Lý do chọn đề tài: Chọn đề tài: “Phụ nữ Nghệ An trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ 1885 - 1945” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học thạc sỹ, nhằm giải quyết những yêu cầ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
-Trần Thị Thanh Thủy
phụ nữ Nghệ an trong phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
-Trần Thị Thanh Thủy
phụ nữ Nghệ an trong phong trào
đấu tranh giải phóng dân tộc
Trang 3Đề tài này hoàn thành ngoài sự phấn đấu học tập, nghiên cứu của bản thân Tôi còn nhận đợc sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hớng dẫn Nguyễn Quang Hồng cùng các thầy (Cô ) giáo trong khoa Lịch sử - Trờng Đại Học Vinh.
Nhân dịp này, tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Nguyễn Quang Hồng cùng các thầy (Cô ) giáo trong khoa Lịch sử đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này.
Vì thời gian và nguồn tài liệu có hạn, chắc chắn đề tài còn có nhiều khiếm khuyết Kính mong nhận đợc các ý kiến đóng góp của các quý thầy, cô và các bạn.
1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội tỉnh Nghệ An 06
1.2 Khái quát về truyền thống của phụ nữ Nghệ An 121.2.1 Phụ nữ Nghệ An với truyền thống lao động cần cù 121.2.2 Phụ nữ Nghệ An trong việc giữ gìn gia phong - đạo lý 171.2.3 Phụ nữ Nghệ An góp phần ổn định cuộc sống gia đình, dòng
họ,
phát triển kinh tế
20
Trang 41.2.4 Phụ nữ Nghệ An với việc phòng chống thiên tai 241.2.5 Phụ nữ Nghệ An trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm 251.2.5.1 Động viên chồng con tham gia phong trào 25
Chơng II: Phụ nữ Nghệ An trong phong trào giải
phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đến trớc khi Đảng ta ra
3.1.2 Sự ra đời Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam
Hội Liên hiệp phụ nữ Nghệ An
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài:
Chọn đề tài: “Phụ nữ Nghệ An trong phong trào đấu tranh giải phóng dân
tộc từ 1885 - 1945” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học thạc sỹ, nhằm giải quyết
những yêu cầu về mặt khoa học và thực tiễn đặt ra sau đây:
- Trong lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc, phụ nữ nói chung và phụ nữNghệ An nói riêng có nhiều đóng góp quan trong trên tất cả các lĩnh vực: ổn địnhcuộc sống gia đình, phát triển kinh tế, chống thiên tai, góp phần đánh lại ngoạixâm, xây dựng văn hoá… Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc nghiêncứu đánh giá về đóng góp to lớn của phụ nữ Nghệ An trong sự nghiệp đấu tranhgiải phóng dân tộc Đây là vấn đề các nhà nghiên cứu lịch sử rất quan tâm
- Phụ nữ Nghệ An trong thời Pháp thuộc có nhiều đặc điểm khác nổi bật: Sớmtiếp thu văn hoá văn minh, sớm tiếp thu các xu hớng cứu nớc và có nhiều cá nhân xuấtsắc có nhiều đóng góp cho sự nghiệp giải phóng dân tộc nh: Tôn Thị Quế, Đặng ThịQuỳnh Anh, Nguyễn Thị Thanh (Chị ruột Bác Hồ), Nguyễn Thị Minh Khai, NguyễnThị Quang Thái, Nguyễn Thị Nhuận… Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần vàoviệc bổ sung t liệu, đánh giá vai trò to lớn trong cuộc đời hoạt động cách mạng củanhững chiến sỹ yêu nớc, những chiến sỹ cộng sản xuất sắc ấy Điều này có ý nghĩathiết thực đối với khoa học, và là biểu hiện cụ thể của đạo lý “Uống nớc nhớ nguồn”của dân tộc ta
- Cùng với sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá và quá trình hội nhập
đang diễn ra mạng mẽ, Nghệ An đã và đang phấn đấu hết sức mình để v ơn lênthành một tỉnh vững mạnh Công cuộc đó có thành công hay không phụ thuộc mộtphần rất lớn vào các tầng lớp phụ nữ của tỉnh nhà
2 Lịch sử vấn đề:
Nói đến Nghệ An, ngời ta nghĩ ngay đến đó là một mảnh đất giàu truyềnthống hiếu học và cách mạng, là quê hơng của cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà
Trang 6đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh, là vùng đất địa linh nhân liệt, là quê hơng của vịlãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh Với những lí do đó thì Nghệ An đã trở thành một đề tàilớn đợc nghiên cứu dới nhiều góc độ khác nhau Thế nhng việc nghiên cứu, tìmhiểu về phụ nữ Nghệ An trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc giai đoạn tr-
ớc và sau khi Đảng ta ra đời lại cha đợc quan tâm nghiên cứu đúng mức mặc dù đã
có một số tác phẩm đề cập đến vấn đề này với những mức độ khác nhau:
- Sơ thảo lịch sử phong trào phụ nữ Nghệ An (1930 - 1975) do Hội Liên hiệp
phụ nữ Nghệ An biên soạn và xuất bản 1996 Tác phẩm đã điểm lại quá trình hìnhthành và phát triển của phong trào phụ nữ Nghệ An qua các thời kỳ cách mạngcùng những đóng góp tích cực của Hội phụ nữ Nghệ An cho sự nghiệp cách mạng
và xây dựng, bảo vệ tổ quốc Với hình thức trình bày theo giai đoạn, tơng ứng vớinhững chặng đờng phát triển của Hội Liên hiệp phụ nữ Tỉnh và cả nớc, công trìnhphần nào cung cấp cho chúng ta những hiểu biết cần thiết về Hội Liên hiệp phụ nữ
và phong trào đấu tranh của phụ nữ Nghệ An Tuy nhiên, phong trào đấu tranh củaphụ nữ Nghệ An giai đoạn 1885 - 1930 lại cha đợc chú ý nghiên cứu
- Lịch sử phong trào và tổ chức Hội phụ nữ Thành phố Vinh (1930 - 2001)
do Hội Liên hiệp phụ nữ Thành phố Vinh biên soạn và xuất bản năm 2006 Đây làcuốn lịch sử viết về phong trào và tổ chức của Hội phụ nữ thành phố cho nên nộidung của nó chỉ đợc thể hiện trên diện hẹp là những đóng góp của phụ nữ thànhphố Vinh và Hội phụ nữ thành phố Vinh trong giai đoạn dài từ 1930 - 2001
- Những tác phẩm viết về phong trào phụ nữ nh: Chủ nghĩa Mác với vấn đề
giải phóng phụ nữ; Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam; Hồ Chí Minh với vấn
đề giải phóng phụ nữ; Văn kiện Đảng về công tác vận động phụ nữ; Truyền thốngphụ nữ Việt Nam; Một thời oanh liệt của nữ Thanh niên xung phong;… Các tácphẩm nh Lịch sử Đảng Bộ Nghệ An, Lịch sử Đảng Bộ Thành phố Vinh có đề cập ítnhiều đến vai trò của phụ nữ Và tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử,Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh… có ảnh, t liệu và những bài thuyết minh về cuộc đờihoạt động cách mạng của các đồng chí: Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn ThịQuang Thái, Đặng Thị Quỳnh Anh, Tôn Thị Quế… Trên các ấn phẩm báo chí cũngviết nhiều về phụ nữ Nghệ An nh báo Phụ nữ, báo Nghệ An… có một số tin bài đềcập đến một số góc độ về cuộc đời, đạo đức và những đóng góp của Nguyễn ThịMinh Khai, Nguyễn Thị Quang Thái, Đặng Thị Quỳnh Anh… Cùng các tác phẩmviết về lịch sử địa phơng của các huyện nh: Lịch sử huyện Thanh Chơng, Nghi Lộc,Nam Đàn, Diễn Châu… mà trong đó Lịch sử Đảng bộ huyện Thanh Chơng có đềcập đến Đặng Thị Quỳnh Anh, Tôn Thị Quế…
Trang 7Bên cạnh đó có một số khoá luận tốt nghiệp đã phân tích, nhận định, đánh giá
về những khía cạnh khác nhau có liên quan đến đề tài mà chúng tôi lựa chọn nh:
“Liên minh công - nông ở Nghệ Tĩnh từ 1930 - 1945 ” của Lê Thị Hạnh; ”Sự hình
thành đội ngũ công nhân Vinh - Bến Thuỷ trớc 1930” của Nguyễn Thị Bình; “Sự
biến đổi về cơ cấu kinh tế - xã hội Vinh trong hai cuộc khai thác thuộc địa củaThực dân Pháp (1897 - 1929)” của Mai Thị Thanh Nga; Luận văn cao học thạc sỹcủa Phan Thị Phơng Thảo về “Lịch sử Văn hoá dòng họ Đặng - Lơng Điền Thanh
Chơng từ thế kỷ XVII - 2005 ” có đề cập đến cuộc đời hoạt động Cách mạng của bà
Đặng Thị Quỳnh Anh…
Chúng tôi luôn trân trọng những kết quả nghiên cứu của những ngời đi trớc vàcoi đó là nguồn tài liệu hữu ích để thực hiện đề tài này Và trên cơ sở kế thừa thànhtựu của những công trình nghiên cứu đó cùng với nguồn tại liệu thu thập đợc,chúng tôi cố gắng bổ sung thêm những phần còn thiếu góp phần xây dựng lại hình
ảnh đẹp đẽ, hào hùng của phụ nữ Nghệ An trong giai đoạn từ năm 1885 - 1945 khithực dân Pháp chính thức đánh chiếm thành Nghệ An cho đến khi cách mạng tháng
8 nổ ra và giành thắng lợi trên toàn đất nớc Việt Nam
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Từ lịch sử vấn đề nêu trên, chúng tôi xác định đối tợng nghiên cứu của
luận văn là: Phụ nữ Nghệ An trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc (1885- 1945)
3.2 Về mặt thời gian:Luận văn nghiên cứu phong trào phụ nữ Nghệ An từ
ngày 20/7/1885 (là thời điểm thực dân Pháp tiến quân vào xâm lợc thành NghệAn), cho đến cách mạng tháng 8 năm 1945 (tổng khởi nghĩa giành chính quyềnthắng lợi trên toàn đất nớc Việt Nam) Mà trọng tâm của khoá luận là tìm hiểu về
sự hoạt động của phụ nữ tỉnh Nghệ An trong phong trào đấu tranh giải phóng dântộc từ năm 1885 đến 1945
3.3 Về nội dung: Khoá luận tập trung nghiên cứu vấn đề cơ bản là:
- Khái quát về truyền thống của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ Nghệ An tr ớcnăm 1885
- Phụ nữ Nghệ An trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ 1885 đếntrớc khi Đảng ta ra đời năm 1930
- Phụ nữ Nghệ An trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc do ĐảngCộng sản Việt Nam - Đảng Cộng Sản Đông Dơng lãnh đạo từ năm 1930 - 1945.Những vấn đề ngoài khung thời gian trên không thuộc phạm vi nghiên cứu của
đề tài
4 nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu:
4.1 Nguồn tài liệu:
Trang 8Do nhiều nguyên nhân, nguồn lài liệu có nhiều hạn chế Trong quá trình thu thậptài liệu, chúng tôi chủ yếu khai thác và dựa vào nguồn tài liệu lu trữ tại Bảo tàng XôViết Nghệ Tĩnh Các nguồn tài liệu từ th viện Nghệ An, phòng lu trữ th viện Hà Tĩnh,phòng th viện thuộc Ban Tuyên giáo Tỉnh Uỷ, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Nghệ An, Tiểuban nghiên cứu lịch sử thuộc tỉnh Hội phụ nữ Nghệ An… gồm có tài liệu gốc đánhmáy, các bản thống kê, các tạp chí, các ấn phẩm sách báo…
Chúng tôi cũng đã gặp gỡ và trao đổi với những ngời làm công tác lãnh đạo ởHội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Nghệ An để cung cấp thêm những hiểu biết phục vụ chokhoá luận
4.2 Phơng pháp nghiên cứu:
Do nguồn tài liệu phân tán rải rác và không phổ biến rộng rãi nên việc thu thập
và xử lý thông tin gặp nhiều khó khăn Đặc biệt trong giai đoạn trớc khi Đảng Cộngsản ra đời thì nguồn tài liệu hầu nh rất ít và hiếm, vì vậy càng làm cho việc gomnhặt tài liệu liên quan lại càng khó khăn hơn
Để giải quyết đề tài này, chúng tôi sử dụng phơng pháp lôgic, phơng pháp lịch
sử và tiến hành điều tra, phỏng vấn các nhân chứng lịch sử, những ngời cùng hoạt
động cách mạng hoặc những ngời thân trong dòng họ, gia đình của một số cá nhân
có tên trong đề tài nghiên cứu Chúng tôi còn sử dụng một số phơng pháp khác nh:phơng pháp tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh, trích dẫn tài liệu… một mặt xử
lý thông tin để làm sống lại một thời kỳ, một gia đoạn hào hùng của phụ nữ Nghệ
An trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc từ năm 1885 - 1945
5 Đóng góp của luận văn:
- Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về đónggóp của phụ nữ Nghệ An từ năm 1885 - 1945 Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ gópphần thiết thực vào việc nghiên cứu phong trào Cách mạng ở Nghệ An từ cuối thế
kỷ XIX cho đến cách mạng Tháng 8 - 1945
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc biên soạn lịch sử
địa phơng Nghệ An, lịch sử phụ nữ Nghệ An và cả lịch sử phụ nữ Việt Nam
- Luận văn tập trung một hệ thống t liệu tiện cho việc nghiên cứu so sánh, đốichiếu
- Luận văn làm tài liệu giáo dục lịch sử địa phơng, làm tài liệu tuyên truyềntrong công tác Hội phụ nữ
- Luận văn góp phần giáo dục lòng yêu nớc, tự hào về truyền thống dân tộc
6 Bố cục khoá luận:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của khoáluận đợc trình bày trong 3 chơng:
Ch
ơng 1 : Khái quát truyền thống phụ nữ tỉnh Nghệ An từ nguồn gốc đến năm
1885
Trang 9ơng 2 : Phụ nữ Nghệ An trong phong trào giải phóng dân tộc cuối thế kỷ
XIX đến trớc khi Đảng ta ra đời (1885 - 1929)
từ nguồn gốc đến năm 1885
1.1 khái quát điều kiện tự nhiên - x hội tỉnh Nghệ An.ã
1.1.1 Khái quát điều kiện tự nhiên:
Tỉnh Nghệ An có diện tích tự nhiên là 16.370 km2 đứng thứ 3 trong cả nớc, chỉsau Đak Lak và Lai Châu Nằm trong toạ độ từ 18độ35’00 đến 20độ00’10” vĩ độBắc, và từ 103 độ 50’ 25” đến 105độ 40’ 30” kinh độ Đông Phía Bắc Nghệ An giáptỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông là Biển Đông và phía Tâygiáp nớc bạn Lào với đờng biên giới dài 419 km Với vị trí địa lý này mà Nghệ An
