đào Duy Từ Các thế hệ thầy và trò tự hào quyết tâm giữvững truyền thống tốt đẹp đó của nhà trờng

Năm 1950 - 1951 trở đi, do cải cách giáo dục qua hệ thống 9 năm, cấp Ihọc 4 năm, không có kỳ thi cuối cấp Tĩnh Gia nhanh chóng tiếp ứng chủ trơngcải cách giáo dục của Nhà nớc, hệ thống trờng lớp vẫn duy trì, đội ngũ giáo viên

và học sinh vừa học tập vừa tham gia sản xuất và chiến đấu Với thắng lợi củanhân dân ta trong chiến cuộc đông xuân 1953-1954 và Hiệp định Giơnevơ đợc kýkết, nhân dân phấn khởi học tập để xây dựng nớc nhà Trong thời gian này trờng

t thục cấp II Thanh Sơn đổi thành trơng Dân lập cấp II Thanh Sơn, do thầy NgôXuân Tài làm Hiệu trởng

Nh vậy, mặc dù trong chiến tranh chống Pháp ác liệt nhng nhân dân TĩnhGia vẫn phát huy truyền thông hiếu học, và nhờ có học tập mà nếp sống văn hoácủa huyện cũng đợc phát triển Đến năm 1954, Tĩnh Gia có 16 trờng tiểu học và

cứ 3 xã có một trờng trung học

Là một huyện đất không rộng, ngời không đông, lại nghèo nàn, trong 9năm kháng chiến, Tĩnh Gia đã góp phần không nhỏ cho sự nghiệp cách mạng.Bên cạnh đó, Tĩnh Gia còn có 2500 thanh niên tòng quân trên các chiến trờng.Cũng trong những năm kháng chiến đầy gian khổ, Tĩnh Gia cung cấp 758 cán bộthoát ly trên tất cả mọi lĩnh vực, họ đã hoàn thành suất sắc nhiệm vụ của mình để

Trang 23

không phụ lòng mong mỏi của hậu phơng Trong chiến đấu và công tác, 400 cán

bộ chiến sĩ đã anh dũng hy sinh, hàng trăm thơng binh phải mang trên mìnhnhững vết tích của chiến tranh trở về quê hơng, trong số đó một số ngời đã trởthành thầy giáo dạy học

Sở dĩ đạt đợc những thành tích đáng kể về văn hoá - giáo dục trong 9 nămkháng chiến gian khổ là nhờ công lao to lớn của Đảng, của Huyện uỷ, sự quantâm chăm sóc đặc biệt đến đời sống vật chất tinh thần cũng nh sự quan tâm giúp

đỡ đến những gia đình thơng binh liệt sỹ của các cấp uỷ, Đảng bộ và chính quyền

địa phơng Cùng với sự quan tâm của các tổ chức, tầng lớp nhân dân trong huyện

tự tin, tích cực hoàn thành nhiệm vụ của mình góp phần thực hiện thắng lợi mọi

kế hoạch của toàn huyện

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, nền văn hoá - giáo dục TĩnhGia còn nhiều hạn chế Đó là hủ tục lạc hậu ở một số làng trong huyện vẫn cònduy trì, nhiều phong tục tập quán còn rờm rà, t tởng tiểu nông ăn sâu vào mỗi ng-

ời dân là trở ngại lớn trong giáo dục, tỉ lệ nữ đi học còn ít vì họ cho rằng“con gáikhông cần học nhiều”, trờng lớp cha đợc trang bị đầy đủ, thầy cô giáo trình độcòn hạn chế Nhận thức đợc những thiếu sót và tầm quan trọng Đảng bộ và nhândân trong huyện tiếp tục tích cực đẩy mạnh hoạt động văn hoá, văn nghệ quầnchúng, tăng thêm lối sống văn hoá mới Ngoài ra còn tổ chức học chuyên đề, bổtúc văn hoá cho cán bộ, giáo viên và những ngời lãnh đạo để họ có thể đa phongtrào văn hoá- giáo dục phát triển một bớc cao hơn ở giai đoạn sau

Về hoạt động văn hoá - văn nghệ - thể thao cũng đợc phát triển và đạt đợcnhững thành tựu đáng kể

