1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông luận văn thạc sỹ giáo dục học

151 2,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông
Tác giả Nguyễn Tất Nga
Người hướng dẫn PGS. TS. Cao Cự Giác
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Hóa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi học sinh sửdụng các phương pháp để giải được các bài tập hóa học, chính học sinh đã tự lĩnh hội kiến thức, phát triển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn.. Do đó các phương pháp giải

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS CAO CỰ GIÁC

VINH - 2011

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và viết luận văn này, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn giúp đỡ và góp ý nhiệt tình của quý thầy cô Trường đạiĐại học Vinh

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn đến quý thầy cô trường Đại Họchọc Vinh, đặc biệt là những thầy cô đã tận tình dạy bảo cho tôi suốt thờigian học tập tại trường

Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến sĩ Cao Cự Giác

đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn nghiên cứu và giúp tôihoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại Họchọc Vinh cùng quý thầy cô trong khoa Sau đại học đã tạo rất nhiều điềukiện để tôi học tập và hoàn thành tốt khoá học

Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn quý anh chị và ban lãnh đạo cáctrường THPT Huỳnh Thúc Kháng, THPT Nghi Lộc 1, THPT Hà Huy Tập,THPT Cửa Lò 1… đã tạo điều kiện cho tôi điều tra khảo sát để có dữ liệuviết luận văn

Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sựnhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếusót, rất mong nhận được sự góp ý quý báu của quý thầy cô và các bạn

Thành phố Vinh, ngày 8 tháng 2 năm

2012

Học viên

Nguyễn Tất Nga

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 3

Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành:Lí luận và PPDH bộ môn hoá học

Chữ viết tắt Chữ đầy đủ

BTHH : Bài tập hóa học CTPT : Công thức phân tử

ĐC : Đối chứng ĐLBTKL : Định luật bảo toàn khối lượng

GV : Giáo viên

HS : Học sinh

KT : Kiểm tra NXB : Nhà xuất bản SGK : Sách giáo khoa THPT : Trung học phổ thông

TN : Thực nghiệm TNSP : Thực nghiệm sư phạm

Nguyễn Tất Nga1

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài .1

2 Mục đích nghiên cứu .2

3 Nhiệm vụ của đề tài .2

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu .2

5 Phương pháp nghiên cứu .3

6 Giả thiết khoa học .3

7 Đóng góp của đề tài .4

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .5

1.1 Tư duy và việc phát triển tư duy trong dạy học bộ môn hoá học ở trường phổ thông .5

1.1.1 Tư duy là gì ? .5

1.1.2 Tầm quan trọng của phát triển tư duy cho học sinh .5

1.1.3 Những đặc điểm của tư duy .6

1.1.4 Những phẩm chất tư duy .7

1.1.5 Các thao tác tư duy và phương pháp logic .7

1.1.6 Các hình thức cơ bản của tư duy .9

1.1.7 Quá trình tư duy .11

1.1.8 Tư duy hoá học .11

1.1.9 Vấn đề phát triển năng lực tư duy hoá học cho học học sinh .12

1.2 Phương pháp giải bài hoá học (PPG-BTHH) .13

1.2.1 Khái niệm về phương pháp giải bài tập hoá học .13

Trang 5

1.2.2 Vị trí của các phương pháp giải bài tập hoá học .141.2.3 Vai trò của phương pháp giải bài tập hóa học .141.2.4 Phát triển tư duy hoá học thông qua các phương pháp giải

bài tập .15

Trang 6

1.3 Tình hình sử dụng các phương pháp giải toán hoá để phát triển

tư duy cho học sinh hiện nay .16

Tiểu kết chương 1 .18

Chương 2 PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHO HỌC SINH THÔNG QUA CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC .19

2.1 Người học sinh cần phải làm gì để phát triển tư duy khi học môn hóa học .19

2.2 Một số biện pháp nhằm phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hoá học .21

2.2.1 Rèn năng lực quan sát .21

2.2.2 Rèn các thao tác tư duy .23

2.2.3 Rèn năng lực tư duy độc lập .26

2.2.4 Rèn năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo .35

Tiểu kết chương 2 .92

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .93

3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm .93

3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm .93

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm .93

3.3.1 Kế hoạch .93

3.3.2 Tiến trình thực nghiệm sư phạm .95

3.3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm .95

3.3.4 Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm .97

3.3.5 Phân tích kết quả thực nghiệm .101

Tiểu kết chương 3 .104

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125

PHỤ LỤC 109

Trang 7

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình dạy học ở phổ thông, nhiệm vụ quan trọng của giáodục là phát triển tư duy cho học sinh ở mọi bộ môn, trong đó có bộ môn hoáhọc Hoá học là môn khoa học thực nghiệm và lí thuyết, vì thế bên cạnhnắm vững lí thuyết, người học phải biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo mọivấn đề thông qua hoạt động thực nghiệm, thưc hành, giải bài tập

Một trong những phương pháp dạy học tích cực trong bộ môn hoáhọc là sử dụng các phương pháp giải bài tâp hoá học, kết hợp với các bài tậphoá học để phát triển tư duy cho học sinh một cách tích cực Khi học sinh sửdụng các phương pháp để giải được các bài tập hóa học, chính học sinh đã

tự lĩnh hội kiến thức, phát triển tư duy và kỹ năng thực hành bộ môn Cácphương pháp giải bài tập hoá học không chỉ củng cố và nâng cao kiến thức,vận dụng kiến thức mà là còn phương tiện để tìm tòi, hình thành kiến thứcmới Rèn luyện tính tích cực, trí thông mính sáng tạo cho học sinh, giúp các

em có hứng thú học tập, chính điều này đã làm cho các phương pháp giảibài tập hoá học như là một công cụ rất hữu ích cho việc giải quyết vấn đềcủa học sinh Do đó các phương pháp giải bài tập hoá học giữ một vai trò

quan trọng trong việc dạy và học hoá học, đặc biệt là sử dụng các phương pháp giải bài tập hoá học để phát triển tư duy cho học sinh trong quá trình dạy học.

Trong nhiều năm qua, việc nâng cao chất lượng dạy học hoá học ởtrường phổ thông đã được chú trọng Tuy nhiên nhìn chung hiệu quả củaviệc dạy học môn này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới trong giáodục Xuất phát từ nhu cầu và thực trạng đó, chúng tôi tiến hành chọn và

nghiên cứu đề tài “Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường THPT” Vì các phương pháp

Trang 9

giải bài tập hoá học có tác dụng rất lớn trong việc kích thích và phát triển tưduy cho học sinh Với mong muốn góp phần đổi mới phương pháp dạy họcnhằm nâng cao chất lượng giáo dục và để rèn luyện, phát triển năng lực tưduy cho học sinh, nên tôi đã chọn nghiên cứu và thực hiện đề tài này.

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng, hệ thống một số phương pháp giải bài tập hoá học cho họcsinh nhằm mục đích phát triển tư duy và trí thông minh cho học sinh Đề tàinày cũng là cơ hội giúp bản thân tôi bồi dưỡng thêm kiến thức và kinh nghiệmtrong đổi mới phương pháp dạy học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục tronggiai đoạn hiện nay

3 Nhiệm vụ của đề tài

3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài

- Hoạt động nhận thức và các hình thức tư duy của HS trong quá trìnhgiải bài tập hoá học

- Từ đó đề xuất các phương pháp giải bài tập hoá học phù hợp với cácloại bài tập và mức độ của quá trình nhận thức, tư duy của học sinh

3.2 Phân loại các phương pháp giải nhanh bài tập hoá học, sưu tập vàchọn lọc các ví dụ hay áp dụng cho từng phương pháp phù hợp với mức độcủa quá trình nhận thức và tư duy của học sinh

3.3 Thực nghiện sư phạm để đánh giá chất lượng và hiệu quả của hệthống phương

pháp giải các bài tập hoá học đã xây dựng trong thực tế dạy học ởmột số trường phổ thông

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học ở trường phổ thông

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Trang 10

Hoạt động tư duy của học sinh trong quá trình sử dụng các phươngpháp giải để giải bài tập hoá học và một số biện pháp nhằm phát triển tư duycho học sinh, thông qua hệ thống các phương pháp giải bài tập hoá học Nội dung chương trình sách giáo khoa, các phương pháp giải bài tậphoá học có thể áp dụng trong chương trình hoá học phổ thông nhằm pháttriển tư duy cho học sinh.