đã từng là chỗ dựa vững chắc của nhiều triều đại xa kia và là niềm tin của cả nớctrong thời đại ngày nay
Khí hậu Nghệ An khắc nghiệt hơn hẳn so với nhiều vùng khác trong cả nớc bởigió Lào, hạn hán, giông bão và lũ lụt thờng xuyên xảy ra Ngoài những nét chung cảnớc thì cùng với địa hình phức tạp đã tạo cho Nghệ An những đặc điểm riêng về khíhậu Từ tháng 5 đến tháng 10 có gió mùa Tây Nam (gió Lào) khô và nóng thổi từng
đợt khiến thời tiết rất khó chịu, có lúc nhiệt độ lên đến 40độ C Từ tháng 10 cho đếnhết tháng 4 năm sau có gió mùa Đông Bắc rét buốt nhng rất ít ma Tuy nhiên từ sang
đầu tháng 8 đến tháng 10 lại có bão và ma rất lớn gây ra lụt úng Có thể nói, thời tiết
ở đây chia thành hai mùa rõ rệt, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau,
Trang 10và mùa ma từ tháng 5 đến tháng 11 với lợng ma rất lớn chiếm từ 80% đến 95% lợng
ma của cả năm
Địa hình Nghệ An nghiêng dần từ Tây sang Đông và rất đa dạng với núi đồi,trung du là dạng địa hình chiếm phần lớn đất đai của cả tỉnh Trong lòng đất chứanhiều khoáng sản kim loại nh vàng, thiếc, chì, kẽm, mangan … Về khoáng sản phikim loại cũng rất đa dạng với các loại đá quý, đất sét, đặc biệt là đá vôi với trữ l ợnglớn phục vụ cho các nhà máy xi măng, các công trình xây dựng ở Nghệ An có hầuhết các loại động vật, thực vật của vùng nhiệt đới và cận ôn đới với nhiều loại đặcbiệt quý hiếm
Nghệ An có bờ biển dài 92 km với nhiều cửa lạch và số lợng sinh vật biểnnhiều, phong phú về chủng loại Đặc biệt là với bãi biển Cửa Lò - Cửa Hội thì Nghệ
An càng trở nên nổi tiếng với bãi tắm sạch đẹp và đáy biển nông, tơng đối bằngphẳng, thu hút rất nhiều khách du lịch ở trong và ngoài nớc
Về sông ngòi, Nghệ An có con sông lớn nhất là sông Lam (tức Sông Cả), bắtnguồn từ thợng Lào, chảy về biển theo hớng Tây Bắc - Đông Nam, dài 523 km, trong
đó có 375km nằm trên địa bàn Nghệ An Các con sông đều ngắn, bắt nguồn trongtỉnh và chảy trực tiếp ra biển, tạo ra các cửa lạch mà phần lớn là sông nớc lợ Đâychính là điều bất lợi cho canh tác nông nghiệp vì khi thuỷ triều lên, nớc nhiễm mặnchảy sâu vào đất liền hàng chục km gây nhiễm mặn đất đai các vùng ven sông
Về Giao thông vận tải, Nghệ An có quốc lộ 1A xuyên Việt ở phía Đông, quốc
lộ 15A xuyên Việt ở phía Tây đi suốt chiều dài Bắc - Nam của tỉnh Ngoài ra còn cónhiêù tuyến đờng quốc lộ toả nhánh đi Lào và đến các tỉnh Ngoài đờng bộ thì tuyến
đờng sắt của Nghệ An cũng nằm trên tuyến đờng sắt Bắc - Nam của cả nớc tạo điềukiện thuận lợi cho việc đi lại, buôn bán và giao lu kinh tế - văn hoá giữa Nghệ Anvới các vùng khác trên cả nớc Về đờng thuỷ, Sông Lam, sông Con cùng nhiều cáccon sông khác với lợi thế về địa hình đều trở thành nét u điểm nổi bật cho việc vậntải lâm thổ sản từ miền ngợc về miền xuôi Ngoài sông tự nhiên còn có hệ thốngkênh đào nối các sông với nhau, lớn nhất là kênh nhà Lê là một trục giao thông đ-ờng thuỷ quan trọng từ thời Tiền Lê ở Nghệ An có đờng hàng không là sân bayVinh đóng tại Nghi Lộc, cách trung tâm thành phố 5 km Ngày nay, nó đang đợcnâng cấp nhằm đáp ứng yêu cầu vận tải bằng đờng hàng không quân sự cũng nh củadân sự
Nói về Nghệ An, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chơng loại chí, T1 NXBKHXH HN đã từng nhận xét: “Nghệ An núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu,cảnh tợng tơi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả năm châu Ngời thì thuận hoà màchăm học, sản vật thì nhiều thứ quý của lạ…đợc khí tốt của sông núi nên sinh ranhiều bậc danh hiền… thực là nơi thành đồng ao nóng của nớc và là then khoá củacác triều đại”
Trang 11Ngay từ thế kỷ 13, trong cuộc chiến chống quân Nguyên, Vua Trần Nhân Tôngvẫn tin vào thắng lợi cuối cùng khi “Hoan Diễn kia còn 10 vạn quân”… Và NguyễnChỉnh, nhà quân sự tài giỏi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống Minh thế kỷ XV đãnhận rõ: phải “chiếm giữ cho đợc Nghệ an làm đất dừng chân, rồi dựa vào nhân tàivật lực đất ấy mà quay trở ra Đông Đô thì có thể tính xong việc dẹp yên thiên hạ”[31, 10] Và cho đến nay, vị trí lịch sử mang tính trọng yếu của Nghệ An vẫn cònnguyên giá trị Trong bài phát biểu tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lầnthứ 6 - 1961, đồng chí Lê Duẩn đã nói:
“Trong nớc ta, hàng ngàn năm nay, Nghệ An là nơi xây dung cơ sở để chốngngoại xâm, giữ vững nớc nhà Khi nào phía Bắc mất, ngời ta lại vào đây để xâydựng lực lợng,gây dựng sức mạnh, giải phóng cả nớc Do cái cơ sở, vị trí truyềnthống đó mà chúng ta không lấy làm ngạc nhiên ở Nghệ An đã sinh trởng những vịlãnh tụ vĩ đại của dân tộc” (Hồ sơ lu tại văn phòng Tỉnh uỷ Nghệ An)
Tìm hiểu sơ lợc vài nét về điều kiện tự nhiên của Tỉnh Nghệ An, chúng ta thấyrằng, Nghệ An là mảnh đất đợc ví nh một điểm tì vai, gánh hai đầu đất nớc Cùngvới sự đa dạng về các loại mỏ khoáng sản cũng nh thảm động - thực vật phong phúlàm cho Nghệ An trở thành vùng đất giàu có bởi rừng vàng biển bạc Tuy nhiên, vớimột nền khí hậu khắc nghiệt, diện tích đất canh tác vốn không màu mỡ càng trở nênkhó khăn cho việc phát triển nông nghiệp và giao thông vận tải ở đây Tất cả những
điều này đã góp phần tạo nên con ngời Xứ Nghệ nói chung và ngời phụ nữ Nghệ Annói riêng bản tính cần cù lao động, chịu thơng chịu khó
1.1.2 Điều kiện xã hội.
Cùng với tiến trình lịch sử Việt Nam, c dân Nghệ An ngày càng phát triển đông
đúc Từ thời văn hoá Đông Sơn, thời Vua Hùng dựng nớc đến nay, c dân Nghệ An
đã phát triển lên đến hàng triệu ngời với hàng trăm họ tộc có nguồn gốc bản địahoặc từ nơi khác đến Hiện nay dân số Nghệ An có khoảng 3,5 triệu dân, bao gồmnhiều dân tộc Trong đó đông nhất là dân tộc Kinh sống chủ yếu ở vùng đồng bằng
và các điểm tập trung ở miền núi Ngoài ra còn có các dân tộc thiểu số khác nh dântộc Thái, Thổ, Mông, KhơMú, ơ Đu
Nằm trong nền văn hoá chung của dân tộc Việt Nam, đồng bao các dân tộc ởNghệ An cũng có tục lệ thờ cúng tổ tiên và các anh hùng có công với n ớc, với dân,thờ Thành Hoàng làng Đạo Phật và Thiên Chúa giáo tuy phát triển không rộng nh-
ng có ảnh hởng khá lớn đến đời sống tâm linh của một bộ phận dân c ở đây Trongtiến trình lịch sử của dân tộc thì đông bào Lơng, Giáo và các dân tộc thiểu số ởNghệ An có truyền thống đoàn kết, đấu tranh bảo vệ và xây dựng quê hơng, đất nớc
Từ nhiều đời nay, nguồn sống chính của phần lớn dân c Nghệ An chủ yếu làlàm nông nghiệp lúa nớc Dân tộc thiểu số thì làm nơng làm rẫy, c dân đồng bằngthì là ruộng lúa nớc, làm muối, đánh bắt cá Ngoài ra thì đất Nghệ An còn nổi
Trang 12tiếng với nhiều ngành nghề truyền thống từ lâu đời nh nghề rèn sắt Nho Lâm, đúc
đồng Diễn Tháp, nớc mắm Vạn Phần, nuôi tằm ơm tơ, dệt lụa ở Quỳnh Lu, Nam
Đàn, Diễn Châu, Đô Lơng, dệt thổ cẩm ở các huyện miền núi, đồ gốm ở Đô Lơng,chiếu cói ở Hng Hoà
Nghệ An là vùng đất nổi tiếng với khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, đặcbiệt Nghệ An nổi tiếng là vùng đất hiếu học với thứ hạng nhất nhì về số thí sinh đậuTiến sỹ qua các kỳ thi Hội, thi Đình Nghệ An có những làng học nổi tiếng cả nớc
nh làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lu), làng Hoành Sơn và làng Trung Cần (Nam Đàn)
Từ truyền thống hiếu học ấy đã sản sinh ra nhiều nhà khoa bảng nổi danh nh BạchLiêu, Hồ Tông Thốc, Dân Nghệ An nghèo nhng hiếu học, có cả một tầng lớp đông
đảo trí thức bình dân thờng đi khắp nơi trong nớc để dạy học Đó là các thầy đồNghệ, họ đi dạy học để kiếm tiền tự nuôi sống bản thân, kiếm tiền để phục vụ choviệc học của họ Những câu chuyện về các thầy đồ Nghệ đợc dân gian truyền miệng
và trở thành các giai thoại nh chuyện Cá Gỗ của thầy đồ Nghệ
Hiện tại, tỉnh Nghệ An có một thành phố loại hai, một thị xã với 17 huyện Với
hệ thống các trờng Đại học, Cao đẳng, Trung học dạy nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ
An thì đây chính là điều kiện thuận lợi để đào tạo nguồn nhân lực có trình độ vănhoá, kỹ thuật cao của cả vùng Nghệ An và Bắc Trung Bộ Riêng về hệ thống giáodục từ mầm non đến Trung học phổ thông phát triển đầy đủ, toàn diện, đáp ứng đủnhu cầu học tập của con em trên toàn tỉnh
Các trung tâm văn hoá giải trí, thể dục thể thao không ngừng đợc đầu t xâydựng, nâng cấp tu sửa nhằm mục đích phục vụ đầy đủ và kịp thời nhu cầu vui chơigiải trí, rèn luyện sức khoẻ của các tầng lớp nhân dân cũng nh nâng cao hơn nữachất lợng về đời sống tinh thần của nhân dân toàn tỉnh
Cùng với sự đi lên của đời sống tinh thần thì đời sống vật chất của c dân xứNghệ cũng không ngừng đợc cải thiện và nâng cao hơn nữa Đó là vấn đề điện - đ-ờng - trờng - trạm đang trở thành nội dung đợc quan tâm nhất trong quá trình xâydựng và phát triển đời sống mới cho ngời dân xứ Nghệ hôm nay Các nghành nghềkinh doanh dịch vụ ngày càng phát triển thay thế cho các nghành nghề truyền thống
đa lại ít lợi nhuận hơn, nh kinh doanh khách sạn, nhà hàng, siêu thị, các khu côngnghiệp, các chung c cao tầng hiện đại,…đua nhau mọc lên khắp nơi nh khẳng định
sự đi lên vững chắc trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc trên quêhơng Bác Hồ
Bên cạnh đó có một số vấn đề nan giải ở Nghệ An và chung của cả nớc, đó làviệc dân c tập trung một lợng quá lớn vào các trung tâm kinh tế - chính trị - xã hội
đặt ra cho các cấp quản lý nhiều vấn đề rất khó giải quyết, từ việc ổn định chỗ ở chocác hộ gia đình , quy hoạch dân c, cung cấp các dịch vụ tiêu dùng nh điện, nớc hay
Trang 13các công trình công cộng nh trờng học, sân chơi, bệnh viện, hệ thống đờng giaothông.
Thực trạng nguồn lao động nữ ở tỉnh Nghệ An cũng nh cả nớc rất dồi dào, nhngviệc lao động nữ đợc đào tạo nghề có vịêc làm và thu nhập ổn định lại chiếm một tỉ
lệ khiêm tốn so với tổng số lao động nữ Trong khi đó, đa số lao động nữ là lao độngphổ thông chủ yếu tham gia sản xuất nông nghiệp, buôn bán, làm các ngành nghềdịch vụ Việc làm cho lao động nữ trở thành vấn đề thực sự nan giải không chỉ ởtỉnh Nghệ An mà còn đối với cả nớc ta hiện nay
Nhìn chung, mức sống của nhân dân trên toàn tỉnh ngày nay đang dần đợc pháttriển, cải thiện đáng kể Tuy nhiên, số hộ dân sống ở mức khá giả trở lên chủ yếutập trung ở các vùng trung tâm huyện thị và thành phố là chính, còn ở nông thôn,
đời sống ngời dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp, vì vậy vẫn còn tồn tại nhiều khókhăn, tỉ lệ hộ nghèo còn nhiều
Nhng chúng ta vẫn phải ghi nhận một điều rằng, các công trình công cộng, cácchơng trình phúc lợi xã hội ngày càng đợc Chính phủ và Nhà nớc quan tâm, nh việctạo điều kiện cho ngời nông dân mua Bảo hiểm Hu trí, ngời lao động tự do đợc muabảo hiểm Y tế tự nguyện, Ngoài chính sách u đãi của Nhà nớc đối với các đối tợngchính sách, gia đình thơng binh liệt sỹ, thì việc quan tâm đến đời sống vật chất vàtinh thần của ngời dân đợc các cấp Uỷ - Đảng - Chính quyền đầu t theo đúng đạo lý
"Uống nớc nhớ nguồn" với nét đẹp mang tính truyền thống của dân tộc
Trên cơ sở hiểu rõ và xác định những điều kiện tự nhiên - xã hội với những mặtthuận lợi và khó khăn của nó, dựa vào đó để Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An đề
ra nhiệm vụ, vợt qua khó khăn để phấn đấu thực hiện cho đợc mục tiêu quyết tâmxây dựng tỉnh Nghệ An mạnh về kinh tế, vững về an ninh chính trị, phát triển vănhoá, giáo dục, y tế, đặc biệt là quyết tâm đoàn kết phấn đấu xây dựng tỉnh Nghệ
An trở thành trung tâm về kinh tế - chính trị và văn hoá của khu vực Bắc Trung Bộ
Để thực hiện đợc mục đích đó không thể không kể đến một phần công đức to lớn
mà các thế hệ phụ nữ sống trên địa bàn tỉnh đã đóng góp Họ kế thừa và phát huytruyền thống tốt đẹp của quê hơng, góp sức nhỏ bé của mình trong công cuộc xâydựng và phát triển Nghệ An ngày càng văn minh, giàu đẹp
1.2 Khái quát về truyền thống của phụ nữ Nghệ An
Phụ nữ Việt Nam trung trinh tiết hạnhTrang điểm cuộc đời muôn cánh hoa thơm
Ra ngoài giúp nớc giúp non
Về nhà tận tụy chồng con một lòngPhụ nữ Việt Nam từ ngàn xa đã vang danh tiết hạnh, với những tấm gơng oaihùng mà muôn đời con cháu noi theo nh Bà Trng, Bà Triệu, Bà Tú Xơng, Bà SơngNguyệt ánh không ai có thể phủ nhận sức chịu dựng bền bỉ và sự cần cù, chịu th -
ơng chịu khó của các bà Mẹ Việt Nam cũng nh những đức tính tốt đẹp trong sạch,
Trang 14ngay thẳng, kiên trung, bất khuất và chứa chan tình ngời đã nâng cao phẩm giá củangời Phụ nữ Việt Nam lên gấp bội.