Các đội văn nghệ đợc tổ chức lại và đi diễn ở các làng xã nhằm tuyên truyềnlối sống lành mạnh, bảo vệ thuần phong mỹ tục của nhân dân Mặt khác, với hoạt

động văn nghệ sôi nỗi nh hội diễn văn nghệ để chào mừng và tạm biệt con emnhân dân lên đờng nhập ngũ chống thực dân Pháp xâm lợc, tổ chức các hộ khoẻphù đổng để biểu dơng lực lợng

Từ những hoạt động văn nghệ, thể thao thể dục sôi nổi làm tăng thêm đờisống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là những phong trào ca ngợi Đảng- Bác Hồ,

ca ngợi chiến thắng của quân và dân ta trong khánh chiến đã làm tăng thêm niềmtin vào cuộc chiến đấu chống thực dân Phá, và niềm tin đó đã trở thành hiện thựckhi chiến dịch Điện Biên Phủ 1954 kết thúc

Trang 24

Qua sự phát triển văn hoá - giáo dục trong 9 năm kháng chiến chống thựcdân Pháp, chúng ta rút ra đợc những bài học kinh nghiệm quý báu Đó là Đảng

uỷ, các cấp chính quyền nắm đợc chủ trơng, chính sách của đảng đa nhiệm vụ “diệt giặc đói, giặc dốt” lên hàng đầu, đánh giá đúng tình hình kinh tế chính trị,văn hoá, xã hội để có đựợc hớng đi đúng đắn, kết hợp sức mạnh đoàn kết và tinhthần tự lực tự cờng của nhân dân trong huyện để cùng thực hiện mục tiêu chung

Trong 9 năm kháng chiến, thành tích về văn hoá giáo dục của Tĩnh Gia đãgóp phần tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp xây dựng quê hơng Do có những

đóng góp trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là đóng góp về văn hoá giáo dục, TĩnhGia vinh dự đợc Nhà nớc trao tặng nhiều phần thởng cao quý cho những đảngviên, những chiến sĩ và những ngời con u tú, trong đó có 684 huân chơng cácloại, 2185 huy chơng và 2381 bằng khen

2.2 Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 1975)

Hiệp định Giơnevơ ký kết (7-1954), sự nghiệp kháng chiến chống thựcdân Pháp của nhân dân ta kết thúc thắng lợi Do so sánh lực lợng và tình hìnhquan hệ quốc tế hết sức phức tạp, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền với haichế độ chính trị khác nhau Nhân dân Việt Nam vừa phải tiến hành hàn gắn vếtthơng chiến tranh, khôi phục kinh tế, đa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, vừaphải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân ở miền Nam, tiến tới hoà bìnhthống nhất đất nớc

Tuy nằm trong bối cảnh chung của đất nớc, nhng Tĩnh Gia mang dấu ấn

đậm nét và có những đặc điểm riêng

Trớc hết Tĩnh Gia xây dựng lại cơ sở vật chất bị phá hoại trong chiến tranh,chỉnh đốn lại đội ngũ Đảng, phát huy sức mạnh của mình

Là một huyện đông dân, sau kháng chiến chống thực dân Pháp, tuy nạn đói

đợc khắc phục nhng vẫn còn nghèo và khó khăn so với các huyện khác trong tỉnh.Trồng trọt chủ yếu dựa vào nông nghiệp nhng luôn phải đối mặt với thiên taitrong khi hệ thống thuỷ lợi phục vụ tới tiêu hầu nh cha có gì đáng kể

Cơ sở hạ tầng bị h hại nặng nề do chiến tranh tàn phá, trình độ dân trí tuy

đợc nâng cao song còn rất hạn chế trong việc tiếp thu và thực hiện chủ trơng của

Đảng bộ huyện cũng nh đờng lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nớc

Chính trị, xã hội mất ổn định vì hành động cỡng ép giáo dân di c vào Namcủa đế quốc Mỹ và tay sai Chúng tấn công vào khu vực nhạy cảm Ba Làng ( xã

Trang 25

Hải Thanh) vì ở Ba Làng có tới 3 nhà thờ lớn trong đó có một nhà thờ Thánh xứ.

