1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 (qua khảo sát tại trường THPT chuyên lương thế vinh, tp biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

119 2,1K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển năng lực tự học cho học sinh thpt thông qua dạy học môn gdcd lớp 12 (qua khảo sát tại trường thpt chuyên lương thế vinh, tp. biên hòa, tỉnh đồng nai)
Tác giả Nguyễn Thị Bích Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS. Đoàn Minh Duệ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục Chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

dẫn học sinh tự học chương trình GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên Phan Bội Châu”;…và một số luận án tiến sĩ được bảo vệ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nộinhư: “Biện pháp tăng cường hoạt độn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ BÍCH HỒNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12

(Qua khảo sát tại Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh,

Tp Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Tp Hồ Chí Minh, 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12

(Qua khảo sát tại Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh,

Tp Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Chuyên nghành: LL VÀ PPDH BỘ MÔN CHÍNH TRỊ

Mã Số: 60.14.10

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐOÀN MINH DUỆ

Tp Hồ Chí Minh, 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi

đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều Thầy, Cô trong và ngoài trường

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy PGS.TS.Đoàn Minh Duệ, thầy đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi hoàn thànhluận văn này

Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô trong khoaGiáo dục Chính trị, Trường Đại học Vinh và Ban giám hiệu cùng các thầy, côTrường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai đã tạo điều kiện tốtnhất cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong giađình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua!

TP Hồ Chí Minh, năm 2012

Tác giả

Nguyễn Thị Bích Hồng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang A MỞ ĐẦU……….6

B NỘI DUNG……… 12

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP12……….12

1.1 Lý luận chung về tự học………12

1.2 Cơ sở thực tiễn để phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD 12……… 28

Chương 2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH, BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI………44

2.1 Chuẩn bị thực nghiệm………44

2.2 Nội dung thực nghiệm………45

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC MÔN GDCD LỚP 12 Ở TRƯỜNG THPT CHUYÊN LƯƠNG THẾ VINH, BIÊN HÒA, ĐỒNG NAI………77

3.1 Những căn cứ đề xuất các giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai thông qua dạy học môn GDCD lớp 12……… ……… 77

3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai thông qua dạy học môn GDCD lớp 12……….80

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………104

D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO………108

PHỤ LỤC………111

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CNTT: Công nghệ thông tin

GDCD: Giáo dục công dân

Trang 6

ý thức trách nhiệm xã hội” [13; 216].

Trong hệ thống giáo dục và đào tạo bậc THPT, môn GDCD giữ một vị trí, vai trò quantrọng trong việc trang bị các giá trị chuẩn mực đạo đức, bước đầu xây dựng nền tảng hệ thốngquy định pháp luật cơ bản Thông qua nội dung bài học trong chương trình nhằm xây dựng lốisống, giáo dục nhân cách, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh Qua đó giúp các em xác địnhđược trách nhiệm của bản thân trong việc thực hiện các đường lối, chủ trương của Đảng, phápluật của nhà nước Mặt khác, mỗi học sinh biết vận dụng các kiến thức đã học để đánh giá cácvấn đề xảy ra trong cuộc sống thực tiễn, lựa chọn hành vi ứng xử phù hợp với các hành vi xãhội Tuy nhiên, thực tế cho thấy, tại các trường THPT nói chung và trường THPT chuyên nóiriêng, môn GDCD chưa được quan tâm đúng mức, từ người quản lý, giáo viên bộ môn, họcsinh đến phụ huynh chưa thấy được tầm quan trọng, vai trò và vị trí của môn GDCD thậm chícho rằng đây là môn học phụ, môn học bổ trợ hoặc đồng nhất môn học này với môn chính trịhay thuần túy là dạy đạo đức, nhất là đối với học sinh trường chuyên, nơi đào tạo nguồn nhânlực chất lượng cao cho xã hội

Trang 7

Môn GDCD bậc THPT lượng kiến thức cần truyền tải cho HS rất nhiều, nội dung kiếnthức tổng hợp mang tính khái quát và tính trừu tượng cao nhưng với lượng thời gian 1 tiết/tuần nên việc giảng dạy chỉ mới đảm bảo truyền thụ cho học sinh những kiến thức cơ bảntrong sách giáo khoa.Vì vậy, muốn phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh cần

phải hình thành và xây dựng thói quen tự học để tự lĩnh hội tri thức Trong thời đại “bùng

nổ thông tin” với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, sự tăng

nhanh chóng và thường xuyên của khối lượng thông tin tri thức nên việc dạy học không còngiới hạn trong phạm vi truyền đạt kiến thức mà thông qua hoạt động dạy- học nhằm tăngcường rèn luyện phương pháp, thái độ và nhận thức để tự định hướng, tự cập nhật làm giàutri thức của mình đáp ứng yêu cầu của xã hội