"Riêng đối với ngời Phụ nữ Nghệ An thì hoàn cảnh địa lý - lịch sử - xã hội cụthể đã sớm trao cho họ những nghĩa vụ thật nặng nề Đó là phải gánh vác hầu nhtoàn bộ công việc của ngời hậu phơng để chồng, cha, anh đi làm việc nớc Từ nuôidạy con cái, phụng dỡng cha mẹ già, giữ gìn gia phong, tập quán của tổ tiên, làng n-
ớc đến công vịêc sản xuất đồng áng, canh cửu, tằm tơ, chợ búa thảy đều do họ
đảm nhiệm Đến nh việc khai hoang, lập ấp, quy tụ dân c, từ xa xa Phụ nữ Nghệ Ancũng đã góp phần không nhỏ để có đợc những xóm thôn, làng xã trù mật nh ngàynay" [12, 15]
1.2.1 Phụ nữ Nghệ An với truyền thống lao động cần cù:
"Từ xa xa, khi loài ngời vừa xuất hiện thì Nghệ An cũng là một trong nhữngnơi họ đợc sinh ra và tồn tại Từ buổi hoang dã ấy, trong quần thể loài ngời, ngờiPhụ nữ Nghệ An đã đi vào lịch sử loài ngời Và công cuộc đầu tiên của họ là hái l-
ợm Dần dần, cùng với nam giới họ biết chế tác ra công cụ và chính lúc đó, con ngờihoàn toàn thoát ly khỏi thế giới động vật" [33, 18]
Khi công cụ bằng kim loại ra đời đã thúc đẩy sức sản xuất phát triển Nghềtrồng lúa đợc phổ biến với kỹ thuật ngày càng cao Nền nông nghiệp trở nên phongphú với các nghề săn bắn, đánh cá, chăn nuôi Ngời phụ nữ không chỉ là lực lợngsản xuất quan trọng mà hình ảnh của họ còn là biểu tợng thẩm mỹ của xã hội nh t-ợng và hình ảnh điêu khắc ngời Phụ nữ đợc trang trí trên các công cụ, vũ khí, đồtrang sức và những cảnh trí bày biện nơi cung đình
Chính "những yếu tố đó đã hun đúc nên con ngời Nghệ An với những đức tínhnổi bật nh cơng trực, khảng khái, cần kiệm, giản dị, trung thực, hiếu học, giàu nghịlực, ý chí, can đảm, dám xả thân, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn" [56, 23] Đặc biệt là
đức tính cần cù, chịu thơng chịu khó, một đức tính nổi bật khi nói về ngời Nghệ An,nhất là ngời Phụ nữ Nghệ An Khi nói về phẩm chất này của con ngời xứ Nghệ, BùiDơng Lịch trong "Nghệ An ký" đã lý giải nh sau: "Do đất xấu dân nghèo nên chịukhổ, nhẫn nại, cần cù, kiệm ớc đã quen nề nếp"[26, 247]
Phụ nữ là những ngời lao động chính, chi phối gia đình và xã hội, những quy
định phân biệt đối xử giữa nam và nữ lại rất rõ ràng Có thể nói, vai trò của ngời Phụnữ nói chung trong thời đại phong kiến là không rõ nét Từ nhiều đời nay, họ luôn bịtrói buộc trong khuôn khổ lễ giáo phong kiến hà khắc, không có cơ hội để v ơn lên,quanh năm suốt tháng chỉ biết quanh quẩn trong luỹ tre làng Họ sinh ra, lớn lên, lấychồng và đảm nhận công việc nhà chồng Đó là bổn phận của ngời phụ nữ Họ phảisớm khuya tần tảo, bán mặt cho đất, bán lng cho trời, chỉ mong kiếm đủ đồng tiềnbát gạo nuôi chồng, những mong một ngày chồng đợc bảng vàng nêu danh Ngoàiviệc đồng áng, họ lại phải một tay chăm lo nuôi dạy con cái, từ công to cho đến việc
Trang 15nhỏ trong nhà, từ xa đến nay thì ngời Phụ nữ đều phải lo chu tất vì đó là nghĩa vụ, là
điều hiển nhiên mà ngời vợ, ngời mẹ, ngời chị trong một gia đình phải có tráchnhiệm Khó có thể kể hết những công việc mà một ngời phụ nữ phải đảm nhận nhchăm lo ruộng vờn, cày bừa cấy hái, chăn tằm dệt vải, chăm sóc thu vén gia đình,nuôi dạy con cái công việc thực tế đòi hỏi phụ nữ phải luôn cố gắng vơn lên và ng-
ời phụ nữ Nghệ An vốn có truyền thống là đảm đang, tháo vát mà đặc biệt là cần cùtrong lao động, chịu thơng chịu khó trong đời sống
Thực tế nhiều đời nay cho thấy, ngời phụ nữ Nghệ An đã cùng gia đình, làngxóm chinh phục, cải tạo tự nhiên, tạo lập làng xóm, mở mang diện tích gieo trồng,phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cả gia đình, cộng đồng, canh tác nông nghiệpchủ yếu là trồng lúa, ngô, khoai, sắn, đậu, lạc, vừa chăn nuôi gia súc gia cầm đểcải thiện kinh tế gia đình, ngoài ra còn có các nghề thủ công trồng cói, đan chiếu,trồng mây tre đan lát đồ dùng gia đình, trồng dâu nuôi tằm dệt vải, dệt lụa hay làmcác nghề truyền thống nh làm muối, làm bánh các loại, nấu rợu, làm bún
Lụa ở Quỳnh Đôi - Quỳnh Lu là một sản phẩm thủ công nghiệp cao cấp lúcbấy giờ ở Nghệ An Cho đến nay thì cả Nghệ An và Hà Tĩnh cũng chỉ có hai nơi dệtlụa chuyên nghiệp là Quỳnh Đôi và Châu Phong Nghề dệt lụa còn kéo theo cả việcbuôn bán tơ, bán lụa "Lụa là sản phẩm cao cấp, dùng phục vụ cho nhu cầu của tầnglớp trên xã hội Nghề dệt đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ, trí thông minh, bàn tay khéoléo Để ra đời một tấm lụa đẹp là cả một quá trình lao động phức tạp với nhiều kinhnghiệm và tay nghề nhuần nhuyễn,…phải đảm bảo các kỹ thụât, thao tác liên hoàn
nh hai chân đạp nhịp, tay đa thoi, tay đập khổ, nối những sợi tơ bị đứt " [14, 35] mà hầu hết mọi công đoạn của việc dệt lụa đều do ngời phụ nữ đảm nhận So vớinhiều nghề khác thì nghề dệt lụa khá sạch sẽ và nhẹ nhàng, không phải dầm ma dãinắng nhng thời gian lao động lại rất căng thẳng, không có giờ nghỉ ngơi, nhiều lúc
34-ăn cơm vội để đảm bảo có lụa bán, có tiền chi tiêu nếu không lại phải vay công, lĩnhnợ
Ngoài nghề dệt lụa, ở miền núi Nghệ An còn có nghề vải thổ cẩm của phụ nữcác dân tộc miền núi Ngoài vịêc đồng áng, nơng rẫy, chăn nuôi và chăm sóc gia
đình, thì ngời phụ nữ ở đây còn bắt buộc phải biết xe tơ dệt vải Họ phải tự dệt chomình những tấm chăn, tấm gối, áo váy, để chuẩn bị cho việc lấy chồng Vải thổcẩm của các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi Nghệ an đợc dệt, thêu rất đẹp vớimàu sắc sặc sỡ và hoa văn cầu kỳ Tuy nhiên nói về thân phận của ngời phụ nữ ởmiền núi Nghệ An lại có nhiều điều khác biệt Đã làm dâu nhà ngời ta thì sống làngời nhà ngời ta, chết làm con ma nhà ngời ta Họ phải lao động vất vả, cực nhọc,phục tùng gia đình chồng, không có quyền nói tiếng nói của cá nhân mình, phảisống cực khổ, lam lũ nh ngời ở
Trang 16Với truyền thống lao động cần cù, bản tính chịu thơng chịu khó thì ngời phụ nữ
đã vợt qua tất cả mọi khó khăn, gian khổ, giành hết những nhọc nhằn về mình, chịukhó chịu khổ để lo cho chồng cho con
Với những đóng góp của mình trong quá trình lao động, ngời phụ nữ NghệTĩnh nói chung và phụ nữ Nghệ An nói riêng đã là lực lợng cùng nam giới sớm tạonên vùng văn hoá Hồng Lam với những sắc thái riêng, làm giàu cho nền văn minh
Đại Việt
Nh ta đã biết, "Xứ Nghệ gần núi, giáp biển, đất đai sỏi sạn cằn cỗi, lại không
có mấy nơi bằng phẳng, rộng rãi ruộng đất hẹp và chênh khá rõ Những nơi gầnnúi, đốt nơng làm rẫy làm guồng xe quay có khi hoa màu chỉ một đêm bị thúrừng dẫm phá, đến ăn sạch Những nơi giáp biển, thì đắp đập ở ven bờ để ngăn nớctriều dâng mà làm thành ruộng Nhng gió bão vài khắc thì nớc mặn tràn vào hoặcngập hết cả" [26, 243] Vì vậy, canh tác nông nghiệp gặp rất nhiều trở ngại Bởi thếcho nên cuộc đấu tranh sinh tồn của ngời dân xứ Nghệ lại càng gặp nhiều khó khăn.Nhng với bản tính cần cù, chịu khó thì các thế hệ phụ nữ nơi đây vẫn tiếp tục chămchỉ lao động Đó là những tấm gơng giàu đức hi sinh, tận tuỵ vì chồng vì con nhchuyện bà Hoàng Thị Loan, thân mẫu Bác Hồ, vừa chăn tằm dệt vải, vừa nuôi chồng
ăn học, lặn lội từ quê nhà cùng với đôi quang gánh, một bên là con, một bên làkhung cửi đến kinh đô Huế để nuôi chồng đi thi, vất vả, cực nhọc đủ đờng vẫnkhông một lời kêu than, bà vẫn một mình cặm cụi gánh trên đôi vai gầy cả gia đình Hoặc câu chuyện về bà Hoàng Thị Tâm, mẹ của Thợng th Bộ hình kiêm Đôngcác Đại học sỹ Hồ Sỹ Dơng (1621- 1681) quê làng Quỳnh Đôi- Quỳnh Lu Bà phảilàm thuê, bán nớc ở chợ, tần tảo nuôi con ăn học Hồ Sỹ Dơng ba lần đậu giảinguyên, rồi đậu tiến sỹ, ông đợc "cử đi giao thiệp tranh cãi biên giới năm lần đầuthắng lợi" [14,65] Có một chuyện rất hay đợc lu truyền về mẹ ông nh sau: Khi ông
đỗ Tiến sỹ, đợc đón rớc về làng, bà đang cấy ngoài ruộng xa, có một ngời chạy đếnbáo tin, mời bà về Nhng bà vẫn tiếp tục cấy cho đến hết buổi và nói rằng: "Con đậuTiến sỹ mà mẹ không làm, không cày, không cấy, lấy cơm đâu mà ăn" [14,67] Nói
về sự nghiệp của ông, ngời ta thờng nhắc đến hai ngời đàn bà có công nuôi dỡng,giúp đỡ ông đó là Mẹ và Vợ ông Vợ ông là bà Trơng Thị Thành đã "xuất tiền nuôi
ông ăn học, bà là ngời phụ nữ chăm chỉ lao động, hiểu biết lẽ phải, kính trọng mẹchồng, ăn ở tốt với bà con làng xóm Lúc ông thành quan to trong triều, bà khuyên
đem tiền, gạo cứu tế cho dân nghèo, bà còn đem nghề mộc ở Phú Nghĩa lên Quỳnh
Đôi"[14, 67]
Hình ảnh những ngời phụ nữ đầy tiêu biểu cho những bà mẹ quê chỉ biết một
đời tận tuỵ cho chồng con không nề hà gì đến bản thân mình đợc thể hiện sinh
động, đầy đủ qua lời thơ Tú Xơng:
Quanh năm buôn bán ở mom sông
Trang 17Nuôi đủ năm con với một chồngLặn lội thân cò khi quãng vắng
Eo sèo mặt nớc buổi đò đôngChịu thơng chịu khó, không quản ngại nắng cháy ma sa, cần mẫn chịu đựngmọi khó khăn thử thách, khắc phục và vợt qua những trở ngại mang tính khách quan
đa lại nh điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, đất đai canh tác lại cằn cỗi Vì thế, để làm
ra đựơc củ khoai, hạt lúa, ngời nông dân nói chung và ngời phụ nữ nói riêng ở đâyquanh năm phải vật lộn với công việc đồng áng hết sức vất vả, cực nhọc Những ng-
ời mẹ, ngời chị ở mảnh đất vốn nghèo về vật chất ấy lại luôn giàu lòng thơng yêucon ngời, yêu lao động, cần cù và sáng tạo Với đôi tay nhỏ bé và đôi vai gầy guộc,
họ đã làm nên những điều kỳ diệu, sinh ra và nuôi dỡng nên những nhân tài cho đấtnớc Bằng sức lao động cần cù, chăm chỉ chứ không chỉ bằng lời nói, họ đã dạy bàihọc làm ngời đầu tiên cho những vị lãnh tụ tơng lai Chính trong lao động, hình ảnhngời phụ nữ càng trở nên đẹp đẽ và toả sáng
1.2.2 Phụ nữ Nghệ An trong việc giữ gìn gia phong - đạo lý:
Từ nhiều đời nay, ngời phụ nữ Việt Nam cũng nh phụ nữ Nghệ An đều phảisống theo khuôn phép ngặt nghèo của chế độ phong kiến hà khắc Nhng họ đã sốngtrong khuôn khổ, gìn giữ và duy trì các phép tắc của xã hội ấy, coi đó nh một chuẩnmực của xã hội Tất nhiên cái đợc coi là chuẩn mực đó còn có những điều bất cập,nhng về cơ bản thì nó vẫn có những mặt tốt mà ta không thể phủ nhận đợc Bằngchứng là cho đến nay, ngời phụ nữ Việt Nam vẫn cố gắng hoàn thiện mình để đạt đ-
ợc các chuẩn mực Công - Dung - Ngôn - Hạnh, nó nh là thớc đo của ngời phụ nữ
v-ơn đến cái Chân - Thiện - Mỹ trong cuộc đời Đó cũng là tiêu chuẩn mà ngời phụ nữluôn răn đe và dạy cho con gái của mình
Cũng chính vì sống và tuân theo các quy tắc của đạo "Tam tòng - Tứ đức" màbao nhiêu ngời phụ nữ đã thủ tiết thờ chồng, ở vậy nuôi dạy con cái cho đến trởngthành nh bà Thái Thị Huyên - Vợ nhà cách mạng yêu nớc Phan Bội Châu, khi chồngthi đỗ giải Nguyên, Bà vẫn giữ nếp nhà, sống đời bình dị, lo cho chồng, cho con.Khi chồng xuất dơng cứu nớc hơn 20 năm, bà vẫn giữ trọn đạo dâu hiền Sau 20năm chỉ gặp nhau đợc nửa giờ đồng hồ rồi lại xa cách cho đến lúc chết Tấm gơngtrung trinh, tiết hạnh của hiền phụ Thái Thị Huyên xứng đáng cho con cháu đời saunoi theo
Còn biết bao nhiêu tấm gơng trung liệt, tiết nghĩa, biết bao nhiêu hiền phụ nh
bà Thái Thị Huyên, bà Hoàng Thị Tâm, bà Trơng Thị Thành và nhiều phụ nữ vôdanh khác, họ chỉ là ngời mẹ, ngời vợ, ngời chị bình thờng sau luỹ tre làng Nhngnếu không có họ thì lấy đâu ra các anh hùng hay các bậc vĩ nhân Bởi họ chính làngời thầy dạy đầu tiên cho các con mình, là tấm gơng cho các con học hỏi Chính họvừa là một ngời thầy hiểu biết vừa là một cha nghiêm khắc lại vừa là ngời mẹ mang
Trang 18đầy tình thơng yêu nhân ái giữa con ngời với con ngời họ là tấm gơng soi gần gũinhất cho các con học hỏi Hậu phơng có vững thì ngời chồng ngời cha mới yên tâm
mà ra trận
Theo Nguyễn Huyền Anh (Nhà xuất bản Khai trí Sài Gòn) bà Chân Thị PhuNhân tức là Chân Thị Bác, vợ thứ của quận công Hồ Phi Tích, bà là một phụ nữ cónhan sắc Năm 1751, ngời Hữu Cầu về đóng quân ở Quỳnh Đôi ép bà về làm vợ bắt
bà ra hầu tiếp, bà xin phép Hữu Cầu vào lạy chồng trớc khi tái giá Bà đã vào nhàthờ đốt hơng lạy chồng rồi lấy dao sắc tự vẫn Tự Đức có thơ khen:
"Nhất tiếu khuynh thành tuý tặc tâm
ứng cơ thiện đãi thục năng xâmPhụ từ bái biệt tơng an thích
T hữu long tuyền dĩ tại khâm"
Dịch: “Nụ cời ngời đẹp say lòng giặc
Tuỳ cơ không thể hại thân nàngBái biệt cùng chồng ai biết nhỉLại gặp nhau đây dới suối vàng."
