Sự phứctạp đó đã cuốn hút nhiều nhà nghiên cứu đi vào tìm hiểu thơ ông.Vì vậy,chúng tôi mạnh dạn bớc vào khám phá thế giới thơ Chế Lan Viên trên ph ơngdiện các phơng tiện tu từ trong thơ
Trang 1lời nói đầu
Phơng tiện tu từ có vai trò hết sức quan trọng đối với tác phẩm nghệthuật nói chung và đặc biệt là với thơ nói riêng Đó là ph ơng tiện để nhà thơ
có thể đảm bảo phẩm chất quan trọng của thơ: cô đọng, hàm súc, lời ít, ýnhiều Nếu muốn cảm nhận, chiếm lĩnh giá trị đích thực của tác phẩm vănhọc không thể không nắm vững và đánh giá đợc chức năng vai trò của cácphơng tiện tu từ, những yếu tố tạo nên giá trị thẩm mỹ Phân loại, phân tích,
đánh giá đợc các phơng tiện tu từ là nắm chắc chìa khoá để mở cánh cửa đivào cảm thụ giá trị t tởng ngôn ngữ của tác phẩm văn chơng
Gần nửa thế kỷ, thơ Chế Lan Viên đợc đa vào giảng dạy trong nhà ờng; nhng cho đến nay, việc giảng dạy học tập thơ Chế Lan Viên gặp không
tr-ít khó khăn bởi Chế Lan Viên có một phong cách thơ khá phức tạp Sự phứctạp đó đã cuốn hút nhiều nhà nghiên cứu đi vào tìm hiểu thơ ông.Vì vậy,chúng tôi mạnh dạn bớc vào khám phá thế giới thơ Chế Lan Viên trên ph ơngdiện các phơng tiện tu từ trong thơ ông (một yếu tố quan trọng góp phần tạonên phong cách thơ Chế Lan Viên); chủ yếu là khảo sát, phân tích, nghiêncứu, đánh giá ba nhóm:so sánh tu từ, ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ
Luận văn này mong đóng góp một phần nhỏ bé vào việc nghiên cứuthơ Chế Lan Viên để thấy đợc sự cống hiến của nhà thơ cho nền thơ caViệtNam
Nhân dịp này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Văn Minh ngời trực tiếp hớng dẫn khoa học Xin cám ơn PGS TS Đỗ Thị Kim Liên,PGS TS Nguyễn Nhã Bản, PGS.TS Phan Mậu Cảnh, TS Hoàng Trọng Canh, những ngời đã trực tiếp giảng dạy, góp ý, chỉ bảo, trong quá trình học tậpcũng nh cho luận văn này; cám ơn sự động viên, cổ vũ của tất cả các bạn
-đồng môn và ngời thân để luận văn hoàn thành
Lần đầu làm quen và tiếp cận với nghiên cứu, hẳn nhiên sẽ khôngtránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận đ ợc sự góp ýcủa các quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Mở đầu
Trang 23 Lịch sử liên quan đến đề tài 6
4 Phơng pháp nghiên cứu 9
5 Sự đóng góp - cái mới của đề tài 10
Chơng 1 Nhỡng giới thuyết liên quan đến đề tài 11
1.1 Chế Lan Viên - đời và thơ 11
1.1.1 Những nét chung về cuộc đời 11
1.1.2 Những nét chính về sự nghiệp thơ văn 13
1.1.3 Thơ Chế Lan Viên trong thơ ca hiện đại 16
1.2 Dẫn nhập về phong cách học 19
1.3 Phơng tiện tu từ ngữ nghĩa 19
1.3.1 Nhóm so sánh tu từ 20
1.3.2 Nhóm ẩn dụ tu từ 22
1.3.3 Nhóm hoán dụ tu từ 26
Chơng 2 Phơng tiện tu từ ngữ nghĩa trong thơ Chế Lan Viên 28
2.1 So sánh tu từ 28
2.1.1 Cấu trúc so sánh [A nh B] 28
2.1.1.1 Các kiểu cấu trúc so sánh [A nh B] 30
2.1.1.2 Hiệu quả nghệ thuật của cấu trúc so sánh [Anh B] 35
2.1.2 Cấu trúc so sánh [A(hoá) thành B] 39
2.1.2.1 Các kiểu cấu trúc so sánh [A (hoá) thành B] 40
2.1.2.2 Hiệu quả nghệ thuật của cấu trúc so sánh [A (hoá) thành B] 43
2.1.3 Cấu trúc so sánh [A là B] 46
2.1.3.1 Các kiểu cấu trúc so sánh [A là B] 46
2.1.3.2 Hiệu quả nghệ thuật của cấu trúc so sánh [ A là B] 50
2.1.4 Cấu trúc so sánh [A/B] 53
2.1.5 Sự phối hợp các kiểu cấu trúc so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên 55 2.1.6 Hình ảnh so sánh trong thơ Chế Lan Viên 57
2.2 ẩn dụ tu từ 62
2.2.1 ẩn dụ 62
2.2.2 Nhân hoá 66
2.2.3 ẩn dụ tợng trng 72
2.3 Hoán dụ tu từ 80
2.3.1 Cải số 80
2.3.2 Cải dung 82
2.3.3 Hoán dụ 84
Kết luận 90
Danh mục tài liệu tham khảo 93
Trang 3mở đầu
1 Lý do chọn đề tàI
Phơng tiện tu từ là một trong những khái niệm cơ bản của phong cáchhọc Phơng tiện tu từ có vai trò hết sức quan trọng đối với tác phẩm nghệthuật ngôn từ nói chung và đặc biệt với thơ nói riêng Đó là phơng tiện đểnhà thơ có thể đảm bảo phẩm chất quan trọng của thơ: cô đọng, hàm súc, lời
ít, ý nhiều Nếu muốn cảm nhận, chiếm lĩnh giá trị đích thực của tác phẩmvăn học không thể không nắm vững và đánh giá đựơc chức năng, vai trò củacác phơng tiện tu từ, những yếu tố quan trọng tạo nên giá trị thẩm mỹ Phânloại, phân tích đánh giá đợc các phơng tiện tu từ là nắm chắc chìa khoá để
mở cánh cửa đi vào cảm thụ gía trị t tởng nghệ thuật của tác phẩm văn chơng
Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam,một nhà thơ tài hoa và giàu trí tụê Thơ của ông là một minh chứng cho sứcnghĩ, sức cảm của một tâm hồn thơ không ngừng toả sáng trong suốt cuộc đời
từ những vần thơ tài năng tuổi mời sáu cho đến những trang Di cảo cuối đời Trong thơ của mình, Chế Lan Viên sử dụng rất nhiều ph ơng tiện tu từ
Có thể nói thơ Chế Lan Viên có mật độ tu từ đậm đặc Đây cũng là dấu hiệunổi bật của ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên Qua bàn tay nhà thơ tài năng, ngônngữ nh đợc tu sức, ''sáng bóng'' lên Thế nhng cho đến nay các công trìnhnghiên cứu về thơ Chế Lan Viên chủ yếu mới nghiêng về mặt tìm hiểu, khảosát, đánh góc thơ ông ở góc độ nội dung, t tởng, tình cảm, tứ thơ, hình t-ợng, Mặt ngôn từ trong thơ ông còn ít ng ời đề cập đến Các phơng tiện, vàcách thể hiện các phơng tiện tu từ trong thơ Chế Lan Viên đợc quan tâm chanhiều, mới ở mức độ khái quát, cha đi sâu vào tìm hiểu cụ thể, chi tiết.Chúng tôi mạnh dạn nối tiếp những ngời đi trớc nhằm tìm ra những giá trị
Trang 4thẩm mỹ, những đặc điểm của các phơng tiện tu từ: so sánh, ẩn dụ, hoán dụ
trong thế giới thơ của Chế Lan Viên.
Trong chơng trình Văn - Tiếng Việt ở Trung học phổ thông, ChếLan Viên là một tác giả lớn, có nhiều tác phẩm đ ợc đa vào giảng dạy.Việc đi vào tìm hiểu đặc điểm, giá trị của các phơng tiện tu từ trong thơ
ông là một việc làm bổ ích, thiết thực không chỉ ở ph ơng diện lý thuyết
mà cả trong thực tế giảng dạy Văn và Tiếng Việt
2 Đối tợng khảo sát và nhiệm vụ của luận văn
Hoa ngày thờng, chim báo bão (9 bài)
Những bài thơ đánh giặc (1 bài)
Đối thoại mới (10 bài)
Hoa trớc lăng Ngời (13 bài)
Hái theo mùa (7 bài)
Hoa trên đá (4 bài)
Ta gửi cho mình (5 bài)
Di cảo I (27 bài)
Di cảo II (24 bài)
Di cảo III (26 bài)
( Nguyễn Bá Thành tuyển NXB giáo dục năm 1999 )
2.2 Nhiệm vụ của luận văn
1 Giới thuyết chung về Chế Lan Viên - thơ và đời và về các ph ơngtiện tu từ, vai trò của các phơng tiện tu từ trong tác phẩm thơ
2 Khảo sát và phân loại các phơng tiện tu từ so sánh, ẩn dụ, hoán dụtrong thơ Chế Lan Viên
3 Miêu tả các cách thức biểu hiện, sử dụng và giá trị thẩm mỹ của cácphơng tiện tu từ so sánh, ẩn dụ, hoán dụ trong thơ Chế Lan Viên
3 Lịch sử vấn đề liên quan đến đề tài
Đã từ lâu, trên văn đàn n ớc ta, Chế Lan Viên đợc coi là một trongnhững nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ Mới tr ớc Cách mạng Tháng Tám,
và cho đến nay ông vẫn đợc xem là một trong những cây đại thụ thơ toả bóngmát sum xuê trong khu rừng lớn của văn học Việt Nam thế kỷ XX Hơn nửa
Trang 5thế kỷ đã đi qua, nh một con ong cần mẫn và tận tuỵ hút nhuỵ cuộc đời đểlàm nên mật ngọt, Chế Lan Viên đã gom góp, chắt lọc và dâng hiến những gìtinh tuý nhất của cuộc đời ông, của tâm hồn ông cho bạn đọc, cho nhân dân,cho Tổ quốc mà ông xiết bao yêu mến Sau hơn năm m ơi năm sáng tác, nhàthơ đã để lại khoảng 30 tập thơ văn và những Di cảo thơ ch a công bố hết.Sinh thời Chế Lan Viên, đã có nhiều bài phê bình, tiểu luận, nghiên cứu vềthơ của ông Từ khi các tập Di cảo thơ đ ợc công bố tiếp, tục có nhiều bài viết
và phê bình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên xuất hiện Số l ợng bài viết vềthơ Chế Lan Viên nhìn chung khá lớn, gồm các loại bài: phê bình, nghiêncứu, chân dung văn học hoặc nửa chân dung văn học (kết hợp cả phê bình vànghiên cứu) Những bài viết bàn trực diện và có giá trị về thơ có khoảng trên
40 bài Nhìn chung có thể thấy những bài viết này tập trung vào ba h ớngchính:
Nghiên cứu thơ Chế Lan Viên trong thành tựu chung của thơ ca hiện
đại
Nghiên cứu thơ Chế Lan Viên trong mối quan hệ với tác phẩm, tácgiả
Nghiên cứu nhận xét nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên
Vấn đề nghiên cứu nghệ thuật thơ:
Ngay từ tập thơ đầu tiên (Điêu tàn), ra đời cách đây nửa thế kỷ, Chế Lan
Viên ''đã đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam nh một niềm kinh dị"
(Thi nhân Việt Nam - Hoài Thanh).