Đây là khu vực số 1 để đế quốc Mỹ và bọn phản động lợi dụng làm mất trật tự trị

an và chống phá cách mạng

Trớc những khó khăn thử thách, Đảng bộ huyện Tĩnh Gia đã đa ra nhữngnhiệm vụ cụ thể để tái thiết lại quê hơnmg vừa phù hợp với tình hình chung vừa

đáp ứng đợc những đặc điểm riêng của huyện nhà Đặc biệt công tác giáo dục

đ-ợc phát triển mạnh, vì có học tập nhân dân mới nâng cao đđ-ợc sự hiểu biết củamình để có thể tránh xa tệ nạn xã hội, xây dựng quê hơng ổn định về mọi mặt,học hỏi khoa học kỹ thuật để phát triển sản xuất nâng cao đời sống cho mình

Hai nhiệm vụ chiến lợc cách mạng là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miềnBắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm này vụ cóquan hệ chặt chẽ với nhau và thực hiện ở mỗi điều kiện cụ thể của mỗi miền.Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, sự nghiệp giáo dục ở vùng tự do miền Bắc đ-

ơng nhiên cũng phải phục vụ hai nhiệm vụ chiến lợc đó

Vùng tự do miền Bắc tiến hành cải cách giáo dục lần thứ hai (1956) từ đạihọc đến phổ thông, Thanh Hoá cũng theo dòng chảy này Từ ngày 5 đến15/4/1959, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Thanh Hoá đề ra nhiệm vụ“ Ra sức pháttriển văn hoá, phổ cập trình độ văn hoá lớp 2 và lớp 3 cho nhân dân, lớp 4 chocán bộ”

Tĩnh Gia trong kháng chiến chống Mỹ có vị trí hết sức quan trọng, vì thế

Đảng bộ và nhân dân Tĩnh Gia "Kiên quyết đánh bại moị thủ đoạn chiến tranhxâm lợc của đế quốc Mỹ, sức đẩy mạnh phong trào xây dựng và phát triển kinh

tế, trớc hết là đẩy mạnh sản xuất nông, ng nghiệp để tăng cờng nhanh chóng lựclợng quốc phòng, sãn sàng đáp ứng đầy đủ nhất và ngày càng nhiều sức ngời, sứccủa cho công cuộc giải phóng miền Nam, đồng thời đẩy mạnh công cuộc xâydựng xã hội chủ nghĩa và đảm bảo sinh hoạt cần thiết cho nhân dân trong huyện"

Để thực hiện và hoàn thành các nhiệm vụ đó, giáo dục có một vị trí quantrọng Vì thế, Đảng đề ra cho công tác văn hoá - giáo dục những yêu cầu cấp thiếttrong điều kiện lịch sử mới

Trớc hết, phải nâng cao trình độ văn hoá cho công nhân và nông dân tậpthể, đặc biệt là cho cán bộ, thanh niên những ngời đang sản xuất, chiến đấu vàgiữ vững an ninh, giáo dục thế hệ trẻ kế tiếp sự nghiệp cách mạng, góp phần giảiphóng phụ nữ, đồng thời đảm bảo cung cấp đủ số ngời có trình độ văn hoá cần

Trang 26

thiết cho việc đào tạo cán bộ và công nhân lành nghề, đáp ứng yêu cầu phát triểnkinh tế văn hoá, tăng cờng quốc phòng - an ninh.

Với chủ trơng và chính sách về văn hoá - giáo dục, đầu năm 1960, Phònggiáo dục huyện Tĩnh Gia chính thức đợc thành lập, lúc đầu chỉ có 4 cán bộ Lúcnày ngành giáo dục - đào tạo mới thực sự có " Bộ tham mu" để điều hành côngviệc của ngành mình một cách tự chủ

Năm 1961 trờng cấp 3 đầu tiên của huyện chính thức thành lập với 2 lớp

10, tổng số học sinh là 104, có 8 cán bộ giáo viên, thầy giáo Nguyễn Văn Toànlàm Hiệu trởng đầu tiên