Tuy nhiên, sinh ra vốn là phận gái đã phải mang những cái khổ vào mình, đógọi là "bất hạnh nhi nữ" Vậy mà, trong giai đoạn chế độ phong kiến Việt Nam bớcvào suy vi, các cuộc nội chiến kéo dài hàng trăm năm, số phận ngời phụ nữ lại càngcực nhục đủ đờng "Không nơi nào ngời phị nữ phải đổ nhiều nớc mắt và chịu nhiềumất mát đau thơng nh ở nơi này" [33, 29] Thế mà họ đã vợt lên tất cả, xứng đángvới câu ca từ ngàn xa :
Trai thời trung hiếu làm đầuGái thời tiết hạnh làm câu trau mình
Thực tế lịch sử đã phải ghi nhận sức sống mãnh liệt bền bỉ của những ngời phụnữ, đó là sự trong sạch, ngay thẳng, đàng hoàng Từ việc nuôi dạy con cái, phụng d-ỡng cha mẹ già, gìn giữ gia phong, tập quán của tổ tiên, làng nớc đến công việc
đồng áng, chợ búa tất thảy đều do họ đảm nhận
Đối với ngời phụ nữ xa và nay, Đạo Tam cơng Ngũ thờng đầy khắt khe và họ
bị trói buộc quá gò bó Tuy nhiên, họ vẫn phải chấp nhận và sống đợc trong cáikhắt khe đó nhờ vào đức tính bền bỉ chiụ thơng chịu khó vốn là bản tính nổi bật củanhững con ngời xuất thân trên mảnh đất khắc nghiệt này Đạo Tam cơng Ngũ thờng
đợc lấy làm chuẩn mực xã hội và ngời phụ nữ phải sống cho đúng chức phận củamình, phải trọn đạo là dâu hiền vợ thảo, phải kính trên, nhờng dới, lễ phép với mọingời, có lòng nhân ái, sống có nghĩa có tình, phải hiểu đạo làm ngời và phải giữchữ tín, giữ lòng tin với mọi ngời, phải hoà nhã với cộng đồng làng xóm, kính trọng
ông bà, cha mẹ mình cũng nh ở nhà chồng, ăn ở có trớc có sau, có nhân có nghĩa,
đối với láng giềng phải ăn ở tử tế, hiểu biết lễ phải ở đời
Trang 19Đây là một sợi dây vô hình trói buộc hà khắc đối với ngời phụ nữ Họ phảituân theo những quy định ngặt nghèo này mà không đợc phép phản ứng chống lại.Trên thực tế thì nhiều thế hệ phụ nữ Nghệ An đã sống theo các khuôn phép này nh
đó là một điều hiển nhiên của cuộc sống Còn bé thì theo cha, lấy chồng thì theochồng, chồng chết rồi thì theo con Những ngời phụ nữ trong thời đại phong kiến đãphải sống một cách thụ động theo sự quyết định của ngời khác đối với cuộc đời củamình, chấp nhận việc cha mẹ đặt đâu con ngồi đó, đến lúc lấy chồng thì "phu xớngphụ tuỳ", họ không đợc làm gì theo ý mình Họ có trách nhiệm phải phụng dỡngcha mẹ chồng, nuôi dạy con cái trởng thành Dạy con đạo làm ngời cho con biết lẽphải, nhờng nhịn trên dới, biết hoà thuận anh em, bíêt hiếu đễ với ông bà, cha mẹ,biết lao động cần cù đây là việc làm rất quan trọng của ngời phụ nữ mà họ đã làm
đợc nhằm kiến tạo và góp phần gìn giữ nề nếp gia phong, đạo lý, truyền thống củacha ông để lại Xứng đáng với câu ca "Giấy rách phải giữ lấy lề"
Nói về Tam tòng - Tứ đức với những cái hay dở, tuy nhiên chúng ta đã chọnlựa ra những cái hay, u điểm để biến nó thành một chuẩn mực của ngời phụ nữ nhquy định về Công - Dung - Ngôn - Hạnh, một chuẩn mực mà cho đến nay ngời phụnữ vẫn gắng noi theo và đạt đến
Có thể nói, từ xa đến nay, trong xã hội truyền thống và văn hoá truyền thống,trong đời sống văn hoá tinh thần, tâm linh, trong đời sống vật chất cũng nh tronglịch sử đấu tranh dựng nớc và giữ nớc, ngời phụ nữ Việt nam có vai trò, vị trí quantrọng, có hình ảnh, biểu tợng ngày càng năng động và đẹp đẽ Họ đã xây dựng vàphát triển văn hoá Việt Nam, đồng thời họ cũng đợc ghi nhận trong sự phát triểndài lâu của nền văn hoá ấy Nếu đợc nhìn nhận và đợc đặt đúng vị trí, có thể tinrằng ngời phụ nữ Việt Nam sẽ phát triển quan trọng của mình trong xây dựng vàphát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
1.2.3 Phụ nữ Nghệ An góp phần ổn định cuộc sống gia đình, dòng họ,
phát triển kinh tế:
Trong buổi đầu của lịch sử loài ngời, ngời phụ nữ với sự phân công lao độngmang tính chất tự nhiên đã có một địa vị kinh tế - xã hội vững vàng trong quần thểloài ngời Đó là việc hái lợm rau quả của ngời phụ nữ thu đợc có hiệu quả ổn địnhhơn việc săn bắt của nam giới Hơn nữa, quan hệ xã hội trong các cộng đồng c dânlúc này là chế độ mẫu hệ, mẫu quyền Hình thái kinh tế xã hội này kéo dài khá lâu
và trong quá trình đó, ngời phụ nữ đã giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại vàphát triển của xã hội "Theo truyền thuyết dân gian của vùng miền núi Nghệ Tĩnhthì từ buổi đầu khai thiên lập địa, ngời đàn ông phải nghe theo sự chọn chỗ ở của
ngời đàn bà nếu không Giàng sẽ bắt mất con" [33- 19] Việc này thể hiện vai trò
không nhỏ của ngời phụ nữ trong đời sống xã hội của ngời Việt cổ
Trang 20Cùng với sự ra đời của các công cụ lao động bằng kim loại, nghề nông trồnglúa nớc đợc ra đời và phát triển Bên cạnh đó là sự phát triển của nghề chăn nuôi,
đánh bắt cá, kết hợp với trồng trọt làm cho nền nông nghiệp Nghệ An càng trở nênphong phú Ngời phụ nữ với vai trò là lực lợng sản xuất cũng trở nên quan trọng
Đặc biệt, với những sáng tạo trong các loại hình lao động, với kinh nghiệm thực tế
"trên cơ sở không ngừng nỗ lực để thích nghi với cuộc sống, với hoàn cảnh để dựngxây thì ngời phụ nữ đã góp một phần không nhỏ vào việc ổn định cuộc sống gia
đình, dòng họ, phát triển xã hội, làm cho quê hơng Nghệ An trở thành một trungtâm của nền văn hoá Đông Sơn, là một bộ phận hữu cơ của đất nớc Văn Lang - ÂuLạc" [33- 20] đều có sự san sẻ, đóng góp của ngời phụ nữ
Lịch sử đã ghi nhận công lao to lớn của các bà mẹ, của những ngời phụ nữ đãnuôi dạy con cái, cháu chắt trỏng thành, động viên chồng con làm việc nghĩa Họ
đã đảm nhận vai trò là hậu phơng vững chắc, một tay lái con thuyền gia đình vợtqua những sóng gió, những thử thách trong cuộc đời nh bà quả phụ Man Thiện là
mẹ của Trng Trắc, Trng Nhị, hay Bà Mai Thị là mẹ của Mai Thúc Loan
Với việc nuôi dạy con cái, chăm lo cho gia đình, hiếu thảo với cha mẹ, hoàthuận với xóm giềng, hiểu biết lễ nghĩa, thì ngời phụ nữ đã góp một phần công sứcrất quan trọng trong việc ổn định cuộc sống gia đình, dòng họ, giữ cho con thuyềngia đình đi đến bờ hạnh phúc Trên con đờng ấy, không thể không kể đến yếu tốkhông kém phần quan trọng đó là làng xóm, tộc họ Bởi vùng đất Nghệ An cũng
nh nhiều vùng đất khác của dân tộc Việt Nam, mỗi con ngời, mỗi gia đình đềukhông thể tách rời cộng đồng của c dân ở đó, cụ thể là làng xóm, tộc họ
Nghệ An từ xa vốn nổi tiếng là vùng đất học, các sĩ tử đi thi đỗ đạt nhiều, một
số ra làm quan, một số trở thành thầy đồ, đi dạy học khắp nơi trong cả nớc "Ngờiphụ nữ phải ở lại nhà canh cửi nuôi con, vừa cô đơn, vừa nghèo:
"Gạo chợ chín đấu mời thng
Mẹ con chết đói vì chng không tiền" (Ca dao)Những đứa con trẻ lớn lên phần lớn đều do sự nuôi dỡng giáo dục của các bà
mẹ (dạy con hiếu thảo, thiếp làm phụ thân)" [14- 78] Cảnh thầy đồ dạy học ấy
đựơc ông Hồ Sỹ Bính gói gọn trong 10 chữ:
"Nam vô tội chi tùNữ hữu phu vị quả"
(Trai không tội mà tù, gái có chồng ở goá), [14- 79] Những ngời vợ, ngời mẹ
xứ Nghệ đời này qua đời khác đã để lại nhiều tấm gơng sáng, đẹp đẽ biết bao
Nh vậy, việc ngời phụ nữ chăm chỉ, cần cù lao động, nuôi dạy con cái, trọn
đạo dâu con, sống theo lễ nghĩa, giữ phép tắc thì có nghĩa là ngời phụ nữ Nghệ
An từ xa xa đang góp phần ổn định cuộc sống gia đình, tộc họ không có những
Trang 21ngời mẹ, ngời vợ đảm đang, ân cần, trung nghĩa ấy thì làm sao có đợc những ngờicon, ngời chồng làm rạng danh cho đất nớc, quê hơng nh ngày nay.
Trong quá trình đặt nền móng (thời Ngô - Đinh - Tiền Lê) và củng cố (thời Lý
- Trần) của chế độ phong kiến Việt Nam, ngời phụ nữ Nghệ An đã góp phần quantrọng trong việc mở mang kinh tế và phát triển nền văn hoá Đại Việt
Hơn một ngàn năm bị phong kiến phơng Bắc đô hộ, tuy phải chịu nhiều ràngbuộc, o ép, nhng với sức sống mãnh liệt, dân tộc ta đã không ngừng phát triển vàquật khởi tiến lên "Trên mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng, ở mỗigiai đoạn thì nhân dân ta đều có thêm những thành tựu mới, đa đất nớc Việt Nam ta
lên hàng những quốc gia cờng thịnh ở Đông Nam á" [33,25] Mặc dù nền kinh tế
nớc ta lúc này chủ yếu vẫn chỉ là nông nghiệp lúa nớc nhng đã khá phát triển, ởvùng Nghệ An và Hà Tĩnh, các soi bãi dọc hai bên bờ sông Sông Lam đợc phù sabồi đắp, các vùng đồng bằng ven biển cũng nh những miền đất đỏ trung du vànhững thung lũng trên núi cao, đều là những vùng đất màu phì nhiêu Cây trồngngày một phong phú nh trồng bông, trồng dâu nuôi tằm đợc phát huy Phụ nữ vớinghề chính là làm ruộng thì giờ đây lại còn có thêm nhiều nghề thủ công khác nhdệt lụa, đan lát các đồ dùng, thêu đan nh nghề mộc ở Quỳnh Đôi - Quỳnh Lu là
do bà Trơng Thị Thành đa từ làng Phú Nghĩa đến đây Hay nh lụa làng Quỳnh làsản phẩm cao cấp, dùng cho tầng lớp trên của xã hội, cũng có nghĩa là việc dệt lụa
đã đem lai nhiều hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đời sống gia đình Chính nhờ nghềdệt lụa đã nuôi những ông Nghè, ông Cử ăn học cho đến ngày thành danh Vì vậy
mà dân Quỳnh Đôi từ xa đã có câu: "Ông Cử, Ông Tú cũng từ khung lụa mà ra".Trong nhiều thế kỷ thì nghề dệt lụa đã trở thành nguồn thu nhập chủ yếu quan trọng
về kinh tế ở Quỳnh Đôi
Trong xã hội phong kiến xa kia, thân phận của ngời phụ nữ nói chung không
đợc coi trọng Tuy nhiên, tất cả mọi công việc đều đòi hỏi và có sử dụng đến sứclao động của họ Từ sự góp phần chăm bón đối với đất đai, cây trồng cho đến kinhnghiệm canh tác, lựa chọn giống cây trồng, xét đoán về thời vụ những hiểu biết
đó đều đợc rút kinh nghiệm và đúc kết nhờ vào sự lao động cần mẫn của những
ng-ời phụ nữ trên mảnh đất vốn cằn cỗi với những điều kiện tự nhiên khắc nghịêt này.Những đóng góp đó của nhiều tầng lớp phụ nữ đã góp một phần quan trọng tạo cơ
sở cho nền văn minh nông nghiệp của Xứ Nghệ lúc bấy giờ
Những ngời phụ nữ luôn bị ràng buộc bởi rất nhiều những quy định khắt khe,bất bình đẳng "Nhng trong truyền thống của nhân dân, phụ nữ đợc tôn trọng nhiềukhi vợt ra ngoài ý thức hệ phong kiến Nhiều công trình từ xa đợc lấy tên các Bà với
ý nghĩa ghi công nh: Giếng Bà Cả, Giếng Bà Lê, Hồ Bà Triều, Cầu Bà Lê "[14,50- 51] Một số ngời phụ nữ có công lớn với làng, với họ và đợc nhân dân phongthần, hàng năm đều làm lễ tế đàng hoàng, long trọng
Trang 22Nhiệm vụ đặt lên đôi vai ngời phụ nữ thật nặng nề, họ là ngời lao động chínhtrong nhà, vừa phải là một ngời mẹ đảm, dâu thảo, vừa phải là một ngơi vợ hiền,một ngời hàng xóm tốt bụng Chỉ riêng việc đảm nhận cho tốt chức năng một ngờilao động chính kiếm tiền nuôi sống cả gia đình đã quá nặng nhọc bởi việc đồng ángnặng nề luôn tay, ngoài ra còn phải là một tấm gơng về đức hy sinh, lòng vị tha, sựlao động cần cù Cùng với bản tính dịu dàng, ngời mẹ còn là "kho tàng" lu giữnhững giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc để truyền lại cho con cháu Đặc biệtngời phụ nữ trong gia đình còn phải coi trọng về tâm t, tình cảm của mọi thành viêntrong gia đình, tộc họ Sự quan tâm đó nói lên ý nghĩa của tình yêu đích thực, tình
vợ chồng, sự gắn bó giữa cha mẹ và con cái, giữa ông bà và con cháu Nó chính làsợi dây liên kết giữa các thành viên, tạo nên sự ổn định, bền vững của một gia đình.Ngời phụ nữ chính là linh hồn của một gia đình, là ngời tạo hoà khí, giữ ngọn lửa s-
ởi ấm cả gia đình, họ phải giải quyết tốt mọi mối quan hệ trong gia đình và thântộc
Nói về vai trò của ngời phụ nữ trong việc góp phần ổn định cuộc sống gia
đình, dòng họ, phát triển kinh tế là rất quan trọng, không ai có thể phủ nhận đựơccông sức của họ vì nhờ vào sự phấn đấu nỗ lực của họ mới tạo ra sự yên ấm cho gia
đình, tạo sự vững vàng ý chí để ngời chồng, con, cha, anh của họ yên tâm làm việclớn Nh vậy, thì trong thành công của nam giới không thể không kể đến công lao tolớn của những ngời phụ nữ
1.2.4 Phụ nữ Nghệ An với việc phòng chống thiên tai:
Từ xa xa, Nghệ An đã thuộc về địa giới phía Nam của Tổ Quốc nên sớm trởthành mảnh đất "phên dậu", vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phơng trong công cuộcdựng nớc và giữ nớc của dân tộc Nhng vì nằm ở địa thế hiểm yếu, điều kiện tựnhiên ở đấy có phần khắc nghiệt, khí hậu khô cằn hơn nhiều nơi khác cho nên conngời ở đây đã phải trải qua một cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, vừa chinh phụcthiên nhiên, vừa phải chống trả với bọn cớp nớc để tồn tại và phát triển Trong cuộc
đấu tranh vật lộn với thiên tai, bão lũ, hạn hán ấy, nhân dân Nghệ An đã thừa hởng
và giữ gìn đợc hệ cấu thành sinh thái vốn có của tự nhiên: kiến lập đựơc hệ canh tácphù hợp với đất, trời xứ Nghệ: "Đã mài đá, luyện sắt, khai thác tài nguyên rừngbiển, làm ra công cụ sản xuất, phơng tiện vận chuyển giao lu và sản phẩm cho nhucầu đời sống, xây dựng cách sống tơng ứng với điều kiện tự nhiên, kinh tế của mình
và không ngừng vơn lên theo đà phát triển của lịch sử" [01,13]
Trong cuộc đấu tranh phòng chống thiên tai, chinh phục tự nhiên của nhân dânNghệ An thì với những sáng tạo trong lao động và trong kinh nghiệm phòng chống
và khắc phục thiên tai, ngăn ngừa thú dữ, trên cơ sở không ngừng nỗ lực để thíchnghi với cuộc sống, với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, ngời phụ nữ Nghệ An đãgóp phần quan trọng vào việc phát triển xã hội lúc bấy giờ.Nh ta đã biết, "từ nền
Trang 23văn minh mài đá, đúc đồng đến dùng đồ sắt, trồng lúa nớc, là một quá trình con
ng-ời ở đây đã quật cờng, bền bỉ đấu tranh để lợi dụng và khắc phục tự nhiên Hạnhán, bão lụt hay xảy ra đột ngột và rất dữ dội, gây ra nhiều tai hoạ khủng khiếp,thiệt hại đến mùa màng và cả tính mạng của con ngời Cho nên từ buổi ban đầu,con ngời ở đây đã phải chung lng đấu cật để vật lộn với thiên nhiên mà duy trì sựsống: "Nớc lụt thì lụt cả làng
Đắp đê chống lụt, thiếp chàng lo chung" [33,06]
