Dường như ở bài viết nào, khi đềcập đến phương thức thể hiện của ca dao trong đó có ca dao tình yêu, các tác giảcũng đề cập ít nhiều đến phương thức so sánh tu từ.. Trong khóaluận này, đ
Trang 1trêng §¹i häc Vinh
- -LỜI NÓI ĐẦU
Em xem việc được thực hiện luận văn này là dịp quan trọng để tậpdượt và mang tính định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo của bản thân
Trang 2Vì thời gian eo hẹp, hơn nữa khả năng lại có hạn, cho nên việc nghiêncứu khoa học chắc chắn còn có những thiếu sót Do đó em mong được sự góp ý
và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo để nếu có dịp trở lại em sẽ làm tốt côngviệc của mình hơn
Luận văn này được hoàn thành, ngoài sự nổ lực cố gắng của bản thân,
em còn được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và các bạn, đặc biệt là sựhướng dẫn tận tình của thầy giáo Hoàng Trọng Canh
Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với thầy giáohướng dẫn, thầy giáo phản biện và xin gửi đến các thầy cô giáo trong tổ bộ mônngôn ngữ cũng như trong khoa và các bạn lời cảm ơn chân thành nhất
Trang 3TRANG
1 Lí do chọn đề tài 4
2 Đối tượng, mục đích nghiên cứu 5
3 Lịch sử vấn đề 6
4 Phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG I MỘT SỐ GIỚI THUYẾT CHUNG I Ca dao người Việt 9
1 Khái niệm về ca dao 9
2 Ca dao tình yêu 10
3 Phân biệt ca dao với tục ngữ 12
II Phương thức so sánh 14
1 Khái niệm so sánh tu từ 14
2 Phân biệt so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ 15
3 Phân biệt so sánh tu từ và so sánh lôgíc 16
4 So sánh trong ca dao của người Việt 17
CHƯƠNG II PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TU TỪ TRONG CA DAO TÌNH YÊU I Kết quả thống kê 19
II Các kiểu so sánh trong ca dao tình yêu 20
1 Kiểu cấu trúc so sánh [A như B] 20
2 Kiểu cấu trúc so sánh [A là B] 29
3 Kiểu cấu trúc so sánh [A (hóa) thành B] 34
4 Kiểu cấu trúc so sánh [A hơn / thua B] 36
5 Kiểu cấu trúc so sánh [A khác gì B] 36
Trang 46 Kiểu cấu trúc so sánh [A bao nhiêu / B bấy nhiêu] 37
7 Kiếu cấu trúc so sánh [A/B] 38
III Cấu trúc so sánh tu từ trong ca dao tình yêu 38
1 So sánh trong ca dao tình yêu đươc triển khai một cách đa dạng 38
2 Cái so sánh - vật mẫu ví là những cái cụ thể để thể hiện cái đươc 44
so sánh là những cái trừu tượng 3 Quan hệ giữa cái so sánh và cái được so sánh 45
CHƯƠNG III GIÁ TRỊ CỦA PHƯƠNG THỨC SO SÁNH TU TỪ TRONG CA DAO TÌNH YÊU I Giá trị nhận thức 47
1 Nhận thức về con người 47
2 Nhận thức về tình yêu 57
II Giá trị biểu cảm 68
III Giá trị thẩm mĩ 68
1 Thế giới vật thể nhân tạo 68
2 Thế giới động vật 72
3 Thế giới thực vật 73
4 Thế giới tự nhiên 76
5 Hình ảnh con người 77
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
MỞ ĐẦU
Trang 5I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1 Ca dao là thơ ca dân gian truyền miệng, từ xưa đến nay luôn tác
động mạnh mẽ đến nhận thức và tình cảm thẩm mĩ đối với người đọc, ngườinghe Sức mạnh ấy không chỉ nhờ sự biểu hiện cô đọng, súc tích, giàu hìnhtượng nhưng bình dị và biểu cảm như ngôn ngữ thơ mà còn ở những ẩn số kỳdiệu của ngôn ngữ ca dao Trong mỗi câu ca dao, đặc biệt là ca dao tình yêu,qua nhân vật trữ tình, chúng ta đều có thể rung động trước những điều mới mẻsâu kín trong tâm trạng, tâm hồn của nhân dân lao động Tiếp xúc với ca daotình yêu, hiểu ca dao tình yêu, mỗi chúng ta đều có thể tìm thấy một phần củamình trong những lời ca như thế
Tuy nhiên, ca dao tình yêu cũng là một hiện tượng đầy phức tạp (cả nộidung lẫn nghệ thuật) Để hiểu được ca dao một cách sâu sắc không phải là dễ,bởi nội dung phản ánh mà ca dao tình yêu chuyển tải không đơn giản một chútnào, nó rất phong phú và đa dạng, là sản phẩm được gọt giũa qua thời gian Tìmhiểu ca dao nói chung, phương thức so sánh tu từ trong ca dao tình yêu nói riêngluôn luôn là vấn đề không cũ, là dịp hiểu sâu hơn nội dung và nghệ thuật, hiệuquả thẫm mỹ của ca dao tình yêu nói riêng và ca dao người Việt nói chung
2 So sánh tu từ là một biện pháp nghệ thuật vô cùng quan trọng và cóhiệu quả, trở thành thói quen ngữ văn của người Việt, giúp tác giả dân gian xâydựng nên những hình tượng nghệ thuật đẹp, vừa có giá trị nhận thức, vừa có giátrị biểu cảm và thẩm mỹ cao
Khảo sát phương thức so sánh trong ca dao tình yêu góp phần nhậndiện, tìm hiểu ý nghĩa, giá trị của phương thức so sánh mà tác giả dân gian sửdụng Đề tài này góp phần làm rõ: Nghệ thật so sánh chính là một công cụ giúpngười đọc nhận thức, hiểu biết và khám phá được thế giới tình yêu phong phúcủa con người
Trang 63 Lâu nay, ca dao nói chung, ca dao tình yêu nói riêng đã được nghiêncứu nhiều từ nhiều cách tiếp cận khác nhau Dường như ở bài viết nào, khi đềcập đến phương thức thể hiện của ca dao trong đó có ca dao tình yêu, các tác giảcũng đề cập ít nhiều đến phương thức so sánh tu từ Nhưng với tính chất là mộtđối tượng khảo sát độc lập thì vấn đề: Phương thức so sánh tu từ trong ca daotình yêu vẫn còn là vấn đề chưa được khảo sát, nghiên cứu toàn bộ hệ thống
4 Trong chương trình Văn - Tiếng Việt ở trường phổ thông, ca daođược đưa vào dạy học với một khối lượng không nhỏ, trong đó có nhiều bài cadao tình yêu Vì vậy, việc đi sâu tìm hiểu các phương thức so sánh tu từ và giátrị của nó trong ca dao là việc làm bổ ích, thiết thực không chỉ ở phương diện lýthuyết mà cả trong thực tế giảng dạy Văn và Tiếng Việt
II ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
1 Đối tượng:
Với những công trình sưu tập nghiên cứu về ca dao đã được công bố,
có thể khẳng định rằng, ca dao Việt Nam rất phong phú và đa dạng Trong khóaluận này, đối tượng mà chúng tôi khảo sát là các phương thức so sánh tu từ được
sử dụng trong ca dao tình yêu Những bài ca dao mà đề tài khảo sát đã được sưutập, in trong cuốn “ Kho tàng ca dao người Việt” (do Nguyễn Xuân Kính – PhanĐăng Nhật (chủ biên) cùng Phan Đăng Tài - Nguyễn Thúy Loan – Đặng DiệuTrang biên soạn, NXB Văn hóa thông tin, HN, 1995 )
2 Mục đích nghiên cứu:
Thông qua đề tài này, luận văn hướng tới các mục đích sau:
- Thống kê các phương thức so sánh tu từ được sử dụng trong ca daotình yêu của người Việt
- Miêu tả, phân loại các kiểu so sánh đã thống kê được