Nói đến phương pháp học thì vấn đề cốt lõi là phương pháp tự học đây là cầunối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Để rèn luyện cho học sinh có được kỹnăng, phương pháp, thói quen tự học, biết vận dụng các kiến thức đã học, biết tự lựcphát hiện và giải quyết vấn đề trong cuộc sống thực tiễn Đặc biệt đối với học sinhtrường chuyên năng lực tư duy, óc suy diễn và sự tưởng tượng đánh giá rất cao Do

đó, GV phải có phương pháp dạy phù hợp để phát huy hết năng lực tư duy của họcsinh, chú trọng gợi mở, hướng dẫn cho học sinh phương pháp tự học, đào sâu kiếnthức

Xuất phát từ những lý do trên nên tác giả chọn vấn đề “Phát triển năng lực tự

học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12” (qua khảo sát tại Trường PHPT chuyên Lương Thế Vinh, Tp Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai) làm

đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT không phải là một vấn đềmới, mà từ trước đến nay có rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các chuyên gia vànhiều GV đề cập ở những góc độ khác nhau

Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những năm 1950 của thập kỷ XX, khi nói vềcông tác huấn luyện và học tập đã nhấn mạnh “Phải nâng cao và hướng dẫn tự học”

Trang 8

Năm 1997 trong cuộc hội thảo về công tác huấn luyện mang tên “Nghiên cứu

và phát triển tự học, tự đào tạo” đã thu hút được được sự quan tâm của nhiều giáo sư

và những nhà nghiên cứu đầu ngành Ngay sau đó tạp chí nghiên cứu giáo dục, số

2-1998 ra riêng một số báo đặc biệt đăng tải một số bài tiêu biểu trong hội thảo

Cũng trong năm 1998, Nhà xuất bản Giáo dục cho ra mắt cuốn “Tự học, tự đàotạo, tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam”, của Trung tâm nghiêncứu và phát triển tự học, GS Nguyễn Cảnh Toàn và GS Nguyễn Như Ý chịu trách

nhiệm xuất bản

Năm 1999 có cuốn sách “tự học là một nhu cầu của thời đại” của Nguyễn HiếnLê; “tôi tự học” của Nguyễn Duy Cần và Thu Giang; “Luận bàn về kinh nghiệm tựhọc” của GS Nguyễn Cảnh Toàn… Những cuốn sách là tài liệu quý, đã đúc kếtnhiều kinh nghiệm quý báu trong quá trình học hỏi vươn lên của các tác giả

Nguyễn Cảnh Toàn là một người thầy vô cùng tâm đắc và luôn trăn trở với vấn

đề tự học đã cho ra đời hai cuốn sách quý giá “Học và dạy cách học”, Nxb Giáo dục

và tuyển tập tác phẩm “Tự giáo dục, tự học” tập 1 và tập 2, Trường Đại học Sưphạm Hà Nội I, do Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2001.Cuốn sách là những lời tâm sự, đúc kết các phương pháp tự học có hiệu quả vànhững thành công của Giáo sư về vấn đề tự học

Các tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường trongcuốn sách “Quá trình dạy- tự học” đã khẳng định năng lực tự học của HS dù cònđang phát triển vẫn là nội lực quyết định của bản thân người học, GV là tác nhânhướng dẫn, tổ chức, chỉ đạo cho HS

Tự học không phải là mảnh đất mới chưa được “cày xới” mà là vấn đề đượccác nhà giáo dục khai thác ở những khía cạnh khác nhau Ở Trường Đại học Vinhthời gian gần đây có một số luận văn Thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề này như: Nguyễn

Thị Thanh Hương “Vận dụng phương pháp tổ chức hoạt động tự học để nâng cao

năng lực học tập phần CNXHKH của sinh viên các trường cao đẳng (Qua khảo sát

tại Trường Cao đẳng Y tế Nghệ An) Lê Thị Long cũng đã tìm hiểu đề tài “Hướng

Trang 9

dẫn học sinh tự học chương trình GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên Phan Bội Châu”;…và một số luận án tiến sĩ được bảo vệ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội

như: “Biện pháp tăng cường hoạt động tự học của học sinh Trường Trung học Sư

phạm Thanh Hóa” của Đặng Thị Ngần; “Bồi dưỡng năng lực tự học của học sinh THPT khối chuyên hóa thông qua bài tập hóa” của Trần thị Thu Hằng…