Nh vậy, sự lo toan đó có cả sức lực của các thế hệ những ngời phụ nữ đã sinh ra
và lớn lên trên mảnh đất này Phải nói rằng vai trò của ngời phụ nữ trong việc phòngchống thiên tai, chinh phục tự nhiên là rất quan trọng và không kém phần so vớinam giới Từ bao đời nay, các thế hệ phụ nữ Nghệ An đã phải sớm hôm tần tảo với
đủ mọi nghề, lao động cần mẫn trong điều kiện sống khắc nghiệt, cần kiệm, cải tạo
tự nhiên góp phần ổn định cuộc sống, duy trì phát triển văn hoá - văn minh cùngnhững nét đẹp thuần hậu, chất phác mang tính truyền thống của cả cộng đồng c dân
xứ Nghệ
1.2.5 Phụ nữ Nghệ An trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm:
Từ nhiều đời nay, ngời phụ nữ Nghệ An nổi tiếng với truyền thống là cần cùlao động, tiết liệt, thuỷ chung, sống có đạo lý, biết giữ gìn gia phong - đạo lý, họgóp một phần quan trọng trong việc ổn định cuộc sống gia đình, dòng họ, phát triểnkinh tế, phòng chống thiên tai Thế nhng trong cuộc đấu tranh chống giặc ngoạixâm thì chính những ngời mẹ hiền, vợ thảo ấy lại trở thành hậu phơng vững chắcnhất động viên chồng con tham gia phong trào hoặc là trực tiếp tham gia Tuynhiên ngời cuối cùng phải chịu mọi mất mát hy sinh lại chính là những ngời phụnữ, những ngời vợ thảo hiền ấy
1.2.5.1 Động viên chồng con tham gia phong trào:
Từ xa xa, Nghệ An vốn thuộc địa giới phía Nam của Tổ quốc nên đã sớm trởthành mảnh đất "phên dậu" vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phơng trong công cuộcdựng nớc và giữ nớc của dân tộc Cùng với hoàn cảnh địa lý - lịch sử - xã hội cụ thể
ở nơi đây đã sớm đặt lên vai những ngời phụ nữ một nghĩa vụ thật là nặng nề Họphải gánh vác hầu nh toàn bộ công việc của ngời hậu phơng nhằm động viên,khuyến khích chồng, cha, anh đi làm việc lớn Hết thảy mọi công việc trong gia
đình đều do một tay họ đảm nhiệm, từ việc đồng áng, cày bừa cấy hái, canh cửi,tằm tơ, chợ búa, buôn bán cho đến việc nuôi dạy con cái, phụng dỡng cha mẹ già,gìn giữ gia phong tập quán của tổ tiên, làng nớc
Có thể nói rằng, nếu không có sự đảm đang, tận tụy, thuỷ chung son sắt củanhững ngời phụ nữ ở hậu phơng thì chắc chắn không một ngời anh hùng nào có thểlàm nên nghiệp lớn Bởi chính nhờ sự tận tuỵ, một lòng của những ngời mẹ, ngời
Trang 24chị, ngời vợ ở hậu phơng nên những ngời đàn ông mới có thể yên tâm dứt lòng mà
ra trận Bởi vì họ hiểu rằng:
"Đi thì chỉ chết một cha Không đi thì chết cả bà lẫn con" (Ca dao)Những ngời đàn ông xông pha trận mạc, những ngời đàn bà ở hậu phơng chịuthơng chịu khó, chăm chỉ làm ăn:
"Anh đi theo Chúa Tây Sơn
Em về cày cuốc mà thơng mẹ già" [33,30]
Lịch sử đất nớc Việt Nam đã ghi nhận những chiến công hiển hách của nhữngngời con đất Việt, và trong những chiến công đó có một phần công lao to lớn, quantrọng của những ngời phụ nữ nh bà Ba Đề Thám, bà Phan Bội Châu, bà Tú Xơng, Chính họ là nguồn động viên lớn lao giúp cho ngời ra trận vững vàng chí khí đánhgiặc Lịch sử đã ghi chép về bà quả phụ Man Thiện, mẹ của Trng Trắc, Trng Nhị.Theo truyền thuyết dân gian, thần tích Miếu Mèn và Đình Nam Nguyễn (Ba Vì -
Hà Tây) thì mẹ Hai Bà Trng là cháu ngoại Vua Hùng, ngời làng Nam Nguyễn Bàgoá chồng sớm nên phải một mình nuôi dạy hai con gái, rất công phu và đã độngviên, tạo điều kiện cho các con của mình đứng lên xớng nghĩa Hay bà Mai Thị,cũng là một ngời phụ nữ goá chồng, nghèo khổ đất Hoan Châu, mẹ của Mai ThúcLoan, cũng có nhiều nét rất giống bà Man Thiện gần 700 năm trớc Bà Mai Thịchịu tang chồng khi vừa mang thai Mai Thúc Loan "Theo truyền thuyết dân gian,
bà đã rời vùng biển Thạch Hà - Hà Tĩnh, di c đến vùng Đụn Sơn, thuộc Nam Đờng,nay là Nam Đàn, Nghệ An và tự tay khai phá một vùng đất dới chân núi Dẻ thuộcthôn Ngọc Trờng (nay là xã Vân Diên) để sinh sống Nhờ sự nỗ lực nuôi dạy concủa bà mà Mai Thúc Loan đã từ một cậu bé phải đi ở chăn trâu trở thành một chàngtrai có nơi ăn chốn ở tử tế và có điều kiện đẻ tập rèn Ngời thanh niên ấy là niềm hivọng lớn của bà Mai Thị và cũng nh của xóm thôn Thấy Mai Thúc Loan có khí tiết
và có sức khoẻ hơn ngời, bà Mai Thị đã mời thầy về dạy cho con" [33- 23, 24].Thử hỏi, nếu không có sự theo dõi sát sao và tận tuỵ chăm bẵm đó của ngời
mẹ thì sao có thể phát hiện ra tài năng tiềm ẩn trong ngời con để có cách mà pháttriển tiềm năng đó
Và trong lịch sử dân tộc đã không hiếm những trờng hợp ngời vợ nuôi chồng
ăn học, hoặc thay chồng chăm lo phụng dỡng cha mẹ già để chồng yên tâm ra trận,ngời phụ nữ ở lại nhà đối mặt với nỗi cô đơn trống trải, với trăm công nghìn việc
đều đến tay, vừa phải trọn đạo dâu con, vừa phải biết đối nhân xử thế, giữ trọn đạohiếu với ngời trên xóm dới trong xóm thôn Nếu ngời phụ nữ khéo léo trong đối xử,siêng năng cần cù trong lao động, tận tuỵ với ngời thân, chung thuỷ một lòng thì đó
đã là một niềm hạnh phúc lớn lao, là niềm động viên, thúc đẩy mạnh mẽ nhất tinhthần của ngời ra trận
Trang 25Sử sách có ghi lại nhiều câu chuyện cảm động về những ngời phụ nữ có chồng
ra trận nh chuyện Ông Hồ Trọng Chuyên, còn gọi là Cả Tùng, là một nhân vậttrọng yếu đợc thủ lĩnh phong trào Yên Thế Đề Thám hết sức tin cậy Vợ Cả Tùng là
bà Hoàng Thị Hoè, "nhiều lần gánh lụa ra Bắc Giang tìm chồng, sinh một ngời contên là Thế, đợc Hồ Sỹ Quý thuyết phục, có lần bà đã ủng hộ nghĩa quân cả gánhlụa" [14- 118]
Từ buổi bình minh của lịch sử loài ngời, Nghệ An là một bộ phận khăng khít
và cùng chung với vận mệnh của đất nớc, của dân tộc Vì thế biết bao nhiêu cuộcchiến tranh diễn ra trên đất nớc Việt Nam ta thì nghĩa là cũng đã có bấy nhiêu cuộc
đấu tranh chống lại ngoại xâm ở ngay trên vùng đất khắc nghiệt và cằn cỗi ấy Điềukiện tự nhiên khắc nghiệt, chiến tranh giặc giã lại liên miên, bao nhiêu khó khăncực nhọc dờng nh lại dồn hết lên đôi vai ngời phụ nữ
1.2.5.2 Trực tiếp tham gia chống giặc:
Lịch sử dân tộc ta là lịch sử của một đất nớc luôn bị xâm lợc và đấu tranhchống lại các cuộc xâm lợc của đủ loại kẻ thù, mà nổi bật là cuộc đấu tranh bền bỉcủa cả dân tộc ta chống lại sự xâm lợc của phong kiến phơng Bắc trong ngót 100năm Lịch sử dân tộc Việt Nam trong đêm trờng nô lệ ấy đã luôn vùng đứng lên,không khuất phục Với rất nhiều chiến công hiển hách làm rạng danh của cả dântộc ta, thì trong đó góp một phần lớn chính là công sức của chị em phụ nữ Ngoàivịêc phải là một hậu phơng vững chắc để động viên ý chí, tinh thần cho chồng con
đánh giặc, một số chị em mạnh bạo hơn, có điều kiện hơn thì họ lại trực tiếp thamgia đánh giặc, đúng nh truyền thống của dân tộc "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh".Chị em phụ nữ đã tham gia chiến đấu bằng mọi khả năng, điều kiện của mình, từtiếp tế lơng thực, làm giao liên, nuôi quân, mua sắm vũ khí, địch vận việc gì chị
em cũng làm đợc và làm tốt, khi cần chị em còn trực tiếp tham gia chiến đấu chốnggiặc
Ngay trong thời kỳ nhà Hán chiếm đợc Âu Lạc, chúng thực hiện chính sách
đồng hoá và bóc lột tàn nhẫn với dân ta Viên Thái Thú Cửu Chân là kẻ rất thambạo "Giữa những ngày giá rét chúng vẫn bắt đàn ông vào rừng sâu săn voi, săn têgiác lấy sừng, săn công và trĩ để làm cảnh Phụ nữ thì bị chúng đày xuống biển mòngọc trai hoặc xuống các khe suối đãi vàng, khiến đàn ông cũng nh đàn bà phảichết đói, chết rét Chính vì thế cuộc khởi nghĩa của Trng Trắc, Trng Nhị bùng nổ(năm 40) Nhân dân Cửu Chân trong đó có Nghệ Tĩnh, nam cũng nh nữ đã nhiệt liệthởng ứng Nhiều tớng lĩnh cầm quân ra trận là phụ nữ" [33,22]
Đây thực chất là một cuộc đồng khởi của toàn dân trên phạm vi cả nớc, dới sựlãnh đạo của ngời phụ nữ tuổi cha tròn đôi mơi, cách ngày nay gần 2000 năm Cuộckhởi nghĩa của Hai Bà Trng vì thế là một hiện tợng độc đáo trong lịch sử dân tộc vàhiếm có trong lịch sử thế giới Đây là một cái mốc bản lề khẳng định những giá trị
Trang 26vĩnh viễn của của thời kỳ Hùng Vơng - An Dơng Vơng và định hớng cho tơng laiphát triển của đất nớc.
Trong "Đại Việt sử ký", sử gia Lê Văn Hu đã bình luận: "Trng Trắc, Trng Nhị
là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và 65 thành,trì ở lĩnh ngoại đều hởng ứng" Nh vậy là "trong chiến công trác việt có tầm cỡnhân loại đầu tiên của dân tộc đã có sự góp phần xứng đáng của chị em phụ nữ CửuChân" [33, 22]
Tiếp bớc Hai Bà Trng, cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu nổ ra năm 248 ở vùngmiền núi Na thuộc vùng C Phong, Triệu Sơn, Thanh Hoá ngày nay bên hữu ngạnsông Chu thuộc quận Cửu Chân, nơi rất gần với Hàm Hoan (thủ phủ của Nghệ Tĩnhhồi thế kỷ 3) Nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân với đông đảo phụ nữ đã nổidậy, tích cực hởng ứng Nghĩa quân đã thắng địch nhiều trận và giết đợc tên thứ sửngời Ngô ở Giao Châu Sử sách nhà Ngô đã phải thú nhận: "Năm 248, toàn thểGiao Châu đều chấn động" [33, 23] Cuộc khởi nghĩa này một lần nữa đã bộc lộ tàitrí và sự gan dạ của ngời phụ nữ Việt Nam Đây cũng là dịp để ngời phụ nữ NghệTĩnh trong quân Cửu Chân thể hiện nhiệt tình và sức kiên dũng của mình đối với sựnghiệp bảo vệ đất nớc
Năm 1255, giặc Nguyên mà đứng đầu là tớng Toa Đô tiến hành xâm lợc nớc talần thứ hai Với âm mu từ Chân Lạp, qua Hoan Diễn đánh thẳng ra Thăng Long.Nhng dới sự chỉ huy của các tớng nhà Trần là Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật,chị em phụ nữ Hoan Diễn đã cùng nam giới phá đờng đắp cản, chặn địch, khiếnquân giặc phải lùi xuống đi bằng đờng biển, kế hoạch tiến quân ra Yên Trờng, nơitriều đình sơ tán cũng nh đánh vào Thăng Long của chúng bị chậm lại, vỡ lở
Bớc sang Thế kỷ XV, khởi Nghĩa Lam Sơn của Bình Định Vơng Lê Lợi chốnglại quân xâm lợc nhà Minh một lần nữa cho thấy sự góp phần quan trọng của giớinữ trong việc nuôi quân, tạo điều kiện cho nghĩa quân hoạt động nh trang trại của
Bà Trần Thị Ngọc Hào đã đợc quy tụ vào lực lợng của Lê Lợi Nhờ sự hởng ứngnhiệt liệt trên nhiều phơng diện, thuộc các tầng lớp già trẻ, gái trai nh thế nên LêLợi và Nguyễn Trãi đã xớng nghĩa trên núi Thiên Nhẫn, thề rằng: "khoảng 6 nămnữa sẽ đuổi hết giặc Minh" Từ đó nơi họp chợ phiên cũng thành "Chợ Bình Ngô"(Thanh Chơng), và tên đất, tên ngời đã đi vào lịch sử, ghi dấu cả công lao củanhững ngời phụ nữ Nghệ Tĩnh thời chống Minh
Đến dới thời Lê, chế độ phong kiến Việt Nam bớc vào giai đoạn phát triểnthịnh đạt thể hiện một phần qua bộ luật Hồng Đức Tuy nhiên ngời phụ nữ ViệtNam đã uổng công phí sức vun đắp mà kết quả lại không đợc hởng quyền lợi gì.Sang thế kỷ thứ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam bớc vào suy vi, các cuộc nộichiến xảy ra triền miên Cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do Quang Trung lãnh
đạo đã bùng nổ vào nửa cuối thế kỷ XVIII, khi Nguyễn Huệ tiến quân ra Thăng
Trang 27Long diệt Trịnh phù Lê, dừng lại ở đất Nghệ An 10 ngày đã đợc nhân dân và chị
em phụ nữ ở đây tích cực hởng ứng, góp nhiều sức ngời, sức của cho nghĩa quân,góp phần xứng đáng vào đại thắng quân Thanh tại Ngọc Hồi, Đống Đa mùa xuân
Kỷ Dậu (1789)
"Hình ảnh nữ tớng Bùi Thị Xuân lẫm liệt trớc hàng tiền đạo của nghĩa quân đã
kích động mạnh mẽ tinh thần của nữ giới" [33, 29] Hay nh bà quả phụ Nguyễn Thị
Phát ở làng Quỳnh Đôi nhận việc nuôi quân 5 suất, bà Nguyễn Thị Dinh cũng nhận
nuôi 6 suất lính "Việc làm của hai bà đã tạo nên phong trào rộng rãi trong các xóm
làng góp lơng nuôi nghĩa quân" [14, 58]
"Nghệ Tĩnh là địa điểm hội quân và là nơi Quang Trung tổ chức cuộc Đại hộiduyệt binh lịch sử Nhiệm vụ tiếp tế mà phần lớn do ngời phụ nữ đảm nhiệm là rấtnặng nề Tơng truyền các bà các chị đã làm bún, làm bánh mớt để nghĩa quân có ănkịp thời và thuận tiện Đồng thời họ cũng gói bánh chng, bánh tày để các chiến sỹmang theo trên đờng hành quân khẩn tốc" [33, 30]
Triều đại Tây Sơn với nhiều u việt bị sụp đổ và ngời phụ nữ cũng mất luôn cảnhững ớc vọng tốt lành Triều Nguyễn Gia Long tiếp nối, và với Bộ "Hoàng Triềuluật lệ" càng đẩy ngời phụ nữ xuống sâu hơn cái vòng luẩn quẩn của số phận cựcnhục, đen tối Và đến lợt mình, triều Nguyễn với những chính sách đối nội, đốingoại phản động đã không bảo vệ đợc nền độc lập dân tộc Trớc nạn xâm lăng và
ách thống trị của thực dân Pháp, ngời phụ nữ Nghệ An lại phải sống một cuộc sốngkhổ ải hơn nữa, nhng họ phải tiếp tục sống, lao động chiến đấu không ngừng vớimức độ quyết liệt hơn
Năm 1883, giặc Pháp đổ bộ lên cửa biển Thuận An, chiếm kinh thành Huế,Vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vơng, chạy về Hơng Khê Phong trào Cần Vơng diễn
ra rầm rộ ở hầu khắp các huyện, thành với sự nổi dậy của các thủ lĩnh Lê Ninh,
V-ơng Thúc Mậu, Nguyễn Xuân Ôn, Trần Quang Diệu, Lang Văn Thiết Nổi bật làcuộc khởi nghĩa do Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo tại Hơng Khê, kéo dài
10 năm và nhận đợc sự ủng hộ nhiệt tình về nhiều mặt của nhân dân và nhiều tầnglớp phụ nữ ở vùng Nghệ An, Hà Tĩnh
Suốt chiều dài lịch sử của cả dân tộc Việt Nam, mỗi chiến công vang dội, oaihùng đều có phần công sức của những ngời phụ nữ, có thể họ là ngời giữ hậu phơngcho ngời ra trận vững tâm tiến bớc, nhng cũng có khi họ lại là ngời dẫn đầu ở giữatrận tiền Dù ở vị trí nào đi nữa, dù là ngời mẹ, ngời vợ, ngời con hay là một vị tớngthì nhiệm vụ nào họ cũng hoàn thành một cách trọn vẹn và xuất sắc Quê hơng ghi
ơn họ, đất nớc ghi công họ, những ngời phụ nữ Việt Nam thật xứng đáng với truyềnthống giỏi việc nớc, đảm việc nhà", trung trinh, tiết liệt Họ thật xứng đáng với hình
ảnh đã đợc dân gian hoá, đó là tiên nữ, tố nữ Và ngời phụ nữ xứ Nghệ là lực lợng
Trang 28cùng với nam giới sớm tạo nên vùng văn hoá Hồng Lam với những sắc thái riêng,làm giàu cho nền văn minh Đại Việt.
