1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong trào bình dân học vụ ở thanh hoá từ năm 1945 đến năm 1954

89 909 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phong trào bình dân học vụ ở Thanh Hoá từ năm 1945 đến năm 1954
Tác giả Nguyễn Thế Anh
Người hướng dẫn TS. Trần Văn Thức
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 596 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai, các tác phẩm của các nhà lãnh đạo ngành Giáo dục, các nhà nghiên cứu, những ngời trực tiếp tham gia vào hoạt động chống nạn thất học, chẳng hạn nh: "Việt Nam diệt giặc dốt" do N

Trang 2

Trớc tiên tôi xin chân thành cảm ơn TS Trần Văn Thức đã trực tiếp, tậntình hớng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Qua đây tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo khoa Lịch

sử, Khoa Sau Đại học - Trờng Đại học Vinh, Sở Giáo dục và Đào tạo ThanhHóa, Văn phòng ủy ban nhân dân Tỉnh, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh Hóa,Kho lu trữ ủy ban nhân dân tỉnh ủy Thanh Hóa, Bảo tàng tổng hợp ThanhHóa, Kho địa chí Th viện Thanh Hóa, Th viên Đại học Vinh, Th viện QuốcGia, Kho Lu trữ Trung ơng Đảng Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớinhững ngời thân trong gia đình, bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện thuậnlợi, giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn

Với thời gian và kiến thức có hạn nên luận văn này còn nhiều thiết sót.Kính mong nhận đợc sự góp ý của các thầy cô giáo cùng bạn đọc để luận văncủa tôi đợc hoàn thiện hơn

Tôiưxinưchânưthànhưcảmươn!

Tác giả

Trang 3

ư trang mởưđầu

1 lý do chọn đề tài 1

2 lịch sử vấn đề 2

3 mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 đối tợng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Nguồn tài liệu sử dụng và phơng pháp nghiên cứu 4

6 đóng góp của luận văn 5

7 bố cục của luận văn 5

nộiưdung Chơngư1. ưVàIưNéTưVềưtìnhưhìnhưgiáoưdụcưởưThanhưHoáư dớiưthờiưPhápưthuộc 1.1 Tình hình giáo dục ở Thanh Hóa dới thời Pháp thuộc 6

1.1.1 chính sách giáo dục của thực dân pháp 6

1.1.2 hệ quả chính sách giáo dục của thực dân Pháp 12

1.2 Khái quát công cuộc chống nạn thất học trớc năm 1945 14

1.2.1 thời kỳ trớc phong trào Truyền bá Quốc ngữ 14

1.2.2 Thời kỳ trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ 17

chơngư2.ư bìnhưdânưhọcưvụưởưThanhưHoáưtrongưnămưđầuưtiênưcủa chếưđộưDânưchủưNhânưdânư(1945ư-ư1946) 2.1 Chủ trơng, nhiệm vụ, biện pháp và phơng thức hoạt động của Bình dân học vụ ở Thanh Hoá 28

2.1.1 bối cảnh lịch sử và chính sách "diệt giặc dốt" của chính quyền cách mạng ở Thanh Hóa sau Cách mạng tháng Tám 28

2.1.2 nhiệm vụ, biện pháp và phơng thức hoạt động của Bình dân học vụ 34

2.2 bình dân học vụ ở Thanh Hoá trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám 37

2.2.1 xây dựng nền móng Bình dân học vụ ở Thanh Hóa (từ tháng 9 năm 1945 đến tháng 11 năm 1945) 37

2.2.2 chiến dịch chống nạn mù chữ đầu tiên ở Thanh Hóa (từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 12 năm 1946) 39

Trang 4

chơngư3

bìnhưdânưhọcưvụưvàưphongưtràoưdiệtưdốtưởưThanhưHoáư

từưnămư1947ưđếnưnămư1954

3.1 Sự chuyển hớng của Bình dân học vụ trong sự nghiệp kháng chiến ở

Thanh Hoá 60

3.2 Phong trào diệt giặc dốt ở Thanh Hoá từ 1947 đến 1954 64

3.2.1 Phong trào Bình dân học vụ Thanh Hoá từ 1947 đến 1950 64

3.2.1.1 Giai đoạn từ 1947 đến 1948 64

3.2.1.2 Giai đoạn từ 1949 đến 1950 74

3.2.2 Bình dân học vụ Thanh Hoá tiếp tục xoá nạn mù chữ từ năm 1951 đến năm 1954 79

kếtưluận 86

tàiưliệuưthamưkhảo 89

phụưlục Mởưđầu 1 Lý do chọn đề tài Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thờng căn dặn: "Vì lợi ích mời năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng ngời" Theo Ngời, giáo dục trở thành vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, dân tộc Chúng ta biết rằng, thành công của toàn Đảng, toàn dân trong những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám về việc xoá bỏ nạn dốt, xây dựng nền giáo dục cách mạng là đề tài đang đợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Thanh Hoá vốn là vùng đất có truyền thống hiếu học, do đó, sau Cách mạng tháng Tám là một trong những tỉnh có phong trào diệt giặc dốt sôi nổi, rầm rộ, rộng khắp cha từng thấy, lôi cuốn hàng triệu ngời đủ mọi tầng lớp, mọi giới, không phân biệt giai cấp, giàu nghèo, tất cả đều, hào hứng, tự nguyện tham gia phong trào xoá nạn mù chữ một cách có hiệu quả Với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân, tỉnh Thanh Hoá đã hoàn thành công cuộc xoá nạn mù chữ sau Cách mạng tháng Tám và xây dựng nền giáo dục cách mạng đạt đợc nhiều thành tích đáng tự hào Nghiên cứu vấn đề Phong trào Bình dân học vụ ở Thanh Hóa (từ năm 1945 đến năm 1954) vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc

Trang 5

Trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá, giáo dục có vai tròrất quan trọng Những bài học rút ra từ công cuộc xoá bỏ nạn dốt ở ThanhHoá sau Cách mạng tháng Tám vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần khôngngừng nâng cao trình độ học vấn cho toàn dân, tiến tới xây dựng đất nớc ngàymột giàu đẹp và văn minh hơn.

Nghiên cứu phong trào Bình dân học vụ còn làm rõ thêm thành tích của

Đảng bộ và nhân dân Thanh Hoá những năm đầu sau Cách mạng tháng Tám

Trong những năm vừa qua, giáo dục Thanh Hoá còn nhiều khó khăn vàtồn tại Chất lợng giáo dục còn thấp, cha đáp ứng đợc yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội của địa phơng; Đội ngũ giáo viên vừa thiếu, vừa thừa, vừa không

đồng bộ, một bộ phận giáo viên và cán bộ quản lý cha đáp ứng đợc yêu cầutrong tình hình mới; Cơ sở vật chất cha đáp ứng đợc yêu cầu nâng cao chất l-ợng giáo dục toàn diện; Cơ chế quản lý giáo dục cha đồng bộ Từ thực trạng

đó, nghiên cứu về công cuộc xoá bỏ nạn dốt ở Thanh Hoá sau Cách mạngtháng Tám góp phần nâng cao chất lợng toàn diện cho ngành giáo dục và đàotạo Thanh Hoá

Với ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn trên, chúng tôi chọn vấn đề:

Thứ nhất, các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số nhà

lãnh đạo khác của Đảng và Nhà nớc Cùng với những bài nói, bài viết này làcác văn kiện của Đảng và Nhà nớc nêu chủ trơng, đờng lối và nhiệm vụ củacông cuộc chống nạn thất học

Thứ hai, các tác phẩm của các nhà lãnh đạo ngành Giáo dục, các nhà

nghiên cứu, những ngời trực tiếp tham gia vào hoạt động chống nạn thất học,

chẳng hạn nh: "Việt Nam diệt giặc dốt" do Nha Bình dân học vụ xuất bản năm 1951, "Việt Nam chống nạn thất học" của Ngô Văn Cát, "Chủ tịch Hồ

Chí Minh với sự nghiệp chống nạn thất học, nâng cao dân trí" của Vơng

Trang 6

Kiêm Toàn, "Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trớc Cách mạng tháng Tám

năm 1945" của Nguyễn Đăng Tiến, "Lịch sử giản lợc hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam" của Lê Văn Giạng, "Chống mù chữ vấn đề của thời đại" của

Vũ Ngọc Bình, "Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam" của Trờng Chinh,

"Văn hoá và đổi mới" của Phạm Văn Đồng

Các bài nói, bài viết, các tác phẩm, tài liệu nêu trên chỉ đề cập đến mộtkhía cạnh nhất định của phong trào Bình dân học vụ, chứ nó cha hệ thống đợcmột cách đầy đủ và đi sâu tìm hiểu về phong trào này Lịch sử chống nạn thấthọc ở Việt Nam là một đề tài rất rộng lớn và phong phú Ngoài những tài liệu

đợc đề cập ở trên thì ở một số tạp chí, nh: Nghiên cứu lịch sử, Báo cứu quốc,Báo Giáo dục - Thời đại, các đặc san Bình dân học vụ cũng có một số bài

đề cập tới một vài khía cạnh của phong trào Bình dân học vụ Riêng nghiêncứu về phong trào chống nạn thất học ở một số địa phơng trên đất nớc ta hiệnnay cha đợc nghiên cứu nhiều Chúng tôi mới chỉ đợc biết có Luận án Phó

Tiến sĩ của Nguyễn Mạnh Tùng với đề tài: "Công cuộc xoá nạn mù chữ và bổ

túc văn hoá Bắc Bộ (1945 - 1954)ưvà luận văn thạc sĩ của Lê Thị Hồng Phơng

về đề tài: “PhongưtràoưbìnhưdânưhọcưvụưởưNghệưAnư(1945 - 1954)".

Đối với Thanh Hoá, cha có một công trình nghiên cứu nào cụ thể và có

hệ thống, khái quát về phong trào Bình dân học vụ (1945 - 1954) Nếu có thì

cũng chỉ đợc viết một cách sơ lợc, lẻ tẻ trong một số tài liệu nh: "50 năm

ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thanh Hoá (1945 - 1995), "Lịch sử Đảng bộ Thanh Hoá”, Lịch sử Đảng bộ của một số huyện, nh: Yên Định, Hoàng hóa,

Cẩm Thủy Ngoài ra có một số bài ở các nội san học tập và qua một số báo

cáo của Tỉnh uỷ Thanh Hoá lu tại kho lu trữ Tỉnh

Luận văn này trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các tác giả nóitrên, kết hợp với nguồn t liệu mới đợc bổ sung từ kho lu trữ Uỷ ban nhân dânTỉnh và các tài liệu khác nhằm làm sáng tỏ, đầy đủ và có hệ thống phong tràoBình dân học vụ ở Thanh Hoá giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1954

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn nhằm làm sáng rõ những

đóng góp của phong trào Bình dân học vụ ở Thanh Hoá từ năm 1945 đến năm

1954 Qua việc nghiên cứu, nhằm rút ra những bài học cho công tác xoá nạn

mù chữ ở Thanh Hoá trong giai đoạn từ 1945 đến 1954 và cho cả hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Trình bày thực trạng thất học ở Thanh Hoá trớc Cách mạng ThángTám

Trang 7

Những giải pháp cụ thể của Đảng bộ, chính quyền Thanh Hoá nhằmchống giặc dốt.

Những biện pháp xây dựng giáo dục mới

Thành quả đạt đợc ở miền xuôi, miền ngợc Thanh Hoá trong công tácxóa nạn mù chữ

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là làm sáng rõ chủ trơng của Đảng

bộ, chính quyền cũng nh quá trình thực hiện, kết quả và tác động của phongtrào Bình dân học vụ ở thanh Hóa trong thời kỳ kháng chiến chống thực dânPháp (1945 - 1954)

Đề tài tập trung vào việc nghiên cứu công cuộc Bình dân học vụ ởThanh Hoá từ 1945 đến 1954 Những nội dung khác không nằm trong phạm

vi nghiên cứu của đề tài

5 Nguồn tài liệu sử dụng và phơng pháp nghiên cứu

5.1 Nguồn tài liệu sử dụng

Khai thác t liệu của Sở Giáo dục Thanh Hoá, Văn phòng uỷ ban nhân dânTỉnh, Kho lu trữ Uỷ ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá, Th viện Thanh Hoá, Thviện trờng Đại Học Vinh, Th viện Quốc gia, Mặt trận Tổ quốc tỉnh ThanhHoá

Qua t liệu truyền miệng của một số cụ già sống và làm việc vào thời kỳ

Trên cơ sở đó rút ra đợc những bài học kinh nghiệm và những mối liên

hệ đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo của Thanh Hóa trong giai đoạn hiệnnay

7 Bố cục của luận văn

Trang 8

Ngoµi phÇn më ®Çu kÕt luËn, tµi liÖu tham kh¶o vµ phô lôc, néi dungchÝnh cña luËn v¨n gåm cã 3 ch¬ng nh sau:

Ch¬ng 1: Vµi nÐt vÒ t×nh h×nh gi¸o dôc ë Thanh Ho¸ díi thêi Ph¸p thuéc

Trang 9

nộiưdung Chơng 1 VàiưnétưvềưTìnhưhìnhưgiáoưdụcưởưthanhưhoáưdớiư

thờiưPhápưthuộcưtrớcư1945

1.1 ư Tình ư hình ư giáo ư dục ư ở ư thanh ư hóa ư dới ư thời ư Pháp thuộc

1.1.1 Chính sách giáo dục của thực dân Pháp

Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lợc Việt Nam.Mục đích của chúng là nô dịch nhân dân Việt Nam, biến Việt Nam thành thịtrờng, căn cứ quân sự, nơi sinh lợi nhuận cho giới t bản và bảo đảm cho thếlực của giai cấp t sản đang thống trị nớc Pháp

Ngày 1 - 9 - 1858, thực dân Pháp tấn công Đà Nẵng, mở đầu cho cuộcxâm lợc đánh chiếm nớc ta Nhân dân ta chống trả quyết liệt, thực hiện kếhoạch “vờn không nhà trống”, gây khó khăn cho chúng Quân Pháp phải thúnhận: "Đất mà chúng tôi chiếm đợc thì hoàn toàn bỏ trống, trừ vài nhà tranhcủa dân chài" [86, 35]

Cuộc chiến tranh đã diễn ra ở Đà Nẵng kéo dài tới năm tháng, thực dânPháp chỉ chiếm đợc bán đảo Sơn Trà với không bóng ngời Cuộc tiến côngnày của thực dân Pháp thực sự dẫm chân tại chỗ, một tình thế diễn ra ngoàitoan tính của thực dân Pháp

Dựa vào u thế hải quân, Pháp đã đẩy hớng tấn công đánh chiếm thànhGia Định ngày 17 - 2 - 1859 Cũng nh ở Đà Nẵng, nhân dân Gia Định cũng

tự tay đốt nhà, dời nhà đi nơi khác, không hợp tác với giặc, gây cho giặcnhiều khó khăn ĐơGiơmi đã phải bi đát báo cáo với chính phủ Pháp rằng:

