1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong trào công nhân châu âu ba mươi năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

74 1,2K 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong trào công nhân châu âu ba mươi năm cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga
Người hướng dẫn Thạc sĩ - GVC: Lê Tiến Giáp
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 443 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những nét lớn của thời đại t bản chủ nghĩa là xã hộingày càng chia thành hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau: Giai cấp tsản và giai cấp vô sản Tuyên ngôn của Đảng cộng sản,

Trang 1

Lời cảm ơn

Đề tài: Phong trào công nhân Châu Âu ba mơi năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đợc thực hiện trong

thời gian ngắn, điều kiện không ít khó khăn Để hoàn

thành công trình nghiên cứu này, từ tháng 10 năm

2001 chúng tôi đã khẩn trơng thu thập tài liệu, xử lý,

chọn lọc để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra.Ngoài

sự cố gắng của bản thân, còn đợc sự tận tình giúp đỡ

của thầy, cô giáo và sự động viên ,khích lệ của bạn

bè.Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành

cảm ơn tới Thạc sĩ- GVC: Lê Tiến Giáp ngời đã trực

tiếp hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.

Tôi cũng xin- chân thành cảm ơn các thầy cô giáo

trong khoa Lịch Sử Trờng Đại Học Vinh đã dạy dỗ và

giúp đỡ tôi trong suốt thời gian từ ngày đầu vào trờng

cho đến hôm nay.

Bộ giáo dục & đào tạo

Trờng đại học vinh

Phong trào công nhân châu âu ba mơi năm

Cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx

Chuyên nghành lịch sử thế giới

Bản tóm tắt

Trang 2

Tác giả:Nguyễn Thị Hồng Nga

V.I.Lê-nin đã lu ý cần phải nghiên cứu sâu sắc các cuộc đấu tranhcủa giai cấp vô sản, các hình thức và phơng pháp của cuộc đấu tranhấy,Ngời nhận định rằng đối với ngời công nhân giác ngộ, không có nhiệm

vụ nào quan trọng hơn là “nhận thức phong trào của giai cấp mình, bảnchất của nó, mục tiêu và nhiệm vụ của nó, điều kiện và hình thức thực tếcủa nó” [6;244]

Lịch sử phong trào cộng sản, công nhân và giải phóng dân tộc quốc

tế là môn khoa học có tính đảng sâu sắc Nó có nhiệm vụ bảo vệ lập trờng,

lí luận và sách lợc của giai cấp vô sản cách mạng chống giai cấp t sản và

hệ t tởng của nó, vũ trang về t tởng cho nhân dân lao động đấu tranh chốngmọi kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản khoa học, chống chủ nghĩa xét lại hữu

và tả

Một trong những nét lớn của thời đại t bản chủ nghĩa là xã hộingày càng chia thành hai giai cấp lớn hoàn toàn đối lập nhau: Giai cấp tsản và giai cấp vô sản (Tuyên ngôn của Đảng cộng sản), qua quá trình

đấu tranh giai cấp, công nhân ngày càng lớn mạnh về chất lợng đi từ tự

2

Trang 3

phát đến tự giác Sự ra đời của chủ nghĩa xã hội khoa học đánh giấu bớcngoặt căn bản trong sự phát triển của lịch sử loài ngời Những ngời thầy vĩ

đại của giai cấp vô sản, C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã lãnh đạo công nhân đấutranh không khoan nhợng chống mọi trào lu t sản, chống các loại hìnhkhuynh hớng xã hội chủ nghĩa phi vô sản, xây dựng nên lí luận của chủnghĩa xã hội khoa học Giới sự lãnh đạo của C.Mác và Ph.Ăng-ghen phongtrào công nhân Châu Âu và quốc tế không ngừng phát triển mạnh mẽ

Trong thời kỳ lịch sử cận đại, cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tbản, vấn đề đấu tranh của phong trào công nhân chống lại giai cấp t sảncũng là vấn đề đợc đặt ra cấp bách và có vai trò quan trọng trong sự pháttriển của thế giới Mặt khác từ những năm 70 của thế kỷ XIX đến nhữngnăm đầu của thế kỷ XX, cùng với sự quá độ sang chủ nghĩa đế quốc thìtrong lòng xã hội t bản chủ nghĩa đã nảy sinh ra nhiều vấn đề: sự gia tăngsản phẩm công nghiệp, thiếu thị trờng tiêu thụ, các cuộc khủng hoảng kinh

tế thế giới Tất cả những vấn đề đó làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp vôsản và giai cấp t sản diễn ra ngày càng gay gắt và cuộc đấu tranh giai cấphết sức quyết liệt Kết quả đầu tiên của cuộc đấu tranh giai cấp ở Châu

Âu–sự ra đời của nớc Nga xô viết

Vì thế nghiên cứu phong trào công nhân Châu Âu trên mọi phơngdiện cho phép chúng ta có thể rút ra đợc những quy luật phổ biến và quyluật đặc thù của phong trào công nhân các nớc thời kỳ lịch sử cận đại.Cũng vì thế mà trong cấu trúc chơng trình trong các trờng Đại học và tr-ờng phổ thông, phong trào cộng sản và công nhân thế giới (trong đó cóphong trào công nhân Châu Âu) chiếm một khối lợng và dung lợng khálớn và đóng một vị trí quan trọng Là sinh viên năm cuối, với nguyện vọngsau này sẽ trở thành một giáo viên dạy sử tôi nghĩ rằng nghiên cứu kỹ

Trang 4

phong trào công nhân Châu Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sẽ tích luỹ

đợc nhiều kiến thức cơ bản của quá trình phát triển lịch sử phong trào côngnhân thế giới Qua đó tôi có thể dạy tốt hơn phần lịch sử phong trào cộngsản và công nhân quốc tế Phần lịch sử phong trào cộng sản và công nhânquốc tế cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX có nhiều vấn đề hết sức phức tạpchúng tôi không có điều kiện để nghiên cứu Bởi vậy, chúng tôi chỉ chọnmột mảng trong vấn đề này đó là: “Phong trào công nhân Châu Âu ba mơinăm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX”để nghiên cứu, với tinh thần gópphần làm sáng tỏ quá trình phát triển của phong trào công nhân thế giới

Đây là một vấn đề có tính chất thực tiễn nhng lại là một vấn đề khó, nhngtin rằng với sự giúp đỡ của các thầy cô và sự nỗ lực của bản thân tôi sẽ cốgắng hoàn thành một cách tốt nhất Trong luận văn này chắc không tránhkhỏi thiếu sót kính mong các thầy cô và các bạn góp ý, bổ sung để hoànthiện hơn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về phong trào cộng sản vàcông nhân Quốc tế nh:

“Ba Quốc Tế”- NXB sự thật Hà Nội, 1968

“Lịch sử phong trào cộng sản và công nhân Quấc tế”–NXB sách giáokhoa Mác-Lê-nin, 1976

“Phong trào cộng sản và công nhân Quốc tế”- NXB sách giáo khoaMác-Lê nin, 1985

“Một số chuyên đề về phong trào cộng sản và công nhân Quốc NXB sách giáo khoa Mác-Lê nin, 1985

“Phong trào công nhân Quốc tế – những vấn đề lịch sử và lí luận”–NXB tiến bộ Mat-xit-cơ-va- NXB sự thật Hà Nội,1976

4

Trang 5

“Quốc tế cộng sản với những vấn đề dân tộc và thuộc địa” –NXB sựthật Hà Nội, 1987.

Hầu hết các tác phẩm đã đề cập đến các vấn đề nh là sự ra đời vàphát triển của giai cấp công nhân; Đấu tranh của giai cấp công nhân trêncon đờng trở thành giai cấp độc lập về chính trị; Đấu tranh ý thức hệ và ýthức xã hội của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trớc khi thành lậpQuốc tế I; Cuộc đấu tranh của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, Lê-nin chống lạicác trào lu t tởng phi vô sản Các tác phẩm đã trình bày các khía cạnh củaphong trào cộng sản và công nhân thế giới Riêng phong trào công nhânChâu Âu chúng tôi cha thấy có một tác phẩm nào nói riêng về nó, bởi vậytrong luận văn này chúng tôi cố gắng phân tích tổng hợp và rút ra những

đặc điểm của phong trào đó

-Quá trình hình thành và hoạt động của các tổ chức

-Những đặc điểm cơ bản của phong trào công nhân Châu Â

4 Phơng pháp nghiên cứu:

Đây là một đề tài khoa học xã hội, vì vậy trên cơ sở các nguồn tàiliệu su tầm đợc, luận văn cố gắng trình bày theo phơng pháp logic kết hợpvới phơng pháp lịch sử, phơng pháp thống kê, phơng pháp so sánh, phơngpháp so sánh tổng hợp và phơng pháp hệ thống

Trang 6

5 Cấu trúc của luận văn.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn bao gồm ba chơng:

- Chơng 1: Đặc điểm tình hình Châu Âu ba mơi năm cuối

thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

1.1 Kinh tế

1.2 Chính trị

- Chơng 2: Phong trào công nhân Châu Âu ba mơi năm

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

2.1 Phong trào công nhân

- Phong trào bãi công

- Phong trào công đoàn

- Sự ra đời của các đảng công nhân và xã hội- dân chủ 2.2.Phong trào công nhân ở một số nớc t bản chủ yếu

- Phong trào công nhân ở Đức

- Phong trào công nhân ở Pháp

- Phong trào công nhân ở Anh

- Phong trào công nhân ở Nga

2.3.Thành lập Quốc tế II và hoạt động của nó

-Chơng 3: Đặc điểm của Phong trào công nhân Châu Âu

ba mơi năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

6

Trang 7

Phần nội dung Chơng 1:

đặc điểm tình hình châu Âu ba mơi năm cuối Thế kỷ Xix đầu Thế kỷ xx.