- Phân tích cấu trúc của so sánh tu từ trong ca dao nhìn từ góc độ hoạtđộng hành chức
Trang 7- Chỉ ra giá trị của phương thức so sánh trong ca dao tình yêu người Việt
III LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao, trong đóphải kể đến ba công trình nghiên cứu có quy mô lớn Đó là “Thi pháp ca dao”,của Nguyễn Xuân Kính, (Viện văn hóa dân gian, NXB Khoa học xã hội,HN,1992), “Bình giảng ca dao” của Hoàng Tiến Tựu (NXB Giáo dục, HN,1992)
và “Các thể loại trữ tình dân gian” của Lê Chí Quế (Văn học dân gian Việt Nam,NXB Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, HN,1990) Trong các công trình trên,liên quan trực tiếp đến ca dao tình yêu đáng chú ý là công trình nghiên cứu củaPTS Nguyễn Xuân Kính, ngoài ra không thể không nhắc đến công trình “Bìnhgiảng ca dao” của PGS Hoàng Tiến Tựu
Ở “Bình giảng ca dao”, PGS Hoàng Tiến Tựu đã khảo sát từng bài cadao trữ tình cụ thể, trong đó có một bộ phận là ca dao tình yêu Theo PGSHoàng Tiến Tựu, bộ phận lớn nhất, hay nhất, tiêu biểu nhất của ca dao truyềnthống là ca dao đối đáp nam nữ Tác giả nhấn mạnh tính phong phú, đa dạng,
sự sôi nổi, tình tứ… mang màu sắc mới lạ của bộ phận ca dao đối đáp này
Trong “Thi pháp ca dao”, Nguyễn Xuân Kính đã khảo sát tổng thểnhững đặc trưng thi pháp của ca dao như vấn đề thời gian, không gian nghệthuật, vấn đề dị bản, vấn đề ngôn ngữ…
Ngoài những công trình nghiên cứu trên, đến nay đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về ca dao trữ tình nói chung và các tiểu loại nói riêng, trong đó có cadao tình yêu nam nữ
Với “Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam” [17,247] trong phần “Tình yêunam nữ”, ông Vũ Ngọc Phan đã giới thiệu khá chung về tình yêu của các namthanh nữ tú xưa qua các làn điệu dân ca Chẳng hạn ông khẳng định vị trí, vaitrò quan trọng của tình yêu, tiền đề của hạnh phúc gia đình, xác định nguồn gốcnảy sinh tình yêu trai gái, khẳng định tính chất đấu tranh giai cấp và chủ nghĩa
Trang 8nhân đạo biểu lộ trong lời ca tiếng hát về tình yêu, nhất là khi tình yêu bị ngăncấm
Bài viết của Trần Quang Nhật [16,38] đã đề cập đến vấn đề tình yêutrong ca dao, đó là những câu ca dao đẹp nhất Tác giả viết: “ Nói chung tìnhyêu trong ca dao Việt Nam là tình yêu lành mạnh, chúng ta phân biệt được cáilành mạnh với cái xấu xa, cái chân chính với cái giả dối trong cuộc sống” Tácgiả còn khẳng định: “ Ca dao tình yêu là giáo dục tư tưởng, tình cảm cho họcsinh, quan hệ chặt chẽ giữa hạnh phúc lứa đôi với lao động sản xuất và đấu tranh
xã hội, từ đó mà biết quý trọng nhân dân lao động hơn”
Đặng Văn Lung nghiên cứu về một khía cạnh nghệ thuật biểu hiện của
ca dao trữ tình, trong bài “Những yếu tố trùng lặp trong ca dao trữ tình” tác giảchỉ rõ sự trùng lặp về hình ảnh, kết cấu, ngôn ngữ được sử dụng trong các bài cadao, xem đây là những đặc điểm của thi pháp [14,66,67]
Ngoài ra, còn có một số công trình khác của các nhà nghiên cứu, cácnhà giáo và của các sinh viên cũng ít nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp đề cập đếnvấn đề mà đề tài đặt ra tại ĐH Vinh, có thể kể đến các luận văn:
-“Yếu tố thời gian trong ca dao tình yêu đôi lứa” (Hồ Thị Bảy,ĐHSPV, 1998)
-“Một số phương tiện tu từ và biện pháp tu từ trong ca dao tình yêu đôilứa xứ Nghệ” (Nguyễn Văn Liên, ĐHSPV, 1999)
-“Đặc điểm ngôn ngữ phần mở đầu trong ca dao trữ tình Việt Nam”.(Võ Hữu Vân, ĐHSPV, 2002)
Qua các công trình nghiên cứu điểm trên, chúng ta thấy rằng, nghiêncứu ca dao ở góc độ ngôn ngữ không phải là một vấn đề mới Tuy nhiên vấn đềnghiên cứu phương thức so sánh trong ca dao tình yêu đang còn rất nhiềukhoảng trống cho những ai muốn quan tâm Và chính gợi ý của những tác giả đi
Trang 9trước là định hướng cho chúng tôi đi vào nghiên cứu “ Phương thức so sánhtrong ca dao tình yêu ”
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện khóa luận này, chúng tôi vận dụngmột số phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê, phân loại
Trang 10CHƯƠNG I
MỘT SỐ GIỚI THUYẾT CHUNG
I CA DAO NGƯỜI VIỆT
1 Khái niệm về ca dao
Từ trước đến nay, khái niệm về ca dao được rất nhiều nhà nghiên cứubàn đến trong nhiều công trình, bài viết khoa học nhưng cho đến nay vẫn chưa
có được sự thống nhất trong quan niệm Thời trước, ca dao còn được gọi là
phong dao vì có những bài ca dao phản ánh phong tục của mỗi địa phương, mỗi
thời đại Nhưng dần dần tên gọi phong dao ít được sử dụng, nhường chỗ cho từ
Tác giả Vũ Ngọc Phan định nghĩa “Ca dao là một loại thơ dân gian cóthể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca”.Định nghĩa này đã xem ca dao là một thuật ngữ chỉ một thể thơ dân gian Ôngcho rằng: “Nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao là ở chỗđược hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nhất định, haynhững địa phương nhất định Dân ca thường mang tính chất địa phương, không
Trang 11như ca dao là những bài ít có địa phương tính, dù nội dung ca dao có nói về mộtđịa phương nào thì chúng vẫn được phổ biến rộng rãi” [17,43]
Tác giả Nguyễn Xuân Kính cho rằng: “Ca dao được hình thành từ dân
ca Khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến lời ca Khi nói đến dân ca,người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát nhất định Như vậy, không
có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó (như háttrống quân, hát quan họ …) cứ tước bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi thì sễđều là ca dao” Chính vì vậy mà ông định nghĩa: “Ca dao là những sáng tác vănchương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang nhữngđặc điểm nhất định và bền vững về phong cách” [8,79]
Theo “Bách khoa tri thức phổ thông” (NXB Văn hóa thông tin, 2000,
Tr 1191) thì ca dao là những bài thơ trữ tình dân gian truyền khẩu được phổbiến rộng rãi, lưu truyền qua nhiều thế hệ Hiện nay, từ ca dao có ba cách hiểu:
a Ca dao là những bài hát dân ca hay – là dân ca (cả phần lời và điệu)
b Chỉ có phần lời bài hát
c Những lời hay nhất
