1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phương pháp phân tích nhân vật văn xuôi việt nam trung địa ở trung học phổ thông luận văn thạc sỹ ngữ văn

95 1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phương pháp phân tích nhân vật văn xuôi Việt Nam trung đại ở trung học phổ thông
Tác giả Trần Thị Hằng
Người hướng dẫn TS. Phạm Tuấn Vũ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 559 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những sự biến đổi của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam, Tạp chí Văn học số 6/1994,… Bởi vậy, luận văn của chúng tôi trên cơ sở tiếp thu, kế thừa thành tựukhoa học c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRẦN THỊ HẰNG

PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH NHÂN VẬT VĂN XUÔI VIỆT NAM TRUNG ĐẠI

Ở TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học

bộ môn Văn và Tiếng Việt

Mã số: 601410

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM TUẤN VŨ

VINH - 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU……… ……….………

1 Lí do chọn đề tài………

2 Lịch sử vấn đề………

3 Mục đích nghiên cứu…… ………

4 Phương pháp nghiên cứu………

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………

6 Đóng góp của luận văn………

7 Cấu trúc luận văn………

Chương 1: Những vấn đề chung……….………

1.1 Khái niệm ký sự trung đại và truyện truyền kỳ……… …………

1.1.1 Khái niệm kí sự……….………

1.1.2 Khái niệm truyện truyền kỳ……….…

1.2 Khái niệm nhân vật và phương pháp phân tích nhân vật văn xuôi tự sự

1.2.1 Khái niệm nhân vật……… …

1.2.2.Mục đích, yêu cầu của phân tích nhân vật văn xuôi tự sự… ……

Chương 2: Phương pháp phân tích nhân vật kí sự trung đại……….

2.1.Đặc điểm nhân vật kí sự……….………

2.1.1.Chất liệu xây dựng……….……….………

2.1.2.Phương thức xây dựng nhân vật……… ………

2.1.3 Chức năng……….………

2.1.4 Khái quát kiểu tính cách nhân vật kí sự………

2.2 Phương pháp phân tích nhân vật……… ……… …………

2.2.1 Kết hợp khai thác sự thực lịch sử và hư cấu văn chương………

2.2.2 Kết hợp hình thành nhận thức chân lý lịch sử và cảm xúc thẩm mỹ…

Chương 3: Phương pháp phân tích nhân vật truyện truyền kỳ…….

3.1 Đặc điểm của nhân vật truyện truyền kỳ………

3.1.1 Chất liệu xây dựng………

3.1.2 Phương thức xây dựng nhân vật……… ………

1 1 1 4 4 4 5 5 6 6 6 9 11 11 14 19 19 19 19 20 21 22 22 24 32 32 32 33

Trang 4

3.1.3 Chức năng………

3.1.4 Khái quát kiểu tính cách nhân vật truyện truyền kỳ………

3.2 Phương pháp phân tích nhân vật truyện truyền kỳ………

3.2.1.Kết hợp khai thác giá trị thực và các giá trị kỳ lạ… ………

3.2.2.Đối sánh nhân vật truyện truyền kỳ với nhân vật cổ tích Việt Nam

Chương 4: Thiết kế một số bài giảng dạy học tích hợp…… ……….

4.1 Một số vấn đề của phương pháp dạy học ………

4.1.1 Phương pháp dạy học………

4.1.2 Dạy học theo yêu cầu đổi mới………

4.1.3 Dạy học nhân vật truyện truyền kỳ và nhân vật kí sự………

4.2 Thiết kế một số bài giảng ……… ………

4.2.1 Giáo án thứ nhất ……… ………

4.2.2 Giáo án thứ hai ………

4.3 Thử nghiệm hiệu quả……… ………

4.3.1 Mục đích thử nghiệm……….……… …………

4.3.2 Nội dung thử nghiệm………

4.3.3 Địa bàn thử nghiệm………

4.3.4 Kết luận rút ra từ thử nghiệm………

KẾT LUẬN………

TÀI LIỆU THAM KHẢO………

37 38 39 39 43 54 54 54 55 57 59 59 72 80 80 81 83 83 84 86

Trang 5

1.3 Trong văn xuôi từng thời đại, nhân vật ở các loại tác phẩm vừa cónhững chức năng phổ biến, vừa có những chức năng riêng Nhân vật văn học

là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp

mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm nào đó Phương thức vàchất liệu xây dựng nhân vật văn xuôi Việt Nam trung đại vừa có phần tươngđồng vừa có sự khác biệt với nhân vật văn xuôi hiện đại và văn xuôi dân gianViệt Nam nên phải có phương pháp phân tích thích hợp

1.4 Giải quyết đề tài này để góp phần vào việc dạy và học các tác phẩm

ký sự và truyện truyền kỳ Việt Nam trung đại trong chương trình Ngữ vănthêm hiệu quả

2 Lịch sử vấn đề

Đổi mới phương pháp dạy học ngữ văn trong nhà trường trung học phổthông cần phải chú ý đến vấn đề dạy tích hợp có chú ý đến đặc trưng thể loại.Hiện nay có rất ít tài liệu đề cập đến đề tài mà chúng tôi nghiên cứu Phần lớn

dưới dạng nghiên cứu cụ thể ở từng tác phẩm Những vấn đề chung về đổi

Trang 6

mới giáo dục Trung học phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo viết: “Đổi mới

phương pháp dạy học luôn luôn đặt trong mối quan hệ với đổi mới mục tiêu,nội dung dạy học, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; đổi mới các hìnhthức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhóm nhỏ hoặc

cả lớp, giữa dạy học ở trong phòng học và ngoài hiện trường; đổi mới môitrường giáo dục để học tập gắn với thực hành và vận dụng; đổi mới đánh giákết quả học tập của học sinh qua đổi mới nội dung, hình thức kiểm tra, xâydựng các bộ công cụ đánh giá, phối hợp các kiểu đánh giá truyền thống với cáctrắc nghiệm khách quan đảm bảo đánh giá khách quan, trung thực mức độ đạtđược mục tiêu giáo dục của từng học sinh” [4, 9-10]

Tác giả Phương Lựu trong công trình Lý luận văn học cho rằng:

“Chức năng của nhân vật là khái quát những quy luật của cuộc sống conngười, thể hiện những hiểu biết, những ước ao và kỳ vọng về con người"[29, 279] Đây là một ý kiến có ý nghĩa khái quát, có ý nghĩa chỉ đạo côngviệc của chúng tôi

Khi bàn về việc phân tích nhân vật truyện truyền kỳ, chúng tôi đi tìm

hiểu một số truyện tài liệu nghiên cứu về Truyền kỳ mạn lục chẳng hạn: Phạm Văn Thắm (1996), Nghiên cứu văn bản và đánh giá thể loại truyền kỳ viết

bằng chữ Hán ở Việt Nam thời trung đại, Luận án PTS, Hà Nội; Trần Nho

Thìn: “Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu văn

học, số 10 năm 2003.

Trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (tập 1, 2, 3), Nguyễn Đăng

Na nghiên cứu theo thể loại Ở đây, nhà nghiên cứu chỉ ra những vấn đềchung nhất về sự phát triển của thể loại kí Nguyễn Đăng Na khẳng định:

“Suốt 10 thế kỷ trung đại, kí luôn luôn bám sát hiện thực cuộc sống phản ánh

những vấn đề thẩm mỹ do thời đại đặt ra” Tác giả có sự phân loại khá mới

mẻ khoa học về truyện và kí, nhấn mạnh sự kết hợp nhiều bút pháp nghệ thuật

trong thể ký Ông thấy rõ vị trí quan trọng của Thượng kinh kí sự, xem đây là

“tác phẩm kí nghệ thuật đích thực đầu tiên của văn học Việt Nam Nó không

Trang 7

là đỉnh cao, là sự hoàn thiện thể ký thời trung đại mà còn mực thước cho lốiviết ký sau này” [33,435].

Nguyễn Đổng Chi (1958) trong Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam đề cập đến hiện tượng “thể kí sự bằng văn xuôi đã bắt đầu xuất hiện và đã có những

tìm tòi riêng về kí sự, tùy bút” Ông có những điểm nhìn với những tác giả cụ

thể của tác giả tác phẩm tiêu biểu như Vũ trung tùy bút, Thượng kinh kí sự,…

“về nội dung , hình thức của kí sự, vượt hẳn các loại kí sự đương thời”, đây lànhững bức tranh sinh động chân thực của xã hội lúc bấy giờ

Bên cạnh các công trình đi sâu tìm hiểu, thẩm định giá trị thể loại thì đâycũng là lĩnh vực lý luận văn học được quan tâm Chúng tôi muốn nói về cuốn

Giáo trình lý luận văn học và Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại Việt Nam của nhà nghiên cứu Trần Đình Sử Tác giả viết: “khác với tạp chí, ký sự

chọn cuộc hành trình với những cuộc gặp gỡ, làm việc Chẳng hạn như

Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, đây thực sự là một tập ký đầy tính văn

học - thuật việc tả lòng kết hợp chặt chẽ, miêu tả thì quan sát tường minh, tỏlòng thì thành thực trung hậu, làm rõ ràng một nhân cách thanh cao, trong

sạch” [52, 331] của nhà Nho Tác giả cho rằng “nhân vật của Thánh Tông di

thảo và của Truyền kỳ mạn lục đều là những con người rất đỗi bình thường”

[52, 350] Nhà nghiên cứu đã đề cập đến truyện truyền kỳ và truyện kí sựdưới góc nhìn thể loại

Trong giáo trình Văn học Việt Nam trung đại trong nhà trường, Nhà

xuất bản Giáo dục, (2007) của tác giả Phạm Tuấn Vũ giúp cho người đọchiểu hơn về phương pháp dạy học văn bản truyện truyền kỳ và kí sự trungđại Việt Nam

Ngoài ra, trên Tạp chí văn học, Nghiên cứu văn học và một số tạp chí khác cũng đề cập đến vấn đề này như bài của Nguyễn Thị Bích Hải: Truyền

thống hiếu kỳ trong tiểu thuyết Trung Quốc (Tạp chí Hán Nôm số 2/2007),

B.L.Riptin: Mấy vấn đề nghiên cứu những nền văn học trung cổ của phương

Đông theo phương pháp loại hình, (Tạp chí Văn học số 2/1994), Vũ Thanh,

Trang 8

Những sự biến đổi của yếu tố kỳ và thực trong truyện ngắn truyền kỳ Việt Nam, (Tạp chí Văn học số 6/1994),…

Bởi vậy, luận văn của chúng tôi trên cơ sở tiếp thu, kế thừa thành tựukhoa học của các nhà nghiên cứu đi trước mong muốn đi vào tìm hiểu phươngpháp phân tích văn xuôi trung đại Việt Nam trong nhà trường trung học phổthông cả hai thể loại kí sự và truyện truyền kỳ

3 Mục đích nghiên cứu

3.1 Làm rõ đặc điểm của nhân vật kí sự và nhân vật truyền kỳ ở cácphương diện: chất liệu xây dựng, phương thức xây dựng và chức năng củachúng

3.2 Trình bày những nội dung cơ bản của mục đích và phương phápphân tích nhân vật ở các loại tác phẩm trên trong dạy học Ngữ văn ở trunghọc phổ thông

4 Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học Ngữ văn:thống kê - phân loại, tổng hợp phân tích, so sánh đối chiếu Luận văn còn sửdụng các phương pháp của khoa học giáo dục