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu lí luận về việc phát triển năng lực tư duy cho họcsinh

- Nghiên cứu về tác dụng và cách sử dụng các phương phápgiải bài tập trong dạy học hoá học

5.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Tìm hiểu về năng lực tư duy của học sinh trong quá trình sửdụng các phương pháp để giải bài tập hoá học

- Tình hình sử dụng các phương pháp giải để phát triển tư duycủa học sinh trong quá trình dạy học hoá học ở trường THPT hiện nay

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của các biệnpháp và hệ thống các phương pháp giải bài tập hoá học đã đề xuất

6 Giả thiết khoa học

Trong quá trình dạy học, nếu người giáo viên nắm vững được

hệ thống phương pháp luận, là người quản lí học tập, lựa chọn được cácphương pháp giải bài tập hoá học phù hợp với từng loại bài tập và chú ý coitrọng trong việc hướng dẫn dắt học sinh tích cực hoạt động tư duy trong quátrình tìm kiếm lời giải sẽ giúp cho học sinh

- Có phương pháp tự học tốt

- Phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Trang 11

- Phát triển năng lực tư duy hoá học.

- Rèn luyện tính độc lập hành động, phát triển tư duy và tríthông minh cho học sinh là tiền đề quan trọng cho việc phát triển tính tíchcực

- Nâng cao hứng thú và niềm say mê học tập bộ môn

7 Đóng góp của đề tài

- Góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa, tác dụng của các phương phápgiải bài tập hoá học trong quá trình rèn luyện, phát trăng lực tư duy chohọc sinh

- Đề tài đã đề cập đến nội dung và phương pháp phát triển tư duy chohọc sinh trong dạy học hoá học, thông qua hệ thống các phương pháp giải

Trang 12

CHƯƠNG IChương 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỂNTIỄN

1.1 Tư duy và việc phát triển tư duy trong dạy học bộ môn hoá học ở trường phổ thông

1.1.1 Tư duy là gì ?

Tư duy là một quá trình tâm lý mà nhờ đó con người phản ánh đượccác đối tượng và hiện tượng của hiện thực thông qua những dấu hiệu bảnchất của chúng, đồng thời con người vạch ra được mối liên hệ trong mỗi đốitượng, hiện tượng và giữa các đối tượng, hiện tượng với nhau

Theo L.N.Tônxtôi đã viết: “Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào

nó là thành quả những cố gắng của tư duy chứ không phải trí nhớ” Nhưvậy, học sinh chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức chỉ khi thực sự họ tư duy Theo M.N Sacđacôp: Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các

sự vật của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bảnchất của chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiệntượng mới riêng rẽ của hiện thực trên cở sở những kiến thức khái quát hoá

đã thu nhận được

Còn theo PGS.TS.Nguyễn Xuân Trường(ĐHSP Hà Nội) thì “ tư duy

là hành động trí tuệ nhằm thu thập và xử lí thông tin về thế giới trong ta.Chúng ta tư duy để hiểu, làm chủ tự nhiên, xã hội và chính mình ”

1.1.2 Tầm quan trọng của phát triển tư duy cho học sinh

Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú trọng đến sự phát triển tư duycho học sinh thông qua việc điều khiển tối ưu quá trình dạy học, còn thaotác tư duy cơ bản là công cụ của nhận thức, nhưng trong thực tế cho đến nayvẫn chưa được áp dụng rộng rãi và có hiệu quả Phát triển tư duy cho họcsinh đóng một vai trò rất quan trọng trong dạy học và đào tạo ra những con

Trang 13

người toàn diện Vẫn biết sự tích luỹ kiến thức trong quá trình dạy học đóngmột vai trò không nhỏ, song không phải quyết định hoàn toàn Con người

có thể quên đi nhiều sự việc cụ thể mà dựa vào đó những nét tích cách củachúng ta được hoàn thiện Nhưng nếu những nét tính cách này đạt đến mức

độ thì con người có thể giải quyết được mọi vấn đề phức tạp nhất, điều đó

có nghĩa là anh ta đạt đến một trình độ tư duy cao “ Giáo dục - đó là cái

được giữ lai mà khi tất cả những điều học thuộc đã quên đi ” - nhà vật lý

nổi tiếng N.I Sue đã nói như vậy Câu này khẳng định vai trò quan trọng của

việc phát triển tư duy cũng như mối quan hệ mật thiết của nó với giảng dạy

` Quá trình hoạt động nhận thức của HS chia làm hai mức độ:

- Trình độ nhận thức cảm tính: Là quá trình phản ánh thực tiễn dướidạng cảm giác, tri giác và biểu tượng

- Trình độ nhận thức lý tính: Còn gọi là trình độ logic hay đơn giản

là tư duy

1.1.3 Những đặc điểm của tư duy

- Quá trình tư duy nhất thiết phải sử dụng ngôn ngữ là phương tiện:Giữa tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ không thể chia cắt, tư duy và ngônngữ phát triển trong sự thống nhất với nhau Tư duy dựa vào ngôn ngữ nóichung và khái niệm nói riêng Mỗi khái niệm lại được biểu thị bằng một haymột tập hợp từ Vì vậy, tư duy là sự phản ánh nhờ vào ngôn ngữ Các kháiniệm là những yếu tố của tư duy Sự kết hợp các khái niệm theo nhữngphương hướng khác nhau, cho phép con người đi từ ý nghĩ này sang những

ý nghĩ khác

- Tư duy phản ánh khái quát

Tư duy phản ánh hiện thực khách quan, những nguyên tắc hay nguyên

lí chung, những khái niệm hay vật tiêu biểu Phản ánh khái quát là phản ánhtính phổ biến của đối tượng Vì thế những đối tượng riêng lẻ đều được xemnhư một sự thể hiện cụ thể của quy luật chung nào đó Nhờ đặc điểm này,

Trang 14

quá trình tư duy bổ sung cho nhận thức và giúp con người nhận thức hiệnthực một cách khách quan hơn.

Trang 15

- Tư duy phản ánh gián tiếp

Tư duy giúp ta hiểu biết những gì không tác động trực tiếp, khôngcảm giác và quan sát được, mang lại những nhận thức thông qua các dấuhiệu gián tiếp Tư duy cho ta khả năng hiểu biết những đặc điểm bên trong,những đặc điểm bản chất mà các giác quan không phản ánh được

- Tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính

quá trình tư duy bắt đầu nhận thức cảm tính, liên hệ chặt chẽ với nó trongquá trình đó nhất thiết phải sử dụng những tư liệu của nhận thức cảm tính

1.1.4 Những phẩm chất tư duy

- Tính định hướng: Ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần

lĩnh hội, mục đích phải đạt được và những con đường tối ưu để đạt đượcmục đích đó

- Bề rộng: Có khă năng vận dụng nghiên cứu nhiều đối tượng khác nhau.