đã thúc đẩy lực lợng sản xuất t bản chủ nghĩa tăng nhanh với tốc độ chatừng thấy Lò luyện Bétxơme và lò luyện Máctanh ra đời đã cho phép sảnlợng thép tăng từ 250 nghìn tấn năm 1870 lên 28,3 triệu tấn năm 1890.Nhờ đó thép đợc sử dụng rộng rãi trong sản xuất nh chế tạo máy, đờngray, tàu biển, các công trình xây dựng v.v cũng ồ ạt phát triển theo Cácnguồn năng lợng mới cũng đợc khai thác và đa vào sử dụng với quy môlớn Tuốcbin thuỷ điện ra đời cung cấp nguồn năng lợng lớn, rẻ tiền, tạo

địa bàn to lớn cho việc mở rộng và tăng hiệu quả sản xuất.Việc tìm ra nănglợng điện là một cuộc cách mạng khổng lồ Nếu nh máy hơi nớc giúp conngời chuyển hoá nhiệt thành chuyển hoá động cơ học thì việc sử dụng điện

sẽ mở ra cho con ngời con đờng đi tới chỗ chuyển hoá tất cả các dạngnăng lợng thành nhiệt.“Phát minh ra máy phát điện đã giải phóng hoàntoàn công nghiệp khỏi hầu hết các giới hạn do địa phơng gây ra”[23;33],tạo nên khả năng sử dụng ngay cả ở những nơi xa nguồn thuỷ năng Nhiềunghành sản xuất mới xuất hiện nh điện hoá học, điện luyện kim, hàn điện,

Trang 8

xe điện v.v đã thúc đẩy mạnh mẽ nền sản xuất tạo nên nhiều sự tiến bộquan trọng, giải quyết đợc nhiều vấn đề kỹ thuật phức tạp Động cơ nổ đợc

sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật vận tải quân sự, cơ giới hoá nông nghiệpv.v Khả năng của nó chỉ có thể phát huy trên cơ sở giải quyết đợc vấn đềnhiên liệu lỏng Dầu hoả đợc khai thác mạnh tăng từ 0,8 triệu tấn năm

1870 lên 20 triệu tấn năm 1890 Công nghiệp hoá học mới ra đời pháttriển rất nhanh, phục vụ cho nghành nhuộm, phân bón và thuốc nổ

Cùng với công nghiệp, nghành giao thông vận tải tiến bộ nhanhchóng: trong 40 năm, chiều dài đờng sắt toàn thế giới tăng lên 4 lần.Trên

đờng biển, tàu biển sử dụng tuyếc bin, chạy bằng sức nớc hay động cơ nổthay thế cho thuyền buồm Các phơng tiện liên lạc nh điện báo, điện thoạingày càng đợc hoàn thiện Phát minh đặc biệt quan trọng là sự sáng chếradiô và phát triển thành nghành liên lạc vô tuyến điện

Nhìn chung, tác động của cuộc cách mạng công nghiệp trong giai

đoạn lịch sử này là hết sức rộng lớn.Tuy nhiên, vì mục đích chủ yếu làphục vụ cho sự cạnh tranh gay gắt giữa các nhà t bản và giữa các nớc t bảnnên cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra một cách lộn xộn và ít đợc phổbiến rộng rãi

Trong thời kỳ này ở Phơng Đông, công nghiệp cũng bắt đầu pháttriển Đặc biệt là ở một số nớc nh Nga, Nhật thì công nghiệp đã phát triểnmạnh Sau cuộc cải cách 1861, chủ nghĩa t bản ở Nga phát triển nhanh,nhiều xí nghiệp lớn, tập trung nhiều công nhân và có trang bị kỹ thuật tiến

Trang 9

nhân càng tăng Giai cấp công nhân ngày càng trở nên nghèo đói và bầncùng hoá bởi vì quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa t bản lũng đoạn làdùng đủ mọi biện pháp để bóc lột và ngày càng tăng cờng bóc lột giai cấpcông nhân Điều đó đã làm cho mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp

t sản thêm sâu sắc Chủ nghĩa t bản càng ra sức đàn áp thì phong trào đấutranh của giai cấp công nhân càng nổ ra mạnh mẽ, quyết liệt, đặc biệt làsau khi chủ nghĩa Mác thấm sâu vào giai cấp công nhân Sự thắng thế củachủ nghĩa Mác đã có ảnh hởng hết sức lớn lao tới sự phát triển của phongtrào công nhân

Sự phát triển nhanh chóng của sản xuất công nghiệp đã làm thay

đổi vai trò và tỷ trọng sản phẩm của mỗi nớc trong nền kinh tế thế giới.Tính chất phát triển không đồng đều bộc lộ rõ rệt: Nhịp độ công nghiệpnặng tiến triển rất nhanh so với công nghiệp nhẹ, nông nghiệp lại càng lạchậu hơn so với công nghiệp, hiện tợng này theo Lê-nin: “ Đó là một hiện t-ợng cố hữu của tất cả các nớc t bản chủ nghĩa, hiện tợng này là một trongnhững nguyên nhân sâu xa nhất khiến cho tỷ lệ giữa các nghành kinh tếquốc dân khác nhau bị phá vỡ, gây ra khủng hoảng và làm cho đời sống

đắt đỏ thêm”[8;279] Nhịp độ phát triển công nghiệp giữa các nớc t bảnchênh lệch rất rõ: Trong thời kỳ 1871-1900, sản xuất gang ở Anh tăng mộtphần ba trong khi Đức tăng 5 lần rỡi và Mỹ tăng 8 lần nhng cùng lúc đó Mỹ và

Đức còn thua kém Anh về mặt đóng tàu, dệt vải v.v Do đó, vị trí của mỗi nớctrong nền sản xuất thay đổi Anh mất dần địa vị độc quyền về công nghiệp.Những đế quốc “trẻ” nh Mỹ và Đức vơn lên hàng thứ nhất và thứ hai Tốc độphát triển cộng nghiệp Nga cũng tăng nhanh nhng sản lợng còn ít và cha toàndiện

Tình trạng phát triển không cân đối giữa các nghành sản xuất, giữakhả năng cung cấp và tiêu thụ (sức mua quá ít vì quần chúng bị bóc lột

Trang 10

nặng nề), hiện tợng sản xuất vô chính phủ càng đào sâu mâu thuẫn cơ bảncủa kinh tế t bản chủ nghĩa, dẫn tới những cuộc khủng hoảng liên tiếp.Trong hơn hai mơi năm cuối thế kỷ XIX đã xẩy ra bốn cuộc khủng hoảngkinh tế lớn vào những năm 1873-1879, 1882-1886, 1890 và 1900-1903.

Mỗi lần khủng hoảng các xí nghiệp nhỏ bị phá sản, các xí nghiệplớn tăng cờng ảnh hởng, đẩy nhanh quá trình tập trung, dẫn tới lũng đoạn.Cuộc khủng hoảng năm 1900-1903 có tác động mạnh mẽ đến việc xác lậpquyền thống trị của các tổ chức lũng đoạn ở các nớc t bản chủ nghĩa.TheoLê-nin “Cuộc khủng hoảng đó đã đóng một vai trò bớc ngoặt trong lịch sửnhững tổ chức độc quyền hiện đại Sau năm 1900 tích tụ t bản và tập trungsản xuất đã phát triển khổng lồ” [8;279] ở nhiều nớc bọn trùm tài chính ítchú ý kinh doanh công nghiệp trong nớc mà thờng xuất khẩu đâù t sang n-

ớc khác để thu đợc những món lời lớn hơn gấp bội Anh là nớc vơn lênhàng đầu trong xuất khẩu t bản Năm 1900-1905, số xuất khẩu t bản củaAnh trung bình là 64 triệu Paoxtéc- linh/năm Nh vậy số t bản Anh đầu tvào nền kinh tế lúc đó khoảng 72 triệu Paoxtéc- linh, lúc đó gần một phầnhai số tiền lẽ ra để mở rộng và hiện đại hoá nền sản xuất của nớc Anh, thìchính phủ Anh lại xuất khẩu ra nớc ngoài Trong lĩnh vực xuất khẩu t bản,Pháp cũng không chịu thua Anh, Lê-nin đã gọi t bản Pháp là “T bản chovay” Việc xuất khẩu t bản nó tạo nên tầng lớp cho vay nặng lãi hoàn toàntách rời sản xuất, chuyên sống bằng thực lợi Điều đó làm tăng tính chất ănbám trên sức lao động của nhân dân trong và ngoài nớc Ngay ở những n-

ớc t bản chậm phát triển, khuynh hớng xuất khẩu t bản cũng lôi cuốn mộtphần đáng kể vốn liếng ra bên ngoài Chẳng hạn áo-Hung dùng nhiều thủ

đoạn đầu t vào Ban Căng

10

Trang 11

Nh vậy, nét nổi bật của tình hình kinh tế t bản chủ nghĩa từ sau thấtbại của công xã Pa-ri đến những năm đầu thế kỷ XX là sự phát triển không