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau và mỗi cách hiểu cho thấy một cáchnhìn riêng, nhưng ở đây chúng tôi không bàn về khái niệm ca dao mà chỉ điểmqua các ý kiến như trên để đi đến thống nhất theo một quan niệm nhất định đểlàm cơ sở khảo sát Chúng tôi đã áp dụng định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán
- Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi: “Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộnhững bài hát lưu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu”(trong trường hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca) [6,22]
2 Ca dao tình yêu:
Nhìn vào các tập ca dao đã sưu tầm xuất bản ở trung ương cũng như địaphương, trên cả ba miền Bắc – Trung – Nam của đất nước, chúng ta đều thấy cómột hiện tượng chung đáng lưu ý là ở đâu ca dao tình yêu cũng chiếm tỷ lệ lớn
Trang 12nhất về mặt số lượng và nhiều bài hay nhất về mặt chất lượng Có người giảithích do nguyên nhân đề tài cho rằng: Tình yêu là đề tài phổ biến trường cửu, cónhiều người ở nhiều thời kỳ khác nhau cũng tham gia sáng tác lưu truyền, từ đó
mà tích lũy lại thành số lượng lớn Thực ra nguyên nhân chủ yếu và quan trọngkhông phải là như vậy Ca dao tình yêu cũng là một sản phẩm của lịch sử nhưmọi thể loại văn học dân gian khác Nó nảy sinh sớm do nhu cầu thổ lộ tình cảmyêu đương của nam nữ thanh niên trong nhân dân và có thể phát triển mạnhtrong một thời kỳ lịch sử nhất định chứ không thể phát triển đều đều kéo dàitrong mọi thời kỳ lịch sử của xã hội được
Ca dao trữ tình là một bộ phận quan trọng bậc nhất nên có số lượng rấtlớn và nghệ thuật đặc sắc Nó là phần cốt lõi của các loại dân ca trữ tình (nhưhát quan họ, hát ví, hát cò lả…) Ca dao trữ tình nói chung đều nhằm phô diễntâm tư, tình cảm, thế giới nội tâm của con người, phản ánh thái độ và cảm xúcthẩm mỹ của con người đối với nhau cũng như các hiện tượng trong tự nhiên và
xã hội Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ là bộ phận lớn nhất trong ca dao tìnhyêu người Việt và là tiếng nói trái tim của nam nữ thanh niên ở nông thôn thuộcnhiều thời kỳ lịch sử khác nhau nhưng chủ yếu là thời kỳ xã hội phong kiến.Thể hiện tính cách, tình cảm của con người rõ rệt và đầy đủ là bộ phận ca daonói về tình yêu nam nữ
Tiếp xúc với ca dao tình yêu đôi lứa, chúng ta thấy xuất hiện hai nhânvật trữ tình chủ yếu, đó là “chàng trai” và “cô gái” Họ bộc lộ tình cảm củamình, tâm tư của mình, thế giới nội tâm của mình và cảm xúc thẩm mỹ của mìnhtrong tác phẩm thơ ca
Chính vì vậy một nhà nghiên cứu đã từng nói: “Toàn bộ ca dao tình yêugiống như một vở kịch thơ dài với trăm hồi ngàn cảnh khác nhau Trong đó hainhân vật chính “chàng trai”, “cô gái”, thường xuyên có mặt và trò chuyện vớinhau suốt mọi hồi, mọi cảnh Cuộc trò chuyện của họ diễn ra ở nhiều nơi, nhiều
Trang 13lúc Khi thì bên khung cửi, cối gạo đêm trăng, khi thì trên ruộng gặt… nóichung là khung cảnh nông thôn, gần gũi với thiên nhiên, có nhiều kỷ niệm, nhiều
âm thanh và màu sắc thân thuộc nên thơ
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng
- Đan sàng thiếp cũng xin vâng
Tre vừa đủ lá, non chăng hỡi chàng”
Cả chàng trai và cô gái đều là nhân vật trữ tình chủ yếu trong ca daotình yêu đôi lứa Đó là những chàng trai rất đáng yêu trong tuổi mười tám, đôimươi Đó là những cô gái dịu dàng, đằm thắm Họ hiện lên rất nhiều trongnhững bài ca dao tỏ tình Họ đang tươi trẻ, đầy sức sống, tình yêu nảy nở đãchắp cánh thêm cho tâm hồn họ
Đọc ca dao tình yêu, chúng ta hiểu những lời ướm hỏi, những lời nhớnhung, trách móc, những nỗi niềm tủi nhục… Chúng ta thấy, các nhân vật trữtình dù ở cung bậc nào của tình yêu: nhớ thương, buồn, vui, chờ trông, tươngtư… cũng luôn thể hiện được nỗi lòng mình một cách sâu sắc và tế nhị Tuy ởkhung cảnh nào đi nữa thì chúng ta vẫn cảm nhận được các chàng trai – cô gáinông thôn Việt Nam với tấm lòng “trong sáng vô ngần”
Ở luận văn này, chúng tôi tìm hiểu “Phương thức so sánh tu từ trong cadao tình yêu” là dựa vào bảng tra cứu ca dao theo chủ đề của Nguyễn Xuân Kính
và Nguyễn Thúy Loan biên soạn, NXB Văn hóa thông tin, 1995 Chúng tôi tracứu theo chủ đề “quan hệ nam nữ” với bốn tiểu mục: Những lời phản ánh tâmtrạng tình cảm chung cho cả nam và nữ + Những lời thể hiện tình cảm của nữ +Những lời diễn đạt tình cảm của nam + Những lời nam nữ đối đáp Trong từngtiểu mục, chúng tôi đều khảo sát phương thức so sánh tu từ nằm trong hai loạitình huống (- ) và tình huống (+)
Trang 14Ở tình huống (+) : tập hợp các đơn vị ca dao phản ánh tình cảm thắmthiết, tình cảm trong hoàn cảnh thuận lợi may mắn hoặc ít nhất cũng chưa có dấuhiệu trắc trở, tan vỡ
Ở tình huống (- ): tập hợp những lời ca dao mang cảm xúc nảy sinhtrong tình huống rủi ro, ngang trái hoặc trong điều kiện tình yêu không thành
3 Phân biệt ca dao với tục ngữ:
Khi phân biệt ca dao với tục ngữ, Hoàng Tiến Tựu đã nêu ra nhữngđiểm sau đây:
- Về phương thức diễn xướng: Ca dao dùng để ngâm còn tục ngữ dùng
để nói
- Về cấu trúc: Tục ngữ thường ngắn, ca dao thường dài
Tục ngữ thường ngắn hơn ca dao và ngắn đến mức có thể chỉ có mộtdòng câu với ba âm tiết, trong khi một lời ca dao ngắn nhất cũng phải hai dòngcâu trở lên
Ví dụ 1: Tham thì thâm
(Tục ngữ )
Ví dụ 2: - Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên vắng ngắt như chùa bà đanh
- Anh chờ em như liễu chờ đào
Em còn mơ tưởng cây cao bóng dài
( Ca dao )
- Về chức năng: Ca dao nhằm phô diễn tình cảm còn tục ngữ nhằm triết
lý xã hội, nhằm đúc kết những hiện tượng tự nhiên
Để phân biệt ca dao và tục ngữ được rõ ràng hơn thì chúng ta cần tìm rachức năng cơ bản của từng đơn vị
Trang 15+ Nếu câu nào chứa nội dung thiên về triết lý, khuyên răn, nêu lênnhững hiện tượng phổ biến mang tính khái quát, qui luật trội hơn thì đó là tụcngữ Ví dụ:
- Chuồn chuồn bay thấp thì mưa
Bay cao thì nắng bay vừa thì râm
- Nuôi lợn thì phải vớt bèo
Lấy chồng thì phải nộp cheo cho làng
Còn những câu không đơn thuần nhằm vào những nội dung khuyên rănhay nêu lên những hiện tượng mang tính qui luật mà chủ yếu những nội dung đólàm điểm tựa cho cảm xúc thì đó là ca dao Ví dụ:
- Dao vàng cắt ruột máu rơi
Ruột dau chưa mấy bằng lời em than
- Dù ai nói đông nói tây
Thì ta vẫn vững như cây trên rừng