Đến những năm 60, với sự xuất hiện "ánh sáng và phù sa" và "Hoangày thờng, chim báo bão", đã có nhiều bài viết phê bình Trong số đó một sốbài viết đáng lu ý là ''Dao có mài mới sắc" của Xuân Diệu, Hà Minh Đức với''Nhà văn và tác phẩm'', hay ''Đờng vào thơ - văn học'' của Lê Đình Kỵ Các bàinày đều khẳng định thành tựu của tác phẩm, đặc biệt nhấn mạnh sự chuyển biến
t tởng của Chế Lan Viên Xuân Diệu đã phát hiện khả năng xây dựng hình ảnhcủa "ánh sáng và phù sa", Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ l u ý độ chín tới của tàinăng nghệ thuật và khuynh hớng một phong cách thơ đã rõ nét
Những năm 70 là sự ra đời những tập thơ của Chế Lan Viên giàu tínhchiến đấu, đậm đà phong cách chính luận nh "Những bài thơ đánh giặc", "Đốithoại mới", "Hoa trớc lăng Ngời" và "Hái theo mùa" Các bài viết phê bình đãbàn thêm những nét nghệ thuật nội bật nh xu thế khái quát trong t duy, khuynhhớng mở rộng câu thơ, sáng tạo ''hình ảnh màu sắc chói lọi" (nh Nguyễn XuânNam đã nhận xét trong bài viết ''Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên'')
Đặc biệt, một số tác giả khác đã chú ý nêu thêm nét phong cách nghệ thuật,nhất là chất trí tụê "Một phong cách thơ đa dạng giàu trí tuệ'' (Chế Lan Viên -
Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ)
ở những năm 80, nhà thơ chuyển sang một thời kỳ sáng tác mới, vớikhuynh hớng t duy và cảm hứng chủ đạo khác trớc, cùng với sự tìm tòi chuyển
Trang 6đổi thể tài và những phơng tiện biểu hiện nghệ thuật trong đó vừa có sự tiếp nối
và vừa có sự đổi mới (nh "Hoa trên đá", "Ta gửi cho mình" và những tập "Dicảo" gần đây) Hầu hết những bài viết phê bình các tập thơ của ông đều khẳng
định sự chuyển biến của sáng tác thơ Chế Lan Viên đặc biệt về thể tài Một sốbài viết nhận xét về thể loại nhất là thơ tứ tuyệt trong đó đáng l u ý có bài củaNguyễn Xuân Nam (tổng hợp đợc nhiều ý kiến của các tác giả Nguyễn AnhTuấn, Hà Minh Đức và Vĩnh Quang Lê) đã tổng kết và nhấn mạnh hai thể thànhcông nhất: tự do và tứ tuyệt Một số công trình của Vũ Anh Tuấn nh ''Thơ đánh
Mỹ của Chế Lan Viên'', Nguyễn Xuân Nam với ''Lời giới thiệu về Chế LanViên'' hay ''Chế Lan Viên '' của Nguyễn Văn Long, đã gặp nhau trên một số
điểm lớn về những vấn đề liên quan đến nghệ thuật thơ của Chế Lan Viên
- Về t duy thơ: nhiều ý kiến nhận xét đối lập nh một nét chính yếu ''hìnhthức cơ bản phổ biến trong t duy nghệ thuật là sự đối lập ''
- Về hình ảnh: các ý kiến đều nhất trí về tính đa dạng Vũ Tuấn Anh và
một số tác giả cho rằng trong thơ Chế Lan Viên còn có ''hình ảnh tợng trng" và
" hình ảnh liên kết xâu chuỗi"
- Về ngôn ngữ: ý kiến nhận xét riêng về ngôn ngữ thơ là rất ít, thờng lànhững nhận xét thoáng qua Tuy nhiên cũng có một số ý kiến đáng l u ý nh Hà
Minh Đức trong chuyên luận thơ nhận xét ''ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên sắc sảo
độc đáo trong cách vận dụng nhiều liên tởng đột xuất, sáng tạo ''; hay Vơng Trí
Nhàn khi nhận xét 40 năm phát triển ngôn ngữ văn học có nêu ý kiến về ngôn
ngữ thơ Chế Lan Viên ''Tiếng Việt văn học thêm một phẩm chất duy lý",
Để biểu đạt đợc t tởng, ý đồ nghệ thuật của mình, Chế Lan Viên đã sửdụng phơng tiện nghệ thuật nh một phơng tiện quan trọng Ông đặc biệt dụngcông trong việc sử dụng các phơng tiện tu từ so sánh, ẩn dụ, hoán dụ Có một sốbài viết đề cập đến vấn đề này:
- Chế Lan Viên và những tìm tòi trong nghệ thuật thơ
Trong ''Chế Lan Viên và những tìm tòi trong nghệ thuật thơ'', Nguyễn
Lộc đã đa ra nhận xét ''cách sử dụng hình ảnh có tính chất tợng trng, hình ảnh trong thơ Chế Lan Viên đợc sử dụng bao giờ cũng có sự cân nhắc, chọn lọc Mối liên hệ của những hình ảnh thờng rất đột ngột, bất ngờ'' Ông cho rằng
hình ảnh Chế Lan Viên sử dụng trong thơ có hai loại; một loại hình ảnh có tínhchất hiện thực và một loại có tính chất tợng trng Ngoài ra ông còn sử dụng mộtloại hình ảnh khác vừa có nghĩa tự thân vừa có ý nghĩa ẩn dụ, vừa có tính hiệnthực vừa có tính mở rộng và có khi mặt thứ hai là chủ yếu Trong bài viết nàyNguyễn Lộc đa ra nhận xét mang tính khái quát cách sử dụng hình ảnh so sánh
Trang 7và ẩn dụ chủ yếu từ hai tập "ánh sáng và phù sa" và "Hoa ngày thờng - chimbáo bão".
Đến năm 1994, Huỳnh Văn Hoa trong bài ''Chế Lan Viên với cái nhìnnghệ thuật trong thơ" cũng dựa vào những nhận xét trên để đi vào phân tích một
số hình ảnh trong các tập thơ khác nh "Điêu tàn" hay "Di cảo" để thấy đợc mặtmạnh của các loại hình ảnh này trong sự so sánh với hình ảnh trong thơ TốHữu
Hồ Thế Hà trong bài ''Hình thức nghệ thuật thơ Chế Lan viên'' (1998) đã
đề cập đến hai biện pháp nghệ thuật nổi bật trong thơ Chế Lan Viên: biện pháp
đối lập và biện pháp so sánh ở đây Hồ Thế Hà đã đi vào phân loại, phân tíchcác dạng so sánh trong thơ ông và đã đa ra những giá trị của các kiểu so sánhmột cách khái quát Nhng trong bài viết này ông cha đi vào phân loại cụ thể, chitiết từng loại cấu trúc của phơng tiện Những nhận xét đa ra chỉ mới dừng ở mức
độ chung cho tất cả các câu thơ, đoạn thơ có sử dụng biện pháp này mà ch a nêulên đợc hiệu quả nghệ thuật của từng kiểu cấu trúc, từng tiểu loại trong biệnpháp tu từ so sánh Tác giả cha đi vào phân tích cấu tạo của từng yếu tố trongcác cấu trúc ấy để thấy đợc điểm độc đáo của Chế Lan Viên khi sử dụng sángtạo phơng tiện nghệ thuật vốn không phải mới này
Nh vậy các tác giả đã chú ý các phơng tiện tu từ so sánh, ẩn dụ, hoán dụnhng chỉ mới dừng ở mức khái quát chung, cha đi vào phân tích chu đáo dới góc
độ ngôn ngữ học và đúng hơn là phong cách học tiếng Việt Có những nhận xétsắc sảo nhng quá ngắn gọn, dẫn chứng ít, cha đầy đủ luận cứ và cha phân tích,
rõ nhất là thiếu thống kê phân loại Luận văn này, trên cơ sở kế thừa, đi sâu vào
nghiên cứu thơ Chế Lan Viên ở lĩnh vực ít đ ợc quan tâm, đó là: Phơng tiện tu từ
so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, trong thơ Chế Lan Viên , nhằm giải mã phần nào thế
giới nghệ thuật thơ Chế LanViên dới góc độ ngôn ngữ học, phong cách học
4 2 Phơng pháp so sánh, miêu tả, đối chiếu
Trên cơ sở cứ liệu thu đợc, chúng tôi tiến hành so sánh, miêu tả, đốichiếu các kiểu loại phơng tiện tu từ đợc xuất hiện trong các thi phẩm khác
nhau để phần nào đó hình dung đợc cách t duy nghệ thuật của Chế Lan Viênkhác biệt ra sao so với các nhà thơ cùng thời khác
4 3 Phơng pháp phân tích, tổng hợp
Trang 8Cùng với sự phân tích nhằm bình phẩm các giá trị nghệ thuật, chúngtôi đi đến khái quát những nét cơ bản mang tính quy luật chung chủ yếu đ ợcdùng ở các tiểu kết và phần kết của luận văn
5 Sự đóng góp - cái mới của đề tài
Trên cơ sở tiếp thu thành tựu của những tác giả đi trớc đối với cách sửdụng các phơng tiện tu từ trong thơ ca nói chung và các ph ơng tiện tu từtrong thơ Chế Lan Viên nói riêng, cùng với việc vận dụng tri thức ngôn ngữhọc, phong cách học, luận văn sẽ khảo sát, phân loại, đ a ra số liệu thống kê
cụ thể, miêu tả, phân tích, đánh giá một số phơng tiện tu từ và giá trị thẩm
mỹ của chúng trong việc biểu đạt nội dung để nhằm hiểu thêm phần nào thếgiới thơ Chế Lan Viên
CHƯƠNG I
Những giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Chế Lan Viên - đời và thơ
1.1.1 Những nét chung về cuộc đời
Ngày 14 tháng 1 năm 1920, tại một gia đình viên chức nhỏ ở xã Cam
An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, cậu bé Chế Lan Viên ra đời với tên khaisinh Phan Ngọc Hoan Suốt thời trẻ, ông lại sống ở Quy Nhơn (Bình Định)
Trang 9nên nơi đây đợc coi là quê hơng thứ hai của Chế Lan Viên Cậu bé PhanNgọc Hoan học tiểu học ở An Nhơn rồi xuống Quy Nhơn học tiếp bậc ThànhChung Năm 1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học tiếp trung học, sau đó vàoSài Gòn làm báo và dạy học ở Thanh Hoá và Huế.
Vùng Quy Nhơn, Bình Định đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong tâmtrí của ngời thiếu niên giàu trí tởng tợng Chế Lan Viên Đây từng là nơi trungtâm của Vơng quốc Chiêm Thành xa, những dấu tích của quốc gia phongkiến, từng có thời huy hoàng, nay đã tàn vong, còn có thể bắt gặp ở mọi nơi,
mà biểu tợng tiêu biểu nhất là những tháp Chàm, những công trình kiến trúc
độc đáo và vững chắc
Hàng ngày, từ ngôi nhà ở trong thành Bình Định và trên con đờng raQuy Nhơn học, Chế Lan Viên nhìn thấy tháp Chàm, đi qua những bãi tha mahoang vắng Rồi những câu chuyện về ma Hời đầy bí ẩn vẫn l u truyền trongvùng Những điều đó đã gợi lên trong tâm hồn trẻ tuổi vốn giàu trí t ởng tợngmột sự đồng cảm sâu sắc với số phận của đất n ớc Chiêm Thành trong tâmtrạng buồn đau của thế hệ thanh niên sống trong cảnh mất nớc đơng thời Tập
Điêu Tàn (1937) đợc viết và xuất bản lúc Chế Lan Viên còn là học sinh trunghọc (17 tuổi) Vào những năm đen tối của đất nớc, từ 1940, trong tình trạng
bế tắc về t tởng nghệ thuật, Chế Lan Viên tìm đến các triết học duy tâm, siêu
hình và các tôn giáo mong tìm một lối thoát "nỗi buồn ghê gớm nhất, những
h vô sâu thẳm nhất để lại cho tôi chính do cái nền tôn giáo Mở đầu tôi yêu Chúa, rồi tôi yêu Phật Tôi tìm Chúa qua các giáo lý của đạo Cơ Đốc, đạo Tin Lành và tôi tìm Phật nơi bàn thờ Phật của cha tôi, ở kinh các chùa và ở ngoài chùa nữa" ( Chế Lan Viên - Nỗi đau riêng đợc niềm vui chung, báo Văn Nghệ
số 39 - 1976 ) Sau này khi nhìn lại những năm tháng ấy, nhà thơ xót xa:
Tôi ở đâu? đi đâu? tôi đã làm gì?
