Nghiên cứ lịch sử địa phơng là một đề tài lớn, vì vậynghiên cứu đề tài này tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc ôn lại truyềnthống quý báu, sự trởng thành của Nhà máy trong quá trình
Trang 1ơng dới góc độ kinh tế là một trong những vấn đề mang tính cấp thiết, trong giai
đoạn nớc ta đang tiến hành Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc vì "lịch sử
địa phơng là hình ảnh thu nhỏ của lịch sử dân tộc"
1.2 Đất nớc ta sau 21 năm kháng chiến chống Mỹ cứu nớc đã kết thúcthắng lợi bằng đại thắng Mùa Xuân 1975, giang sơn thu về một mối, từ đây cảnớc tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong 10 năm tìm tòi, khảonghiệm (1975 - 1985), chúng ta đã đạt đợc những thành tựu trên tất cả các lĩnhvực kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội… Tuy nhiên, cũng vấp phải khó khăn,yếu kém, đến những năm 70, nửa đầu những năm 80 (thế kỷ XX) thì đất nớclâm vào khủng hoảng trầm trọng Điều đó, buộc ta phải đổi mới
Thực hiện đổi mới do Đảng ta khởi xớng và lãnh đạo trong những nămqua, nhất là sau khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (khoá VI) và Nghị quyết
5 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng, đã lấy nông nghiệp - nông thôn làm địabàn trọng điểm và coi nông nghiệp là khâu đột phá Vì vậy, việc nghiên cứu lịch
sử một đơn vị kinh tế – một mô hình kinh tế (Nhà máy Đờng Lam Sơn), để rút
ra những kinh nghiệm và bài học của nó không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn
có ý nghĩa thực tiễn nhất định, gợi mở những suy nghĩ về mục tiêu và biện phápphát triển công nghiệp nông thôn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ở nôngthôn nớc ta hiện nay
Đối với Nhà máy Đờng Lam Sơn trong 20 năm xây dựng và trởng thành(1980 -2000 ),Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên Nhà máy Đờng Lam Sơn đ-
Trang 2ợc sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, Nhà nớc, các cấp, ngành của tỉnh, huyện, cơ
sở đã thu đợc những thắng lợi hết sức to lớn, nhất là từ sau 10 năm đổi mới đếnnay Những thành quả to lớn đó đã đa Nhà máy Đờng Lam Sơn trở thành "ngọn
cờ đầu trong ngành mía đờng Việt Nam" Mặc dù vậy, trong quá trình phát triểncũng bộc lộ những mặt tồn tại, khuyết điểm, đòi hỏi phải có sự tổng kết, nhanhchóng đa ra những giải pháp kịp thời cho giai đoạn phát triển tiếp theo
Với lý do đã trình bày trên đây, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: "Quá trình
hình thành và phát triển của Nhà máy Đờng Lam Sơn (1980 - 2000)" làm
khoá luận tốt nghiệp Nghiên cứ lịch sử địa phơng là một đề tài lớn, vì vậynghiên cứu đề tài này tôi mong muốn góp một phần nhỏ vào việc ôn lại truyềnthống quý báu, sự trởng thành của Nhà máy trong quá trình xây dựng, sản xuất -kinh doanh, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào sựnghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của một doanh nghiệp, một nhàmáy nói chung, của Nhà máy Đờng Lam Sơn nói riêng là một vấn đề đang cònmới mẻ và mang tính thời sự, các sự kiện đang trong quá trình diễn biến, tảnmạn trong một số công trình nghiên cứu dới các góc độ chuyên môn khác nhaunh: Lịch sử, kinh tế học, môi trờng…
Trong số những công trình nghiên cứu về Nhà máy Đờng Lam Sơn nổi lênmột số tác phẩm đáng chú ý sau:
2.1 “Hiệp hội mía đ ờng Lam Sơn – Mô hình hợp tác đa thành phần doanh nghiệp nhà nớc đóng vai trò chủ đạo” do PTS Lê Minh Nghĩa (chủ
biên), Nxb Chính trị - Quốc gia, Hà Nội 1999 Quyển này chỉ đề cập và giớithiệu về một mô hình kinh tế mới ra đời do yêu cầu khách quan từ thực tiễn củaNhà máy Đờng Lam Sơn
2.2.“Lam Sơn đất gọi”, nhiều tác giả, Nxb Lao động Hà Nội, 2001, tập hợpnhững bài phát biểu của các nhà lãnh đạo cấp cao của nớc ta và các bài báo viết
về Công ty Đờng Lam Sơn
Trang 32.3 “Công ty Đ ờng Lam Sơn, mô hình công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiêp nông thôn”, của tác giả Phan Huy Chúc nghiên cứu biên soạn.
Cuốn sách này chỉ đề cập và đi sâu làm rõ khía cạnh công nghiệp hoá - hiện đạihoá nông nghiệp nông thôn khi Công ty Đờng Lam Sơn đợc xây dựng và pháttriển ở vùng trung du - miền núi Thanh Hoá
2.4."Hiệp hội mía Đờng Lam Sơn - Một mô hình kinh tế hợp tác mới" của
Nguyễn Văn Tấn và Phạm Khắc Chuyên biên soạn, Nxb Chính trị Quốc Gia,
Hà Nội 1994 Quyển này giới thiệu một mô hình kinh tế mới trong nông nghiệpdới ánh sáng đờng lối đổi mới và luận giải khoa học thực tiễn, những vấn đề đặtra
2.5 Các cuộc hội thảo, các bản báo cáo sơ kết, tổng kết của Đảng uỷ, BanGiám đốc qua các năm từ 1993 - 2000, hoặc là những tập tranh ảnh giới thiệu
về truyền thống lịch sử của Nhà máy
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu và các nguồn t liệu nói trên đềuxuất phát từ yêu cầu nghiên cứu khác nhau và theo những quan điểm riêng củamỗi nhà nghiên cứu Nhng nó là những tài liệu quý báu để chúng tôi tham khảokhi giải quyết một số vấn đề đặt ra trong khoá luận của mình
Hiện nay, cha có một công trình nghiên cứu tổng hợp và chuyên sâu về quátrình hình thành và phát triển của Nhà máy Đờng Lam Sơn Vì vậy, trong khoáluận này, trên cơ sở kế thừa của nhiều ngời đi trớc và qua sự tìm tòi nổ lực củabản thân, chúng tôi muốn trình bày một cách tơng đối toàn diện và có hệ thống
về sự ra đời và phát triển của Nhà máy Đờng Lam Sơn cũng nh những thành tựu
và những mặt còn hạn chế trong quá trình hoạt động sản xuất Từ đó rút ranhững bài học kinh nghiệm trong 20 năm xây dựng và trởng thành (1980 –2000)
3 Đối t ợng phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Trong đề tài: "Quá trình hình thành và phát triển của Nhà máy Đờng
Lam Sơn (1980 - 2000", mong muốn của chúng tôi là nhằm thể hiện một cách
toàn diện và có hệ thống từ khi Nhà máy xây dựng cho đến các giai đoạn phát
Trang 4triển đi lên từ Nhà máy chuyển thành Công ty và Công ty cổ phần mía đờngLam Sơn Tổng kết đánh giá những thành tựu cũng nh hạn chế của Công tytrong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Từ đó, rút ra những bài học kinhnghiệm trong 20 năm xây dựng và trởng thành
Với mục đích đó, đề tài khoá luận trớc hết đề cập đến điều kiện tự nhiên,thực trạng kinh tế vùng trung du - miền núi phía tây Thanh Hoá ảnh hởng đến
sự ra đời và phát triển của Nhà máy Đờng Lam Sơn Trọng tâm nghiên cứu củakhoá luận là lám rõ những thành tựu và hạn chế trong quá trình sản xuất, kinhdoanh và các hoạt động khác Qua đó, khẳng định một lần nữa quá trình xâydựng và phát triển với sự nổ lực của Ban Giám đốc, cán bộ công nhân viên Công
ty đã biến vùng đất hoang vu, nghèo nàn, lạc hậu thành một vùng kinh tế trùphú, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinhthần cho ngời dân trên mảnh đất này Đồng thời, khẳng định đờng lối đổi mớicủa Đảng vạch ra từ Đại hội VI (12/1986) là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, phùhợp với thực tiễn của Việt Nam Trên cơ sở đó, chúng tôi mạnh dạn rút ra một
số bài học kinh nghiệm trong quá trình hình thành và phát triển của Nhà máy
Đờng Lam Sơn
4 Nguồn tài liệu và ph ơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài khoá luận chúng tôi đã su tầm một khối ợng t liệu phong phú, bao gồm các bản báo cáo hàng năm của Nhà máy ĐờngLam Sơn, các số liệu thống kê, những công trình nghiên cứu của các tác giả cóliên quan đến đề tài
l-Ngoài ra, chúng tôi có điều kiện đi nghiên cứu khảo sát thực tế tại Nhà máy
Đờng Lam Sơn, đợc trao đổi với Ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên đang cònlàm việc hoặc đã nghỉ hu, những ngời nông dân đang trực tiếp lao động ở vùngtrồng mía
4.2 Phơng pháp nghiên cứu.
Trang 5Mục đích nghiên cứu của đề tài khoá luận là nghiên cứu quá trình hìnhthành và phát triển của Nhà máy Đờng Lam Sơn dới góc độ lịch sử Vì vậy, cácphơng pháp sử dụng trong khoá luận này là: phơng pháp miêu tả lịch sử, sosánh, phơng pháp lôgic, ngoài ra còn sử dụng các phơng pháp chuyên nghành
nh : thống kê, đối chiếu, phân tích…kết hợp t liệu thàn văn với t liệu điền giả để
xử lý các số liệu trong các báo cáo của Ban lãnh đạo Công ty đờng Lam Sơn
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung củakhoá luận đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1: Quá trình xây dựng và bớc đầu đi vào sản xuất kinh doanh
của Nhà máy Đờng Lam Sơn (1980 1990).–
Chơng 2: Nhà máy Đờng Lam Sơn đổi mới, đầu t và phát triển (1990
1995).