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu phương pháp phân tích nhân vật truyện truyền kỳ, kí sựViệt Nam trung đại là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi người nghiên cứu phải amhiểu về thể loại Ý thức được điều này, chúng tôi giới hạn trong một sốphương diện cơ bản như: các khái niệm về nhân vật, nhân vật truyện truyền

kỳ, nhân vật kí sự; phương pháp phân tích nhân vật truyện truyền kỳ, phươngpháp phân tích nhân vật kí sự Sau đó chúng tôi trình bày một số giáo án thửnghiệm

5.2 Các loại tác phẩm kí sự và truyền kỳ Việt Nam trung đại tương đối đadạng, phong phú Hầu hết các tác phẩm kí sự và truyện truyền kỳ đều viết bằngchữ Hán nên phải nghiên cứu qua bản dịch, chúng tôi dựa trên tư liệu sau:

Trang 9

Nguyễn Dữ: Truyền kỳ mạn lục (Phạm Tú Châu dịch), Nxb Văn học, Hà

Nội, 1999

Lê Hữu Trác: Thượng kinh kí sự, (Phan Võ dịch và giới thiệu), Nxb Văn

hóa, Hà Nội, 1959

6 Đóng góp của luận văn

6.1 Kết quả của việc nghiên cứu đề tài này góp phần đưa ra một cáinhìn hệ thống về phương pháp phân tích nhân vật văn xuôi trung đại ViệtNam nói chung và phân tích nhân vật kí sự và truyện truyền kỳ nói riêng.Luận văn góp phần vào việc phân tích nhân vật theo đặc trưng thể loại củavăn xuôi tự sự Việt Nam trung đại Đây là tài liệu tham khảo tốt cho giáoviên và học sinh trong quá trình dạy học nhân vật văn xuôi trung đại ởtrường phổ thông

6.2 Luận văn góp phần nhận thức thêm đặc điểm nhân vật kí sự vàtruyện truyền kỳ trung đại Việt Nam ở phương thức, phương tiện xây dựng

và chức năng của chúng

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luậnvăn được trình bày trong 4 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung

Chương 2 Phương pháp phân tích nhân vật kí sự trung đại

Chương 3 Phương pháp phân tích nhân vật truyện truyền kỳ

Chương 4 Thiết kế một số bài giảng dạy học tích hợp

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Khái niệm kí sự trung đại và khái niệm truyện truyền kỳ

1.1.1 Khái niệm kí sự

1.1.1.1 Một số quan niệm về thể kí

So với các thể loại văn học khác, ký là một thể loại văn học ra đời sớmtrong lịch sử văn học nhân loại vì nó là thể loại năng động, linh hoạt nhạy béntrong việc phản ánh hiện thực Tác phẩm kí vừa phản ánh được sự thực lịch

sử vừa chuyển tải được nét độc đáo về nghệ thuật

Theo các nhà nghiên cứu hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau vềkhái niệm thể loại và đặc trưng của thể kí

Trong 150 thuật ngữ văn học định nghĩa: “ Kí là tên gọi chung của một

nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoài văn học (báo chí,ghi chép, ), chủ yếu là văn xuôi tự sự Kí khác với truyện ở chỗ trong tácphẩm kí không có một xung đột thống nhất, phần triển khai tác phẩm chủ yếumang tính miêu thuật” [2, 179]

Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Kí là thể văn tự sự

viết về người thật việc thật có tính chất thời sự, trung thành với mức caonhất” [48 ,122 ]

Các tác giả Từ điển thuật ngữ nghiên cứu văn học quan niệm kí là: “loại

hình văn học trung gian nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể là vănxuôi tự sự như: Bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, nhật ký, Kí không nằmtrong việc miêu tả quá trình hình thành tính cách của các cá nhân trong tươngquan với hoàn cảnh Những câu chuyện đời tư khi chưa nổi lên thành các vấn

đề xã hội cũng không phải là đối tượng quan tâm của kí Đối tượng nhận thứccủa kí thường là một trạng thái đạo đức, phong hóa xã hội, một trạng thái tồntại của con người hoặc những vấn đề xã hội nóng bỏng Vì thế, có nhiều tácphẩm kí rất gần gũi với truyện ngắn” [14, 137-138]

Trang 11

Hoàng Ngọc Hiến trong Năm bài giảng về thể loại viết: “Trong nghiên

cứu văn học Việt Nam đương đại, kí là một thuật ngữ được dùng để gọi tênmột thể loại văn học bao trùm nhiều “thể” hoặc “tiểu loại”: Bút kí, hồi kí, du

kí, kí chính luận, phóng sự, ” [ 15, 5]

Các nhà nghiên cứu cho rằng kí là ghi chép các sự kiện, hoàn cảnh lịch

sử, những biểu hiện của đời sống có thực và cá tính sáng tạo của tác giả “Vớithể loại kí, từ sự thôi thúc của cuộc sống có thực mà tác giả có nhu cầu đượccông bố kịp thời những nhận xét, những đánh giá, những ý tưởng Kí ghiđược rất rõ những nét mang dấu ấn của một sự kiện, một thời kì, của một lớp

người, của một vùng miền” [51, 243].

1.1.1.2 Một số đặc điểm của thể kí

Kí lấy việc tái hiện sự thực khách quan và tính xác thực của đời sốnglàm cơ sở Với thể loại kí, cuộc sống có thể được ghi rõ từng chi tiết, từng sựkiện để thông qua đó phản ánh cái hay, cái đẹp và những giá trị, ý nghĩa xã

hội - thẩm mỹ của con người Theo Lê Quý Đôn, Sử ký của Tư Mã Thiên

hay vì “Tư Mã Thiên chỉ thấy sự việc thì ghi không hề để tâm làm văn”

Mười ngày rung chuyển thế giới của Giôn Rít được Lênin đánh giả rất cao

vì “đã mô tả một cách đúng và sinh động lạ thường những sự kiện có mộttầm quan trọng rất lớn để hiểu rõ cách mạng là gì và chuyên chính vô sản

là gì” [51, 245] Để xây dựng thế giới nghệ thuật kí có thể kết hợp nhiều bút

pháp nghệ thuật như trữ tình, khảo cứu, trào phúng, Có khi các nhà viết kí

có sử dụng yếu tố hư cấu nhưng hư cấu không phải làm nhòa đi diện mạo của

sự thật được phản ánh, mà là biện pháp nhằm làm cho hình tượng cuộc sống

có giá trị hơn sâu rộng và mạnh mẽ hơn Kí văn học đích thực phản ánh tấmlòng, vốn sống, tài năng của cái tôi cá nhân nghệ sĩ Ở tác phẩm kí, nhà văntái hiện cuộc sống một cách độc đáo, có tính nghệ thuật Những tang thươngdâu bể của lịch sử Việt Nam thế kỷ XVIII-XIX trong các sáng tác của Lê HữuTrác, Phạm Đình Hổ Bức tranh cuộc sống được dựng lên qua sự quan sát, tìmtòi, cảm nhận của tác giả Chính họ là những người trực tiếp tham gia vào thế

Trang 12

giới hình tượng nghệ thuật của tác phẩm Thể loại kí “bộc lộ rõ lập trường, tưtưởng, chính kiến của nhà văn” về các sự việc, hiện tượng xảy ra trong cuộcsống.

Tác phẩm kí là nơi để ngòi bút và xúc cảm của tác giả được thử thách.Điều đó được thể hiện ở ngôn từ giàu hình ảnh, được gọt dũa bởi cái tôi thẩm

mỹ của nhà văn Có nhà nghiên cứu cho rằng: “đặc điểm văn học của kí lộ rõnhất ở văn phong, ngôn từ nghệ thuật” [3, 179] Ngôn từ nghệ thuật của ký táihiện hiện thực cuộc sống, vừa cụ thể sinh động vừa đậm chất đời thường.Ngôn từ của kí sự cũng mang đậm tính chất chủ thể, gắn liền với đặcđiểm cá tính sáng tạo của tác giả Nhà văn luôn là người đối thoại, chứngkiến, ghi nhớ và ghi chép lại những gì mình quan sát được Ngôn từ của thể

kí luôn có xu hướng dung nạp nhiều hình thức và phong cách sáng tạo Đâycòn là thể loại rất linh hoạt về giọng điệu

Kí là thể loại văn học bộ lộ rõ tính tư tưởng, tính khuynh hướng trongviệc tái hiện sự thực đời sống “Kí còn là thể loại lưu giữ nhiều tài liệu xácthực về đời sống và cảm quan nghệ thuật của con người, là nguồn dự trữ tư

liệu tin cậy cho sáng tạo nghệ thuật về sau” [51, 255].

1.1.1.3 Kí sự

Là một tiểu loại của thể kí, kí sự nhằm ghi chép lại một câu chuyện, một

sự kiện tương đối hoàn chỉnh Kí sự thường xuất hiện trong những thời kì lịch

sử có những diễn biến quan trọng Đây là thể loại ghi lại những sự kiện pháttriển trong một thời gian khá dài, ngoài trục chính còn có những tuyến nhỏngang dọc đan chéo nhau làm nổi rõ hướng vận động, phát triển của thờicuộc Kí sự tôn trọng tính chất khách quan của sự kiện Tác giả phải biết pháthiện, chọn lọc để làm nổi lên những điển hình xã hội tiêu biểu, những con

người, sự việc giàu ý nghĩa xã hội và sức khái quát Tác phẩm Thượng kinh kí

sự của Lê Hữu Trác, Bắc hành tùng kí của Lê Quýnh được đánh giá là những

tác phẩm tiêu biểu cho tiêu loại này Tác phẩm tái hiện rõ nét và đầy đủ bộmặt của thời đại thông qua những bức tranh miêu tả sinh động Đặc biệt là

Trang 13

Thượng kinh kí sự “đánh dấu trình độ kí sự văn học cổ điển Việt Nam đã đạt

đến trình độ cao, có tính chất đột phá sáng tạo, bởi nếu như không nhầm thìchưa thấy tác phẩm tương tự trong văn Trung Quốc, một xứ sở về kí ngắn vàtản văn” [51, 332] Tóm lại, kí sự là những ghi chép về những sự việc diễn ratrong cuộc sống gắn với sự thực lịch sử

1.1.2 Khái niệm truyện truyền kỳ

Truyện truyền kỳ là thể loại của văn học Trung Quốc được du nhập vào

nước ta Tên gọi thể loại này bắt nguồn từ tên tập truyện nhan đề Truyền kỳ của Bùi Hình đời Đường Khâu Chấn Thanh trong Lý luận văn học cổ điển

Trung Quốc viết: “Theo sự khảo chứng của Vương Quốc Duy, cái tên Truyền

kỳ bắt đầu từ đời Đường, thoạt đầu nó chỉ tiểu thuyết đời Đường, đến thời

Tống thì gọi các cung điệu là truyền kỳ Người Nguyên lại khen ngợi tạp kịch

là truyền kỳ Đến thời Minh thì coi các tác phẩm hay của hý khúc là truyền

kỳ Cái tên truyền kỳ từ thời Đường tới thời Minh tuy đã trải qua bốn lần thay

đổi nhưng chưa hề tách rời những tác phẩm có tính chất tự sự như loại tiểuthuyết, hài kịch vốn vẫn có tình tiết” [55,129-130) Lý Ngư (đời Thanh) nói:Một số tác phẩm trong lịch sử sở dĩ có thể lưu truyền được là do “tình tiết của

nó khác lạ, độc đáo, chưa được người nhìn thấy và lưu truyền (Nhân kỳ sựthậm kỳ đặc, vị kinh nhân kiến nhi truyền chi)” và ông kết luận: Không kỳkhông truyền (Phi kỳ bất truyền)” [ 55,130] Lý Ngư cũng nói rằng, “muốnđạt tới cái kỳ thì cái kỳ ấy phải xuất phát từ cuộc sống hiện thực, phải hợp vớilôgic sự vật Kỳ không phải là cái hoang đường quái đản Ông nói: Phàm viếttruyền kỳ, chỉ có thể nên tìm những cái gì gần gũi ngay trước tai mắt, chứkhông nên tìm ở ngoài những cái nghe thấy, nhìn thấy”(phàm tác truyền kỳ,chỉ đương cầu vu nhĩ mục chi tiền, bất đương sách chư văn kiến chi ngoại)[55,132]

Ở Việt Nam, khái niệm truyện truyền kỳ được hiểu theo nghĩa rộng, hẹp

khác nhau Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo

khoa 10 THPT môn Văn (Nxb Giáo dục) quan niệm: “Truyện truyền kỳ có

Trang 14

đặc điểm nổi bật nhân vật thường là người, hoặc thần thánh, ma quái, tinh loàivật, tiên, phật… Trong các truyện truyền kỳ, thường có sự tham gia của cácyếu tố kỳ lạ, hoang đường trong một cốt truyện sinh hoạt có tính thế sự…Chính điều này làm tăng thêm tính hấp dẫn của truyện” [trang 101, 102].