- Tuy nhiên, giữa tục ngữ và ca dao vẫn có sự giao thoa Ví dụ nhữngcâu sau đây đều có nội dung gần giống nhau nhưng phương thức tác động lạikhông hoàn toàn giống nhau khiến nó thuộc về những thể loại khác nhau:
Ví dụ 1: Có công mài sắt có ngày nên kim
Ví dụ 2: Trăm năm ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm sắt mài nên kim
Chúng ta thấy ví dụ 1 là tục ngữ vì đơn thuần nó nhằm đúc rút một kinhnghiệm, còn ở ví dụ 2, cái kinh nghiệm kiên trì “sắt mài nên kim” được tác giảdân gian bổ sung thêm một hoạt động “chỉ thêu nên gấm” để thể hiện đầy đủ hơnmột tình yêu chung thủy sắt son mà nồng cháy mãnh liệt
Như vậy, sự phân biệt ca dao và tục ngữ phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể
mà câu được sử dụng cho nên chúng ta không thể không tính đến hiện tượnggiao thoa giữa hai thể loại này
Trang 16II PHƯƠNG THỨC SO SÁNH:
1 Khái niệm so sánh tu từ:
Như chúng ta đã biết, so sánh tu từ là một phương tiện tu từ nằm trongnhóm các phương tiện tu từ ngữ nghĩa, nó được sử dụng một cách phổ biến và làmột trong những yếu tố làm nên điều kỳ diệu của ngôn ngữ
Từ trước đến nay, khái niệm so sánh tu từ được các nhà phong cách học
đề cập đến với nhiều định nghĩa và tên gọi khác nhau
- Nhóm tác giả Võ Bình, Lê Anh Hiền, Cù Đình Tú, Nguyễn Thái Hòa
đã lưu ý đến tính hình tượng của so sánh tu từ Họ định nghĩa: “So sánh tu từ (sosánh hình ảnh) là sự đối chiếu hai đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấynhằm một cách hình tượng đặc điểm của một trong hai đối tượng đó” [2,45]
- Còn tác giả Đinh Trọng Lạc khi bàn về so sánh tu từ đã lưu ý đến việcthể hiện lối tri giác mới mẻ về đối tượng thông qua hình ảnh nào đó Theo ông:
“(So sánh tu từ), so sánh hình ảnh là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đóngười ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồngnhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tảbằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng” [11,194]
- Một tác giả khác, ông Nguyễn Thái Hòa đã đưa ra định nghĩa: “ Sosánh tu từ là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vậtkhác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hoàn cảnh
cụ thể, những cảm xúc thẫm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe”(Phong cách học TV, NXB Giáo dục, H, 1995, Tr 198)
Với ý kiến này, tác giả đã cho rằng: tính cụ thể của hình ảnh, tính cảmxúc thẩm mỹ là hai yếu tố chủ yếu của so sánh tu từ
- Tuy có nhiều cách định nghĩa và các tên gọi khác nhau (so sánh tu từ,
so sánh hình ảnh, so sánh nghệ thuật) nhưng tất cả đều thống nhất một điểm
Trang 17chung: So sánh tu từ là phương tiện đem hai hay nhiều đối tượng khác loại códấu hiệu chung ra đối chiếu, so sánh nhằm một mục đích nào đó
- Theo chúng tôi nghĩ: So sánh tu từ là sự đối chiếu hai hay nhiều đốitượng khác loại có dấu hiệu tương đồng nào đó nhằm làm nổi bật đặc điểm,thuộc tính của đối tượng kia
2 Phân biệt so sánh tu từ và ẩn dụ tu từ:
So sánh tu từ là biện pháp đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loạitrong thực tế khách quan, không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nétgiống nhau nào đó nhằm đưa đến một nhận thức mới hay một cảm xúc thẩm mỹ
về đối tượng
Ví dụ: Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau
Miệng cười như thể hoa ngâu
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen
“ Ngà, dao cau, hoa sen, hoa ngâu” là yếu tố chuẩn để so sánh Đem “
cổ tay” so với “ngà”, “con mắt” so với “dao cau”… để ca ngợi vẻ đẹp hoàn mỹcủa cô gái Vẻ đẹp của em như thu hết tất cả tinh túy của đất trời (màu trắngngà, sự sắc lẹm của dau cau, vẻ xinh xắn, tươi tắn của hoa ngâu và đầy sức sốngcủa hoa sen)
So sánh tu từ có chức năng diễn đạt trực tiếp tư tưởng, tình cảm, cụ thểhóa những cái trừu tượng bằng hình ảnh
- Còn ẩn dụ tu từ là sự so sánh ngầm (so sánh gián tiếp) dựa trên sự liêntưởng Muốn hiểu ẩn dụ phải hiểu nghĩa bóng (nghĩa suy ra, nghĩa chuyển) của
vế B
Ví dụ: Giá đành trong nguyệt trên mây
Hoa sao hoa khéo đọa đầy bấy hoa
(Truyện Kiều )
Trang 18Hoa ( B ) mang ý nghĩa ẩn dụ, chỉ người phụ nữ có nhan sắc (A)
Ẩn dụ tu từ có chức năng diễn đạt một cách kín đáo, tế nhị tư tưởng,tình cảm người sử dụng Theo các nhà nghiên cứu: Ẩn dụ tu từ là bước pháttriển của so sánh tu từ từ, hình thái so sánh trực tiếp qua hình thức so sánh giántiếp Ẩn dụ tu từ và so sánh tu từ có mối quan hệ gần gũi với nhau
3 Phân biệt so sánh tu từ và so sánh logic:
Khi nói đến so sánh tu từ thì chúng ta hiểu rằng, hai đối tượng đem ra sosánh, đối chiếu phải khác loại còn so sánh lôgíc là so sánh cùng loại
Ví dụ 1: Hoa cũng gầy như Mai
Ví dụ 2: Hoa gầy như que củi
Ở ví dụ 1, vế A và vế B (biểu hiện ở yếu tố được so sánh và yếu tốchuẩn so sánh) thuộc cùng một loại, cùng bản chất “gầy ”, vế B được hiểu theonghĩa đen Nó thuộc so sánh logic (so sánh chính xác)
Còn ở ví dụ 2, sự xuất hiện hình ảnh “hoa” được so sánh với “que củi”
là sự so sánh khác loại, khác bản chất Dụng ý nghệ thuật ở đây là làm nổi bật
sự nhỏ bé, gầy yếu của Hoa Vế B được hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa hình ảnh.Đây chính là so sánh tu từ
- Ở so sánh lôgíc, vế A và vế B đề cập đến hai sự vật khác nhau nhưngcùng loại (A khác B) Vị ngữ giúp nhận dạng chủ ngữ trong mệnh đề (nêu mốiquan hệ) Có sự so sánh là dựa trên những nét giống nhau, hay gần giống nhaugiữa hai đối tượng đem so sánh So sánh lôgíc có tính chất chính xác
- Còn ở so sánh tu từ, vế B dùng để đề cập đến một nét đặc tính của vế
A (B là thuộc tính của A), giúp miêu tả chủ ngữ (nêu tính chất) Sự so sánh chỉdựa vào một nét giống nhau nào đó của hai đối tượng khác loại đem so sánh Sosánh tu từ có tính chất nghệ thuật và biểu cảm
4 So sánh trong ca dao của người Việt:
a So sánh trong ca dao:
Trang 19Ngôn ngữ là phương tiện để truyền tải nội dung Khi sử dụng ngônngữ, các tác giả dân gian đã không dừng lại ở ngôn ngữ đơn thuần mà còn sửdụng rất nhiều phương thức tu từ khác
Tu từ là cách thức mà các tác giả dân gian sử dụng các phương thức tu