1.2.5.3 Cam chịu mọi mất mát hi sinh:
Ngời phụ nữ có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của con ngơi xứNghệ Điều này thể hiện qua những câu chuyện lịch sử mang đậm tính truyềnthuyết dân gian Câu chuyện về sự tích Chùa Hang ở phía Đông Nam Núi Quyết.Theo truyền thuyết trong dân gian thì ngôi chùa này thờ bà Phạm Thị Ngọc Trần,một trong những ngời vợ xinh đẹp và hiền thục nhất của Vua Lê Lợi
"Tơng truyền vào khoảng mùa thu năm 1425, Lê Lợi trực tiếp chỉ huy một
đoàn thuyền chiến vợt biển vào Nghệ An Vừa đến Cửa Hội Thống thì bỗng nhiêntrời nổi phong ba, gió ma mù mịt, mặt biển cuồn cuộn sóng dữ, Lê Lợi liền họpquần thần và các bà vợ, báo tin thuỷ thần đòi lấy một ngời đàn bà xinh đẹp làmthiếp theo về thuỷ cung thì mới yên: "Ai chịu đi làm vợ Thuỷ thần, sau này khi lấy
đợc giang sơn, ta sẽ lập con ngời ấy làm Thiên tử" Trong lúc các bà khác đang đắn
đo suy nghĩ thì bà Phạm Thị Ngọc Trần, khảng khái quỳ xuống trớc mặt Vua: "Vìxã tắc sơn hà, vì nghiệp lớn của Minh Công, thiếp nguyện xả thân Sau này làm nênnghiệp lớn, chớ phụ con thiếp" Dứt lời, Bà quay lại ôm Nguyên Long, lúc đó mớitròn 2 tuổi vào lòng, hôn con lần cuối rồi trao cho ngời khác, bà gieo mình xuốngbiển giữa giông tố mịt mù Một lát sau, trời yên biển lặng, đoàn thuyền qua khỏicơn nguy biến Sau khi đánh bại giặc Minh, lên ngôi Hoàng Đế, Lê Lợi đã khôngquên lời hứa, lập con trai bà Ngọc Trần là Nguyên Long làm Thái Tử nối ngôi Đóchính là Vua Lê Thái Tông, lên ngôi năm 1433 " [08,10-11]
Còn bà Ngọc Trần sau khi gieo mình xuống biển, thi thể đợc sóng gió đa đẩydạt vào một bãi cát dọc Sông Lam, cạnh núi Quyết Dân chài đã mai táng bà cạnhCồn Rùa và lập miếu thờ bà trớc hang đá Ngời ta đồn rằng, từ ngày lập miếu, dânchài làm ăn thuận lợi, phát đạt Nhân dân chọn ngày 20/8 (ÂL) hàng năm làm ngàygiỗ bà Ngọc Trần
Nh vậy, trong câu chuyện dân gian thì ngời phụ nữ cũng là ngời cam chịu mọimất mát, hi sinh cho chồng con hoàn thành đại nghiệp
Trong công cuộc dựng nớc và giữ nớc, phụ nữ Nghệ An cùng phụ nữ cả nớc đãgóp một phần quan trọng trong việc đấu tranh chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền
độc lập dân tộc Tuy nhiên với ngời phụ nữ thì dù trên mặt trận nào, dù đấu tranhtrực diện với kẻ thù hay gián tiếp ở hậu phơng thì trong tất cả mọi lĩnh vực, ngờiphải chịu nhiều hi sinh mất mát nhất vẫn là ngời phụ nữ
Hình ảnh ngời vợ ở nhà vò võ một thân một mình chăn đơn gối chiếc mới cô
đơn, lạnh lẽo biết nhờng nào Ngời chồng phải ra trận, trăm công ngàn việc ở nhà
đều do một tay ngời vợ lo toan chu tất, từ ruộng vờn cấy hái đến phụng dỡng cha
mẹ, nuôi dạy con cái tất tật mọi việc đều do ngời phụ nữ đảm nhận Vậy mà khibóng đêm buông xuống, chỉ còn ánh trăng lạnh lẽo với nỗi cô độc trong lòng ngời
Trang 29chinh phụ Nỗi niềm riêng t ấy biết tỏ cùng ai, chỉ con cách cắn răng chịu đựng Và
đó cũng là hình ảnh của biết bao ngời mẹ, ngời vợ xứ Nghệ, đó là thân mẫu của Bác
Hồ, vợ nhà cách mạng Phan Bội Châu, bà Mai Thị, mẹ và vợ của Nguyễn Xân Ôn,
Lê Doãn Nhạ, Nguyễn Đức Đạt, Tôn Thị Quế,…và còn biết bao nhiêu ngời mẹ,
ng-ời vợ nh thế nữa Họ đã hi sinh tuổi thanh xuân đẹp đẽ nhất của mình, hi sinh hạnhphúc của bản thân, một lòng thờ chồng, nuôi con cho trọn đạo hiếu Những tấm g -
ơng hiền phụ của những bà quả phụ, chồng chết không đi bớc nữa mà ở vậy nuôicon, rồi lấy chồng mà 20 năm trời không gặp mặt Sự cam chịu mọi mất mát hisinh của ngời phụ nữ Nghệ An thật đáng nể phục
Nhà nho thời tàn cuộc Hồ Văn Thuyên đã thấu hiểu đợc nỗi khổ của ngời phụnữ: “Em là con gái họ Dơng
Gửi th ra tới Bắc Giang hỏi chàng
Từ năm nọ vợ chồng chung gối
Đạo vợ chồng cha tới bốn nămChàng đi đờng sá xa xămTháng giêng chàng trẩy, tháng năm chàng về
Trông chàng nỏ thấy chàng vềHay là vui thú say mê nơi nào? ”
Trong lao động sản xuất, chị em phụ nữ phải đảm nhận vai trò chính thay ngờichồng đang ngoài trận mạc Vì vậy mà bao nhiêu vất vả cực nhọc đều dồn hết lên
đôi vai yếu ớt của họ Biết bao câu chuyện cảm động về ngời vợ ngày đêm tảo tần,cần cù chịu khó lao động, đi ở, làm thuê kiếm tiền thay chồng nuôi con, chăm logia đình để chồng vững chí bền gan đánh giặc
1.3 Tiểu kết
Trong dòng chảy dựng nớc và giữ nớc của dân tộc từ khi mở nớc, ngời dânNghệ An trong đó có chị em phụ nữ đã góp phần tích cực, sáng tạo nên nền vănminh Đông Sơn nổi tiếng, xây dựng nớc Văn Lang - Âu Lạc "Từ buổi bình minhcủa lịch sử, Nghệ Tĩnh đã là một bộ phận khăng khít và cùng chung vận mệnh với
đất nớc, dân tộc" [33, 20] "Và cũng nh nhiều địa phơng khác trong nớc, ở Nghệ
An có hai thứ truyền thống văn hoá tinh thần cùng tồn tại và phát triển son song
Đó là những truyền thống văn hoá dân tộc biểu hiện qua các phong tục tập quán lâu
đời và những truyền thống văn hoá mà bọn thống trị phơng Bắc cỡng nhập vào
n-ớc ta từ thuở nghìn năm Bắc thuộc " [33, 16]
Nằm trong dòng chảy của lịch sử dân tộc, cùng với điều kiện lịch sử - xã hội
và địa lý cụ thể và truyền thống văn hoá của dân tộc đã góp phần tạo nên ở ngờiphụ nữ Nghệ An những đức tính nổi bật mang tính truyền thống nh: chăm chỉ lao
động, cần cù nhẫn nại, chịu thơng chịu khó, tận tuỵ một lòng, thuỷ chung son sắt,
đằm thắm dịu dàng, đầy bao dung, nhng trong con ngời họ chứa đựng một sức sốngmãnh liệt
Trong cuộc sống, ngời phụ nữ xứ Nghệ là một ngời mẹ dịu dàng, đảm đang,một ngời vợ hiền thục, chung thuỷ một lòng, một ngời dâu thảo, biết kính trên nh-
Trang 30ờng dới, thuận hoà với làng trên xóm dới Với vẻ ngoài mộc mạc, chân quê, cóphần khắc khổ nhng tâm hồn họ lại dịu dàng, đằm thắm, bao dung Trong tình cảmyêu ghét rõ ràng, trong ứng xử lại nhạy bén, sắc sảo Với truyền thống giặc đến nhà
đàn bà cũng đánh khởi nguồn từ Bà Trng, Bà Triệu
Hiểu đợc truyền thống quý báu của ngời phụ nữ Nghệ An, ta có thể hiểu đợc vìsao trong lịch sử quê hơng lại có nhiều ngời mẹ, ngời vợ trung liệt, tiết nghĩa, thuỷchung đến thế Và trong quá trình dựng nớc và giữ nớc nói chung, xây dựng và bảo
vệ quê hơng nói riêng, ngời phụ nữ Nghệ An đã có những đóng góp hết sức to lớn,quan trọng
Và những tấm gơng oai hùng nh Bà Trng, Bà Triệu, bà Tú Xơng, bà Thái ThịHuyên Những tấm lòng cao cả của các bà mẹ Việt Nam nói chung và Nghệ Annói riêng vẫn thờng nhắc nhở trong các ngày lễ mẹ, ngày rằm tháng Bảy với "bônghồng cà áo" Không ai có thể phủ nhận đợc sức chịu đựng bền bỉ và đức tính cần cùchịu khó của các bà, các mẹ Và cũng không ai có thể phủ nhận đức tính trongsạch, ngay thẳng và đàng hoàng của ngời phụ nữ Việt Nam nói chung cũng nh ngờiphụ nữ Nghệ An nói riêng Những đức tính hi sinh, can đảm và chan chứa tình ngời
đã nâng cao phẩm giá của họ lên hàng tiên thánh và biến một số ngời đàn bà nớcNam thành những ngời phụ nữ truyền thuyết trong lịch sử dân tộc Việt
Ch ơng II Phụ nữ Nghệ An trong phong trào giải phóng dân tộc cuối thế kỷ XIX đến trớc khi Đảng ta ra đời (1885 - 1929).
2.1 Pháp chiếm Đại Nam và Nghệ An
Âm mu xâm lợc của t bản Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liên tục, bắtnguồn từ những năm đầu thế kỷ XVII, và ngày càng đợc xúc tiến một cách mạnh
mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX Tháng 4/1857, việc xâm lợc Việt Nam đã đợc thựcdân Pháp lên kế hoạch và thông qua Đến khi cuộc can thiệp của Pháp ở vùng biểnTrung Hoa tạm ngng bởi Hiệp ớc Thiên Tân (27/6/1858) thì hạm đội Pháp đã lậptức quay mũi hớng về phía biển Đà Nẵng
Rạng sáng ngày 01/9/1858, thực dân Pháp đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà,
Đà Nẵng, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lợc nớc Đại Nam
Đối với thực dân Pháp cũng nh các đế quốc, thực dân khác khi xâm lợc thuộc
địa đều nhằm nhiều mục đích: tìm kiếm thị trờng, vơ vét nguồn nguyên liệu và khaithác sức lao động rẻ mạt ở đây Riêng đối với Việt Nam - Đông Dơng, ngoài việc
đây là một vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, sức lao động dồi dào và rẻ mạt thì Việt Nam - Đông Dơng nằm ở vị trí có thể có thể trở thành bàn đạp cho cuộcchiến tranh Thái Bình Dơng và từ đây có thể tiến đánh các nớc Châu á khác nhInđônêxia, một đất nớc có trữ lợng dầu rất lớn
Việc Đà Nẵng bị tấn công không hề bất ngờ với triều đình nhà Nguyễn Quântriều đình có bắn trả, nhng do vũ khí lạc hậu, không đợc luyện tập thờng xuyên nênkém hiệu quả, không thể ngăn đợc quân Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà Đối với
Trang 31thực dân Pháp, vũ khí hiện đại đã tạo cho liên quân Pháp - Tây Ban Nha lợi thếngay từ đầu, quân triều đình thất thế phải rút lui về cố thủ Trớc sau, Pháp không hề
bị tấn công mạnh nên sinh lực ít bị hao hụt, nhờ đó có thể vợt qua mọi khó khăn trởngại để hoàn thành cuộc xâm lợc Thực dân Pháp đã lần lợt chiếm Gia Định thành,
ký Hoà ớc 1862, triều đình Huế đã để mất Lục tỉnh Nam Kỳ vào tay Pháp Đặc biệtvới hàng ớc 1874 thì trên thực tế, nớc Việt Nam đã trở thành đất bảo hộ của Pháp.Với hoà ớc này toàn bộ đất đai Nam Kỳ đã chính thức thuộc về tay Thực dân Pháp,công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát và điều tra tình hình của chúng ở ViệtNam Tuy Pháp phải trả lại Hà Nội, nhng chúng đã đặt đợc cơ sở chính trị, kinh tế,quân sự ở khắp các nơi quan trọng ở Bắc Kỳ
Triều đình Huế đã dùng lực lợng quân sự vào việc đàn áp các phong trào quầnchúng Trớc sau triều đình phong kiến hoàn toàn không có ý định tiến hành cảicách để giải quyết những khó khăn của đất nớc ngày càng chồng chất Giặc Pháp ở
Hà Nội sau trận Cầu Giấy (19/5/1883) vô cùng hoang mang, lo sợ, vậy mà triều
đình Huế lại tiếp tục thơng thuyết Đến đây, giai cấp phong kiến Việt Nam đã hoàntoàn đầu hàng thực dân Pháp, nhà nớc phong kiến Việt Nam với t cách là một nhànớc độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp đổ Nớc Việt Nam đã trọn vẹn trở thànhthuộc địa của t bản Pháp Nh vậy là sau khi thực dân Pháp nổ súng chính thức xâmlợc nớc ta thì phải mất 26 năm sau, với điều ớc Patơnot phản động thì chúng mớihoàn toàn thôn tính đợc nớc ta Về lý thuyết, thực dân Pháp có thể đánh chiếm đợcmột cách dễ dàng nhng trên thực tế, để thôn tính đợc từng vùng đất lại là một điềurất khó khăn với chúng Việc chiếm Nghệ An là một ví dụ nh vậy
Hơn một năm sau ngày ký điều ớc Patơnot thì "Ngày 20/7/1885, khi Thợng
biện Tỉnh vụ Nghệ An là Vũ Trọng Bình hèn nhát dâng thành Nghệ An cho Đại táSôMông cùng 188 sỹ quan và binh lính Pháp Toàn bộ đại bác trên thành Nghệ Ancũng nh vùng Dũng Quyết không một lần phát hoả Toà thành kiên cố tợng trngcho vơng quyền của dòng họ Nguyễn ở lu vực sông Lam hoàn toàn mất hết chứcnăng là một pháo đài quân sự Sỹ quan Pháp và lực lợng viễn chinh Pháp đổ bộ từ
đất cảng Cửa Hội lên, vào thành Nghệ An nh đi vào chỗ không ngời" [20, 59].Với mục đích của cuộc chiến tranh thực dân là tìm kiếm thị trờng và khai thác
thuộc địa Thực dân Pháp nhìn thấy "Nghệ An là vùng đất giàu tài nguyên, đông dân công, giao thông thuỷ bộ đều thuận lợi, lại giáp Lào " cho nên sau khi xâm
chiếm đợc các vùng đất trọng yếu ở Việt Nam thì chúng đã tiến hành thôn tính luôn
mảnh đất này nhằm "tập trung khai thác với tốc độ nhanh", để đạt đợc mục tiêu biến "Vinh - Bến Thuỷ trở thành một trung tâm quan trọng trong công cuộc khai
thác của Thực dân Pháp" [59, 25]
Thực dân Pháp chiếm đợc thành Nghệ An thì dễ dàng nhng chiếm gọn đựơc cảvùng Nghệ Tĩnh thì lại nằm ngoài dự kiến của chúng và cả triều đình phong kiến
Trang 32tay sai nhà Nguyễn Bởi vì, ngay từ khi Thực dân Pháp đặt chân lên thành Nghệ Anthì tiếng súng chống Pháp dới danh nghĩa Cần Vơng đã vang dội khắp Nghệ Tĩnhdới sự chỉ huy của Phan Đình Phùng và Cao Thắng Phong trào Cần Vơng diễn raquyết liệt suốt 10 năm trời (1885-1896) đã làm cho chính quyền thuộc địa phải lao