Trong Từ điển tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam dùng cho nhà trường các tác giả viết: “ở thể loại này (truyện truyền kỳ) các tác giả thường mượn các

yếu tố thần linh, ma quái để tái tạo và qua đó gửi gắm cái nhìn và thái độ đốivới hiện thực của thời đại mình” Một số nhà nghiên cứu văn học nêu thêmtiêu chí: Vai trò hư cấu của nhà văn ở thể loại này và chỉ xếp vào thể loạitruyện truyền kì những truyện trong đó con người là nhân vật chính chứkhông phải là thần linh, ma quỷ

“Truyền kỳ là một hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắtnguồn từ truyện kể dân gian, sau được các nhà văn nâng lên thành vănchương bác học, sử dụng những môtip kỳ quái hoang đường, lồng một cốttruyện có ý nghĩa trần thế, nhằm gợi hứng thú cho người đọc” [ 17,30]

Theo Từ điển thuật ngữ văn học, truyện truyền kỳ là “ thể loại tự sự cổ

điển của văn học Trung Quốc thịnh hành ở đời Đường, tên gọi này cuối đờiĐường mới có “Kỳ” nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính hư cấu Thoạtđầu, tiểu thuyết truyền kỳ mô phỏng truyện chí quái thời Lục triều, sau pháttriển độc lập” [ 14, 342]

Như vậy, dù được hiểu rộng hẹp khác nhau, về thể loại truyện truyền kỳ cócác đặc điểm: hình thức văn xuôi tự sự và việc tham gia của yếu tố kỳ lạ, tức làtính chất khác lạ của con người, sự vật, hiện tượng xuất hiện trong truyện.Truyện truyền kỳ xây dựng những thế giới khác ngoài thế giới hiện sinh của con

người: thượng giới, âm phủ, thủy cung Ở đó, người ta có thể sống bình thường.

Trong truyện truyền kỳ, con người có thể giao tiếp với thế giới siêu nhiên: tiên,phật, thánh thần, ma quỷ… Phổ biến nhất là ma quỷ Đây là yếu tố chi phối cácđặc điểm khác (cốt truyện sinh hoạt có tính thế sự, nhân vật chính là con người,

vai trò hư cấu của nhà văn…) của thể loại truyện truyền kỳ Sự có mặt tương đối

Trang 15

xuyên suốt của yếu tố “kỳ” và vai trò tích cực của nó đối với vấn đề xây dựngcốt truyện và xây dựng nhân vật chính là bản chất thẩm mỹ của thể loại truyệntruyền kỳ.

Giải thích từ “kỳ”, Từ điển tiếng Việt do giáo sư Hoàng Phê chủ biên đã

cho “kỳ” là “lạ đến mức làm người ta phải ngạc nhiên”.Tại đây, các nhànghiên cứu đã đưa ra nhiều khái niệm để giải thích yếu tố “kỳ” Chẳng hạnnhư: “kỳ ảo” (kỳ lạ, tựa như có thật mà chỉ có trong tưởng tượng); “kỳ dị”(khác hẳn với những gì thường thấy đến mức lạ lùng); “kỳ diệu” (có cái gì vừarất lạ lùng như không cắt nghĩa nổi, vừa làm người ta phải ngợi ca); “kỳ quái”(đặc biệt lạ lùng, chưa bao giờ thấy); “kỳ quặc” (kỳ lạ tới mức trái hẳn với lẽthường, khó hiểu) [ 48, 499] Nhìn chung yếu tố “kỳ” được hiểu là kỳ lạ, kỳdiệu, kỳ ảo, kỳ quái Yếu tố “kỳ” có ý nghĩa đặc biệt nên đã được sử dụngtrong văn chương ngay từ thời xa xưa Trong văn học Việt Nam, yếu tố kỳđược sử dụng rất độc đáo và đắc địa qua văn xuôi tự sự thời trung đại Với

hàng loạt tác phẩm nổi bật, lưu danh như: Thánh Tông di thảo (khuyết danh),

Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm), đặc biệt là Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ

Truyện truyền kỳ là một thể loại văn học có diện mạo và tính chất riêng.Thể loại này thường sử dụng một số thể văn như văn xuôi, văn vần, văn biềnngẫu, có phương thức diễn đạt riêng như phô diễn tâm tình (trữ tình), thuậtbày sự việc (tự sự), biện luận lý giải (chính luận) Nó là thể loại văn học cótính chất lịch sử vừa ổn định vừa tương đối, vừa dần có sự biến đổi để phùhợp với tư duy văn học [54, 64-65]

1.2 Khái niệm nhân vật Mục đích, yêu cầu của việc phân tích nhân vật văn xuôi tự sự

1.2.1 Khái niệm nhân vật

Nói tới hình tượng nghệ thuật người ta thường nghĩ ngay tới con người,

mà con người trong tác phẩm văn học đó chính là nhân vật, vì văn học không

Trang 16

gì khác hơn ngoài phản ánh con người, con người là đối tượng của văn học.

M Goocki khẳng định “văn học là khoa học về con người”

Nhân vật văn học là con người được miêu tả, thể hiện trong tác phẩmbằng phương tiện văn học Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuậtmang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi biểu hiện của conngười mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình Đó cóthể là những con người được miêu tả cả ngoại hình biểu hiện nội tâm, có tínhcách, tiểu sử như thường thấy ở tác phẩm tự sự, kịch cũng có thể là nhữngngười thiếu hẳn những đặc điểm vừa nêu, nhưng lại có tiếng nói, giọng điệu,cái nhìn như nhân vật trần thuật, hoặc chỉ có cảm xúc, nỗi niềm, ý nghĩ, cảmnhận như nhân vật trữ tình trong thơ trữ tình Nhưng thật ra, khái niệm nhânvật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ làcon người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc hoạ sâu đậmhoặc chỉ xuất hiện thoảng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những con vậtbao gồm cả quái vật lẫn thần linh, ma quỷ ít nhiều mang bóng dáng, tínhcách của con người, được dùng như những phương thức khác nhau để biểuhiện con người Khái niệm nhân vật có khi được sử dụng một cách ẩn dụ,không chỉ một con người cụ thể nào mà chỉ một hiện tượng nổi bẩt trong tácphẩm - về con người hoặc có liên quan đến con người, chẳng hạn nói nhân

dân là nhân vật chính của Chiến tranh và hoà bình, thời gian là nhân vật

chính trong sáng tác của Sêkhôp,

Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng nhân vật là “con người cụ thể được

miêu tả trong tác phẩm văn học Nhân vật văn học có thể có tên riêng (Tấm,Cám, chị Dậu, anh Pha), cũng có thể không có tên riêng như thằng bán tơ,

một mụ nào trong Truyện Kiều Trong truyện cổ tích, ngụ ngôn, đồng thoại,

thần được đưa ra để nói chuyện con người Khái niệm nhân vật văn học có khiđược sử dụng như một ẩn dụ, không chỉ một con người cụ thể nào cả, mà chỉmột hiện tượng nổi bật nào đó trong tác phẩm Chẳng hạn có thể nói: nhân

dân là nhân vật chính trong Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, đồng tiền

Trang 17

là nhân vật chính trong Ơ-giê-ni Gơ-răng-đê của Ban-dắc Nhân vật văn học

là một đơn vị nghệ thuật đầy tính ước lệ, không thể đồng nhất nó với conngười có thật trong đời sống” [14, 235]

Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách của conngười Do tính cách là một hiện tượng xã hội, lịch sử, nên chức năng kháiquát tính cách của nhân vật của văn học cũng mang tính lịch sử Trong thời cổđại, nhân vật văn học của thần thoại, truyền thuyết thường khái quát năng lực

và sức mạnh của con người Ứng với xã hội phân chia giai cấp, nhân vật củatruyện cổ tích khái quát những chuẩn mực giá trị đối kháng trong quan hệgiữa người và người như thiện và ác, thông minh với ngu đần,

Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm

mỹ của nhà văn về con người Vì thế nhân vật luôn gắn bó chặt chẽ với chủ

đề của tác phẩm Ngoài ra, nhân vật còn luôn gắn liền với cốt truyện Vì nhânvật được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và các chi tiết Đó làmâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vậtkia, giữa tuyến nhân vật này với tuyến nhân vật khác Nhờ được miêu tả quaxung đột, mâu thuẫn, nên nhân vật văn học là một chỉnh thể vận động, có tínhcách được bộc lộ dần trong không gian, thời gian, mang tính chất quá trình.Nhân vật là yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm văn học, bởi nhân vậtchính là phương tiện cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hìnhtượng Nhà văn sáng tạo ra nhân vật để thể hiện nhận thức của mình về một

cá nhân nào đó, về một loại người nào đó Nhân vật chính là người dẫn dắtngười đọc vào thế giới riêng của đời sống trong một thời kỳ lịch sử nhất định

Vì vậy, tìm hiểu nhân vật chính là tìm hiểu những tư tưởng, tình cảm và nghệthuật sáng tạo của nhà văn

Tóm lại, "nhân vật văn học là con người cụ thể được thể hiện, miêu tảtrong tác phẩm văn học bằng phương tiện văn học” Khi miêu tả con ngườinhà văn thường chú ý miêu tả cả hai mặt ngoại hình và tính cách, hay hìnhthức bên ngoài và nội tâm Tuỳ thuộc vào ý đồ nghệ thuật mà tác giả chú ý

Trang 18

đến mặt nào nhiều hơn Đối với truyện kí sự và truyện truyền kỳ khi nghiên

cứu nghệ thuật xây dựng hình tượng của tác phẩm, ở đây chúng ta đặc biệtquan tâm tới việc miêu tả nội tâm và hành động đối thoại của nhân vật

Phân tích một nhân vật văn học là công việc có tầm quan trọng đặc biệtđối với việc tìm hiểu tác phẩm văn học Dưới đây chỉ là những nguyên tắckhái quát mang ý nghĩa phương pháp chung nhất

“Nhân vật văn học là một hiện tượng hết sức đa dạng Các nhân vậtthành công thường là những sáng tạo độc đáo không lặp lại” [28, 284] Cácnhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều tiêu chí khác nhau để chia nhân vật văn họcthành các loại khác nhau “Dựa vào vị trí đối với nội dung cụ thể, với cốttruyện của tác phẩm văn học được chia thành nhân vật chính và nhân vật phụ