- Độ sâu: Nắm vững ngày càng sâu hơn bản chất của sự vật hiện

tượng

- Tính linh hoạt: Nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và

cách thức hành động vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo

- Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo

các hướng xuôi ngược chiều

- Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất

cánh giải quyết và tự giải quyết được vấn đề

- Tính khái quát: Khi giải quyết được vấn đề nào đó sẽ đưa ra được

mô hình khái quát, trên cơ sở đó để có thể vận dụng để giải quyết các vấn đềtương tự, cùng loại

1.1.5 Các thao tác tư duy và phương pháp logic

Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự tích luỹ cácthao tác tư duy thành thạo và vững chắc của con người Một trong nhữnghình thức quan trọng của tư duy hoá học là những khái niệm khoa học Việc

Trang 16

hình thành và vận dụng các khái niệm, cũng như việc thiết lập các mối quan

hệ giữa chúng được thực hiện trong quá trình sử dụng các thao tác tư duynhư: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá, cụ thể hoákết hợp với các phương pháp hình thành phán đoán mới là quy nạp, diễndịch, suy diễn và loại suy

- Phân tích: Là hoạt động tư duy tách các yếu tố bộ phận của sự vật,

hiện tượng nhằm mục đích nghiên cứu chúng một cách đầy đủ, trọn vẹntheo hướng nhất định Chẳng hạn, HS không thể nắm vững tính chất hoáhọc của một chất hữu cơ một cách sâu sắc và bền vững nếu như không phântích kỹ công thức cấu tạo của hợp chất đó Nếu phân tích mọi khía cạnh cóthể có của đề bài là cơ sở để giải đúng và đầy đủ mọi bài tập hoá học

- Tổng hợp: Là hoạt động tư duy kết hợp các bộ phận, yếu tố đã

được phân tích để nhận thức, để nắm được cái toàn bộ của sự vật, hiệntượng Để hiểu đầy đủ các nhóm nguyên tố phải dựa trên kết quả tổ hợp củaviệc phân tích nghiên cứu đặc điểm cấu tạo cũng như tích chất của từngnguyên tố cụ thể Kết quả của quá trình nhận thức là hoạt động cân đối vàmật thiết giữa phân tích và tổng hợp Sự phân tích sâu sắc, phong phú làđiều kiện quan trọng để tổng hợp được chính xác, tron vẹn, ngược lại tổnghợp sơ bộ tạo điều kiện quan trọng cho sự phân tích

- So sánh: Là thiết lập sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật,

hiện tượng và những khái niệm phản ánh chúng

Ở đây, có hai cách phát triển tư duy so sánh:

+ So sánh liên tiếp (tuần tự): Trong giảng dạy hoá học thường sử

dụng phương pháp này khi HS tiếp thu kiến thức mới So sánh kiến thức đãhọc để hiểu sâu sắc hơn kiến thức mới

+ So sánh đối chiếu: Nghiên cứu hai đối tượng ( hai chất, hai phản

ứng, hai phương pháp…) cùng một lúc trên cơ sở phân tích từng bộ phận

để đối chiếu với nhau

Trang 17

Tóm lại, trong giảng dạy hoá học tư duy là phương pháp tư duy rấthiệu nghiệm, nhất là khi hình thành khái niệm mới.

- Cụ thể hoá :Cụ thể: Là sự vật hiện tượng trọn vẹn, đầy đủ các tính

chất, các mối quan hệ giữa thuộc tính với nhau và với môi trường xungquanh

Cụ thể hoá: Là hoạt động tư duy tái sinh ra hiện tượng và đối tượngvới các thuộc tính bản chất của nó

- Trừu tượng hoá:

Trừu tượng: Là một bộ phận của toàn bộ, tách rời khỏi toàn bộ, nó côlập ra khỏi các mối quan hệ của các bộ phận, mà nó chỉ giữ lại các thuộc tínhkhông cơ bản Cụ thể của tri giác trực tiếp được Trừu tượng không tri giáctrực tiếp được Trong nhận thức có quy luật phát triển là cụ thể trừu tượng

Trừu tượng hoá: Là sự phản ánh bản chất cô lập các dấu hiệu,thuộc tính bản chất Ví dụ: Tìm hiểu cấu tạo nguyên tử và sự chuyểnđộng của electron trong nguyên tử làm tiền đề thông hiểu sự hình thànhcác liên kết hoá học và những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất líhoá của các chất

- Khái quát hoá:

Là bước cần thiết của trừu tượng hoá Mỗi vật thể ( chất phản ứng…)với đầy đủ các dấu hiệu và bản chất và không bản chất, dấu hiệu chung,riêng Xác định bản chất chung của mọi loại đối tượng, từ khi đó hình thànhlên một khái niệm Đó là khái quát hoá

1.1.6 Các hình thức cơ bản của tư duy

- Khái niệm: Là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất

riêng biệt của sự vật hiện tượng

Khái niệm đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tư duy, đượcxây dựng trên cơ sở thao tác tư duy, nó làm điểm tựa cho tư duy phân tích là

Trang 18

cơ sở để đào sâu kiến thức, tiến tới xây dựng khái niệm mới Ngoài ra, cáchoạt động suy luận, khái quát hoá, trừu tượng nhờ có khái niệm mới có cơ

sở để tư duy và đi sâu thêm vào bản chất của sự vật hiện tượng

- Phán đoán: Là sự tìm hiểu tri thức về mối quan hệ giữa

các khái niệm, thực hiện theo một nguyên tắc, quy luật bên trong

- Suy lí: Hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán với nhau để tạo

thành phán đoán mới gọi là suy lí Suy lí được cấu tạo bởi hai bộ phận:

+ Các phán đoán có trước gọi là tiên đề

+ Các phán đoán có sau gọi là kết luận ( dựa vào tính chất của tiên

đề để kết luận ) Suy lí chia làm ba loại: Loại suy, suy lí quy nạp và suy lídiễn dịch

+ Loại suy: Là hình thức tư duy đi từ cái riêng biệt này đến cái riêngbiệt khác Loại suy cho ta những phán đoán chính xác sự phụ thuộc và sựhiểu biết về hai đối tượng Khi đã nắm vững các thuộc tính cơ bản của đốitượng thì loại suy sẽ chính xác Chẳng hạn, khi nghiên cứu các loại hợpchất hữu cơ chỉ cần xét kỹ các hợp chất tiêu biểu nhất, còn các hợp chấtkhác trong dãy đồng đẳng dễ dàng biết được bằng phương pháp loại suy

+ Suy lí quy nạp: Suy lí từ quy nạp phổ biến, từ những hoạt động tớiquy luật Do đó, quá trình tư duy, suy nghĩ theo quy nạp chuyển từ việcnhận thức các hiện tượng riêng lẽ đến nhận thức cái chung Vì thế suy líquy nạp là yếu tố cấu trúc của tri thức khái quát của việc hình thành kháiniệm và của việc nhận thức định luật

+ Suy lí diễn dịch: Là cách suy nghĩ đi từ cái chung, định luật, quytắc, khái niệm chung đến các sự vật hiện tượng riêng lẻ

Quá trình suy lí diễn dịch có thể là:

* Từ tổng quát đến ít tổng quát hơn

* Từ phán đoán có tính chất tổng quát này đến phán đoán có tínhchất tổng quát khác

Trang 19

Trong quá trình tư duy quy nạp và suy diễn bao giờ cũng liên hệ mậtthiết với nhau giống như phân tích tổng hợp Quá trình này được thực hiệntrong phương pháp xác định mối liên hệ nhân quả trong các hiện tượng.Với tư cách là hình thức tư duy gián tiếp, suy lí trong tư duy logic đóng vaitrò quan trọng trong tất cả các hoạt động của tư duy Việc hướng dẫn quytắc logic trong suy lí tạo được hiệu quả lớn hơn trong quá trình lĩnh hội trithức.

Rèn luyện tư duy logic trong dạy học hoá học là tạo cho học sinh cóphương pháp tư duy từ khái niệm đến phán đoán, suy lí thông thường quamọi câu hỏi, mọi vấn đề và phải được tiến hành thường xuyên liên tục

1.1.7 Quá trình tư duy

Tư duy khoa học tư nhiên được đặc trưng bằng các phương phápnhận thức khoa học tự nhiên, bao gồm:

- Hiểu vấn đề.

- Xác định vấn đề một cách chính xác.

- Xác định giới hạn giữa nó và các vấn đề khác.

- Nghiên cứu tất cả các yếu tố liên quan đến vấn đề đã nêu.

- Vạch kế hoạch tìm tòi cách giải quyết.

- Tiến hành thực nghiệm kiểm tra giả thiết.

- Thực nghiệm đánh giá kết quả.

- Rút ra cơ sở khoa học của chúng.

- Chọn lựa phương án giải quyết tối ưu.