đao, tổ chức hàng trăm cuộc càn quét lớn nhỏ, vất vả lắm mới dập tắt đợc Trongsuốt thời gian đó, Vinh trở thành trung tâm chỉ huy của Pháp và triều đình phongkiến tay sai để đối phó với sự phát triển của phong trào Cần Vơng ở Nghệ An và HàTĩnh Ngợc lại, trong suốt quá trình thực dân Pháp thôn tính nớc ta, tại đây, nhândân Nghệ An và Hà Tĩnh dới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng và Cao Thắng đãtiến hành các phong trào kháng Pháp rất quyết liệt Cao Thắng mu đồ tập kíchthành Nghệ An nhng thất bại Cao Thắng mất, trong khi nghĩa quân phải liên tục
đối phó với các cuộc càn quét của thực dân và phong kiến tay sai, lực lợng khángchiến do Phan Đình Phùng lãnh đạo đứng trớc muôn vàn khó khăn thử thách đã tanrã hoàn toàn vào năm 1896
Việc Pháp chiếm đợc thành Nghệ An ngày 20/7/1885 đã chính thức kết thúc ởthập kỷ trực tiếp thống trị của nhà Nguyễn ở lu vực sông Lam Theo Hiệp ớcHácMăng và Hiệp ớc Patơnot (1884-1885), vùng đất từ Bình Thuận đến Thanh Hoá
là đất của Nam Triều phong kiến Nhng đó chỉ là lý thuyết, còn trên thực tế, Khâm
sứ Trung kỳ, Công sứ các tỉnh thâu tóm mọi quyền lực cả về kinh tế chính trị quân sự và văn hoá ở Trung Kỳ Trong bối cảnh lịch sử đó, toàn quyền Đông Dơng
-và các khâm sứ Trung kỳ tiếp nối từ 1885 - 1896, đã kiên quyết dùng mọi thủ đoạn,biện pháp để dập tắt đợc phong trào kháng Pháp quyết liệt dới danh nghĩa Cần V-
ơng từ Bình Thuận đến đồng bằng Bắc Bộ Mà điều đáng buồn là vơng triềuNguyễn đã bỏ rơi con dân mình cha đủ, lại còn đứng về phía Pháp, trở thành công
cụ tay sai đắc lực cùng Pháp đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta, làm chophong trào kháng Pháp ở Nghệ An - Hà Tĩnh đi đến thất bại hoàn toàn vào năm1896
Nh vậy là cùng với việc Thợng biện vụ Nghệ An là Vũ Trọng Bình nộp thànhcho Pháp, các quan lại nhà Nguyễn ở Nghệ An cũng đứng về phía Pháp chống lạinhân dân trong cuộc đấu tranh giữ đất giữ làng cuối thế kỷ XIX ở Nghệ An, HàTĩnh cũng nh cả dân tộc Việt Nam đã hình thành hai lực lợng xã hội đối lập hoàntoàn với nhau, một bên là lực lợng viễn chinh Pháp và quan lại phong kiến tay sai
đại diện cho thế lực xâm lợc và bán nớc, một bên là lực lợng nông dân làng xã
đông đảo cùng các văn thân sỹ phu yêu nớc kiên quyết chống Pháp
Trong cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai lực lợng xã hội ấy đã diễn ra một thực
tế mà chúng ta phải thừa nhận, đó là sự tạm thời chịu khuất phục của cộng đồng cdân xứ Nghệ chống Pháp, và chúng ta buộc phải nhìn nhận một sự thật đau lòng, đó
là Việt Nam đã hoàn toàn thất bại trớc sự xâm lợc của Thực dân Pháp và đã trở
Trang 33thành một nớc thuộc địa nửa phong kiến, nằm trong sự cai quản của nớc Pháp Lịch
sử Việt Nam bớc sang giai đoạn cận đại bằng cuộc chiến tranh xâm lợc của Pháp,
và triều đình phong kiến Nguyễn đã tự chấm dứt vai trò của mình trong giai đoạnlịch sử tiếp theo
2.2 Phụ nữ Nghệ An cùng cộng đồng c dân xứ Nghệ
chống Pháp
Từ khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, trớc thái độ chần chừ, do dự của Triều
đình Huế, tiếng súng kháng chiến chống Pháp của văn thân sĩ phu yêu nớc cùngnhân dân cả nớc không lúc nào ngừng Đứng trớc tình hình đó, Phụ nữ Nghệ Ancùng nhân dân Nghệ An với truyền thống yêu nớc, quật khởi đã liên tục đứng lênkhởi nghĩa với khẩu hiệu "Bình Tây Sát Tả" và lời hịch cứu nớc có giá trị t tởng lớn:
Dập dìu trống đánh cờ xiêu
Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây
Cùng với nam giới, chị em Phụ nữ tỉnh Nghệ An đã tích cực tham gia nhiềucuộc khởi nghĩa lớn nh khởi nghĩa Giáp Tuất (1874), khởi nghĩa Lê Ninh, khởinghĩa Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhạ mà đặc biệt là khởi nghĩa Phan ĐìnhPhùng, Cao Thắng, cuộc khởi nghĩa này đợc coi nh là một ngọn cờ tiêu biểu chophong trào Cần Vơng của cả nớc, chứng tỏ ý chí kiên cờng, bất khuất của nhân dân
ta Thực dân Pháp đô hộ, triều đình phong kiến cai trị, nhân dân ta rơi vào tình thế
"một cổ hai tròng" Sự cớp đoạt, hà hiếp tàn bạo của đế quốc và bọn phong kiến taysai đã gây ra nỗi tủi nhục, oán hờn sâu sắc trong nhân dân, đặc biệt là đối với ng ờiphụ nữ, vốn đã khổ, nay lại cực khổ hơn trăm đờng Biết bao gia đình với ngời già,trẻ, gái, trai đều mang nặng thù nhà, nợ nớc, chất chứa trong tim nỗi oán ghét và
đều ra tay tham gia vào công cuộc đánh đuổi giặc, mong muốn xây dựng một quốcgia độc lập
Chính vì vậy mà từ khi thực dân Pháp chính thức bắt đầu tiến hành xâm lợc
n-ớc ta cho đến khi chúng hoàn thành công cuộc thôn tính toàn bộ dân tộc Viêt Namphải mất gần 30 năm sau Đến cuối thế kỷ XIX, bọn chúng mới bắt đầu tiến hànhcác ch ơng trình khai thác về kinh tế đợc
2.2.1 Phụ nữ Nghệ An Trong phong trào Cần Vơng (1885 - 1896).
Đối với thực dân Pháp, việc ký hiệp ớc Patơnôt ngày 6/6/1884 đã chấm dứtgiai đoạn xâm lợc ngót 30 năm Nhng cuộc kháng chiến của nhân dân ta vẫn còn
âm ỉ trong hoàn cảnh mới Hơn nữa, thực dân Pháp mới chỉ xác lập đợc quyền lực ởTrung ơng, còn phần lớn ở các địa phơng nh Bắc Kỳ và Trung Kỳ chúng cha thểnắm đợc Vì thế, thực dân Pháp còn phải trải qua giai đoạn bình định, đàn áp cácphong trào vũ trang yêu nớc của nhân dân ta
Ngày 13/7/1885, Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vơng lần thứ nhất, nêu lại sựkiện "sự biến kinh thành", hô hào dân chúng phò Vua cứu nớc Đến ngày19/9/1885, khi Pháp vội vã đa Đồng Khánh lên làm Vua bù nhìn ở Huế, Hàm Nghi
Trang 34xuống chiếu lần thứ 2, bóc trần âm mu của Pháp, cảnh cáo thế lực đầu hàng của
Đồng Khánh và nêu cao tính chính thống, chính nghĩa của mình
Nh vậy là, trớc sự xâm nhập của Thực dân Pháp thì triều đình nhà Nguyễncùng một bộ phận sỹ phu, quan lại yêu nớc đã cùng phò tá Vua Hàm Nghi, xuốngchiếu Cần Vơng, kêu gọi quốc dân đứng dậy đấu tranh đánh đuổi giặc Pháp, củng
cố vơng triều phong kiến nhà Nguyễn
Phải nói rằng, cha bao giờ cả nớc ra lại có nhiều cuộc khởi nghĩa nh thế dớingọn cờ Cần Vơng Cùng với phong trào chung của cả nớc, Nghệ An - mảnh đấtnóng bỏng luôn sục sôi và với truyền thống yêu nớc, ngay từ đầu, các văn thân, sỹphu đã đứng lên chủ động góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ tổquốc Một số sỹ phu yêu nớc đã dâng biểu xin triều đình kiên quyết đánh giặc.Năm 1862, Tự Đức ký hàng ớc Nhâm Tuất cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ cho thựcdân Pháp Việc nhà Nguyễn đầu hàng đã gây nên sự phẫn nộ và những phản ứngmạnh mẽ của nhân dân cả nớc Nhiều phong trào đấu tranh ở Nghệ An nổ ra liêntiếp
Tiêu biểu có cuộc khởi nghĩa của ông Hoàng Phan Thái, tức Hoàng Đại Hữu,quê ở Nghi Lộc, Nghệ An với lời hịch:
"Nghịch tặc bất dung thiên địaPhàm nhân giai đắc nh tru chiNgô dân sở trọng giả cơng thờngKiến nghĩa bất vi vô dũng dã"
Nghĩa là: "Quân thù nghịch trời đất không dung
Ngời ngời thảy đều muốn giết chúngDân ta vốn trọng cơng thờng
Thấy việc nghĩa không làm là vô dụng" [12,19- 20]
Mục đích của ông là cùng các văn thân yêu nớc "dùng kinh binh vợt bể vào
Nghệ Tĩnh để tiệt diệt viện binh của Huế Ông vừa phát hịch tổ chức nghĩa quân,
không may bị lộ " [14,107] Ông cùng anh em khởi nghĩa bị bắt và xử tử Phan Bội Châu đánh giá rất cao cuộc khởi nghĩa này, cụ cho rằng: "Nếu cuộc vận động
của Hoàng Đại Hữu thành công thì nhân dân Việt Nam đã không sống dới ách giặcPháp và triều đình phong kiến" [45, 35- 36]
Việc triều đình nhà Nguyễn đi từ nhợng bộ này dến nhợng bộ khác, từ hàng ớcNhâm Tuất (1862) đến hàng ớc Giáp Tuất (1874) là một bớc mới trên con đờng đầuhàng của giai cấp phong kiến Việt Nam Vì vậy, với hiệp ớc Giáp Tuất đã gây nên
sự phản ứng dữ dội trong dân chúng cũng nh các quan chức yêu nớc Phong tràonhân dân đã có thực tiễn để đi tới một nhận thức mới mẻ: chống Pháp phải đi đôivới chống triều đình đầu hàng Đây cũng chính là cơ sở nhận thức cho cuộc khởinghĩa lớn vào bậc nhất trong giai đoạn này, cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất
Trang 35Giáo s Trần Văn Giàu có nhận xét: "Hoà ớc 1862 gây bất bình trong nhân dân
phía Nam bao nhiêu thì hiệp ớc 1874 gây bất bình trong nhân dân phía Bắc bấynhiêu Sỹ phu tự động họp thành phe "văn thân" mạnh nhất là ở Nghệ An, HàTĩnh 300 ngời tập hợp chung quanh Trần Tấn, Đặng Nh Mai và đông đảo nhân dântập hợp quanh các nhà khoa bảng, cùng nhau nổi lên lật đổ chính quyền địa phơngcủa triều đình, giơng cao cờ "Bình Tây diệt Triều" [13, 35]
Tại Tân Sở, Vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần Vơng lần thứ nhất ngày13/8/1883 tố cáo âm mu xảo quyệt của thực dân Pháp, kêu gọi toàn dân đứng dậychống lại bọn thực dân xâm lợc
Hởng ứng chiếu Cần Vơng, các văn thân sỹ phu và nhân dân cả nớc cũng nhnhân dân Nghệ An đã nổi dậy chống Pháp và bọn bù nhìn bán nớc Vì vậy mà việcPháp chiếm thành Nghệ An ngày 20/7/1885 mà sau đó là những hành động củaPháp nhằm thôn tính, bình định toàn bộ vùng Nghệ An và Hà Tĩnh Tuy nhiên, đókhông phải là một điều đơn giản bởi vì khi Pháp vừa đặt chân lên thành Nghệ Anthì tiếng súng chống Pháp xâm lợc dới ánh sáng của chiếu Cần Vơng đã vang dộikhắp Nghệ An - Hà Tĩnh Tại nhiều huyện, xã của tỉnh Nghệ An, dới sự lãnh đạocủa các văn thân sỹ phu, các bậc hào phú yêu nớc đã tổ chức các đội nghĩa binh,quyên góp đợc rất nhiều tiền bạc và lơng thực, sôi nổi luyện tập võ nghệ, chuẩn bị
vũ khí, chờ thời cơ giết giặc Các cuộc khởi nghĩa liên tục nổ ra trên các địa phơng
nh Thanh Chơng, Nghi Lộc, Quỳnh Lu, Nam Đàn, Yên Thành
Phong trào Cần Vơng diễn ra quyết liệt suốt 10 năm trời, từ 1885 đến 1896 đãlàm cho chính quyền thuộc địa phải lao đao, tổ chức tới hàng trăm cuộc càn quétlớn nhỏ hòng dập tắt phong trào yêu nớc của nhân dân ta với khí thế đang sôi sụcdâng cao Trong giai đoạn này, nổi lên có các phong trào nh:
Cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Xuân Ôn và phó bảng Lê Doãn Nhạ lãnh đạo ở
Đồng Thông - Yên Thành đã đợc rất nhiều văn thân sỹ phu trong tỉnh đầu quânhoặc liên kết chiến đấu Cuộc khởi nghĩa này đã làm dấy lên một làn sóng yêu nớcchống Pháp rầm rộ ở Nghệ An lúc bấy giờ Nó đã liên kết và tạo điều kiện cho cuộckhởi nghĩa Phan Đình Phùng, Cao Thắng trở thành một ngọn cờ tiêu biểu chophong trào Cần Vơng chống Pháp trên cả nớc Cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân
Ôn - Lê Doãn Nhạ sở dĩ đã tạo đợc tiếng vang lớn do đợc nhiều tầng lớp nhân dânủng hộ, trong đó có sự góp phần không nhỏ của chị em phụ nữ các huyện thị.Những ngời phụ nữ trở thành một lực lợng không kém phần quan trọng khi đónggóp đợc rất nhiều tiền của, công sức ủng hộ các hoạt động của nghĩa quân
Cuộc khởi nghĩa do Đình nguyên Tiến sỹ Phan Đình Phùng - Cao Thắng lãnh
đạo ở vùng núi ấn, Hơng Khê Khi Vua Hàm Nghi chạy loạn về đây, chị em phụ nữtrong vùng đã đợc huy động để cùng nam giới đào đắp thêm hào và thành, xâydựng thêm căn cứ Sơn phòng Hà Tĩnh để từ đây, Vua có thể chỉ huy cuộc khởi
Trang 36Cuộc khởi nghĩa Hơng Khê do cụ Phan lãnh đạo kéo dài trong 10 năm đợcnhiều tầng lớp nhân dân hởng ứng, đào tạo đợc những lãnh đạo cốt cán cho cácphong trào sau này Cuộc khởi nghĩa đã đợc chị em phụ nữ Nghệ An - Hà Tĩnhtham gia nhiệt tình không chỉ ở hậu phơng mà cả trực tiếp đánh giặc ở trận tiền.Phan Đình Phùng chủ trơng chiến đấu lâu dài cho nên nghĩa quân phải tự túclấy lơng thực và vũ khí "Chị em đợc huy động lên sơn trại, tay cầm giáo, tay cầmcuốc, cầm hái, vừa sản xuất vừa chiến đấu Trên sơn trại Ngàn Trơi, chị em đợcquân sự hoá, tổ chức theo từng binh chủng: đội làm ruộng, đội xay dã, đội vá mayquân trang Ngoài ra, chị em còn tham gia các công tác khác nh rèn đúc vũ khí,canh phòng, liên lạc và vận chuyển vũ khí, quân lơng" [33, 31]