Dựa vào đặc điểm của tính cách, việc truyền đạt lí tưởng của nhà văn,

nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Dựa vào thể loại văn học, ta có nhân vật tự sự, nhân vật trữ tình và nhânvật kịch

Dựa vào cấu trúc hình tượng, nhân vật được chia thành nhân vật chứcnăng (hay mặt nạ), nhân vật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật lý tưởng”[14, 203]

Như vậy, dù dựa vào tiêu chí nào đi nữa thì việc phân loại nhân vật chỉ

có ý nghĩa tương đối Vì “các nhân vật văn học cụ thể trong thực tế văn họchết sức đa dạng, sự phân chia trên chỉ là làm nhấn mạnh đặc trưng cơ bản,phục vụ một yêu cầu nghiên cứu nhất định, xuất phát từ một trong nhiều góc

độ tiếp cận các nhân vật văn học” [14, 203] Cần tránh sự phiến diện khi khảosát và phân tích

1.2.2 Mục đích, yêu cầu của phân tích nhân vật văn xuôi tự sự

Trong tác phẩm tự sự, nhà văn “nói” qua nhân vật Nhân vật là nơichuyển tải nội dung phản ánh, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thácquan niệm về con người, về nhân sinh của nhà văn Bởi thế, phân tích nhânvật trở thành con đường quan trọng nhất để đi đến giá trị hiện thực, giá trị

Trang 19

nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm mĩ của nhà văn Một nhânvật văn học lớn bao giờ cũng thể hiện số phận, quan niệm nhân sinh độc đáo

và thường điển hình cho một tầng lớp xã hội, một giai cấp, thậm chí một thờiđại nào đó

Nhân vật trong tác phẩm văn học là con đẻ, là sản phẩm sáng tạo của nhàvăn Nó là kết quả của một quá trình khám phá, chiêm nghiệm, tổng hợp,nhào nặn Do đó, nhân vật mang dấu ấn của cá nhân sáng tạo ra nó Không ítngười còn đối chiếu máy móc nhân vật với hiện thực lịch sử, với sự thực cuộcđời để đánh giá đúng, sai, hay, dở mà quên đi một sự thực khác: nhân vật cóthể mang màu sắc “siêu thực”, có thể đi lối riêng theo cách dẫn dắt, theo ý đồ

và bút pháp nghệ thuật của nhà văn Phân tích nhân vật còn để nhận ra tàinăng, đặc điểm bút pháp của nhà văn, để thêm thú vị khi thưởng thức một giátrị thẩm mĩ

Việc phân tích một nhân vật cần được soi tỏ dưới các ánh sáng trên Bêncạnh đó cần khắc phục hai nhược điểm:

Thứ nhất, phân tích nhân vật thành miêu tả, ca ngợi một con người nào

đó ngoài đời (nhất là khi phân tích loại nhân vật chính diện có các phẩm chất,

vẻ đẹp cao quí) Quá trình phân tích một nhân vật văn học cần gắn với sự cảmthụ, đánh giá bút pháp nghệ thuật miêu tả của nhà văn Chữ phân tích ở đâykhông nên hiểu chỉ là một thao tác nghị luận (chỉ ra các đặc điểm của nhânvật) mà bao hàm cả sự nhận xét, đánh giá bằng cảm thụ, suy nghĩ của mình.Thứ hai, phân tích nhân vật chỉ dừng ở cấp độ cụ thể mà không nâng lêntầm khái quát để rút ra tư tưởng, quan niệm của nhà văn Nên nhớ rằng khixây dựng một nhân vật (nhất là nhân vật chính) bao giờ nhà văn cũng muốngửi gắm qua đó một cách nhìn nhận về xã hội, một quan niệm nhân sinh Nếuphân tích nhân vật mà chỉ dừng ở nhân vật nghĩa là chưa ý thức được vị trícủa nhân vật ấy trong chủ đề, tư tưởng của tác phẩm

Cần xác định các phương diện khi phân tích nhân vật Đó là lai lịch,ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, cử chỉ…

Trang 20

Lai lịch nhân vật là phương diện đầu tiên góp phần hình thành đặc điểmtính cách, chi phối con đường đời của nhân vật cũng như mục đầu tiên tathường khai trong bản “Sơ yếu lí lịch” là thành phần xuất thân, hoàn cảnh giađình vậy Tính cách nhân vật được lí giải một phần bởi thành phần xuất thân,hoàn cảnh gia đình và điều kiện sinh hoạt.

Trong văn học, nhà văn miêu tả ngoại hình nhân vật thường với hai mụcđích Thứ nhất, để cá thể hóa nhân vật, nghĩa là tạo ấn tượng riêng về nhânvật ấy (không thể lẫn vào các nhân vật khác) Thứ hai, qua vẻ bề ngoài màphần nào cho thấy tính cách, bản chất của nhân vật ấy Một nhà văn có tàithường chỉ qua một số nét khắc họa chấm phá có thể giúp người đọc hìnhdung ra diện mạo cùng bản chất của một nhân vật nào đó Một nhân vật thànhcông bao giờ cũng là “con người này” khác với con người kia, con người nọ,

… Trong phân tích nhân vật, cần qua các chi tiết ngoại hình mà “đọc” đúngnội tâm, bản chất của đối tượng

Qua lời ăn tiếng nói, qua cách dùng từ, giọng điệu của một người, chúng

ta có thể nhận ra nghề nghiệp, trình độ học vấn, nhận ra tính cách của conngười ấy Ngôn ngữ của nhân vật văn học thành công thường được cá thể hóacao độ, nghĩa là mang đậm dấu ấn của một cá nhân Nhà văn có tài là ngườibiết sống với nhiều nhân vật, nắm bắt được nhiều kiểu ngôn ngữ Ngôn ngữ

ấy, những lời hỏi, lời cảnh cáo cùng cách trả thù ấy chứng tỏ một tính cáchmạnh mẽ, một hành động quyết liệt

Khi phân tích nhân vật cần quan tâm đến thế giới bên trong với nhữngcảm giác, cảm xúc, tình cảm, suy nghĩ… Thế giới bên trong này thườngtương tác với thế giới bên ngoài (môi trường thiên nhiên, sự biến chuyển củađời sống xã hội, quan hệ và hành vi của các nhân vật khác xung quanh) đồngthời cũng có qui luật vận động riêng của nó Một nghệ sĩ tài năng thườngcũng là một bậc thầy trong việc nắm bắt và diễn tả tâm lí con người Miêu tảchân thực, tinh tế đời sống nội tâm nhân vật là chỗ thử thách tài nghệ nhà văn

và cảm nhận, phân tích được một cách kĩ lưỡng, thuyết phục mặt này cũng

Trang 21

thành nơi chứng tỏ năng lực của người phân tích tác phẩm Thâm nhập thếgiới nội tâm phong phú của một nhân vật nào đó trở thành hành trình đầy thú

vị của nhà văn, cũng là điều hấp dẫn đối với người đọc, người phân tích tácphẩm sau đấy Điều đáng lưu ý mà qua các dẫn chứng nêu trên các bạn đãthấy là diễn biến nội tâm thường gắn liền từng cử chỉ, hành động của nhânvật, thường được “hữu hình hóa” qua cử chỉ, hành động Tất nhiên không phảilúc nào chúng ta cũng có thể “đọc xuôi” nỗi lòng qua cử chỉ, hành động bởikhông phải bao giờ hai phía này cũng trùng khít, thậm chí chúng có thể đốilập nhau

Bản chất của con người ta bộc lộ chân xác, đầy đủ nhất qua cử chỉ, hànhđộng Phân tích nhân vật, vì thế, cần tập trung khai thác kĩ phương diện này

Đó là sự thật hiển nhiên Nhưng đáng chú ý là bản chất nhân vật không chỉbộc lộ ở việc nhân vật ấy làm mà còn qua cách làm việc ấy của nhân vật nữa

Vế sau này cũng là một phương diện vô cùng quan trọng để nhà văn cá tínhhóa nhân vật Khi điển hình hóa nhân vật, một nhà văn có tài thường lựa chọncho nhân vật những hành động độc đáo, gây ấn tượng sâu đậm đối với ngườiđọc

Để khắc họa tính cách, bản chất một nhân vật, nhà văn còn mượn lời nói,lời đánh giá của các nhân vật khác Lắm khi, nhà văn còn tổ chức cho cácnhân vật khác thảo luận, bàn bạc về nhân vật ấy Trong tác phẩm văn học, cácnhân vật thường ở giữa những mối quan hệ tương tác, ràng buộc nhiều khi rấtphức tạp, thường nhận (hoặc chịu) sự nhận xét, đánh giá của các nhân vậtkhác Tất nhiên, không phải lời nhận xét, đánh giá nào cũng đúng và đều là ýkiến của nhà văn Sau khi trình bày sáu phương diện cụ thể lúc phân tích nhânvật trong tác phẩm tự sự, chúng tôi muốn lưu ý mấy điểm:

Thứ nhất: Không phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà văn thể hiệnđầy đủ trên các phương diện này (lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, cửchỉ, hành động, qua lời các nhân vật khác) Tùy trường hợp mà có chỗ nhiều,chỗ ít, chỗ đậm, chỗ nhạt Bởi thế, không phải cứ máy móc tìm đủ, phân tích

Trang 22

đủ mà cần biết tập trung, xoáy sâu vào các phương diện thành công nhất củanhân vật

Thứ hai: Tránh nhầm lẫn cấp độ của những phương diện phân tích Cóthể xem sáu phương diện đã nêu đồng đẳng và đều là sự cụ thể hóa, hiện thựchóa của tính cách, số phận nhân vật

Thứ ba: Nắm vững sáu phương diện cơ bản đã nêu khi phân tích nhânvật chính là điều có ý nghĩa định hướng cho việc đọc tác phẩm tự sự Biết đọctác phẩm tự sự nghĩa là hiểu được, nhớ được nội dung phản ánh của tác phẩm

và mối quan hệ giữa các nhân vật, nắm được tính cách, số phận của các nhânvật chính Để có căn cứ phân tích, để có chất liệu làm bài, khi đọc tác phẩmcần ghi nhớ các chi tiết, các hình ảnh về từng phương diện ấy

Từ những khái niệm về kí sự, truyện truyền kỳ như đã nói ở trên, điềuquan trọng nhất là làm rõ đặc điểm nhân vật tác phẩm văn xuôi tự sự trung đạidựa trên phương pháp phân tích nhân vật theo đặc trưng thể loại

Chẳng hạn, đặc điểm lớn nhất của nhân vật truyện truyền kỳ là luôn cótính chất thực và tính chất hư, thiếu một trong hai tính chất này không phải lànhân vật truyện truyền kỳ đích thực Hơn nữa, ở kiểu nhân vật này cái thựcluôn được hư hoá và ngược lại Sự tích về người đàn bà họ Vũ ở Hà Nam cho

thấy Nguyễn Dữ đã sáng tạo Chuyện người con gái Nam Xương trên cơ sở

một cuộc đời có thật Từ sự thật đắng cay đau xót đó, nhà văn đã hư hoá, sángtạo thêm thế giới thuỷ cung khiến cho truyện giàu sức biểu hiện hơn, lung linhhuyền cảo hơn

Thủ pháp ngược lại là cái hư được thực hoá Theo lôgíc thông thường,người ta khó tin những chuyện xảy ra với Tử Văn (nhân vật chính trong

Chuyện chức phán sự đền Tản Viên) Để thuyết phục độc giả, nhà văn đã gắn

nhân vật này với đền Tản Viên - một ngôi đền có thật, nơi thờ một trong tứbất tử của Việt Nam