"Càng đi sâu vào tình hình vơng quốc An Nam, càng ngày các bức màn đợcvén lên Những lời phán quyết sai lầm (của các giáo sĩ) phải đợc thủ tiêu đi,không thể không công nhận rằng cuộc chiến tranh chống nớc này còn khóhơn cuộc chiến tranh chống vơng quốc Trung Hoa" [86, 38] Thực dân Phápcũng có nhiều khó khăn, song triều đình Huế không biết lợi dụng tình thế đó

để cùng toàn dân tiến công lại chúng, ngợc lại triều đình lại chỉ lo Pháp có tàu

to, súng lớn nên vội vã kí hiệp ớc dâng 3 tỉnh miền Đông cho Pháp Chínhthực dân Pháp cũng phải thốt lên: "May mắn thay, đang lúc phải đón đợi mộttình thế xấu, thì Huế lại yêu cầu kí hoà ớc" [86, 42]

Ngày 5 - 6 - 1862 cái gọi là "Hiệp ớc hoà bình và hữu nghị" đã đợc kíkết giữa triều đình Huế và chính phủ Pháp

Trang 10

Theo hiệp ớc này, triều đình Huế dâng nộp cho Pháp ba tỉnh miền

Đông Nam Kỳ đó là Gia Định, Định Tờng, Biên Hoà, ngoài ra còn bồi thờngchiến phí cho Pháp Sau khi đã chiếm đợc ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, bọnthực dân Pháp ra sức tăng cờng và củng cố lực lợng cùng với việc khoét sâumâu thuẫn giữa triều đình Huế với nhân dân và lợi dụng sự yếu hèn của tập

đoàn phong kiến nhà Nguyễn Năm 1867, thực dân Pháp đã tiến đánh nốt batỉnh miền Tây và hoàn toàn làm chủ cả Nam Kỳ Sau sáu năm tạm ngừngchiến tranh để tổ chức và ổn định tình hình Nam Kỳ, Pháp đem quân tiến

đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất và đã kí đợc điều ớc 1874, tranh thủ đợc nhiềuquyền lợi về kinh tế và chính trị Sau tám năm củng cố và chuẩn bị lực lợng

vũ trang, mở rộng chiếm đóng và đến tháng 6 - 1884 thì chúng hoàn thànhcuộc xâm lợc nớc ta

Thủ đoạn mà thực dân Pháp thờng dùng trong cuộc chiến tranh ViệtNam là: cứ sau mỗi cuộc tiến công lớn, chúng lại buộc triều đình phong kiếnnhà Nguyễn kí một điều ớc Sau mỗi điều ớc chúng lại xâm phạm sâu hơn nữavào chủ quyền nớc ta và cuối cùng với điều ớc Patơnốt 1884, thực dân Pháp

đã hoàn toàn làm chủ nớc ta về mọi mặt Mất quyền tự chủ đất nớc, nhân dân

ta vẫn anh dũng chống giặc cứu nớc, nổi bật lên có phong trào nông dân YênThế 1883-1913, phong trào Cần Vơng 1885-1895

Sau khi đã hoàn thành xâm lợc nớc ta, thực dân Pháp đã tổ chức bộ máycai trị nhằm thống trị, vơ vét của cải và bóc lột nhân dân ta Từ năm 1886, thựcdân Pháp bắt đầu tính đến việc chinh phục bằng văn hoá và giáo dục Trongbản phúc trình cho Chính phủ Pháp về giáo dục ở Đông Dơng, thực dân thốngtrị Pháp đã nhận định: "Sau khi ngời lính hoàn thành sự nghiệp của mình thì

đến lợt ngời giáo viên thực hiện sự nghiệp của họ" [1, 15] Đây cũng chính làchủ trơng chung của bọn đế quốc khi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lợc

Bọn thực dân Pháp còn lập luận rằng "một khi ngời ta muốn thay đổihình dáng màu sắc của một cái cây, ngời ta không thể bắt đầu với những cây

đã phát triển hoàn toàn và sinh hoa kết quả, mà ngời ta phải tác động đến cáchạt phải chăm sóc, điều kiện việc nảy mầm và phát triển của nó trong nhữngmiếng đất đợc chọn lọc và chuẩn bị đầy đủ ”[1, 15]

Với cách lập luận này, thực dân Pháp đã hiểu rõ một điều rằng, nếu tấncông trực diện vào nớc ta, một nớc có nền văn minh lâu đời thì thất bại khôngthể tránh khỏi Bởi vậy bọn thực dân Pháp đã phải thốt lên "Nếu chúng tamuốn đặt đợc vĩnh viễn ảnh hởng của nớc Pháp trên phần đất này (Việt Nam)của thế giới, thì chúng ta phải làm cho họ (ngời Việt Nam) tiêm nhiễm t tởng

Trang 11

của chúng ta (Pháp), dạy cho họ tiếng nói của chúng ta và do đó phải bắt đầu

từ nhà trờng và trớc tiên chú ý đến trẻ em" [55, 14] Chúng hi vọng thế hệ trẻViệt Nam, trớc hết là con em của các tầng lớp trên, sẽ dần dần bị "Pháp hoá",sùng văn chơng và nền văn hoá Pháp, coi khinh nền văn hoá cổ truyền củadân tộc và trở thành dân thuộc địa trung thành với mẫu quốc Pháp Nh vậybọn thực dân Pháp đã thực sự bộc lộ rõ ý định sử dụng giáo dục làm công cụphục vụ cho sự thống trị của chúng Điều đó làm chúng ta thấy rõ vì sao, ngay

từ đầu của cuộc xâm lợc, thực dân Pháp đã quan tâm đến giáo dục, đúng nhVian đã ghi lại: "Đô đốc Bôna mà nhiệm vụ là phải xây dựng một thuộc địalớn ở Nam Kỳ đã chú ý ngay tức khắc đến việc phát triển các quan giáo dục"[55, 14] hoặc "Không bao giờ đô đốc Đơla-Grăngđie đi thăm một trờng màkhông ghé vào trờng học, bảo học trò viết một bài tập hay giải những phéptính trên bảng đen Rồi chính tự ông phân phát phần thởng hay những đồ chơi

vụ cho bộ máy cai trị Nhng, đồng thời, chúng cũng đa ra cái gọi là “quy chếtrờng tân học” và mở ở các đô thị một số trờng phổ thông học theo chơngtrình của chính quốc Pháp, nhằm thu hút nhiều con em ngời bản xứ vào học.Tuy nhiên, hệ thống trờng tân học này cha phát triển đợc vì nhân dân ta còntín nhiệm các trờng học dạy chữ Hán Sau một thời gian, chính sách đồng hoácủa thực dân Pháp không mang lại kết quả nh chúng mong đợi Nó vấp phảilòng yêu nớc nồng nàn và ý thức bảo tồn văn hoá dân tộc sâu sắc của ngờiViệt Nam Một số ngời tiếp cận với nền văn minh nớc Pháp thì tỏ thái độchống đối hoặc nghi ngờ nền bảo hộ của mẫu quốc Pháp ở xứ sở này

Do đó ngày 21-12-1917, Toàn quyền Anbe Xarô ban hành bộ luật vềgiáo dục - học chính tổng quy - nhằm nắm toàn bộ quyền hành về giáo dục

đối với ngời bản xứ Đồng thời, thành lập Hội đồng t vấn học chính Đông

D-ơng với chức năng chủ yếu là giúp cho viên Toàn quyền Đông DD-ơng đề ranhững quy chế cho ngành giáo dục Năm 1919, Anbe Xarô ra lệnh bãi bỏ cáctrờng học chữ Hán và các khoa thi hơng, thi hội, đồng thời cấm các trờng thoạt động (chỉ trừ những trờng t Thiên chúa giáo do các cố đạo Tây dựngmở)

Trang 12

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, ở Đông Dơng, đế quốc Pháp tăngcờng chính sách khai thác thuộc địa Chúng tuyển mộ rất nhiều ngời lao độnglàm thuê không cần có học thức làm việc ở các hầm mỏ, nhà máy và đồn điềncao su Chúng chỉ cần một số rất ít ngời thừa hành nh đốc công, cai ký không

đòi hỏi học hành nhiều Vì vậy, tất cả bọn thực dân ở chính quốc cũng nh ở

Đông Dơng đều thống nhất chủ trơng chung thi hành chính sách giới hạn việchọc ở mức thấp nhất

Năm 1924, toàn quyền Meclanh thi hành một chủ trơng “cải cách” giáodục nguy hại hơn Tên trùm thực dân nổi tiếng này đã viện cớ rằng, 9/10 họcsinh nông thôn Việt Nam không đủ sức theo học hết bậc sơ học nên chỉ cần

mở nhiều loại trờng thuộc bậc sơ học là đủ Do đó, toàn quyền Meclanh đề racái chơng trình gọi là "phát triển giáo dục theo chiều nằm, chứ không phảitheo chiều đứng" Chúng đã thi hành chính sách hạn chế việc học tập bằngnhiều biện pháp

Trớc hết, nhà nớc đặt ra nhiều bậc học, kéo dài năm học, buộc học sinhphải qua nhiều kỳ thi Thí dụ, muốn tốt nghiệp trung học, trẻ em Việt phảihọc:

- 3 năm sơ học để thi tốt nghiệp yếu lợc, rồi thi lên lớp nhì

- 3 năm tiểu học để thi cơ thuỷ (C.E.P.F.I) rồi thi lên "đệ nhất"

- 4 năm cao đẳng tiểu học để thi thành chung rồi thi lên đệ nhị trung học

- 2 năm trung học để thi nửa trung học (bán phần tú tài)

- 1 năm chuyên khoa và thi tốt nghiệp trung học (tú tài Tây hoặc tú tàibản xứ)

Nh vậy, tổng số là 13 năm học và 8 kỳ thi Trong khi một trẻ em Pháphọc trờng Li-Xê chỉ học một mạch 11 năm và qua 1 kỳ thi

Cách thức thi cử và kéo dài kì hạn nh vậy có tác dụng một mặt gạt đợcnhiều học sinh ra khỏi nhà trờng, nửa đờng đứt gánh, mặt khác gây tâm lý thi

cử, tâm lý thiên về bằng cấp, vốn đã thành tệ nạn từ thời phong kiến có phầntai hại hơn

Ngoài ra, thực dân Pháp còn đặt ra nhiều loại trờng và nhiều chơngtrình học của cùng một cấp Chẳng hạn ngang với bậc cao đẳng tiểu học, còn

có hai bằng sơ cấp: BE (sử, địa là môn chính) và BEPS (luận Pháp văn làchính) Tơng đơng với năm thứ nhất cao đẳng tiểu học là lớp 6 trờng Li-Xêhoặc lớp 6 Đông phơng (mới đặt từ năm 1940) Chia ra nhiều loại, nhiềungạch nh vậy dễ gây cảm tởng là học sinh đợc tuỳ tiện lựa chọn, nhng thực rachỉ làm cho học sinh bối rối, gây ra suy bì, ganh tị và càng hạn chế việc học

Trang 13

lên cao ở các xã thôn đông dân bọn cầm quyền thực dân lập những trờng sơcấp gồm một, hai lớp đầu của bậc tiểu học, gọi là trờng hơng học (Becolecommunale) ở Bắc Kỳ, trờng dự bị (Becole preparatoire) ở Trung Kỳ, lớp phùtrợ dự bị (cours auxiliaire preparatoire) ở Nam Kỳ Trờng tiểu học hoàn chỉnh(gọi là trờng kiêm bị) tơng đơng với trình độ lớp 4 tiểu học hiện nay chỉ đợc mở

ở thị trấn và thị xã (ở miền núi có nhiều huyện cha có) Trờng cao đẳng tiểu học

có 4 lớp (đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ) tơng đơng với trung học cơ sở hiện nay,chỉ có ở một số rất ít thành phố và tỉnh lỵ lớn

ở Thanh Hoá, các phủ, huyện miền xuôi thì 3 - 4 làng mới có một

h-ơng trờng với một, hai lớp đồng ấu Mỗi trờng có một trờng sơ đẳng độ 3 - 4lớp Cả miền núi Thanh Hoá cha có một trờng tiểu học nào ở thị xã ThanhHoá và một số nơi huyện lớn có thêm một số trờng t thục: Mi-si-ông, No -Annam, Lam Sơn Giáo dục Thanh Hoá vào thời điểm lịch sử này chỉ mới cókhoảng 9 trờng tiểu học, tổng số học sinh của các trờng sơ học và tiểu họckhoảng 12.600 học sinh ở bậc cao đẳng tiểu học có 6 trờng đặt ở Thanh Hoá,

đó là trờng Đào Duy Từ và 5 trờng t thục: Mi-si-ông, No-Annam, Lam Sơn,Trần Hậu Toàn ở Hoàng Hoá và Đức Mậu ở Tĩnh Gia với khoảng 1400 họcsinh thuộc tỉnh Thanh Hoá Số học sinh theo học lên bậc trung học tính trên

đầu ngón tay, phải ra Hà Nội hoặc vào Huế mới có nơi học Tỷ lệ học sinh sovới dân số là 1,5%

Theo Niên giám thống kê Đông Dơng, số trờng và học sinh ngời bản

652552158629486362

049234906

0112032957348675

Trong nhiều trờng của thực dân, nội dung giảng dạy mang tính chấtphản dân tộc, phản khoa học, kìm hãm sự phát triển của thế hệ trẻ TiếngPháp đợc học từ lớp đồng ấu và từ lớp nhì (bậc tiểu học) trở lên, nó đợc làmchuyển ngữ Tiếng Việt không đợc coi trọng Các môn học khoa học tự nhiên

nh Toán, Lý, Hoá, Sinh vật đợc đa vào chơng trình khá nhiều, nhng nặng về

lý thuyết, thiếu phần thực hành và thiếu hẳn những tri thức thực tiễn về ViệtNam Các môn khoa học xã hội nh Văn học, Lịch sử, Địa lí, Triết học hay

Trang 14

Luân lí, Giáo dục công dân đều theo sách dùng ở nớc Pháp hoặc có biênsoạn lại ít nhiều với mục đích tăng cờng tính chất nô dịch Ví dụ: tổ tiên ta làngời Gôloa, xứ Đông Dơng thuộc Pháp gồm có 5 xứ: Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam

kỳ, Ai Lao, Cao Miên và chúng không hề nói đến Việt Nam Nhà cầm quyềnthực dân không che dấu nỗi sợ rệt rõ ràng: "Thật không thể nào để cho ngời

An Nam học lịch sử và đọc sách của chúng ta mà không gợi cho họ lòng yêunớc và yêu tự do Kinh nghiệm của các dân tộc châu Âu khác đã chỉ rõ rằngviệc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho ngời bản xứ là hết sức dại dột"[48, 10]