đều giữa các nghành sản xuất, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa cácnớc, các khu vực Bên cạnh đó là việc tích tụ, tập trung sản xuất và t bản đãthật sự đạt tới “quy mô khổng lồ” và đa đến chỗ hình thành các liên hiệp tbản độc quyền hết sức lớn nh Các- ten, Xanh-đi-ca, Tơ-rớt, Công-xoóc-xi-

om Sự dung hợp giữa các liên hiệp xí nghiệp công nghiệp với các ngânhàng, hình thành nên t bản tài chính Hiện thân của t bản tài chính là bọntrùm tài chính- một tập đoàn những tên đầu sỏ công nghiệp và ngân hàng.Chúng nắm các giá trị vật chất có quy mô to lớn cha từng thấy và nắm cảnhững đòn bẩy kinh tế Chúng trở thành những kẻ thực sự thống trị ở các n-

ớc t bản Bọn t bản tài chính này đã quyết định toàn bộ chính sách đối nội và

đối ngoại của từng nớc đế quốc

đoạn xuất hiện rất nhiều và nhanh Điều đặc biệt quan trọng của thời kỳlũng đoạn là sự xuất khẩu t bản Bọn trùm tài chính ở các nớc chuyển vốn

ra kinh doanh ở bên ngoài dới hình thức xây dựng xí nghiệp khai thác vàchế tạo, đặt đờng sắt và các phơng tiện giao thông vận tải hoặc là đem chovay Làm nh vậy, thu đợc nhiều lãi hơn vì ở các thuộc địa hoặc những nơi

Trang 12

kém phát triển, giá nguyên liệu và nhân công còn rẻ.Các nớc t bản “già”

nh Anh,Pháp thờng thu đợc nhiều lời hơn các nớc t bản “trẻ” vì nó cónhiều thuộc địa hơn Điều đó làm cho sự cạnh tranh ngày càng gay gắt Nókhông còn là cuộc tranh chấp giữa các công ty t nhân mà là giữa các tập

đoàn lũng đoạn lớn của Nhà nớc Để tạm thời hoà hoãn mâu thuẫn, cácliên minh độc quyền phải thơng lợng với nhau để lập nên Các-ten quốc tếvới mục đích phân chia thị trờng đầu t

Những biện pháp trên không thủ tiêu đợc cạnh tranh và khủnghoảng Trái lại, sự thống trị của các tổ chức lũng đoạn càng thúc đẩy việcxâm chiếm thuộc địa Tới giai đoạn này, chiếm thuộc địa có nghĩa là độcchiếm nguồn cung cấp nguyên liệu và nhân công rẻ, độc chiếm thị trờng

đầu t và tiêu thụ hàng hoá, xây dựng một cơ sở chắc chắn cho mình trongcuộc tranh chấp với đối thủ khác Đó là cha kể tới ý nghĩa chiếm lợc vềmặt quân sự và nguồn cung cấp bia đỡ đạn trong những cuộc chiến tranh

ăn cớp Các nớc đế quốc vẫn ráo riết đi tìm thuộc địa và những vùng đấtcòn “bỏ trống” Các đế quốc “già” không chỉ muốn duy trì thuộc địa cũ

mà còn muốn mở rộng thêm đất đai Các đế quốc “trẻ” thì đòi hỏi “mộtchỗ đứng dới ánh mặt trời”, không chỉ muốn chiếm vùng đất còn “trống”

mà còn lăm le giành giật thuộc địa của kẻ khác.Vấn đề thị trờng và vấn đềthuộc địa mới đã trở thành trung tâm đời sống chính trị của các nớc t bảnchủ nghĩa

Tình hình chính trị nội bộ ngày càng gay gắt đã đẩy giai cấp t sản đi

đến xâm chiếm lãnh thổ, đặc biệt nó tìm lối thoát ra khỏi hoàn cảnh ấybằng cách mở rộng lãnh địa của mình và chuyển “dân thừa”đến đó Sựxuất khẩu t bản chiếm một địa vị đặc biệt

12

Trang 13

Thời kỳ cuối thế kỷ XIX đã đợc đánh giấu bởi những cuộc xâmchiếm thuộc địa đặc biệt mạnh mẽ Về thực chất, những năm 80-90 củathế kỷ XIX, việc xây dựng hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đãkết thúc V.I.Lê-nin viết “sự phân chia trái đất đã xong xuôi, không phảitheo nghĩa không thể phân chia lại, trái lại, có thể và nhất định phân chialại, mà theo nghĩa chính sách thuộc địa của các nớc t bản chủ nghĩa đã kếtthúc việc xâm chiếm các đất đai còn để không trên hành tinh chúng ta ”[8;374].

Sự bành trớng thuộc địa của thế kỷ XIX, nghĩa là sự phân chia cáclãnh thổ tự do còn lại, đã diễn ra theo vài chiều hớng: Tiếp tục xâm nhậpvào Trung Quốc, Đông Nam á, Trung Cận Đông, Châu Phi Việc tiến vàoChâu Phi đã diễn ra đặc biệt nhanh chóng: Đến những năm đầu của thế kỷ

XX, diện tích đất đai xâm chiếm thuộc địa của các cờng quốc đối vớiChâu Phi tăng lên 79,6 % (từ 10,8 lên 90,4%), ở Châu á không lớn lắmchỉ 5,1%(từ 51,5 lên 56,6%), riêng Châu Đại Dơng lúc đó đã hoàn toànthuộc về Anh Kết quả của sự giành giật các thuộc địa giữa các nớc t bảnvới nhau đã dẫn đến sự hình thành những đế quốc lớn, mà Anh và Pháp làhai tên đế quốc lớn nhất Trớc khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhấtbùng nổ, Anh đã chiếm đợc những thuộc địa với dân số là 393,5 triệu ng-ời; Pháp với dân số 55,5 triệu ngời Nớc Đức sinh sau đẻ muộn, bắt đầuthực hiện chính sách xâm lợc thuộc địa vào lúc những lãnh thổ chủ yếutrên thế giới đã bị các cờng quốc t bản phân chia xong, nên nó đã tập trungsức mạnh tiến công vào vùng Trung Cận Đông Năm 1914, dân số cácthuộc địa của Đức cũng lên đến 12,3 triệu ngời Mỹ là nớc t bản trẻ tuổihung hăng, đã chìa bàn tay đến những nơi giàu có trên khắp địa cầu Năm

1898, Mỹ là kẻ đã gây ra cuộc chiếm tranh Mỹ, Tây Ban Nha, dẫn đến

Trang 14

việc Mỹ chiếm đoạt Cu-ba và Phi-líp-pin của Tây Ban Nha Nh vậy, tính

đến năm 1914, chỉ riêng 4 cờng quốc gồm Anh, Pháp, Nga, Đức đã làmcho 423,4 triệu ngời bị kìm kẹp dới ách chủ nghĩa thực dân, 45,3 triệu ng-

ời khác bị đặt dới nền thống trị của Bỉ và Hà Lan, đó là cha kể 361,2 triệungời ở Ba t, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc lại phải sống trong chế độ phụthuộc, nửa phụ thuộc Chính sự bành trớng của các nớc t bản chủ nghĩa đãlàm cho nền kinh tế t bản chủ nghĩa thế giới đang đợc hình thành một cáchtriệt để Đó là hệ thống thế giới áp bức bóc lột và nô dịch do bọn tài chính

và bọn đầu sọ tài chính của một số các nớc đế quốc chủ nghĩa tiến hànhvới đa số dân c trên trái đất Quá trình liên kết kinh tế của các dân tộc, quátrình xoá bỏ tình trạng bế quan toả cảng quốc gia do sự phát triển rộng rãi

đờng sắt, đờng biên, do sự xuất hiện phân công lao động quốc tế mới vàonhững năm cuối thế kỷ XIX xu hớng thế giới là quốc tế hoá về kinh tế, th-

ơng mại Những miền đất bí ẩn trớc kia cho đến giai đoạn này hầu nh đợc

in giấu vết của chủ nghĩa t bản Với chính sách thực dân của các nớc đếquốc, một mặt làm cho nền kinh tế của các nớc thuộc địa phát triển mộtchiều, hầu hết trở thành những vùng nông nghiệp khai thác nguyên liệuhoàn toàn phụ thuộc vào chính quốc, mặt khác cũng làm cho tâm lý chống

đế quốc thêm phát triển, thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc càng ngàylên cao

Phong trào giải phóng dân tộc trong thời kỳ này có một ý nghĩa lịch

sử quan trọng Đông đảo nhân dân, thợ thủ công, các tầng lớp tiểu t sảntiến bộ luôn luôn là động lực chính trong cuộc đấu tranh giải phóng dântộc Cuộc đấu tranh của họ chống chế độ thuộc địa và nửa phụ thuộc xoắnxuýt với cuộc đấu tranh chống phong kiến chống bọn phản động trong n-

ớc Đặc biệt khi ở các nớc thuộc địa xuất hiện một giai cấp lao động và bị

14

Trang 15

bóc lột mới là giai cấp vô sản thì việc giai cấp này tham gia phong tràogiải phóng dân tộc làm cho cuộc đấu tranh đó có tính chất cách mạng hơn,kiên quyết hơn.