Trang 23

Chương 2 PHÂN TÍCH NHÂN VẬT KÍ SỰ TRUNG ĐẠI

2.1 Đặc điểm của nhân vật kí sự

2.1.1 Chất liệu xây dựng

Trong tác phẩm ký, dù là ký trong văn học trung đại hay trong văn họchiện đại, một chất liệu quan trọng là sự việc Để làm nên sự việc phải có cácquan hệ của con người và hoàn cảnh Ở đó, có khi tác giả cũng là một nhânvật, quan sát đời sống đang diễn ra xung quanh và bộc lộ tư tưởng tình cảmcủa mình Đối với văn học trung đại Việt Nam đặc biệt trong văn xuôi cuốithế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, nhân vật rất đa dạng, phong phú Họ chính làcon người của cuộc đời thực bước vào văn học Xuất phát từ đặc điểm chungcủa nền văn học giai đoạn này, các nhà viết kí sự đã dành nhiều tâm huyết đểviết về con người cá nhân Nhân vật chủ yếu trong kí sự được xây dựng quanhững ghi chép về những sự việc xẩy ra trong cuộc sống, miêu tả những con

người có thực Hải Thượng Lãn Ông trong Thượng kinh kí sự là chân dung tự

họa, tự thuật Tác giả viết kí sự đã không ngần ngại mô tả về mình, về ngườimột cách chi tiết, sống động, chân thực Tất cả các nhân vật hội ngộ trong tácphẩm tạo thành tuyến nhân vật đa diện và đặc trưng cho nhân vật của một thời

kì văn học

2.1.2 Phương thức xây dựng

Dựa trên những ghi chép sự việc xảy ra trong cuộc sống, nhà văn xây

dựng những hình tượng nhân vật khác nhau Có thể nhà văn ghi chép những

sự việc rất bình thường để dựng lên chân dung nhân vật Điều này khác xa vớicách ghi chép của sử kí Bởi sử kí là ghi chép lịch sử và gắn với nhân vật lịchsử.Tuy nhiên ở ghi chép trong kí sự nhiều khi cũng có xuất hiện nhân vật cóthật nhưng chỉ thuộc giai cấp thống trị

Ngay trong Thượng kinh ký sự, tuyến nhân vật đại diện cho giai cấp

thống trị đương thời hoàn toàn từ nguyên mẫu các nhân vật lịch sử Qua đó

Trang 24

người đọc có thể nhận ra bức tranh lịch sử của xã hội phong kiến Lê - Trịnhthời mạt vận Các nhân vật này chính là bằng chứng lịch sử Họ được đánhgiá qua khả năng của người ghi chép Bằng tất cả cảm quan nhạy bén của mộtnhà nho ẩn dật, Lê Hữu Trác đã nhìn thấy bản chất của chúa Trịnh, thấy đượcmầm diệt vong không thể tránh khỏi của nhà chúa Trong tác phẩm, nhà văntập trung miêu tả thói kiêu căng chuyên quyền cậy thế với tham vọng muốnlàm bá chủ khiến cho Trịnh Sâm không từ một thủ đoạn dã man

Bên cạnh việc xây dựng các nhân vật thuộc tầng lớp thống trị qua việcghi chép tác giả còn diễn tả được tâm trạng, cảm xúc, quan điểm của mình

Đó chính là nhân vật tôi kể chuyện

Trong Thượng kinh kí sự cái tôi cá nhân bộc lộ một cách rõ nét Lê Hữu

Trác không viết tự thuật về cuộc đời mình mà chỉ ghi lại chuyến lên kinhchữa bệnh cho cha con chúa Trịnh 9 tháng 20 ngày Trong thời gian ngắn đóngười đọc hình dung được hình ảnh một nhà nho ẩn dật với cuộc sống thanhnhàn ở Hương Sơn

Kiểu ghi chép sự việc ngày càng rõ nét và trở thành một kiểu sáng tácmới cho văn học trung đại: ghi chép những điều tai nghe, mắt thấy Nhữngthiên kí sự về con người vì vậy mà mang đậm dấu ấn hiện thực Con ngườiđời thường, tự nhiên, không bị lí tưởng hóa như truyền thống văn học trước

đó Kiểu nhân vật này thường là những thư sinh, thương gia, nông dân… vàcũng có rất nhiều nhân vật được nhìn nhận trong tương quan lối sống hằngngày

Khi phân tích nhân vật kí sự chúng ta cũng cần chú ý đến đặc điểm chứcnăng nhân vật Vì qua chức năng có thể lộ rõ được hình tượng nhân vật

2.1.3 Chức năng

Trong văn học dân gian, nhân vật thần thoại, truyền thuyết thường kháiquát năng lực và sức mạnh của con người Với nhân vật của truyện cổ tích lạikhái quát các chuẩn mực giá trị đối kháng trong quan hệ giữa người và người

Trang 25

như thiện với ác, trung với nịnh, thông minh với ngu đần Còn nhân vật kí sựlại phản ánh những sự việc bình thường xảy ra trong cuộc sống.

Nhân vật kí sự còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mỹcủa nhà văn về con người Vì nhân vật được miêu tả qua các biến cố, xungđột, mâu thuẫn và các chi tiết Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâuthuẫn giữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với tuyếnnhân vật khác Nhờ được miêu tả qua xung đột, mâu thuẫn nên nhân vật kí sự

là một chỉnh thể vận động, có tính cách được bộc lộ dần trong không gian,thời gian mang tính chất quá trình

Trong nhân vật kí sự, tác giả thường sử dụng đan xen phối hợp nhiềuphương thức thể hiện và miêu tả, xâu chuỗi những câu chuyện nhỏ của hiệntại và quá khứ phần nào làm sống dậy cái không khí xã hội Tầng lớp quý tộcthượng lưu chủ yếu là những con người ốm đau bệnh tật về thể xác hay tinhthần, suốt ngày chỉ lo chạy thầy tìm thuốc bỏ bê chính sự, ăn chơi trác tánghoặc cam tâm bán nước cầu vinh.Trong cái hỗn tạp đó tất nhiên vẫn còn cónhững con người có lương tâm, tài năng, đạo đức Họ đại diện cho nhữngđốm sáng của cuộc đời sót lại sau bao năm thăng trầm Qua nhân vật nhà vănmuốn phê phán thói ăn chơi sa đọa của một bộ phận tầng lớp vua chúa, quanlại trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ Vậy chức năng cơ bản của nhân vật kí

sự là phản ánh hiện thực lịch sử

2.1.4 Khái quát kiểu tính cách nhân vật kí sự

Thế giới nhân vật trong kí sự thường đại diện cho cái đúng sai, cái thậtgiả, thiện và ác, ánh sáng và bóng tối… Chúng được phân biệt rạch ròi, dứtkhoát thắng bại được thua kết thúc một cách rõ ràng:

Với kiểu nhân vật vua chúa, quan lại đại diện cho giai cấp thống trị, LêHữu Trác không tập trung miêu tả thói kiêu căng chuyên quyền cậy thế vớitham vọng muốn làm bá chủ

Bên cạnh đó tác giả cũng tập trung miêu tả sự sa sút của những đại thần,quân lính, cung tần, kẻ hầu người hạ trong phủ chúa đến quan truyền mệnh,

Trang 26

quan nội thị,…Tất cả số đông nhân vật này đều là những kẻ ăn bám, bon chen

vì danh lợi

2.2 Phương pháp phân tích nhân vật

2.2.1 Kết hợp khai thác sự thực lịch sử và hư cấu văn chương

Nhân vật trong kí sự xuất hiện bởi sự kết hợp khai thác lịch sử và hư cấu

văn chương Lê Hữu Trác viết Thượng kinh kí sự chỉ tập trung vào một số sự

kiện tiêu biểu, một vài chi tiết điển hình hay thoáng qua lối sống xa hoa nơi phủchúa để có thể dựng lại bức chân dung hoàn chỉnh về những con người đại diệncho quyền lực của dân tộc ta vào những năm nửa sau thế kỉ XVIII - nửa đầu thế

kỉ XIX Phủ chúa là một khung cảnh giàu sang mới lạ, tấp nập rộn ràng: “Tôibèn sửa sang áo mũ chỉnh tề, lên cáng vào phủ Tên đầy tớ chạy đằng trước hétđường Cáng chạy như ngựa lồng, tôi bị xóc một mẻ, khổ không nói hết Chúngtôi đi cửa sau vào phủ Người truyền mệnh dẫn tôi qua mấy lần cửa nữa, theođường bên trái mà đi Tôi ngẩng đầu lên: đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chimkêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió thoang thoảng mùi hương Những dãy hànhlang quanh co nối nhau liên tiếp Người giữ cửa truyền báo rộn ràng người cóviệc quan qua lại như mắc cửi Vệ sĩ canh giữ cửa cung, ai muốn ra vào phải cóthẻ” “Đi được vài bước, qua mấy lần cửa mới đến cái điếm “Hậu mã quân túc

trực” [Ngữ văn 11 tập 1, tr4] “Điếm làm bên cái hồ, có những cái cây lạ lùng và

những hòn đá kì lạ Trong điếm cột và bao lơn lượn vòng, kiểu cách thật là xinhđẹp Quan Chánh đường mỗi khi ở triều ra thì nghỉ ở đấy Thấy tôi, ông bảo

quan truyền chỉ” [Ngữ văn 11 tập 1, tr5] “Thánh thượng đang ngự ở đấy, xung

quanh có phi tần chầu chực, nên chưa thể yết kiến Ta hãy tạm ra ngoài”; “Tôinín thở đứng chờ ở xa Quan Chánh đường truyền lệnh cho tôi lạy bốn lạy Thế

tử cười:

- Ông này lạy khéo!

Quan Chánh đường lại truyền lệnh:

- Cụ già yếu, cho phép cụ ngồi hầu mạch”

[Ngữ văn 11, tập 1,tr 6]

Trang 27

Chỉ vài nét điểm qua tưởng chừng như khách quan nhưng chẳng ai làkhông biết rõ ám chỉ cảnh cuối đời Trịnh Sâm xa rời triều chính, mắc bệnh trĩlại hoang dâm nên đau ốm luôn, hay mắc chứng bệnh sợ gió, ngày đêm phải ởthâm cung Dưới sự quan sát của Lê Hữu Trác, vị “chúa con” Trịnh Cán cũnghiện lên khá rõ nét và sinh động Đó là một đứa trẻ: “thế tử trong chốn màn thetrướng phủ, ăn quá no mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi Vả lại, bệnh mắc đãlâu, tinh khí khô hết, da mặt khô, rốn lồi to, gân thời xanh, tay chân gầy gò Đó

là vì nguyên khí đã hao mòn, thương tổn quá mức” [Ngữ văn 11, tập 1, trang7].