- Mở rộng sang trường hợp tương tự

1.1.8 Tư duy hoá học

Tư duy hó học là sự tư duy biến đổi nội tại của các chất để tạo thànhchất mới, theo những nguyên lí quy luật, những mối quan hệ định tính vàđịnh lượng của hoá học

Trang 20

- Cơ sở của tư duy hoá học là sự liên hệ quá trình phản ứng, sự tươngtác gữa các tiểu phân vô cùng nhỏ bé của thế giới vi mô (nguyên tử, phân

tử, ion, electron, )

- Đặc điểm của quá trình tư duy hoá học là sự phối hợp chặt chẽ,thống nhất giữa những hiện tượng cụ thể quan sát được với những hiệntượng cụ thể không quan sát được, ngay cả khi dùng kính hiển vi điện tử,

mà chỉ dùng kí hiệu, công thức để biểu diễn mối liên hệ bản chất của cáchiện tượng nghiên cứu

Vậy bồi dưỡng phương pháp và năng lực tư duy hoá học là bồidưỡng cho học sinh biết vận dụng thành thạo các thao tác tư duy và phươngpháp logic, dựa trên những dấu hiệu quan sát được mà phán đoán về tínhchất và sự biến đổi nội tại của chất, của quá trình

Như vậy cũng giống như tư duy khoa học tự nhiên, toán học và vật

lí, tư duy hoá học cũng sử dụng các thao tác tư duy vào quá trình nhận thứcthực tiễn và tuân theo quy luật chung của quá trình nhận thức

Trực quan sinh động    Tư duy trừu tượng    Thực tiễn Hoá học - bộ môn khoa học lí thuyết và thực nghiệm có lập luận, trên

cơ sở những kỹ năng quan sát các hiện tượng hoá học, phân tích các yếu tốcấu thành và ảnh hưởng, thiết lập những phụ thuộc xác định để tìm ra mốiliên hệ giữa các mặt định tính và định lượng, quan hệ nhân quả của cáchiện tượng và quá trình hoá học, xây dựng nên nguyên lí, quy luật, địnhluật, rồi trở lại vận dụng để nghiên cứu những vấn đề của thực tiển

1.1.9 Vấn đề phát triển năng lực tư duy hoá học cho học học sinh

Việc phát triển tư duy cho học sinh trước hết là giúp học sinh nắmvững kiến thức, biết vận dụng kiến thức vào việc giải bài tập và thực hành,qua đó kiến thức học sinh thu nhận được trở nên vững chắc và sinh độnghơn HS chỉ thực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy của họ được phát triểnnhờ sự hướng dẫn của GV mà HS biết phân tích, khái quát tài liệu có nộidung cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết

Trang 21

Tư duy càng phát triển thì càng có nhiều khả năng lĩnh hội tri thứcmột cách nhanh chóng sâu sắc và có khả năng vận dụng tri thức một cáchlinh hoạt, có hiệu quả hơn Như vậy, sự phát triển tư duy của HS được diễn

ra trong quá trình tiếp thu và vận dụng tri thức Khi tư duy phát triển sẽ tao

ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp chuẩn bịlâu dài cho HS hoạt động sáng tạo sau này Do đó hoạt động dạy học hoáhọc cần phải tập luyện cho học sinh tư duy sáng tạo qua các khâu cuả quátrình dạy học Từ hoạt động dạy học trên lớp thông qua hệ thống câu hỏi,bài tập mà GV điều khiển hoạt động nhận thức của HS để giải quyết vấn đềhọc tập được đưa ra HS tham gia vấn đề này một cách tích cực sẽ nắmđược cả kiến thức và phương pháp nhận thức đồng thời các

thao tác tư duy cũng được rèn luyện

* Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển:

- Có khả năng tự lực chuyển tri thức, kĩ năng sang một tình huốngmới Trong quá trình học tập, HS phải giải quyết những vấn đề đòi hỏi liêntưởng đến kiến thức đã học trước đó Nếu HS độc lập chuyển tải tri thứcvào tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát triển

- Tái hiện nhanh chóng các kiến thức, các mối quan hệ cần thiết đểgiải quyết bài toán nào đó Thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ bản chấtgiữa các sự vật hiện tượng

- Có khả năng phát hiện cái chung của các hiện tượng khác nhau, sựkhác nhau giữa các hiện tượng tương tự

- Có năng lực áp dụng kiến thức vào thực tế Đây là kết quả pháttriển tổng hợp của sự phát triển tư duy Để có thể giải quyết tốt các bài toánđòi hỏi học sinh phải có sự định hướng tốt, biết phân tích suy đoán và vậndụng các thao tác tư duy để tìm cách áp dụng thích hợp, cuối cùng là tổchức thực hiện một cách có hiệu quả

Trang 22

1.2 Phương pháp giải bài hoá học(PPG-BTHH)

1.2.1 Khái niệm về phương pháp giải bài tập hoá học

Trong thực tiển dạy học ở trường phổ thông, phương pháp giảiBTHH giữ một vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo,

nó là cách thức để đạt được mục đích trong quá trình dạy học Nó khôngchỉ là con đường để HS thực hiện sự chiếm lĩnh tri thức của mình mà cònmang lại niềm vui của quá trình khám phá, tìm tòi của việc tìm ra đáp số.Đặc biệt PPG- BTHH mang lại cho người học một trạng thái hưng phấn,hứng thú nhận thức Đây là yếu tố tâm lí quan trọng của quá trình nhậnthức đáng được chúng ta quan tâm

Vậy PPG-BTHH là gì? PPG-BTHH là cách thức để tìm ra một đáp

án cho một bài tập hoá học hay nó là con đường đi để tìm ra đáp án chomột bài toán hoá Ở đây chúng ta phải hiểu rằng PPG-BTHH là nhữngphương pháp đã được lựa chọn một cách phù hợp với mỗi dạng toán nhấtđịnh Muốn giải được một bài tập hoá học trước tiên người học cần phải cónhững kiến thức cơ bản nhất định, bên cạnh đó phải nắm được các phươngpháp giải toán hoá một cách nhuần nhuyễn, có nhiều bài toán phải biết kếthợp rất nhiều phương pháp mới giải được

1.2.2 Vị trí của các phương pháp giải bài tập hoá học

Trong quá trình dạy học của giáo viên và tiếp thu kiến thức của họcsinh phương pháp giải bài tập có một vị trí quan trọng, nó giúp giải các bàitập một cách nhanh chóng và có bản chất Thông qua đó người giáo viên cóthể tạo thói quen, rèn luyện kỹ, năng kỹ xảo cho học sinh

1.2.3 Vai trò của phương pháp giải bài tập hóa học

Trong quá trình dạy học, phương pháp giải bài tập hoá học đóng mộtvai quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy học Đối với học sinh

Trang 23

phương pháp giải bài tập giúp học sinh tự biết giải quyết vấn đề, biết vậndụng lí thuyết để giải bài tập Tập tính năng động, linh hoạt cho học sinh.Giải bài tập là phương pháp học tích cực.

- Trong quá trình áp dụng các phương pháp để giải bài tập hoá học

có tác dụng cũng cố kiến thức cũ một cách thường xuyên và hệ thống hoálại những kiến thức đã học

- Áp dụng các phương pháp để giải bài tập hoá học sẽ thúc đẩythường xuyên sự rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo cần thiết về hoá học

- Phương pháp giải bài bài tập hoá học tạo điều kiện để tư duyphát triển

1.2.4 Phát triển tư duy hoá học thông qua các phương pháp giải bài tập

Sự phát triển tư duy hoá học của học sinh diễn ra trong quá trình tiếpthu và vận dụng tri thức, khi tư duy phát triển sẽ tạo kỹ năng và thói quenlàm việc có suy nghĩ, có phương pháp; chuẩn bị tiềm lực cho hoạt động

Trang 24

sáng tạo sau này của các em Trong quá trình sử dụng các phương pháp đểgiải bài tập hoá học thì sẽ giúp học sinh:

- Có khả năng tự lực chuyển các tri thức và kỹ năng sang một tìnhhuống mới

- Tái hiện nhanh chóng kiến thức

- Có khả năng phát hiện cái chung của các hiện tượng khác nhau

- Có khả năng áp dụng kiến thức vào thực tế

Khi học sinh biết sử dụng các phương pháp giải bài tập một cách linhhoạt đó chính là học sinh đã tự rèn trí thông minh và tư duy của học sinhphát triển lên một tầm cao mới

1.2.4.1 Những yêu cầu cơ bản

Muốn phát triển tư duy của học sinh thông qua các phương pháp giảibài tập hoá học thì trước tiên học sinh phải có vốn kiến thức cơ bản về vấn