–
Chơng 3: Nhà máy Đờng Lam Sơn chuyển thành Công ty Đờng Lam
Sơn (1995 2000).–Thực hiện đề tài này tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn TrọngVăn đã nhiệt tình hớng dẫn, cùng các thầy cô giáo trong khoa và Ban giám đốc,các phòng ban của Công ty đờng Lam Sơn đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợicho tôi hoàn thành đề tài này Đây là lần đầu tiên làm quen với đề tài khoa học,
đặc biệt lại đề cập đến một vấn đề mới mẻ – một đơn vị kinh tế, kinh doanh.Cho nên, mặc dù đã có nhiều cố gắng song chắc chắn khoá luận không tránhkhỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận đợc các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo
và các bạn sinh viên
Trang 6Phần b: Nội dung
Ch ơng 1:
Quá trình xây dựng và bớc đầu đi vào sản xuất kinh–
doanh của nhà máy đờng lam sơn (1980-1990)
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên và thực trạng kinh tế - xã hội vùng trung du - miền núi Thanh Hoá tr ớc khi Nhà máy Đ ờng Lam Sơn ra
đời
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Trải qua hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc, tỉnh Thanh Hoá có địa thếchiến lợc cực kỳ trọng yếu Nhà sử học Phan Huy Chú đã từng nhân xét:
"Thanh Hoá mạch núi cao vót, sông lớn lợn quanh, biển ở phía Đông, Ai laosát phía Tây, Bắc giáp Trấn Sơn Nam, nam giáp đảo Nghệ An Núi sông rất đẹp,
là một chỗ có cảnh đẹp ở nơi xung yếu Các triều trớc gọi là Trấn Quang đếntriều Lê Lợi là nơi căn bản Vẻ non sông tốt tơi chung đúc nên sinh ra nhiều bậcvơng tớng, khí tinh hoa tụ họp lại nảy ra nhiều bậc danh nho Đến những sản vậtquý cũng khác mọi nơi vì đất thiêng liêng thì ngời giỏi nên nảy ra những bậcphi thờng viêng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nớc" [15,3]
Công ty đơng Lam Sơn (tiền thân là Nhà máy Đờng Lam Sơn), đóng trên
địa bàn xã Thọ Xơng, nay là thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnh ThanhHoá thuộc vùng bán sơn địa phía tây của tỉnh, chiến 2/3 diện tích tự nhiên toàntỉnh, có tiềm năng về tài nguyên, khoáng sản, đất đai, sông núi, khí hậu, phongphú và đa dạng Sinh sống ở địa bàn này chủ yếu là ngời của các dân tộc Kinh,Mờng, Thái, Dao, Khơ mú, Tày (Thổ) giàu truyền thống yêu nớc, chống giặcngoại xâm kiên cờng, bất khuất
Trong vị chí chiến lợc của cả tỉnh, trung du miền núi là khu vực trọng yếu
về an ninh quốc phòng, đồng thời là địa bàn chiến lợc về kinh tế-xã hội Nếu
Trang 7khái quát toàn diện bức tranh tự nhiên khu vực trung du - miền núi Thanh Hoá
ta thấy rỏ các tiềm năng và thế mạnh:
Vùng trung du - miền núi Thanh Hoá đợc tạo thành bởi dãy núi đồi trùng
điệp, hiểm yếu đợc chia thành hai hệ thống: Bắc sông Mã và Nam sông Mã Bắcsông Mã là những núi đá vôi tiếp nối của dãy Hoàng Liên Sơn kết thúc bằngdãy Tam Điệp, độ cao giảm dần từ 1500m-100m, điểm cao nhất là Phu-Pha-Phong (cao 1587m) thuộc hai địa giới của hai xã: Thành Sơn (Bá Thớc), PhúXuân(Quan Hoá) Hệ thống Nam sông Mã gồm các dãy núi phiến thạch, sathạch và dãy núi chạy từ Quan Hoá xuống Nh Xuân sang Tĩnh Gia có độ caokhoảng 1000m, đỉnh cao nhất là Bù Chó (1563m) thuộc xã Xuân Mỹ (ThờngXuân) Vùng đồi trung du có diện tích khoảng 500Km2, cao không quá 40mthuộc một phần diện tích các huyện: Ngọc Lặc, Thờng Xuân, Thọ Xuân, NhThanh Với địa thế này đã tạo cho nơi đây điểm mạnh về tài nguyên khoángsản, đất đai rộng lớn để trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi đại giasúc
Vùng trung du - miền núi phía Tây tỉnh Thanh Hoá có khoảng 789.450ha[1,7], đợc hình thành trên nền đá mẹ phong hoá tại chổ Căn cứ vào vị trí địa
lý và tính chất của đất có thể chia thành các tiểu vùng:
Tiểu vùng I: Đất phát triển trên nền đá mắc ma trung tính, Bazơ và siêuBazơ có diện tích khoảng 101.411 ha đợc phân bố trên các khu đồi thấp Thànhphần cơ giới: đất thịt có thành phần dinh dỡng cao, kết cấu viên thoát nớc tốt.Trong đó có 7.157 ha có nền đá mẹ là mác ma, siêu Bazơ đợc phân bố ở cáchuyện: Nh Thanh, Nh Xuân, Nông Cống, Triệu Sơn và 94254 ha hình thành trênnền đá mẹ mắcma trung tính ở các huyện: Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc Đây là loại đấttốt phù hợp với trồng cây hoa quả, cây công nghiệp
Tiểu vùng II: Đất phát triển trên nền đá mẹ gra-nít, rích lích và các loại mắc
ma chua có diện tích khoảng 186.117ha, địa hình dốc núi cao, tầng đất trungbình, thành phần cơ giới thịt nhẹ tơi xốp, dễ xói mòn, tổng số dinh dỡng trungbình, đất có mầu đỏ nâu Vùng cao là rừng tự nhiên, vùng thấp trồng cây côngnghiệp và cây hoa mầu
Trang 8Tiểu vùng III: Đất đợc phát triển trên nền đá trầm tích và biến chất (đá vôi,
sa thạch, phiến thạch) có diện tích 420.589 ha, địa hình đồi úp bát và núi thấp,
độ mùn và tổng số dinh dỡng nghèo, có đá ong, đất màu đỏ, độ chua cao đợcphân bố hầu hết các huyện miền núi Loại đất này nếu cải tạo tốt có thể trồngrừng, trồng cây công nghiệp
Qua điều tra nghiên cứu, trừ diện tích có rừng, khu vực trung du - miền núiThanh Hoá còn lại khoảng 300.000 ha, có khả năng trồng cây công nghiệp, câyhoa màu và cây ăn quả Nh vậy, từ thành phần đất hứa hẹn là sẽ tạo ra đợc mộtvùng nguyên liệu rộng lớn để cung cấp cho Nhà máy Đờng đợc xây dựng trênvùng bán sơn địa này
Trung du - miền núi Thanh Hoá nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, thờitiết khí hậu nơi đây có những nét chung của cả tỉnh và có những nét đặc thù, đólà: mùa đông lạnh, ít ma, có sơng giá, sơng muối Mùa hè nóng, ma nhiều, cógió lào khô nóng, có khi nhiệt độ cao tới 410c Mỗi năm mặt trời đi qua thiên
đỉnh hai lần vào ngày 15/5 và ngày 15/7 Từ Xuân Phân đến Thu Phân mỗi ngày
có 12-13 giờ mặt trời chiếu sáng và từ Thu Phân đến Xuân Phân mỗi ngày có10-12 giờ mặt trời chiếu sáng Hớng gió thịnh hành là hớng Đông và hớngNam Riêng khu vực Nh Xuân - Tĩnh Gia là hớng Bắc, Đông Bắc, Tây Bắc Vàotháng 7 dơng lịch có gió Tây Nam nóng, tháng 8, tháng 9 có gió và bão, áp thấpnhiệt đới kéo theo ma lớn gây lũ lụt Lợng ma bình quân hàng năm là 1400 mm
đến 2200mm, lợng ma ít, nhiệt độ trung bình trong năm là 23oC [1,13] Nhìnchung thời tiết khí hậu khu vực trung du - miền núi có những yếu tố tác hại đến
đời sống sinh hoạt và sản xuất, nhng các yếu tố thuận lợi lại bao quát toàn diện
để sản xuất đạt hiệu quả
Khu vực trung du - miền núi Thanh Hoá có hệ thống sông ngòi dầy đặc.Phần lớn sông ngoài Thanh Hoá bắt nguồn với các sông chính:
Sông Mã chảy trên địa phận Thanh Hoá, dài 242km đỗ ra Lạch Trờng vàLạch Hới Hệ thống sông Mã gồm 92 sông suối lớn nhỏ, trong đó có một sốsông chảy trong khu vực trung du - miền núi Thanh Hoá nh: sông Cầu chảy dài87,5km, sông Chu dài 300km với ba nhánh sông Khao, sông Đằn, sông Âm,
Trang 9sông Lò dài 76km, sông Luồng dài 102km Suối Kim dài 40km, suối Quanh dài41km, suối Xia dài 22km
Sông Yên dài 89km bắt nguồn từ núi rừng Nh Xuân đổ ra lạch Ghép với cácnhánh chính: sông Nhơn, sông Hoàng, sông Lý, sông Thị Long
Sông Bang cũng bắt nguồn từ Nh Xuân chảy qua Tĩnh Gia ra Cửa Bang dài34,5 km
Sông suối nơi đây là nguồn tài nguyên vô giá vì nó không chỉ chứa mộtnguồn nớc và phù xa phục vụ sản xuất mà còn là nguồn thuỷ điện, nguồn thựcphẩm, là đờng giao thông, đờng thuỷ quan trọng và tầm chiến lợc
Khoáng sản ở Thanh Hoá tập trung ở các huyện trung du - miền núi Theothống kê của các nhà nghiên cứu đã phát hiện đợc 185 điểm có khoáng sản đợc
4 nhóm kim loại đen gồm có: Sắt tập trung khá lớn ở Nh Xuân, Hà Trung,Triệu Sơn, Crômmít ở Cổ Định Kim loại màu có: Chì, Kẽm (Tĩnh Gia), Ăng-tin-oan (Bá Thớc, Cẩm Thuỷ), Niken (Cổ Định), Đồng (Thờng Xuân, LangChánh), Thiếc ở Thờng Xuân, khoáng chất làm phân bón nh Phốtphoric (NgọcLặc), Séc-phen-tin (Nông Cống) Khoáng chất nguyên liệu: Cao lanh, sét trắng,vật liệu xây dựng nh: Đá, sỏi, cát chứa khối lợng lớn
Khu vực trung du - miền núi Thanh Hoá có diện tích rừng rộng lớn với hệsinh thái nhiệt đới Cách đây 11 ngàn năm, hệ sinh thái đã đợc ổn định, thực vật
có khoảng 1569 loài, trong đó có 225 loài cho quả, 423 loài cho dợc liệu, 400loài chim, 33 loài bò sát và hàng trăm loài côn trùng Hiện nay, diện tích rừng