Khi chủ nghĩa t bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc và hệ thốngthuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đã hình thành thì tính chất của phong tràogiải phóng dân tộc cũng thay đổi Lê-nin chỉ rõ: Vấn đề dân tộc đã trởthành vấn đề dân tộc-thuộc địa Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã baotrùm tất cả các lục địa á, Phi, Mỹ la-tinh Mũi nhọn của phong trào giảiphóng dân tộc đã chĩa thẳng vào chủ nghĩa đế quốc Khuynh hớng chống

đế quốc của phong trào giải phóng dân tộc làm cho nó gần gũi, có liên hệkhách quan với cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản ở chính quốc.Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã trở thành một bộ phận hữu cơ khôngtách rời quá trình cách mạng chống đế quốc, chống chủ nghĩa thực dâncủa quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa

Các nhà kinh điển Mác, Ăng-ghen, Lê-nin đã chỉ rõ, cần thống nhất cuộc

đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với cuộc đấu tranh củagiai cấp vô sản ở các nớc đế quốc

Nh vậy với sự xác lập của chủ nghĩa đế quốc đã làm cho nền kinh

tế t bản chủ nghĩa có những bớc tiến rất lớn nhng còn kém xa so với khảnăng mà sự tiến bộ kỹ thuật có thể tạo ra đợc Trong cuộc cạnh tranh kiếmlợi nhuận, vì không thể thờng xuyên trang bị theo kỹ thuật mới bọn t bảnrất lo ngại trớc những phát minh khoa học, huỷ bỏ hoặc cất giấu nhữngsáng kiến mới kìm hãm bớc tiến của sản xuất Sự xuất khẩu t bản đã táchrời một tầng lớp ngời ra khỏi sản xuất, chuyên sống bằng thực lợi rút từ x-

ơng máu của quần chúng lao động Tình trạng trì trệ của tốc độ sản xuất ở

Trang 16

một số nớc t bản lớn nh Anh, Pháp là hậu quả tất nhiên của việc chạy

đua xuất khẩu vốn và bóc lột nhân dân các thuộc địa và nửa thuộc địa

Nền sản xuất trong thời kỳ đế quốc chủ nghiã đợc xã hội hoá ở mức

độ cao Hàng vạn công nhân, kỹ s đợc tập trung làm việc theo một quytrình sản xuất Sự phân công lao động rất tinh vi Các ngân hàng và nhàcông nghiệp tập trung vốn vào các phơng tiện sản xuất trên một quy môlớn Nhng trong khi sự sản xuất đợc xã hội hoá thì quyền sơ hữu t nhân lạitập trung ở mức độ rất cao, làm cho tất cả các mâu thuẫn của chủ nghĩa tbản trở nên cực kỳ gay gắt Từ mâu thuẫn cơ bản của phơng thức sản xuất

t bản chủ nghĩa là mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất mang tính chất xã hộihoá với quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa dựa trên sự chiếm hữu t nhân đãbiểu hiện thành mâu thuẫn xã hội: mâu thuẫn giữa giai cấp t sản và giaicấp vô sản.Về chính trị, giai cấp t sản lúc này đã phản động trên tất cả cácmặt, đó là dặc tính của chủ nghĩa đế quốc Tính chất phản động ấy biểuhiện trớc hết là sự phủ nhận mọi quyền tự do dân chủ, mặc dù đấy cũngchỉ là một thứ tự do dân chủ giả hiệu Chủ nghĩa đế quốc còn tăng cờngbạo lực và đi đến độc tài phát xít Giai cấp t sản tăng cờng chia rẽ giai cấpcông nhân, dùng siêu lợi nhuận để mua chuộc, hủ hoá một bộ phận côngnhân lành nghề, biến họ thành công nhân quý tộc để phá hoại phong tràocông nhân Hơn thế đợc ở khắp mọi nơi, giai cấp t sản tìm cách cấu kếtvới địa chủ làm cho ách áp bức đối với quần chúng lao động càng nặng nềhơn Về phía giai cấp vô sản, giai đoạn này đã lớn mạnh đông đảo về số l-ợng, qua thực tiễn đã từng bớc tiếp thu đợc chủ nghĩa Mác, dẫn đến sựthành lập chính đảng ở nhiều nớc

Những sự thay đổi về kinh tế, chính trị trên thế giới nói chung và xãhội t bản nói riêng đã làm cho giai cấp vô sản bớc sang một phần ba cuối

16

Trang 17

thế kỷ XIX có những biến đổi sâu sắc Trớc hết là số lợng công nhân làmthuê tăng lên trên một phạm vi rộng hơn thờ kỳ trớc Cuối thế kỷ XIX,công nhân Châu Âu đã lên tới gần 30 triệu ngời, nếu tính cả công nhânnông nghiệp và những ngời làm thuê trong các nghành nghề khác thì con

số đó là 80 triệu.Trong các nớc t bản chủ yếu, giai cấp vô sản trở thànhmột bộ phận chính của dân c Sự phát triển của sản xuất, sự phát triển củacác nghành công nghiệp mới đã đa đến sự phát triển nhanh chóng của cácthành thị và dân c Quá trình ấy diễn ra chẳng nhng ở Anh, nơi ngay từ năm

1871 dân c thành thị đã chiếm u thế so với dân c nông thôn ở pháp năm

1871 dân c thành thị chiếm 31%, và năm 1901- đã lên 42%, ở Đức – mộtcách tơng ứng là 36% và 54%

Sự xác lập của chủ nghĩa đế quốc không những làm cho đối khánggiai cấp sâu sắc dẫn tới cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp t sản và vô sản,

mà còn làm cho những mâu thuẫu khác của chủ nghĩa đế quốc cũng chiphối sự tiến triển của thời cuộc: Giữa các nớc đế quốc với nhau, giữa giaicấp t sản và nhân dân thuộc địa Trong tình hình đó giai cấp vô sản sẽ lãnh

đạo cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng những ngời lao động

bị áp bức bóc lột

Trang 19

Chơng 2:

Phong trào công nhân Châu Âu Ba mơi Năm

cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

2.1.Phong trào công nhân

- Phong trào bãi công.

Công xã là con đẻ của giai cấp công nhân Pa-ri, nhng sự nghiệp củacông xã là sự nghiệp đấu tranh cho lợi ích của giai cấp vô sản quốc tế, vì

nó mở ra con đờng để giai cấp vô sản đi tới tơng lai

Mác đã nhận xét: Công xã Pa-ri đợc thành lập thì lập tức công xã đợc sựhoan nghênh và ủng hộ của giai cấp vô sản thế giới Bản thân Mác cũngtích cực hoạt động để ủng hộ công xã

Phong trào quốc tế giúp đỡ, cổ vũ công xã, trớc hết phải kể đến sựhoạt động kịp thời tích cực nhất của Tổng hội đồng Quốc tế; Đặc biệttrong đó nổi lên vai trò của Mác và Ăng-ghen Hai ông là ngời lãnh đạoTổng hội đồng và cũng là những ngời hoạt động ủng hộ công xã một cáchnồng nhiệt nhất, có trách nhiệm nhất Mác và Ăng-ghen đặt ra cho Tổnghội đồng nhiệm vụ huy động mạng lới tổ chức đã hình thành trong sáunăm tồn tại của Quốc tế, để động viên công nhân và d luận tiến bộ của tấtcả các nớc bảo vệ cach mạng Pa-ri, nếu không tránh khỏi thất bại thì cũng

hi sinh ít nhất mà mất ít vị trí nhất

ở nhiều nớc, phong trào công nhân ủng hộ giai cấp vô sản Pháplàm cách mạng không kém phần sôi động và dũng cảm Đi đầu phong trào

đoàn kết với công xã là công nhân Đức, sau đến công nhân áo– Hung,Anh, Thụy Sĩ và ở một số nớc kém phát triển về kinh tế

Công nhân Đức trong những ngày của tuần lễ đẫm máu của công xã

đã lợi dụng diễn đàn nghị viện vạch trần sự giúp đỡ bẩn thỉu của Bi-xmác

Trang 20

cho chính phủ phản động Chi-e Báo nhà nớc nhân dân cơ quan ngôn luậncủa Đảng xã hội-dân chủ, tuy luôn bị phạt và tịch thu, khi nói về công xãPa-ri vẫn dũng cảm trình bày những biện pháp của công nhân Đức bảo vệcác chiến sĩ công xã và vạch trần những luận điệu vu khống của giới báo chíphản động Đức Mặc cho nhà cầm quyền đe doạ giải tán Đại hội thờng kỳcủa đảng, nếu Đại hội nhắc đến tên công xã, nhng Đại hội của Đảng xã hội-dân chủ Đức vẫn bày tỏ thái độ đoàn kết đối với công xã.

ở áo-Hung, ở Anh công nhân đã có rất nhiều hình thức ủng hộ công xã

nh mít tinh, biểu tình tởng nhớ đến các chiến sĩ công xã, đòi nhà cầmquyền nớc họ không đợc giao nộp cho chính phủ Chi-e những chiến sĩ công xã

đang lãnh nạn tại nớc mình Đặc biệt ở Thụy Sĩ, công nhân đã in lời kêu gọi,lập đội vũ trang dự định ủng hộ phong trào cách mạng ở các tỉnh miền nam n-

ớc Pháp Công nhân ở một số nớc đã biết kết hợp đa yêu sách đấu tranh củamình gắn với nội dung đấu tranh bảo vệ sự nghiệp công xã

Một biểu hiện đặc biệt của sự ủng hộ công xã là có nhiều chiến sĩcách mạng các nớc trực tiếp cùng chiến đấu với giai cấp vô sản Pháp trongnhững ngay Pa-ri sôi sục cách mạng: Ba Lan có I-a-rô- xláp Đôm-brốp-xki,Va-lô-ri, Vru-blép-xki Hung-ga-ri có Lê-ô Phrăng-ken; Các nhà dân chủcách mạng Nga có Pi-ốt-rơ La-vrốp, E-li-da-ve, Ta-đơ-mi-tơ-ri-e-va, An-macơ-rơ-vin, Cru-cốp-xcai-a, Mi-kha-in Xa-gin, An-na-pu-tô-vôi-xti-va.v.v

Phong trào quốc tế ủng hộ công xã Pa-ri rất kịp thời và sâu rộng,không phải bằng tinh thần mà cả một phần máu xơng của một số nhà cáchmạng các nớc trực tiếp chiến đấu cùng công xã Trong đó, Tổng hội đồngQuốc tế, do Mác và Ăng-ghen lãnh đạo, là trung tâm của sự đoàn kết vớicông xã

20

Trang 21

Sự thất bại của công xã Pa-ri không làm cho phong trào công nhânlùi bớc, trái lại, chính đợc khi thế của công xã Pa-ri cổ vũ và do hậu qủakinh tế, chính trị, xã hội của chủ nghĩa đế quốc gây ra, nên phong tràocông nhân quốc tế vẫn tiếp tục phát triển.