Nền giáo dục do thực dân Pháp áp dụng trong các trờng học dành chongời bản xứ, nh Nguyễn ái Quốc đã nhận xét: "Đồi bại, xảo trá và nguy hiểmhơn cả sự dốt nát nữa Vì một nền giáo dục nh vậy chỉ làm h hỏng mất tínhnết của ngời đi học, chỉ dạy cho họ một lòng "trung thực" giả dối, chỉ cho họbiết sùng bái những kẻ mạnh hơn mình, dạy cho thanh niên yêu một Tổ quốckhông phải là Tổ quốc của mình, một Tổ quốc đã từng áp bức dân tộc mình"[78, 74]

1.1.2 Hệ quả chính sách giáo dục của thực dân Pháp

Chính sách giáo dục của thực dân Pháp để lại những hậu quả hết sứcnặng nề Đó là, lẽ ra cần phải xoá bỏ những quan niệm học tập lỗi thời củachế độ phong kiến, thì trái lại do những âm mu xảo quyệt của kẻ cầm quyền,lại tô đậm thêm hoặc chuyển thành khía cạnh lạc hậu khác - nghĩa là vẫnquan niệm đi học để vinh thân, để làm quan Một tệ khác của nhà trờngphong kiến là xa rời thực tế, khinh lao động, khinh nhân dân thì chính sáchgiáo dục của thực dân Pháp cũng không thay đổi đợc chút nào quan niệm ấy.Mặc dù trong chơng trình học vẫn có những môn khoa học thực nghiệm, thực

tế thu hoạch của học sinh vẫn là kiến thức sách vở mơ hồ Nhà trờng phongkiến xa kia là của con cháu vua chúa, quan lại và những nhà khá giả Con dânnghèo lao động chỉ "kính nhi viễn chi" thì các trờng dới chế độ thực dân Phápcũng cha đi ra ngoài quy luật ấy

Những kỳ học kéo dài và thi cử chồng chất đã làm cho học sinh khôngthể nào có điều kiện theo học đến nơi đến chốn Các trờng lại tập trung tạithành phố, huyện lỵ, thị trấn, con nhà nghèo khó lòng có tiền lng gạo bị mà

đua đòi với bạn bè ở tầng lớp trên Ngoài ra còn có những quy chế không baogiờ ghi vào văn bản, nh đi học ở nơi nào đó phải đợc sự đảm bảo này nọ, hoặcphải có đủ phơng tiện trang bị nhất định Khá nhiều ngời phải bỏ học, vìkhông đóng nổi học phí, hoặc vì không có bộ đồng phục để tới trờng

Trang 15

Trên cơ sở thực trạng của nền giáo dục thực dân, chúng ta thấy vớichính sách ngu dân triệt để, chủ trơng phát triển giáo dục "theo chiều nằm" vànhững thủ đoạn hạn chế, nhỏ giọt đã đẩy đa phần con em Việt Nam nói chung

và ở Thanh Hoá nói riêng vào cảnh thất học

Nhiều tài liệu thống kê của Nha Bình dân học vụ sau Cách mạng thángTám có hơn 95% nhân dân mù chữ, trong đó phụ nữ chiếm tỉ lệ cao, đặc biệtdân tộc ít ngời hầu nh không biết chữ Rõ ràng chính sách ngu dân, chínhsách phát triển giáo dục "theo chiều nằm" là một bộ phận cấu thành của chínhsách cai trị độc ác nổi tiếng của thực dân Pháp ở Đông Dơng nói chung và ởViệt Nam nói riêng

Một nguy hại hơn nữa từ chính sách giáo dục của thực dân, đó là chúng

đã thực hiện đợc mục đích - đào tạo tầng lớp ngời thừa hành hay nói cáchkhác là chúng đã đào tạo đợc một tầng lớp tay sai đắc lực để sau này trở thànhnhững tên Việt gian bán nớc, gây trở ngại cho sự độc lập, thống nhất nớc nhà

Nhng bên cạnh những hậu quả tiêu cực nói trên thì chính sách giáo dụccủa thực dân có một tác dụng ngợc lại, trái với ý muốn của thực dân Pháp.Trong hệ thống giáo dục thực dân, luôn luôn âm ỉ trong một bộ phận khôngnhỏ thầy và trò có t tởng yêu nớc, để sau này trở thành những nhà t sản tiến

bộ, những nhà hoạt động yêu nớc, những chiến sĩ cốt cán của Đảng Và, thực

tế việc học dới thời thuộc Pháp đã làm thay đổi hẳn bộ mặt nền giáo dục cổtruyền Một số ngôi trờng đợc dựng nên, theo kiểu “Nhà máy” có bàn ghế,bảng đen, học cụ khố, th viện luân chuyển, phòng thí nghiệm Đó là nhữnghiện tợng xa kia nhà trờng Việt Nam không có Những thể thức cũng mới lạ:hạn tuổi, khai sinh học bạ, đồ dùng dạy học

1.2 ư Khái ư quát ư công ư cuộc ư chống ư nạn ư thất ư học ư trớc nămư1945.

1.2.1 Thời kỳ trớc phong trào Truyền bá Quốc ngữ

Ngời Việt Nam vốn có truyền thống yêu nớc và cách mạng, kiên cờng

đấu tranh bằng mọi hình thức trên mọi mặt trận, chống cờng quyền và áp bức.Chính vì vậy, suốt trong thời kỳ thực dân Pháp xâm chiếm nớc ta, chúng takhông chỉ đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chống áp bức bóc lột mà còn liêntục và mãnh liệt đấu tranh chống lạc hậu, chống thất học

Những năm đầu thế kỷ XX, những sĩ phu yêu nớc luôn lên án chính sáchngu dân, lên án giáo dục tồi tệ của giặc Pháp đối với nhân dân ta

Năm 1907, có phong trào "Đông Kinh nghĩa thục", đây là tên một ờng dạy học t, đợc phép mở ra ở Hà Nội Ngời chủ trì là Lơng Văn Can,Nguyễn Quyền và những sĩ phu yêu nớc Phong trào "Đông Kinh nghĩa thục"

Trang 16

đã dấy lên một phong trào học chữ Quốc ngữ khá rầm rộ ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ,

có nội dung học tập tiến bộ, thiết thực (khác lối học chữ Hán nặng tính chấtsách vở và lý thuyết suông), và có nhiều đổi mới trong các biện pháp tuyêntruyền vận động, tổ chức học Thực dân Pháp lúc đầu cho phép Đông Kinhnghiã thục hoạt động, nhng chỉ mấy tháng sau, chúng hoảng sợ trớc sự ảnh h-ởng của phong trào Chúng coi phong trào này nh "một lò phiến loạn ở BắcKỳ" và kiếm cớ đàn áp thẳng tay Các cụ Lơng Văn Can và Nguyễn Quyền bịbắt, trờng bị đóng cửa, sách báo của trờng bị cấm

Cùng với phong trào "Đông Kinh nghĩa thục" thì thời kỳ này còn cóphong trào "Duy tân" rất sôi nổi Những ngời đề xớng và chủ trì là các nhànho yêu nớc và tiến bộ: Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Văn Huân Cuộc vận động Duy tân diễn ra với nhiều hình thức hoạt động rất phong phú,

mở nhiều trờng dạy học cho thanh niên nam và nữ Nội dung của chơng trìnhhọc mang lại những điều hiểu biết mới mẻ và bổ ích, thiết thực Song vì cha

có cơ sở vững chắc trong quần chúng và nhất là vì thiếu một bộ phận lãnh đạovững chắc, nên cuối cùng phong trào bị bọn thống trị làm cho tan rã

Trong khi ở trong nớc, các phong trào yêu nớc và các cuộc đấu tranhkhác đòi quyền sống, đòi cải thiện công ăn việc làm của nhân dân ta, bị đàn

áp, khủng bố thì ở ngoài nớc Nguyễn ái Quốc đang hoạt động ở nớc Pháp, đãkhông chỉ dừng lại ở việc tố cáo chính sách ngu dân của thực dân Pháp Mỗikhi có dịp, Ngời lại lên tiếng đề ra yêu sách về mở mang giáo dục Khi Chiếntranh thế giới thứ Nhất kết thúc, Ngời đã gửi tới Hội nghị Vecxay một bảnyêu sách nổi tiếng, gồm những điều liên quan đến vận mệnh đất nớc, đếncuộc sống tự do của con ngời Việt Nam Trong bản yêu sách đó, Ngời đã yêucầu phải để cho nhân dân Việt Nam "tự do học tập và mở các trờng kỹ thuật

và chuyên nghiệp cho ngời bản xứ khắp các tỉnh" Kiên trì đấu tranh chống lạichính sách ngu dân do thực dân Pháp cố tình áp đặt trên đất nớc ta nói riêng

và trên toàn cõi Đông Dơng nói chung, Nguyễn ái Quốc còn viết nhiều bàibáo, nhiều cuốn sách liên tiếp để một mặt vạch tội ác giặc Pháp mà chúng cố

ý che giấu, mị dân, mặt khác chỉ ra con đờng cách mạng cụ thể cho nhân dân

ta giác ngộ vùng lên đấu tranh đòi thực hiện

Năm 1927, trong cuốn sách "Đờng kách mệnh", Nguyễn ái Quốc đặcbiệt quan tâm đến việc mở trờng, lớp học cho công nhân, nông dân và concháu của họ Khi nói đến hoạt động của công hội, Ngời viết:

"Lập trờng học cho công nhân

Lập trờng học cho con cháu công nhân

Trang 17

Lập nơi xem sách, xem báo" [66, 241].

Khi nói đến tổ chức dân cày, Ngời viết:

"Tây nó áp bức ta vì ta không thơng yêu nhau, vì ta ngu dốt Có hội hèrồi, trớc là có tình thân ái, sau thì khuyên nhau học hành Chúng ta đã biếtkách mệnh tinh thần, kách mệnh kinh tế, kách mệnh chính trị cũng không xa"[85, 21]

Cuối 1926, đợc sự chỉ dẫn của Nguyễn ái Quốc, những chiến sĩ cáchmạng sau khi đi dự các lớp huấn luyện chính trị do Ngời tổ chức ở QuảngChâu (Trung Quốc) về nớc, ngoài việc hoạt động chính trị ra, còn cùng một

số thanh niên trí thức tiến bộ trong nớc mở ra những lớp dạy đồng bào họcvăn hoá, trớc hết là học chữ Quốc ngữ

Ngày 3 - 2 - 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đợc thành lập TrongChính cơng vắn tắt của Đảng, đã bàn về vấn đề giáo dục: "Phổ thông giáo dụctheo công nông hoá" [31, 18]

Tiếp đó trong lời kêu gọi thành lập Đảng, đồng chí Nguyễn ái Quốcnêu khẩu hiệu: "Thực hành giáo dục toàn dân" [31, 28]

Từ khi đợc sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc chống nạn thất học pháttriển thực sự với một động lực mới, một tính chất mới Công nhân, nông dân

mà trớc hết đảng viên, đoàn viên, các tổ chức cách mạng, quần chúng cảmtình với cách mạng thấy rõ sự cần thiết phải học, phải có tri thức để làm cáchmạng, gắn liền cố gắng học tập với ý chí đấu tranh giải phóng cho mình, giảiphóng cho đất nớc Do đó nảy ra nhiều hình thức, nhiều tổ chức học

ở những nơi có chính quyền cách mạng không khí học tập rất sôi nổi: Lớp học quốc ngữ, tối về chăm học

A, B, C miệng đọc thanh thanhTrông vào lớp mới nh tranhSát vai đầu bạc, đầu xanh chung bàiKết quả là "Phong trào học Quốc ngữ lên rất cao, đêm đêm tiếng a, b vang lên rộn rã khắp xóm thôn” Trong những năm 1931- 1935 phong tràocách mạng tạm thời lắng xuống nhng các lớp học vẫn đợc tổ chức ngay trongcác nhà tù đế quốc Các giáo viên và học viên đã giải quyết sáng tạo nhiềuvấn đề thực tế cụ thể: động viên tinh thần tự giác học tập, gắn nhiều nội dunghọc tập với các yêu cầu của cách mạng, tổ chức linh hoạt và đấu tranh với

địch để đợc học, vừa học vừa dạy đồng chí, đồng thời dùng những thế phẩmthay cho giấy bút, mực, bảng để việc dạy và học tiến hành bình thờng

Trang 18

Trong thời kỳ Mặt trân Dân chủ (1936-1939), lợi dụng những khả nănghợp pháp để hoạt động, công cuộc chống nạn thất học đợc đẩy mạnh và pháttriển.

Đầu năm 1936, Mặt trận Nhân dân Pháp đợc thành lập do Đảng xã hộilàm nòng cốt Chính phủ của Mặt trận Nhân dân Pháp thi hành những chínhsánh tiến bộ đối với các thuộc địa, ảnh hởng đến Đông Dơng Nắm lấy thời cơ

đó, Đảng ta đã lập Mặt trận Dân chủ Đông Dơng, chủ trơng "triệt để lợi dụngnhững khả năng hợp pháp và nửa hợp pháp để tuyên truyền, tổ chức quầnchúng " [30, 24]

Về việc chống nạn thất học, Đảng chủ trơng các tổ chức quần chúngphải tổ chức "các lớp dạy học", các "hội đọc sách báo", "hội văn hoá", "banhọc tối" để kết hợp tuyên truyền và phát triển cơ sở cách mạng Tranh thủhoàn cảnh cách mạng thuận lợi, Đảng phát hành công khai nhiều sách, báoMác xít mở ra nhiều lớp học cho quần chúng lao động Trong cuộc đấutranh của quần chúng, khẩu hiệu chống nạn thất học đợc nêu lên

Sau những hoạt động ấy, để việc chỉ đạo đợc thống nhất và mạnh mẽ,

đầu năm 1938, Đảng bộ Bắc kỳ quyết định vận động thành lập một tổ chứccông khai chống nạn thất học mang tên “Hội truyền bá Quốc ngữ”

1.2.2 Thời kỳ trong phong trào Truyền bá Quốc ngữ

Trớc yêu cầu khẩn thiết của cách mạng và lòng mong mỏi thiết tha củaquần chúng lao động thất học, muốn đợc học, gặp thời cơ phong trào dân chủ

đang dâng cao, đầu năm 1938 một số đảng viên cộng sản đã cùng với một sốnhân sỹ trí thức họp bàn để tiến tới có đựơc một tổ chức công khai chống nạnthất học

Để thực hiện, Đảng giao cho đồng chí Trần Huy Liệu, đảng viên hoạt

động công khai và các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai, PhanThanh (giáo s trờng Thăng Long) liên hệ với một số nhân sỹ và trí thức tiến

bộ cùng có chí hớng chống nạn thất học Hội truyền bá Quốc ngữ đợc thànhlập vào ngày 29 - 7 - 1938, do Nguyễn Văn Tố làm Hội trởng cùng với Ban trị

sự Hội: đồng chí Võ Nguyên Giáp làm Trởng ban dạy học; Phan Thanh làmTrởng ban cổ động và Đặng Thai Mai thủ quỹ của Hội Đảng còn cử nhiều

đảng viên và đoàn viên thanh niên dân chủ tham gia công tác ở phòng thờngtrực của Hội và ở các ban chuyên môn, nhất là ở ban dạy học và cổ động

Hội truyền bá Quốc ngữ lập ra với hai mục đích: Trớc hết, dạy cho

đồng bào Việt Nam biết đọc, biết viết tiếng của mình để dễ học đợc những

điều thờng thức cần dùng cho sự sinh hoạt hằng ngày; Thứ hai, cốt làm cho

Trang 19

mọi ngời Việt Nam viết chữ Quốc ngữ giống nhau Mục đích thực tế và tứcthời là nh vậy, nhng mục đích sâu xa của Hội là dọn đờng cho việc tuyêntruyền cách mạng, giúp cho sự giác ngộ đấu tranh chống đế quốc, giải phóngdân tộc.