tự nhiên còn lại hơn 300 000 ha và gần 100 000 ha rừng trồng
Giao thông vùng này xa kia chủ yếu là đờng thuỷ trên sông Chu, sông Mã,sông Cầu Chày, sông Lê, chảy ra các sông nhỏ xuôi xuống vùng đồng bằng vàchảy tận ra biển
Hệ thống đờng bộ hiện nay là: Đờng quốc lộ 47 từ Thành phố Thanh Hoá đitheo các hớng: Thanh Hoá lên Bái Thợng, Thanh Hoá - Thờng Xuân, ThanhHoá - Thọ Xuân - Ngọc Lặc Đờng 15A từ Thọ Xuân - Nh Xuân - Nghệ An.Cùng với hệ thống đờng liên huyện, trên các huyện trung du - miền núi, đờng
Trang 10liên thôn ngày càng đợc mở rộng Đặc biệt hiện nay con đờng Trờng Sơn đi quacác huyện Thờng Xuân, Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, thuận tiện cho đi lại
Nh vậy, điều kiện tự nhiên của trung du - miền núi Thanh Hoá mặc dù gây
ra một số khó khăn cho hoạt động sản xuất nh khí hậu khắc nghiệt (bão lụt, hạnhán ), địa hình phức tạp nhng nó cũng mang lại nhiều thuận lợi để phát triểnnhiều ngành nghề: Nông - Công nghiệp - Du lịch - Dịch vụ Hơn thế nữa, mới
đây còn có nhiều lợi thế để phát triển nh: Đất đai rộng lớn, màu mỡ, nhân dân
có tập quán làm ăn giỏi, thông minh, cần cù, sáng tạo, lực lợng lao động dồi dào
và nhiều vùng đất cha đợc khai thác hết Tất cả những lợi thế này sẽ phát huymạnh mẽ nếu các cấp chính quyền và nhân dân nơi đây biết khai thác và thứcdậy tiềm năng sẵn có trong quá trình phát triển kinh tế xã hội
1.1.2 Thực trạng kinh tế - xã hội vùng Lam Sơn
Để khai thác mọi tiềm năng thế mạnh của khu vực trung du - miền núi,ngay từ những năm 60, 70 của Thế kỷ XX, Đảng, Nhà nớc các cấp, ngành ởThanh Hoá đã chủ trơng phát triển một nền kinh tế tổng hợp: công - nông - lâmnghiệp, thơng mại, dịch vụ Để triển khai chủ trơng này, Đảng, Nhà nớc đã vận
động hàng vạn lao động lên khai hoang xây dựng vùng kinh tế mới ở các huyệnmiền núi, lập ra các Hợp tác xã, Nông trờng, Lâm trờng quốc doanh
Tuy nhiên, trớc năm 1980 Lam Sơn vẫn là vùng kinh tế nông nghiệp nghèonàn và lạc hậu Sản xuất của toàn vùng lúc này đợc tổ chức dới 2 hình thức: CácHợp tác xã sản xuất Nhà nớc và các Nông trờng quốc doanh
1.1.2.1 Các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp:
Từ những năm 1960, nông dân của vùng Lam Sơn đã tổ chức vào làm ăntrong các Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp Sản xuất của các Hợp tác xã chủyếu là lơng thực, quan trọng nhất là lúa, ngô, khoai, sắn và một số cây côngnghiệp ngắn ngày nh: đậu tơng, lạc, mía đợc trồng rất ít Năm 1984 diện tíchmía mới có 324 ha bằng 0, 69% diện tích của cả vùng [5,2]
Do điều kiện chiến tranh ác liệt, trình độ sản xuất còn thấp kém, cơ sở vậtchất kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, cách tổ chức, quản lý còn nhiều hạn chế, nềnsản xuất của các Hợp tác xã trong vùng đạt trình độ thấp Lúa đạt năng suất
Trang 11bình quân 3,5 - 3,9 tấn/ha/năm; ngô đạt 800kg ha; sắn đạt 5 - 5,4 tấn củ
t-ơi/ha/năm, mía đạt 28 - 30 tấn mía cây/ha Mặc dù sản xuất lơng thực là chính,song lơng thực tính bình quân cho một đầu ngời của cả vùng chỉ đạt 146 - 180kg/ngời/năm [5,2]
Kinh tế chậm phát triển, kéo dài tự cấp, tự túc đã dẫn đến hậu quả là đờisống mọi mặt của ngời nông dân rất khó khăn, đói kém thờng xuyên xảy ra.Chẳng hạn ở Hợp tác xã Đồng Cốc (xã Xuân Phú - huyện Thọ Xuân) với 571nhân khẩu, trong đó có 50% là đồng bào dân tộc thiểu số, nhng cả Hợp tác xãtổng sản phẩm lơng thực quy thóc chỉ đạt 96 tấn, bình quân lơng thực đầu ngời
là 160 kg/ngời/năm Do vậy, mỗi năm Nhà nớc phải trợ giúp 3,5 - 4 tấn gạo cho
đồng bào
1.1.2.2 - Các Nông trờng quốc doanh
Để phát huy thế mạnh sẵn có ở khu vực này, từ những năm 60 - 70 Nhà nớccho xây dựng 3 Nông trờng quốc doanh Sao Vàng, Lam Sơn, Sông Âm Do việcxác định phơng hớng sản xuất kinh doanh cha phù hợp nên các Nông trờng đãphải tìm tòi, thử nghiệm trồng nhiều loại cây Lấy Nông trờng Sao Vàng làm thí
dụ điển hình Lúc đầu Nông trờng Sao Vàng trồng cà phê, gai sợi, khoai sắn.Mãi đến năm 1972 mới xác định đợc phơng hớng ổn định là trồng mía Nông tr-ờng đã thực hiện phơng pháp khép kín từ trồng mía đến chế biến cây côngnghiệp Song do vốn có hạn, thiết bị thô sơ, kỹ thuật và công nghệ lạc hậu nênhiệu quả thấp (30 - 35 tấn mía/1 tấn đờng), chất lợng sản phẩm làm ra kém, giáthành cao, hiệu quả kinh tế thấp, thu nhập của công nhân nông trờng bình quânchỉ đạt 22.000 đ/tháng [5,3] Đời sống mọi mặt của công nhân gặp nhiều khókhăn
Hơn hai thập kỷ, trên đất Lam Sơn đã tồn tại gần 100 Hợp tác xã sản xuấtnông nghiệp và 3 Nông trờng quốc doanh Song, do phơng thức sản xuất khácnhau, cộng với những ràng buộc về cơ chế tổ chức và quản lý, nền kinh tế quốcdoanh và kinh tế Hợp tác xã trên địa bàn vẫn luôn luôn tách rời nhau, không tạo
ra sức mạnh hợp lực để đẩy kinh tế cả vùng phát triển Các nông trờng quốcdoanh, các Hợp tác xã và nông dân trong cùng một vùng nhng phơng hớng sản
Trang 12xuất cây con, nông nghiệp và công nghiệp tách rời nhau dẫn tới kinh tế chậmphát triển, sản xuất tự cấp, tự túc, kém hiệu quả, đất hoang hoá còn trên 6000 hakhông đợc khai thác
Nhìn lại thực trạng kinh tế - xã hội vùng Lam Sơn trớc 1980 có thể rút ranhận xét sau đây: Nếu không tạo lập đợc hình thức tổ chức và cơ chế quản lýphù hợp thì dẫu đầu t lớn vẫn không tạo ra đợc động lực làm thay đổi cục diệnkinh tế - xã hội trên toàn vùng Từ đó, có thể kết luận rằng tăng cờng đầu tựphải đi liền với đổi mới mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động các doanh nghiệpNhà nớc trên địa bàn, gắn kinh tế Nhà nớc vào kinh tế hộ nông dân tạo ra độnglực thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng phát triển toàn diện
1.2 Quá trình thi công xây dựng Nhà máy Đ ờng Lam Sơn (1980 - 1986).
1.2.1 Vị trí, nguồn nguyên liệu của Nhà máy Đờng Lam Sơn.
Sau khi khảo sát thăm dò địa chất vùng đồi núi Lam Sơn, phơng án xâydựng Nhà máy Đờng Lam Sơn đợc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cácban ngành ở Thanh Hoá đã hoạch định và nhất trí Đồng thời, vị trí, mặt bằngxây dựng cùng nguồn nguyên liệu cung cấp cho nhà máy đã đợc xác định
Về vị trí: Nhà máy Đờng Lam Sơn (nay là Công ty Đờng Lam Sơn) đợc
đóng trên địa bàn xã Thọ Xơng nay là thị trấn Lam Sơn, huyện Thọ Xuân, tỉnhThanh Hoá, nằm ngay ven đờng quốc lộ 15A tính từ thành phố Thanh Hoá lênkhoảng 50Km Khu nhà máy có diện tích trên 76 ha nằm trên địa hình bán sơn
địa với loại đất thích hợp cho trồng cây công nghiệp và cây ăn quả
Về thiết kế tổng thể của Nhà máy Đờng Lam Sơn có 2 cơ sở: Nhà máy số Ivới công suất 1500 tấn mía/ngày (đến năm 1998 là 2500tấn mía/ngày), Nhàmáy số II với công suất 4000 tấn mía/ngày; với 4 khu chính: khu nhà sản xuất,khu nhà ở của gia đình cán bộ công nhân viên của Nhà máy Đờng, khu nhà trẻ -mẫu giáo và khu chuyên gia Ngoài ra, Nhà máy Đờng còn có một nhà kháchlớn đợc xây dựng khá hiện đại
Nhà máy Đờng Lam Sơn đợc thiết kế ở vị trí gần dân c đông đúc, có truyềnthống lao động sản xuất; đồng thời, cũng là thị trờng để tiêu thụ sản phẩm đờng
Trang 13làm ra: bánh, kẹo, mật, cồn Bên cạnh đó, sản phẩm đờng đợc đa ra cả thị trờngtrong nớc, Đông Nam á thậm chí là thị trờng thế giới.
Về nguồn nguyên liệu: Nhà máy Đờng Lam Sơn có vùng nguyên liệu dồidào với tổng diện tích hơn 16.640 ha đặt ở các vùng nguyên liệu chính sau: -Vùng nguyên liệu mía ở 4 Nông trờng: Nông trờng Sao Vàng, Nông trờngLam Sơn, Nông trờng Sông Âm, Nông trờng Thống Nhất với 2.435ha [15,17].-Vùng nguyên liệu ở 4 huyện: Triệu Sơn, Thọ Xuân, Ngọc Lặc, Thờng Xuânvới 10.347 ha Trong đó, huyện Ngọc Lặc là huyện có tổng diện tích trồng míalớn nhất (trên 5.200 ha), huyện Thọ Xuân xếp thứ 2 (3.339 ha) và là huyện cónăng suất bình quân cao nhất (đạt trung bình từ 70 - 80 tấn/ha) [15,17]
-Ngoài ra, Nhà máy còn lấy nguyên liệu ở các huyện lân cận khác nh: NhXuân, Nh Thanh, Yên Định, Lang Chánh, Cẩm Thuỷ và Trại 5 Công
Nh vậy, có thể thấy Nhà máy Đờng Lam Sơn có một địa thế thuận lợi trêncả bốn phơng diện cơ bản: Thị trờng tiêu thụ sản phẩm rộng lớn, vùng nguyênliệu rộng, giao thông thuận lợi và lực lợng lao động sản xuất dồi dào Đây lànhững thuận lợi cơ bản có tính chiến lợc của Nhà máy Đờng Lam Sơn