Biểu hiện đầu tiên của sự phát triển này là trung tâm phong tràocách mạng thế giới chuyển từ Pháp sang Đức Trong nửa đầu của nhữngnăm 70, Đức là nơi có phong trào công nhân tiểu biểu Đảng xã hội- dânchủ Đức ra đời sớm, có số lợng đảng viên đông Công nhân Đức, nh Mácnhận xét lúc đó, về mặt lí luận và tổ chức vợt hẳn công nhân Pháp Côngnhân Đức cũng là ngời tích cực ủng hộ sự nghiệp của công xã Những đặc

điểm u thế ấy đã đa công nhân Đức “lên đứng đầu phong trào công nhânChâu Âu”, đúng nh Ăng-ghen đã nhận xét

“Tuy nhiên, nhìn chung nửa đầu những năm 70, phong trào côngnhân Châu Âu còn ở giai đoạn chuyển tiếp và đang trong qúa trình chọnlựa những hình thức, phơng pháp đấu tranh cho thích hợp với một thời kỳ

mà tính chất căn bản đã thay đổi Nửa sau nhng năm 70, Phong trào côngnhân đã bớc vào giai đoạn mới Vị trí mà giai cấp vô sản đã giành đợc,tiềm lực đấu tranh cách mạng của họ đang trở thành nhân tố quan trọngtrong đời sống xã hội” [14;127]

Nét đặc trng, thể hiện giai đoạn mới trong phong trào công nhân làbãi công kinh tế trở thành một hình thức quan trọng của cuộc đấu tranhgiai cấp Trớc kia, bãi công thờng là sự phản ứng lẻ tẻ của từng bộ phậncông nhân làm thuê khi điều kiện sinh sống và lao động quá tồi tệ và chỉ

nổ ra khi tình thế hết sức gay gắt nhng sang giai đoạn mới, bãi công đợccoi là hình thức đấu tranh thờng xuyên và trở thành phơng pháp đấu tranhquan trọng, không thể thiếu đợc của giai cấp vô sản

Trang 22

Do xác định đợc hình thức đấu tranh thích hợp, nên phong tràocông nhân thời kỳ này có quy mô to lớn và thời gian bãi công kéo dài hơn.Thí dụ, ở Anh, năm 1878, 300.000 công nhân bông vải sợi đã bãi công 10tuần ở Đức và Pháp nhiều cuộc bãi công tơng tự cũng đã diễn ra Đặc biệt

ở Pháp, có cuộc bãi công của 2.000 thợ mỏ kéo dài 5 tháng

Bãi công không những diễn ra ở các nớc công nghiệp phát triển màcòn nổ ra ngay cả những nớc t bản phát triển tơng đối muộn nh ở Nga

Bãi công của công nhân đã làm cho kinh tế t bản thiệt hại nặng nề,vì thế phong trào bãi công thời kỳ này còn có đặc điểm là diễn ra rất gaygắt Bọn chủ t bản đã cùng với chính quyền t sản dùng mọi biện pháp đàn

áp lại công nhân ở Châu Âu các cuộc đấu tranh nổ ra không kém phần ácliệt, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân thợ mỏ vùng Rua, nớc Pháptháng 5 năm 1889 Quân đội của chính quyền t bản đã dùng lỡi lê và súng

đạn đàn áp đẫm máu cuộc bãi công này

Việc giai cấp t sản trong thời kỳ chủ nghĩa đế quốc dùng cảnh sát,quân đội đàn áp công nhân bãi công đã chứng tỏ rằng chế độ t bản chủnghĩa càng phát triển càng trở nên thối nát Cái gọi là “tự do bình đẳng”

mà chủ nghĩa t bản trơng lên giờ đã trở nên lố bịch và không còn lừa bịp

đợc giai cấp công nhân nữa Các cuộc bãi công đã “bắt đầu làm lung laynền thống trị của chủ nghĩa t bản” [1;370]

Hâù hết các cuộc đấu tranh trong giai đoạn này đều lấy yêu sáchngày làm việc 8 giờ làm mục tiêu Nhiều cuộc bãi công đã đạt đợc mụctiêu đó ở Anh, nhà cầm quyền đã phải ban hành luật lao động ngày làmviệc 8 giờ.Thắng lợi của phong trào bãi công đã phát triển rộng lớn đếnmức “pháp luật trong các nớc đó cũng không ngăn cấm bãi công” nữa[1;369]

22

Trang 23

Đối với bản thân giai cấp công nhân, bãi công có một tác dụng tolớn là trờng học chiến đấu vì “bãi công dạy cho công nhân biết đoàn kếtvới nhau; Nó chỉ cho công nhân thấy rằng chỉ có cùng nhau chung sức lại,mới có thể đấu tranh chống bọn t bản đợc” [1;374] Hơn thế nữa, bãi côngcòn “hớng công nhân tới chủ nghĩa xã hội” [2;371]

Nét đặc trng thứ hai thể hiện cao trào đấu tranh mới của giai cấp vôsản trong những năm 70-90 là việc giai cấp công nhân đã sáng tạo mộthình thức đấu tranh mới- đấu tranh nghị trờng, đấu tranh hợp pháp Cơ sở

để định ra phơng pháp đấu tranh nghị trờng, trớc hết là do, “những cơ cấunhà nớc,- trong đó giai cấp t sản tổ chức sự thống trị của mình,- còn mở ranhững khả năng khác cho cuộc đấu tranh giai cấp công nhân chống lạichính ngay những cơ cấu ấy” [12;143] Thứ hai, theo Mác và Ăng-ghen,những điều kiện để có thể bảo đảm cho thắng lợi của những cuộc khởinghĩa nh thời kỳ năm 1848 về trớc đã không còn nữa Thứ ba bằng vần

động bầu cử đa ứng cử viên công nhân vào quốc hội t sản cho phép phongtrào có thể thu hút đợc hàng triệu quần chúng vô sản “hợp thành “độixung kích” có tính chất quyết định, của đạo quân vô sản quốc tế” [12;149].Thứ t, để cho giai cấp vô sản có thêm một “trận địa” đấu tranh mới phốihợp chặt chẽ với cao trào đấu tranh rộng lớn của công nhân Thứ năm,trong hoàn cảnh cụ thể của thời kỳ này việc “dùng những biện pháp hợppháp thì có nhiều kết quả hơn là dùng những thủ đoạn bất hợp pháp và thủ

đoạn lật đổ” [12;150]

Chế độ đầu phiếu phổ thông thực ra đã có từ lâu ở các nớc t bản,nhng do nhiều lẽ nên trớc đây giai cấp công nhân cha lợi dụng để tạo chomình một phơng thức đấu tranh mới Giai cấp công nhân Đức là ngời đầutiên sáng tạo ra hình thức đấu tranh hợp pháp đó.Trong Tuyên ngôn của

Trang 24

Đảng cộng sản, đã tuyên bố rằng một trong những nhiệm vụ đầu tiên, quantrọng nhất của giai cấp vô sản là phải giành cho đợc quyền dân chủ Nắmvững tinh thần của “Tuyên ngôn”, khi Bi-xmác buộc phải ban hành quyền

đầu phiếu phổ thông thì “công nhân Đức đã lập tức coi đó là một việcnghiêm chỉnh và đã bầu Au-gu-stơ Bê-ben vào Quốc hội lập hiến thứ nhất”[12;142] Chính việc làm này của công nhân Đức đã mở ra một hình thức

đấu tranh mới, “trở thành mẫu mực cho công nhân tất cả các nớc noi theo”[12;142] Sau khi phơng pháp đấu tranh đó đợc công nhân Đức phát minh

ra, thì trong hầu hết các nớc có phong trào công nhân “ngời ta bắt đầungày càng hiểu rõ rằng cần phải xét lại sách lợc cũ Đâu đâu ngời ta cũngtheo gơng công nhân Đức trong việc lợi dụng quyền bầu cử, trong việcgiành lấy tất cả những vị trí mà chúng ta có thể giành đợc [12;148]

Cao trào đấu tranh rộng lớn của giai cấp vô sản những năm 70-90của thế kỷ XIX đã có những nội dung, hình thức và phơng pháp đấu tranhmới thích hợp cho một thời kỳ mà nhiệm vụ hàng đầu của phong trào côngnhân là phải tiến hành công tác tổ chức, giáo dục, chuẩn bị lực lợng về mọimặt để tiến đến một thời kỳ mới cao hơn, thời kỳ giành chính quyền Nhờkịp thời chuyển hình thức, phơng pháp đấu tranh thích hợp, nên phong tràocông nhân đã không bị đẩy lùi sau sự thất bại của công xã Pa-ri, mà ngợclại, đã tiếp tục bùng lên theo những nội dung và hình thức mới Phong tràocông nhân thời kỳ sau công xã Pa-ri vừa rộng lớn,vừa có chiều sâu Phongtrào đã sản sinh ra những tổ chức cơ bản của giai cấp công nhân, đó là tổchức công đoàn, tổ chức đảng và tổ chức quốc tế của nó