Cùng với nhiệm vụ giáo dục, Huyện uỷ phát động phong trào xây dựng nếpsống văn hoá mới, xoá bỏ tất cả tàn d văn hoá đồi bại của bọn thực dân đế quốc.Tất cả những tập tục mê tín dị đoan, rợu chè cờ bạc ăn uống lãng phí bị lên án.Các cấp uỷ đảng và chính quyền từ huyện đến xã tích cực giáo dục nhân dân xâydựng nếp sống văn hoá mới, vui chơi lành mạnh

Ngày 5-8-1964 Đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc Văn hoágiáo dục Tĩnh Gia đứng trớc một thử thách mới không giống bất cứ một huyệnnào trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa Học ngày không đợc thì học đêm, ở trờng, ởnhà, học sinh và thầy giáo có những chiếc đèn phòng không Chiến tranh ngàycàng ác liệt, hàng trăm thầy giáo đã rời bục giảng lên đờng cầm súng đánh giặc.Nhiều ngời đã hy sinh ngoài mặt trận với t cách là thầy giáo - Liệt sỹ

Bên cạnh đó một bộ phận không nhỏ học sinh cấp 3 cũng trở thành ngờilính xung trận Nhiều học sinh đợc đặc cách nhận bằng tốt nghiệp trớc 2 tháng

để vào bộ đội Cũng trong chiến tranh chống Mỹ, một số không ít thanh niên cácxã ven Lạch Bạng đợc tuyển chọn vào lực lợng hải quân, nhiều anh đã trở thành

sĩ quan cao cấp của quân chủng,trong đó có anh đợc vinh dự ở trong đơn vịphóng ng lôi đánh đắm tàu Ma - đốc của Mỹ khi chúng xâm phạm vào vùng hảiphận Việt Nam tháng 8-1964

Ngời nằm lại chiến trờng đã đành một lẽ, ngời còn sống phần lớn là sỹquan cao cấp trong quân đội Với họ cả ngời đã ngã xuống và ngời còn sông đềulàm rạng danh giáo dục Tĩnh Gia

Không chỉ có ngời ra mặt trận hy sinh, ở hậu phơng cũng phải chịu nhiều

hy sinh mất mát, mặc dù trong hoàn ngoặt nghèo nh thế ngành giáo dục Tĩnh Giavẫn giữ vững danh hiệu lá cờ đầu của Hải Nhân, liên tục có học sinh giỏi Miền