1.2.2 Quá trình xây dựng Nhà máy Đờng Lam Sơn (1980 -1986).
Trớc những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà khảo sát đã phát hiện khu vựcbán sơn địa phía Tây tỉnh Thanh Hoá có điều kiện thuận lợi: đất đai, khí hậu,sông ngòi có khả năng phát triển thành vùng nguyên liệu mía rộng lớn; nhândân trong khu vực đông đúc, có truyền thống trồng mía, ép mật và làm đờng thủcông Nông trờng Sao Vàng - một Nông trờng quốc doanh thành lập năm 1960
ở khu vực này đã trồng mía trên đồi có năng suất khá cao, trữ lợng đờng tơng
đối lớn và đã xây dựng một xí nghiệp sản xuất đờng, mật có quy mô nhỏ
Căn cứ vào thực tiễn, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh Thanh Hoá đã đề nghị vớiChính phủ và Bộ lơng thực thực phẩm xây dựng Nhà máy Đờng hiện đại, cóquy mô lớn, nhằm khai thác tiềm năng đất đai và lực lợng lao động ở nơi đây,góp phần giải quyết tình trạng kinh tế tự cấp, tự túc, giải quyết việc làm cho dân
và tình trạng thiếu đờng trong vùng và trong cả nớc
Trang 14Ngày 12/1/1980, Phó Thủ tớng Chính phủ Đỗ Mời đã ký quyết định số24/TTg phê duyệt nhiệm vụ thiết kế, thi công xây dựng Nhà máy Đờng LamSơn với công suất 1.500 tấn mía/ngày, thiết bị và công nghệ tiên tiến của Pháp
do hãng FCB cung cấp Tổng mức vốn đầu t là 107 triệu phờ-răng Địa điểmxây dựng tại xã Thọ Xơng khu vực Lam Sơn (Thọ Xuân - Thanh Hoá) quê hơnganh hùng dân tộc Lê Lợi
Xây dựng Nhà máy Đờng Lam Sơn, Đảng, Nhà nớc nhận đợc sự giúp đỡ,hợp tác của Chính phủ Pháp Theo ký kết thoả thuận giữa hai chính phủ ViệtNam và Cộng hoà Pháp thì Cộng hoà Pháp sẽ giúp đỡ Việt Nam 60% côngnghệ, trang thiết bị hiện đại, thiết kế kỷ thuật để xây dựng nhà máyvới dâychuyền sản xuất đờng có công suất 1.500 tấn mía/ngày
Với sự giúp đỡ trực tiếp và toàn diện của Chính phủ Pháp từ khâu thiết kế
đến trang thiết bị kỷ thuật, máy móc tiên tiến; đồng thời, Cộng hoà Pháp đasang ta một tập thể chuyên gia có trình độ chuyên môn cao, giúp ta lắp đặt, xâydựng, vận hành và hiệu chỉnh máy Bộ trởng Bộ Lơng thực thực phẩm NgôMinh Loan đã ký quyết định số 488/LT-TP-KTCB (ngày 31/3/1980), thành lậpban thiết kế và chuẩn bị những điều kiện cơ bản thi công xây dựng Nhà máy Đ-ờng Lam Sơn
Ngày 14/3/1981, Thủ tớng Chính phủ ký quyết định số 61/TTg đa côngtrình xây dựng Nhà máy Đờng Lam Sơn vào danh mục trọng điểm cấp Nhà nớc.Ngày 8/4/1981, những tấn thiết bị đầu tiên đợc vận chuyển đến công trìnhtại xã Thọ Xơng Những ngời thợ xây dựng Công ty xây lắp 2 và 3 đã có mặtchuẩn bị xây dựng khu nhà sản xuất chính, những dầm cột, kho đờng đã đợcchuyển đến Ban thiết kế cũng đợc lập ra gồm 3 đồng chí: Trần Văn Mộc,Nguyễn Hữu Lu, Trơng Văn Đờng và một lái xe từng đi khắp miền, vai khoác
ba lô về đến Lam Sơn lập công trờng xây dựng nhà máy
Ngày 13/2/1982, đoàn chuyên gia Pháp theo hợp đồng đã đến công trờng thicông xây dựng để hớng dẫn chuyển giao công nghệ cho cán bộ kỹ thuật và côngnhân Việt Nam
Trang 15Vạn sự khởi đầu nan, mọi việc ban đầu Ban thiết kế - thi công đều phải dựavào nhân dân và chính quyền xã Thọ Xơng, Xí nghiệp giấy Mục Sơn giúp đỡ.Sau khi đã ổn định đợc nơi sinh hoạt, Ban thiết kế - thi công đã tiến hành khảosát và kết hợp với Ban lãnh đạo địa phơng vận động 18 gia đình tự nguyện dờinhà về địa điểm mới để giải phóng mặt bằng xây dựng nhà máy Chỉ trong thờigian ngắn, Ban thiết kế đã huy động đợc lực lợng tiến hành việc san đồi, bạtnúi, san đắp ao mơng sình lầy với 160.000m3 đất đá tạo ra mặt bằng 90.000m2.
Tổ chức một lực lợng bốc dỡ, vận chuyển, bảo vệ và lắp đặt 4.000 tấn thiết bị vàhàng vạn tấn vật liệu xây dựng trong điều kiện đờng xây dựng chật hẹp, lầy lội
Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, việc thi công xây dựng nhà máy gặpnhiều khó khăn về vật t, thiết bị, thời tiết, các trận bảo lụt lớn liên tiếp dồn dậptàn phá quê hơng Thanh Hoá, nhiều vùng bị mất mùa Nền kinh tế sau chiếntranh khốc liệt vốn đã khó khăn nay đã riệt lại thêm khó khăn chồng chất tác
động không nhỏ đến đời sống của cán bộ, công nhân trên công trờng Nhng vớitinh thần khắc phục khó khăn gian khổ, cộng với sự giúp đỡ của Đảng bộ, chínhquyền và nhân dân Thanh Hoá Mọi việc trên công trờng vẫn diễn ra sôi nổikhẩn trơng
Công trình mới lắp ráp đợc 50% thì 99 kiện hàng (bao gồm nhiều linh kiện,thiết bị) bị thiếu Ngày 16/12/1984 đoàn chuyên gia Pháp bỏ về nớc khi côngtrình lắp đặt mới khoảng 50% và thiết bị thất lạc, bị thiếu 99 kiện hàng vật t,phụ kiện Việc thi công xây dựng nhà máy đành gác lại Không thể để nhàmáy trở thành đống sắt vụn, đồng chí Nguyễn Ngọc Châu- nguyên là Trởng banthiết kế cùng với các cộng sự đề xuất Chính phủ cho thành lập đoàn chuyên giaViệt Nam thay thế đoàn chuyên gia Pháp (tháng 5/1984) Chính phủ đã giaocho Bộ xây dựng và Bộ công nghiệp thực phẩm tổ chức lực lợng tiếp tục thicông lắp đặt thiết bị còn lại và hoàn chỉnh dây chuyền thiết bị
Bằng những nổ lực phi thờng, gần 200 tấn thiết bị mà Pháp giao thiếu đợcthay thế bằng thiết bị chế tạo trong nớc và của cả các nớc bạn Các đơn vị: Khoa
tự động hoá, khoa công nghệ thực phẩm (Đại học Bách khoa Hà Nội), Việnkhoa học kỹ thuật quân sự, Liên hiệp các xí nghiệp lắp máy 45, Nhà máy cơ khí
Trang 16nông nghiệp I, Nhà máy đờng Vạn Điểm, Nhà máy đờng Quảng Ngãi cùngvới gần 8000 cán bộ công nhân công trờng đã góp công sức trí tuệ và ngày đêmlao động miệt mài, tận tuỵ lắp đặt máy móc, thiết bị xây dựng hoàn chỉnh nhàmáy
Mọi nỗ lực của cán bộ công nhân viên đã đợc đền đáp lại, vào tháng11/1986 Nhà máy Đờng Lam Sơn đợc đa vào chạy thử và đã cho ra đời nhữngsản phẩm đờng đầu tiên Đây là thành quả và niềm vui sau nhiều năm xây dựngnhà máy của toàn thể cán bộ công nhân viên cũng nh sự chỉ đạo sát sao của
Đảng, Nhà nớc ta trên công trờng xây dựng Nhà máy Đờng Lam Sơn của tinhthần tự lực, tự cờng đã đem lại thành công Kể từ đây ngành công nghiệp mía đ-ờng Việt Nam thêm một đứa con nuôi là Nhà máy đờng Lam Sơn- một cơ sởchế biến đờng hiện đại lớn nhất ở Miền Bắc đã ra đời trên mảnh đất Lam Sơnlịch sử mới 600 năm về trớc đã sinh ra ngời Anh hùng áo vải Lam Sơn đã tụnghĩa đánh đuổi giặc Minh, xâm lợc giải phóng dân tộc lập nên nớc Đại Việtthuộc triều đại vàng son Lê Sơ
1.3 Nhà máy Đ ờng Lam Sơn đi vào sản xuất và đạt kết quả b ớc đầu
(1986 - 1990).
Năm 1986, công việc thi công xây dựng đã hoàn thành và bắt đầu đa vàosản xuất Đồng thời, Bộ Trởng Bộ Công nghiệp thực phẩm ký quyết định, chínhthức thành lập Nhà máy Đờng Lam Sơn (28/4/1986) Lập ra cơ cấu sản xuất củanhà máy
Từ năm 1986 – 1990, đây là giai đoạn Nhà máy Đờng Lam Sơn chuyển
từ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế quản lý hạch toánkinh doanh xã hội chủ nghĩa Dới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng lần VI(12/1986) đổi mới toàn diện trên tất cả các mặt từ kinh tế, chính trị, xã hội…màtrọng tâm là đổi mới t duy kinh tế Đây cũng là thời kỳ thực hiện nghị quyết
306 của Bộ Chính trị và Quyết định 76 của Hội đồng Bộ trởng, cho phép các cơ
sở xây dựng và triển khai cơ chế quản lý mới, theo hớng hạch toán kinh doanhxã hội chủ nghĩa Nhiều chủ trơng chính sách về quản lý, hạch toán kinh doanh
Trang 17theo cơ chế mới đối với doanh nghiệp Nhà nớc đợc Trung ơng thử nghiệm tạiNhà máy Đờng Lam Sơn trớc khi ban hành thực hiện trong cả nớc.