Đời thấp thoáng sau những trang sách Phật Đất nớc đau dới gót bầy ngựa Nhật
Lạc giữa sao trời, tôi vẫn còn mê.
(Ngời thay đổi đời tôi, ngời thay đổi thơ tôi)
Giữa lúc nhà thơ đang chìm sâu trong sự bế tắc ấy thì cách mạng thángTám bùng nổ Mặc dù cha hiểu gì nhiều về cách mạng, Chế Lan Viên vẫnhăng hái tham gia phong trào Việt Minh ở thị xã Quy Nhơn, rồi ra Huế làmbáo Quyết Thắng của Việt Minh Trung Bộ Suốt cuộc kháng chiến chốngPháp, Chế Lan Viên hoạt động văn nghệ và làm báo ở Liên khu IV, là th ờng
vụ chi hội văn nghệ Liên khu IV Ông đã có hai chuyến đi vào chiến tr ờngBình - Trị - Thiên ác liệt Tại đó năm 1949, ông đã đợc kết nạp vào Đảngcộng sản sau một chuyến đi cùng bộ đội trong một chiến dịch Cách mạng vàkháng chiến đã giúp cho nhà thơ có những biến đổi sâu sắc, quan trọng trong
t tởng và con đờng nghệ thuật của mình Sau 1951, Chế Lan Viên ra Hà Nộilàm biên tập viên báo Văn học, công tác ở hội nhà văn, tham gia ban chấp
Trang 10hành và Ban thờng vụ hội, từ 1983 là uỷ viên ban th ký của ban chấp hànhhội nhà văn khoá III
Chế Lan Viên còn là một nhà hoạt động xã hội tích cực Ông là đạibiểu quốc hội từ khoá III đến khoá VII tham gia vào các uỷ ban văn hoá đốingoại, có mặt ở nhiều diễn đàn văn hoá quốc tế Tây Âu, Liên Xô, Pháp, Nam
T, ấn Độ, trong những năm chống Mỹ cứu n ớc Những hoạt động ấy giúp
ông có nhiều thay đổi trong dòng thơ của mình, cũng nh sáng tác các thể loạivăn xuôi khác nh bút ký, tiểu luận phê bình văn học
Sau thống nhất đất nớc, ông vào công tác ở miền Nam và mất tại thànhphố Hồ Chí Minh ngày 19-6-1989 Năm 1996 nhà thơ Chế Lan Viên đã vinh
dự đợc nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trao giải th ởng Hồ Chíminh đợt đầu
1.1.2 Những nét chính về sự nghiệp thơ văn Chế Lan Viên
Chế Lan Viên làm thơ từ lúc 12, 13 tuổi, thời kỳ đang sống và đi học ởhuyện lỵ An Nhơn Ông có thơ, truyện ngắn đăng trên các báo Tiếng Trẻ,Khuyến Học, Phong hoá từ những năm 1935-1936 Giữa lúc phong trào Thơ
Mới đang ở giai đoạn cực thịnh thì tập thơ "Điêu tàn" của cậu bé 17 tuổi ''đột ngột xuất hiện giữa làng thơ nh một niềm kinh dị'' (Hoài Thanh, Hoài Chân - Thi nhân Việt Nam) gây đợc sự chú ý đặc biệt trong phong trào thơ mới "Kinh dị''
không phải lúc đó tác giả còn nhỏ tuổi (lúc viết "Điêu tàn" anh mới 15, 16
tuổi học năm thứ hai bậc trung học) "Kinh dị'' chính là vì nội dung tập thơ.
Trong những giọng buồn quen thuộc của thơ ca lãng mạn 1932-1945, đây làgiọng buồn có pha chút ảo não, có pha chút huyền bí
Cùng thời gian này, Chế Lan Viên tham gia nhóm thơ Bình Định cùngvới nhiều nhà thơ có tên tuổi nh Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Bích Khê, YếnLan và một số nhà thơ khác Năm 1942, ông cho xuất bản tập văn xuôi
"Vàng Sao" và viết một tập truyện ngắn triết lý "Gai lửa" (ch a xuất bản) thểhiện những t tởng thần bí, siêu hình
Đang bế tắc về t tởng thì Cách mạng Tháng Tám nổ ra và Chế Lan Viên
đã hăng hái tham gia Con ngời công dân trong Chế Lan Viên đã dứt khoát đivới cách mạng và kháng chiến nhng con ngời nghệ sĩ vẫn còn không ít nhiềubăn khoăn, vớng mắc xung quanh vấn đề nghệ thuật và cách mạng Nhờ thamgia tích cực vào các hoạt động kháng chiến, đi vào đời sống nhân dân, t tởng
và tình cảm của Chế Lan Viên dần dần thay đổi cơ bản Không kể một vài bàithơ hồi đầu cách mạng, phải đến năm 1950, Chế Lan Viên mới thực sự trởlại với thi đàn
"Gửi các anh" (1955) gồm 14 bài thơ làm trong kháng chiến chốngPháp Tuy cha hay nhng đã có hớng tốt Tập thơ đã ghi lại đợc những hình
ảnh chân thực của cuộc sống kháng chiến ở Bình Trị Thiên, Liên khu IV Nhàthơ đã rời bỏ những băn khoăn siêu hình và bế tắc về cái "tôi" và cuộc sống
để cảm nhận đợc những vẻ đẹp, những hy sinh to lớn và những tình cảm caoquý của nhân dân Nhà thơ xúc động trớc những hy sinh thầm lặng của những
Trang 11cán bộ và bộ đội trên dải Trờng Sơn thăm thẳm (Trờng Sơn), căm giận tố cáonhững tội ác dã man của kẻ thù với đồng bào ta (Nhớ lấy để trả thù), vui vớiniềm vui bình dị của xóm nghèo đã đợc cách mạng đổi đời (Đời xóm nhỏ,Bữa cơm thờng trong bản nhỏ), xúc động trớc tấm lòng của ngời mẹ khángchiến (Đa con ra trận, Gửi mẹ trong vùng giặc chiếm) Trong "Gửi các anh",Chế Lan Viên đã tìm đến những cách diễn đạt gần gũi với quần chúng, nhữngthể thơ dân tộc nh thể năm tiếng, lục bát, "Gửi các anh" đã đánh dấu mộtgiai đoạn tìm đờng chuẩn bị cho tài năng nở rộ sau này.
Tập thơ "ánh sáng và phù sa" (1960) là một thành công xuất sắc của
Chế Lan Viên trên chặng đờng thơ cách mạng "ánh sáng dọi soi tôi và phù
sa bồi đắp tôi, ánh sáng tinh thần và phù sa vật chất của lý t ởng tôi" - Chế
Lan Viên đã giải thích về nhan đề của tập thơ nh thế "ánh sáng và phù sa"trình bày cuộc phấn đấu trong tâm hồn và t tởng nhà thơ để vợt qua nhữngnỗi đau riêng hoà hợp với niềm vui chung Tập thơ thấm thía niềm tin yêu,lòng biết ơn và sự gắn bó sâu sắc của nhà thơ với nhân dân, đất n ớc và Đảng.Chính ở tập thơ này ghi nhận những thành công vững vàng của Chế Lan Viên
cuộc chiến đấu Mạch trữ tình suy tởng quen thuộc của thơ Chế Lan Viên đã
đợc kết tụ và nâng lên trên những cảm hứng lớn của cuộc chiến đấu của dântộc, của Miền Nam ý nghĩa thời đại và t tởng của Đảng đã tạo đợc nhữngthành công xuất sắc trong dòng thơ chống Mỹ của ông Thời kỳ này, các tậpthơ của ông liên tiếp xuất hiện trên thi đàn nh "Hoa ngày thòng - chim báobão" (1967), "Những bài thơ đánh giặc" (1972) hay "Đối thoại mới" (1973).Các tập thơ đều đậm chất chính luận, thời sự và âm h ởng sử thi hào hùng,mang khí thế cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc nh ng đồng thời vẫn có mộtmạch thơ về tình cảm gia đình, tình yêu, thiên nhiên, nh những bài trong
"Hoa ngày thờng" tô điểm và minh chứng cho vẻ đẹp trong trẻo, dịu mát củatâm hồn con ngời ngay trong những năm tháng dữ dội, khốc liệt nhất củacuộc chiến tranh
Sau 1975, thơ Chế Lan Viên một mặt tiếp tục ph ơng hớng đã mở ratrong giai đoạn thơ chống Mỹ, mặt khác hồn thơ ông có phần lắng lại, h ớng
về những vấn đề của cuộc sống hàng ngày Năm 1976, tập thơ "Hoa tr ớc lăngNgời" viết về Hồ Chí Minh đợc xuất bản Tiếp đó, ở "Hái theo mùa" (1977)
và nhất là "Hoa trên đá" (1984), "Ta gửi cho mình" (1986) chất trữ tình đậm
nét hơn - cái trữ tình của một tâm hồn đã từng trải nhiều đợc "thanh lọc qua nhiều thử thách nhng cũng chính vì thế mà giàu chất nhân tình hơn Đồng
Trang 12thời ý thức đợc cái nghiệt ngã của thời gian và tuổi tác nhà thơ đã khẳng
định nỗ lực của mình".
Đời vào tuổi năm mơi Mong gì hơng sắc lạ Mọc chùm hoa trên đá
Mùa xuân không chịu lùi Tập "Hoa trên đá" đã đợc giải thởng thơ của Hội Nhà văn năm 1995,
"là một thành công của Chế Lan Viên và cũng là một bớc trởng thành, một
sự tự tin của nền thơ Việt Nam xã hội chủ nghĩa" (Vũ Quần Phơng).