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2002), lịch sử Thanh Hoá, tập 3, NXBKHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: lịch sử Thanh Hoá, tập3
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 2002
4. Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tĩnh Gia (2004), lịch sử Đảng bộ huyện Tĩnh Gia, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: lịch sử Đảng bộ huyện TĩnhGia
Tác giả: Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Tĩnh Gia
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2004
5. Báo cáo sơ kết, tổng kết công đoàn giáo dục - đào tạo huyện Tĩnh Gia năm học 1996 1997 đến năm 2003 2004). – – Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết, tổng kết công đoàn giáo dục - đào tạo huyện Tĩnh Gia năm học1996 1997 đến năm 2003 2004)
6. Các Nghị quyết về phơng hớng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá - giáo dục, Hồ sơ lu trữ tại sở giáo dục tạo Thanh Hoá và Phòng giáo dục - –đào tạo huyện Tĩnh Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các Nghị quyết về phơng hớng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá -giáo dục, Hồ sơ lu trữ tại sở giáo dục tạo Thanh Hoá và Phòng giáo dục -"–
7. Bùi Hạnh Cẩn (chủ biên) (1995): Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn, NXB văn hoá Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn (chủ biên)
Nhà XB: NXB văn hoá Hà Nội
Năm: 1995
8. Võ Bá Cờng (2001): ở làng lắm chuyện, NXB Quân đội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ở làng lắm chuyện
Tác giả: Võ Bá Cờng
Nhà XB: NXB Quân đội
Năm: 2001
9. Nguyễn Đồng (1999): Chuyện ngàn xa, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện ngàn xa
Tác giả: Nguyễn Đồng
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1999
10. Trần Bá Đệ (2000): Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXBĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay
Tác giả: Trần Bá Đệ
Nhà XB: NXBĐHQG
Năm: 2000
11. Phạm Minh Hạc (1996): Mời năm đổi mới giáo dục, NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mời năm đổi mới giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXBGD
Năm: 1996
13. Hoàng Khôi (2003): Văn hoá xứ Thanh, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá xứ Thanh
Tác giả: Hoàng Khôi
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2003
14. Nhiều tác giả (1986), Đảng bộ và phong trào cách mạng Tĩnh Gia (2 tập), NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng bộ và phong trào cách mạng Tĩnh Gia (2 tËp)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1986
15. Nhiều tác giả (2000): Đại cơng lịch sử Việt Nam (3 tập), NXBGD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Việt Nam (3 tập)
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXBGD
Năm: 2000
16. Đỗ Văn Phác (1998): Hơng đất, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: ): Hơng đất
Tác giả: Đỗ Văn Phác
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1998
17. Quốc sử quán triều Nguyễn (1970): Đại Nam nhất thống chí, tập 2, NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí, tập 2
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXBKHXH
Năm: 1970
18. Sở giáo dục - đào tạo Thanh Hoá (1996): Năm mơi năm giáo dục Thanh Hoá - Sự kiện và thành tựu, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: ): Năm mơi năm giáo dục Thanh Hoá -Sự kiện và thành tựu
Tác giả: Sở giáo dục - đào tạo Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1996
19. Lê Anh San (chủ biên) (1998): Tĩnh Gia quê h – ơng - đất nớc con ng – ời, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tĩnh Gia quê h"– "ơng - đất nớc con ng"– "êi
Tác giả: Lê Anh San (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1998
20. Trần Ngọc Thêm (1999): Cơ sở văn hoá Việt Nam, NXB TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hoá Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB TPHCM
Năm: 1999
21. Ngô Đức Thọ (chủ biên) (1993): Các nhà khoa bảng Việt Nam, NXB Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà khoa bảng Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thọ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hoá
Năm: 1993
22. Trần Văn Thịnh (chủ biên) (1995): Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xa, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh sĩ Thanh Hoá và việc học thời xa
Tác giả: Trần Văn Thịnh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1995
23. Nguyễn Đăng Tiến (1996): Lịch sử giáo dục Việt Nam trớc Cách mạng tháng Tám, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ): Lịch sử giáo dục Việt Nam trớc Cách mạng thángTám
Tác giả: Nguyễn Đăng Tiến
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Số giáo viên, học sinh năm học 1954 –  1955 và 1964 – 1965. - Quá trình phát triển văn hoá   giáo dục huyện tĩnh gia   thanh hoá từ năm 1945   2004
Bảng 1 Số giáo viên, học sinh năm học 1954 – 1955 và 1964 – 1965 (Trang 31)
Bảng 2: Tỷ lệ đậu tốt nghiệp năm học 1964 –  1965, 1966 – 1967. - Quá trình phát triển văn hoá   giáo dục huyện tĩnh gia   thanh hoá từ năm 1945   2004
Bảng 2 Tỷ lệ đậu tốt nghiệp năm học 1964 – 1965, 1966 – 1967 (Trang 33)
Bảng 2: Số học sinh, giáo viên từ 1991 –  1994 [4;196]. - Quá trình phát triển văn hoá   giáo dục huyện tĩnh gia   thanh hoá từ năm 1945   2004
Bảng 2 Số học sinh, giáo viên từ 1991 – 1994 [4;196] (Trang 43)
Bảng 5: Tỷ lệ đậu tốt nghiệp các cấp (%)    Cấp học - Quá trình phát triển văn hoá   giáo dục huyện tĩnh gia   thanh hoá từ năm 1945   2004
Bảng 5 Tỷ lệ đậu tốt nghiệp các cấp (%) Cấp học (Trang 49)
Bảng 6: Số giáo viên giỏi tỉnh năm học 2001 –  2002 - Quá trình phát triển văn hoá   giáo dục huyện tĩnh gia   thanh hoá từ năm 1945   2004
Bảng 6 Số giáo viên giỏi tỉnh năm học 2001 – 2002 (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w