Đối với Nhà máy Đờng Lam Sơn thì đây là thời kỳ đầy thử thách,khó khănmới.Vào tháng 11/1986 Nhà máy chính thức bớc vào hoạt động sản xuất, thựchiện chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nớc Trong giai đoạn này, do đi vào sản xuất
đúng thời điểm Nhà nớc từng bớc xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp,Nhà máy rơi vào tình trạng hết sức khó khăn : vốn tự có cha hình thành, vốn cấp
từ ngân hàng không còn,hệ thống tín dụng Nhà nớc cũng đang tìm cách đổimới Mía nguyên liệu mặc dù đã đợc quy hoạch và xây dựng đồng thời với Nhàmáy, song đến khi nhà máy xây dựng hoàn thành thì nguyên liệu mía cha có làbao, gây nên tình trạng thiếu nguyên liệu nghiêm trọng
Chính điều này đã dẫn đến Nhà máy bớc vào vụ sản xuất đầu tiên (1986 1987) chỉ đạt 9.600 tấn mía cây, bằng 4% công suất thiết kế ; vụ thứ 2 (1987-1988) chỉ đạt 24.000 tấn mía cây [4,2] Để giải quyết tình trạng này, năm 1987
-Bộ chủ quản cùng Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá thành lập ban chỉ đạo xâydựng vùng mía nghuyên liệu cho nhà máy, tập hợp nhiều đồng chí lãnh đạo,quản lý, cán bộ kỷ thuật có năng lực Nhờ vậy, vụ ép thứ 3 (1988 - 1989) đạt36.000 tấn mía cây, bằng 10% công suất thiếy kế Tuy nhiên, đến vụ ép sau lạitụt xuống còn 25.000 tấn Nguy cơ phá sản Nhà máy lộ ra trớc mắt - lần thứ hailại có ngời bàn đến chuyện dỡ Nhà máy chuyển đi nơi khác [4,3]
Đứng trớc thử thách nghiệt ngã này, Nhà máy Đờng Lam Sơn đã nêu lênquyết tâm bằng mọi giá phải giữ đợc Nhà máy, tức là phải có đủ nguyên liệucho sản xuất Đợc sự chỉ đạo, giúp đỡ tích cực của tỉnh, Bộ Nông nghiệp, Côngnghiệp thực phẩm và các nghành có liên quan, Nhà máy đã tìm ra khâu đột phá
và tạo ra động lực mới cho ngời trồng mía bằng cách tạo cho họ những điềukiện thuận lợi và lợi ích thoả đáng, coi những ngời trồng mía là công nhân
"ngoài hàng rào" của Nhà máy ; xây dựng mối quan hệ bình đẳng cùng có lợi ;xây dựng những chính sách, bịên pháp rất cụ thể ; đầu t vào hỗ trợ khuyến khíchngời trồng mía ở các địa phơng có mía mở rộng diện tích và thâm canh tăngnăng suất để có nhiều mía bán cho Nhà máy
Trang 18Tháng 10 / 1988 kỹ s Lê Văn Tam - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp, PhóBan mía đờng tỉnh Thanh Hoá đã đợc Bộ lơng thực, thực phẩm cử lên làm Giám
đốc Nhà máy đờng Lam Sơn Bằng tài năng và kinh nghiệm làm việc lâu năm,Giám đốc mới đã thực hiện một loạt các biện pháp nhằm đa Nhà máy ĐờngLam Sơn thoát khỏi tình trạng trên nh : Liên kết với Ngân hàng tìm nguồn vốntín dụng phát triển vùng mía nguyên liệu ; Nhà máy ký kết với các Nông trờngquốc doanh bao tiêu sản phẩm, cung ứng vật t cho các hộ nông trờng viên trồngmía ; phát triển vùng nguyên liệu sang các huyện : Ngọc Lặc, Yên Định, ThờngXuân ; liên kết với các cơ quan Trung ơng, các viện nghiên cứu các trờng Đạihọc, các nhà khoa học tìm kiếm chất xám, kỷ thuật, công nghệ mới và gửi cán
bộ công nhân đi đào tạo nâng cao tay nghề
Nhờ những cố gắng nỗ lực vợt bậc của cán bộ công nhân Nhà máy đã đemlại những kết quả ban đầu đáng khích lệ :
Năm 1986 Nhà máy đờng Lam Sơn đã sản xuất đợc 360 tấn đờng, năm
1987 sản xuất tăng lên 2.500 tấn đờng đen, đến năm 1990 sản lợng đờng là2.875 tấn đờng ; doanh thu của Nhà máy năm 1988 là 1.715 triệu đồng đến năm
1990 lên 5.552 triệu đồng ; nộp ngân sách nhà nớc 621 triệu đồng [8,4]
Vùng nguyên liệu bớc đầu đợc mở rộng Từ một vùng đồi núi rộng lớn đất
đai cằn cỗi, nhng Nhà máy Đờng Lam Sơn bớc vào hoạt động thì diện tích míacũng đợc tăng lên từ 436 ha (1986 - 1987) lên 1.520 ha (1988 - 1989) [8,4].Bên cạnh về sản xuất - kinh doanh, thì điều đáng chú ý là đã bắt đầu khaithác đợc nguồn nhân lực dồi dào trong nông thôn hàng vạn lao động trong vùng
và thu hút cả lực lợng lao động từ miền xuôi lên tham gia thu hoạch thời vụ.Riêng Nhà máy Đờng Lam Sơn năm 1981-1985 có 630 cán bộ công nhân, đếnnăm 1986-1990 đã tăng lên 755 cán bộ công nhân viên Chất lợng lao độngkhông ngừng đợc nâng cao để đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ, đổi mớiquản lý, Nhà máy thờng xuyên có chính sách đào tạo tại chổ và gửi đi các trờng
Đại học, cao đẳng để đào tạo
Khi sản xuất phát triển, kéo theo các ngành nghề mới phát triển theo, nh :dịch vụ, xây dựng, vận tải ;cơ sở vật chất : trờng học, trạm xá, đờng giao thông
Trang 19cầu cống đợc tăng lên Đời sống vật chất, tinh thần của nông dân từng bớc đợccải thiện Riêng công nhân Nhà máy Đờng Lam Sơn thờng xuyên có đủ việclàm, thu nhập bình quân mỗi năm một tăng:Năm 1988 là 112.000 đồng/ ngời/tháng, năm 1989 là 120.000 đồng/ ngời/ tháng, năm 1990 là 130.000 đồng/ngời/tháng [5,5].
Song song với việc chăm lo phát triển doanh nghiệp, Nhà máy đờng LamSơn luôn quan tâm đến công tác văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng Nhàmáy luôn thể hiện ý thức, trách nhiệm đối vối cộng đồng và xã hội Sản xuấtkhông chỉ vì mục đích lợi nhuận mà còn mục đích cao hơn đó là vì con ngời, vì xã hội công bằng văn minh
Ngoài ra, công tác tổ chức Đảng và phát triển Đảng cùng các tổ chức đoànthể Công đoàn, Đoàn thanh niên bớc đầu đợc quan tâm.Năm 1988 có 84 đảngviên, mặc dù với số lợng ít, song đa số đảng viên tích cực, gơng mẫu, luôn hoànthành xuất sắc nhiệm vụ Đảng bộ Nhà máy đợc Huyện uỷ Thọ Xuân tặng cờ"
Đảng bộ trong sạch vững mạnh" Các hoạt động của Công đoàn, Đoàn thanhniên đợc đẩy mạnh, tổ chức các phong trào thi đua lao động xã hội chủ nghĩa vàxây dựng ngời công nhân mới; tổ chức các phong trào văn hoá, văn nghệ, thểdục thể thao, góp phần làm lành mạnh, phong phú đời sống văn hoá - tinh thần
ở Nhà máy
Mặc dù đạt đợc một số kết quả bớc đầu, Nhà máy Đờng Lam Sơn trong giai
đoạn này vẫn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, cụ thể: Qua 4 vụ sản xuất cha tạolập đợc vốn, cha xây dựng đợc vùng nguyên liệu cho Nhà máy, vùng Lam Sơncha có những chuyển biến đáng kể, sản xuất làm ăn thua lỗ, đờng làm ra để tồnkho, đời sống vật chất, tinh thần của công nhân còn nhiều khó khăn, việc làmkhông ổn định, an ninh- quốc phòng và hoạt động của các tổ chức còn nhiềuhạn chế Vì vậy, ảnh hởng đến niềm tin của công nhân và nông dân vùng mía,
họ không còn thiết tha với cây mía mà quay sang trồng ngô, sắn, khoai, Nhữngtồn tại đó nếu không nhanh chóng giải quyết sẽ đẩy Nhà máy trớc nguy cơ phásản
Trang 20Nhìn lại 5 năm bớc đầu sản xuất- kinh doanh (1986-1990), thành công còn
ít, hạn chế, thiếu sót thì nhiều, Ban lãnh đạo và công nhân viên Nhà máy ĐờngLam Sơn với truyền thống không chịu lùi bớc trớc khó khăn và đợc ánh sáng đ-ờng lối của Đảng soi đờng, một lần nữa lại lao vào trận mới, huy động tổng lực,tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo và hỗ trợ của các cấp, các ngành từ Trung ơng
đến địa phơng cùng "xung trận" tự tìm ra lối thoát đa Nhà máy sang thời kì mới
Ch ơng 2:
nhà máy đờng Lam Sơn đổi mới, đầu t và phát triển
Những thành quả bớc đầu trong 4 vụ ép (1986 - 1990) về cơ bản đã đáp ứng
đợc nhu cầu đờng cũng nh sản phẩm sau đờng của ngời dân trong vùng, tiềmnăng đất đai ở vùng bán sơn địa đợc đa vào sử dụng, tạo công ăn việc làm chohàng vạn ngời dân, biến vùng đất hẻo lánh, nghèo nàn thành vùng trù phú bạt
Trang 21ngàn màu xanh của mía, đời sống vật chất văn hoá của ngời dân phần nào đợccải thiện
Bớc vào giai đoạn chuyển đổi sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trờng,Nhà máy Đờng Lam Sơn đợc ánh sáng đờng lối đổi mới của Đảng soi rọi, đặcbiệt là Nghị quyết TW Đảng lần VII (khoá VII) về công nghiệp hoá - hiện đạihoá là cơ sở, là tiền đề tạo điều kiện cho Nhà máy tiếp tục đổi mới, đầu t, pháthuy sản xuất kinh doanh Ngoài ra, tỉnh Thanh Hoá đã tạo điều kiện thuận lợicho Nhà máy ổn định sản xuất có hiệu quả, cán bộ công nhân viên Nhà máy đ-
ợc đào tạo ngày càng vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm kiếnthức mới Đồng thời, tin vào sức mạnh nội lực của chính mình, tự chủ hạch toánkinh doanh trong cơ chế thị trờng
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, thì Nhà máy Đờng Lam Sơn cũng gặpkhông ít khó khăn Có thể nói đây là thời kỳ mà Nhà máy phải vợt qua mọi khókhăn, thử thách đó là:
Qua 5 năm đầu sản xuất kinh doanh (1986 – 1900), Nhà máy Đờng LamSơn cha có bớc đột phá quan trọng Mà do thiếu vốn, thiếu nguyên liệu nênkhông phát huy đợc công suất thiết kế 1500 tấn mía/ ngày; đội ngũ cán bộ vàcông nhân kỹ thuật vừa thiếu, vừa không đợc đào tạo và chuyển giao công nghệ;
ý thức tổ chức kỷ luật của công nhân còn lỏng lẻo; thêm vào đó là t tởng bảothủ, trì trệ, tâm lý bao cấp còn đè nặng, nông dân thì cha có tập quán trồngmía, Điều đó đặt Nhà máy trớc nguy cơ phá sản, đã có ý kiến tháo gỡ Nhà máy