Ba tập "Di cảo" I, II và III đồ sộ với khoảng 600 bài thơ, gần tám trămtrang sách đợc xuất bản sau khi Chế Lan Viên qua đời là một niềm kinh ngạcmới Kinh ngạc về sức lao động nghệ thuật của ông, ngỡ ngàng tr ớc nhữngbức chân dung tinh thần mới của nhà thơ trớc đây còn cha đợc biết đến cho ta
có một hình dung đầy đủ hơn về nhà thơ Chế Lan Viên
Bên cạnh sáng tác thơ, Chế Lan Viên còn là cây viết văn xuôi sắc sảovới nhiều tập tuỳ bút, bút ký và phê bình văn học Tr ớc Cách mạng ThángTám, Chế Lan Viên có tập văn xuôi triết lý "Sao vàng" (1942) bộc lộ nhữngtìm tòi, những bế tắc của nhà thơ, về t tởng nghệ thuật, lạc xa vào những suynghiệm siêu hình, h vô về bản thể Trong kháng chiến chống Pháp, do côngtác báo chí, Chế Lan Viên viết một số bút ký, phóng sự ghi lại những hình
ảnh kháng chiến ở liên Khu 4 Sau tập bút ký "Thăm Trung Quốc" (1963),Chế Lan Viên ít viết bút ký mà chuyển sang thể tài tuỳ bút - chính luận ởthể tài này, cây bút văn xuôi Chế Lan Viên đã bộc lộ rõ hơn những đặc sắccủa mình Tuỳ bút Chế Lan Viên đợc tập hợp trong các tập "Những ngày nổigiận" (1966), "Giờ của số thành" (1977) và rải rác trong các tập "Suy nghĩ vàbình luận" (1972), "Bay theo đờng dân tộc đang bay" (1977), "Nghĩ cảnhdòng thơ" (1981) Tuỳ bút của Chế Lan Viên thờng đợc viết trong những bớcngoặt của đời sống dân tộc, đất nớc Những thời điểm "chói sáng", "độtbiến"của lịch sử, đã nâng đôi cánh của cảm xúc vào suy nghĩ của ông trongcác tác phẩm Nếu nh thơ Chế Lan Viên có tầm rộng của văn xuôi, thì vănxuôi của ông lại có tính cô đúc và gợi cảm của thơ Có thể thấy khá rõ sựgiao lu mở rộng sang nhau giữa thơ và văn xuôi Chế Lan Viên trong ý tuởng,trong phong cách Ngời ta có thể nhận ra ngay cách nghĩ, lối nói, giọng văncủa ông trên mỗi trang văn, chứng tỏ trong văn xuôi, ông là một cây bút cóphong cách rõ nét
Khao khát sống hết mình cùng thời đại, cộng với tài năng thiên phú vàlao động sáng tạo không ngừng trong suốt cuộc đời, Chế Lan Viên đã để lạiphía sau con đờng nghệ thuật của mình những tác phẩm đỉnh cao, đứng vàonhững thành tựu hàng đầu của văn học Việt Nam hiện đại
1.1.3 Thơ Chế Lan Viên trong thơ ca hiện đại
Thế kỷ XX - thế kỷ của nhiều sự kiện và biến động chính trị lớn lao, làthế kỷ mà lịch sử Việt Nam và thế giới b ớc sang những trang mới và cũng là
Trang 13thế kỷ văn học Việt Nam có những thành tựu và chứng kiến những đổi thayrất đặc sắc.
Có thể nói ngay từ đầu thế kỷ xx cho đến năm 1990 không năm nào lànăm thật sự bình yên đối với nhân dân Việt Nam Nh ng lạ thay, thế kỷ xx làthế kỷ mà ngời Việt Nam làm nhiều thơ nhất Hàng nghìn tập thơ đợc xuấtbản, hàng trăm nhà thơ nổi tiếng, có hàng chục nhà thơ x ng đáng đợc xếp vàobậc thi bá, thi hào Đã gọi là thi bá, thi hào thì phải là những ng ời làm thơtiêu biểu cho thời đại, cho dân tộc, hàng trăm năm sau khi sáng tác, nhữngbài thơ của họ vẫn đợc nhiều công chúng hâm mộ Chúng ta đã có NguyễnTrãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Đình Chiểu,Nguyễn Khuyến, Tú Xơng, đều có thể gọi là những bậc thi hào của dân tộc.Tuy nhiên tầm vóc dân tộc thời đại của mỗi ngời có khác Nhng trong nhữngbài thơ của mình, họ đã ghi lại đợc những hình ảnh tiêu biểu, những tình cảmtiêu biểu, những tâm trạng có tính điển hình, với một hình thức nghệ thuậtngôn ngữ độc đáo điêu luyện
Thế kỷ xx chúng ta có rất nhiều nhà thơ tiêu biểu cho dân tộc cho thời
đại nh thế Tại sao lại có thể nói đợc nh vậy? Phan Bội Châu, Tản Đà, Hồ ChíMinh, Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi,Hoàng Cầm, Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, và nhiềutác giả khác nữa là những nhà thơ mà tên tuổi của họ chắc sẽ đ ợc lu danh.Bởi vì các nhà thơ này đã có vinh dự đợc sống và làm thơ trực tiếp về đất nớc
và con ngờiViệt Nam ở thế kỷ bão táp nhất, sôi động nhất của lịch sử ViệtNam Đặc biệt là trong các bài thơ của mình, họ đã ghi lại đ ợc những mảnhvụn của đời sống chính trị, xã hội và tâm hồn con ngời Việt Nam trong thế kỷ
vĩ đại này bằng những hình thức độc đáo của nghệ thuật ngôn từ
Góp phần làm nên cái "thời đại thi ca" đó, Chế Lan Viên là một g ơngmặt tiêu biểu, đã xuất sắc hoàn thành sứ mệnh thi nhân của mình Thơ ông đãnói lên đợc những đau thơng, quyết liệt, chói lọi, huy hoàng của dân tộc vàcủa cá nhân ông Đọc thơ Chế Lan Viên từ những bài thơ, những tập thơ hay
mà chúng ta xem là các bản anh hùng ca dân tộc và thời đại cho đến nhữngbài có tính chất thử nghiệm thì ông đều viết hết mình Thơ của ông độc đáo
mà sâu sắc, thẳng thắn mà chân tình Sau khi qua đời ông đã để lại một giatài đồ sộ thơ cho đời sau
Thứ nhất ta thấy Chế Lan Viên nổi bật lên chủ yếu là vì thơ ông đã đi
đúng vào nguồn mạch chính của đời sống tinh thần dân tộc và thời đại
Lý do thứ hai chính là vì thơ ông là thứ thơ triếtlý, giàu màu sắc nhận
thức luận, một thứ thơ "không chỉ đa ru mà còn thức tỉnh, không chỉ ơ hời mà còn đập bàn quất tháo lo toan" (Chế Lan Viên). Đó là loại thơ tranh luận, hùngbiện, thơ chính luận đánh giặc rất tiêu biểuđợc Chế Lan Viên sử dụng rấtthành công
Lý do thứ ba nh đã nói, thơ Chế Lan Viên không chỉ phản ánh lịch sử,phản ánh thời đại mà con phản ánh bản thân tiến trình thơ ca dân tộc thế kỷ
Trang 14xx Lịch sử thơ ca Việt Nam ở thế kỷ xx trải qua ít nhất là ba thời kỳ sôi
động với ba cuộc cách mạng lớn Cuộc cách mạng của thơ (1932- 1945),cuộc cách mạng dân tộc (1945-1975) và cuộc cách mạng có tính toàn cầu(sau 1985) Trong cả ba thời kỳ đó Chế Lan Viên thờng chiếm lĩnh đỉnh cao.Thời kỳ Thơ Mới - thời kỳ "một c ộc cách mạng trong thơ ca" "Điêu tàn" của
Chế Lan Viên xuất hiện giữa làng thơ nh một "niềm kinh dị " (từ dùng của Hoài Thanh) Thời kỳ "ba mơi năm dân chủ cộng hoà", Chế Lan Viên có
"ánh sáng và phù sa", "Hoa ngày thờng - chim báo bão", " Những bài thơ
đánh giặc" đã làm sôi động văn đàn, làm vẻ vang cho nền văn học chiến đấuchống ngoại xâm Thời kỳ đổi mới, thời kỳ cả văn học và dân tộc tiến lên hoànhập cùng nhân loại, Chế Lan Viên để lại hàng trăm bài thơ đặc sắc trong
"Di Cảo I", "Di Cảo II" và"Di Cảo III"
Lý do thứ t, Chế Lan Viên là nhà thơ dùng thơ để bàn luận về nghềnghiệp làm thơ một cách say sa nhất, đầy đủ nhất Từ quan niệm về "thơloạn", "thơ điên" đến thơ có ích, thơ hay, thơ dở, từ trách nhiệm công dân
đến thiên chức nghệ sỹ của ngời làm thơ, từ t tởng đến cảm xúc, hình ảnh,ngôn ngữ, và trí tuệ sáng tạo, Chế Lan Viên đều đề cập tới đủ Những quanniệm thơ đó đợc diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ sinh động và tài hoa, giàuchất thơ và có tính triết lý, vừa phản ánh quan điểm thơ của chính tác giả vừaphản ánh quan điểm thơ của mỗi một thời kỳ lịch sử Chẳng hạn những câuthơ sau đây:
Thơ xa chỉ than mà ít hỏi
Đảng dạy ta phải biết trả lời
và
Xa tôi hát mà bây giờ tập nó i
Chỉ nói thôi mới nói hết đợc đời
hoặc
Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến sỹ Bên những chiến sĩ đuổi xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi
Lý do thứ năm, khi đi vào thế giới thơ Chế Lan Viên, chúng ta thấynhững nét đặc sắc về phơng tiện hình thức nghệ thuật mà ông sử dụng, từ đóthấy đợc phần nào sự phát triển của thơ Việt Nam hiện đại về mặt hình thứcnghệ thuật
Nhng cũng chính những sự sáng tạo độc đáo sâu sắc này đã tạo ranhững đánh giá, bình giá vế tác phẩm Chế Lan Viên có nhiều khác biệt giữacác ý kiến Dù các ý kiến đánh giá khen chê về văn ch ơng Chế Lan Viên chathống nhất Nhng với tất những gì đã viết và đã xuất bản trong hơn 60 nămqua về Chế Lan Viên, trong ta có thể khẳng định rằng ông thực sự là nhà thơkhông chỉ tiêu biểu cho thời đại ta, dân tộc ta, mà tài danh của ông còn vangvọng mãi tới nhiều dân tộc và nhiều thế kỷ sau này
Trang 15
1.2 Dẫn nhập về phong cách học
Phong cách học là một khoa học nghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữkhoa học về các luật nói viết có hiệu lực cao, tức là nói viết có đ ợc tính chínhxác, tính đúng đắn và tính thẩm mỹ trong mọi phạm vi hoạt động của giao
tiếp xã hội ''Phong cách học là một bộ phận của ngôn ngữ học nghiên cứu nguyên tắc quy luật lựa chọn và hiệu qủa lựa chọn, sử dụng toàn bộ các ph -
ơng tiện ngôn ngữ nhằm biểu hiện một nội dung t tởng, tình cảm nhất định trong những phong cách chức năng nhất định'' ( Cù Đình Tú Phong cách học và
đặc điểm tu từ)
Phong cách học có vai trò to lớn trong việc nghiên cứu, xác định cái
đẹp của ngôn ngữ, nghiên cứu tác dụng trở lại của hình thức ngôn ngữ đối vớinội dung diễn đạt tức là nghiên cứu sự lựa chọn, sử dụng các ph ơng tiện ngônngữ phù hợp nhất với nội dung t tởng, tình cảm trong những điều kiện hoàncảnh giao tiếp nhất định
Muốn hiểu cảm cái hay cái đẹp của ngôn ngữ, cần xác định phân loạimiêu tả có hệ thống phơng tiện tu từ và biện pháp tu từ đợc sử dụng trong tácphẩm văn học Từ đó ta mới thấy đợc giá trị nghệ thuật của các phơng tiện tu