“Tự học như thế nào?” của Rubakin với bản dịch của Nguyễn Đình Côi, xuấtbản 1982, giúp chúng ta tự học tập, nâng cao kiến thức tự học của mình Lê khánhBằng đã dịch từ nguyên văn tiếng Anh “Phương pháp dạy học và dạy cách học ởĐại học” được Trường Đại học Sư phạm Hà Nội lưu hành 2001

Hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định tự học có ý nghĩa và vai tròquan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi người là nhân tốquan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học, là yếu tố cơ bản để người học lĩnhhội tri thức, kỹ năng và hình thành thái độ Những giáo trình, tài liệu, công trìnhnghiên cứu về lý luận tự học nói chung khá phong phú và đã định hướng mục tiêutầm quan trọng và những kinh nghiệm về tự học Nhưng những công trình nghiêncứu về phát triển năng lực tự học của học THPT nói chung và năng lực tự học mônGDCD của học sinh trường chuyên thì chưa nhiều Do vậy, trong luận văn này mộtmặt tác giả kế thừa những vấn đề lý luận về tự học nói chung của các tác giả, mặtkhác cố gắng phân tích, triển khai áp dụng vào một vấn đề mới hơn, có ý nghĩa thực

tế hơn, liên quan trực tiếp đến chuyên môn và nghiệp vụ của mình thông qua đề tàiluận văn cao học thạc sỹ mà tôi lựa chọn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học cho họcsinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 Từ kết quả khảo sát, thực nghiệmkhoa học đề ra một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh tronggiai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm phát triển năng lực tự học cho học

sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 nhằm góp phần nâng cao hiệu quảcủa quá trình dạy học

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm những giải pháp nhằm phát triển năng lực tựhọc cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 tại Trường THPTchuyên Lương Thế Vinh,Tp Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh THPTthông qua dạy học môn GDCD lớp 12

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng và chủ nghĩa duy vậtlịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổimới nội dung và phương pháp dạy học Ngoài ra, tác gỉa còn kế thừa những vấn đề

lý luận nói chung về tự học và phát triển năng lực của các tác giả khác

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩaMác- Lênin cũng như các ngành khoa học xã hội, ngoài ra tôi đặc biệt sử dụng kếthợp một số phương pháp sau :

- Phương pháp điều tra xã hội học;

- Phương pháp phỏng vấn;

- Phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê;

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm…

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Do địa bàn Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh rộng, nhiều lớp nên tácgiả chọn 4 lớp khối 12 để tiến hành điều tra, khảo sát, thực nghiệm và vận dụngcác giải pháp

5.1 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của các giải pháp nhằm phát triển nănglực tự học và thực trạng tự học môn GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên Lương ThếVinh, Tp Biên Hòa, Tỉnh Đồng Nai Đề ra một số phương pháp nhằm phát triển nănglực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy một số bài cụ thể của môn GDCD lớp 12.

6 Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các em sinh viên cũng như cácbạn học viên cao học ngành chính trị

Ngoài ra đây sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho các bạn đồng nghiệp xa gần

7 Giả thuyết khoa học

Nếu xác định được năng lực tự học và những biểu hiện của năng lực tự học mônGDCD lớp 12, đồng thời căn cứ vào mục tiêu của dạy học môn GDCD trong trườngTHPT hiện nay thì luận văn có thể đề xuất được giải pháp có luận cứ khoa học đảmbảo tính khả thi, có hiệu quả góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh THPT

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kếtcấu luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm phát triển năng lực tự học cho sinh

THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12

Chương 2 Thực nghiệm sư phạm các biện pháp nhằm phát triển năng lực tự

học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 tại Trường THPT

chuyên Lương thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai

Chương 3 Một số giải pháp nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh

THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 tại Trường THPT chuyên Lương Thế

Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai

Trang 12

B NỘI DUNG

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG

LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THPT THÔNG QUA DẠY HỌC

MÔN GDCD LỚP 12 1.1 Lý luận chung về tự học

1.1.1 Các quan niệm về tự học

Tự học là một nội dung vừa có tính truyền thống vừa có tính thời sự khôngchỉ ở nước ta mà còn là vấn đề của nhiều nước Ngay từ xa xưa, Khổng Tử đã ýthức được tầm quan trọng của việc tự học đối với mỗi con người Theo ông họckhông chỉ ở trường mà còn học ở bạn bè, học ở mọi nơi mọi chổ, học ở mọingười bằng ý chí và nghị lực và niềm say mê là cách tự học của Khổng Tử Ông