đa vào miền Nam
Vào cuối năm 1989 đầu năm 1990, tình hình thế giới có nhiều biến động,chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, Mỹ tăng cờng chính sách cấmvận, điều đó tác động tiêu cực đối với công cuộc đổi mới của đất nớc nói chung
và gián tiếp đến Nhà máy Đờng Lam Sơn nói riêng Tuy nhiên, nó cũng mở rathời cơ mới đó là hợp tác đa phơng hoá, đa dạng hoá, mở rộng hợp tác giao luvới các nớc trên Thế giới Nhà máy Đờng Lam Sơn có thể mở rộng thị trờng,không những trong nớc mà còn ra ngoài khu vực và trên thế giới
Trang 22Đứng trớc tình hình chung nh vậy, để phát huy những thuận lợi, hạn chếnhững khó khăn đa Nhà máy vơn lên trong giai đoạn đổi mới, Ban lãnh đạo Nhàmáy đã đa ra phơng hớng mục tiêu chung, đó là:
- Tập trung nâng cao hiệu quả ngành sản xuất mía, đờng, đẩy mạnh các biệnpháp thâm canh, tăng năng xuất, cải tạo giống, đa năng xuất mía bình quân toànvùng đạt từ 80 - 100 tấn/ha, đạt 10 - 12 tấn đờng/ha, chất lợng đạt từ 12 -14CCS, tăng thu nhập ở mức 25 - 30 triệu đồng/ha, bảo đảm ổn định và vữngchắc nguyên liệu cho Nhà máy Đờng chạy hết công suất
- Cũng cố và hoàn thiện tổ chức Nhà máy, tăng cờng công tác quản lý, đacác hoạt động của Nhà máy đi vào nề nếp theo đúng điều lệ, quy chế, nâng caohiệu quả, phát huy tốt hơn mối quan hệ hợp tác liên minh công - nông, trí thức,góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn, đakinh tế - xã hội trong vùng phát triển, xứng đáng với sự quan tâm của Đảng vàNhà nớc, sự tin tởng của các cấp, các ngành và ngời dân trong vùng
- Tạo nguồn vốn và tích tụ vốn cho Nhà máy để mở rộng thêm các cơ sở sảnxuất chế biến nông sản thực phẩm (phân bón, thức ăn chăn nuôi, bánh kẹo, cồnrợu ), giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động trong vùng, nâng cao mức thunhập cho công nhân, nông dân vùng mía
- ổn định an ninh quốc phòng, nâng cao chất lợng của các tổ chức cơ sở
Đảng, chất lợng của đội ngũ cán bộ đảng viên, đổi mới phong cách lãnh đạo,tăng cờng sự đoàn kết thống nhất nội bộ Nhà máy, tăng cờng lòng tin của nôngdân đối với Nhà máy
Trên đây là những mục tiêu, nhiệm vụ mà Nhà máy đã đặt ra chuẩn bị cho
vụ sản xuất kinh doanh (1990 - 1995) Để thực hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ sảnxuất kinh doanh trong cơ chế thị trờng, ban lãnh đạo Nhà máy đã tổ chức triểnkhai các giải pháp đổi mới:
- Liên kết với các doanh nghiệp Nhà nớc trên địa bàn có quan hệ với vùngnguyên liệu, với hộ nông dân cùng đổi mới: 3 Nông trờng là Sao Vàng, LamSơn, Sông Âm thuộc tỉnh Thanh Hoá theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ
Trang 23Chính trị thực hiện giao khoán đến hộ nông trờng viên, Nhà máy trực tiếp làmdịch vụ đầu vào và đầu ra cho hộ trồng mía
- Cùng với cấp uỷ các xã trong vùng đổi mới hình thức kinh tế hợp tác, xâydựng các trang trại nhỏ, các tổ hợp và các nhóm, hộ trồng mía ký hợp đồngtrồng mía, bán sản phẩm cho Nhà máy dựa trên nguyên tắc bình đẳng, cùng cólợi
Nhà máy đã xây dựng một hệ thống chính sách đầu t khuyến khích pháttriển vùng nguyên liệu ổn định và bền vững, lợi ích của Nhà máy luôn gắn liềnvới lợi ích của ngời trồng mía nh: Hỗ trợ vốn đầu t khai hoang, làm đất, giống,phân bón, giá, lơng thực, hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng đờng xá, giao thông, tr-ờng học, điện và phúc lợi xã hội khác
- Liên kết với Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam tìm nguồn tín dụng thiếtlập kênh chuyển tải vốn đến hộ trồng mía Thực hiện cơ chế ứng trớc (ứng vốnkhai hoang, làm đất, ứng vật t, phân bón) để nhân dân có đủ điều kiện phát triểnvùng nguyên liệu
- Liên kết với chính quyền các xã bảo đảm việc thực hiện các hợp đồng kinh
tế giữa Nhà máy với nhân dân, tổ chức bảo vệ sản xuất các vùng nguyên liệu
- Liên kết với các viện nghiên cứu, các chuyên gia về mía hình thành thànhcác trung tâm khảo nghiệm và nhân giống mới, các điểm trình diễn chuyển giao
kỹ thuật phổ cập giống mới, huấn luyện nâng cao tay nghề trồng mía cho hộnhân dân nhằm đạt năng suất và hiệu suất thu hồi đờng cao
- Liên kết với Đại học Bách khoa Hà Nội hoàn thiện và nâng cấp thiết bị,
đổi mới công nghệ, đào tạo lại đội ngũ cán bộ kỷ thuật và công nhân công nghệ,nâng cao tay nghề và kiến thức mới đáp ứng yêu cầu phát triển của cơ chế thị tr-ờng
Từ các giải pháp trên đã hình thành trên toàn vùng một mối quan hệ hợp táckinh tế đa thành phần: Giữa kinh tế Nhà nớc với kinh tế hộ dân, kinh tế Trung -
ơng với kinh tế địa phơng, giữa quá trình sản xuất nông nghiệp, dịch vụ tíndụng, các dịch vụ khác với công nghiệp chế biến, giữa sản xuất với các cơ quannghiên cứu khoa học Liên minh công - nông - trí thức mới cũng đợc phát triển
Trang 24Nhờ đó, doanh nghiệp Nhà nớc đã nắm vững khâu then chốt nhất là: vốn, côngnghệ mới và thị trờng tiêu thụ; hỗ trợ và thúc đẩy kinh tế hộ nông dân vùngLam Sơn chuyển nền sản xuất tự cấp, tự túc thành vùng sản xuất hàng hoá rộnglớn; vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nớc ngày càng phát huy
Do yêu cầu tất yếu phát triển sản xuất, ngay từ đầu năm 1992, Giám đốcNhà máy Đờng Lam Sơn đã đề xuất phơng án xây dựng Hiệp hội mía đờng LamSơn, đợc các doanh nghiệp: Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, Nông trờngSao Vàng, Nông trờng Sông Âm, Nông trờng Lam Sơn đồng tình sáng lập Đợc
Bộ trởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm và Chủ tịch UBND tỉnhThanh Hoá trình lên Chính phủ và đã đợc Chính phủ ra quyết định 369/TTgngày 26/10/1995 thành lập thí điểm Hiệp hội mía đờng Lam Sơn - Thanh Hoá,
đợc ban tổ chức cán bộ Chính phủ phê duyệt điều lệ tổ chức và hoạt động củaHiệp hội Với kết quả đạt đợc qua mấy năm hoạt động Hiệp hội mía đờng LamSơn đang là một tổ chức quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hộitrong vùng Đây là một mô hình hợp tác kinh tế mới theo hớng công nghiệp hoá
- hiện đại hoá, tiền thân của tập đoàn công -nông nghiệp, dịch vụ, thơng mạigiai đoạn sau năm 2000
2.2 Những thành tựu và hạn chế
Lần đầu tiên trong lịch sử, một cụm công nghiệp chế biến đờng và sản phẩmsau đờng quy mô lớn, máy móc phơng tiện hiện đại ra đời, tồn tại và phát triểntại khu vực trung du - miền núi Thanh Hoá Điều đó đã tác động làm cả mộtvùng nông thôn sôi động chuyển mình trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - văn hoá
- xã hội
2.2.1 Kinh tế
Trong 5 năm tiến hành sản xuất kinh doanh các mặt diện tích, năng suất,chất lợng mía dần tăng lên với tốc độ cao Nếu so năm 1995 với năm 1991 thìdiện tích tăng lên 5 lần, sản lợng tăng 6 lần Vụ ép năm 1992 - 1993, Nhà máythu mua đợc 140.000 tấn mía, sản xuất đợc 13.023 tấn đờng, đạt 70% công suấtthiết kế Sang vụ ép năm 1993 - 1994 đạt 170.000 tấn mía, sản xuất đợc 15.782
Trang 25tấn đờng, đạt trên 80% công xuất thiết kế Đỉnh cao là vụ ép 1994 - 1995 Nhàmáy đạt lến công suất thiết kế 1.500 tấn mía/ngày
Do có đầu t công nghệ nên chất lợng đờng đợc nâng cao, từ đờng thô đã làm
đờng trắng RS Sản phẩm đờng trắng và đờng vàng tinh khiết của Nhà máy đạt
4 Huy chơng vàng tại Hội chợ Công nghiệp Quốc tế tại Giảng Võ trong hai năm
1994 và 1995
Kết quả sản xuất kinh doanh chủ yếu của Nhà máy (1991 1995)–
91/92 92/93 93/94 94/95 95/96 95/94 91-95/94 1.Diện tích mía(ha)
20.050 1.225 862 2,86 177
3.060 43,5
133.000
11.346 19.735
25.914 4.668 1.019 1,20 385
3.118 50,1
156.000
13.023 25.346
60.199 9.012 1.973 1,20 535
3.600 33,6
193.000
13.564 28.206
95.301 14.090 8.572 1,50 650
5.600 60,0
330.000
18.000 40.340
120.000
15.000 10.000 1,70 710
160 106
171
133 143
126 106 171 170 109
2,64 1,39 1,35 4,37 4,80
10,62 22,31 16,65 5,70 5,52
Trang 26Đi đôi với việc tăng sản lợng và chất lợng sản phẩm, Nhà máy đã vợt mứcchỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nớc, góp phần ổn định nguồn thu, chi ngân sách địaphơng
Đồng thời thực hiện tốt các chính sách kinh tế xã hội và đầu t vào phát triểnsản xuất, lợi nhuận của công ty đợc ngày càng tăng
- Năm 1993 lợi nhuận của Nhà máy là 1.973.000.000 đồng
- Năm 1994 lợi nhuận của nhà máy là 8.572.000.000 đồng
- Năm 1995 lợi nhuận của nhà máy là 10.000.000.000 đồng
Ngoài những kết quả trên, trong 5 năm qua Nhà máy đã có thêm những điềuchỉnh mở rộng sản xuất kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm, tăng nguồn thu choNhà máy, đồng thời, tạo thêm công ăn việc làm cho công nhân, hàng loạt các xínghiệp thành viên đợc xây dựng:
- Xí nghiệp sản xuất cồn từ mật rỉ đạt 1,5 triệu lít/năm và 200 tấn CO2, mộtxởng rợu màu 200 đến 300 ngàn lít/năm
- Xí nghiệp bánh kẹo Đình Hơng đợc đầu t 25 tỉ đồng để xây dựng với thiết