từ như: nhân hóa, ẩn dụ, so sánh, thậm xưng… nhằm diễn tả ý tứ nào đó hoặcdiễn tả cảm xúc chủ quan của nhân vật trữ tình Trong ca dao tình yêu đôi lứa,các tác giả đã rất thành công khi sử dụng các phương thức tu từ để diễn tả tâmtrạng, nỗi lòng của nhân vật trữ tình trong tình yêu Đặc biệt, với phương thức
so sánh tu từ, tác giả dân gian đã thể hiện đựoc tình yêu trong sáng, thủy chung
mà nồng cháy mãnh liệt
Nghệ thuật so sánh là một trong những phương thức hữu hiệu giúpchúng ta có thể nhận thức, hiểu biết và khám phá được thế giới tâm hồn, thế giớitình yêu phong phú của con người Thông qua so sánh, những trạng thái tìnhcảm tinh tế, phức tạp, nồng nàn, mãnh liệt nhất trong tình yêu được thể hiệnbằng những hình ảnh sinh động, truyền cảm và giàu tính tạo hình
Nhờ so sánh tu từ, ca dao dao tình yêu đã thể hiện được vẻ đẹp tâm hồnngời sáng của các nhân vật trữ tình và một tình yêu chung thủy không vì giàusang phú quí
Đôi ta như thể con tằm
Cùng ăn một lá, cùng nằm một nong
Tác giả dân gian đã ví đôi trai gái trong tình yêu gắn bó khăng khít luôn
ở bên nhau như con tằm cùng ăn môt lá, nằm cùng một nong, quyết không rời
xa
Trong ca dao, lời tỏ tình thật phong phú Nghệ thuật so sánh đã gópmột phần không nhỏ thể hiện tình cảm thầm kín mãnh liệt này
Miệng em cưòi như cánh hoa nhài
Như nụ hoa quế, như tai hoa hồng
Trang 20Bài ca dao trên là một lối so sánh rất độc đáo Chàng trai đã nịnh một cáchrất khéo léo, rất tế nhị khi lấy từng sự vật cụ thể : “cánh hoa nhài ”, “nụ hoaquế”, “tai hoa hồng” để so sánh với vẻ đẹp tuyệt vời của cô gái
b So sánh trong ca dao tình yêu:
Nội dung phản ánh của ca dao trữ tình nói chung và ca dao tình yêu nóiriêng là tâm trạng của nhân dân lao động được thể hiện qua những nhân vật trữtình Nghệ thuật so sánh là một trong những phương thức hữu hiệu giúp chúng
ta có thể nhân thức, hiểu biết và khám phá được thế giới tâm hồn, thế giới tìnhyêu phong phú của con người
Thông qua so sánh, những trạng thái tình cảm tinh tế, phức tạp, nồngnàn mãnh liệt nhất của tình yêu được thể hiện bằng những hình ảnh sinh độngtruyền cảm và giàu tính tạo hình Nhờ so sánh tu từ, ca dao tình yêu đã thể hiệnđược vẻ đẹp tâm hồn ngời sáng của các nhân vật trữ tình
từ và có 1681 lần tác giả dân gian đã sử dụng so sánh tu từ Nếu tính phần trămthì số bài ca dao sử dụng phương thức so sánh tu từ chiếm 20 37 % tổng số bài
ca dao tình yêu (cứ khoảng 5 bài ca dao tình yêu thì có một bài sử dụng so sánh
tu từ) Có những bài ca dao ngắn sử dụng 3, 4 phương thức so sánh tu từ
Trang 21Kết quả thống kê và phân loại so sánh tu từ trong ca dao tình yêu thểhiện qua bảng sau:
II CÁC KIỂU SO SÁNH TRONG CA DAO TÌNH YÊU:
1 Kiểu cấu trúc [A như B]
1 1 Kết quả thống kê khảo sát
Trang 22Kiểu cấu trúc so sánh [A như B] là kiểu cấu trúc thường được sử dụngtrong ca dao, đặc biệt là ca dao tình yêu Đây là kiểu cấu trúc chiếm tỉ lệ caonhất (71,267% tổng số các trường hợp có so sánh) và được biến hoá đa dạngtrong sử dụng Tác giả dân gian không chỉ sử dụng kiểu so sánh [A như B] màcòn so sánh phức hợp, tạo ý nghĩa nhiều tầng bậc Đọc luận văn “Các biện pháp
tu từ và đối lập tương phản trong thơ Chế Lan Viên” của tác giả Nguyễn ThịHiền (ĐHV, 2002), chúng ta thấy cấu trúc [A như B] trong tập “Ánh sáng và phùsa” và “Đối thoại mới ” chiếm 47 2 % tổng số trường hợp có so sánh trong thơChế Lan Viên Như vậy chứng tỏ các tác giả dân gian thích dùng phương thức
so sánh tu từ [A như B] hơn các tác giả hiện đại Dựa vào kết quả khảo sát,chúng tôi chia kiểu cấu trúc so sánh [A như B] thành hai nhóm và mỗi nhóm cókiểu so sánh riêng, được dùng biến hoá một cách linh hoạt
Nhóm 1: + A như B
+ A như B1 B2…Bn (B1 B2 …Bn trên một dòng ca dao)
+ A như B1 B2…Bn (B1 B2 …Bn trên các dòng ca dao)
+ a : Chỉ tính chất hoặc trạng thái cái được so sánh (A)
+ b: Chỉ tính chất hoặc trạng thái cái so sánh (B)
Bảng 2: Số lần dùng các nhóm và các kiểu trong mỗi nhóm của
Trang 23kiểu cấu trúc so sánh [A như B]
1 dòng ca dao)
A như B1 B2…Bn (B1 B2…Bn trên các dòng ca dao)
Aa như Bb A như Bb Aa như B
Số lần dùng 87
(26 93%)
78 (24 15%)
158 (48 92%)
357 (40 8%)
313 (35 77%)
205 (23 43%)
Tổng số
(%)
323 (26 96%)
875 (73 04%)
Qua bảng 2, số lần dùng biện pháp so sánh tu từ kiểu cấu trúc [A như B]
ở mỗi nhóm và các kiểu trong mỗi nhóm, chúng tôi có nhận xét sau:
- Kiểu cấu trúc so sánh [A như B] xuất hiện trong ca dao tình yêu khôngđồng đều giữa các nhóm, có sự chênh lệch khá rõ ràng Ở nhóm 1 chỉ có 323 lầndùng kiểu cấu trúc so sánh này (chiếm 26 96% tổng số trường hợp so sánh), còn
ở nhóm 2 số lượng đơn vị so sánh theo kiểu cấu trúc so sánh này đã tăng vọt, lêntới 875 số (chiếm 73 04%), lớn hơn 2,7 lần so với nhóm 1 Do đó cho thấykiểu so sánh [Aa như Bb, A như Bb và Aa như B ] là kiểu dân gian ưa lựa chọnnhất trong ca dao tình yêu Và ở mỗi nhóm cũng có những điểm cần lưu ý:
Trang 24sẽ trở nên cụ thể và dể hiểu hơn Các kiểu so sánh khác, [A như B], [A như B1B2…Bn] (B1 B2 … Bn trên 1 dòng thơ) sử dụng ít hơn
+ Ở nhóm 2:
Kiểu so sánh [ Aa như Bb] được sử dụng nhiều (chiếm 40 8% tổng số trường hợp có so sánh ở nhóm 2), chứng tỏ các tác giả dân gian thích sử dụng kiểu cấu trúc này Vì khi sử dụng kiểu cấu trúc này sẽ tạo nên những tính chất, trạng thái mới mẻ, cụ thể, sinh động và đem lại sự cân đối, hài hòa cho cấu trúc
ca dao Kiểu so sánh [A như Bb] sử dụng ít hơn nhưng không chênh lệch nhiều (chiếm 35 77%) Kiểu so sánh [Aa như B] sử dụng ít nhất (chỉ chiếm 23 43%)
- Qua sự thống kê trên ta thấy, trong ca dao tình yêu không chỉ có nhiều cấu trúc so sánh mà ngay trong từng kiểu so sánh lại có các kiểu so sánh khác nhau, hết sức phong phú và đa dạng Trong kiểu cấu trúc so sánh [A như B] có tới sáu tiểu loại khác nhau và trong mỗi tiểu loại đã tạo nên những nét độc đáo, đặc sắc riêng
1 2 Các kiểu loại và đặc điểm
1 2 1 Nhóm 1
a Kiểu so sánh [ A như B]
Đây là kiểu so sánh giữa 2 sự vật, hiện tượng khác loại, có nét tương đồng nào đó A là cái được so sánh, B là cái so sánh, “như” là từ so sánh Hư từ
“như” có ý nghĩa giả định, khơi gợi liên tưởng về sự giống nhau (thuộc
tính,trạng thái…) giữa cái so sánh và cái được so sánh
Ví dụ 1: Anh như cây gỗ xoan đào
Em như câu đối dán vào nên chăng?