Nguyên nhân dẫn ra căn bệnh của thế tử, tác giả cũng chỉ rõ: do ăn quá no, mặcquá ấm, lại ở trong chốn màn che, trướng phủ Bản chất ngây thơ có phần tộinghiệp của Trịnh Cán được tác giả miêu tả qua vài nét chi tiết như: cụ này lạykhéo hoặc chè của cụ ngọt lắm, dễ uống, ta thích uống,…đây là những chi tiết

đã phá tan khung cảnh lộng lẫy uy nghi nơi phủ chúa và dự báo trước tươnglai của một đất nước khi dân tộc nằm trong tay những kẻ như Trịnh Sâm,Trịnh Cán

Bên cạnh đó, chân dung của các vị quan đầu triều cũng hiện lên khá rõ

nét bên cạnh kiểu nhân vật vua chúa Trong Thượng kinh kí sự, nhân vật quan

Chánh đường Hoàng Đình Bảo – nhân vật đại diện cho một bộ phận quan lạitrung thành và có công với chúa Trịnh Cái nhìn của Lê Hữu Trác với nhânvật quan Chánh đường là cái nhìn có phần được tôn trọng và cung kính Nhânvật này hiện lên với cái vẻ oai phong của một vị quan lớn đầu triều Từ dinhthự cho đến cung cách xử sự khi người khác gặp quan: thấy quan Chánhđường đi ra thì mọi người tránh nép yên lặng Chúng ta thấy chân dung quanChánh đường hiện lên qua hành động bận rộn lo liệu tìm thầy chạy thuốcchữa bệnh cho cha con chúa Trịnh bởi số phận ông ta gắn liền với sự hưngvong của triều đại mà ông ta phụng sự Theo cách nghĩ của Lê Hữu Trác,quan Chánh đường là người biết trọng tài năng và lấy nghĩa để đối đãi lại ơnhuệ Nhưng Lãn Ông không lấy điều đó làm vui, trong lòng vẫn cứ lo sợ vàmong mau thoát khỏi vòng danh lợi

Trang 28

Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả hàng ngũ người đứng đầu bộ máychính quyền, ngòi bút hiện thực của Lê Hữu Trác còn tập trung miêu tả sự sasút vô dụng của các đại thần, quân lính, cung tần, kẻ hầu người hạ trong phủchúa đến quan truyền mệnh, quan nội thị, quan tả viện, quan thị vệ…Tất cảnhững nhân vật ấy đều là những kẻ ăn bám, bon chen vì danh lợi hay bệnh tật,đau ốm liên miêm và ra sức chạy thầy tìm thuốc chẳng còn biết gì đến thờicuộc Có chuyện tuy vặt vãnh nhưng rất có ý nghĩa, vì nó phản ánh được thựctrạng của giai cấp thống trị đương thời Tất cả những con người ấy, những sựkiện được mô tả ấy là minh chứng xác thực cho một xã hội phong kiến khủnghoảng, suy đồi băng hoại cả về tinh thần lẫn tư tưởng đạo đức…

Với cách nhìn khách quan và bản lĩnh của nhà văn Lê Hữu Trác khôngchỉ mô tả lịch sử, kể lại những gì xảy ra mà còn bộc lộ cái tôi cá nhân mộtcách trung thực của con người thuộc tầng lớp trên Đó là bức chân dung kíhọa sinh động về tầng lớp người có vị trí, vai trò trong xã hội Giờ đây họkhông còn là thần tượng thiêng liêng tôn quý mà chỉ là biểu trưng cho sự xấu

xa, đáng lên án

Nhân vật trong kí sự được mổ xẻ, phân tích dưới nhiều góc độ khác nhauvượt ra ngoài cái nhìn chính thống, chuẩn mực của văn chương nhà Nho

2.2.2 Kết hợp hình thành nhận thức chân lý lịch sử và cảm xúc thẩm mỹ

Trong tác phẩm kí sự các tác giả đã kết hợp hình thành nhận thức chân

lý lịch sử và cảm xúc thẩm mỹ Với dòng ghi chép Hải Thượng Lãn

Ông-cũng là một nhân vật mang tâm trạng trong tác phẩm Thượng kinh ký

sự–“ngâm một bài thơ để ghi nhớ”:

Lính nghìn cửa vác đòng nghiêm nhặt

Cõi trời Nam sang nhất là đây!

Lầu từng gác vẽ tung mây,

Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào.

Trang 29

Hoa cung thoang thoảng ngạt ngào đưa tới, Vườn ngự nghe vẹt nói đời phen,

Quê mùa, cung cấm chưa quen,

Khác gì ngư phủ đào nguyên thuở nào!

Đây là một thơ tức sự tức là ghi lại việc đang xẩy ra và bộc lộ cảm xúc của vị lương y

Khi nhận chỉ của chúa mời vào kinh tác giả “vô cùng lo sợ” Nỗi buồn

đè nặng lên cả cảnh vật Trong suốt hành trình, cuộc đấu tranh nội tâm diện ragay ngắt Ông luôn tìm cơ hội thoát khỏi nơi giàu sang quyền quý để trở vềcuộc sống thanh nhàn, giữ cho tấm lòng trinh bạch Cho đến khi ông trở vềông mừng thầm và tự hào : “Thân tuy vướng mắc vòng danh lợi, nhưng cáitâm không bị mê hoặc bởi lợi danh Thảnh thơi mà đến, ung dung mà đi Lại

về gặp gỡ núi xưa, gối trên đá, ngủ dưới hoa, giữa giấc mơ màng nghe như cóngười nhắc đến chuyện cũ, giật mình tỉnh dậy, nghĩ bụng rằng ta không bị chêcười là chỉ nhờ ở chỗ không tham đó thôi” [63, 222]

Với ẩn sĩ, tránh xa danh lợi là một cách giữ lòng mình thanh sạch, thểhiện nhân cách cao thượng Nhưng Lê Hữu Trác không sống biệt lập với xãhội như các ẩn sĩ trong lịch sử, mà ông vẫn làm thuốc, chữa bệnh cứu người

Và trong con mắt của các công hầu, khanh tướng chốn kinh kì, cụ là “Bậc họcrộng tài cao”, “đạo làm thuốc ngày nay không ai hơn cụ, đã có tài học sâu sắc

về tính và mệnh, lại có cái tài thơ rất là phong lưu Lí Bạch, Đỗ Phủ” [63, 63]

Vì thế “Nhà lúc nào cũng chật khách, ấm chén lúc nào cũng đầy chè” Thếnhưng trước những lời khen ngợi đó Lãn Ông rất khiêm tốn tự nhận mình là

“lúc trẻ có chí muốn bay nhảy, nhưng vận mệnh hèn kém, thời cơ lỡ dở, nên

về ẩn náu nơi núi non hẻo lánh, cầu chút nhàn thân Nay tuổi đã 60, tai điếcmắt hoa lẽ nào lại cầu hiểm đạt” [63, 51]

Trang 30

Thượng kinh lần này, Lãn Ông đã chứng tỏ mình là danh y lỗi lạc chốnkinh kì bởi ông không chỉ chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh mà còn rất nhiềungười khác, từ “các quan tới lính tráng và bà con phố phường đã nhiều ngườibiết mà tìm đến” [63, 57] Với ai ông cũng chữa trị rất tận tình vì ông quanniệm “Cha ông mình đời đời ăn lộc nước, mình phải dốc sức hết lòng để nốitiếp cái chí trung thành của cha ông” [63, 47] Có lúc ông đã từng băn khăn

“nếu ta chạy chữa có công hiệu nhanh thì nhân thân sẽ vướng vào vòngcương tỏa, không có ngày được trở về núi cũ Chi bằng ta dùng phương thuốchòa hoãn, dù không trúng bệnh thì cũng chẳng sai lạc đi bao nhiêu” [63, 46].Thế nhưng ý thức trách nhiệm và bản lĩnh nghề nghiệp luôn được ông đặt lênhàng đầu Trong khi chữa bệnh ông luôn tìm ra đáp số cho bài toán khó trong

y đạo

Trong nghề y, ông tỏ ra là người nghiêm khắc, cẩn trọng và rất khinhthường những vị quốc y ở chốn kinh thành chỉ biết đem con bệnh ra làm vậtthí nghiệm: “Khi tôi còn ở núi, mỗi khi nghĩ đến các vị quốc y ở chốn kinhthành đều cho là ai nấy học dồi dào, tài nghệ tuyệt diệu cho đến lúc tôi lênkinh, thấy cảnh chữa thuốc của họ, thì chỉ loanh quanh nếu không bảo là

“phong hỏa”, “chân hỏa” và những điều quan trọng của phép dưỡng sinh, thìchẳng ai coi trọng cả” [63, 137] Bởi ông tự coi mình là tinh thông y thuật, có

kẻ lại mò mẫm lơ mơ, “ Y hệt một kẻ dương cung không nổi lại rồi đổ tạicánh cung cứng quá” [63, 138]

Bên cạnh hình ảnh một vị lương y tài năng, trần đầy nhiệt huyết và làmtròn trách nhiệm, Lê Hữu Trác hiện lên với cốt cách thanh cao của vị hiềntriết phương Đông, luôn coi cái đẹp là cái tự nhiên và khát khao hòa nhập vớithiện nhiên Chín tháng ở kinh đô với biết bao cám dỗ của hiền tài, danhvọng, lòng ông chỉ muốn “ trong khi uống một chén nước ở Hương Sơn,ngoài thì thoa một áng mây ở Hương Sơn) [63, 52] như lời Quận Hầu nhậnxét Vượt qua tất cả quyền lợi vật chất và danh lợi ông đã trở về cuộc sốngnhư ông hằng mong mỏi Đó là về với quê mẹ - Hương Sơn để lại “gối trên

Trang 31

đá, ngủ dưới hoa” bầu bạn cùng sông núi, đem tài năng phục vụ dân chúngcần lao.

Lê Hữu Trác hoàn tàn làm chủ ngòi bút của mình để bộc lộ cái tôi mộtcách mạnh mẽ rõ ràng Mọi sự kiện trong tác phẩm đều qui tụ về cái tôi cánhân của tác giả: Tôi thấy, tôi nghe, tôi nghĩ, tôi cho rằng, tôi bùi ngùi,…Kếtthúc tác phẩm hình tượng Lê Hữu Trác hiện lên là: một thi nhân, một ẩn sĩthanh cao, một danh y lỗi lạc đã đặt mình ra ngoài vòng cương tỏa

Thượng kinh kí sự là tác phẩm tiêu biểu cho một ghi chép sự việc theo

lối vừa kể vừa tả vừa bình luận Tác giả đã khéo léo phối hợp cùng lúc đan càivào nhau giữa mạch cảm xúc kể tả và bình luận như những dòng chảy mạchlạc vừa chan chứa, đem lại sức hấp dẫn cho lời văn, đồng thời cũng cho ngườiđọc cảm nhận một cách rõ nét hơn bức tranh xã hội và con người thời LêTrịnh Cụ thể như khi tác giả đề cập đến Quan Chánh đường Hoàng MinhBảo và những cảnh sinh hoạt nơi phủ chúa, đặc biệt là hình ảnh cha con chúaTrịnh:

“Quận hầu mời tôi vào nhà cùng ngồi trò chuyện Lúc này tôi cứ tưởngnhững kiểu công tử vương tôn này đẻ ra lớn lên ở nơi giàu sang chỉ quen thóiphồn hoa ăn chơi dông dài mà thôi Giờ đây người này học vấn uyên bác, hiểu

rõ hơn mọi lẽ phải, xưa nay, y như một người đã từng trải qua nhân tình thếthái, hơn nữa, tính tình khiêm tốn, không chút kiêu hợm, nên tôi càng kínhphục” [63, 39]

“Mình vốn cũng con em nhà quan, sinh trưởng ở nơi phồn hoa, khắpchốn trong cấm thành, chỗ nào cũng từng quen thuộc, duy có quang cảnh phủchúa thì chỉ được nghe nói thôi Nay được đến đây, mới biết là sự giàu sangcủa vua chúa, quả là không ai có thể sánh kịp…” [63, 40]

“Ông chia phần cơm của mình cho tôi ăn Mâm vàng chén bạc thức ngoncủa lạ, bấy giờ tôi mới được biết cái phong vị của nhà sang” [63, 44]

Trang 32

“Theo ý tôi, bệnh Thế tử là do sinh trưởng ở nơi màn the trướng gấm, ănquá no mặc quá ấm, tạng phủ kém yếu, lại thêm bị ốm lâu nên tinh huyết haokiệt, da mạt khô, rốn lồi, gân xanh, chân tay khẳng khiu” [63, 45].