bị và công nghệ tiên tiến của Đan Mạch và Đài Loan với công suất 5 600tấn/năm, giải quyết việc làm cho hơn 200 lao động của Thành phố Thanh Hoá.Sản phẩm làm ra đạt chất lợng cao, không thua kém hàng ngoại nhập, đợc tiêuthụ rộng rãi trong cả nớc
- Xí nghiệp phân vi sinh tổng hợp đợc sản xuất từ bùn mía có công suất từ10.000 đến 20.000 tấn/năm đáp ứng nhu cầu phân bón cho nông dân thâm canhmía và cải tạo đất
Song song với những kết quả sản xuất kinh doanh, Nhà máy đờng thu thêm
đợc nhiều kết quả trên các mặt:
Trang 27Vùng nguyên liệu ngày càng đợc mở rộng Trong 5 năm (1991 - 1995) đãkhai hoang phục hoá đợc 3.040 ha đa vào trồng mía, cải tạo đất và xây dựng
đồng ruộng 4.750 ha, cải tạo và nâng cấp 186 km đờng, 226 cầu cống lớn nhỏtrong vùng nguyên liệu phục vụ cho vận chuyển mía, xây dựng đợc 1 trạm máykéo khai hoang với 30 đầu máy kéo hạng lớn và hạng trung, làm đất hỗ trợ nhândân Nhà máy đã xây dựng đợc một trung tâm nghiên cứu khảo nghiệm, bìnhtuyển giống mía, cung cấp giống tốt và kiến thức kỹ thuật thâm canh mía chonông dân [5,5]
Với những nổ lực to lớn của ban lãnh đạo Nhà máy, vùng nguyên liệu mía
đã mở rộng khắp vùng So với 5 năm trớc, khi Nhà máy chỉ xây dựng đợc 600
ha, không đáp ứng đợc hoạt động công xuất của máy móc, làm cho Nhà máy
đứng trớc tình trạng thiếu nguyên liệu Nhng đến năm 1995 vùng nguyên liệumía đã mở rộng ra đến 7 huyện và 34 xã thuộc trung du miền núi Thanh Hoá[5,5] Với nguyên liệu dồi dào không những đáp ứng đợc hết công suất thiết kếcủa Nhà máy là 15.000 tấn mía/ ngày mà còn vợt lên và hứa hẹn trong vài nămtới thì vùng nguyên liệu sẽ đợc mở rộng hơn nữa cung ứng cho một nhà máymới 4.500 tấn mía/năm đợc xây dựng ở vùng này
Về thăm vùng mía Lam Sơn, sau hơn 10 năm xây dựng và hoạt động sảnxuất kinh doanh, đoàn Đại biểu cấp Nhà nớc đã không giấu đợc niềm vui khinhìn vùng đồi đã đợc phủ xanh và sự đổi thay nhanh chóng của nhân dân trênvùng mà trớc đây đợc coi là rừng thiêng, nớc độc, cọp beo, hoang thú cùng sốngchung với ngời và nó đã đi vào câu ca:
"Nớc suối cha uống dài da bụng Cọp bến gỗ đi đụng đầu ngời"
Nay hoàn toàn đổi thay, đồng chí Phan Văn Khải nguyên là phó Thủ tớngChính phủ cùng đoàn đại biểu gặp mặt, nói chuyện với Ban lãnh đạo và cán bộcông nhân viên của Nhà máy đã khen ngợi: “Nhà máy Đờng Lam Sơn có tốc độphát triển nhanh Đồng thời, Nhà máy gắn với các nông trờng và nhân dân xâydựng vùng mía phát triển và rất quan tâm đến ngời trồng mía Nhà máy trở
Trang 28thành mô hình mới trong đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nớc"[17,5]
Để Nhà máy ngày càng phát triển đáp ứng mạnh hơn nữa, đáp lại sự tin tởngcủa Nhà nớc, Nhà máy đã tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp, đổimới công nghiệp nâng cao chất lợng, thờng xuyên chăm lo đào tạo, bồi dỡngnâng cao trình độ kiến thức mọi mặt cho cán bộ công nhân viên đáp ứng yêucầu sản xuất kinh doanh và trong những năm qua kết quả của những mặt này
đáng ghi nhận
Về đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp: Nhà máy đã ban hành quy chế tựquản của xí nghiệp đa ra Đại hội công nhân viên Xí nghiệp hàng năm thảoluận, bổ sung và tự giác thực hiện
Nhà máy đang xây dựng lại hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật đi lên với
đổi mới công nghệ, thực hiện triệt để cơ chế khoán sản phẩm đi liền với cải tạotiền lơng, tiền thởng trên nguyên tắc gắn trách nhiệm với lợi ích để mọi ngời tựgiác lao động với Nhà máy
Ngoài ra, Nhà máy không ngừng đợc đổi mới cơ chế quản lý đoàn vận tải,
100 xe vận tải đợc công nhân góp vốn kinh doanh, vừa phục vụ cho việc vận tảimía, hết vụ mía lái xe đợc phép đa về nhà riêng bảo quản và khai thác đem lạihiệu quả rõ nét Doanh nghiệp có thêm vốn, công nhân gắn bó với xe, giảm đợcchi phí, tăng thu nhập
Việc áp dụng tin học vào quản lý tài chính, kế toán, kế hoạch, điều hành
đến chặt và thu mía nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, đã đợc xử lý chính xác vàcung cấp kịp thời các thông tin kinh tế, mang lại hiệu quả cao trong việc quản
lý, điều hành
Đối với mặt đổi mới công nghệ nâng cao chất lợng Nhà máy đã làm rất tốt.Năm 1988, Nhà máy đã đầu t xây dựng trung tâm nghiên cứu mía và trong 5năm tiến hành (1990 - 1995) thì Nhà máy đã su tập đợc một tập đoàn giống míacủa Thế giới và trong nớc (với gần 500 loại) Tổ chức và khảo nghiệm, xác địnhnhững giống có u thế, nhân nhanh đa vào sản xuất đại trà Tổ chức 6 trạm
Trang 29chuyển giao công nghệ trồng mía cho các huyện trong vùng, nhờ vậy năng suất
và chất lợng mía ngày một tăng lên
Năm 1992, đầu t thiết bị và công nghệ mới cải tạo, nâng cấp chất lợng đờng
từ đờng thô thành 2 loại sản phẩm: Đờng trắng RS đạt tiêu chuẩn Việt Nam và
đờng vàng tinh khiết đợc ngời tiêu dùng a chuộng, tránh đợc tình trạng để đờngchảy nớc trong kho nh trong những năm trớc
Nhà máy còn phát động một phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỷ thuật
và áp dụng công nghệ mới trong sản xuất Do đó, từ 1990 - 1994 đã có 10 cán
bộ công nhân viên đợc tặng bằng lao động sáng tạo, Hội đồng Khoa học vàcông nghệ của Nhà máy hàng năm đã có chơng trình hoạt động Nhà máy đãtrích từ 200 đến 400 triệu đồng tiền thởng sáng kiến cải tiến và tiết kiệm chocán bộ công nhân viên
Trong những năm qua, Nhà máy vừa đẩy mạnh phát triển sản xuất kinhdoanh, vừa có ý thức trách nhiệm cao đối với môi trờng, phát triển mở rộng sảnxuất nhng không làm tổn hại đến môi trờng sinh thái, không gây ô nhiễm Cácvấn đề về bụi lò, hơi, bùn, bãi thải từ sản xuất mía, nớc thải công nghiệp đều đ-
ợc xử lý tốt Ngoài ra, trong những năm qua, Nhà máy đang thí điểm đầu t hỗtrợ cho 4 xã xây dựng 28 bếp biogas, vừa giải quyết ô nhiễm môi trờng nôngthôn, vừa giải quyết chất đốt, đầu t cho nông dân trồng cây ăn quả, cây lấy gỗphủ xanh các chỏm đồi, tạo môi trờng sinh thái bền vững cho vùng mía
Là một Nhà máy khá hiện đại, công suất cao thế nhng đội ngũ cán bộ lại cótrình độ thấp, không đáp ứng đợc yêu cầu sản xuất công nghệ cao Do vậy Nhàmáy luôn chăm lo đào tạo và phát triển con ngời về mọi mặt Nhờ thờng xuyênthực hiện "chiến lợc con ngời" nên đến năm 1995 Nhà máy đã có 134 kỹ s vàcán bộ có trình độ Đại học (tăng gấp 3 lần so với năm 1991), chiếm 12,5% cán
bộ công nhân viên (nếu tính cả lực lợng trung học chuyên nghiệp hiện có 340ngời chiếm 44%) Bên cạnh đó, Nhà máy gửi đi đào tạo dài hạn bồi dỡng ngắnhạn ở các trờng Đại học, Cao đẳng 479 lợt ngời với chi phí 1,3 tỷ đồng, bồi d-ỡng nâng cao tay nghề tại doanh nghiệp cho hơn 1200 lợt ngời [5,6]
Trang 30Mặt khác, Nhà máy khuyến khích con em những ngời làm mía giỏi đợc giữ
đi đào tạo để xây dựng vùng Lam Sơn Khoá đào tạo kỹ s thực hành 1992
-1995 đã hoàn thành, 36 kỹ s tốt nghiệp đang phục vụ tại nhà máy Hàng năm,Nhà máy giành một khoản học bổng cho học sinh, Nhà máy đang tác động đếntâm t tình cảm của lãnh đạo các địa phơng và bà con nông dân trong vùng, do
đó đã tạo đợc tình cảm gắn bó máu thịt và lòng tin tởng tuyệt đối giữa nôngdân, lãnh đạo các địa phơng trong vùng đối với Nhà máy
Những kết quả kinh tế trong 5 năm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh(1990 - 1994) là hết sức to lớn Sản phẩm làm ra của Nhà máy đã chiếm lĩnh thịtrờng trong nớc và Thế giới Sự phát triển đó đã dẫn đến đời sống vật chất, tinhthần của cán bộ công nhân viên từng bớc đợc cải thiện, thu nhập mỗi năm mộttăng lên Năm 1993 là 535.000 đồng/ngời/tháng, sang năm 1994 tăng lên650.000 đồng/tháng và tiếp tục tăng lên 710.000 đồng/ngời/tháng vào năm
1995 Hàng năm những ngời lao động giỏi đợc Nhà máy tổ chức đi nghỉ mát ởSầm Sơn, đi thăm quan các danh lam thắng cảnh trong tỉnh và trong nớc Côngnhân đợc hởng các chính sách trợ cấp của Nhà máy khi gặp khó khăn, bảo hộlao đông, bảo hiểm y tế
Đối với nhân dân vùng Lam Sơn thì thu nhập ngày một tăng Qua điều tra(12/1995) cho thấy 80% số hộ có thu nhập bình quân đạt từ 24 - 26 triệu
đồng/năm, lãi bình quân từ 7,5 đến 8,5 triệu đồng/ha mía (so với cây trồng trên
đất đồi gấp 4 - 5 lần) Tỷ suất lợi nhuận đạt 146 - 160% Công nhân trồng míaNông trờng Sao Vàng đạt 500.000 đồng/ngời/tháng Trên 80% hộ trồng mía làmnhà kiên cố, mua đợc tivi, radio, trên 2000 hộ có xe máy, 150 hộ có xe ô tô vậntải…[5,5] Nhìn chung, mức sống của nông dân về ăn, mặc, ở, hởng thụ văn hoá
đợc nâng lên rỏ rệt Không những cơ cấu kinh tế nông nghiệp từ độc canh thuầntuý nay sang sản xuất hàng hoá gắn với công nghệ chế biến gắn bó với nôngnghiệp dịch vụ, bộ mặt nông thôn đã thay đổi, cơ cấu hạ tầng nh: Giao thông,