(A,418)
Ví dụ 2: Miếng trầu em rọc, em têm
Đã trần như nhộng, lại mềm như dưa
Trang 25(M, 275)
Ví dụ 3: Em đây như chiếc chuông vàng
Treo đỉnh Hà Nội ba ngàn quân canh
Anh đây là lính xứ Thanh
Ra tỉnh Hà Nội, lên thành thử chuông
(E, 54)
Ví von có hư từ “như” giữ lại khoảng cách giữa cái so sánh và cái được
so sánh, giữa chủ thể - khách thể, làm tư duy mang tính chất suy lý, không xoá nhoà ranh giới giữa các sự vật, (đảm bảo cho cảm thụ một tính trực quan tự nhiên)
Ví dụ: Đôi ta như bấc với dầu
Khêu ra cho rạng kẻo sầu tương tư
(Đ,774)
b Kiểu so sánh [A như B1 B2 … Bn] (B1 B2 … Bn trên 1 dòng ca dao)
Ví dụ 1: Bấy lâu vắng tiếng vắng tăm
Như đàn vắng nhị, như tằm vắng dâu
B1 B2 (B, 355)
Ví dụ 2: Có chồng ông nọ bà kia
Không chồng như thúng, như nia bung vành
B1 B2
(C, 414)
Ví dụ 3: Đôi ta thương mãi nhớ lâu
Như sông nhớ nước, như ngành dâu nhớ tằm
B1 B2
(Đ, 836)
c Kiểu so sánh [A như B1 B2 … Bn] (B1 B2 …Bn trên các dòng ca dao)
Trang 26Ví dụ 1: Anh gặp em như nem gặp rượu
B1Như bình ngọc liễu cắm đoá hoa tiên
B2 (A, 332)
Ví dụ 2: Anh nói với em như rìu chém xuống đá
B1 Như rạ chém xuống đất
B2 Như mật rót vào tai
B3 Bây chừ anh đã nghe ai
Bỏ em giữa chốn non đoài khổ chưa
B2 B3 Nhớ chàng như vợ nhớ chồng
A B1 Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây
B2 B3
Trang 27(C,428) Nhìn vào cấu trúc so sánh [A như B1 B2…Bn] (B1 B2 …Bn trên cácdòng ca dao) ta thấy loại này điệp được dùng nhiều (A như nhiều B) Các tácgiả dân gian kết hợp điệp để nhấn mạnh tâm trạng của nhân vật trữ tình Tâmtrạng tình yêu không bao giờ có thể nói hết Tình yêu như không bờ bến củacảm xúc mãnh liệt Tác giả dân gian dùng nhiều dòng ca dao mới biểu hiệnđược liên tiếp cảm xúc dâng trào, mới cho phép giãi bày hết tâm trạng đó.Chúng ta thấy: cái so sánh không chỉ có ít như ví dụ 1 (nem gặp rượu, bìnhngọc liễu cắm đoá hoa tiên) mà cái so sánh ở đây rất nhiều, như ví dụ 3: (Nhớchàng như:
Có nhiều bài ca dao là cả một hệ thống hình ảnh so sánh chùm tạo nên Nhờkiểu so sánh này, hình ảnh về đối tượng trở nên phong phú, sâu sắc hơn và tạo
ra nghĩa mới nhiều tầng bậc Chính vì có sự tác động các hình ảnh so sánh nên
đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng độc giả
1 2 2 Nhóm 2:
a Kiểu so sánh [Aa như Bb]
Kiểu so sánh này được dùng 357 lần, chiếm 40 8% tổng số nhóm 2
Trang 28( bao gồm Aa như Bb, A như Bb, Aa như B) Ở đây a là tính chất hay trạng thái cái được so sánh còn b là tính chất hay trạng thái cái so sánh
Ví dụ 1: Em thương ai con mắt lim dim
Chân đi thất thểu như chim tha mồi
A a B b
(A, 426)
Ví dụ 2: Anh về em ở lại bơ vơ
Trong lòng thương nhớ như tơ rối muồi
(E, 21 )
Ở đây, yếu tố a (đi thất thểu, thương nhớ, láo lư,có chồng rồi…) chỉ tínhchất, hay trạng thái của cái được so sánh A (chân, trong lòng, trong dạ, em …).Còn yếu tố b ( tha mồi, rối muồi, ép non, có cương ) chỉ tính chất hay trạngthái của cái so sánh B (chim, tơ, dầu, ngựa…) Việc mở rộng cấu trúc cả hai vế
đã tạo cho nó một hình ảnh mới, đã mang đến cho đối tượng những phẩm chấtmới mẻ và tạo nên dáng vẻ mới cân đối, hài hoà cho bài ca dao
b Kiểu so sánh [A như Bb]
Số lượng dùng kiểu cấu trúc so sánh này theo kết quả thống kê thu được
là 313 lần, chiếm 35 77% tổng số so sánh nhóm 2, đứng thứ hai sau kiểu so sánh
Trang 29[Aa như Bb ] Kiểu cấu trúc so sánh này không miêu tả tính chất hay trạng tháicủa vế A mà chỉ miêu tả tính chất hay trạng thái của vế B Việc mở rộng vế B
giúp cho người đọc hiểu một cách cụ thể và rõ nét hơn về vế được so sánh
Ví dụ 1: Anh như táo rụng sân đình
(B, 464)
Ví dụ 3: Mình em như tượng mới tô
A B b Mình anh như nét bút vẽ hoạ đồ trong tranh
A B b
(M, 322) Như vậy, cái so sánh (B) (táo, gái rở, sao Vượt, tượng, nét bút…) cótính chất hay trạng thái (b) (rụng sân đình, đi rình của chua, đón trăng giữa trời,mới tô, vẽ hoạ đồ trong tranh )
c Kiểu so sánh [ Aa như B]
Như bảng phân loại đã nêu, kiểu cấu trúc so sánh [Aa như B ]có 205 lầndùng phương thức so sánh tu từ, chiếm 23,43 % tổng số so sánh trong nhóm 2.Kiểu cấu trúc so sánh này chiếm tỷ lệ ít nhất vì sử dụng kiểu cấu trúc so sánh này
Trang 30các tác giả dân gian không nêu lên được tính chất hay trạng thái của cái so sánhcũng như không làm rõ được tính chất hay trạng thái cái được so sánh
Ví dụ 1: Anh đi xa cay đắng như gừng
A a B Đường xa xôi ngàn dặm, xin em đừng nhớ thương
(A, 299) Việc mở rộng mệnh đề A tạo cho đối tượng được so sánh những phẩmchất mới mẻ, độc đáo ( cay, đắng, trắng, ngọt, xót, mềm…), tạo nên dáng vẻ mớicho cấu trúc ca dao
- Trong ca dao tình yêu, ở kiểu cấu trúc so sánh [A như B] tác giả dân gian còn sử dụng các từ so sánh: “giống, tựa, chẳng khác,…” thay cho từ so sánh