Hội đặt ra chơng trình hoạt động của mình:

Thứ nhất, mở lớp học Có hai loại lớp học cho hai bậc học, lớp học bậc

sơ đẳng dạy vỡ lòng cho học viên đọc, viết chữ Quốc ngữ và làm đợc hai phéptính cộng, trừ; lớp học bậc cao đẳng luyện cho học viên đọc, viết thông chữQuốc ngữ và dạy thêm ít điều thờng thức và bốn phép tính Để việc truyền báQuốc ngữ đợc mau chóng, Hội yêu cầu những ngời đã đợc Hội dạy cho biếtchữ phải cố gắng dạy lại cho một số ngời thất học khác xung quanh mình

Thứ hai, tổ chức các cuộc diễn thuyết Nhằm giảng dạy, phổ biến

những điều thờng thức cho đồng bào ta

Thứ ba, xuất bản sách Nhằm bổ khuyết việc học ở lớp, Hội chủ trơng

biên soạn và xuất bản loại sách thờng thức phổ thông về sử ký, địa lý, vệ sinh,khoa học để phổ biến rộng rãi trong nhân dân

Thứ t, lập th viện bình dân Hội định tổ chức hai loại th viện, đó là th

viện mở những nơi nhất định vừa cho mợn sách, vừa tổ chức việc đọc sách tạichỗ; th viện luân chuyển, lu động

Ngoài ra, Hội cũng tính đến việc khi nào điều kiện cho phép dùngnhững phơng tiện tối tân nh phát thanh các bài nói chuyện về thờng thức khoahọc, chiếu phim, phục vụ thiết thực cho đồng bào

Sau ngày Hội truyền bá Quốc ngữ đợc thành lập chính thức, Ban trị sựHội đã họp và xúc tiến chơng trình hoạt động của Hội Đó là tập trung vàoviệc mở lớp học càng sớm càng tốt, những lớp đầu tiên của Hội, Hội đã tuyêntruyền vận động từng giới, những ngời tích cực tham gia vào công tác củaHội, lực lợng chính là thanh niên, học sinh, sinh viên, xây dựng quỹ Hội, rồibiên soạn sách giáo khoa của Hội

Hội đã in đợc cuốn "Vần Quốc ngữ" Sách có hai phần: Phần một, hớngdẫn giáo viên của Hội phơng pháp dạy vỡ lòng, chữ Quốc ngữ theo cách mới

do Hội sáng tạo ra; Phần hai, tập vần vỡ lòng dành cho học viên

Trớc đây, để dạy vỡ lòng, tức dạy vần quốc ngữ, phơng pháp truyềnthống là phơng pháp "đánh vần từng chữ": trớc hết cho học các chữ cái từ a, b,

c đến x, y; rồi cho học các vần bằng, vần trắc; cuối cùng cho tập đánh vần,tức chắp tiếng bằng cách đọc từng chữ Ví dụ: Vê - i - vi - e - vê - tê - viếtnặng việt, en - nờ - a - na - em - mờ - nam Theo phơng pháp đó, một thời

Trang 20

gian dài đầu tiên, ngời học chỉ ê a học chữ, học vần, gây một sự chán nản kéodài Dạy theo phơng pháp này ngời lớn dễ sinh chán, vì những ngời này, vốncha đợc học, cha quen học, lại lớn tuổi, trí óc đã phần nào cằn cỗi, nếu dạykhông cụ thể, thì khó hiểu, khó tiếp nhân; họ lại rất bận bịu lo việc sinh sốnghằng ngày, nên rất tiếc thời giờ, nếu dạy không vui, không thiết thực, bổ ích

đối với họ thì khó hấp dẫn họ, họ dễ bỏ dở việc học

Để tránh tình trạng ấy, Hội đã nghiên cứu một phơng pháp dạy vỡ lòngmới, là "phơng pháp đọc lên thành tiếng", một cải tiến quan trọng trong ph-

ơng pháp dạy cho ngời mới học đọc, học viết, trở thành phơng pháp chínhthức của Hội truyền bá Quốc ngữ và bình dân học vụ sau này

Theo phơng pháp này, học chữ cái không theo thứ tự a, b, c mà học từchữ ít nét đến chữ nhiều nét, chữ dễ viết đến chữ khó viết, các chữ cái đợc dạythành từng nhóm có nét chữ giống nhau ( i - t, u - - n - m ) Học chữ cái xenvới học vần, ghép chữ với chữ hay chữ với vần để chắp tiếng, chắp từ và chỉsau một số bài đầu đã sớm tập đọc những bài ngắn có nội dung gần gủi với

đời sống của ngời lớn

Thí dụ: Học chữ i là chữ chỉ có một nét, và chữ t là một chữ gần tơng

tự, rồi ghép chữ t (đọc là tờ) với chữ i thành tiếng ti (tờ - i = ti) và giải thíchcho dễ hiểu, dễ nhớ, nh là "bé ti ti" Sau khi viết mẫu, đọc mẫu và đọc đồngthanh, cho viết tập ở bảng con, giáo viên còn tả hình dáng hai chữ đã học (i, t)rồi đọc một câu ca dao cho học sinh đọc đồng thanh:

"i, t giống móc cả hai

i ngắn có chấm, t dài có ngang"

Hay bài o, ô, ơ thì có hai câu thơ:

"o tròn nh quả trứng gà ô thì đội mũ, ơ là thêm râu"

Cách dạy nh vậy làm cho học viên vui, dễ nhớ và nhớ lâu Theo phơngpháp này, để có thể học thông, viết thạo chữ Quốc ngữ, mỗi học viên chỉ cầnhọc 80 tiếng Nh vậy, nếu mỗi ngày học đợc 4 tiếng thì chỉ cần 20 hôm là đãqua đợc cửa ải "mù chữ" Song những học viên của Hội hầu hết là những ngờilao động vất vả, mệt nhọc, thờng mỗi ngày chỉ học đợc 1 tiếng rỡi đến 2 tiếng

và cũng không đi học đợc liên tục, đều đặn, cho nên Hội quy định mỗi khoáhọc từ 3 đến 4 tháng

Hơn một tháng sau khi đợc phép thành lập, Hội đã khai giảng đợc khoáhọc đầu tiên vào ngày 9 - 9 - 1938 ở hai khu trờng Trí Tri và Thăng Long (HàNội) với hơn 800 học sinh Ngày 8 - 2 - 1930, khoá học đầu tiên kết thúc Sau

Trang 21

một tháng rút kinh nghiệm và chuẩn bị thêm, ngày 10 - 3 - 1939, Hội khaigiảng khoá thứ hai ở bốn khu trờng, với hơn 1000 học sinh

Mặc dù đã cho phép Hội hoạt động, bọn thống trị thực dân vẫn tìm mọicách gây khó khăn ở Hà Nội chúng cho mật thám trà trộn vào các cuộc họp,nhất là của ban dạy học để theo dõi hoạt động của giáo viên Nhiều lần chúngkiếm cớ có giáo viên của Hội tham gia các cuộc mít tinh, biểu tình, rải truyền

đơn ở đờng phố để đến khám xét phòng thờng trực của Hội, nhà ở một số giáoviên và chất vấn Hội trởng

Trớc tình hình nh vậy, Đảng đã dự tính đề phòng trớc những tình huống

ấy Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng Đảng tháng 3 năm 1938,

có đoạn viết: "chớ đợc chính trị hoá các tổ chức quần chúng công khai và báncông khai của Đảng" [35, 21]

Lúc này bọn thống trị thực dân vẫn tìm mọi cách kìm hãm sự phát triểncủa hội Trớc Chiến tranh thế giới thứ Hai, ngoài bốn khu trờng mở đợc ở nộithành Hà Nội, Hội truyền bá Quốc ngữ Bắc Kỳ chỉ phát triển đợc hai cơ sở ởHải Phòng, Việt Trì và mỗi cơ sở này cũng chỉ mở đợc một vài lớp học

ở Trung Kỳ, mặc dù Khâm sứ Pháp gây nhiều khó khăn, nhng do hoạt

động tích cực của đồng chí Phan Đăng Lu, Hải Triều, Tôn Quang Phiệt, liên hệvới các nhân sỹ và trí thức tiến bộ đã thành lập đợc Hội truyền bá Quốc ngữTrung Kỳ, đợc phép của Khâm sứ Trung Kỳ vào ngày 5 - 1 - 1939

Tháng 9 - 1939, Chiến tranh thế giới lần thứ Hai bùng nổ Bọn thống trịthực dân khủng bố phong trào cách mạng gay gắt Nhng chúng không có cớgì can thiệp vào Hội truyền bá Quốc ngữ, Hội vẫn hoạt động theo điều lệ củaHội đã đợc chuẩn y Từ cuối khoá học thứ 2, vào giữa năm 1939 sau khi đãvận động đợc nhiều thành viên, học sinh, sinh viên và công chức tham gia dạyhọc, nhiều giáo viên là đảng viên và đoàn viên thanh niên dân chủ đã dần dầnthôi dạy học cho Hội Tháng 5 - 1939 đồng chí Phan Thanh, thành viên Bantrị sự chuyển vào hoạt động bí mật Đảng phải tiếp tục lãnh đạo phong tràothông qua các đảng viên và cảm tình đảng, còn các hoạt động vẫn bình thờngtrong Ban trị sự và các Ban chuyên môn của Hội Khác với thời kỳ Mặt trậndân chủ, trong thời kỳ 1939 - 1945, Đảng phải hoạt động hoàn toàn bí mật, sựlãnh đạo của Đảng đối với Hội phải kín đáo hơn, có khó khăn hơn

Tuy vậy, Đảng vẫn liên tục quan tâm lãnh đạo phong trào chống nạnthất học chặt chẽ và đúng đắn Tháng 11 năm 1939, nghị quyết Hội nghị Banchấp hành Trung ơng Đảng chỉ ra: " Cứ mở rộng những tổ chức văn hoá nhHội truyền bá Quốc ngữ, lớp dạy tối "; và lần đầu tiên cùng với khẩu hiệu:

Trang 22

"Chống nạn mù chữ" [35, 22], Đảng đã nêu thêm khẩu hiệu đấu tranh "Phổthông giáo dục cỡng bách" Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ơng

Đảng lần thứ VII tháng 11 - 1940 và nhiều nghị quyết về sau nêu rõ hơn: ỡng bách giáo dục tới bậc sơ học, thủ tiêu nạn mù chữ" [35, 22]

"C-Nh vậy, đợc sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, mặt khác đợc rèn luyệnqua thực tế và đấu tranh, các đảng viên, đoàn viên, hội viên, các tổ chức quầnchúng của Đảng còn hoạt động đợc bình thờng trong Hội và Ban Trị sự Hội

đã tỏ rõ ý thức, chủ động và lập trờng vững vàng Cho nên Hội đã tiếp tụcphát triển đợc và kiên quyết tránh đợc sự lợi dụng của thực dân Pháp và phátxít Nhật Hội đã từ chối không in lại quyển "Lên tám" của Nguyễn Khắc Hiếutrong đó có những đoạn ca tụng "Nhà nớc bảo hộ Pháp”, cũng nh cuốn sáchtán dơng chính sách Đại Đông á của Nhật

Tháng 6 - 1940, Chính phủ Pháp đầu hàng phát xít Đức ở Đông Dơng,phát xít Nhật nhảy vào chiếm đóng quân ở một số nơi, tuyên truyền thuyết

Đại Đông á, mở các lớp dạy tiếng Nhật Phát xít Nhật và thực dân Phápcùng "đè đầu cỡi cổ" ngời Việt Nam, cùng "bắt tay" nhau để đàn áp cáchmạng Việt Nam, nhng giữa chúng với nhau, nh "hai con chó tranh một conmồi", mâu thuẫn nhau dẫn đến một mất một còn

Lúc này tình hình Việt Nam hết sức phức tạp, rối ren Chính quyềnthực dân Pháp đã rệu rạo, càng ngày càng tạo ra bất lực hơn, suy sút hơn

Điều kiện khách quan này rất có lợi cho cách mạng Việt Nam

Đối với phong trào truyền bá Quốc ngữ, tình hình xấu đi nh trên củachính quyền thực dân, cũng là điều kiện rất thuận lợi cho Hội đẩy mạnh cáchoạt động Nắm lấy thời cơ mới, Hội đã kịp thời đa yêu sách đòi bọn cầmquyền thực dân Pháp nới rộng phạm vi hoạt động của Hội, trớc tiên là phải đểcho Hội mở thêm trờng, lớp ở ngoại thành Hà Nội Chúng đã buộc phải nhợng

bộ Từ tháng 11 - 1940, Hội đã phát triển lớp học về các làng ở xung quanh

Hà Nội và các tỉnh thuộc Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hng Yên…

Trong những năm 1942, 1943, 1944 lợi dụng sự lo lắng của bọn thốngtrị Pháp trớc sự bành trớng của nền văn hoá phát xít Nhật ở Đông Dơng, nhất

là phong trào truyền bá học tiếng Nhật rầm rồ ngay giữa thủ đô Hà Nội, Hội

đã vận động ráo riết buộc thực dân Pháp phải cho phép lập chi nhánh ở cáctỉnh

ở Trung Kỳ, năm 1943 ngoài chi hội tại Thừa Thiên, Hội truyền báQuốc ngữ Thanh Hoá ra đời, ngày một phát triển và đặt nền móng cho sự pháttriển công tác thanh toán nạn mù chữ sau Cách mạng tháng Tám Tính đến

Trang 23

tháng 9 - 1944 số học viên đã đợc Hội truyền bá Quốc ngữ Trung Kỳ dạy chobiết đọc, biết viết là 9.458 ngời, một con số còn ít ỏi so với hàng triệu đồngbào ta ở miền Trung, còn mù chữ lúc đó.