điện, tụ điểm kinh tế, chợ nông thôn đang trong xu thế phát triển biến vùng đấtLam Sơn đứng dậy trở thành trung tâm kinh tế văn hoá ở miền Tây Thanh Hoá
Trang 31Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt của Đảng uỷ, Ban lãnh đạo cùngtoàn thể cán bộ công nhân đã phấn đấu đạt đợc trong những năm qua thì còn cónhững mặt tồn tại, thiếu sót đó là:
Mặc dù tiềm năng đất đai của vùng đợc đa vào sử dụng nhng vẫn cha khaithác hết, kinh tế có sự chuyển biến nhng mức sống của nông dân trong vùng vẫncòn thấp, năng lực trình độ của cán bộ đảng viên, công nhân cha ngang tầm vớinhiệm vụ, mục tiêu đặt ra trong giai đoạn đổi mới của Nhà máy cũng nh của xãhội
Mặt khác, Nhà máy còn lúng túng về điều tra, nghiên cứu ứng dụng nguồnphụ gia mới vào sản xuất, hoặc khi lãnh đạo chủ trơng mở rộng đầu vào và đầu
ra nhằm đảm bảo thực hiện mục tiêu kế hoạch thì có lúc lại lơi lỏng công tácquản lý, kiểm tra, kiểm soát Một số cán bộ thu mua, đảng viên, lái xe lợidụng chức trách gây nhiễu nông dân trồng mía gây mất niềm tin vào Nhà máy
2.2.2.Công tác An ninh - Quốc phòng
Trớc những khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nớc trong quá trình thựchiện đờng lối đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, cùng với những chuyển biến phứctạp về chính trị, kinh tế trên Thế giới, đã tác động trực tiếp đến t tởng cán bộcông nhân và sản xuất kinh doanh của Nhà máy Lãnh đạo Nhà máy Đờng LamSơn thờng xuyên quán triệt nhiệm vụ bảo vệ sản xuất, giữ gìn trật tự an ninh,ngăn chặn có hiệu quả các hiện tợng tiêu cực, giữ gìn bảo vệ vật t, sản phẩm,
đảm bảo ổn định sản xuất
Lãnh đạo Nhà máy đã tuỳ tình hình mà có những chủ trơng bổ sung các quychế về công tác bảo vệ, chống gian lận, móc nối; đồng thời, có những phát giác,ngăn chặn có hiệu quả những hành vi tiêu cực ngoài xã hội cũng nh trong nội
bộ Nhà máy Tiểu đoàn tự vệ của Nhà máy luôn luôn đợc kiện toàn, tổ chức tốtcả số lợng và chất lợng làm nòng cốt trong công tác bảo vệ sản xuất ở đơn vị.Lực lợng tự vệ hàng năm đều có kế hoạch tổ chức, huấn luyện đạt kết quả tốt.Qua huấn luyện, thao diễn, tự vệ nhà máy luôn đạt các giải cao của Thọ Xuân
và tỉnh Thanh Hoá
Trang 32Nhìn chung, công tác an ninh quốc phòng, bảo vệ sản xuất, bảo vệ tài sảncủa Nhà máy trong thời gian từ năm 1990 - 1995 đã có những bớc tiến mới, trởthành phong trào sâu rộng trong quần chúng Do đó, Nhà máy trở thành mộttrong những đơn vị có an ninh quốc phòng vững mạnh đợc Bộ nội vụ tặng cờ
đơn vị "An ninh quốc phòng" trong 5 năm 1990 - 1995
Tuy nhiên, tình hình trật tự an toàn xã hội ở Nhà máy vẫn còn có nhữngdiễn biến phức tạp, kết quả cha thực sự vững chắc, ý thức đấu tranh của quầnchúng cha thật mạnh mẽ và kiên quyết Một số cán bộ bảo vệ cha thực sự tựgiác, nghiêm túc trong thực thi nhiệm vụ của mình Các tệ nạn xã hội: Rợu chè,
cờ bạc, nghiện hút, mãi dâm…mặc dù đã đợc khống chế nhng vẫn không giảm
mà có chiều hớng gia tăng ảnh hởng xấu đến hoạt động sản xuất của Nhà máy
2.2.3 Công tác văn hoá - xã hội và hoạt động của các đoàn thể.
2.2.3.1 Công tác văn hoá - xã hội.
Nhà máy xác định lợi ích của Nhà máy luôn gắn bó với lợi ích của cộng
đồng, với các địa phơng trong vùng và trong tỉnh Do vậy, đồng thời với việcchăm lo phát triển doanh nghiệp, Nhà máy luôn thể hiện trách nhiệm với xã hội,với cộng đồng, điều đó đợc thể hiện rõ nét qua công tác văn hoá - xã hội
Hàng năm, Nhà máy giành từ 10 - 12 ngày công tơng đơng với 100 - 120triệu đồng xây dựng quỹ tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm và thăm hỏi động viên cácgia đình thơng binh, liệt sĩ, những ngời có công với nớc trong vùng, trại thơngbinh nặng Thọ Châu và Trung tâm bảo trợ ngời tàn tật cô đơn…góp tiền xây nhà
và tặng quà cho bộ đội đảo Nẹ và đồn biên phòng; giúp các xã trong vùng míaxây dựng nhà tởng niệm, đài liệt sĩ, ủng hộ trên 300 triệu đồng cho vùng thiêntai bảo lụt qua các năm và ủng hộ nhân dân Cu Ba anh em Đặc biệt, Nhà máy
đã nhận chăm sóc, phụng dỡng suốt đời 84 mẹ Việt Nam Anh hùng, tặng sổ tiếtkiệm tình nghĩa cho 201 gia đình chính sách
Trong 3 năm 1993, 1994, 1995 hỗ trợ kinh phí trên 1 tỷ đồng xây dựng ờng học hai tầng cho học sinh ở các xã: Thọ Xơng, thị trấn Lam Sơn, QuảngPhú, Thọ Sơn, Thọ Bình, Xuân Lam, Xuân Thiên, Xuân Lai, giúp các xã XuânPhú, Kiên Thọ xây dựng hệ thống điện cho đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 33tr-Nhà máy Đờng Lam Sơn đã và đang là trung tâm văn hoá, thể dục thể thaocủa vùng Lam Sơn Hội diễn văn nghệ, thể dục thể thao hàng năm thu hút đông
đảo thanh niên, bà con dân tộc trong vùng tham gia sôi nổi, tạo khí thế phấnkhởi trong lao động sản xuất, xây dựng nếp sống văn hoá mới lành mạnh trongvùng
2.2.3.2 Hoạt động của các đoàn thể.
Cùng với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, lãnh đạo Nhà máy Đờng Lam Sơn
đã tổ chức các đợt học tập chính trị, t tởng, quán triệt sâu rộng các Nghị quyếtcủa Đảng, các chủ trơng chính sách của Nhà nớc cho các đảng viên, cán bộcông nhân viên nh các Nghị quyết Đại hội VII của Đảng; Nghị quyết Trung -
ơng 3, Nghị quyết Trung ơng 4 và 5 (khoá VII) và các chính sách đổi mới kinh
tế - xã hội và xây dựng chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới Từ đó nâng caonhận thức của đảng viên, cán bộ công nhân toàn Nhà máy về bản lĩnh chính trị
và kiên trì thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu đổi mới của Đảng bộ
Sau mỗi đợt học tập Nghị quyết, Đảng bộ đã xây dựng các chơng trình hoạt
động cụ thể, nêu rõ mục đích hoạt động cụ thể, nêu rõ mục tiêu nhiệm vụ trongtâm cho mỗi đảng viên, cán bộ công nhân thực hiện Đổi mới nội dung và hìnhthức t tởng nh: Tổ chức các chuyên đề phát triển kỹ thuật qua buổi nói chuyệnthời sự hàng quý, hay sử dụng đài phát thanh truyền hình để tuyên truyền sâurộng, tổ chức những buổi học tập có hiệu quả Chính những đợt học tập đã kịpthời động viên, củng cố lòng tin có cán bộ, đảng viên, công nhân viên đối vớilãnh đạo của Đảng
Điểm nổi bật trong công tác t tởng của Đảng bộ và Ban Giám đốc Nhà máy
là tập chung giáo dục, nâng cao kiến thức quản lý kinh tế thị trờng cho cán bộcông nhân viên giúp họ có nhận thức, cách nhìn, cách tiếp cận nhạy bén với cơchế thị trờng nhằm đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và nâng cao đời sống củacông nhân
Đi đôi với việc giáo dục chính trị ở Nhà máy là công tác xây dựng Đảng Cóthể nói, trong giai đoạn mới công tác xây dựng Đảng đợc đẩy mạnh Từ chi bộ
đầu tiên gồm 14 ngời đến năm 1994 đã lên đến 18 chi bộ trực thuộc, số lợng
Trang 34Đảng viên tăng lên 175 đảng viên; trong đó, đảng viên nam chiếm 80%, đảngviên nữ là 20%, tuổi đời trung bình là 37 tuổi Trong 3 năm liên tục từ năm
1992 - 1993 - 1994 luôn là Đảng bộ trong sạch vững mạnh, với 95,6% đạt loại
1, không có đảng viên yếu kém, 83,3% chi bộ vững mạnh và đợc tặng cờ luniệm
Bên cạnh đó, Đảng bộ Nhà máy rất quan tâm chăm lo xây dựng lực lợng kếcận Từ 1991 - 1995 đã kết nạp đợc 29 đảng viên trẻ (trong đó có 15 đồng chí là
kỹ s, 4 đồng chí là Trung cấp, 10 công nhân), đề bạt 2 Phó Giám đốc, 8 quản
đốc, 8 trởng phó phòng Hầu hết đảng viên đã đợc học chính trị sơ cấp Mở lớpchính trị trung cấp cho 31 đồng chí là Đảng uỷ viên, bí th chi bộ, cán bộ chủchốt Nhà máy, 3 đồng chí đang tu nghiệp tại các Học viện Chính trị quốc giaThành phố Hồ Chí Minh [5,7]
Thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Nghị quyết của ban chấp hành Đảng
bộ Nhà máy, công tác kiểm tra của Đảng đã bám sát nhiệm vụ chính trị, phốihợp với các thanh tra chính quyền, thanh tra công nhân, kiểm tra việc chấp hànhnội quy, quy chế của Nhà máy và chính sách pháp luật của Nhà nớc; giải quyếtdứt điểm các hành vi tiêu cực có liên quan tới đảng viên theo đúng nguyên tắc.Chính vì vậy, đã góp phần tạo điều kiện cho việc xem xét bố trí cán bộ, tạoniềm tin cho cán bộ công nhân viên, hạn chế đợc tiêu cực trong đội ngũ đảngviên Nhà máy
Hoạt động đoàn thể ở Nhà máy cũng đợc coi trọng và từng bớc đổi mới cả
về nội dung và phơng thức, phù hợp với điều kiện sản xuất - kinh doanh trongcơ chế thị trờng Công đoàn và Đoàn thanh niên Nhà máy đã tổ chức nhiều đợthọc tập, phổ biến các chủ trơng chính sách của Đảng, Nhà nớc Đồng thời coitrọng việc giáo dục truyền thống cho đoàn viên, bồi dỡng học tập huấn luyệnnghiệp vụ công tác đoàn thể cùng các chuyên đề quản lý sản xuất, bảo vệ sảnxuất Hàng quý, Công đoàn, Đoàn thanh niên đã phối hợp cùng chính quyềnphát huy các đợt thi đua sản xuất kinh doanh, đồng thời có sơ kết, tổng kết khenthởng động viên kịp thời Điều đó có tác dụng thiết thực và mang lại hiệu quảtrong sản xuất kin, tạo việc làm ổn định, từng bớc nâng cao cải thiện đời sống