đề đó Những phương pháp mà giáo viên truyền tải cho học sinh phải:

- Đơn giản, dễ áp dụng, phù hợp với nhiều đối tương học sinh

- Áp dụng cho được nhiều bài toán hoá khác nhau

- Thể hiện được rõ bản chất của bài toán hoá trong quá trình giải

1.2.4.2 Một số phương pháp giải bài tập hoá học

1 Phương pháp bảo toàn nguyên tố

2 Phương pháp bảo toàn khối lượng

31 Phương pháp tăng giảm khối lượng

42 Phương pháp trị số trung bình

5 Phương pháp các đại lượng ở dạng khái quát

6.phương pháp biện luận để xác định CTCT của HCHC

Trang 25

4 Phương pháp bảo toàn nguyên tố

5 Phương pháp bảo toàn điện tích

6 Sử dụng phương trình ion-electron

7 Phương pháp bảo toàn electron

8 Qui đổi nhiều chất về số lượng chất ít hơn

9 Sử dụng sơ đồ đường chéo

10 Phương pháp đồ thị

11 Bảo toàn mol nguyên tử

12 Tự chọn lượng chất

13 Các đại lượng ở dạng khái quát

1.3 Tình hình sử dụng các phương pháp giải toán hoá để phát triển tư

duy cho học sinh hiện nay

Thực tiễn cho thấy PPG-BTHH không chỉ là cách thức tìm ra kếtquả cho một bài tập mà nó xem như là một công cụ hữu ích cho học sinh ápdụng những kiến thức đã học vào việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo, phát triểnnăng lực tư duy, trí thông minh Tuy nhiên việc sử dụng linh hoạt cácphương pháp giải, trang bị cho học sinh tất cả các phương pháp giải thôngdụng cho học sinh trong dạy học hoá học chưa được chú ý đúng mức

- GV và HS hầu hết đều quan tâm đến kết quả của bài toán nhiều hơnquá trình giải toán Tất nhiên, trong quá trình giải các thao tác tư duy đượcvận dụng, các kĩ năng suy luận, kĩ năng tính toán, kĩ năng viết và cân bằngphương trình được rèn luện Thế nhưng, nếu chú ý đến rèn tư duy cho họcsinh trong quá trình giải thì việc giải để đi đến đáp số của các bài toán sẽđơn giản hơn rất nhiều

- Từ việc nắm kiến thức trong khi nghiên cứu bài mới không vữngchắc, thời gian dành cho luyện tập ít, không có điều kiện phân tích, mổ xẻbài toán thật chi tiết, để hiểu cặn kẽ từng câu, từng chữ, từng điều kiện,

Trang 26

từng khái niện, những kiến thức nào đã được vận dụng, những cách giảinào có liên quan Trong mọi trường hợp luôn đặt câu hỏi “Tại sao?”, phải lígiải và lí giải được, không được bỏ qua một chi tiết nào dù là nhỏ nhất đếnđâu đi nữa Nếu làm được kĩ năng suy luận logic, các thao tác tư duy, tổnghợp, khái quát hoá mới thường xuyên được rèn luyện và phát triển.

- Đối với cách dạy thông thường thì chỉ cần tổ chức cho học sinhhoạt động tìm ra đáp số của bài toán Để phát triển tư duy và rèn trí thôngminh cho học sinh thì làm như thế là chưa đủ, mà phải làm cho HS trả lờiđược các câu hỏi: Thông qua cách giải này, bài tập này lĩnh hội đượcnhững cái gì cho mình? Các “bẩy” đặt ra trong bài toán nhằm phát triển cácthao tác tư duy gì? Nếu thay đổi hoặc bớt một số dữ kiện thì bài toán cógiải được không, giải được bằng những phương pháp nào, có những cáchgiải nào khác ngắn gon và hay hơn cách đã giải hay không? Chỉ khi nàolàm những được điều trên thì học sinh mới hiểu được tác dụng của bài tập

và các phương pháp giải

- Khi giải bài toán, cần tổ chức cho mọi đối tượng HS cùng tham giatranh luận, tìm hết các phương pháp giải có thể áp dụng để giải bài toán.Khi nói lên được một ý hay, giải bài toán đúng, với phương pháp hay sẽ tạo

ra cho HS niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kích thích tư duy, nỗ lực tìm

ra cách giải hay hơn thế nữa

Trang 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1Tiểu kết chương 1

Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lí luân và thực tiễncủa đề tài bao gồm:

+ Tư duy và vấn đề phát triển tư duy cho HS: Đi từ khái niệm, tầmquan trọng, những đặc điểm, những phẩm chất, các thao tác, những hìnhthức cơ bản của tư duy, tư duy khoa học tự nhiên, tư duy hoá học, vấn đềphát triển tư duy hoá học cho học sinh

+ Khái quát về phương pháp giải bài tập hoá học: Khái niệm, ý nghĩatác dụng, phân loại, những yêu cầu lí luận dạy học cơ bản khi sử dụng cácphương pháp giải bài tập hoá học

Trang 28

CHƯƠNG 2Chương 2:

PHÁT TRIỂN TƯ DUY CHO HỌC SINH THÔNG QUA

CÁC PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TẬP HOÁ HỌC

2.1 Người học sinh cần phải làm gì để phát triển tư duy khi học môn hóa học

- Trong xã hội hiện nay, sự bùng nổ thông tin, khoa học và côngnghệ phát triển mạnh mẽ, thì dạy học không chỉ dạy kiến thức mà phải dạyphương pháp học tập, bản thân HS phải có phương pháp học tập hợp lí, màcốt lõi của phương pháp học tập là phương pháp tự học

- Việc học, nhiệm vụ của người HS, không ai có thể thay thế được Đểhọc tốt môn hóa nói riêng và các môn học khác nói chung, điều đầu tiên phải

là sự nỗ lực của bản thân học sinh, phải tích cực học tập, mong muốn học

Trang 29

giỏi, học giỏi hôm nay gắn liền với sự thành đạt trong cuộc sống tương lai.

- Hãy thoát khỏi tình trạng bị động, khắc phục chướng ngại nhậnthức, đây là yếu tố cơ bản làm cho năng lực tự học kém, thiếu độc lập trongsuy nghĩ

- Phải có hứng thú học tập bộ môn, phá vỡ chướng ngại nhận thức vàthông hiểu là cơ sở đầu tiên cho hứng thú học tập

- Phải học bằng chính sức của mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nóibằng lời nói của mình, viết theo ý của mình không dập khuôn theo câu chữcủa thầy

- Rèn luyện năng lực lập luận đúng đắn

- Để có thể lao động sáng tạo sau này, ngay từ bây giờ phải rèn luyện

tư duy, tập "sáng tạo" thông qua các vấn đề trong các câu hỏi, các bài toán,chứ không phải đơn thuần là bổ sung kiến thức vào trí nhớ của mình mộtcách thụ động

- Điều kiện cơ bản để phát triển năng lực tư duy với hiệu quả caonhất, trước hết HS phải ý thức được lợi ích lao động học tập và động cơhọc tập của mình Vì thực nghiệm đã chứng minh: Chỉ có hứng thú với mộthoạt động nào đó mới đảm bảo cho hoạt động ấy tích cực

- Mạnh dạn nêu thắc mắc và đặt câu hỏi “ Đọc tài liệu thì phải đàosâu suy nghĩ, không tin một cách mù quáng vào từng câu, từng chữ trongsách, có vấn đề gì chưa thông suốt thì phải mạnh dạn đề ra và thảo luận cho

vỡ lẽ Đối với bất cứ vấn đề gì, đều phải đặt câu hỏi “ tại sao ?” đều phảisuy nghĩ kỹ xem nó có hợp với thực tế hay không Tuyệt đối không nêntuân theo sách vở một cách xuôi chiều ”

- Không dừng lại ở việc tìm ra đáp số bài toán, mà phải biết rút ranhững điều bổ ích cho mình thông qua việc xây dựng tiến trình luận giải.Luôn luôn suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn nữa và phải biết nghiền ngẫm

để hiểu sâu sắc từng vấn đề bài toán đưa ra, trong nhiều trường hợp hãythay đổi một số dữ kiện của bài toán để xem bài toán sẽ đi theo hướng nào

Trang 30

và tìm cách giải quyết nó một cách khoa học.