Trong thời kỳ này, do phạm vi hoạt động của Hội đợc mở rộng và nhucầu về mọi mặt của phong trào Quốc ngữ ngày càng tăng, Hội đã phải tăng c-ờng và tổ chức quản trị, chuyên môn nghiệp vụ và cả tinh thần t tởng Phongtrào lên cao, Hội truyền bá học Quốc ngữ đã triệu tập một Hội nghị giáo khoatoàn quốc Có 700 đại biểu các chi nhánh Bắc Kỳ và Trung Kỳ tới dự vào 2ngày 29 và 30 - 7 - 1944, để ấn định chơng trình cho toàn quốc Đây là sựkiện quan trọng đánh dấu bớc tiến mới của Hội truyền bá Quốc ngữ Do đó

mà Hội có đà phát triển mạnh, lập đợc các chi nhánh ở hầu khắp các tỉnh lớn

ở Bắc và Trung kỳ, Nam kỳ Còn ở Cao Miên và Ai Lao các kiều bào ViệtNam cũng đã mở đợc những lớp học ở Nam Vang (Cao Miên), Vạn Lợng vàPaskse (Ai Lao)

Năm 1944, có nhiều chuyển biến lớn mang tính chất quyết định trongtình hình chung của thế giới lúc đó Ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật

đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dơng Trớc tình hình đó , Đảng đã nắmvững những diễn biến mới của tình hình trong nớc và thế giới Đảng đã dự

đoán trớc sớm muộn Nhật sẽ lật đổ Pháp làm binh biến, đảo chính Vì vậy,

Đảng đã kịp giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân ý thức tranh thủ thời gian,chuẩn bị lực lợng chờ thời cơ nổi dậy, giành chính quyền Ngời dân Việt Namsống quá cơ cực đã bị giặc xâm lợc dày xéo, bị giặc dốt làm mê muội, lại bịgiặc đói diệt hại làm cho kiệt quệ Trong tình hình đó, Đảng và Mặt trận ViệtMinh phát động Cao trào khánh Nhật cứu nớc

Chúng ta biết rằng, Mặt trận Việt Minh thành lập tháng 5 - 1941, đề ramột chơng trình hành động gồm 10 chính sách lớn, trong đó có việc "xâydựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cỡng bách giáodục đến nền sơ cấp" Hồ Chí Minh chủ trơng "phong trào Việt Minh tới đâu,

tổ chức học văn hoá ở đó Ngời biết dạy ngời không biết, ngời biết nhiều dạyngời biết ít"[85, 24] Hồ Chí Minh cũng tham gia dạy học: lúc đầu, Bác dạymỗi ngời ba chữ, sau tăng lên năm chữ, rồi mời chữ Phơng pháp của Bác làdạy chữ cái sau đó tập ghép vần đơn giản để ứng dụng ngay: Bác lấy một hòncuội viết lên mặt đá chữ a, rồi Bác đọc trớc cho mọi ngời đọc theo sau Bácviết tiếp chữ i lên cạnh chữ a rồi lại đọc ai Dạy đợc một chữ Bác lại dạy mộtcâu

Trang 24

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn giao cho đồng chí Cao Hồng Lãnh soạn một

bộ vần dạy chữ thích hợp với đồng bào dân tộc ít ngời ở vùng căn cứ Đồngchí Cao Hồng Lãnh đã soạn đợc bộ chữ ấy, gồm 50 bài học, còn soạn nhiềubài thơ, bài hát để động viên đồng bào đi học, ở nơi nào có cơ sở Việt Minh,

là có lớp học Nhiều nơi già, trẻ, trai, gái đều học, học vào ban đêm hoặc buổitra ở những "làng xã Việt Minh hoàn toàn", trờng học mở công khai

Tháng 4 - 1945, khu giải phóng Việt Bắc đợc thành lập Tổng bộ ViệtMinh ra chỉ thị, nêu nhiệm vụ của các Uỷ ban giải phóng là: "tổ chức việcchống nạn mù chữ" Nghị quyết hội nghị cán bộ Việt Minh ngày 4 - 6 - 1945cũng nêu việc: "mở lớp dạy quốc ngữ, mở trờng sơ cấp cứu quốc" Ngoài khugiải phóng Việt Bắc, việc mở các lớp dạy chữ còn đợc tiến hành ở các chiếnkhu và vùng giải phóng khác, và cũng đợc tổ chức trong các đơn vị giải phóngquân

ở các khu giải phóng và các đơn vị giải phóng quân, các cán bộ, chiến

sỹ và các đồng bào biết đọc, biết viết rồi, đợc học thêm những kiến thức phổthông và đợc đọc báo "Việt Nam độc lập" Hồ Chí Minh chủ trơng viết báonày dễ hiểu, hợp với trình độ đồng bào ở căn cứ địa Việt Bắc Hồ Chí Minhcòn viết nhiều bài thơ, ca cho mọi ngời dễ đọc, dễ nhớ và dễ truyền bá rộngrãi nh: Lịch sử diễn ca, mời điều của chơng trình Việt Minh, địa d Bắc Kỳ,

địa d Cao Bằng và các bài ca động viên thanh niên, phụ nữ, nông dân, côngnhân, phụ lão, binh sỹ cứu quốc

ảnh hởng của Việt Minh lan rộng, thấm sâu trong quần chúng nhândân các dân tộc trên phạm vi cả nớc Trong không khí sôi sục cách mạng đó,Hội truyền bá Quốc ngữ chủ trơng chớp lấy thời cơ, mở rộng phong trào Mộtmặt, Hội mở thêm nhiều trờng lớp ở các vùng nông thôn; mặt khác, tăng cờngviệc liên hệ với các tỉnh, lập thêm nhiều chi nhánh mới đẩy mạnh công cuộcchống nạn thất học, đồng thời phục vụ sự nghiệp cách mạng đắc lực hơn

Để thực hiện đợc chơng trình trên, Hội đã tăng cờng về mọi mặt Đặcbiệt ở các lớp huấn luyện do ban dạy học của Hội tổ chức, ngoài những vấn

đề về chuyên môn, nghiệp vụ Anh chị em giáo viên còn đợc nghe nói về "ýnghĩa việc thanh niên tham dự Hội truyền bá quốc ngữ" Qua đó, nhiều ngờinhận thức đợc rằng: Đối với đồng bào thất học, là những ngời bị thiệt thòinhiều, đã thiếu thốn về vật chất lại khổ về tinh thần, tình cảm, thì anh chị emthanh niên có học phải đảm đơng trách nhiệm giúp đỡ đồng bào mình đợchọc

Trang 25

Thanh niên có học cần phải tham gia Hội truyền bá Quốc ngữ Dạy chữquốc ngữ cho đồng bào là giúp đỡ cho đồng bào mau chóng thoát khỏi cái tệnạn thất học do thực dân Pháp gây nên.

ở thời kỳ này, Nhật, Pháp ra sức đề xớng khuyến khích phong trào ănchơi, sa đoạ, "vui vẻ trẻ trung", cũng nh tổ chức các cuộc thi thể thao rầm rộ

để thu hút, làm lạc hớng thanh niên trớc phong trào cách mạng đang lên, do

đó Hội truyền bá Quốc ngữ đã thu hút đợc nhiều thanh niên tham gia

Để động viên tinh thần hăng say làm việc của giáo viên và tăng cờngtinh thần đoàn kết, thân ái giữa các giáo viên, Hội đã áp dụng nhiều hìnhthức, thờng xuyên tổ chức nhiều buổi thăm hỏi giữa giáo viên, những buổi đicắm trại, đi thăm các di tích thắng cảnh và các di tích lịch sử, những buổi họpbạn giáo viên, gia đình giáo viên, có tổ chức trao đổi kinh nghiệm giảng dạy,trng bày kết quả giảng dạy, biểu diễn văn nghệ v.v vừa bổ ích, vừa vui, thêmtình thân mật Nhiều vị thân hào, nhà hảo tâm và đồng bào các địa phơng sởtại đã đến thăm các buổi họp bạn giáo viên, gia đình giáo viên tặng các giáoviên những vật lu niệm, những bài thơ động viên nh sau:

"Tiến lên anh! Tiến lên anh!

Tiêu trừ giặc dốt, cứu nhanh đồng bào

Cố lên anh! Cố lên anh!

Mau mau đem chữ nớc mình truyền ra

Khắp trong tầng lớp trẻ, già

Để mai họ sẽ cùng ta lên đờng

Giặc dốt diệt, Việt Nam cờng!

Nêu cao khẩu hiệu trên trờng đấu tranhHỡi các anh! Hỡi các anh!

Trông ngời tiến trớc ta nhanh kịp đàTơng lai của nớc non nhà

Dở, hay, trách nhiệm do ta một phầnNào anh em khắp gần xa,

Giơ tay hô lớn: Tinh thần Việt Nam Bất diệt muôn năm!" [84, 94]

Sau những cuộc "họp bạn" về anh chị em còn khắc sâu trong tâm trímình đôi câu đối:

"Nghĩa lớn bình Ngô truyền đại cáoChí thành diệt dốt dựng tơng lai"

Trang 26

Và khẩu hiệu: "Dạy học giúp Hội truyền bá Quốc ngữ là bổn phận củangời biết chữ đối với đồng bào nghèo thất học!" [84, 95].

Lúc này cùng với cả nớc, phong trào truyền bá Quốc ngữ ở Trung Kỳcũng có nhiều chuyển biến mới Hội truyền bá Quốc ngữ ở Trung Kỳ đã tăngcờng hoạt động và trớc hết phải kiện toàn tổ chức, cũng cố giáo dục hai ban

cổ động và dạy học Vì thế, ban cổ động đã tổ chức một số uỷ ban nh uỷ bancông chức, uỷ ban học sinh, uỷ ban hớng đạo, uỷ ban mỹ thuật Mục đích là

để giúp Hội: tổ chức các cuộc vui nhằm gây quỹ cho Hội, giúp Hội điều kiệnvật chất để hoạt động; tìm cách áp dụng nhiều biện pháp tuyên truyền nângcao thanh thế của Hội; cổ động thu nhập thêm giáo viên, hội viên Theo chủtrơng của Hội truyền bá Quốc ngữ Trung Kỳ, các chi Hội ở các tỉnh đều có kếhoạch mở rộng phạm vi hoạt động của mình, bằng cách mời thêm hội viên và

cổ động thêm giáo viên để có thể mở rộng thêm nhiều lớp học chống nạn mùchữ ở Thanh Hoá, ngoài việc mở những lớp học, năm 1944 chi Hội truyền báQuốc ngữ Thanh Hoá đã tổ chức những cuộc mở quyên góp lấy tiền muagiấy, bút, phấn cho học viên

Nh vậy, nhờ có tinh thần "Hy sinh, kiên quyết, kỷ luật và thân ái" củacác chiến sỹ truyền bá quốc ngữ, nhờ có sự ủng hộ của nhân dân, Hội truyềnbá Quốc ngữ Trung Kỳ nói chung và chi Hội truyền bá Quốc ngữ Thanh Hoánói riêng trong 6 năm hoạt động đã thu đợc nhiều thành tựu to lớn trong sựnghiệp phổ biến chữ Quốc ngữ, chống nạn thất học và nâng cao dân trí chotầng lớp nhân dân không biết chữ Đó chính là những chiến sỹ cách mạng vừadạy học, vừa tuyên truyền t tởng tiến bộ vừa hoạt động Đặc biệt, Hội truyềnbá Quốc ngữ Trung Kỳ đã gây đợc trong dân chúng một ảnh hởng về xã hội

và chính trị không nhỏ Hơn thế nữa phong trào Truyền bá Quốc ngữ đã để lạicho Bình dân học vụ sau ngày Cách mạng tháng Tám một di sản quý giá, đó

là một số đông đảo cán bộ trung kiên và thành thạo; một phơng pháp giảngdạy thích hợp; đón nhận đợc cảm tình nồng nàn của nhân dân, nhất là của 5vạn học viên của Hội, đối với công cuộc chống nạn mù chữ

Chơngư2 BìnhưdânưhọcưvụưởưThanhưHoáưtrongưnămưưđầuưtiên

củaưchếưđộưDânưchủưnhânưdânư(1945ư-ư1946)

Trang 27

2.1 ư chủ ư trơng, ư nhiệm ư vụ, ư biện ư pháp ư và ư phơng ư thức hoạtưđộngưcủaưbìnhưdânưhọcưvụưởưThanhưhoá

2.1.1 Bối cảnh lịch sử và chính sách "diệt giặc dốt" của chính quyền cách mạng ở Thanh Hoá sau Cách mạng tháng Tám

Cách mạng tháng Tám thành công, nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra

đời, xã hội Việt Nam từ một xã hội thuộc địa nửa phong kiến chuyển lên xãhội Dân chủ Cộng hoà Đối với nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành những ng-

ời làm chủ đất nớc Đất nớc ta bớc vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độclập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội:

"Cách mạng tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mơi thế kỷ, đã

đánh tan xiềng xích gần 100 năm, đã đa chính quyền lại cho nhân dân, đã xâydựng nền tảng cho nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Độc lập, tự do, hạnhphúc" [68, 469]

ở Thanh Hoá, cuộc Tổng khởi nghĩa đã giành thắng lợi trọn vẹn ở tạithị xã Thanh Hoá - trung tâm chính trị, văn hoá của Tỉnh vào ngày 20 tháng 8

- 1945 Cùng ngày, Uỷ ban cách mạng lâm thời Tỉnh ra mắt đồng bào Đó làthành công chói lọi của nhân dân tỉnh Thanh Hoá, đợc Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo, đã tự mình giải phóng cho mình khỏi ách thống trị của thựcdân Pháp, quân phiệt Nhật và triều đình phong kiến tay sai, góp phần vàothắng lợi chung của cả nớc

Thanh Hoá bớc vào thời kỳ mới trong những thuận lợi lớn Đất nớc đãgiành đợc độc lập, tự do, chế độ thuộc địa nửa phong kiến lâu đời hoàn toàn

bị xoá bỏ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân Chế độ dân chủ nhân dân đợcthiết lập là hết sức u việt, hợp lòng dân và trào lu tiến bộ của thế giới

Chiến tranh thế giới lần thứ Hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị diệtvong, một loạt nớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu ra đời cùng hợp thành hệ thốngxã hội chủ nghĩa do Liên Xô làm trụ cột Phong trào giành độc lập và giảiphóng dân tộc dâng cao khắp năm châu Thắng lợi đó là nguồn cổ vũ to lớn,củng cố lòng tin, tăng thêm sức mạnh cho cách mạng Việt Nam Từ thành thị

đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngợc, nhân dân ta vô cùng phấn khởi

đón chào thắng lợi, tin tởng vào Đảng và Chính phủ Cách mạng lâm thời đứng

đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, sẵn sàng đem hết sức mình xây dựng cuộc sốngmới và bảo vệ thành quả cách mạng

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó, lúc này, Thanh Hoá cũng nh cảnớc gặp những khó khăn, thách thức vô cùng nghiêm trọng

Trang 28

Kinh tế của Tỉnh suy kiệt do chiến tranh tàn phá và Pháp, Nhật vơ vét.Hậu quả nặng nề của nạn đói từ đầu năm 1945 làm cho hàng vạn ngời chết,hàng ngàn gia đình tan nát, hàng trăm thôn xóm điêu tàn cha kịp khắc phụcthì thiên tai lại dồn đến Sau vụ chiêm hạn hạn kéo dài, đồng điền khô hạn,lúa màu tàn héo Trên một nửa diện tích canh tác bị bỏ hoang Tới lúc thuhoạch lại bị bão lụt to, tiếp đó bệnh dịch tả, đậu mùa, dịch gia súc xảy ranhiều nơi Sau Tổng khởi nghĩa nạn, đói và dịch bệnh vẫn tiếp tục hoành hànhtrên diện rộng.