Tác giả đã tả cảnh trên đường đi, cảnh trong phủ chúa mà ông có dịpquan sát Tất cả đều bộc lộ rõ hơn về khát khao muốn xa mọi sự bon chendanh lợi ở đời:

“Đường đi về phía núi Cấm… Lúc này sương khói mịt mùng, thực là sáungọn núi quanh co uốn khúc Chẳng biết có nhà sư nào tới chốn đây không!Cách nhau năm bước là đã không nom rõ vật gì rồi chỉ còn nghe tiếng vượnkêu chim hót, giống hệt như cảnh đang sống trong mây” [63,17]

“Ngày 22, tôi cùng tùy tùng đi trước… Đi đến Long Sơn, thấy thế đấtnhư hình vòng cung, cổ thụ um tùm, mát râm rất thích, lại có những tảng đáchồng gác lên nhau xếp rất đều đặn” [63, 20]

Trong Thượng kinh kí sự, đằng sau thái độ cung kính, giữ lễ của Lê Hữu

Trác là đôi mắt sắc sảo tò mò, tranh thủ quan sát của một người thường nhânlần đầu tiên được đặt chân vào nơi cung cấm Nhìn những sinh hoạt trong phủchúa, quang cảnh Thăng Long, cung cách giao du xướng họa giữa đám đôngnho sĩ công khanh nơi đế đô, chuyện trên đường đi, tình cảm chan chứa lúctrở về núi cũ đã được tác giả thuật lại một cách bình dị không tô vẽ nhưngsinh động, chân thật “Lê Hữu Trác đã bỏ xa phong cách khoa trương, baybướm hay xu hướng “truyền kỳ” để ghi lại những câu chuyện bình thường, cóthật trong đời sống hàng ngày, không phải là một vĩ nhân xa lạ nào mà củachính ngay trong bản thân mình” [64, 320]

Bằng lối viết giản dị, trong sáng, ít sử dụng các điển cố, điển tích

Thượng kinh kí sự là tập ký sự đạt đến đỉnh cao trong nghệ thuật kí sự ở văn

học giai đoạn này Trước hết ở việc sử dụng điển cố, điển tích cũng rất ít toàntác phẩm chỉ khoảng hơn 10 điển cố, điển tích Nhiều lúc tác giả sử dụngngôn ngữ kể chuyện một cách trực tiếp để ghi lại “nguyên xi” những sự kiện,tình tiết mà tác giả tận mắt chứng kiến hoặc trải qua Coi thường danh lợi, ông

Trang 33

sống ở chốn núi rừng chuyên tâm nghề y, chữa bệnh cứu người làm lẽ sống.

Vì ông là người có tài, tiếng tăm như sấm động nên phải vào cung vua chữabệnh cho chúa Trịnh Ông viết một cách hóm hỉnh về cái bả công danh: “Tôibèn sửa soạn áo mũ, lên kiệu vào phủ…Tôi bị một chuyến xóc lên xóc xuống,khổ không xiết nói” [63, 39-40] Lần đầu tiên được vào phủ chúa Trịnh, quansát cảnh vật ở phủ chúa, tác giả phải thốt lên: “Mình vốn cũng là con em nhàquan, sinh trưởng nơi phồn hoa…Nay được đến đây, mới biết là sự giàu sangcủa vua chúa, quả là không ai có thể sánh kịp” [63,40] Tác giả choáng ngợpchen lẫn sợ hãi trước những cảnh vật và cung cách sinh hoạt ở phủ chúa LêHữu Trác đã phải thốt lên:

Kim qua vệ sĩ ủng thiên môn.

Chính thị nam thiên đệ nhất tôn.

Họa các trùng lâu lăng bích hán,

Châu liêm ngọc hạn chiếu triêu đôn.

Cung hoa mỗi tống thanh hương trận.

Ngự uyển thời văn anh vũ ngôn.

Sơn đã vị tri ca quản địa,

Hoảng như ngư phủ nhập đào nguyên.

Dịch nghĩa:

Cung cấm oai nghiêm lính giáo vàng.

Nơi đây bậc nhất cõi trời nam.

Lầu cao gác vẽ mây xanh vút.

Thềm ngọc rèm châu nắng sớm tràn.

Thơm ngát hoa hoa cung làn gió thoảng.

Vẹt kêu vườn ngự tiếng đưa sang.

Quê mùa chưa biết nơi thanh lịch.

Ngư phủ đào nguyên luống ngỡ ngàng.

[63, 40-41]

Trang 34

Quan niệm văn chương Nho giáo rất đề cao sự chân thực trong miêu tả

sự vật sự việc và cả trong biểu thị cảm xúc của con người Để sáng tạo rađược những giá trị văn chương có phẩm chất đó không chỉ cần tài năng màcòn cần có bản lĩnh cao Lê Hữu Trác miêu tả tâm trạng của chính mình khichữa bệnh cho thế tử biểu thị giản dị và chân thực một nhân cách cứng cỏi.Với cách nhìn khách quan và bản lĩnh của người cầm bút các tác giả viết

kí không chỉ mô tả lịch sử, kể lại những gì xảy ra mà còn bộ lộ cái tôi cánhân một cách trung thực về con người thuộc tầng lớp trên Đó chính là bứcchân dung kí họa sinh động về tầng lớp người có vị trí, vai trò trong xã hội

Họ là những người biểu trưng cho sự xấu xa đáng lên án

Với kiểu nhân vật bình thường dưới con mắt của các nhà văn viết kímang đậm dấu ấn hiện thực Đó là những nhân vật đời thường, tự nhiên,không bị lí tưởng hóa Những con người có thực trong xã hội lúc bấy giờ.Bằng tài năng của mình nhà văn đã miêu tả một cách tỉ mỉ chân dung củanhững nhân vật bình thường rất đỗi quen thuộc Nhân vật dần bước ra khỏivòng hào quang lí tưởng hóa, thần thánh hóa Tác giả rất dụng công trong việcghi chép con người thật, việc thật với cả những ưu điểm và khuyết điểm.Với kiểu nhân vật tôi kể chuyện, tác giả kí sự trung đại rất khéo léo hòavào tác phẩm cùng với các nhân vật khác một cách tự nhiên Với giọng văn

“mượt mà, trữ tình” của Lê Hữu Trác, người đọc nhận ra được bức chân dungcủa những nho sĩ ẩn dật trong cuộc tang thương dâu bể Với tài năng quan sát,ghi chép một cách tỉ mỉ thể hiện một tư tưởng, lập trường, tâm hồn của nhànho Việt Nam trong bối cảnh xã hội rối ren, loạn lạc Đó chính là xã hội màgiai cấp thống trị chỉ là hám danh lợi, ăn chơi cho thỏa thích như Trịnh Sâm.Tác giả cũng miêu tả nỗi cực khổ của nhân dân: chuyện mất mùa, đói kém.Thái độ của nhà văn trước cái thói xấu xa của bọn vua chúa thật rõ ràng.Người đọc cảm nhận được những trăn trở, suy tư, khát khao thầm kín và cảtình yêu nước, nhớ tiếc “tiền triều” ẩn đằng sau trang kí sự Đó là những nhàNho có hoài bão lớn, họ từng ôm giấc mộng văn chương để sau này làm nhiều

Trang 35

việc có ích cho đời Các tác giả cũng từng trải qua nhiều cuộc thi cử của triềuđình, nhưng họ không muốn làm quan mà trở về quê sống cuộc sống thanhđạm hết lòng phục vụ nhân dân Những nhà viết kí sự đó có điều kiện đi sâutìm hiểu về cuộc sống, con người, về truyền thống văn hóa, phong tục tậpquán,…của dân tộc một cách thấu đáo.Hay với Lê Hữu Trác một danh y cótiếng trong thiên hạ, được chúa mời vào kinh để chữa bệnh cho cha con chúaTrịnh Mặc dầu ông biết rất rõ căn bệnh của cha con chúa nhưng ông khôngmuốn chữa trị cho Bởi ông sợ phải ở lại trong cung làm quan nên ông đãtừng đấu tranh với chính bản thân mình xem nên làm thế nào Và cuối cùng vì

y đức của người thầy thuốc nên ông đã phải chọn con đường đi đúng với đạo

lý làm người Nhưng cuối cùng ông vừa hoàn thành nhiệm vụ vừa được trở vềquê nhà một cách thảnh thơi không vướng bận danh lợi chốn kinh thành Qua

đó chúng ta thấy, tuy không có ý đồ dựng lại bức chân dung của mình nhưngviệc tự thuật, suy nghĩ và những trang kí thẫm đẫm chất nhân văn người đọcthấy được chân dung tự họa của các nhà nho Việt Nam trong thời kỳ suy vongcủa xã hội phong kiến Đó là những con người luôn khát khao xây dựng mộtchế độ xã hội tiến bộ hơn

Trang 36

Chương 3 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH NHÂN VẬT TRUYỆN TRUYỀN KỲ

3.1 Đặc điểm nhân vật truyện truyền kỳ

Không có nhân vật chung mà bao giờ chúng cũng là nhân vật của từngthể loại, bởi vậy phải xác định đặc điểm của nhân vật từng thể loại để cóphương pháp phân tích thích hợp Đặc điểm nhân vật truyện truyền kỳ thểhiện ở chất liệu, phương thức xây dựng và chức năng của chúng

3.1.1 Chất liệu xây dựng

Để xây dựng nhân vật truyện truyền kỳ, nhà văn cần có một cái nhìn vềcon người thực sự phù hợp để chúng trở thành những hình tượng của tácphẩm Với truyện truyền kỳ có sức lôi cuốn độc giả do ở loại tác phẩm nàytrí tưởng tượng của con người được thoả sức phát huy, ngôn từ tác phẩmgiàu chất nghệ thuật để xây dựng nên những hình tượng chân thực về chính,

tà Nghĩa là dù cho phương thức thể hiện cuộc sống có sai lệch với quanniệm của đức thánh Khổng, nhưng mục đích khuyến thiện trừ tà lại phù hợpnên truyện truyền kỳ vẫn tồn tại trong hàng ngàn năm dưới xã hội phongkiến Nhân vật trong truyện truyền kỳ được hư cấu từ cuộc sống con ngườitrong xã hội phong kiến

Hình tượng nghệ thuật (nhân vật con người) xuất hiện trong tác phẩmbao giờ cũng mang tính quan niệm, tức là phản ánh, miêu tả, thể hiện, nhânvật con người bao giờ cũng thể hiện nó quan niệm của tác giả Ở truyệntruyền kỳ xem xét con người không phải ở phạm trù tồn tại mà xem xét conngười ở các mối quan hệ tự nhiên xã hội Bên cạnh việc phản ánh hiện thựcnhà văn còn hư cấu tưởng tượng những thế giới khác ngoài thế giới hiện sinh

của con người, như thượng giới (Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên trong Truyền

kỳ mạn lục), âm phủ (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên), thủy cung

(Chuyện người con gái Nam Xương) Người ta có thể sống bình thường ở

đó, với các quan hệ (ít hơn) được mô phỏng từ cõi trần Hay từ những

Trang 37

chuyện loài vật rút ra bài học cho con người (Chuyện con hổ có nghĩa)… Đó chính là chất liệu chủ yếu để xây dựng nên nhân vật trong truyện truyền kỳ.