đã chỉnh lý một số sách cổ kinh điển của nho gia như: Kinh thi, Kinh thư, kinhlễ… Có được thành tựu này là do ông luôn có tinh thần tự học hỏi, tự bồi dưỡng

và quan trọng hơn là ông biết cách tự học

Bác Hồ là tấm gương lớn của tự học, Người đã đến với Chủ Nghĩa Cộng Sảncủng bằng con đường tự học và sự tự học của Người gắn chặt với mục tiêu lý tưởng

mà Người đã vạch ra Đặc biệt, Bác rất chú trọng sự thực hành trong tự học và luôncoi thư viện là trường học lớn của mình Người cho rằng tự học chính là sự nổ lựccủa bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạchtrên tinh thần tự động học tập

Nguyễn Kỳ cho rằng, “Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí củangười tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lýcác tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình, nhận biết vấn đề, thu thập xử

lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, xử lýtình huống, thực nghiệm các giải pháp, kết quả, kiến thức mới mình đã tự lực tìm ra,

tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” [30; 15] Khi nghiên cứu các biện pháp

tổ chức hoạt động tự học, tác giả Nguyễn Thị Tính cho rằng: “Tự học là một quá

Trang 13

trình, trong đó dưới vai trò chủ đạo của GV, người học tự mình chiếm lĩnh tri thức,

kỹ năng, thông qua các hoạt động trí tuệ (quan sát, phân tích, tổng hợp, so sánh phánđoán …) và cả các hoạt động thực hành (khi phải sử dụng các thiết bị đồ dùng họctập) Tự học gắn liền với động cơ, tình cảm và ý chí… của người học để vượt quachướng ngại vật hay vật cản trong học tập nhằm tích lũy kiến thức cho bản thânngười học từ kho tàng tri thức của nhân loại, biến những kinh nghiệm này thànhkinh nghiệm và vốn sống của bản thân người học” [36; 23]

Phan Trọng Luân thì cho rằng “học là công việc của cá nhân Học là công việccủa bản thân người học một trong các mục đích quan trọng của dạy học là dạycách học” [33; 8]

Trong cuốn sách “Tự học như thế nào”, Rubakin khẳng định rằng tự học là mộtquá trình so sánh đối chiếu và giải đáp, đó là sự so sánh giữa lý thuyết và thực hành,giữa sách vở và thực tế cuộc sống, từ đó rút ra cho mình một tri thức riêng đầy sángtạo.Trong quá trình tự học con người không hoàn toàn phụ thuộc vào cuộc sống màcần phải cải tạo cuộc sống sao cho ngày càng cao hơn

Nguyễn Cảnh Toàn, người đã giành nhiều tâm huyết vào vấn đề tự học, đãđưa ra một quan niệm về tự học có thể xem là hoàn chỉnh “Tự học là tự mìnhdùng các giác quan để thu thập thông tin rồi tự mình động não, sử dụng các nănglực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi cả cơ bắp (khi phải

sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cảnhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào

đó, một kỹ năng nào đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồngrồi biến chúng thành sở hữu của mình Phát minh ra cái mới cũng có thể coi làhình thức tự học cao cấp” [43; 407]

Nhìn chung, các tác giả đều quan niệm rằng, tự học là học với sự độc lập vàtích cực, tự giác ở mức độ cao Tự học là quá trình mà trong đó chủ thể người học tựbiến đổi mình, tự biến đổi các giá trị của mình, tự làm phong phú giá trị của mìnhbằng các thao tác tư duy và ý chí, nghị lực và sự say mê học tập của cá nhân

Trang 14

Tổng hợp các quan điểm của các tác giả, chúng tôi cho rằng có thể phân biệtcác hình thức tự học sau đây:

Thứ nhất, tự học của HS diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của GV với sự hỗ

trợ của các phương tiện kỹ thuật ở trên lớp Với hình thức này, việc tự học của HSchịu sự định hướng và điều khiển của GV nhằm đạt được mục tiêu của giờ dạy đãxác định từ trước Lúc này, việc tự học của HS có đầy đủ các yếu tố: GV, bạn, SGK,tài liệu… Trong môi trường lớp học truyền thống hiệu quả tự học lúc này phụ thuộcrất nhiều vào nghệ thuật điều khiển của GV, tuy nhiên, với từng HS vẫn có các hoạtđộng riêng, sự sáng tạo riêng và do đó hiệu quả học tập cũng rất khác nhau Kết quảcủa quá trình tự học này là sự thống nhất biện chứng giữa sự hướng dẫn của GV và

sự tự giác học tập của HS

Thứ hai, tự học của HS diễn ra ngoài phạm vi lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu của

môn học đã được học trong nhà trường Với hình thức này, HS chỉ có tài liệu liên quanđến các môn học dưới sự hướng dẫn trước của GV Tuy nhiên, HS phải tự tổ chức việchọc tập của mình ở nhà nhằm ôn tập, hệ thống hóa, làm các bài tập, rèn luyện các kỹnăng, kỹ xảo …theo yêu cầu của GV, đáp ứng chính các yêu cầu của bản thân ngườihọc để lĩnh hội tri thức các môn học