Công nghiệp vốn đã nhỏ bé nay lại càng đình đốn Đời sống nhân dânvô cùnh khó khăn, hàng nghìn viên chức, binh lính của chính quyền cũ mấtviệc, không lơng, đang chờ chính sách

Chính sách ngu dân của thực dân, phong kiến để lại nhiều hậu quả taihại Đặc biệt, nạn mù chữ rất nghiêm trọng, hơn 90% dân số mù chữ Đây đợcxem là khó khăn lớn liên quan không chỉ về mặt tinh thần mà nó ảnh hởng

đến mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và quốc phòng Bởi vì không biết chữ thìkhông hiểu đợc quyền lợi của mình, không đóng góp đợc công sức vào xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Trờng lớp hoang tàn, dịch vụ y tế rất khó khăn, cácnhà thơng thiếu thuốc, thiếu y cụ Những tàn tích văn hoá lạc hậu (nghiện rợu,thuốc phiện, mại dâm, mê tín dị đoan ), đang hoành hành

Trong khi đó, cả đất nớc đứng trớc mối đe doạ của thù trong giặcngoài, trực tiếp là nạn ngoại xâm đang uy hiếp Theo phân công của ĐồngMinh vào nớc ta giải giáp quân đội Nhật, từ cuối tháng 8 - 1945 ở miền Bắc,

20 vạn quân Tởng kéo vào chiếm lĩnh vị trí từ biên giới phía Bắc đến thị xãHội An Hàng vạn quân Anh - ấn đổ quân triển khai ở Nam Bộ và NamTrung Bộ Nhng trên thực tế, xuất phát từ âm mu thù địch, chống cộng, lo sợtrớc trào lu độc lập dân tộc, các đội quân này "mợn tiếng quân Đồng Minhvào tớc vũ khí quân Nhật, quân đội Anh ở miền Nam đã che chở cho quânPháp kéo vào; quân đội Tởng ở miền Bắc đang thực hiện dã tâm tiêu diệt

Đảng ta, phá tan Việt Minh, giúp bọn phản động Việt Nam đánh đổ chínhquyền nhân dân để lập một chính phủ phản động làm tay sai cho chúng" [68,471]

Thực hiện âm mu đó, ngay sau khi quân Anh - ấn kéo vào miền Nam,bọn tàn quân Pháp núp bóng quân Anh đã gây hấn dùng vũ lực đánh chiếmSài Gòn Nhân dân ta lập tức đánh trả mở đầu cuộc kháng chiến Nam Bộ, vàongày 23 - 9 - 1945 ở miền Bắc ngày 24 - 9 - 1945 quân Tởng lũ lợt trànxuống Đi theo chúng là các đảng phái phản động lâu nay sống lu vong bên

Trang 29

Tàu; hung hăng nhất có Quốc dân đảng (Việt Quốc) và Việt Nam cách mạng

đồng minh Hội (Việt Cách) cùng một số đầu sỏ phản động đội lốt "chí sĩ" nhNguyễn Hải Thần, Nguyễn Tờng Tam với âm mu thâm độc "Hoa quân nhậpViệt" nhằm thực hiện ý đồ bành trớng Quân Tởng và bọn tay sai phản động

đã điên cuồng hoạt động quấy phá gây cho ta nhiều khó khăn

Tàn quân Pháp phục hồi lại, tụ tập ở nhiều nơi dọc biên giới Việt - Trung

và Việt - Lào chờ thời quay trở lại khôi phục quyền thống trị đất nớc ta

Sát biên giới miền Tây, chúng còn khai lập đồn bốt bên đất Lào tập kếtquân ở một số nơi, tập trung ở Na - Pê và Noọng Hét Chúng ráo riết hoạt

động gián điệp, móc nối với bọn Việt gian phản động các vùng miền Tây để

mộ thêm lính, lôi kéo làm tay sai An ninh biên giới rất căng thẳng

Các phần tử phản cách mạng, thù ghét cộng sản, bọn mật thám quan lại

có nợ máu với nhân dân, có lợi ích gắn liền với thực dân phong kiến tuy ngoàimặt chịu phục tùng nhng bên trong ngấm ngầm móc nối tụ tập và hoạt độngchống phá ta

Trong tình thế giặc ngoài, thù trong, nạn đói, nạn dốt cùng một lúc đènặng lên đất nớc ta, đặt chính quyền cách mạng trớc một tình thế "ngàn cântreo sợi tóc" Vận mệnh độc lập tự do của dân tộc vừa mới giành đợc đang

đứng trớc nguy cơ mất còn

Đứng trớc những khó khăn tởng chừng không thể vợt qua ấy, Đảng vàNhà nớc ta do Hồ Chủ tịch đứng đầu đã kịp thời xác định một sách lợc hết sứcmềm dẻo để đối phó với tình hình Nhiệm vụ chủ yếu của toàn Đảng, toàn dânlúc này là "đấu tranh giữ vững chính quyền cách mạng" Chỉ thị Kháng chiếnkiến quốc, ngày 25 - 11 - 1945 của Trung ơng Đảng đã vạch rõ:

Củng cố chính quyềnChống thực dân Pháp xâm lợcBài trừ nội phản

Cải thiện đời sống nhân dân

Nạn dốt và những hậu quả khác do chính sách ngu dân của thực dân Pháp

để lại đang trở thành những kẻ đồng loã với kẻ thù xâm lợc lúc bấy giờ

Trên thực tế, khi nhân dân ta giành đợc chính quyền, nhiều thôn xãthiếu hẳn ngời đọc thông viết thạo đợc nhân dân tín nhiệm giao phó nhữngnhiệm vụ quan trọng đó là cha kể đến những yêu cầu về cán bộ cần cho cácngành quân sự, kinh tế, văn hoá của đất nớc Tình hình khẩn cấp trên đây đặt

ra cho giáo dục phải cùng một lúc tập trung sức chống nạn mù chữ và mở cáctrờng đào tạo cán bộ, nhân tài cho đất nớc Về nhiệm vụ này, chỉ thị Khángchiến kiến quốc viết: "Tổ chức Bình dân học vụ, tích cực bài trừ nạn mù chữ,

Trang 30

mở đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cáchdạy học nhồi sọ".

Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Hồ Chủ tịch đứng đầu

đã đề ra những chủ trơng đầu tiên nhằm giải quyết những yêu cầu cấp bách vềgiáo dục

Ngày 2 - 9 - 1945, sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Chính phủlâm thời đọc bản “Tuyên ngôn Độc lập”, khai sinh nớc Việt Nam Dân chủCộng hoà, Bộ trởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đọc diễn văn về chính sách

đối nội và đối ngoại của chính phủ, tuyên bố rằng: Nền giáo dục mới đang ởthời kỳ tổ chức Chắc chắn là bậc sơ học sẽ cỡng bách Trong thời hạn rấtngắn, sẽ ban hành lệnh bắt buộc học chữ quốc ngữ để chống nạn mù chữ đếntriệt để Vấn đề vô cùng quan trọng ấy, chúng ta chẳng chờ đến lúc sự sinhhoạt trở nên bình thờng mới giải quyết Ngay trong hoàn cảnh éo le này,chúng ta cũng quả quyết tiến hành

Chống nạn thất học là một trong sáu công việc cấp bách trớc mắt củachính quyền mới Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ tịch đã đa ra đề nghị: "Nạn dốt là một trongnhững phơng pháp độc ác mà bọn thực dân Pháp dùng để cai trị chúng ta.Hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ Nhng chỉ cần 3 tháng là đủ để học đọc,học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vìvậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ" [82, 154]

Đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh đợc Hội đồng Chính phủ lâm thờinhất trí tán thành Sự nghiệp xoá nạn mù chữ đợc đặt thành chính sách củaNhà nớc Ngày 8 - 9 - 1945, Chính phủ ký 3 sắc lệnh quan trọng về Bình dânhọc vụ:

Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha Bình dân học vụ trong Bộ Quốc giagiáo dục, quy định rõ nhiệm vụ của Nha này, chuyên lo việc học của nhân dân

Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng làng nào, thị trấn nào,cũng phải có lớp học ít nhất có 30 ngời theo học

Sắc lệnh số 20/SL cỡng bách học chữ Quốc ngữ và không mất tiền, hạnmột năm tất cả mọi ngời Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữQuốc ngữ

Tiếp theo các sắc lệnh, để nói rõ thêm về ý nghĩa, mục đích, đối tợng,phơng pháp chống nạn thất học, tháng 10 - 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra

"Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học"

Lời kêu gọi gợi lên nỗi nhục mất nớc, vạch trần chính sách thâm độccủa thực dân Pháp:" Khi xa Pháp cai trị nớc ta chúng thi hành chính sách

Trang 31

ngu dân Chúng hạn chế mở trờng học, chúng không muốn cho nhân dân tabiết chữ để dễ lừa dối dân ta và bóc lột dân ta" [85, 27].

Ngời nêu ra cho toàn dân nhiệm vụ chống nạn thất học:

"Số ngời Việt Nam thất học so với ngời trong nớc là 95%, nghĩa là hầuhết ngời Việt Nam mù chữ Nh thế thì tiến bộ làm sao đợc?

Nay chúng ta đã giành đợc quyền độc lập Một trong những công việcphải thực hiện cấp tốc trong lúc này, là nâng cao dân trí

Chính phủ đã ra hạn trong một năm tất cả mọi ngời Việt Nam đều phảibiết chữ quốc ngữ Chính phủ đã lập một Nha bình dân học vụ để trông nomviệc học của nhân dân" [85, 27]

Ngời đề ra nghĩa vụ học tập:

"Nhân dân Việt Nam!

Muốn giữ vững nền độc lậpMuốn làm cho dân giàu, nớc mạnh

Mọi ngời Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận củamình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nớcnhà và trớc hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ

Những ngời biết chữ hãy dạy cho những ngời cha biết chữ, hãy góp sứcvào bình dân học vụ

Những ngời cha biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết Vợ cha biết thìchồng bảo, em cha biết thì anh bảo, cha mẹ không biết thì con bảo, ngời ăn,ngời làm không biết thì chủ nhà bảo, các ngời giàu có thì mở lớp học ở t giahay dạy cho những ngời không biết chữ

Phụ nữ lại càng cần phải học, đã từ lâu chị em bị kìm hãm Đây là lúccác chị em phải cố gắng để kịp nam giới, để xứng đáng mình là một phần tửtrong nớc, có quyền bầu cử và ứng cử

Công việc này, mong anh chị em thanh niên sốt sắng giúp sức" [63, 41].Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học của Chủ tịch Hồ Chí Minh đãvạch ra chiến lợc xoá mù chữ, gồm hai điểm cơ bản: xây dựng sự nghiệp xoá

mù chữ thành một phong trào quần chúng, làm cho xoá mù chữ thành việccủa toàn xã hội; tuyên truyền giải thích cho ngời mù chữ hiểu nghĩa vụ họctập của mình và làm chủ việc xoá mù chữ cho mình

Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học nội dung rất giản dị, nhng lạirất thiết tha, làm xúc động tâm can của ngời Việt Nam và vạch ra cơng lĩnhhành động cho Bình dân học vụ

Trang 32

Đón nhận lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và nhân dânThanh Hoá hình thành ngay một nền giáo dục mới ở địa phơng.

Tháng 9 - 1945 Uỷ ban nhân dân Tỉnh ra quyết định thành lập BanBình dân học vụ do ông Lê Duy Hoàn làm Ty trởng và thành lập ty Thanh tratiểu học Dới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính và Mặt trận Việt Minh cáccấp, với sự chỉ đạo hớng dẫn của Nha Bình dân học vụ, Sở Bình dân học vụTrung Bộ, các ban bình dân từ tỉnh xuống sở đã tích cực hoạt động với khí thếtiến công vào giặc dốt một cách khá hiệu quả

2.1.2 Nhiệm vụ, biện pháp và phơng thức hoạt động của Bình dân học vụ

Bình dân học vụ đợc thành lập giữa lúc chính quyền cách mạng mớinắm đợc còn cha vững, nạn đói còn đang hoành hành, nạn xâm lăng đang đedoạ Đó là cha kể trăm công nghìn việc khác cũng khẩn thiết, quan trọng, cầnphải đối phó, giải quyết ngay

Trong hoàn cảnh đó, với ý thức triển khai nhanh chóng chiến dịchchống nạn mù chữ do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra, đồng chí Nguyễn Công

Mỹ đợc cử làm Tổng giám đốc Bình dân học vụ theo sắc lệnh ngày 8 9

-1945 đã tích cực xây dựng bộ máy làm việc bớc đầu Ngày 17 - 9 - -1945 đãhọp cán bộ Nha Bình dân học vụ để quán triệt nhiệm vụ của ngành và chủ tr-

ơng triển khai chiến dịch chống nạn mù chữ Để thực hiện đợc những điềutrên, Nha Bình dân học vụ đã xác định đợc nhiệm vụ:

Thứ nhất, dạy cho dân biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ Đây là nhiệm

vụ trọng tâm, phải tập trung lực lợng thực hiện trớc

Thứ hai, dạy cho dân biết đọc, biết viết là để dân học kiến thức mới,hiểu quyền lợi, nhiệm vụ công dân Nhiệm vụ của Bình dân học vụ khôngphải chỉ là đơn thuần dạy văn hoá mà phải thông qua dạy văn hoá, giáo dụcchính trị cho học viên Đó là một nhiệm vụ giáo dục mới, phải quán triệt Nếu

nh dới chính quyền thực dân, các giáo viên Hội truyền bá Quốc ngữ khôngthực hiện đợc nhiệm vụ này hoặc chỉ thực hiện đợc bằng cách che giấu khônkhéo, thì nay việc giáo dục chính trị cho nhân dân cần phải thực hiện, côngkhai và có hiệu quả

Thứ ba, công nhân và nông dân là những nòng cốt của chế độ mới chonên phải mở lớp dạy cho họ trớc, nhất là những ngời đang độ tuổi lao động,

đang sung sức, hoạt động tích cực nhất cho việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trên cơ sở xác định những nhiệm vụ nh vậy, Bình dân học vụ đã đề ranhững biện pháp cần phải làm nh sau:

Trang 33

Một là để sớm mở ngay các lớp dạy vần Quốc ngữ (Bình dân học vụgọi là lớp sơ cấp bình dân), chủ trơng dùng chơng trình lớp sơ đẳng, phơngpháp dạy vỡ lòng và sách Vần Quốc ngữ của Hội Truyền bá Quốc ngữ đã đợc

đánh giá tốt trong thực tế hoạt động của Hội

Hai là, ở mỗi địa phơng, bình dân học vụ làm thống kê số ngời cha biếtchữ, chia ra ba lớp tuổi: Từ 8 đến 15 tuổi, từ 16 đến 45 tuổi, từ 46 tuổi trở lên;

và giành các khoá học đầu cho lớp tuổi từ 16 đến 45

Ba là, việc giáo dục chính trị đợc lồng vào các bài dạy đọc viết Lớphọc có những giờ nói chuyện thời sự và tham gia hoạt động chính trị và xã hội