- Phong trào công đoàn

Ba mơi năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là thời kỳ phát triểnnhanh chóng của phong trào công đoàn Trong đa số các nớc t bản chủ

24

Trang 25

nghĩa, những nghiệp đoàn của công đoàn trớc đây đã ra đời những quy môcòn nhỏ, phân tán, biệt lập giống nh các ốc đảo, nay đã tập hợp lại thànhcác tổ chức liên hiệp toàn quốc có uy tín và có đông đảo hội viên Qua các

tổ chức đó, giai cấp công nhân đã có trong tay một công cụ mà nếu sửdụng nó đúng đắn thì họ sẽ đạt đợc các kết quả quan trọng trong các lĩnhvực kinh tế, chính trị, xã hội V.I.Lê-nin nhấn mạnh “ giai cấp vô sản ởbất cứ nơi nào trên thế giới cũng chỉ phát triển và chỉ có thể phát triển bằngcon đờng công đoàn ” [9;42]

Các công đoàn đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp tục tổ chứcquần chúng vô sản đông đảo, dọn đờng để phát triển thắng lợi các hìnhthức hoạt động khác có tổ chức Ba mơi năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX là thời kỳ có những chuyển biến quan trọng trong phong trào công

đoàn mà biểu hiện trớc hết là ở sự tập trung và mục đích hoạt động ởnhiều nớc, các liên hiệp công đoàn nghành đã ra đời, các tổ chức công

đoàn liên kết lại trong khuôn khổ lãnh thổ

Vào những năm 80–90, ba kiểu nghiệp đoàn cơ bản của giai cấpcông nhân đã hình thành đó là công đoàn kiểu công liên, công đoàn thuộcchính đảng của giai cấp vô sản và công đoàn chịu ảnh hởng của chủ nghĩavô chính phủ Sự xuất hiện ba kiểu nghiệp đoàn đó, nói lên tính phức tạp củaphong trào công đoàn; Mặt khác thể hiện công nhân đã đấu tranh có tổchức, không còn mang tính cách cá nhân hoặc nhóm nhỏ nữa

Điều đáng chú ý là ngay từ đầu, công đoàn kiểu thứ hai tỏ ra chiếm

u thế ở Đức, nơi chịu ảnh hởng t tởng của Mác và Ăng-ghen, công nhân

đã thành lập đợc liên hiệp công đoàn nghành Năm 1874, đại hội công

đoàn toàn Đức đợc triệu tập Đại hội thông qua điều lệ tổ chức công đoàntoàn quốc và bầu ra một Ban chấp hành trung ơng Đến đầu những năm

Trang 26

90, ở Đức đã có 58 công đoàn trung ơng với 30 vạn đoàn viên Mặc dùchiếm một phần nhỏ trong tổng số giai cấp vô sản Đức, nhng đó là một lựclợng đáng kể, có những năng lực khá lớn trong việc tổ chức quần chúng vôsản đấu tranh.

ở áo –Hung, ở Bỉ, Hà Lan, Thụy Sĩ và ở nhiều quốc gia thuộcvùng Xcăng-đi-na-vơ, xu hớng công đoàn ít nhiều có t tởng xã hội chủnghĩa đã xuất hiện và phát triển Tính chất quần chúng của tổ chức công

đoàn thể hiện rộng rãi

Bãi công kinh tế và vận động bầu cử là những hình thức đấu tranhcủa thời kỳ này, nó lôi cuốn hàng triệu quần chúng vô sản tham gia, do đócác tổ chức công đoàn cũng mở rộng thành phần gia nhập của nó Nếu trớc

đây các công đoàn chủ yếu là kết nạp công nhân có tay nghề cao và sốngtập trung, thì vào thời kỳ những năm 80-90 của thế kỷ XIX, công đoàn đãthu nạp cả những ngời có tay nghề thấp, cả thợ thủ công, viên chức nhỏsống phân tán Chẳng hạn, ở Đức có các Liên hiệp công đoàn: công nhânnhà máy, công nhân mỏ, luyện kim; công nhân công trờng thủ công, thợthủ công nghiệp, nh thợ đóng giày, chế biến gỗ, thợ may, thợ đóng sách,thuộc gia v.v

Sự mở rộng thành phần tham gia công đoàn, chứng tỏ bộ phận côngnhân công nghiệp hiện đại đã chừng nào tự ý thức đợc rằng muốn giảiphóng giai cấp công nhân thì đồng thời phải giải phóng cho toàn bộ cácgiai cấp cần lao khác, kể cả nông dân

Quan hệ thống nhất giữa các công đoàn và đảng của giai cấp vô sảncũng bắt đầu xuất hiện

Mở đầu việc thiết lập mối quan hệ đó là giai cấp công nhân Đức.Trớc khi Đảng xã hội-dân chủ Đức ra đời, công đoàn Đức phải hoạt động

26

Trang 27

trong điều kiện bị cảnh sát theo dõi nghiêm ngặt Khi Bi-xmác ban hành

“đạo luật đặc biệt” chống lại không những Đảng xã hội- dân chủ mà cảphong trào công đoàn Đức, làm cho hầu hết các tổ chức công đoàn bị giảitán và bị cấm, thì nhờ có Đảng xã hội-dân chủ đa ra những hình thức đấutranh thích hợp, nên các tổ chức công đoàn mới khôi phục lại dới nhữnghình thức rất sáng tạo

Việc công đoàn Đức quan hệ mật thiết với Đảng xã hội-dân chủcũng đã giúp đảng chống lại những khuynh hớng vô chính phủ Năm

1883, tại Đại hội Cô-lon của đảng xã hội-dân chủ Đức, vấn đề quan hệgiữa đảng và công đoàn đợc đa ra thảo luận Đại hội đã bác bỏ luận điệucủa nhóm theo chủ nghĩa vô chính phủ cho rằng “ Đảng trên thực tế phảiphục tùng Tổng công đoàn”, đáng tiếc là đại hội đã không đa ra đợc nhữngnguyên tắc thực sự cách mạng trong quan hệ giữa đảng và công đoàn

Tiêu biểu cho kiểu nghiệp đoàn thứ ba là phong trào công đoàn ởcác nớc Rô-manh ở đây, phái công đoàn vô chính phủ đóng một vai trò

to lớn (có khi là chủ yếu) Phái này tuyên bố mục đích của mình là lật đổchủ nghĩa t bản và xã hội hoá t liệu sản xuất, nhng đồng thời lại đánh giáquá cao khả năng của các tổ chức công đoàn, coi chúng là hình thức cơbản của giai cấp công nhân và là lực lựơng chính của cuộc cách mạng xãhội chủ nghĩa Phái công đoàn vô chính phủ tuyên bố biện pháp quan trọngnhất để thủ tiêu chế độ bóc lột là tổng bãi công kinh tế và đem nó đối lậpvới mọi hình thức và phơng pháp đấu tranh khác Là những ngời chống lạinhà nớc, phái công đoàn vô chính phủ, phủ nhận bất kỳ hoạt động chính trịnào Tổ chức của xã hội tơng lai đợc họ hình dung nh kiểu liên hiệp cáccông đoàn quản lý toàn bộ sản xuất và trao đổi Các công đoàn tán thành

Trang 28

những nguyên tắc này thờng đợc xây dựng trên cơ sở liên đoàn với quyền

tự trị rộng rãi của các tổ chức địa phơng

Trên đây là những đặc điểm nổi bật mà phong trào công đoàn thời

kỳ này đã đạt tới.Tuy mới bắt đầu, nhng đấy là giấu hiệu báo trớc một xuhớng tất yếu là phong trào công đoàn sẽ tách khỏi ảnh hởng của chủ nghĩacông liên minh và chủ nghĩa vô chính phủ

- Sự ra đời của Đảng công nhân và xã hội dân chủ

Các đảng xã hội chủ nghĩa ra đời là một tất yếu lịch sử của bản thânphong trào công nhân ở các nớc trong những năm 80-90 của thế kỷ XIX

ở Châu Âu, Đảng công nhân ra đời sớm nhất là Đảng xã hội-dânchủ Đức, thành lập năm 1875, do hợp nhất giữa Đảng công nhân xã hội-dân chủ và Tổng công hội Đức Sau hai năm, kể từ lúc thành lập Đảng đã

có uy tín lớn trong công nhân và nhân dân lao động Đức Lần bầu cử quốchội năm 1877, đảng đã có gần nửa triệu cử tri và chiếm đợc 13 ghế trongQuốc hội Cuối năm 1877, Đảng và các công đoàn quan hệ với Đảng cótới 60 tờ báo và tạp chí Theo Ăng-ghen, mặc dù một số ngời lãnh đạo của

Đảng còn phạm sai lầm, nhng với sự ra đời và uy tín ấy, đảng và giai cấpvô sản Đức hoàn toàn xứng đáng với vai trò lãnh đạo tạm thời

Chính quyền Đức rất lo sợ trớc uy tín ngày càng tăng của đảng xãhội-dân chủ Đức Năm 1878, Bi-xmác đã ban hành “đạo luật đặc biệt”nhằm chống lại đảng và các công đoàn có quan hệ với đảng Chính trongthế đối phó với sự tấn công của Bi-xmác mà đảng sáng tạo ra đợc một ph-

ơng thức đấu tranh mới và đã giành đợc nhiều thắng lợi đó là cuộc bầu cửQuốc hội, năm 1890, đảng thu đợc 1,427 triệu phiếu bầu Mời năm sau đó,phiếu bầu cho đảng xã hội-dân chủ đã lên trên 2 triệu

28

Trang 29

Phơng thức hoạt động kết hợp bí mật và công khai là một đóng gópquý báu của đảng xã hội- dân chủ Đức.