Thứ ba, tự học nhằm đáp ứng yêu cầu hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng,

nâng cao các kiến thức trong chương trình đào tạo ở nhà trường, thậm chí HS có thểtìm hiểu về những tri thức không quy định nhằm mở mang hiểu biết của mình Vớihình thức này người học hoàn toàn chủ động lựa chọn kiến thức cần bổ sung, lựachọn tài liệu cần đọc, tự mình sắp xếp các tri thức học được vào hệ thống tri thức

mà mình đang có Đây là mức độ tự học rất cao, vì HS tự mình tổ chức toàn bộ các

hoạt động của quá trình tự nhận thức Từ đó cho thấy năng lực tự học của HS THPT

có những đặc trưng sau:

Người học phải tự đề ra cho mình phương pháp học từ đầu cho đến kết thúcquá trình học và đóng vai trò mấu chốt bằng sự hứng thú, tham gia tích cực và cótrách nhiệm trong suốt quá trình học Trong tự học tính độc lập, chủ động càng có

Trang 15

vai trò quan trọng và được coi là công cụ đắc lực không có gì thay thế giúp cá nhântích lũy kinh nghiệm, tri thức khoa học, hoàn thiện nhân cách.

Học sinh luôn phải rèn luyện cho bản thân có ý thức tự giác trong học tập vàhứng thú đối với các kiến thức mà mình đang tiếp thu Điều này sẽ giúp người họctham gia tích cực và biết tiếp tục quá trình học bằng cách tạo ra một hình thức phù hợpvới tính cách của mình Như vậy, khi thực sự trở thành chủ thể học cũng có nghĩa làngươì học đã tự giác xác định được động cơ, mục đích học tập Người học tiến hànhviệc học dựa trên trách nhiệm cá nhân và sự điều khiển của ý chí thì hoạt động học trởthành quá trình tự học, tự giác chủ động, có phong cách và phương pháp cá nhân.Trong hoạt động tự học khả năng lựa chọn cao, rộng rãi về cả nội dung,phương pháp và hình thức tổ chức học tập Sự lựa chọn này luôn hướng đến sự phùhợp giữa người học và điều kiện bên ngoài

Tự học mang tính cá nhân rất cao, tự học phải dựa trên chính tiềm năng củangười học và dựa trên ý thức trách nhiệm của người học Mỗi người có một phươngpháp học tập khác nhau, cách tổ chức học tập khác nhau và ý chí cá nhân khác nhaunên hiệu quả tự học cũng khác nhau

Tóm lại, tự học là người học tự thân vận động, nổ lực thường xuyên, cố gắngliên tục để đạt bằng được mục đích, yêu cầu học tập đã đề ra Tự học là cách học tựgiác, cần mẫm, siêng năng, kiên trì bền bỉ và phải biết vượt qua hoàn cảnh và vượtqua chính mình, biết tự vận dụng tất cả từ ý chí nghị lực, tư duy, nhân cách, tâmhồn, mục đích sống đến khát vọng của bản thân nhằm chiếm lĩnh tri thức của nhânloại Người tự học là người biết biến những kiến thức có trong sách vở, tài liệu,trong thực tiễn đời sống thành kiến thức của mình một cách vững chắc qua quá trìnhsàng lọc, lựa chọn Hoạt động tự học được diễn ra trong mọi thời điểm từ tự học ởnhà, tự học ở trường và tự học cả bên ngoài xã hội Trong nhà trường GV chỉ làngười hướng dẫn, là “ ngoại lực”, còn kết quả học tập phụ thuộc hoàn toàn vào bảnthân người học, gọi là “chủ thể nội lực” HS biết tự học mới thực là học, GV biết

Trang 16

hướng dẫn HS tự học, tự nghiên cứu mới là thực dạy Tự học là gốc của học tập vàxây dựng xã hội học học tập.