ở địa phơng Trong việc này Bình dân học vụ phải liên hệ chặt chẽ với các cơquan thông tin tuyên truyền

Bốn là, ngoài việc mở lớp sơ cấp, Bình dân học vụ sẽ mở các lớp bổ túcbình dân để nâng cao kiến thức cho nhân dân, phải làm thí điểm mở rộng dần

Năm là, đồng thời với việc mở các lớp học, Bình dân học vụ lập chơngtrình soạn và phát hành một loạt sách phổ thông đặt tên là "Tủ sách dânchúng" gồm nhiều loại: Chính trị, Giáo dục công dân, Lịch sử, Địa lý, Khoahọc thờng thức soạn riêng cho ngời mới biết đọc

Về phơng thức hoạt động, Nha Bình dân học vụ đã khẳng định: Phảivận động quần chúng, phải xây dựng Bình dân học vụ thành phong trào quầnchúng

Đó là phải vận động những ngời biết chữ đến dạy học, những ngời chabiết chữ đi học; những ngời trong từng gia đình dạy và học lẫn nhau; nhữngngời giàu có nhà ở rộng rãi, mở lớp học ở t gia cho bà con hàng xóm lánggiềng, từng chủ nhà, chủ ấp, chủ đồn điền, hầm mỏ, nhà máy mở lớp họccho những tá điền, những ngời làm công Nh vậy, không phải chỉ bó hẹp việc

mở lớp học trong các trờng học công và t đợc Đa phong trào lên thành phongtrào quần chúng là phù hợp với tâm lý, tình cảm Việt Nam, vốn có tình yêuthơng giúp đỡ lẫn nhau của những ngời thân trong gia đình, những ngời hàngxóm láng giềng

Đối tợng vận động không những chỉ cá nhân và gia đình, mà còn từnggiới, từng lứa tuổi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh việc vận động giới phụnữ, vì "Đã lâu chị em bị kìm hãm" Ngời kêu gọi "Công việc này, mong anhchị em thanh niên sốt sắng giúp sức", vì thanh niên là lực lợng xung kích

Xây dựng Bình dân học vụ thành phong trào quần chúng thì Bình dânhọc vụ vừa là tổ chức của nhà nớc, vừa là tổ chức của nhân dân Nhiều việc về

tổ chức, về chi phí, nhất là cơ sở, sẽ do nhân dân vui vẻ, tự nguyện đảm

Trang 34

nhiệm Chỉ có sự tham gia sáng tạo của quần chúng thì phong trào Bình dânhọc vụ mới có thể triển khai rộng rãi và nhanh chóng.

Đặc biệt, việc quan trọng nhất trong chủ trơng triển khai chiến dịch xoánạn mù chữ là việc xây dựng đội ngũ cán bộ Bình dân học vụ cao cấp

Sinh ra với cách mạng, là một ngành công tác mới, Bình dân học vụ đãphải tự xây dựng từ đầu đội ngũ cán bộ của mình Cán bộ Bình dân học vụ tr-

ớc khi là một nhà giáo là một cán bộ quần chúng, biết tuyên truyền, cổ động

tổ chức phong trào, phải có đức tính kiên nhẫn, chịu đựng hi sinh gian khổ, có

ý thức tổ chức, kỷ luật; có tinh thần nhân ái, đoàn kết - là một chiến sĩ vận

động quần chúng

2.2.ưBìnhưdânưhọcưvụưởưThanhưHoáưtrongưnămưđầuưtiên SAUưCáCHưMạNGưTHáNGưTáM

2.2.1 Xây dựng nền móng Bình dân học vụ ở Thanh Hoá từ tháng 9 năm

Khoá huấn luyện cán bộ phụ trách các tỉnh đầu tiên, khai giảng ngày 8

- 10 - 1945, đúng một tháng sau ngày thành lập Bình dân học vụ, đợc vinh dựmang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh Khoá này dành cho các uỷ viên và các cán

bộ bình dân học vụ các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ và tỉnh ThanhHoá Về dự có 79 uỷ viên và cán bộ, trong đó có 15 nữ

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến dự lễ khai giảng khoá huấn luyện Ngờihoan nghênh chơng trình chống nạn thất học của Bình dân học vụ, tinh thần

tự nguyện làm việc không lĩnh lơng của cán bộ, giáo viên bình dân học vụ;

đồng thời Ngời nêu rõ 3 nhiệm vụ cách mạng trớc mắt có liên quan với nhaulà: "Chống nạn đói, nạn thất học, nạn ngoại xâm" và chỉ ra: "Chống nạn thấthọc cũng nh chống nạn ngoại xâm" trong thời gian dự huấn luyện, các uỷviên bình dân học vụ sinh hoạt nội trú theo hình thức trại, buổi sáng nghegiảng lý thuyết, buổi chiều thực hành, buổi tối sinh hoạt văn nghệ

Để các uỷ viên Bình dân học vụ có thể về địa phơng triển khai chiếndịch sớm, thời gian huấn luyện chỉ dài 10 ngày

Trang 35

Khi khoá huấn luyện bế giảng, đã đợc nghe các đồng chí giảng dạy và

đặc biệt đợc nghe Chủ tịch Hồ Chí Minh nói chuyện về kinh nghiệm chốngnạn thất học ở khu giải phóng

Trong buổi lễ bế giảng, các uỷ viên bình dân học vụ các tỉnh lên lĩnhnhững "gói nhiệm vụ" gồm "Lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch", các bài giảng vềchính trị, s phạm, tổ chức, các sách Vần Quốc ngữ và tuyên thề:

"- Sẽ hành động xứng đáng với lòng tin cậy của chính phủ do Chủ tịch

Hồ Chí Minh lãnh đạo, để mu việc ích chung

- Sẽ hy sinh, kiên quyết, vui vẻ, tuân theo mọi kỷ luật, và giữ vữngmãi tinh thần đấu tranh, để mu việc ích chung

- Sẽ tuyệt đối thi hành mệnh lệnh của chính phủ, khi có ngoại xâm,nhất là thi hành triệt để chính sách bất hợp tác để đánh đuổi kẻ thù chung"[32, 43]

Những lời thề này làm cho buổi lễ bế giảng càng thêm trang nghiêm vànhắc nhủ các cán bộ giáo viên bình dân học vụ nhiệm vụ của họ cũng thiêngliêng nh nhiệm vụ của các chiến sĩ ở tiền tuyến

Sau khi rút kinh nghiệm về khoá huấn luyện Hồ Chí Minh, Nha bìnhdân học vụ đã cử các đồng chí Nguyễn Văn Luân, Vũ Văn Quí, Võ Quí vàNguyễn Thị vào Huế, phối hợp với Sở Bình dân học vụ Trung Bộ, tổ chứckhoá huấn luyện cho các uỷ viên và cán bộ bình dân học vụ các tỉnh Trung

Bộ Khoá huấn luyện lấy tên Phan Thanh, mở từ ngày 15 - 11 năm 1945 đếnngày 24 - 11 - 1945

Đoàn cán bộ bình dân học vụ của tỉnh Thanh Hoá đã dự khoá huấnluyện này, đây đợc xem nh là bớc khởi đầu đặt nền móng cho Bình dân học

vụ ở Thanh Hoá sau Cách mạng tháng Tám

Khoá huấn luyện "Phan Thanh", bao gồm có 67 uỷ viên và cán bộ bìnhdân học vụ các tỉnh Trung Bộ dự Đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Phó chủ tịch

Uỷ ban nhân dân Trung Bộ, đến dự lễ khai giảng Đồng chí Nguyễn ChíThanh, Chủ nhiệm Việt Minh, đến giảng về chính trị, nội dung, phơng thứchoạt động của khoá huấn luyện đầu tiên Sau khi kết thúc khoá huấn luyện,các cán bộ bình dân học vụ của tỉnh Trung Bộ trong đó có Thanh Hoá đãnhận nhiệm vụ do trung ơng giao phó và tuyên thề

Những cán bộ bình dân học vụ ở Thanh Hoá sau khi đợc Nha Bình dânhọc vụ trung ơng đào tạo, thì trọng trách của họ là đa những kiến thức tiếp thu

đợc đem về các huyện, các địa phơng phổ biến, thi hành với tất cả tinh thầncủa những ngời chiến sỹ quả cảm, hy sinh

Trang 36

Trong thời kỳ đầu, tất cả lực lợng bình dân học vụ đổ dồn vào việc trừsạch nạn mù chữ Bao nhiêu công việc, bao nhiêu sáng kiến đều nhằm vào

điều đó Họ chạy ngợc, chạy xuôi, họ làm ngày, làm đêm, lao động cật lực đểdựng lên một hai, rồi mời, mời lăm, rồi hàng trăm trờng học, lớp bình dân Họ

đã nghĩ đủ mọi hình thức từ nhẹ đến nặng, từ hình thức này sang hình thứckhác để động viên, thuyết phục bằng đợc anh nông dân lỳ nhất, chị bán hàngrong bận bịu nhất đi học lớp i, t

Lúc bấy giờ những ngời thờ ơ lãnh đạm, bảo thủ nhất sau khi thấy cán

bộ bình dân học vụ nhiệt tình, tận tuỵ hết mình không kể ngày đêm họ đãcảm phục và thờng trở nên sốt sắng tích cực: Ngời bỏ tiền, bỏ của ra mua giấybút cho học viên, ngời bỏ công lao, giờ giấc ra để hàng ngày đi dạy

Vì vậy, trong những tháng cuối năm 1945, đi đến đâu ngời ta cũngnhắc đến Bình dân học vụ Từ thành thị đến thôn quê, các lớp mở ra bất cứ ởchỗ nào, có thể nói công tác chống nạn thất học đã đồng thời phát triển mạnh

mẽ trên các mặt Bình dân học vụ xây dựng phơng thức hành động và xâydựng bộ máy của ngành và khẩn trơng chuẩn bị tiến hành chiến dịch diệt dốt

Nh vậy, phong trào Bình dân học vụ trong cả nớc nói chung và ở ThanhHoá nói riêng đã tiến triển mạnh mẽ trên khí thế cách mạng của quần chúng

Và đến khi đủ điều kiện để phát động chiến dịch diệt dốt đầu tiên của lịch sửchống nạn thất học thì phong trào tiến ngay lên cao trào

2.2.2 Chiến dịch chống nạn mù chữ đầu tiên ở Thanh Hoá từ tháng 11

-1945 đến tháng 12 - 1946

Chiến dịch diệt dốt này diễn ra trong một thời kỳ lịch sử trọng đại Tìnhhình khó khăn phức tạp trong khoảng thời gian từ sau Cách mạng tháng Támthắng lợi cho đến hết năm 1946 là một thử thách rất lớn đối với Đảng, Chínhphủ và nhân dân ta Cách mạng Việt Nam vừa phải chống cuộc chiến tranhxâm lợc của thực dân Pháp lan rộng ra khắp miền Nam, vừa phải đối phó trênmiền Bắc với những âm mu thâm độc của quân đội Tởng Giới Thạch và bè lũphản động tay sai tìm cách lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ của ta

Trong thời kỳ lịch sử này cũng nh cả nớc, ở Thanh Hoá, Bình dân học

vụ đã trở thành mục tiêu trớc mắt trong quần chúng nhân dân

Chiến dịch diệt dốt đợc phát động dới khẩu hiệu "yêu nớc" và mở mànbằng một cuộc tuyên truyền cổ động rầm rộ, từ nay trở thành bớc khởi đầu th-ờng lệ của các chiến dịch xoá nạn mù chữ Vấn đề cơ bản và quyết định là

động viên tâm lý hàng triệu ngời mù chữ hăng hái đến lớp và động viên chínhtrị toàn xã hội tham gia tích cực vào sự nghiệp diệt trừ nạn dốt

Trang 37

Thông cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh đã nhanh chóng chuyển tải tớitoàn thể nhân dân trong tỉnh, nhờ thế phong trào diệt dốt ngày càng phát triểnmạnh mẽ hơn.

Bên cạnh đó, tình hình vừa phấn khởi, vừa căng thẳng những ngày sauCách mạng tháng Tám đã khêu gợi mạnh mẽ lòng yêu nớc khắp mọi miềntrong Tỉnh Ty Bình dân học vụ ở Thanh Hoá đã kết hợp lòng yêu nớc ấy vàocác khẩu hiệu tuyên truyền vận động mới của mình:

Đi học bình dân học vụ là yêu nớc!

Dạy học bình dân học vụ là yêu nớc!

Giúp đỡ bình dân học vụ là yêu nớc!

Giặc dốt diệt, Việt Nam cờng

Chống nạn thất học cũng nh chống ngoại xâm,

Với nhiều hình thức tuyên truyền vận động sâu rộng, với những khẩuhiệu viết, kẻ, dán ở từng nhà trên các mặt tờng, thân cây hô trong các buổiphát thanh, với các đám rớc đuốc, diễu hành các hình mẫu sách học, học cụ,học phẩm Khắp mọi miền trong Tỉnh, Ban Bình dân học vụ các cấp đãnhanh chóng vận động đợc nhiều giáo viên, bảo trợ viên, cổ động viên và họcviên Nhiều giáo viên truyền bá Quốc ngữ cũ, nhiều thanh niên, học sinh, sinhviên, công chức, hớng đạo sinh, trong đó có nhiều phụ nữ sốt sắng ghi tênnhận dạy học và làm các việc tuyên truyền cổ động

Khác với Hội truyền bá Quốc ngữ trớc Cách mạng tháng Tám, Bìnhdân học vụ nay dựa trực tiếp vào các Uỷ ban nhân dân và các Ban chấp hànhMặt trận Việt Minh, các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, phụ lão cứu quốc đểtiến hành việc tuyên truyền thuận lợi Mặt trận Việt Minh tỉnh, thành ở ThanhHoá chỉ đạo học sinh, giáo viên, công viên chức, những ngời biết chữ thựchiện lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch "ngời biết chữ dạy cho ngời cha biết chữ, vợcha biết thì chồng bảo, ngời ở ngời làm cha biết thì chủ bảo "

Chính sự quan tâm của Việt Minh tỉnh, thành ở Thanh Hoá đã độngviên mạnh mẽ sự tham gia tích cực của quần chúng vào công cuộc chống nạnthất học Các chi hội công nhân cứu quốc đã vận dụng nhiều hình thức phongphú, đa dạng để mở lớp bình dân Khí thế sôi nổi của phong trào đã thu hút

đợc sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân Quần chúng sẵn sàng cho mợn nhàcửa, bàn ghế, đèn dầu, đèn điện để mở lớp bình dân Ngoài ra, một số nhà hảotâm còn giúp những khoản tiền lớn để mua sách, giấy

Trang 38

Chính nhờ sự giúp đỡ của Uỷ ban nhân dân và Mặt trận Việt Minhcùng với sự đóng góp của quần chúng nhân dân mà các lớp bình dân mở rakhắp mọi nơi trong tỉnh.