từ ấy trong việc biểu hiện t tởng, cảm xúc của tác phẩm văn học
1.3 Phơng tiện tu từ ngữ nghĩa
Những phơng tiện tu từ ngữ nghĩa là những định danh thứ hai mangmàu sắc tu từ của sự vật, hiện tợng Dựa trên nét tơng đồng (ẩn dụ, so sánh),nét nghĩa tiếp cận (hoán dụ) ngời ta xây dựng những hình ảnh, những cáchnói nhằm diễn tả bằng hình tợng một lối cảm nhận mới mẻ về đối tợng
Những phơng tiện tu từ ngữ nghĩa còn đợc gọi là những phơng tiện
đ-ợc tu sức về mặt tu từ, những phơng tiện đđ-ợc đánh dấu về mặt tu từ Nhữngphơng tiện tu từ ngữ nghĩa khác biệt đối lập tu từ học với những ph ơng tiệntrung hoà ngữ nghĩa
Có thể chia các phơng tiện tu từ ngữ nghĩa thành ba tiểu nhóm:
Nhóm so sánh tu từ
Nhóm ẩn dụ tu từ
Nhóm hoán dụ tu từ
1.3.1 Nhóm so sánh tu từ (nhóm tỉ dụ)
So sánh là phơng thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với
sự vật khác, miễn là giữa hai sự vật có một nét t ơng đồng nào đó để gợi ranhững hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của ng ời
Trang 16So sánh tu từ học khác với so sánh lôgích ở tính hình t ợng, tính biểucảm và tính dị loại (không cùng loại) của sự vật Cơ sở của phép so sánhlôgích dựa trên tính đồng chất, đồng loài của các sự vật hiện tợng Ví dụ:
1 Phúc học toán kém hơn Nghĩa
2 Cô Thảo béo hơn cô Mai
Trong ngôn ngữ vế đợc so sánh có một tiền giả định làm chuẩn mực
đã đợc khẳng định, không hoàn toàn đồng nhất với cái đ ợc so sánh Vì vậymọi so sánh trong ngôn ngữ đều khập khiễng Đó chính là hiện t ợng khúc xạcủa ngôn ngữ Trong so sánh tu từ hiện t ợng khúc xạ còn tăng lên nhiều lầnvì mang sắc thái chủ quan của ngời so sánh Chính vì sự thái quá của cảmxúc đã nâng hình tợng vợt hẳn lên mức độ của sự so sánh thông thờng Ví dụ:
Tuỳ theo từng trờng hợp có thể đảo trật tự so sánh hoặc bớt một sốyếu tố trong mô hình trên Chẳng hạn:
Đảo ngợc trật tự so sánh
Chòng chành nh nón không quai
Nh thuyền không lái nh ai không chồng
Bớt cơ sở (thuộc tính) so sánh
Anh nh chỉ gấm thêu cờ
Em nh rau má mọc bờ giếng khơi
Bớt từ so sánh
Ngời giai nhân: bến đợi dới cây già
Tình du khách: thuyền qua không bến đợi
Thêm ''bao nhiêu '', ''bấy nhiêu ''
Trang 17bình giá; phong cách sinh hoạt - so sánh làm ngời nghe hiểu nhanh điều mìnhnói bằng một sự so sánh cụ thể), nhng đợc dùng nhiều nhất là trong lời nóinghệ thuật
Trong các tác phẩm văn học, so sánh là ph ơng thức tạo hình, phơngthức gợi cảm Một so sánh đẹp là một so sánh phát hiện những gì ng ời thờng
không nhìn ra, không nhận thấy So sánh tu từ là một phơng thức giúp ngời
đọc nhận thức, hiểu biết sâu sắc hơn về một khía cạnh, ph ơng diện nào đócủa sự vật, sự việc, hành động thông qua so sánh tu từ, sự nhận thức của ng ời
đọc về đối tợng đợc cụ thể hoá hơn, do đó lợng thông tin nhiều hơn Đúng
nh ý kiến của Paolơ "Sức mạnh của so sánh là nhận thức, còn sức mạnh của
ẩn dụ là biểu cảm ''
Ví dụ: Đời tơi mát nh ao sen mùa hạ
(Chế Lan Viên)
Ví dụ: Tiền vào nhà khó nh gió vào nhà trống
ở đây nếu không có hình ảnh "ao sen mùa hạ" thì khó mà hình dung đ ợc thếnào là vẻ đẹp tơi mát của cuộc đời, không có hình ảnh "gió vào nhà trống" thìthật khó thấy đợc cái cụ thể của tình cảnh tiền vào nhà khó ra sao Rõ ràng sự
cụ thể hoá vế cái so sánh đã góp phần quan trọng làm cho ng ời đọc hiểu rõhơn cụ thể hơn về điêu tác giả định nói đến (không chỉ ở bên ngoài mà cả ởtrong bản chất) Tài nghệ của ngời sáng tạo là ở chỗ phát hiện ra nét giốngnhau, chính xác, bất ngờ, ngời khác không nhìn thấy, nhằm diễn tả bằng hình
ảnh một lối cảm nhận mới mẻ về đối tợng, qua đó biểu hiện một tình cảm,một thái độ đánh giá So sánh tu từ có sức mạnh gợi cảm, đ a lại hứng thú bay
bổng trong tởng tợng Nói đến văn chơng là nói đến so sánh "Tính hình tợng
là gì? Chính là sự so sánh'' (A Phơ răng xơ) "Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn từ của sự liên hội và so sánh nghệ thuật là đôi cánh giúp chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của tởng t ợng hơn là đến ngỡng cửa lôgích học" (Nguyễn Thái Hoà 1993 )
1.3.2 Nhóm ẩn dụ tu từ
Nhóm ẩn dụ bao gồm các kiểu nhóm: ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung, nhân hoá,
vật hoá , trong đó ẩn dụ là phơng thức tiêu biểu
a ẩn dụ
ẩn dụ thực chất là so sánh ngầm, trong đó vế so sánh giảm l ợc đi, chỉcòn lại vế đợc so sánh Phép ẩn dụ là phơng thức chuyển nghĩa của một đối t-ợng này thay cho đối tợng khác khi hai đối tợng có một nét nghĩa tơng đồngnào đó
Vô duyên mua phải gơng mờ Bao giờ gơng vỡ mà mua gơng lành.
Tác giả dân gian nói tới ''gơng'' mà chẳng phải nói "gơng" Bài ca dao thông qua sự than thân trách phận của nhân vật trữ tình khi mua phải " gơng mờ" và mong ớc đợc mua gơng tỏ khác để dẫn điều quan trọng hơn cả là thể
Trang 18hiện ý nghĩa khái quát, sự chuyển nghĩa mới Đâu phải quan trọng ở "gơng mờ" gơng tỏ mà là chuyện tình cảm, chuyện cuộc đời Đây có thể là lời than
thân của ngời vợ ngán ngẫm nỗi chán chờng về đức ông chồng hoặc ngợc lại,lời của ngời chồng âm thầm cay đắng nghĩ về ng ời vợ hoặc, cũng có thể là lời
mẹ chồng chì chiết bóng gió nàng dâu đoảng vị, rộng hơn có thể là một ''hợp
đồng'' nào đó vô hình ràng buộc con ngời mà họ mong ớc huỷ bỏ
Nói đến ẩn dụ phải nói đến thơ ca, đặc biệt là thơ ca trữ tình Thơ trữtình là ''vơng quốc của ẩn dụ'' ở đây là địa hạt khai phá không bao giờ mòn
cũ bởi vì mỗi bài thơ là một tâm trạng, mỗi bài thơ có cái riêng của nó, do đónghĩa của từ dùng rất phong phú, đa dạng tuỳ văn cảnh, dụng ý nghệ thuậtcủa chủ thể trữ tình Cùng một đối tợng ta có thể diễn đạt khác nhau (hình
ảnh dùng làm biểu tợng diễn đạt đôi lứa: Thuyền - biển, mận - đào, núi M ờngHung - dòng sông Mã, non - nớc, ) Một ẩn dụ có thể dùng cho nhiều đối t-ợng khác nhau
ẩn dụ không chỉ có giá trị hình tợng, phơng tiện xây dựng hình tợng
mà còn hàm chứa sức mạnh biểu cảm, sức mạnh bình giá khen chê ẩn dụ thể
hiện những hàm ý mà ngời đọc phải suy ra mới hiểu đợc ''Một thi phẩm là một bí mật mà để mở bí mật đó, độc giả có chìa khoá trong t ởng tợng của mình'' Nghệ thuật của ngôn ngữ trớc hết là nghệ thuật tạo nên những liên t -
ởng giữa các yếu tố riêng lẻ làm thành tác phẩm, nhằm sử dụng một cách mỹhọc chiều dày của chất liệu ngôn ngữ Bản chất của ph ơng thức chuyển nghĩa
có tính chất ẩn dụ chính là cách ''tổ chức kép lợng ngữ nghĩa: kỹ năng dựa vào sức liên tởng của ngời nhận đem liên kết các tín hiệu ngôn ngữ hoặc cùng xuất hiện trên thông báo (phép so sánh tu từ) hoặc chỉ xuất hiện trên thông báo và tồn tại trong mã ngôn ngữ (phép ẩn dụ tu từ) để kiến lập những chỉnh thể không phân lập về mặt mỹ học nhằm tạo nên ý ngầm bằng chiều dày của các câu chữ'' (Nguyễn Phan Cảnh1971) ẩn dụ trở thành một kiểu mãhóa cơ bản của phuơng thức tổ chức kép các lợng ngữ nghĩa nên thể hiện đợcphong cách sáng tạo nghệ thuật của tác giả, phong cách thời đại và phongcách dân tộc ẩn dụ trong ca dao khác ẩn dụ của Truyện Kiều, của thơ HồXuân Hơng, của Lục Vân Tiên, ẩn dụ của Huy Cận khác Chế Lan Viên,Chế Lan Viên khác Tố Hữu, Nghiên cứu các tác giả ta sẽ thấy những ''tr -ờng phong cách'' khác nhau và có thể bao quát thế giới nghệ thuật thơ ca củatác giả đó
b.ẩn dụ bổ sung (ẩn dụ chuyển đổi cảm giác)
"ẩn dụ bổ sung là sự thay thế một cảm giác này bằng một cảm giác khác trong nhận thức cũng nh trong biểu đạt" (Đinh Trọng Lạc). Ví dụ: thấy ngọt, tiếng nghe sắc nhọn, giọng nghe trong sáng
Trong văn xuôi nghệ thuật, ẩn dụ bổ sung trở thành một ph ợng tiện tu
từ có tính chất tạo ra những hình ảnh nghệ thuật, gợi lên những cảm giác lạlùng, thú vị Hiện thực đợc hiện lên đầy đủ cả hình khối, màu sắc, âm thanh
và sự vật dờng nh có thể ngửi thấy đựơc, sờ thấy đợc, nếm đợc Ví dụ: Chao
Trang 19ôi, trông con sông vui nh thấy nắng giòn tan, sau kỳ ma dầm vui nh nối lại
chiêm bao đứt quãng (Nguyễn Tuân).
Trong thơ, ẩn dụ bổ sung huy động mọi giác quan và dẫn đến sự xuyênthấm, sự hoà đồng của mọi cảm quan, khiến cho thơ hoá thành nhạc, thànhhoa, thấm vào hồn làm cho độc giả cũng có tâm hồn nghệ sĩ Ví dụ:
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm Say ngời nh rợu tối tân hôn
Hãy tự buông cho khúc nhạc hờng.
Dẫn vào thế giới của Du Dơng
Ngừng hơi thở lại xem trong ấy Hiển hiện hoa và phảng phất hơng Hãy uống thơ tan trong khúc nhạc Ngọt ngào than gọi thuở xa khơi
(Huyền diệu - Xuân Diệu).
gái; thắt đáy lng ong biểu thị ngời con gái có dáng ngòi đẹp; Ví dụ:
Kiếp sau xin chớ làm ngời
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
(Ca dao)
Vẻ chi một chút bèo mây
Làm cho bể ải khi đầy khi vơi
(Nguyễn Du-Truyện Kiều)
Ngời mà thắt đáy lng ong
Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con
ời nói có thể bày tỏ kín đáo tâm t thái độ của mình Ví dụ:
Trang 20* Về hình thức: Nhân hoá đợc cấu tạo theo hai cách.