- Phải thường xuyên dành thời gian để ôn tập, hệ thống hóa lại nhữngkiến thức đã học để thấy được sự logic, đồng thời tạo điều kiện để hiểu sâucác kiến thức đã học hơn nữa Chỉ khi HS hiểu được kiến thức sâu sắc thìmới vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo vào giải quyết các vấn đề màcác bài toán đặt ra Khi đó các thao tác tư duy được rèn luyện và phát triển.Bài tập càng khó thì càng có tác dụng mạnh đến sự phát triển tư duy củahọc sinh Khi tư duy đã trở nên mền dẻo, linh hoạt thì người học sẽ có cáchgiải quyết bài toán một cách thông minh nhất, hay nhất - đó là con đường

đi đến kết quả của bài toán ngắn nhất mà không dập khuôn theo ngườikhác.Tóm lại, để phát triển tư duy trong học tập người học phải tích cực,độc lập suy nghĩ để thông hiểu sâu sắc kiến thức, biến kiến thức lĩnh hộiđược từ nhiều nguồn khác nhau thành kiến thức của mình và vận dụng nómột cách linh hoạt, sáng tạo Tuyệt đối không dập khuôn máy móc theocon đường mà người khác đã đi Trí thông minh là đỉnh cao của sự pháttriển trí tuệ, sự tổng hợp của nhiều yếu tố trong đó yếu tố quan trọng nhất làcác thao tác tư duy nó phải được rèn luyện và phát triển Rèn các thao tác

tư duy nhanh nhạy, linh hoạt, sáng tạo chính là rèn trí thông minh

2.2 Một số biện pháp nhằm phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hoá học

2.2.1 Rèn năng lực quan sát

2.2.1.1 Quan hệ biện chứng giữa óc quan sát và tư duy

Năng lực quan sát là khả năng tri giác có chủ định, diễn ra tương đối

độc lập và lâu dài của con người nhằm phản ánh đầy đủ, rõ rệt các sự vật,hiện tượng và những biến đổi của chúng Cùng với sự phát triển, phức tạpdần lên của đời sống xã hội và của các thao tác lao động, quan sát trở thành

Trang 31

một mặt tương đối độc lập của hoạt động và trở thành một phương phápnghiên cứu khoa học cũng như nhận thức thực tiễn trong đó có quá trìnhdạy và học hoá học Thật vậy, muốn ham mê, yêu thích và học giỏi hoá họcthì HS phải có năng lực quan sát Hóa học là một môn khoa học thựcnghiệm và lí thuyết, phương pháp nghiên cứu, giảng dạy, học tập cũng trên

cơ sở quan sát để phân tích, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa thànhcác khái niệm, định luật, học thuyết, … rồi từ lí thuyết đã có vận dụngnghiên cứu các sự vật và hiện tượng khác ở phạm vị rộng hơn thông quacon đường diễn dịch Do đó, không có năng lực quan sát thì HS sẽ khôngthể học giỏi hoá học ngay cả đối với những HS có khả năng tư duy toánhọc tốt Năng lực quan sát ở mỗi HS là khác nhau, thể hiện ở mức độ trigiác nhanh chóng, chính xác những điểm quan trọng, chủ yếu, đặc sắc của

sự vật, hiện tượng nói chung và các sự kiện, hiện tượng hoá học nói riêng

Vì vậy, thông qua các bài học hoá học, đặc biệt là các bài thực hành, GVhoá học có nhiều cơ hội rèn luyện năng lực quan sát cho HS Khi quan sát,

GV cần hướng dẫn, yêu cầu HS làm tốt các đề xuất sau:

1 Xác định rõ mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, nhiệm vụ quan sát

2 Chuẩn bị chu đáo (cả về tri thức và phương tiện) trước khi quan sát

3 Tiến hành quan sát có kế hoạch và có hệ thống

4 Khi quan sát cần tích cực sử dụng phương tiện ngôn ngữ hoá học

5 Khuyến khích và tạo điều kiện cho HS sử dụng nhiều giác quankhi quan sát nhưng phải đảm bảo an toàn

6 Cần ghi lại các kết quả quan sát, xử lí những kết quả đó và rút ranhững kết luận cần thiết Thực tế ở trường phổ thông ít làm thí nghiệm, mànếu có cũng không chú ý rèn óc quan sát cho học sinh, thông thường HSquan sát, rồi GV giải thích giúp học sinh, mà không tạo cơ hội để HS độngnão suy nghĩ

Như vậy, óc quan sát và tư duy có mối quan hệ biện chứng vớinhau Tư duy phải dựa trên cơ sở quan sát và quan sát là điểm xuất phát

Trang 32

của tư duy.

2.2.1.2 Rèn năng lực quan sát sắc sảo, mô tả, giải thích hiện tượng các quá trình hóa học

Kết quả quan sát là những dữ kiện có ý nghĩa để nghiên cứu các chất,

phản ứng, hiện tượng hóa học, dữ kiện quan sát càng đầy đủ, rõ ràng sẽ là

cơ sở tốt cho hoạt động tư duy chính xác Đối tượng quan sát trong hóa học

có thể là các chất, công thức, thí nghiệm, hiện tượng tự nhiên, PTHH, bàitập thực nghiệm hay một bài toán bất kì

C nhường 3 electron D nhường 2 electron.

Khi gặp những bài toán như thế này GV cần hướng cho học sinh quan sátxem trạng thái số oxi hoá ban đầu và trạng thái số oxi hoá sau của cácnguyên tố trong phản ứng., khi học sinh có được tư duy như vậy thì tư duycủa học sinh đã được phát triển

 tổng nhường 2e  (Đáp án D)

Ví dụ 2: Cho 4,48 lít hỗn hợp X (ở đktc) gồm 2 hiđrocacbon mạch hở lội

từ từ qua bình chứa 1,4 lít dung dịch Br2 0,5M Sau khi phản ứng hoàntoàn, số mol Br2 giảm đi một nửa và khối lượng bình tăng thêm 6,7 gam.Công thức phân tử của 2 hiđrocacbon là (cho H = 1, C = 12)

A C2H2 và C4H6 B C2H2 và C4H8 C C3H4 và C4H8 D C2H2

và C3H8

Trong những bài toán như thế này để rèn luyện khả năng tư duy linh hoạtcho học sinh GV định hướng cho học sinh có thể dựa vào đáp án để tư duy

Trang 33

Cụ thể: Ta thấy nếu đáp án A thì tỉ lệ số mol hai hiđrocacbon : số mol Br2 =

1 : 2 (loại) Đáp B và C giống nhau đó là hỗn hợp hai hiđrocac bon gồmmột anken và một ankin Đáp án D thì chỉ có C2H2 tác dụng với Br2

1n

2 = 0,175 Khối lương bình Brom tăng khác với khốilượng C2H2 (loại) Đáp B và C giống nhau đó là hỗn hợp hai hiđrocac bongồm một anken và một ankin

 MHai hi®rocacbon = 6,7 : 0,2 = 33,5 (loại C) Vậy dáp án đúng là B

Có nhiều GV cho rằng nếu giải như vậy thì làm cho học sinh thiếu đi bảnchất hoá học, nhưng đó là quan niệm sai lầm Càng tư duy như trên thì bảnchất hoá học càng được học sinh sử dụng một cách linh hoạt

Ví dụ 3: Hợp chất hữu cơ no, đa chức X có công thức phân tử C7H12O4.Cho 0,1 mol X tác dụng vừa đủ với 100 gam dung dịch NaOH 8% thu đượcchất hữu cơ Y và 17,8 gam hỗn hợp muối Công thức cấu tạo thu gọn của

Ví dụ 4: Đốt cháy hoàn toàn a mol axit hữu cơ Y được 2a mol CO2 Mặtkhác, để trung hòa a mol Y cần vừa đủ 2a mol NaOH Công thức cấu tạothu gọn của Y là

A HOOC-CH2-CH2-COOH B C2H5-COOH

C CH3 -COOH D HOOC-COOH.