Đảng công nhân Pháp thành lập năm 1879 Ngay từ đầu, đảng đã

đứng trên lập trờng xã hội chủ nghĩa Đảng chủ trơng quốc hữu hoá t liệusản xuất và chủ trơng công nhân phải tiến hành đấu tranh chính trị Cuốinăm 1879, đại hôi của đảng đã thông qua cơng lĩnh, căn bản theo tinh thầnmác-xít Nhng ít lâu sau, trong đảng xuất hiện một bộ phận theo chủ nghĩacải lơng và đảng đã bị phân hoá Những ngời trung thành với cơng lĩnhmác-xít đã không dự đại hội Xanh Ê-chiên, mà tiến hành tổ chức đại hộiriêng ở Ru-ăng Đại hội Ru-ăng trở thành cái mốc quan trọng trong sự pháttriển của đảng công nhân Pháp Tuy nhiên, đảng công nhân Pháp lúc đó cònphân tán, ít liên hệ với giai cấp công nhân

Nửa sau những năm 80, do đảng tích cực đấu tranh bảo vệ quyềnlợi của giai cấp vô sản, nên đảng công nhân Pháp đã có ảnh hởng nhiềutrong giai cấp công nhân Năm 1889, trong cuộc bầu cử quốc hội, đảngcông nhân Pháp đã thu đợc 10 vạn phiếu và năm 1897, thu đợc 80 vạnphiếu Đảng công nhân Pháp là đảng mạnh nhất trong các đảng xuất hiện

ở Pháp vào những năm 90 của thế kỷ XIX

Đảng công nhân xã hội-dân chủ áo thành lập năm 1889 là kết quảcủa một quá trình mấy chục năm đấu tranh sàng lọc những t tởng cải l-

ơng cơ hội trong phong trào xã hội chủ nghĩa áo Vừa mới thành lập,

đảng công nhân áo đã đẩy mạnh cuộc đấu tranh đòi quyền phổ thông

đầu phiếu Năm 1896, đảng đã thu đợc thắng lợi bớc đầu trong cuộc bầu

cử quốc hội

Dới sự lãnh đạo của những ngời xã hội chủ nghĩa, những năm 90, ở

áo đã nổ ra nhiều cuộc bãi công lớn

Trang 30

ở Hung-ga-ri, năm 1878 đã thành lập đảng của giai cấp vô sản,lấy tên là đảng của những ngời không có quyền bầu cử Đảng mang tên đóvì nhà cầm quyền Hung-ga-ri bấy giờ không cho thành lập các tổ chức xãhội chủ nghĩa Đảng vô sản Hung-ga-ri tuyên bố mục tiêu chính thức của

đảng là đòi thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu

Ngời sáng lập và lãnh đạo chủ chốt của đảng là Lê-ô Phrăng-Ken,nhà hoạt động tích cực của Quốc tế I, ngời chiến sĩ của công xã Pa-ri và làbạn của Mác và Ăng-ghen

Năm 1880, đảng của những ngời không có quyền bầu cử đã cùngvới đảng công nhân (một tổ chức xã hội chủ nghĩa thành lập sau và theo ttởng của Lát-xan) hợp nhất lại thành Đảng công nhân toàn Hung-ga-ri.Vào những năm 90 đổi tên thành Đảng xã hội- dân chủ

Liên đoàn xã hội- dân chủ là tổ chức xã hội chủ nghĩa đầu tiên củanớc Anh Liên đoàn tuyên bố lấy những t tởng xã hội chủ nghĩa làm cơnglĩnh, nhng tổ chức này do ít liên hệ với quần chúng và không chịu hoạt

động trong các tổ chức công đoàn nên không đợc xác nhận là tổ chức lãnh

đạo có uy tín trong giai cấp vô sản Anh Cuối năm 1884, những ngời xãhội chủ nghĩa, trong đó có con gái của Mác là E-lê-ô-nô-ra và chồng là E-Vê-linh đã tách khỏi liên đoàn xã hội-dân chủ, lập ra tổ chức Đồng minhxã hội chủ nghĩa Tổ chức này ít lâu cũng mất uy tín vì xuất hiện t tởng vôchính phủ

Năm 1893, trên cơ sở một tổ chức công nhân, ở Anh đã hình thành

Đảng công nhân Độc lập, đảng này cũng tuyên bố mục đích xã hội chủnghĩa nhng còn mơ hồ, vì thế, không bao lâu Đảng công nhân độc lập đãngả sang cải lơng chủ nghĩa Đảng này có u điểm là đã hoạt động trongcác tổ chức công đoàn của công nhân

30

Trang 31

Tính đến năm 1896 đã có trên dới 15 nớc ở Châu Âu có đảng củagiai cấp vô sản Ngoài các đảng đã nói ở trên đây, một loạt đảng khác cũng

đã ra đời:

Đảng xã hội chủ nghĩa Bồ Đào Nha ( năm 1875),

Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa Tây Ban Nha ( năm 1879 ),

Đảng công nhân Bỉ ( năm 1885 ),

Đảng công nhân Na uy ( năm 1887 ),

Đảng xã hội chủ nghĩa Thụy Sĩ ( năm 1888 ),

Nhóm giải phóng lao động Nga (năm 1883 ),

Đảng xã hội-dân chủ Đan Mạch ( cuối những năm 80 ),

Đảng xã hội chủ nghĩa Bun–ga- ri ( năm 1891 ),

Đảng lao động I-ta-li-a,sau đổi tên là Đảng xã hội chủ nghĩa

I- ta-li-a ( năm 1892 ),

Đảng xã hội chủ nghĩa vơng quốc Ba Lan ( năm 1893 ),

Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa Ru-ma-ni ( năm 1893 ),

Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa Hà Lan ( năm 1894 ),

Đảng xã hội chủ nghĩa Nam T ( năm 1896 )

2.2 Phong trào công nhân ở một số nớc t bản chủ yếu

Có thể nói cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phong trào đấu tranhcủa giai cấp công nhân ở các nớc t bản chủ yếu diễn ra hết sức mạnh mẽ

và quyết liệt Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nớc t bản chủyếu không những quyết liệt đối với giai cấp t sản mà còn hết sức gay gắtchính ngay trong nội bộ của phong trào

- Phong trào công nhân ở đức.

Trang 32

Sự phát triển nh vũ bão của công nghiệp đa đến sự phát triển của giaicấp công nhân Tuyệt đại đa số công nhân- 4,7 triệu ngời, làm việc tại các xínghiệp nhỏ; làm việc tại các xí nghiệp lớn nhất là gần 450.000 công nhân.

Đời sống giảm sút của công nhân đã làm cho họ tăng cờng đấutranh chống t bản Đầu những năm 90 công nhân xây dựng ở Béc-lin, côngnhân chế tạo máy ở Xắc-xôn đã bãi công Họ ngày càng mong muốn tổchức các lực lợng của chính mình

Lúc đó ở Đức có hai tổ chức chính trị của công nhân: Liên minhcông nhân toàn nớc Đức của phái Lát-xan (lập năm 1863) do Hát-xen-man

và Ten-lơ-ke cầm đầu-và Đảng công nhân xã hội dân chủ của phái nắc(lập năm 1869), do Vin-hem Líp-nếch(1826-1900) và An-vơ-gu-xtơBê-ben(1840-1913) cầm đầu

Ây-dơ-Phái Lát-xan cho là có thể chuyển lên chủ nghĩa xã hội bằng con ờng giành quyền bầu cử phổ thông và tổ chức các hội sản xuất Mác và

đ-Ăng-ghen đã phê phán quan điểm cơ hội chủ nghĩa của họ

Phái Ây-gơ-nắc tuy cũng phạm nhiều sai lầm và lúc mới hoạt động

đã phóng đại ý nghĩa và vai trò của các tổ chức giáo dục, nhng dần dần đãthoát khỏi những quan điểm sai lầm, đứng trên lập trờng của chủ nghĩaquốc tế vô sản, đấu tranh cho hoà bình giữa các dân tộc

Năm1875, ở Gô-ta đã có đại hội thống nhất hai phái Ây-dơ-nắc vàLát-xan Kết quả là lập ra đợc Đảng công nhân xã hội chủ nghĩa Đức, vềsau đổi thành Đảng xã hội-dân chủ Đức

C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã hoan nghênh t tởng thống nhất, nhnggợi ý cho Bê-ben và Líp-nếch cảnh giác đối với những nhợng bộ phái Lát-xan về mặt lý luận Song các lãnh tụ của phái Ây-dơ-nắc đã không tiếp thu

32

Trang 33

những lời khuyên ấy Trong dự thảo Cơng lĩnh Gô-ta đợc Đại hội phêchuẩn, có nhiều luận điểm cải lơng của Lát-xan.