“như”:
Ví dụ 1: Mong sao ta giống con tằm
( X, 90)
Ví dụ 2: Ơn cha rộng thinh thinh như biển
Nghĩa mẹ sâu thăm thẳm tợ sông
( CH, 22)
- Có khi các từ so sánh được sử dụng kết hợp:
Ví dụ 3: Hai tay bưng điếu lắc lư
Chàng đà say thuốc tựa như say tình Hai tay ôm lấy điếu bình
Có say ta hút với mình thêm say
( B, 215)
2 Kiểu cấu trúc [ A là B]:
2 1 Kết quả khảo sát
Trang 31- Kiểu cấu trúc so sánh này dựa trên sự liên tưởng giống nhau giữa cái sosánh và cái được so sánh, nhưng quan hệ từ “là” mang sắc thái khẳng định, mức
độ giống nhau giữa hai sự vật cao hơn (so với “như” sắc thái giả định, gần như).Đây là kiểu cấu trúc có tần số sử dụng cao thứ hai trong tổng số trường hợp có sosánh (có 194 lần sử dụng, chiếm 11 541%)
- Khảo sát cấu trúc so sánh [A là B] trong ca dao tình yêu chúng ta cóthể chia cấu trúc này thành 2 nhóm:
28(24 34%)
56(48 7%)
31(26 96%)
Tổng số
79 (40 72%)
115 (59 28%)
Trang 32Qua bảng 3 về số lần dùng biện pháp so sánh tu từ kiểu cấu trúc [A làB] ở mỗi nhóm và các kiểu trong mỗi nhóm, chúng tôi nhận xét:
- Kiểu cấu trúc [A là B] được sử dụng không đồng đều ở mỗi nhóm.Nhóm 1 chỉ chiếm 40 72% tổng số trường hợp có so sánh, nhóm 2 chiếm tới 59.28% trong tổng số Như vậy chứng tỏ các tác giả dân gian khi nói đến một đốitượng, một sự vật thì đều muốn làm rõ tính chất hay trạng thái của đối tượng, sựvật ấy Mặt khác, ở mỗi nhóm, các kiểu cấu trúc so sánh cũng được sử dụngkhông đồng đều:
Nhóm 1:
Kiểu so sánh [A là B] được sử dụng nhiều (chiếm 89 87% tổng sốtrường hợp được so sánh ở nhóm 1) Kiểu cấu trúc so sánh này chỉ biểu hiệntrên một dòng ca dao vì cả cái được so sánh lẫn cái so sánh đều không được mởrộng,tính chất, đặc điểm, Kiểu so sánh [A là B1 B2… Bn] (B1 B2… Bn trên cácdòng ca dao) được sử dụng ít (chỉ chiếm 10 13%)
- Trong kiểu cấu trúc so sánh [A là B] có 5 tiểu loại khác nhau:
2 2 Các kiểu loại và đặc điểm
2 2 1 Nhóm 1:
a Kiểu so sánh [A là B]
Kiểu so sánh này chỉ đưa ra cái được so sánh và cái so sánh chứ không
mở rộng các vế Đây là kiểu cấu trúc chiếm tỷ lệ nhiều nhất (89 87%) trong
Trang 33nhóm 1, vì nó phù hợp với tư duy đơn giản của người nông dân Kiểu so sánhnày mang tính khẳng định như một định nghĩa, một chân lí, làm cho so sánh trởnên chặt chẽ, dù có khi tưởng như vô lý
Ví dụ 1: Anh tới đây đất nước lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vàng cũng kiêng Tới đây đầu lạ sau quen
Bóng trăng là nghĩa, ngọn đèn là duyên
Ví dụ 3: Đôi tay nâng lấy cơi trầu
Miếng trầu không là vợ, miếng cau là chồng
A B A B
(Đ, 842)
b Kiểu so sánh [A là B1B2……Bn] (B1B2… Bn trên các dòng ca dao)
Kiểu cấu trúc so sánh này xuất hiện không cùng trên một dòng ca dao
vì tuy cái được so sánh chỉ có một nhưng cái so sánh thì rất nhiều
Trang 34Ví dụ 2: Hỏi xa anh lại hỏi gần
Hỏi em phỏng độ đương xuân dường nào
Thấy em là gái má đào
a A B b
Lòng anh chỉ muốn ra vào kết duyên
(L, 17)
b Kiểu so sánh [A là Bb]
Ví dụ 1: Anh khôn ngoan cũng ở dưới ông Trời
Em là chim én đổi dời thượng thiên
Trang 35Sự mở rộng vế B và đặt từ so sánh ở đầu câu có tác dụng làm rõ phẩmchất, trạng thái của vế được so sánh (vế A) làm cho đối tượng được so sánh trởnên phong phú và đa dạng, nhiều phẩm chất
A a
Là búp măng tơ
B
( N, 313)
Ví dụ 3: Trăng lên dấp dới tới sao
Biển sông sâu là ngãi sánh với núi non cao là tình
Trang 36Đội ơn phụ mẫu sinh mình dễ thương
(TR, 264) Nhìn vào kiểu cấu trúc so sánh này ta thấy, a là yếu tố chỉ tính chất, đặcđiểm của A, (mở rộng tính chất, đặc điểm cho A) Sự mở rộng vế A như vậy có tác dụng nói rõ phẩm chất của vế được so sánh (vế A), khẳng định phẩm chất của vế so sánh (vế B) Từ so sánh " là " được đặt ở đầu dòng ca dao (như ví dụ 2) khiến cho câu ca dao trở nên khoẻ khoắn, chắc nịch và gây được áp lực lớn đối với người đọc
- Ở kiểu so sánh [A là B] còn sử dụng các từ so sánh: “cũng bằng”,
“bằng”, thay cho từ so sánh “là”:
Ví dụ 1: Anh nghe tiếng hát đâu đây
Anh về đóng chiếc tàu tây đi tìm
Trên thì lồng chim, dưới thì gà chọi Anh hát câu này bằng gọi em ra
(A, 399)
Ví dụ 2: Con gái mà lấy chồng quan
Nhược bằng để hổ nó mang lên rừng
(C, 648)
Ví dụ 3: Duyên mình bắt bén duyên ta
Cũng bằng tiến sĩ đi ba lọng vàng
(Đ, 174)
Ví dụ 4: Anh với em cũng muốn kết nghĩa giao hoà
Sợ mẹ bằng biển, sợ cha bằng trời Anh với em cũng muốn kết tóc ở đời
Sợ rằng mây bạc giữa trời mau tan
(H, 217)
3 Kiểu so sánh [A ( hoá, biến) thành B]:
Trang 37Kiểu cấu trúc so sánh này chỉ xuất hiện có 36 lần (chiếm gần 2 2% tổng