Trang 34

Khi gặp những bài toán như trên thì quan trọng nhất là GV hướng cho họcsinh tư duy:

- Khi đốt cháy một hợp chất hữu cơ thường số nguyên tử C của HCHC =

Ví dụ 5: Hợp chất hữu cơ X (phân tử có vòng benzen) có công thức phân tử

C2H8O2, tác dụng được với Na và với NaOH Biết rằng khi cho X tác dụngvới Na dư, số mol H2 thu được bằng số mol X tham gia phản ứng và X chỉtác dụng được với NaOH theo tỉ lệ số mol 1:1 Công thức cấu tạo thu gọncủa X là

A CH3OC6H4OH B C6H5CH(OH)2

C HOC6H4CH2OH D.CH3C6H3(OH)2

Nếu ta quan sát vào công thức của các đáp án ta thấy:

Đáp án A: khi cho chất đó tác dụng với Na thì

Đáp án D: Thì chất đó lại tác dụng được với NaOH theo tỉ lệ

n : n  1 : 2 (loại)

Chỉ có đáp án C là thoả mãn được tính chất của X

Từ ví dụ trên ta thấy chỉ dựa vào quan sát công thức cũng có thể tìm đượcđáp án nhanh cho bài toán, nhưng muốn quan sát như vậy thì phải trang bị

Trang 35

cho HS những kiến thức cơ bản Khi đã có khả năng quan sát như vậy thì tưduy của học sinh chắc chắn sẽ phát triển, vì đây là quan sát phải dùng tưduy, chứ không phải bằng mắt là chọn được đáp án.

2 Quan sát một sơ đồ phản ứng

Ví dụ :

Hiđro hoá hoàn toàn m gam hỗn hợp X gồm 2 anđehit no, đơn chứcmạch hở kế tiếp nhau trong dãy đồng đẳng thu được ( m+1) gam hỗn hợp 2ancol Mặt khác khi đốt cháy hoàn toàn cũng m gam X thì cần vừa đủ17,92 lit O2 (đktc) Giá trị của m là

A 17,8 gam B 24,8 gam C 10,5 gam D 8,8gam

3 Quan sát một bài tập hóa học

- Phải nhìn logic nội dung của bài toán, tìm hiểu từ ngữ, hiểu sơ bộ ý

đồ của tác giả

Trang 36

- Tìm hiểu giả thiết và yêu cầu của đề bài.

- Hình dung tiến trình luận giải và biết phải bắt đầu từ đâu

- Đâu là chỗ có vấn đề của bài toán

- Có cách nào hay hơn không (thông qua tính đặc biệt của đề bài …)

Ví dụ 1: Hoà tan 26,8 gam 1 hỗn hợp 2 axit cacboxylic no, đơn chức, mạch

hở vào

nước, rồi chia dd thu được thành 2 phần bằng nhau

Phần 1:cho tác dụng với dd AgNO3 dư trong NH3, đun nóng thì thu được21,6 gam Ag

Phần 2: được trung hòa vừa đủ bởi 200 ml dd NaOH 1M.CTCT thu gọn vàkhối lượng của axit cacboxylic có khối lượng mol phân tử lớn hơn là

A CH3COOH và 4,6 gam B C3H7COOH và 17,6 gam

C HCOOH và 9,2 gam D C2H5COOH và 17,6 gam

 Hỗn hợp 2 axit ban đầu có phản ứng tráng bạc trong hỗn hợp này

có HCOOH Đặt CTPT của axit còn lại là: C n H 2n COOH

Trang 38

về một vấn đề mình định trình bày thì diễn đạt không trong sáng, thiếuchính xác, lộn xộn Nó chứng tỏ kiến thức cơ bản chưa vững, ý nghĩ rốirắm, khả năng tư duy thấp kém Dẫn đến:

- Không biết nên bắt đầu giải bài toán từ đâu

- Thông thường HS giải ra bài toán là cốt để tìm ra đáp số của bàitoán, chứ không phải qua bài toán rút ra mình cần lĩnh hội những gì

- Cái còn đọng lại sau khi giải bài toán không phải là những con

học tập mà trong thực tiễn cuộc sống sau này Tri thức đã học có thể lâu

rồi sẽ quên, nhưng cái còn đọng lại chính là phương pháp tư duy logic, biện chứng và trí thông minh sáng tạo trong công việc Thực tế trong hoạt

động giải bài tập, GV chưa chú ý rèn luyện và bồi dưỡng cho các em vấn

đề này, mà chủ yếu vẫn: chép đề lên bảng (hoặc xem sách), cho HS chuẩn

bị rồi gọi một HS lên bảng chữa, GV kiểm tra bài làm của một số em, cảlớp nhìn lên bảng xem bạn làm đúng chưa, GV giảng lại cách làm và cho

HS chép vào vở Thật ra còn nhiều HS chưa hiểu một số điểm trong bài:Tại sao lại không đi từ A mà lại đi từ B ? Ngoài cách giải như trên còn cócách nào khác không ? Thôi cứ chép vào vở rồi về nhà xem lại Bài nàynhư vậy, bài sau cũng như vậy, rồi các bài sau nữa,… cứ thế chướng ngạinhận thức ngày càng chồng chất mà HS không sao phá vỡ được, dẫn đếnhọc bộ môn thật nặng nề Do lớp đông, thời gian có hạn, GV lại không có

Trang 39

điều kiện để kiểm tra hết bài làm của tất cả HS nên không có điều kiện uốnnắn sửa chữa kịp thời Từ đó dẫn đến khả năng tư duy, trình bày của HSthiếu logic, mạch lạc, chất lượng học tập không cao, độ bền kiến thức giảm.

2.2.2.2 Một số biện pháp để rèn các thao tác tư duy cho học sinh

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy HS sẽ khó hoặc không thểnắm vững được tri thức về hóa học nếu không có kĩ năng áp dụng các thaotác tư duy Vì vậy khi cho HS xem xét một vấn đề về hóa học nào đó (thínghiệm, hiện tượng, bài toán, …) thì cần rèn cho HS biết cách xem xét nhưthế nào đó cho có hiệu quả:

- Trước hết phải tri giác (nhìn, đọc …) "bài toán" một cách tổng quát(tổng hợp)

- Sau đó, suy nghĩ phân tích từng yếu tố, từng dữ kiện, từng yêu cầu,từng khía cạnh của bài toán, để biết được cái đã cho ? Cái gì phải tìm ?

- Cuối cùng tổng hợp các yếu tố, các dữ kiện, các khía cạnh của bàitoán để nhận thức toàn bộ bài toán một cách đầy đủ và sâu sắc hơn

- Với mỗi bài toán không vội giải ngay, mà phải xem xét một cáchtổng hợp, phân tích - tổng hợp để qua đó thấy được kiến thức cần vận dụng(PTHH, tính chất, qui luật, công thức, …)

- Xây dựng tiến trình luận giải bằng lập luận chặt chẽ

- Thực hiện đầy đủ từng bước tiến trình đó, mỗi phép tính, mỗi bướcgiải đều phải có cơ sở lập luận vững chắc So sánh bài toán này với nhữngbài toán trước đó có gì giống và khác nhau không ?