1.1.2 Năng lực tự học của học sinh THPT

Năng lực là một vấn đề khá trừu tượng, cho đến nay vẫn có nhiều cách tiếp cận

và diễn đạt khác nhau:

Theo Giáo Sư Phạm Minh Hạc thì cho rằng, “năng lực là một tổ hợp đặc điểmtâm lý của một người, tổ hợp này vận hành theo một mục đích nhất định tạo ra kếtquả của một hoạt động nào đấy” [18; 145]

Đặng Thành Hưng khẳng định, “năng lực được cấu thành từ các bộ phậnnhư: tri thức về hoạt động hay quan hệ đó; kỹ năng tiến hành hoạt động hay xúctiến ứng xử với quan hệ đó; những điều kiện tâm lý để tổ chức và thực hiện trithức và kỹ năng nào đó trong một cơ cấu thống nhất và theo một định hướng rõràng Tương ứng là ba dạng năng lực chuyên biệt: năng lực biết, năng lực làm,năng lực biểu cảm” [19; 25- 27]

Cấu trúc của năng lực là tổng hợp nhiều kỹ năng thực hiện những hoạt động thànhphần có liên hệ chặt chẽ với nhau Năng lực của HS chỉ nảy sinh và quan sát được tronghoạt động giải quyết những yêu cầu học tập và gắn liền với tính sáng tạo Năng lực củamỗi người là có sự khác nhau về mức độ

Như vậy, năng lực tự học là một năng lực cụ thể của người học, là một hình thứccủa năng lực thực hiện hành động cá nhân trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập

Tự học trong nhà trường THPT trên thực tế vẫn còn là một vấn đề chưa đượcthực hiện một cách thường xuyên và phổ biến, mặc dù giáo dục hiện đại đã được

đề cập đến từ lâu nay Không thể phủ nhận trong trường THPT vẫn có những họcsinh say mê học hỏi và luôn có ý thức tự học nhưng chưa nhiều.Trong xu thế xãhội ngày càng phát triển, vấn đề tự học trong nhà trường lại càng được quan tâmhơn bao giờ hết Tự học cần phải trở thành một trong những kỹ năng quan trọng

số một của giáo dục, năng lực trong mỗi cá nhân HS Bản thân người học cầnphải làm quen với vấn đề tự học, hình thành một năng lực tự học để sau này có

Trang 17

điều kiện học tiếp nữa hay không vẫn có thể tự học hỏi để trau dồi tri thức vàthích nghi với thời đại Cho nên, vấn đề tự học của HS THPT là một vấn đề cầnthiết mang tính chiến lược.

Tự học của HS THPT cũng như tự học của HS nói chung là tổng hợp của nhiềunăng lực Mục đích tự học của HS là hoàn thành tốt những phần nào đó trong nhiệm vụhọc tập của mình mà không có thầy bên cạnh Như vậy, tự học của HS THPT luôn gắnvới năng lực chủ động, tích cực, HS phải tự nghiên cứu tài liệu, tự mình phát hiện kiếnthức, tự mình nắm bắt một phần kiến thức HS phải thường xuyên tự tìm tòi những tàiliệu liên quan đến bài học để có sự so sánh, đối chiếu, tự biết vận dụng, chuyển hóakiến thức bài học dưới sự định hướng và dẫn dắt của GV

Năng lực tự học của HS THPT mới chỉ dừng lại ở mức độ thấp, nhưng đây lại

là cơ sở vô cùng quan trọng cho việc hình thành năng lực tự học, tự nghiên cứu ởmức độ cao sau này Nhà trường sẽ là nơi tạo dựng một nền móng vững chắc chokinh nghiệm tự học, tự nghiên cứu thuần thục của một nhà khoa học sau này

Trong quá trình tự học, HS luôn tự chủ, năng động và sáng tạo, biết học hỏi vàđánh giá, biết so sánh và đối chiếu, biết kiểm nghiệm và xử lý tình huống Quantrọng hơn là HS phải biết tự tìm cho mình một cách tự chiếm lĩnh tài liệu Songsong với việc phát huy tối đa nội lực của học sinh trong quá trình tự học, vai trò của

GV vô cùng quan trọng Nếu như việc tự học ngoài xã hội, người học có quyềnchọn kiến thức để tự học và tự học một cách tự do Thì tự học trong nhà trường cótính chất định hướng, GV có trách nhiệm hướng dẫn các em từ cách tự mình nghiêncứu SGK đến việc điều chỉnh kiến thức mà các em thu nhận được để có được lượngkiến thức chính xác nhất Qua đó, GV hình thành và phát triển năng lực tự học cho