Sau khi nhận đợc dự thảo Cơng lĩnh Gô-ta, Mác đã phê phán nó sâusắc, song sự phê phán đó đã không đợc báo cho các đảng viên và các đạibiểu dự đại hội thống nhất biết Chỉ qua 16 năm, năm 1891, Ăng-ghen mớicông bố cuốn "Phê phán Cơng lĩnh Gô-ta " của C.Mác, bất chấp ý kiến củaban lãnh đạo đảng Trong tác phẩm này, Mác kiên quyết chống lại nhữngluận điểm của Lát-xan, nhất là luận điểm về cái gọi là nhà nớc nhân dân tự

do đợc đa vào cơng lĩnh, thay cho luận điểm mác-xít về chuyên chính vôsản, chống lại luận điểm phản khoa học và có hại về “quy luật sắt của tiềnlơng” Lát-xan cho rằng tiền lơng bao giờ cũng chỉ đợc quyết định bởi số

t liệu tối thiểu cần thiết để duy trì thể lực của ngời công nhân, mà không kể

đến các nhân tố lịch sử cũng nh xã hội Việc thừa nhận “đạo luật” phảnkhoa học đó đa đến từ bỏ cuộc đấu tranh đòi tăng lơng

Trong Cơng lĩnh Gô-ta có yêu sách đòi nhà nớc t sản- địa chủ cấptiền cho công nhân để phát triển các hội sản xuất mà giờng nh đó là con đ-ờng chuyển lên chủ nghĩa xã hội mà không có những rung động về xã hội,không có cách mạng

Cả luận điểm của cơng lĩnh nói rằng trừ giai cấp công nhân ra còntất cả các tầng lớp xã hội khác “chỉ toàn là đám đông phản động” cũng là

có hại cho cuộc đấu tranh thắng lợi của giai cấp công nhân Luận điểm nàylàm cho không thể tập hợp lực lợng để công nhân cùng đấu tranh với cáctầng lớp trung gian, trớc hết là không thế có liên minh với nông dân

Trong khi giáng đòn quyết định vào chủ nghĩa Lát-xan, trong

“Phê phán Cơng lĩnh Gô-ta” lần đầu tiên dới hình thức mở rộng, Mác đãnêu ra những luận điểm lý luận hết sức quan trọng về thời kỳ quá độ từ chủ

Trang 34

nghĩa t bản lên chủ nghĩa xã hội và luận điểm “Nhà nớc của thời kỳ nàykhông thể là cái gì khác hơn là chuyên chính cách mạng của giai cấp vôsản” [14;127].

Trong "Phê phán Cơng lĩnh Gô-ta", Mác đã chỉ ra tính tất yếu lịch

sử của hai giai đoạn của xã hội cộng sản chủ nghĩa- chủ nghĩa xã hội vàchủ nghĩa cộng sản Sự phê phán của Mác và Ăng-ghen đối với Cơng lĩnhGô-ta là một trong những ví dụ rõ ràng chứng tỏ các ông không điều hoàvới chủ nghĩa cơ hội, kiên quyết bảo vệ những nguyên tắc cách mạng củaphong trào công nhân và đấu tranh cho một đảng vô sản cách mạng, chiến

đấu

Việc thành lập đảng xã hội chủ nghĩa thống nhất đã làm tăng ảnh ởng của nó Tại cuộc bầu cử 1877, phái xã hội chủ nghĩa đã thu đợc500.000 phiếu và có 12 đại biểu trong Quốc hội Số lợng các công đoàntăng lên nhanh chóng

Song, sau khi thống nhất phái Ây-dơ-nắc với phái Lát-xan, ảnh ởng của các phần tử tiểu t sản lại tăng trong đảng Chỉ có sự giúp đỡ khôngmệt mỏi của Mác và Ăng-ghen, những ngời luôn luôn có liên lạc với Đảngcông nhân xã hội- chủ nghĩa Đức, mới giúp cho V.Líp-nếch và A.Bê-ben,theo lời V.I.Lê-nin, “bảo đảm bá quyền lãnh đạo của chủ nghĩa Mác trongmột đảng thống nhất”[5;366]

h-Những thành tựu của Đảng công nhân, số lợng và ảnh hởng của nótăng, làm cho các giai cấp thống trị ngày càng lo sợ Để đập tan đảng vàlàm suy yếu phong trào công nhân, tháng 10 năm 1878, Bi-xmát đã thôngqua nghị viện đa ra “đạo luật đặc biệt” chống những ngời xã hội chủnghĩa, có hiệu lực trong 12 năm- đến tận 1890 Căn cứ theo đạo luật ấy,

đảng xã hội-dân chủ, và cả các tổ chức của nó đã bị cấm, các tổ chức quần

34

Trang 35

chúng công nhân, các công đoàn bị giải tán, các tờ báo công nhân bị đóngcửa Các đảng viên Đảng xã hội-dân chủ, nhất là những ngời lãnh đạo của

nó các cán bộ của phong trào công đoàn đã bị truy nã, bắt bớ và bị đày

Trong những điều kiện ấy, ban lãnh đạo của Đảng hốt hoảng đãthông qua một nghị quyết cơ hội chủ nghĩa về tự giải tán đảng Nhữngphần tử cơ hội phái hữu trong đảng kêu gọi khắc phục “đạo luật đặc biệt”trên cơ sở hợp pháp và tuân thủ Song vào thời điểm ấy, quần chúng của

đảng đã tỏ rõ một sự chịu đựng cần thiết và bắt đầu lập ra các tổ chức bímật, khôi phục những mối liên lạc đã đứt C.Mác và Ph.Ăng-ghen đã giúp

đỡ to lớn cho đảng, những lời khuyên, chỉ dẫn của các ông, những yêu cầu

và sự kiên quyết của quần chúng đã giúp ban lãnh đạo của đảng, sau khikhắc phục sự hốt hoảng đã đa đảng rút vào bí mật và tiếp tục lãnh đạophong trào đấu tranh

Cuộc bầu cử quốc hội năm 1890 đã chứng tỏ ảnh hởng tăng củanhững ngời xã hội- dân chủ; khi ấy 1,5 triệu ngời ( 20% cử tri) đã bỏ phiếucho họ và đảng đã đa đợc 35 đại biểu vào quốc hội

Sự phát triển của phong trào bãi công và ảnh hởng của những ngờixã hội chủ nghĩa chứng tỏ “đạo luật đặc biệt” là vô căn cứ Năm 1890,

“thủ tớng sắt” Bi-xmác liên tục 28 năm cai trị Đức, đã bắt buộc phải từchức “ Đạo luật đặc biệt” chống những ngời xã hội chủ nghĩa đã bị huỷbỏ

Nh vậy, đã có những điều kiện thuận lợi cho phong trào công nhân

và hoạt động của đảng phát triển

V.I.Lê-nin viết: “Đối với đảng đã bắt đầu thời kỳ phát triển nhanhchóng về bề rộng và bề sâu, phát triển việc tổ chức lực lợng của giai cấp vô

Trang 36

sản chẳng những về chính trị, mà cả về công đoàn, hợp tác xã, giáo dục.v.v ”[5;368].

Năm 1890, 300.000 ngời đã gia nhập các công đoàn chịu ảnh hởngcủa phái xã hội- dân chủ, và đến đầu thế kỷ XX đã có 700.000 ngời Năm

1892, một ban lãnh đạo toàn quốc các công đoàn gắn liền với đảng đã đợclập ra- Tổng uỷ ban công đoàn Đức Năm 1891, đảng đã họp đại hội ở éc-phua Một cơng lĩnh mới của đảng đã đợc thông qua tại đại hội này- Cơnglĩnh éc-phua, đó là một bớc tiến so với Cơng lĩnh Gô-ta Trong cơng lĩnhnày, không còn những luận điểm của Lát-xan về “quy luật sắt của tiền l-

ơng”, “Nhà nớc nhân dân tự do”, v.v Cơng lĩnh bao gồm những yêu sách

đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ, quyền bầu cử phổ thông, quyền lập hội

ra nớc ngoài dới hình thức cho các nớc thuộc địa và kém phát triển vay.Kết quả là đa số các xí nghiệp công nghiệp Pháp rất nhỏ, với số lợng côngnhân không lớn

Trong nông nghiệp, đặc điểm nổi bật là kinh tế nhỏ và cực nhỏchiếm u thế, giai cấp vô sản nông thôn chiếm gần 3 triệu ngời, đặc điểm

36

Trang 37

đó đã ảnh hởng đến thành phần của giai cấp công nhân công nghiệp, đến

đúc v.v Các-xanh-đi-ca họp thành liên hiệp

Các đại biểu của giai cấp t sản cố hết sức tuyên truyền từ bỏ đấutranh giai cấp, từ bỏ hoạt động chính trị Họ thuyết phục công nhân bằngcon đờng thành lập các hợp tác xã sản xuất có thể cải thiện căn bản đờisống của nhân dân lao động Những quan điểm nh vậy đã thống trị tại đạihội các tổ chức công nhân năm 1876 Nhng đấu tranh giai cấp gay gắt hơn,

số cuộc bãi công tăng đã chứng tỏ không thể từ bỏ đấu tranh chính trị

Sự tuyên truyền cổ động của phái xã hội chủ nghĩa –“tập thể chủnghĩa xã hội” ngày càng đợc triển khai rộng rãi Tại Đại hội công nhân II ởLi-ông năm 1878, “phái tập thể chủ nghĩa” đã đa ra yêu sách thiết lậpquyền sở hữu công cộng về ruộng đất và công cụ sản xuất Đứng đầu “pháitập thể chủ nghĩa” là Giuyn Ghết-đơ (1845-1922) và Pôn La-phác-gơ(1842-1911)

Năm 1879 ở Mác-xây, đại hội công nhân III họp, thông qua nghịquyết về thành lập một đảng độc lập của giai cấp vô sản-đảng công nhân.Giuyn Ghết-đơ và Pôn La-phác-gơ đã trở thành những nhà lãnh đạo của

đảng ấy Ph.Ăng-ghen đã đánh giá cao hoạt động của C.Ghết-đơ, nhngphê phán ông ta là nghiêng về chủ nghĩa biệt phái, thiếu mềm dẻo trong

đấu tranh chính trị

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:04

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Chơng 1: Đặc điểm tình hình Châu Âu ba mơi năm - Phong trào công nhân châu âu ba mươi năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
h ơng 1: Đặc điểm tình hình Châu Âu ba mơi năm (Trang 73)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w