- Cố gắng tìm ra tính chất đặc biệt của bài toán để tìm ra cách giải tối

ưu, độc đáo nhất

- Kiểm tra lại cách giải Cuối cùng khái quát hóa thành dạng bài toán

và phương pháp giải Phân tích tác dụng của bài tập và từ vấn đề bài toánđưa ra có thể đặt ra những vấn đề tiếp theo yêu cầu HS giải quyết

- Chất lượng và phương pháp giải của mỗi bài toán cũng rất quantrọng Để đảm bảo có hiệu quả thì qua mỗi bài, mỗi chương và mỗi học kì,

Trang 40

…GV nên tự mình xây dựng cho mình một hệ thống bài tập và phươngpháp giải phù hợp với trình độ của từng lớp, từng đối tượng học sinh Ưutiên xây dựng những bài tập và phương pháp giải phát triển thêm kiến thức,bài tập có nhiều cách giải hay để phát huy tối đa năng lực tư duy linh hoạt,sáng tạo cho HS

2.2.3 Rèn năng lực tư duy độc lập

2.2.3.1 Tại sao phải rèn năng lực tư duy độc lập cho học sinh ?

Khi đánh giá trình độ hiểu biết hóa học của một HS, tất nhiên phảichú ý đến khối lượng kiến thức hóa học mà HS đó đã lĩnh hội được, nhưngnhư thế là chưa đủ, còn phải chú ý đến khả năng sử dụng kiến thức đó đểgiải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra bằng suy luận độc lập của mình,chính điều này mới đảm bảo việc tiếp thu kiến thức một cách vững chắc Vìthế, một vấn đề rất quan trọng của dạy học là phải rèn luyện cho HS thóiquen suy nghĩ và hành động độc lập, từ tư duy độc lập sẽ dẫn đến tư duyphê phán, khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề rồi đến tư duy sáng tạo.Như vậy, độc lập là tiền đề cho sáng tạo Trong thực tiễn dạy học, việctruyền thụ kiến thức và rèn năng lực suy nghĩ độc lập không được coi trọngnhư nhau, mà vẫn nặng về truyền thụ, trong khi đó rèn các thao tác tư duyđộc lập là phương pháp có hiệu quả nhất để HS tiếp thu kiến thức một cáchsâu sắc và sáng tạo nhất

2.2.3.2 Giáo viên cần phải làm gì để rèn năng lực tư duy độc lập cho học sinh?

a) Tạo điều kiện cho học sinh suy nghĩ độc lập

- Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý bồi dưỡng năng lực tự họccho HS bằng cách: tăng cường nêu câu hỏi để HS trả lời, nêu vấn đề để HSnghiên cứu đề xuất cách giải quyết, tự rút ra kết luận, điều này không chỉgiúp HS hiểu sâu, dễ nhớ, mà còn rèn năng lực độc lập suy nghĩ Đây làmột vấn đề không dễ dàng vì khi đặt câu hỏi, GV phải hình dung trước câu

ấy sẽ dành cho đối tượng nào ? Dự đoán HS sẽ trả lời ra sao ? Cách uốn

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cao Thị Thiên An - Phương pháp giải nhanh các bào tập trắc nghiệm hóa học hữu cơ - NXB DDHQG Hà Nội (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giải nhanh các bào tập trắc nghiệmhóa học hữu cơ
Nhà XB: NXB DDHQG Hà Nội (2008)
2. Ngô Ngọc An - Tuyển chọn phân loại các dạng bài tập đề thi tuyển sinh Đại học - NXB ĐHSP (2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: chọn phân loại các dạng bài tập đề thi tuyểnsinh Đại học
Nhà XB: NXB ĐHSP (2003)
3. Ngô Ngọc An - Hóa học 11 nâng cao - NXB ĐHSP (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hóa học 11 nâng cao
Nhà XB: NXB ĐHSP (2007)
4. Phạm Đức Bình - Lê Thị Tam - Nguyễn Hoang Phương - Hướng dẫn giải đề thi tuyển sinh Hóa học hữu cơ theo 10 chủ đề - NXB ĐHQGTP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫngiải đề thi tuyển sinh Hóa học hữu cơ theo 10 chủ đề
Nhà XB: NXB ĐHQGTPHồ Chí Minh
5. Hoàng Chúng - Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục - NXB Giáo dục (1993) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáodục
Nhà XB: NXB Giáo dục (1993)
6. Lê Văn Dũng - Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinh trung học phổ thông qua bài tập hóa học - Luận án tiến sĩ Giáo dục, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực nhận thức và tư duy cho học sinhtrung học phổ thông qua bài tập hóa học
7. Nguyễn Đình Độ - Chuyên đề Bồi dưỡng Hóa học cấp 3 những bài toán biện luận trong hóa học - NXB Đà Nặng (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Bồi dưỡng Hóa học cấp 3 những bàitoán biện luận trong hóa học
Nhà XB: NXB Đà Nặng (1999)
8. Cao Cự Giác - Kỹ thuật phân tích và giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học - NXB DDHQG TP Hồ Chí Minh (2010) Sách, tạp chí
Tiêu đề: - Kỹ thuật phân tích và giải nhanh bài tập trắc nghiệmhóa học
Nhà XB: NXB DDHQG TP Hồ Chí Minh (2010)
9. Cao Cự Giác - Phát triển tư duy và rèn luyện kỉ năng thực hành hóa học cho học sinh trung học phổ thông thông qua bài tập hóa học thực nghiệm - Luận án Tiến sĩ - ĐHSP Hà Nội (2007) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển tư duy và rèn luyện kỉ năng thực hành hóahọc cho học sinh trung học phổ thông thông qua bài tập hóa học thựcnghiệm
10. Cao Cự Giác - Các phương pháp chọn lọc giải nhanh bài tập trắc nghiệm hóa học - NXB Giáo dục (2009) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp chọn lọc giải nhanh bài tập trắcnghiệm hóa học
Nhà XB: NXB Giáo dục (2009)
11. Cao Cự Giác - Hướng dẫn giải nhanh bài tập trắc nghiệm Hóa học - NXB ĐHSP (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giải nhanh bài tập trắc nghiệm Hóa học
Nhà XB: NXB ĐHSP (2008)
12. Phạm Minh Hạc (chủ biên) - Tâm lí học - NXB Giáo dục (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học
Nhà XB: NXB Giáo dục (1997)
13. Võ Tường Huy - 351 Bài toán hóa học - NXB trẻ TP Hồ Chí Minh (1996) Sách, tạp chí
Tiêu đề: - 351 Bài toán hóa học
Nhà XB: NXB trẻ TP Hồ Chí Minh(1996)
14. Nguyễn Thanh Khuyến - Phương pháp giải toán hóa học hữu cơ - NXB ĐHQG Hà Nội (2001) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp giải toán hóa học hữu cơ
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội (2001)
15. Nguyễn Ngọc Quang - Nguyễn Cương - Dương Xuân Tinh - Lý luận dạy học hóa học, tập 1 - NXB Giáo dục (1982) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luậndạy học hóa học
Nhà XB: NXB Giáo dục (1982)
16. Nguyễn Ngọc Quang - Lý luận dạy học hóa học, Tập 1 - NXB Giáo dục (1994) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hóa học, Tập 1
Nhà XB: NXB Giáodục (1994)
17. Trần Quốc Sơn - Một số phản ứng của hợp chất hữu cơ - NXB Giáo dục (2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phản ứng của hợp chất hữu cơ
Nhà XB: NXB Giáodục (2006)
18. Nguyễn Xuân Trường - Bài tấp hóa học ở trường phổ thông - NXB ĐHQG Hà Nội (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tấp hóa học ở trường phổ thông
Nhà XB: NXBĐHQG Hà Nội (1997)
19. Nguyễn Xuân Trường - Cao Cự Giác - Các xư hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông hiện nay. Tạp chí Giáo dục, 128 (2005) tr 34 - 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các xư hướng đổi mới phươngpháp dạy học hóa học ở trường phổ thông hiện nay
20. Nguyễn Quang Uẩn (chu biên) - Tâm lí học đại cương - NXB ĐH QG Hà Nội (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đại cương
Nhà XB: NXB ĐH QGHà Nội (2011)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1b:Bảng tổng điểm của các bài kiểm tra - Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 1b Bảng tổng điểm của các bài kiểm tra (Trang 117)
Bảng 2: Số % HS đạt điểm X i - Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 2 Số % HS đạt điểm X i (Trang 118)
Bảng 4: Số % HS đạt điểm yếu-kém, trung bình, khá giỏi - Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 4 Số % HS đạt điểm yếu-kém, trung bình, khá giỏi (Trang 119)
Đồ thị đường lũy tích bài 1 - Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông luận văn thạc sỹ giáo dục học
th ị đường lũy tích bài 1 (Trang 120)
Đồ thị đường lũy tích bài 2 - Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông luận văn thạc sỹ giáo dục học
th ị đường lũy tích bài 2 (Trang 121)
Bảng 5: Các giá trị tham số đặc trưng - Phát triển tư duy cho học sinh thông qua các phương pháp giải bài tập hóa học hữu cơ ở trường trung học phổ thông luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 5 Các giá trị tham số đặc trưng (Trang 123)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w