HS với những cách suy nghĩ, tìm tòi để có thể tự đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề và

tự nghiên cứu Những định hướng của GV còn có tác dụng phát huy tính năng động,

tự giác và lòng say mê học hỏi trong quá trình học tập của HS

Như vậy, tự học của HS THPT không đòi hỏi mức độ cao như tự học của cácnhà nghiên cứu, mà chủ yếu dựa vào bài học cụ thể trong SGK, những tài liệu có

Trang 18

liên quan đến bài học để đối chiếu, so sánh, mở rộng làm cho quá trình nhận thứccủa HS mang tính chủ động và có tính chất nghiên cứu Mục đích tự học của HSTHPT giúp các em hiểu sâu sắc, trọn vẹn bài học bằng chính năng lực của mình vàbiết vận dụng kiến thức thành kinh nghiệm của bản thân

1.1.3 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và vấn đề phát triển năng lực tự học

cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12

1.1.3.1 Dạy học và vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12

Theo Đặng Thành Hưng thì về mặt sư phạm, bản chất của dạy học chính làgây ảnh hưởng có chủ định đến hành vi học tập và quá trình học tập của HS, tạo môitrường và những điều kiện để người học duy trì việc học, cải thiện hiệu quả, chấtlượng học tập, kiểm soát quá trình và kết quả học tập của mình Dạy học phải đạtcác yêu cầu sau:

Tập cho HS có nhu cầu học tập, động cơ học tập đúng đắn Rèn luyện cho HS ýchí học tập, tinh thần vượt khó trong học tập Dạy học để cho HS có kỹ năng và biệnpháp học, biết chủ động và độc lập trong học tập nhằm đạt kết quả cao hơn

Theo Đanilốp “dạy học là tập hợp những hành động liên tiếp của GV và của

HS, được GV hướng dẫn những hành động này nhằm làm cho HS tự giác nắmvững hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trong quá trình đó phát triển đượcnăng lực nhận thức” [15; 23]

Nhìn chung các tác giả đều cho rằng năng lực tự học của HS, trước hết đượcquyết định bởi chính bản thân HS với tư cách là chủ thể của hoạt động học tập, đóchính là yếu tố từ phía người học Tuy nhiên, sự tích cực nổ lực của chủ thể khôngthể đem lại kết quả tốt nếu tách rời các điều kiện khác đó là GV dạy và môi trườnghọc tập Các yếu tố tác động của GV và môi trường học tập trong những trường hợp

cụ thể có ảnh hưởng mạnh mẽ đến kết quả học tập của HS, những yếu tố này khôngthể thiếu trong việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS

Trang 19

Dạy học của GV không có nghĩa là truyền thụ tri thức, những sản phẩm có sẵn màcần phải tổ chức, điều khiển hoạt động tự nhận thức của HS nhằm hình thành cho HSthái độ, năng lực và phương pháp học tập và ý chí học tập để HS tự khám phá những trithức Điều này có nghĩa hoạt động dạy học của GV nhằm xây dựng những quy trình,các thao tác chỉ đạo hoạt động nhận thức của HS, hình thành cho HS nhu cầu thườngxuyên học tập, tìm tòi kiến thức, kích thích năng lực sáng tạo, phát triển ở HS năng lực

tổ chức lao động trí óc một cách hợp lý, hình thành thói quen tự kiểm tra, tự đánh giá.Khi nói đến năng lực tự học của HS thì yếu tố đầu tiên là tính tích cực nhậnthức và tính độc lập trong tư duy và trong hành động của HS

Theo Kôn.V.O điều kiện quyết định để phát triển tính độc lập tư duy là việcnắm tri thức mới bằng con đường giải quyết các vấn đề Có thể nói tính độc lập của

tư duy khi tự chúng ta biết giải quyết vấn đề và giải quyết vấn đề một cách hợp lý,biết kiểm tra chất lượng giải quyết vấn đề bằng một phương thức tốt nhất Một mứcthấp hơn của tính độc lập là tự giải quyết vấn đề do một người khác đặt ra và tùytheo khả năng của mỗi người để tìm cách kiểm tra kết quả Các trình độ của tính độclập tư duy cũng đồng nghĩa với trình độ tự lực đặt và giải quyết vấn đề, kiểm tra vấn

đề Đây cũng là trình độ tự học, tự nghiên cứu [26; 136- 138]