Theo nh quy định khoá học đầu tiên chỉ nhận những học viên từ 16 tuổitrở lên Phải rất vất vả mới vận động đợc những em dới 16 tuổi nán lại chờhọc khoá sau Lúc bấy giờ ở Thanh Hoá, những ngời trên 45 tuổi đến họccũng khá đông, có cả các cụ ông, cụ bà trên 60 hoặc 70 tuổi Có cụ đến họccùng với các cháu nội, ngoại của mình, ngồi bên cạnh các cháu để khi cần cáccháu chỉ vào trong sách cho các cụ những chữ hay vần mà các thầy, cô giáo

đang giảng ở trên bảng

Điều nổi bật trong tất cả các lớp bình dân đợc mở ra, phụ nữ đều đếnlớp rất đông, nhiều bà, nhiều chị còn mang theo cả con nhỏ còn bú, còn đìutrên lng hoặc mới 2 - 3 tuổi đến lớp Giáo viên đã xếp cho các cháu ngồi cùngvới bà, với mẹ hoặc chơi với nhau ở gần các bà, các mẹ để họ yên tâm học.Chị em "đã lâu bị kìm hãm" đi học với niềm hạnh phúc đợc giải phóng và ýchí vơn lên mạnh mẽ

ở một số địa phơng nh Cẩm Thuỷ, Yên Định, Thọ Xuân, Hoàng Hoá còn có những ngời tàn tật, hằng ngày chống nạng đến học, làm cho các giáoviên xúc động, càng vui vẻ, tận tình giúp đỡ Số học viên rất đông cho nênkhông thể chỉ mở lớp học bình dân ở các trờng công và t có sẵn, vốn rất ít dớichính quyền thực dân, mà còn phải mở ở các đình, chùa, đền miếu, điếm, vàcác nhà t tơng đối rộng ở rải rác khắp các đờng phố, xóm ngõ để học viên ở

đâu thì học ở đấy cho thuận tiện Lớp bình dân cố gắng tìm đến với ngời học

Ngoài những lớp học chung cho mọi đối tợng học viên ở các khu phố

và xóm làng, bình dân học vụ còn mở những lớp học riêng cho các đơn vị bộ

đội, tự vệ, công an; cho công nhân ở từng xí nghiệp; cho các tăng ni ở cácchùa, đền, cho các ngời bán hàng ở trong các gian chợ hay ở ngoài cổng chợ,trong các giờ nghỉ bán hàng hay chờ vào chợ, cho các ng dân ở các bến sông,

bờ biển nh ở Nga Sơn, Hoàng Hoá, Quảng Xơng và lu động trên sông nớc,

và cho cả cho các phạm nhân ở các trại giam, các chị em trớc làm nghề hát ả

đào, là những ngời mà xã hội trớc đây thờng có thành kiến và khinh rẻ

Khắp mọi miền trong tỉnh, Ban Bình dân học vụ các cấp đã tích cựcgiải quyết vấn đề chỗ ngồi, sách học, học phẩm, học cụ cho các lớp học

Các lớp học mở ở các đình, chùa, đền, miếu, điếm, nhà t không có đủbàn, ghế, bảng đen, thì dùng các cánh cửa, có khi mợn chiếu trải xuống đấtcho học viên ngồi học Những lớp học buổi tối ở nông thôn phải dùng đèn

Trang 39

dầu, dầu hoả khan hiếm thì dùng dầu lạc, hạt bởi, nhựa trám Giấy viết thiếu,Ban Bình dân học vụ đã xin đợc Uỷ ban nhân dân tỉnh, các cơ quan trong địaphơng lục trong kho hồ sơ cũ từ thời thực dân Pháp, chọn những tờ giấy mớidùng một mặt để đóng thành những quyển vở cho học viên Có nơi còn dùngcả những tờ đã viết hai mặt và cho học viên viết đè lên bằng bút lông và mựcnho Ty và Ban Bình dân học vụ tỉnh đã cho lập những tiểu ban học cụ để loliệu mua sắm hoặc tự làm lấy những học cụ học phẩm nh bảng đen con, phấnviết, mực,

Lớp bình dân không phải là lớp học xoá nạn mù chữ mà còn là câu lạc

bộ chính trị, ở đó học viên thờng xuyên đợc nghe nói chuyện về thời sự, vềtình hình, nhiệm vụ cách mạng, do cán bộ thông tin ở địa phơng đến nói trựctiếp hoặc cung cấp tài liệu cho các giáo viên bình dân học vụ nói vào đầuhoặc cuối buổi học

Các cán bộ Việt Minh tỉnh cũng thích đến nói chuyện ở các lớp họcbình dân, nơi tập hợp một lực lợng quần chúng sẵn sàng hởng ứng, lại đợc cácgiáo viên bình dân học vụ giúp đỡ nhắc lại cho học viên và cùng học viên bàn

kế hoạch, thi hành những chủ trơng của Mặt trận

Giáo viên và học viên bình dân học vụ không phải chỉ dạy và học chínhtrị ở trong lớp, mà còn thực hành bằng việc tham gia với t cách tổ chức củalớp bình dân học vụ vào những hoạt động chính trị và xã hội ở địa phơng, th-ờng xuyên tham gia tuần tra canh gác, luyện tập tự vệ, tích cực tham gia các

tổ chức cứu đói, chống đói, tăng gia sản xuất, bầu cử quốc hội và hội đồngnhân dân ở địa phơng,

Do những hoạt động chính trị và xã hội này, giáo viên và học viên ngàycàng gắn bó với lớp học, phong trào xoá nạn mù chữ càng sôi nổi và pháttriển mạnh mẽ có chiều sâu

Trong khoá học Bình dân học vụ này, Thanh Hoá đã thu đợc nhiềuthắng lợi rực rỡ, hoà nhịp cùng với những thắng lợi về chính trị, xã hội, quân

sự của cả nớc cuối những năm 1945 đầu năm 1946

Đầu năm 1946, Chính phủ lâm thời nớc Việt Nam Dân chủ Cộng hoàchủ trơng tổ chức bầu cử Quốc hội, lập Chính phủ chính thức, xây dựng Hiếnpháp của nớc Việt Nam độc lập Thực hiện chủ trơng của Chính phủ và Chủtịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ Thanh Hoá đã cùng các cấp chính quyền, các đoànthể vận động quần chúng tham gia cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội

Trong lúc này ở miền Nam tình hình chiến sự có chuyển biến tốt ởmiền Bắc, trớc khí thế cách mạng sôi nổi của nhân dân ta và lập trờng mềm

Trang 40

dẻo và kiên quyết của Đảng và chính phủ ta, những âm mu khiêu khích vàgây rối của bọn Tởng và bè lũ tay sai đã bị thất bại.

Sau khi kiểm tra nhiều lớp học, đầu tháng 1 - 1946, Nha Bình dân học vụ

đã quy định thể lệ thi mãn khoá để cấp giấy công nhận thoát nạn mù chữ chonhững học viên đạt yêu cầu về đọc và viết Thể lệ quy định: Học viên phải viết

đợc một bài chính tả gồm 40 đến 50 tiếng, không có câu hỏi và phải đọc đợcmột bài tập đọc chữ in và chữ số (Từ 1 đến 1000), không có hỏi miệng

Thực hiện chủ trơng của Nha Bình dân học vụ, tháng 2 - 1946, Ty vàBan bình dân học vụ tỉnh đã tổ chức trọng thể kỳ thi mãn khoá cho khóa học

đầu tiên này Sau đó tổ chức lễ bế giảng khoá học, tuyên bố kết quả kỳ thi,phát giấy công nhận thoát nạn mù chữ và phần thởng cho những ngời thi đạtyêu cầu Trong buổi lễ còn tổ chức triển lãm những bản sơ đồ, biểu đồ và tàiliệu giảng dạy và học tập của các lớp học, các khu trờng, đồng thời còn biểudiễn những bài hát và vở kịch cổ động cho bình dân học vụ và tuyên truyềncác nhiệm vụ cách mạng khác

Sau một thời gian ngắn từ tháng 11 - 1945 đến tháng 2 - 1946, với nhữngphơng pháp hiệu nghiệm, với sự nhiệt tình, tận tuỵ của các cán bộ bình dân học

vụ, với sự ủng hộ của nhân dân trong tỉnh, Bình dân học vụ đã đạt đợc những kếtquả rạng rỡ Theo thống kê của Nha Bình dân học vụ thì kết quả kỳ thi mãn khoáhọc đầu tiên là 29.963 lớp học, 31.686 giáo viên, 815.715 học viên của 25 TyBình dân học vụ Bắc Bộ và 10 ty ở Trung Bộ Trong đó Thanh Hoá có 181 trờng,13.027 học sinh và 324 giáo viên [ 91; 4 - 8 ]

Chiến dịch chống nạn mù chữ năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám

đã giành đợc nhiều thắng lợi, cùng với thành quả một năm kiến quốc, xâydựng chế độ mới đã đặt nền móng, tạo dựng sức mạnh to lớn cho nhân dânThanh Hoá chiến đấu chống thù trong giặc ngoài và vợt qua tình thế "ngàncân treo sợi tóc"

Với những biện pháp tích cực nhất để cứu đói là tăng gia sản xuất theolời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuấtngay! Tăng gia sản xuất nữa!" Chỉ trong một thời gian ngắn, sản lợng ngô,khoai, sắn và các thứ hoa màu khác tăng lên gấp bội, nạn đói trong toàn tỉnh

bị đẩy lùi, chiến thắng giặc đói tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng lựclợng vũ trang ngày một lớn mạnh, cộng với một khí thế cách mạng đang hừnghực, quân và dân Thanh Hoá đã làm thất bại những âm mu khiêu khích vàquấy rối của bọn Tởng và bè lũ tay sai Sau khi Hiệp định sơ bộ ngày 6 - 3 -

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Anh (1970)," Vài nét về tình hình văn hoá ở nớc ta thời kỳ 1945 - 1954", Tạp chí nghiên cứu lịch sử, Số 134 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về tình hình văn hoá ở nớc ta thời kỳ 1945 -1954
Tác giả: Nguyễn Anh
Năm: 1970
3. Nguyễn Anh (1970), Việt Nam thời Pháp thuộc, NXBSG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thời Pháp thuộc
Tác giả: Nguyễn Anh
Nhà XB: NXBSG
Năm: 1970
7. Bản thống kê tình hình bình dân học vụ tháng 7 năm 1946 của xã tiến đạt Huyện Yên Định. Hồ sơ 50. Cặp 05 Lu chụp tại kho lu trữ UBND tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thống kê tình hình bình dân học vụ tháng 7 năm 1946 của xã tiến đạtHuyện Yên Định. Hồ sơ 50
8. Bản thống kê tình hình bình dân học vụ tháng 5 năm 1946 của xã Đồng Phong Huyện Yên Định Hồ sơ số 50. Cặp 05. Kho lu trữ UBND tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thống kê tình hình bình dân học vụ tháng 5 năm 1946 của xã ĐồngPhong Huyện Yên Định
13. Báo cáo về lớp huấn luyện giáo viên dự bị bình dân học vụ Miền núi Thanh Hóa Khóa thứ nhất 1950. Hồ sơ số 73. Cặp 05 Kho lu trữ UBND tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về lớp huấn luyện giáo viên dự bị bình dân học vụ Miền núiThanh Hóa Khóa thứ nhất 1950
14. Báo cáo, về mẫu giáo trong tháng 9 năm 1951 của Thanh Hóa. Hồ sơ số 122. Cặp 11. Kho lu trữ UBND tỉnh Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo, về mẫu giáo trong tháng 9 năm 1951 của Thanh Hóa
31. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ơng (1977), Văn kiện Đảng 1930- 1945, NxbHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng 1930-1945
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ơng
Nhà XB: NxbHN
Năm: 1977
32. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ơng (1969), Văn kiện Đảng 1945- 1947, NxbST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng 1945-1947
Tác giả: Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ơng
Nhà XB: NxbST
Năm: 1969
33. Bộ Giáo Dục (1955), Th Hồ Chủ Tịch gửi cán bộ và giáo viên bình dân học vụ 1945-1954, BGDxb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Th Hồ Chủ Tịch gửi cán bộ và giáo viên bình dânhọc vụ 1945-1954
Tác giả: Bộ Giáo Dục
Năm: 1955
34. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995), 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục vàđào tạo 1945-1995, NxbGD Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm phát triển sự nghiệp giáo dục và"đào tạo 1945-1995
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NxbGD
Năm: 1995
35. Ngô Văn Cát (1980), Việt Nam chống nạn thất học, NxbGD - HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam chống nạn thất học
Tác giả: Ngô Văn Cát
Nhà XB: NxbGD - HN
Năm: 1980
36. Trờng Chinh (1956), Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, NxbST 37. Trờng Chinh (1956), Bàn về cách mạng Việt Nam, NxbST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam", NxbST37. Trờng Chinh (1956), "Bàn về cách mạng Việt Nam
Tác giả: Trờng Chinh (1956), Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam, NxbST 37. Trờng Chinh
Nhà XB: NxbST37. Trờng Chinh (1956)
Năm: 1956
38. Trờng Chinh (1970), Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam, tập 2, NxbST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Trờng Chinh
Nhà XB: NxbST
Năm: 1970
39.Trờng Chinh (1964), Kháng chiến nhất định thắng lợi, NxbST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kháng chiến nhất định thắng lợi
Tác giả: Trờng Chinh
Nhà XB: NxbST
Năm: 1964
48. Công cuộc chống nạn mù chữ ở Việt Nam (1959), NXBHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công cuộc chống nạn mù chữ ở Việt Nam
Tác giả: Công cuộc chống nạn mù chữ ở Việt Nam
Nhà XB: NXBHN
Năm: 1959
49. Chiến sĩ bình dân học vụ miền núi Nông Văn Xình - Mời lăm năm tham gia diệt dốt (1959), Lu chụp tai th viện Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến sĩ bình dân học vụ miền núi Nông Văn Xình - Mời lăm năm thamgia diệt dốt (1959)
Tác giả: Chiến sĩ bình dân học vụ miền núi Nông Văn Xình - Mời lăm năm tham gia diệt dốt
Năm: 1959
45. Chiến sĩ diệt dốt Nguyễn Đắc Chuẩn (1955 ), Khu Giáo dục liên khu IV xb Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến sĩ diệt dốt Nguyễn Đắc Chuẩn (1955
46. Lê Duẩn (1960), Một vài đặc điểm về cách mạng Việt Nam, NxbST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài đặc điểm về cách mạng Việt Nam
Tác giả: Lê Duẩn
Nhà XB: NxbST
Năm: 1960
48. Phạm Văn Đồng (1994), Văn hoá và đổi mới, NxbCTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá và đổi mới
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NxbCTQG
Năm: 1994
49. Phạm Văn Đồng (1964), Nhà nớc dân chủ nhân dân Việt Nam, NxbST Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nớc dân chủ nhân dân Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: NxbST
Năm: 1964

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w