- Dùng từ chỉ tính chất, hoạt động của ng ời để biểu thị tính chấthoạt động của đối tợng khác Ví dụ:
Vì sơng nên núi bạc đầu Biển đầy vì gió hoa sầu vì ma
- Coi đối tợng khác ngời nh ngời, trò chuyện tâm tình với chúng
ẩn dụ vật hoá (vật cách hoá)
ẩn dụ vật hoá là một biến thể của ẩn dụ, trong đó ng ời ta dùng mộthình thức di chuyển thuộc tính, dấu hiệu ngợc chiều lại với nhân hoá, tức làlấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của loài vật, đồ vật để biểu thịthuộc tính, dấu hiệu của con ngời, nhằm mục đích châm biếm đùa vui vànhiều khi qua đó thể hiện tình cảm, thái độ sâu kín của mình Ví dụ:
Sĩ tốt kén tay tì hộ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
(Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi)
e Phúng dụ (ẩn dụ ngụ ngôn)
Phúng dụ là một biến thể của ẩn dụ, trong đó ng ời ta dùng hình ảnh cụthể, sinh động để biểu thị một ý niệm về triết lý nhân sinh hoặc một bài học
về luân lý đạo đức, nhằm làm cho sự trình bày những nội dung đó trở nên sâusắc, thâm thuý Ví dụ:
Cà cuống uống rợu là đà Bao nhiêu ếch nhái nhảy ra chia phần.
Từ một bài ca dao truyền thống, Trần Đăng Khoa đã sáng tạo nên bàithơ (Đám ma bác giun) đợc nhiều trẻ em yêu thích nhờ cách ẩn dụ ngụ ngôn
1.3.3 Nhóm hoán dụ tu từ
Hoán dụ tu từ là cách tạo tên gọi mới cho đối tợng, dựa trên mối quan
hệ giữa bộ phận và toàn thể nhằm diễn tả sinh động nội dung thông báo màngời nói muốn đề cập Ví dụ:
Hỡi cô yếm thắm loà xoà Lại đây đập đất trồng cà với anh
Cái "cô yếm thắm loà xoà" ấy hẳn là dùng để phân biệt với các cô khác
và cũng là cô gái ăn diện, rong chơi, một sự phê phán hay lời tỏ tình làmquen hoặc có thể cả hai
Hoán dụ tu từ thờng đợc cấu tạo dựa trên những mối liên hệ lôgíchkhách quan nh sau:
Trang 21a Liên hệ giữa bộ phận và toàn thể
Đầu xanh có tội tình gì ? Má hồng đến quá nửa thì cha thôi
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
b Liên hệ giữa chủ thể (ngời) và một vật sở thuộc (y phục, đồ dùng)
áo chàm đa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Bài ca vỡ đất - Hoàng Trung Thông)
d Liên hệ giữa số ít và số nhiều, giữa con số cụ thể và con số tổng quát.Hoán dụ tu từ đợc cấu tạo theo mối quan hệ này đợc gọi là cải số
Cầu này cầu ái cầu ân
Một trăm con gái rửa chân cầu này
(Ca dao)
e Liên hệ giữa vật chứa đựng và vật đ ợc chứa đựng Hoán dụ tu từ đợc cấutạo theo mối liên hệ này đợc gọi là cải dung
Vì sao Trái Đất nặng ân tình
Nhắc mãi tên Ngời Hồ Chí Minh
(Ta đi tới - Tố Hữu)
Trong ngôn ngữ nghệ thuật, hoán dụ là một phơng thức sáng tạo nghệthuật Chức năng chủ yếu của hoán dụ là nhận thức và biểu cảm- cảm xúc
Nó khắc sâu đặc điểm tiêu biểu cho đối tợng đợc miêu tả Hoán dụ đợc dùngrộng rãi trong lời nói nghệ thuật và trong nhiều phong cách
Trang 22Chơng 2 phơng tiện tu từ ngữ nghĩa trong thơ Chế Lan Viên
2.1 so sánh tu từ
"So sánh tu từ là cách đối chiếu hai hay nhiều đối t ợng khác loại cùng
có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm cuả đối tợng " (99 phơng tiện và biện pháp tu từ Đinh Trọng Lạc)
So sánh tu từ là một biện pháp nghệ thuật đã đ ợc dùng trong lời ăntiếng nói hằng ngày, thành ngữ, tục ngữ, ca dao, của dân gian và trong cáctác phẩm văn học viết từ xa đến nay Nó đã có quá trình sử dụng lâu dài, vàtrong quá trình sử dụng đó đã phát sinh nhiều biến thế so sánh, cũng nhnhững cách nhìn mẫu vật khác nhau Những biến thể này lập nên các kiểu sosánh khác nhau và các vật mẫu so sánh đều mang điểm nhìn riêng của tácgiả So sánh là sức mạnh chủ yếu của ngôn ngữ thơ Chế Lan Viên Đó là ph -
ơng tiện nghệ thuật độc đáo, mạnh mẽ, nhiều liên t ởng đột xuất và đợc thểhiện trên nhiều kiểu loại phong phú
Vậy so sánh tu từ xuất hiện trong thơ Chế Lan Viên ra sao? Cách thểhiện và hiệu quả thẩm mỹ nh thế nào?
Qua khảo sát 13 tập thơ trong thơ in trong "Thơ Chế Lan Viên với phong cách suy tởng" (thơ tuyển của Nguyễn Bá Thành NXBGD, 1990),
chúng tôi thấy: ngoài những kiểu loại so sánh tu từ có tính chất tiêu biểu củatiếng Việt, Chế Lan Viên còn sáng tạo nhiều biến thể mang dấu ấn cá nhân rõrệt So sánh tu từ trong thơ ông rất phổ biến; đậm đặc nhất là 4 kiểu cấu trúccơ bản sau đây:
Trang 23kiểu cấu trúc
tập thơ A nh B
A(hoá) thành B Alà B A/B
Tổng số trờng hợp có so sánh
Tỉ lệ có
so sánh ( / bài )
Điêu tàn 11
(68.8%)
1 (6.3%)
4 (25,0%)
o (o %)
16 (4.6%)
9/20
Gửi các anh 2
(100%)
o (o %)
o (o%)
o (o%)
2 (0.6%)
1/1
ánh sang và phu sa 65
(62.5%)
26 (25%)
10 (9.6%)
3 (2.9%)
104 (31.9%)
5 (19.2%)
1 (3.7%)
26 (8.3%)
4 (14%)
1 (3.7%)
27 (8.3%)
1/1
Đối thoại mới 5
(38.5%)
3 (21.3%)
4 (30.8%)
1 (7.7%)
13 (4.0%)
1 (11.1%)
0 (0%)
9 (2.8%)
3/3
Hái theo mùa 22
(51.2%)
12 (27.9%)
6 (14.0%)
3 (7.0%)
43 (13.2%)
6/7
Hoa trên đá 6
(100%)
o (0%)
0 (0%)
0 (0%)
6 (1.8%)
2/4
Ta gửi cho mình 3
(60.0%)
1 (20.0%)
! (20,%)
0 (0%)
5 (1.5%)
3/5
Di cảo I 17
(51.5%)
5 (15 2%)
10 (30.0%)
1 (3.0%)
33 (10.1%)
16/27
Di cảo II 8
(47.1%)
7 (41.2%)
1 (5.9%)
1 (5.9%)
17 (5.2%)
11/12
Di cảo III 11
(44.0%)
9 (36.0%)
5 (20.0%)
0 (0%)
25 (7.7%)
51 (15.6%)
11 (3.4%)
326 (100%)
122/160
Qua bảng thống kê số lần dùng biện pháp tu từ so sánh trong thơ ChếLan Viên (bảng1), có thể rút ra một số nhận xét định lợng sau:
1 So sánh nghệ thuật trong thơ Chế Lan Viên là hiện t ợng phổ biến.Tần số xuất hiện trên đơn vị bài thơ là đáng kể (chiếm 76.3% tổng số các bài
có so sánh tu từ, trung bình khoảng 1,3 bài thì có một bài thơ sử dụng biệnpháp so sánh tu từ) ở những tập thơ lớn nh: ánh sáng và phù sa, Hoa ngàythờng chim báo bão , biện pháp so sánh tu từ trở thành biện pháp chủ yếu(chiếm 7 bài / 9bài, và 17bài / 22bài) có sử dụng biện pháp tu từ so sánh Cóbài thơ có tới 29 lần sử dụng biện pháp tu từ so sánh (Thời sự hè 72, bìnhluận)
2 Hình thức so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên rất phong phú Tác giảvừa sử dụng cấu trúc truyền thống, vừa sáng tạo nên các kiểu cấu trúc mới mangdấu ấn cá nhân rõ nét Trong các kiểu cấu trúc so sánh tu từ của Chế Lan Viên kiểucấu trúc [A nh B] chiếm tỉ lệ cao nhất (57.4%) ít nhất là kiểu không có từ nối chỉmức độ so sánh [A / B], kiểu nay chỉ chiếm 3.4% Mặc dầu đây là kiểu đợc sử dụng
ít nhất nhng có nhiều nét độc đáo mới mẻ góp phần thể hiện phong cách của Chế
Trang 24Lan Viên Trong sử dụng, sáng tạo các kiểu cấu trúc so sánh tu từ, ông đã tạo ra đợckiểu so sánh đặc biệt [A (hoá) thành B] chiếm một tỉ lệ tơng đối lớn sau kiểu [A nhB] Nó chiếm 23.6% Kiểu [A là B] chiếm tỉ lệ tơng đối 15.6% trong thơ ông.
3 Nhìn vào bảng thống kê, chúng ta thấy so sánh nghệ thuật thơ Chế LanViên trớc năm 1945 nghèo nhng từ tập thơ "ánh sáng và phù sa" về sau nghệ thuật
đợc sử dung phong phú với tỉ lệ cao, đánh dấu sự nở rộ, đạt tới độ chín của nghệthuật thơ Chế Lan Viên và mang dấu ấn cá nhân khá rõ, góp phần tạo nên chất trítuệ ở những nhà thơ tài năng, đây là sở trờng về ngôn ngữ để sáng tạo hình ảnh
Điều này chúng ta thấy ở Tố Hữu (biện pháp tu từ đợc sử dụng trong thơ ông chiếmtrên 75%)
2.1.1 cấu trúc so sánh [ a nh b]
Kiểu cấu trúc so sánh [A nh B] là kiểu cấu trúc thờng gặp trong ca dao,thơ ca truyền thống Trong thơ Chế Lan Viên, đây là kiểu chiếm tỉ lệ cao nhất(57.2% tổng số các trờng hợp so sánh)
(Tình ca ban mai)
Tôi nh con sông Th ơng
A BChạy lòng mình thơng nhớ (Ngoảnh lại 15 năm)
Thần kinh nh hoa xuân
A BSắc hơng vào bớc ngoặt (Kém mắt)
2 so sánh phức:
a Kiểu so sánh [ A nh B1, B2 Bn] (B1, B2 Bn trên cùng một dòngthơ)
Trang 26c [A a nh B]
(Trong đó: a chỉ tính chất hay trạng thái của cái đợc so sánh (A)
b chỉ tính chất hay trạng thái của cái so sánh (B))
a .Kiểu so sánh [ A a nh B b]
Tôi lấn nỗi đau nh mùa chiêm lấn vành đai trắng
A a B bLấn bệnh tật mà đi máu đổ lấn da xanh
ở giữa lòng ta nào ta có biết
(ý nghĩa mùa xuân)
(Ong và mật)
Nhà thi sĩ nh con chim bói cá, mắt bao gồm đầm hồ bát ngát phải thấy đ ợc
A B b
tam thiên mẫu của đời , tr ớc khi lao vào bắt
Lao nh trong tình yêu, anh lao vào em vậy
Trang 27(Sao chiến thắng)
Chết không thoả nếu đang còn giặc Mỹ
Ta đánh mày hân hoan nh sinh đẻ
Nh con sông dệt phù sa trong rừng vắng Những ngày qua nào có biết gì đâu
(Nhật ký ngời chữa bệnh)
Nh nhà đóng kịch, đóng trăm vai bây giờ thấy chán
Về cuối đời chơi con rối ngu ngơ
Nh nhân lọai đã nghìn năm vạn năm nhân loại Bây giờ muốn đóng đứa trẻ thơ một tuổi
(Kịch)
Trong cấu trúc so sánh [A nh B], bên cạnh sử dụng từ nối chỉ mức độ so sánh
" nh " chiếm đa số, ông còn sử dụng các từ so sánh: giống, tựa, thay cho "
nh "
Bác đơng đầu cái chết tựa thanh xuân
(Di chúc của ngời)
Cách làm thơ năm 72 giống với cách trồng rau năm 72, đánh Mỹ năm 72
( Sổ tay thơ)
2.1.2 Hiệu quả nghệ thuật của cấu trúc so sánh [A nh B]
Qua khảo sát chúng tôi thấy, cấu trúc so sánh kiểu [A nh B] có tần số xuấthiện cao và đơc sử dụng biến hoá đa dạng Chế Lan Viên không chỉ sử dụng kiểunày (dạng chủ yếu) - một kiểu so sánh truyền thống, mà còn tạo ra những so sánhphức hợp tạo nên ý nghĩa nhiều tầng bậc Đặc biệt những yếu tố 1 (yếu tố đợc hoặc
bị so sánh) và yếu tố 4 (yếu tố đợc đa ra làm chuẩn để so sánh) thờng có cấu tạo là
Trang 28một kết cấu C/V, và thờng sau yếu tố 4 còn có một câu thơ khác làm thành phầngiải thích, làm cụ thể hoá, hoặc bổ sung nội dung cho yếu tố 4.