Đại bản doanh của cuộc khởi nghĩa đợc đặt giữa đại ngàn Vũ Quang, thuộcvùng núi nối liền 3 huyện Hơng Khê, Hơng Sơn, Đức Thọ Buổi đầu cuộc khángchiến bùng nổ nh ngọn lửa toả sáng rộng khắp vùng Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên rồivang dội khắp cả nớc khiến giặc Pháp vô cùng hoảng sợ Mà chúng sợ nhất làphong trào Cần Vơng liên kết với phong trào Đề Thám (1886-1915) ở Miền Bắc.Chúng tìm mọi cách đánh nhanh diệt gọn nhng không dễ gì dập tắt ngọn lửa hàohùng mãnh liệt ấy Bằng thủ đoạn khủng bố chém giết, đốt phá, chia cắt, bao vâycác nguồn tiếp tế lơng thực, súng đạn cho chiến khu, chúng còn kêu gọi cụ Phanquy hàng trở về làm quan với chính quyền thống trị
"Âm mu xảo quyệt ấy đợc lộ rõ trong vụ án bà Phan Thị Đại - chị ruột cụPhan Chẳng thế mà sau khi bắt giam bà chúng dự định kết án tử hình vì tội "ámthông với giặc chống lại triều đình", nhng để mua chuộc hàng ngàn nghĩa quân
đang chiến đấu, chúng lại giảm án Sau khi chúng thả về (1895), bà kể lại với concháu: Đang bị giam mà tên tuần phủ Hà Tĩnh cùng vợ mời bà Đại một bữa cơmthịnh soạn, chuyện trò tỏ vẻ thân mật Cơm nớc xong, quan tuần bèn mở tráp - mộthộp gỗ nhỏ sơn đen, lấy ra ba phong th viết sẵn rồi nói rõ:
"Nay nhà nớc có lệnh tạm tha cho bà để nhờ bà đem ba phong th này lên gặp
cụ Đình, giao tận tay rồi cầm th cụ trả lại về giao cho tôi Nếu mọi việc đợc xongxuôi tốt đẹp thì không những bà đợc tha về mà còn đợc nhà nớc trọng thởng" Bànói, lúc đó bà nhận lời, vì nghĩ rằng lên rừng đợc gặp thăm em trai, rồi trở về bịchúng giết cũng thỏa lòng Thế là chúng cho lính cáng bà hớng tới Vũ Quang đểgiao cho cụ Phan 3 lá th chiêu hàng Với mục đích mị dân, đoàn rớc long trọng có
cờ lệnh, có lính hộ vệ tiến đến miền Cửa Rào (ngã 3 Hoà Duyệt, Hơng Khê) Bênkia sông đã có cờ quạt của nghĩa quân ra đón bà Đi ngợc phía Ngàn Trơi thêm một
đoạn đờng, hai chị em gặp nhau, xa cách lâu ngày, sống trong vòng vây của giặc,hai chị em vui mừng khôn xiết! Bà đa 3 phong th cho cụ Phan rồi kể lại lời dặn củaTôn Thất Hân Cụ Phan xem xong th rồi bỏ vào tráp không nói gì Ba ngày sau, cụ
Trang 37Phan hỏi chị gái: "Chị muốn ở lại hay muốn về, tuỳ ý chị, tôi không ra thú đâu "
Bà thong thả nói: "Cậu ra hay không là việc quan trọng, chị không dám bàn.Còn chị là chị của cậu Đình làm việc Cần Vơng cứu nớc, cứu nhà, chị đã hẹn trở vềthì cứ việc về, không muốn sai lời hẹn với bất cứ ai"
Cụ Phan trả lời: "Nay tôi ra mà trả lời ngay cho bọn chúng thì chúng tức giận
sẽ giết chị Vậy tôi tạm viết vài dòng chị cầm về, rồi sau sẽ chính thức phúc đáp lại
để chúng biết ý định của tôi Nh vậy chúng còn hi vọng đợi th của tôi, nên khônggiết chị" [27, 24]
Không hề bị lung lay trớc 3 lá th dụ hàng, cụ Phan vẫn quyết tâm giơng caongọn cờ kháng chiến
Cuộc khởi nghĩa Hơng Khê bị thực dân Pháp và triều đình phong kiến tay sai
tổ chức càn quét và đàn áp liên miên từ những năm 1893 Cho đến năm 1896 thìphong trào kháng Pháp ở Nghệ An và Hà Tĩnh đi đến thất bại hoàn toàn Biết baonhiêu bà mẹ mất con, vợ mất chồng, chị mất em trớc sự đàn áp của thực dân Pháp
và triều đình phản động Nhng cho dù mất mát đau thơng nh thế nào đi nữa thì vớitruỳên thống anh dũng, kiên cờng và tinh thần bất khuất của ngời dân xứ Nghệ thìthực dân Pháp và triều đình phong kiến phản động không thể nào dập tắt và khuấtphục đợc Mà ngợc lại, gian khó đã nuôi dỡng, tôi luyện ý chí đấu tranh, tinh thầnbất khuất của ngời dân xứ Nghệ nói chung cũng nh phụ nữ Nghệ An nói riêng
Sở dĩ cuộc khởi nghĩa Hơng Khê có thể tồn tại trong một thơi gian dài trênmột địa bàn rộng lớn, là do nó nhận đợc sự ủng hộ của nhiều tầng lớp nhân dân,trong đó có sự góp sức của nhiều chị em phụ nữ Từ vợ con của các thủ lĩnh, củacác văn thân sỹ phu, tú tài, cử nhân cùng vợ con, chị em của bao nhiêu nghĩa sỹvùng Trung Kỳ, họ đã hăng hái tham gia khởi nghĩa, hy sinh tất cả tất cả cho cuộcchiến đấu vì quê hơng xứ sở Phải khẳng định rằng, chúng ta không thể nào đo đếmhết công lao của những tầng lớp phụ nữ Nghệ An - Hà Tĩnh trong phong trào CầnVơng chống Pháp cuối thế kỷ XIX Bởi vì có thể thấy rằng trong một phong tràoquy mô về không gian, thời gian và lực lợng nh vậy, để có thể đơng đầu đợc với kẻthù thì nghĩa quân chỉ có thể sống và chiến đấu "đánh bại hàng trăm cuộc càn quétlớn nhỏ của địch nhờ sự che chở, ủng hộ của cả cộng đồng c dân xứ Nghệ mà công
đầu là của phụ nữ Nghệ Tĩnh anh hùng" [18, 22]
Phong trào Cần Vơng do vua Hàm Nghi cùng phe chủ chiến lãnh đạo diễn rarầm rộ, đợc nhân dân khắp nơi hởng ứng, đặc biệt là nhân dân Trung Kỳ với cácthủ lĩnh khởi nghĩa: Lê Ninh, Vơng Thúc Mậu, Nguyễn Xuân Ôn, Trần QuangDiệu, Nguyễn Nguyên Thành, Lang Văn Thiết Trong đó cuộc khởi nghĩa HơngKhê của Phan Đình Phùng và Cao Thắng lãnh đạo là nổi bật hơn cả, là ngọn cờ tiêubiểu cho phong trào Cần Vơng của cả nớc
Các cuộc khởi nghĩa dới danh nghĩa Cần Vơng trong giai đoạn từ năm 1885
Trang 38dến năm 1896 cuối cùng đều bị dập tắt và dìm trong máu lửa vào cuối thế kỷ XIX.Thế nhng đã chứng tỏ ý chí kiên cờng, bất khuất của nhân dân ta cũng nh các thế
hệ phụ nữ tỉnh nhà Có thể điểm qua một vài gơng mặt phụ nữ Nghệ An tiêu biểutrong phong trào Cần Vơng nh sau:
Bà Đinh Thị Nguyệt, thờng gọi là bà Cựu Mén, ngời Thanh Chơng, bà chuyên
lo tiếp tế lơng thực thực phẩm cho nghĩa quân Trần Tấn, đợc phong là "Đổng suấtbinh lơng", phát huy tinh thần yêu nớc căm thù giặc, trong phong trào Cần Vơng,
bà tiếp tục tích cực vận động nhân dân quyên góp tiền bạc, lúa gạo, thực phẩm đểủng hộ phong trào [12, 25]
Bà Nguyễn Thị Lân, thờng gọi là mẹ Lân (ngời Hng Nguyên) Theo Phan BộiChâu, "Truyện Mẹ Lân - Một phụ nữ hào kiệt" in trong "Sùng bái giai nhân" - NXBNghệ Tĩnh 1983 thì Lê Ninh là con rể của Mẹ Lân, Mẹ đã khuyên Lê Ninh - mộtthủ lĩnh của nghĩa quân Hơng Khê cùng con trai là Nguyễn Lân, cho con trai vàcon rể 200 mẫu ruộng cùng 3000 thỏi vàng để giúp lo việc khởi nghĩa "Sau Lân bị
hi sinh, nghe tin mẹ nói: :"Con ta không làm nhục ta, đó là điều an ủi ta vậy" vàPhan Bội Châu bình:
"Thiên kim dung dị tánTrần ai đắc nữ anh hào"
Nghĩa là: "Nghìn vàng thì dễ tiêu tan
Trong đám bụi trần có đợc một nữ hào kiệt" [33, 31]
Theo sách Phan Đình Phùng của Đào Trinh Nhất - Tân Việt - Sài Gòn xuấtbản lần thứ 2 năm 1950, trong phong trào Cần Vơng ở Hơng Khê có một chiến sỹtrinh thám rất xuất sắc, đó là Cô Tám Đến nay vẫn cha xác minh đợc tên tuổi, quêquán của ngời nữ nghĩa binh xuất sắc này Cô làm nghề chèo đò ngang, vừa nắmbắt thông tin vừa khuyên nhủ những anh lính tập bỏ súng về quê Với dáng ngờithon thả, tay đa mái chèo yểu điệu, nhịp nhàng, nhng lúc cần, cô đi những đờngcôn, đờng quyền rất lợi hại Có lúc cô hát:
"Đi đâu lật đật hỡi aiMũi tên hòn đạn cho ngời này theoLênh đênh mặt nớc một chèoNon sông gánh nặng vẫn đeo bên mình"
"Đêm khuya, trời lặng, sông rộng, đồng xa, hình ảnh cô gái trông ẻo lả, tởng gió thổi cũng xiêu, thế mà tiếng hát của cô khiến ai cũng phải ngẫm nghĩ" [Tr32 - 33].Trên đây là tên tuổi của một số gơng mặt của những ngời mẹ, ngời vợ của cácnghĩa binh khởi nghĩa, và biết bao nhiêu ngời con gái của quê hơng xứ Nghệ đãngày đêm thầm lặng góp sức nhỏ bé nhng cực kỳ quan trọng của mình vào côngcuộc đánh đuổi ngoại xâm, chấn hng đất nớc Chắc chắn rằng nếu không có nhữngngời mẹ, ngời vợ đảm đang, ân cần và trung liệt, tiết nghĩa ấy thì làm sao có đợc
Trang 39những ngời con, ngời chồng làm rạng danh cho quê hơng xứ sở nh ngày nay.
Có thể khẳng định: "ý thức chống Pháp, giữ đất, giữa làng trớc thảm hoạ ngoạixâm của cộng đồng dân c xứ Nghệ là nét nổi bật trong đời sống chính trị, xã hội ởNghệ Tĩnh từ khi Pháp đặt chân lên thành Nghệ An (20/7/1885) cho đến khi tiếngsúng Cần Vơng ở núi rừng Vũ Quang chấm dứt (1896)" [Tr66 - 19]
Tuy phong trào Cần Vơng cha thể thành công, nhng trên quê hơng Nghệ Tĩnh,
ảnh hởng của cuộc kháng chiến 10 năm đã góp phần thúc đẩy phong trào Đông Ducủa Phan Bội Châu cùng phong trào Tân Việt đầu thế kỷ XX vang vọng đến tậnnăm 1930 khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời, phất cao ngọn lửa Xô Viết NghệTĩnh
Cuối thế kỷ XIX, phong trào Cần Vơng là một phong trào dân tộc yêu nớcchống chủ nghĩa thực dân xâm lợc kết hợp với chống triều đình phong kiến hàng
đầu đã diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ và rộng khắp Vơng triều nhà Nguyễn đã đứng vềphía thực dân Pháp chống lại nhân dân, đàn áp và dìm phong trào trong biển máu.Phong trào tuy thất bại nhng đã tô thắm thêm truyền thống anh hùng, bất khuất củadân tộc Việt Nam Đặc biệt sự đàn áp dã man của kẻ thù càng làm cho lòng cămthù giặc của ngời dân càng thêm sâu sắc, tinh thần chống Pháp ngày càng dâng caotrong ngời dân xứ Nghệ Vì thế mà bớc sang thế kỷ XX, Nghệ An lại sục sôi vớicác phong trào yêu nớc mới mang tính chất dân chủ t sản
2.2.2 Phụ nữ Nghệ An trong phong trào yêu nớc đầu thế kỷ XX (1897- 1929)
Trong quá trình xâm lợc Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp phảimất 26 năm mới căn bản thôn tính đợc nớc ta Chúng muốn nhanh chóng chiếm đ-
ợc Nghệ Tĩnh để hoàn thành việc xâm lợc Việt Nam và mở đờng sang Lào Năm
1885, sau khi nuốt trọn Việt Nam, t bản Pháp đã gấp rút thiết lập các đờng giaothông nhằm nhanh chóng phục vụ kế hoạch khai thác thuộc địa
Việc thiết kế và xây dựng những chặng đờng cheo leo hiểm trở, nhất là việclàm các cầu cống đòi hỏi phải có nhiều ngời chỉ huy và công nhân kỹ thuật Đạoquân đi mở đờng này chủ yếu là những ngời thợ lành nghề quen việc, phần đông là
từ miền Bắc đi vào Đờng mở đến đâu thì họ đi theo đến đó Họ mang vợ con theocùng Những ngời phụ nữ này hoặc cũng là nữ công nhân kỹ thuật hay lao độnggiản đơn hoặc đi theo, ban đầu sống nhờ vào đồng lơng ít ỏi của chồng
Về sau họ cũng trở thành ngời làm thuê cho chủ t bản Bọn chủ thầu khoán mở
ra những công trờng, mộ thêm nhiều phu, làm nhiều việc nh đào đất, khiêng đá
Có rất đông phụ nữ trong đám phu mộ này Họ phải đi làm theo chế độ công nhật,phải làm vịêc cực nhọc mà tiền công lại rất rẻ mạt, không quá 12 xu một ngày Th -ờng thì họ tự thổi lấy cơm ăn và có lúc ngủ lại giữa đồn điền, rừng núi Khi không
mộ đợc ngời, bọn chủ lấy danh nghĩa là nhà nớc bảo hộ, chia số phu cho các làngxã, buộc bọn hào lý phải lấy đủ Rất đông phụ nữ là vợ phải thay chồng, con gái
Trang 40phải thay cha đi làm phu Bài vè "Phu Cửa Rào" đã nói rõ về tình cảnh của nhữngcon ngời này: "áo mặc la giẻ
Nhà máy Diêm đợc xây dựng từ 1901 Từ năm 1920 - 1926 có lúc số thợ lênkhoảng 1.500 ngời, trong đó hơn 2/3 là phụ nữ Họ phải làm những khâu đòi hỏi kỹthuật nhng hởng lơng chỉ 15 xu 1 ngày
Nhà máy xe lửa Trờng Thi là cơ sở công nghiệp hiện đại nhất ở Vinh lúc này
Số công nhân có lúc lên đến 4.000 ngời, trong đó phụ nữ chiếm một số lợng đáng
kể Thế nhng nhiều nhà máy không có một cơ sở nào bảo hiểm cho lao động nữ cả.Buồng thay quần áo, hố tiểu, cầu tiêu dành cho thợ nữ không có Không những thế,
để đề phòng việc mất mát vật liệu, bọn chủ còn khám xét chị em, lục soát đồ đạccủa họ giữa đông ngời Một lực lợng phụ nữ đáng kể là những ngời làm công trongcác xởng thợ nhỏ và các gia đình t nhân ở đó không có quy định gì về giờ giấccũng nh chế độ tiền lơng Họ là những ngời làm công sống hôm nay nhng khôngbiết có ngày mai
"Tại Cảng Bến Thuỷ, riêng hàng nhập khẩu năm 1924 là 9.751 tấn, năm 1926
là 11.077 tấn Đầu năm 1929, toàn quyền Đông Dơng đã duyệt một khoản tiền lớn:
10 triệu Frăng cho cho việc mở rộng và xây dựng thêm 4 cảng Theo hồ sơ của toàthị chính Vinh thì 1928, cảng Bến Thuỷ có 580 công nhân chuyên việc bốc vác,trong đó có 225 ngời là phụ nữ Họ phải lao động quá sức nhng tiền công rất rẻ, cólúc lại không có việc làm
Một nguồn khai thác quan trọng khác của chủ t bản là mở các đồn điền Riêngtại vùng đất đỏ trồng cây công nghiệp ở Nghĩa Đàn, chỉ có hai chủ t bản Pháp là