số trường hợp có so sánh), tuy tỉ lệ không lớn như 2 kiểu cấu trúc so sánh trênnhưng được vận dụng biến hoá, linh hoạt tạo nên sắc thái độc đáo trong ca dao.Kiểu so sánh nào cũng tạo nên sự biến động của đối tượng được đem ra so sánhnhưng làm cho đối tượng có sự biến động đột ngột, triệt để thì chỉ có ở cấu trúc
so sánh [A (hoá) thành B]
Về cơ bản, kiểu so sánh tu từ [A (hoá) thành B] cũng giống như các kiểu
so sánh khác, nhưng nội dung hiệu quả lại khác hoàn toàn về chất Thực chất,kiểu so sánh tu từ này là một phương thức so sánh tăng cấp, vận động, biến hoánội tại của các sự vật, hiện tượng để đưa đến sự vận động trong quá trình nhậnthức của người đọc
Ví dụ 1: Thân anh lớn, vóc anh tròn
Cù lao dưỡng dục, anh còn nhớ không ? Vọng phu hoá đá chờ chồng
Sao anh chưa thấy dải đồng phu thê
(C, 247)
Ví dụ 2: Mong sao anh biến ra tằm
Em biến ra nống, ta nằm chung chơi
(M,350)
- Trong một bài ca dao, các từ so sánh không chỉ xuất hiện đơn lẻ mànhiều khi kết hợp với nhau cùng xuất hiện, tạo cho bài ca dao có nét độc đáo,không trùng lặp
Ví dụ : Ước gì anh biến ra cau
Em hoá ra bẹ, ấp nhau tứ mùa
( Ư, 2) Như chúng ta đã biết, kiểu so sánh nào ít nhiều cũng tạo nên sự biếnđộng của đối tượng được đem ra so sánh Nhưng với hai kiểu cấu trúc so sánh tu
Trang 38từ [A như B] và [A là B], đối tượng được so sánh vẫn là nó, vẫn không mất đi
mà còn có thêm phẩm chất mới nhờ so sánh Còn ở kiểu so sánh tu từ [A(hoá)thành B] thì đối tượng được so sánh đã biến đổi một cách triệt để, đã không còncái gốc ban đầu của nó nữa: vọng phu hoá đá, anh biến ra tằm, em biến ra nống,
em hoá ra bẹ, anh hoá ra cau
4 Kiểu so sánh [A hơn / thua B]:
Kiểu so sánh [A hơn / thua B] chỉ xuất hiện 101 lần, chiếm 6 01% tổng
số trường hợp có so sánh Kiểu so sánh này dựa vào mức độ, tính chất của cái sosánh và cái được so sánh trên cùng một phương diện so sánh Các từ so sánh trong kiểu cấu trúc [A hơn / thua B] rất đa dạng như: “hơn”, “chẳng bằng”,
“không bằng”, “chả bằng”, “sao bằng”, “cho bằng”, “chẳng hơn”, “nào bằng”,…
Ví dụ 1: Bạn về nghĩ lại mà coi
Tấm tình ta ở gương soi không bằng
(B, 130)
Ví dụ 2: Cổ tay em trắng lại tròn
Để cho ai gối đã mòn một bên
Gối chăn gối chiếu không êm Gối lụa không mềm bằng gối tay em
(C, 848)
Ví dụ 3: Dao vàng cắt ruột máu rơi
Ruột đau chưa mấy bằng lời em than
(D, 27)
Ví dụ 4: Phiền mình tiên lại gặp Tiên
Sao bằng gỡ mối long phiền cho nhau
(PH, 53)
Ví dụ 5: Dù ai cho bạc cho vàng
Trang 39Chẳng bằng trông thấy mặt chàng hôm nay
Dù ai cho nhẫn cầm tay Chẳng bằng trông thấy mặt ngay bây giờ
5 Kiểu so sánh [A khác gì B]:
Kiểu cấu trúc so sánh [A khác gì B] chỉ có 20 lần xuất hiện trong ca daotình yêu (chiếm 1 19% tổng số trường hợp có so sánh) Trên bề mặt văn bản códấu hiệu: “khác gì”, “khác nào”, “khác chi”… thay cho từ so sánh “như”
Ví dụ 1: Thiên duyên kì ngộ gặp chàng
Khác chi như thể phượng hoàng gặp nhau
(TH, 301)
Ví dụ 2: Đôi ta chẳng đặng sum vầy
Khác nào chiếc nhạn lạc bầy kêu sương
(Đ, 749)
Ví dụ 3: Mong mình lắm lắm mình ơi
Khác gì mạ úa mong trời đổ mưa
(H, 258)
6 Kiểu so sánh [A bao nhiêu- B bấy nhiêu]:
Kiểu cấu trúc so sánh [A bao nhiêu- B bấy nhiêu] dựa vào quan hệ liêntưởng giữa cái so sánh và cái được so sánh có nét giống nhau nào đó giữa hai đốitượng, tác giả dân gian sử dụng lối nói: bao nhiêu- bấy nhiêu; đâu - đấy….nhằm diễn tả cái trừu tượng bằng cái cụ thể:
Ví dụ 1: Cây đa cũ, con yến rũ, cây đa tàn
Bao nhiêu lá rung, thương nàng bấy nhiêu
( C, 308)
Ví dụ 2 : Rời chân bước xuống sông Thương
Bao nhiêu sóng gợn,dạ buồn bấy nhiêu
Trang 40(D, 132)
So sánh kiểu này có thể có dạng A đâu – B đấy:
Ví dụ : Đó thốt lời tới đâu, dạ em sầu tới đấy
Cuộc chung tình đôi đứa mình đặng bao lâu
(Đ, 647)
- Hoặc A lắm – B nhiều:
Ví dụ : Con nhện vàng mắc búi tơ vương
Càng biết nhau lắm, càng thương nhau nhiều
(G, 159)
7 Kiểu so sánh [A / B]:
Mô hình của kiểu cấu trúc này được cấu tạo bởi cách ngắt nhịp, ngắtgiọng và hình thức đối chọi thay cho từ chỉ quan hệ so sánh Kiểu cấu trúc nàychỉ xuất hiện 5 lần trong ca dao tình yêu, chiếm tỉ lệ ít nhất trong tổng các từ sosánh (chiếm 0 297%) Mục đích của tác giả dân gian khi sử dụng kiểu cấu trúc
so sánh [A / B] là muốn để cho người đọc tự cảm nhận sự vật, hiện tượng theocác riêng của mình
Ví dụ 1: Ai ơi gương bể khó hàn
Chỉ đứt khó nối, người ngoan khó tìm
(A, 115)
Ví dụ 2: Anh thương em từ thưở trồng cau
Cau lên chín lóng, ruột đau chín từng
(A, 508)
Tiểu kết: Như vậy, qua sự khảo sát và phân loại các kiểu cấu trúc của
biện pháp so sánh tu từ trong ca dao tình yêu, chúng tôi thấy rằng: tác giả dângian đã sử dụng 7 kiểu so sánh cơ bản, trong đó từ so sánh rất đa dạng và phongphú tạo nên những bài ca dao độc đáo nhưng vẫn bình dị, dễ hiểu, giàu sức tạo