Bằng sự sáng tạo ra các kiểu cấu trúc so sánh và những kiểu t duy so sánh này,Chế Lan Viên đã mang đến những hiệu quả nghệ thuật sau:
Các câu thơ có cấu trúc so sánh của ông thờng đợc triển khai một cách đadạng, toả nhánh trên nhiều miền liên tởng khác nhau
Trớc hết ta thấy, sự so sánh tu từ đơn giản nhất trong thơ Chế Lan Viên là sự sosánh một hình ảnh, một đối tợng thông qua một hình ảnh, một đối tợng [A nh B] Thời gian nh thạch nhũ
A B
(Thời gian nớc xiết)
Nhng cái góp phần tạo nên phong cách của Chế Lan Viên đó là các kiểu sosánh trong thơ ông mang tính chất kép Điều đó không chỉ thể hiện ở cấu trúc [A
nh B], mà ở cả [A (hoá) thành B], [A là B] ở đó ông bắt so sánh đẻ ra so sánh tạonên so sánh phức: so sánh một hình ảnh, một đối tợng, thông qua 2,3, n hình ảnh
Bắc Đợc thể hiện trong bài " Tiếng hát con tàu ", Chế Lan Viên đã liên tởng tìm ra
hàng loạt hình ảnh so sánh chồng nhau Con gặp lại nhân dân đợc ví với các mối
quan hệ: nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiến nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đa Khó ai nhìn ra và diễn tả đợc hết
các cung bậc tình cảm nh thế
Hay để diễn tả mức độ chiều sâu tình yêu tổ quốc - một tình cảm trừu tợng
ông đã dùng tới ba hình ảnh so sánh chỉ những quan hệ tình cảm sâu nồng trong
mỗi con ngời làm cụ thể hoá : nh máu thịt, nh mẹ cha ta, nh vợ yêu chồng Hơn thế
nữa với những hình ảnh so sánh này làm dấy lên trong ta một tình yêu lớn đối với
đất nớc, một tình yêu thiêu đốt tâm can
Trang 29Một tơng lai trừu tợng xa vời và mơ hồ nhng với khản năng liên tởng kỳdiệu Chế Lan Viên đã là cho nó đựơc cụ thể trong sự khởi sắc, phát triển, hoà bình,hạnh phúc không còn xa vời nữa mà dờng nh hiện ra ngay trớc mắt ngời đọc bằng
hàng loạt những hình ảnh cụ thể: hải cảng lắm tàu, mùa chiêm lắm thóc, lắm tiếng cời, lắm cánh bồ câu.
Ôi! t ơng lai nh hải cảng lắm tàu
Đây là kiểu cấu trúc so sánh (A nh B1, B2, B3, Bn) chỉ trong một dòng
thơ một câu thơ mà các hình ảnh so sánh đợc sử dụng dồn dập Hay có những đoạnthơ là cả một hệ thống hình ảnh do so sánh chùm tạo nên Cấu trúc so sánh chùmnày tạo cho vế đợc so sánh có thêm những phẩm chất phong phú, làm hoàn chỉnh về
đối tợng, và làm cho hình ảnh về đối tợng trở nên sâu sắc đậm nét hơn Hơn nữa cấutrúc so sánh này còn gợi ra cái đa dạng, sinh động vốn có của cuộc đời, đồng thờinhững hình ảnh phong phú, liên tiếp xuất hiện trong cấu trúc bề thế cũng mang tầngnghĩa dày đặc Chính vì thế để lại ấn tợng, cảm xúc sâu đậm trong lòng độc giả do
sự tác động liên tục của các hình ảnh so sánh
Từ nối chỉ mức độ so sánh "nh " theo cấu trúc năng động thờng nằm nhiều
vị trí khác nhau và thờng ở trong câu Sự sắp đặt ở đầu (đầu dòng) kiểu nh [Bb / Aa] hay [Bb / A] có xuất hiện nhng nói chung là rất ít
Nh con sông dệt phù sa trong rừng vắngNhững ngày qua nào có mất gì đâu
(Nhật ký ngời chữa bệnh)
Với kiểu cấu trúc này, Chế Lan Viên đã mang lại cho hình ảnh, đối tợng so sánhmột sự khẳng định, nh một sự vật hiện nhiên giống với đối tợng, hình ảnh đợc sosánh không chỉ dừng lại ở mức độ bổ sung, làm rõ đối tợng đợc so sánh nữa Việc
đặt từ " nh " lên đầu câu (đầu dòng) có tác dụng nh một lời khẳng định, thông báo
Và nó tác động trực tiếp vào nhận thức cũng nh cảm xúc của ngời đọc
Nh ngọn hải đăng phải tự chớp, tự xoay mới biết mình đang chiếu sáng
Anh phải tự nâng kên đặt xuống mới nghe tiếng động cuả hồn anh
( Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ )
Để nhận ra và hiểu đợc tiếng lòng của mình phải nh ngọn hải đăng tự chớp, tự xoaymới biết mình đang chiếu sánh Dù có ý so sánh nh vậy, nhng tác giả không sử dụngcấu trúc [A a nh Bb] mà đa vế Bb với từ " nh " lên đầu dòng để thể hiện đợc mục
đích nghệ diễn đạt Đó là sự khẳng định hình ảnh đối tợng ấy một cách quyết đoán:phải nh thế mới hiểu đợc lòng mình
Chế Lan Viên có nhiều câu thơ có từ nối đứng đầu nhng đó chỉ là từ nối vớicâu thơ trên
Trang 30Nghĩ trang
Hạt thóc Nên vàng
Tuy nhiên dạng này ở Chế Lan Viên cũng ít hơn nhiều so với Tố Hữu(99/164) Với phong cách riêng, Tố Hữu thờng tạo ra câu thơ liền mạch, từ nối "nh
" sẽ gắn liền những câu thơ vắt dòng, tạo nên sự trôi chạy tự nhiên của mạch cảmxúc
Kiểu so sánh [A nh B] trong thơ Chế Lan Viên rất năng động, linh hoạt đầybiến hoá về mặt hình thức ở đây ông có khuynh hớng mở rộng cấu trúc cả hai vế
để tạo cho nó một hình ảnh mới, nhất là ở thể tự do Công thức chung là [A nh B ]nhng vế B thờng đợc mở rộng, b ở đây có thể là một vị ngữ kèm một tân ngữ, bổngữ hoặc hẳn một câu phức hợp và nhiều khi vế A cũng đợc mở rộng a có thể là vịngữ hay bổ ngữ
Anh cách em nh đất liền xa cách bể
A a B b Nửa đêm sâu nằm lặng sóng phơng em
(Chùm nhỏ thơ yêu)
Đời lớn lên rồi cổ quàng khăn đỏ
Xe nh ong bay mật đến công tr ờng
A B b
Ôi t ơng lai nh Hải Cảng lắm tàu
A B b Những con tàu chở đầy hạnh phúc
(Chim lợn trăm vòng)
Anh yêu bàn tay
A a Đong đ a nh suối
a B
(Thoi đa cối giã cuộc đời cần lao)
Việc mở rộng vế A và B tạo cho đối tợng đợc so sánh và đối tợng so sánhnhững phẩm chất mới mẻ và làm đối tợng trở nên cụ thể, mang đến cảm xúc sâu
đậm hơn Nh diễn tả trạng thái, cảm giác lạnh lẽo của tâm hồn thì tác giả so sánh
với "hồn " để làm cụ thể hoá, làm rõ hình ảnh này tác giả thêm định ngữ " u tối
Trang 31vạn yêu ma " Với hình ảnh so sánh đó ta không chỉ hiểu độ lạnh giá đến trơ lì mất
trạng thái, cảm giác của sức sống tâm hồn Mà còn cảm nhận đợc cái lạnh đến ghêngời của tâm hồn
Hay để phản ánh hiện thực cuộc sống khôi phục lại đất nớc tác giả lấy hình
ảnh "sao" so sánh với "thóc giống " nhng với sự liên tởng độc đáo ông chêm bên
cạnh cái đợc so sánh (A) một tính từ để mang đến cho nó một sức sống của hiện
thực "chín vàng " thành "sao chín vàng " để so sánh với "thóc giống " làm cho cảnh
đựơc mùa đợc nhân lên trải dài vô tận màu chín vàng
Đêm nay, sao chín vàng nh thóc giống
A a B
Phải đêm nay trời cũng đợc mùa
(Sao chiến thắng)
Bên cạnh mở rộng vế [A nh Bb], [A a nh B], thì còn có một dạng so sánh[A a nh Bb] tạo nên dáng vẻ mới cân đối, hài hoà trong cấu trúc câu thơ, làm chocâu thơ dễ hiểu
Rừng t ơi mát nh mẹ hiền lắm sữa
A a B b Nghìn chiến khu nơng bóng mẹ hiền
(Chim lợn trăm vòng)
Ai cũng biết rừng là trùng điệp bạt ngàn cây xanh, có nhiều đặc điểm, phẩm
chất nhng ở đây tác giả không nói một cách chung là rừng mà là " rừng tơi mát " làm tiêu chí so sánh với mẹ hiền nhng đây là " mẹ hiền lắm sữa " cụ thể hoá tính chất so sánh "Rừng" và "mẹ hiền" là hai đối tợng khác loại rất xa nhau nhng nhờ có nét tơng đồng "tơi mát" làm cơ sở nên phép so sánh Qua so sánh một cách dễ hiểu
này ta có thể rút ra từ câu thơ: sự nuôi dỡng che chở của núi rừng cho cuộc kháng
chiến ýđó cũng nằm trong sự so sánh sóng đôi: Nghìn chiến khu từng nơng bóng
mẹ hiền.