Khi xây dựng nhân vật truyện truyền kỳ nhà văn cũng phải dự trên nhữngphương thức xây dựng nhân vật phổ biến của văn chương nói chung

3.1.2 Phương thức xây dựng

Phương thức thể hiện phẩm chất và số phận nhân vật, là con đường,cách thức nhà văn tạo nên nhân vật Hoặc thông qua miêu tả nội tâm, hoặcthông qua việc tạo dựng tình huống để từ đó nhân vật bộc lộ phẩm chất, tínhcách, số phận,… Nhân vật giữ vai trò quan trọng hàng đầu tạo nên tác phẩmvăn học, nên nhà văn rất chú trọng sáng tạo

Tác phẩm truyện truyền kỳ đã thể hiện sự tuân thủ phương thức xâydựng nhân vật qua các khía cạnh: miêu tả ngoại hình, miêu tả nội tâm và sửdụng yếu tố kỳ ảo

Để khắc họa hình tượng nhân vật nhà văn thường miêu tả tính cách nhânvật Nói đến tính cách nhân vật là nói đến đặc điểm tâm lý ổn định chi phốimọi hành vi, thái độ bộc lộ cốt cách, phẩm chất của nhân vật Nhân vật chỉxuất hiện qua sự trần thuật, miêu tả bằng phương tiện nghệ thuật, các phươngthức thể hiện nhân vật hết sức đa dạng

Nhân vật trong truyện truyền kỳ, tác giả dụng công xây dựng những conngười gắn với những cuộc đời riêng để phản ánh hiện thực Từ việc miêu tảngoại hình và hành động nhân vật để khái quát nên tính cách nhân vật như:

tính hay ghen vợ để rồi dẫn đến sự hiểu lầm của Trương Sinh (Chuyện người

con gái Nam Xương), tính cương trực nóng nảy dẫn đến hành động đốt đền

của Tử Văn (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên),…

Khi xây dựng nhân vật tác giả truyện truyền kỳ phải miêu tả nội tâm, tứcthế giới tâm lý và tinh thần của nhân vật Vì“nội tâm” là những tâm trạng, suynghĩ, cảm xúc, cảm giác, những phản ứng tâm lý của bản thân trước cảnh ngộ,tình huống mà nhân vật chứng kiến hoặc thể hiện trên bước đường của mình

Trang 38

Như vậy khi miêu tả nội tâm nhân vật chính là biện pháp xây dựnghình tượng nghệ thuật Những cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật vềthế giới và con người, về bản thân mình Nhà văn có thể trực tiếp biểu hiệnnội tâm nhân vật bằng ngôn ngữ của mình với tư cách là người kể truyện;những biện pháp mà nhà văn hay sử dụng nhất là biểu hiện độc thoại nội tâm

và đối thoại trong nội tâm của nhân vật Nhưng ở đây, với nhà văn Nguyễn

Dữ trong Truyền kỳ mạn lục, nội tâm được thể hiện bằng chính ngôn ngữ

của nhân vật Nhân vật tự biểu hiện, phơi bày những diễn biến tâm trạng củamình qua những suy nghĩ cảm xúc cụ thể của mình như: suy nghĩ của VũThị Thiết “nàng tắm gội chay sạch, ra bến Hoàng Giang ngửa mặt lên trời

mà than ”(Chuyện người con gái Nam Xương) Hay nhân vật Tử Văn

(Chuyện chức phán sự đền Tản Viên) vốn là người cương trực, yêu lẽ phải,

khi tường tận mọi điều, chàng ngạc nhiên pha chút bất bình vì thổ công camtâm “làm một người áo vải nhà quê”

Lời thổ công như những khái quát đầy cay đắng về nhân tình thế tháiđương thời, ẩn sau đó có cả nỗi ngao ngán của Nguyễn Dữ về thời cuộc,điều khiến ông phải từ quan Câu nói của Tử Văn cho thấy chàng thoángchút hoang mang:

- Hắn có thực là tay hung hãn, có thể gieo vạ cho tôi không?

Lời nhân vật tuy ngắn, nhưng cho thấy nhà văn am tường tâm lý conngười Khi Tử Văn đơn độc đối diện với cái ác cũng đơn độc, chàng không

sợ Nhưng khi biết của đút lót có thể làm tha hoá cả cõi âm, số đông đã đứng

về kẻ phi nghĩa, nếu chàng không chút lưỡng lự thì quá phi thường, khó tin

Trong các truyện truyền kỳ chúng ta thấy thường xuyên của các chi tiết

hoang đường kỳ lạ tạo nên nôi dung và phong cách nghệ thuật mới mẻ Đối

với những tác giả truyện truyền kỳ tài năng, thế giới kỳ mà nhà văn sáng tạo nên là thế giới lần đầu tiên xuất hiện, là cái hư nhưng gắn liền với cái thực, nhằm mục đích tạo nên cảm xúc thực Ở Truyền kỳ mạn lục để xây dựng cõi

Trang 39

âm, Nguyễn Dữ cũng sử dụng những chuẩn mực của cõi dương Đứng đầu xãhội chốn thuỷ cung phải có “vua biển Nam Hải”, nhưng do nội dung truyệnyêu cầu, chỉ có phu nhân của ngài xuất hiện Thế giới ấy cũng có đẳng cấp, cóngười giàu sang để có điều kiện vật chất tạ ơn cứu mạng Tuy nhiên, cáchhành xử của các thành viên trong thế giới ấy thực sự là đối trọng với thói đời

ở trên kia Vợ vua Nam Hải không xuất hiện như mẫu nghi thiên hạ mà chỉnhư bậc huynh trưởng trong một gia đình thân ái

Qua mối liên hệ giữa các chi tiết hoang đường, kỳ ảo, Nguyễn Dữ đã đểlại cho nhân vật của ông xuất hiện một ngoại hình, dáng dấp, diện mạo tươngđối mạnh dạn và độc đáo Một mặt ông dựa vào yếu tố kỳ lạ, hoang đường đểnhằm phát triển tính cách nhân vật, mặt khác ông thể hiện quan niệm về conngười mới xuất hiện trong thời đại lúc bấy giờ Xuyên suốt câu chuyện, tínhcách nhân vật luôn luôn thay đổi, phát triển theo tình huống của truyện đưa ra.Tình huống truyện bao giờ cũng là những tình huống độc đáo và kỳ lạ

Chuyện người con gái Nam Xương là một ví dụ tiêu biểu cho sự phát triển

tính cách nhân vật qua các chi tiết kỳ lạ Có thể xem truyện này là một vởkịch có hai màn đối lập nhau về tính chất Đó là màn hiện thực “trần trụi” vàmàn “kỳ ảo” Ở đây chúng ta chỉ nói đến màn “kỳ ảo” với sự phát triển tínhcách nhân vật nàng Vũ Nương Nguyễn Dữ đã để cho nàng Vũ Nương sốngtrong một thế giới kỳ ảo, ở thế giới này mọi người sống với nhau thật ânnghĩa, Vũ Nương đã được sống lại bởi tình thương yêu của tác giả

Tác giả Nguyễn Dữ sử dụng cái “kỳ” này thực tế để xây dựng hình

tượng nghệ thuật trong Truyền kỳ mạn lục, đó là một thế giới thần cũng tồn tại

với thế giới của con người, những sự quái dị xen kẽ với những điều bìnhthường, tình tiết thực xen lẫn tình tiết ảo, việc người quan hệ với thần, tiên,

ma, quỉ…tất cả đều có mối liên hệ với nhau rất chặt chẽ và thống nhất Nếuthiếu đi những yếu tố này thì nhân vật sẽ rơi vào bế tắc Như vậy, khát vọnghạnh phúc lứa đôi, gia đình, lý tưởng thẩm mỹ cao đẹp và nó trở thành ýnghĩa tố cáo bài xích thói hư tật xấu của xã hội sẽ không thực hiện được Và

Trang 40

vì thế mà yếu tố “kỳ”- “thực” luôn gắn bó và chi phối lẫn nhau Bản thân yếu

tố này là một cách phản ánh cái thực, cho nên dù mọi chi tiết hoang đường,quái đản bao nhiêu cũng không xa rời với đời sống thực tế của con người.Việc xây dựng nhân vật không phải là người trong truyện truyền kỳ nói

chung và trong Truyền kỳ mạn lục nói riêng đều dựa vào sự mô phỏng con người Nhân vật thần linh, ma quái trong Truyền kỳ mạn lục còn hiện lện những biểu hiện của con người Ví như trong truyện Từ Thức lấy vợ tiên nhân

vật nàng tiên Giáng Hương có những đặc điểm gần gũi với con người trần thế.Nàng là tiên nữ nhưng vẫn còn vướng bụi trần: “Không như thiếp bảy tìnhchưa sạch, trăm cảm dễ sinh, hình ở phủ tía nhưng lụy vướng duyên trần, thân

ở đền Quỳnh mà lòng theo cõi dục” [55, 124] Vợ chồng Từ Thức và GiángHương tự vỗ tay tán thưởng nhau về việc cõi trần còn vấn vương trong tâmhồn Nguyễn Dữ đã miêu tả sự đổi thay sắc thái tinh thần khi có tình yêu vớingười hạ giới của nhân vật Giáng Hương: Nương tử hôm nay màu da hồnghào, chứ không khô gầy như trước nữa” - chính tình yêu đã đem lại phépnhiệm màu Tình yêu giữa Từ Thức và Giáng Hương là thứ tình yêu tự do màcon người khao khát Tác giả mượn chuyện tiên để nói chuyện người

Khi xây dựng nhân vật không phải là người của Truyền kỳ mạn lục, là

tác giả dựa trên mô hình của con người Không phải thần linh, ma quỉ làm chủ

vũ trụ này mà đó chính là con người Yêu quái hại người thì bị con ngườitrừng trị, tiêu diệt Con người xuất hiện ở mọi nơi trên thế gian này, dùthượng giới hay địa phủ, dù cõi tiên hay thủy cung… Nhưng điều đặc biệt là,con người có mặt ở đâu thì ở đó hoàn cảnh được trong sạch, công lý sáng tỏ,

kỷ cương được lập lại Con người đã làm mất vai trò thiêng liêng của thầnthánh Với Nguyễn Dữ hai viên Hộ pháp chùa Đông triều: “vào bếp đểkhoắng hũ rượu của người ta… ghẹo vợ con người ta” hoặc “thò tay khoắngxuống một cái ao, bất cứ vớ được cá lớn, cá nhỏ đều bỏ vào mồm nhai hết”

(Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều) Nguyễn Dữ đã lấy con người

làm đối tượng chính để phản ánh

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Dữ (1998), Truyền kì mạn lục, Hội nghiên cứu và Giảng dạy văn học – NXB Văn nghệ, TP. Hồ chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền kì mạn lục
Tác giả: Nguyễn Dữ
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 1998
2. Nguyễn Văn Đường (2008, chủ biên), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập 2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10
Nhà XB: Nxb Hà Nội
3. Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn 10 (2011), tập 2, Nxb Giáo dục, Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn 10
Tác giả: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kỹ năng môn Ngữ văn 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
4. Phan Trọng Luận (2008, chủ biên), Thiết kế bài học Ngữ Văn 10, Tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài học Ngữ Văn 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
5. Nguyễn Đăng Na (2001), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 2, NXB Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
6. Sách giáo viên Ngữ văn 10 (2010), tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 10
Tác giả: Sách giáo viên Ngữ văn 10
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
4.3. Thử nghiệm hiệu quả của phương pháp 4.3.1. Mục đích thử nghiệmQua việc áp dụng hai phương pháp có tính tích cực trong việc tìm hiểu ba tác phẩm đọc - hiểu trong chương trình Ngữ văn 10 và Ngữ văn 11 (cơ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w