2.1.2 cấu trúc so sánh [A (hoá) thành B]
Kiểu cấu trúc [A (hoá) thành B] nh kiểu [A nh B] (chiếm 23,6% tổng số cáctrờng hợp so sánh), là kiểu so sánh tu từ rất sáng tạo ghi nhận một sự lao động nghệthuật có ý thức góp phần tạo nên đặc sắc nghệ thuật riêng cho phong cách Chế LanViên
Thực chất kiểu so sánh tu từ nay là một phơng thức so sánh tăng cấp, vận
động, biến hoá nội tại của các sự vật, hiện tợng để đa hiện tợng, sự vật đến sự vận
động trong quá trình nhận thức của ngời đọc
Lý thuyết chung về so sánh nghệ thuật truyền thống cha đề cập đến kiểu sosánh [A (hoá) thành B] Tuy nhiên cùng với Chế Lan Viên thì có nhiều nhà thơ hiện
đại đã thể nghiệm kiểu loại này nh Tố Hữu, Huy Cận, Xuân Diệu, Tế Hanh vànhiều nhà thơ trẻ đang sử dụng Nhng tất cả mới dừng lại ở mức độ sử dụng với tần
số thấp, nh Tố Hữu mạnh dạn hơn thì cũng chỉ dừng ở 13 lần sử dụng trên trên 180trờng hợp so sánh (chiếm 7%).Trong khi đi trong thơ Chế Lan Viên, chỉ riêng ở tậpthơ " ánh sáng và phù sa có 6 bài/ 22 bài sử dụng kiểu cấu trúc [A (hoá) thành B]
Có những bài sử dụng với tần số 3 đến 6 lợt trên một bài nh những tác phẩm: Cànhphong lan bể, Nhật ký ngời chữa bệnh ) Kiểu cấu trúc này về sau càng tăng và cónhiều phẩm chất mới
Trang 32Đây có thể xem là một hiện tợng sáng tạo độc đáo phù hợp với xu thế pháttriển của thơ ca hiện đại.
2.1.2 các kiểu cấu trúc so sánh [A (hoá) thành B]
Cũng nh kiểu so sánh [A nh B], Chế Lan Viên đã vận dụng biến hoá linhhoạt có hiệu quả kiểu so sánh này Xét về cấu tạo, có thể phân chia kiểu cấu trúcnày thành 2 nhóm và trong từng nhóm có những kiểu riêng
(Tiếng hát con tàu)
Còn nh ngời, ng ời đã hoá h ơng sen
A B
(Di chúc của ngời)
Nguyễn Du viết Kiều, đất n ớc hoá thành văn
(Ngời thay đổi đời tôi
Ngời thay đổi thơ tôi)
b Kiểu so sánh [A (hoá ) thành B, B ( hoá ) thành C n]
Anh Sông Hồng, Sông Mã
A
Trang 33Gầm reo trong đạn lửaBiến thân mình màu mỡ B
Thành cánh đồng nuôi dân C
B b (Chơi)
Cả hai miền vứt lá nguỵ trang hoá thành một Việt Nam thanh thiên bạch nhật
Trang 34(Ngày vĩ đại)
Máu thấm đất hôm nao hoá lửa
(Xuân 68 gửi Miền Nam tổ quốc)
2.1.2.2 Hiệu quả nghệ thuật của cấu trúc so sánh [A (hoá) thành B]
Nếu nh cấu trúc so sánh [A nh B] là sự đối chiếu qua B để hiểu rõ A, Ahiện lên cụ thể sinh động, toàn vẹn và đối tợng đợc so sánh vẫn là nó, vẫn tồn tại,không mất đi thì cấu trúc so sánh [A (hoá) thành B] bao hàm sự vận động, tăng cấp,biến hoá
Nếu A, B cùng là đối tợng ban đầu thì khi so sánh [A (hoá) thành], B đã làmột đối tợng hoàn chỉnh, mới mẻ
Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân Những kẻ quê mùa nay đã thành trí thức
A B Tăm tối cần lao nay hoá anh hùng
(Ngời đi tìm hình của nớc)
Lòng ta, cha bao giờ đi hết đợc
Đi hết lòng, tiếng khóc hoá lời ca
A B
(Nhật ký ngời chữa bệnh)
Thơ không thể cù lần Các chữ hoá thần
A B Các chữ thành thiêng
A B (Thơ thế kỷ 21)
Còn nếu A, B, là hai đối tợng khác loại thì về phẩm chất hai đối tợng có néttơng đồng
Quanh Hồ Gơm không ai bàn chuyện vua Lê Lòng ta thành rêu phong chuyện cũ
A B
(Ngời đi tìm hình của nớc)
Nếu núi là con trai thì bể lá phần yểu điểu nhất đã biến thành con gái
Trang 35Gỗ trăm cây đều muốn hoá lên trầm
A B
Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng
A B
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng)
ở đây ta có thể dùng phơng pháp thế để có đợc tiêu chí xác định kiểu so sánh này
Ta mặc cho ma tuôn và gió thổi Lòng ta thành con rối
Cho cuộc đời giật dây
(Ngời đi tìm hình của nớc)
ở câu " lòng ta thành con rối " chúng ta có thể thay bằng
Nh vậy các kiểu cấu trúc so sánh [A nh B], [A là B], là tĩnh tại, Còn [A (hoá) thànhB] là vận động biến đổi Việc sử dụng cấu trúc so sánh đa đến sự vận động, trongquá trình nhận thức của độc giả và việc xem xét, phân tích sự vật hiện tợng trongquá trình vận động biến chuyển là một trong nhng đặc trng nôỉ bật của t duy nghệthuật Chế Lan Viên - t duy biện chứng: a phân tích, a biện luận
Giặc đuổi xong rồi Trời xanh thành tiếng hát
A B
Điện theo trăng vào phòng ngủ của công nhânNhững kẻ quê mùa đã thành trí thức
A BTăm tối cần lao nay hoá anh hùng
A B
(Ngời đi tìm hình của nớc)
Câu thơ " Giặc đuổi xong rồi Trời xanh thành tiếng hát ", mở đầu cho một đoạn
thơ nói về biến đổi cách mạng của con ngời Trời xanh là hình ảnh thiên nhiên đẹp
về màu sắc, rộng lớn cao sâu về không gian Tiếng hát là âm thanh nghệ thuật Sựchuyển đổi cảm giác của nhìn ra nghe có cái gì đó thật tinh diệu
Cũng nh kiểu cấu trúc [A nh B] Chế Lan viên đã vận dụng biến hoá linhhoạt có hiệu quả ở các kiểu cấu trúc [A (hoá) thành B] Để làm cụ thể, đầy đủ, sinh
động, cho đối tợng so sánh và đợc so sánh tác giả đã mở rộng các vế đó ra bằng việcthêm từ, cụm từ, nh kiểu [A a nh Bb], [A nh Bb], [A a nh b]
Kẻ non gan cũng phải hoá anh hùng để mà diệt Mỹ
Trang 36A a Bb
(Ngày vĩ đại)
Những hình ảnh so sánh và đợc so sánh đợc xác định một cách cụ thể trong sự vận
động biến đổi "Kẻ" không chỉ một cách chung chung hay kẻ nào khác mà là "kẻnon gan " ở trong tình thế sống còn của dân tộc cũng phải hoá thành " anh hùng "đểdiệt Mỹ", một cách nói rất cụ thể
Hay ở câu thơ:
Khi ta muốn thơ ta thành hầm chông giết giặc
A a B b
(Ngời thay đổi đời tôi
Ngời thay đổi thơ tôi)
Một ớc muốn đợc cụ thể hoá ra bằng những hình ảnh cụ thể, sinh động.Thơ ở
đây không phải thơ ai khác mà chính là " thơ ta " những bài thơ đó phải trở thànhnhững "hầm chông " nhng không phải là để bẫy loài vật mà là vũ khí để giết giặc
Có khi biện pháp so sánh tu từ [A (hoá) thành B] đợc tác giả sử dụng dồn đậpliên tiếp trong một dòng thơ, một câu thơ, thậm chí trong một khổ thơ, đoạn thơ làmbiến động t duy nhận thức của ngời đọc từ cực này sang cực khác để diễn tả đầy đủ
sự vận động biến khôn cùng của sự đối tợng khi cha đạt đến kết quả Nên từ nối chỉmức độ so sánh đợc đặt ở nhiều vị trí khác nhau là tuỳ thuộc vào ý đồ, cấu trúc nghệthuật của tác giả Nhờ vậy ý tởng đem so sánh càng nổi bật với những nội hàm mới Bên cạnh đó việc sử dụng cấu trúc trong sự vận động biến đổi liên tục nh vậy càngkích thích trí tò mò của độc giả
Thêm một ngày cho rừng biến thành than
Cho lớp đất phù sa thành sữa lúa
A B Cho lá dâu non thành tơ lụa
Có khi sự vận động biến hoá ấy diễn ra liên tục trong sự tiếp chuyển, chuyểnhoá đợc thể hiện qua cấu trúc [A (hoá) thành B, B (hoá) thành C] làm ngời đọcthấy đợc sự tồn tại vĩnh viễn của các sự vật nằm trong sự chuyển biến đổi, chuyểnhoá từ vật này sang vật khác Sự vận động biến đổi không ngừng này nhằm phản
ánh quy luật tuần hoàn của cuộc sống
Ba mơi năm đủ cho ruộng biến thành chiến hào
AB Chiến hào thành v ờn cây trĩu quả
(Thơ bổ sung)
Trang 37T duy nghệ thuật Chế Lan Viên luôn có sự vận động, biến đổi không ngừng.Nét đặc trng của t duy nghệ thuật này là nhà thơ luôn quan sát, nhìn nhận và phântích các sự vật hiện tợng ở trạng thái động, mặt khuất của nó để tìm ra cái bản cháttiềm ẩn bên trong Kiểu so sánh nghệ thuật sáng tạo [A (hoá) thành B] là một dẫnchứng góp phần chứng minh cho nhận định đó.
2.1.3 Kiểu cấu trúc so sánh [A là B]
So với kiểu cấu trúc [A nh B] và [A (hoá) thành B], thì kiểu cấu trúc [A làB] xuất hiện trong thơ Chế Lan Viên với tần số ít hơn (chiếm 15.6 %tổng số các tr-ờng hợp so sánh) Đây là kiểu so sánh thể hiện sự tìm tòi và vận dụng phù hợp vớiphong cách nhà thơ Kiểu cấu trúc [A là B] có tính "công thức" này mang tínhlôgích làm cho so sánh thêm rõ ràng, mạnh mẽ, giàu chất biện luận So với các kiểu
so sánh khác, so sánh [A là B] có tính chất khẳng định hơn Mặc dù nó cũng có hìnhthức y hệt kiểu câu tờng giải, nhng nó lại mang ý nghĩa khác hẳn Để phân biệt,chúng ta có thể dùng từ "nh" kết hợp với " là " thành "nh là " thay vào từ "là" Nếuchỉ đổi sắc thái khẳng định và giả định mà ý nghĩ cơ bản không thay đổi thì đóchính là so sánh có tính nghệ thuật
b Kiểu so sánh [A là B1, B2, Bn] ( B1, B2, Bn trên các dòngthơ)
c Kiểu so sánh [A1là B1, A2 là B2, An là Bn] ( A1, B1, A2, B2, An Bn trên một dòng thơ )
d Kiểu so sánh [A1 là B1, A2 là B2, An là Bn] ( A1, B1,A2,B2 An, Bn trên các dòng thơ )
(Tiếng hát con tàu)
Miền Nam ơi, quê h ơng ta là ngọc
Quân thù về! Vỡ ngọc quê ta