Tính độc lập trong tư duy và trong hành động của HS là biểu hiện quan trọngcủa tính tích cực của HS góp phần vào sự phát triển của ý chí Hành động độc lập và

tư duy độc lập đòi hỏi HS phải cố gắng, tinh thần khắc phục khó khăn Tính độc lậpcũng tạo điểu kiện thuận lợi để phát triển các phẩm chất trí tuệ khác như tư duy sángtạo, lòng dũng cảm…Như vậy, phương pháp dạy học phát triển tính độc lập của tưduy cũng chính là phương pháp dạy học phát triển được năng lực tự học của HS.Việc HS giải quyết độc lập những tình huống pháp luật có tính vấn đề sẽ thúc đẩy

sự phát triển năng lực sáng tạo Tính sáng tạo của tư duy chỉ có thể được nảy sinhtrên cơ sở của tư duy độc lập Tính độc lập của tư duy và tính sáng tạo không khácnhau về bản chất Tư duy sáng tạo là một dạng của tư duy độc lập, tạo ra ý tưởngmới, độc đáo và có hiệu quả cao trong giải quyết vấn đề Tư duy sáng tạo trong giải

Trang 20

quyết vấn đề đồng nghĩa với khả năng tự lực trong nhận thức của HS ở mức độ rấtcao Trong dạy học rèn luyện và phát triển được tư duy sáng tạo chính là đã pháttriển năng lực tự học, tự nghiên cứu ở trình độ cao nhất Chỉ khi HS thực sự tự lựctrong tự học, tự nghiên cứu thì mới có tư duy sáng tạo Khi đã có tư duy sáng tạo

HS sẽ tự mình đặt ra các vấn đề và giải quyết vấn đề theo những hướng, những cáchthức rất độc đáo riêng Như vậy, phương pháp dạy học phát triển được tư duy sángtạo cho HS cũng chính là phương pháp phát triển được năng lực tự học cho HS hơnnữa còn ở mức độ cao nhất

1.1.3.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học môn GDCD lớp 12 của HS THPT

Thứ nhất, là sự tự ý thức và động cơ nhận thức, đây là yếu tố thuộc về chủ thể

nhận thức, có ý nghĩa quyết định trực tiếp đối với quá trình hình thành và phát triểnnăng lực tự học của HS Bởi vì, chất lượng học tập phải là kết quả trực tiếp của sự

nỗ lực chính bản thân người học Nếu HS không tự giác tích cực, chủ động tổ chứccác hoạt động học tập ở lớp cũng như ở nhà thì mọi cố gắng của GV cũng như cácyếu tố khác đều kém hiệu quả Chủ Tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tựhọc, Người cho rằng, “Trong tự học điều quan trọng hàng đầu là xác định rõ mụcđích học tập và xây dựng động cơ học tập đúng đắn Chỉ khi có mục đích, động cơhọc tập đúng đắn thì HS mới có thể phát huy được “nội lực” trong học tập từ đó tổchức được các hoạt động nhận thức một cách hợp lý và có hiệu quả” [45; 21- 23]

Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người dựa trên cơ sở nhận thức đúng vai tròquyết định của tự học đến sự tích lũy kiến thức cho bản thân Khi việc học trở thành tựgiác thì mọi khó khăn trong việc tự học như thiếu thời gian, thiếu tài liệu, sách vở, thiếucác điều kiện khác đều có thể vượt qua Một trong những nhiệm vụ của GV dạy mônGDCD là phải làm cho HS thấy được cần thiết phải học và có hứng thú với việc học nộidung kiến thức này GV cần làm cho HS thấy được tầm quan trọng, mục đích dạy học củamôn GDCD ở trường THPT và tác dụng của môn học này đối với cuộc sống hàng ngày

Trang 21

của mỗi HS Thông qua các giờ học cụ thể làm cho các em thấy được cái hay, cái đẹp củaviệc học pháp luật và tác dụng của nó trong đời sống thực tiễn.

Thứ hai, ảnh hưởng của suy nghĩ, tâm lý, thói quen không đúng về vấn đề tự

học như: Thiếu lòng tin vào khả năng tự học, cho rằng tự học là khó khăn, chỉnhững người thông minh và có bản lĩnh mới tự học thành công Khi có tư tưởng nhưvậy thì HS không có ý chí để vượt qua khó khăn gặp phải trong quá trình tự học.Hơn nữa, chính sự nôn nóng, muốn chiếm lĩnh các tri thức khoa học bằng conđường dễ dàng nhất làm cho HS nóng vội dẫn đến không nắm chắc được kiến thức

cơ bản và quá trình học khó mà đạt kết quả cao

Thứ ba, vốn kiến thức và phương pháp học Kiến thức chuyên môn là cơ sở để

người học có thể tiếp tục nghiên cứu các kiến thức của bộ môn đó ở mức độ caohơn Nếu không có kiến thức ở mức độ thấp thì sẽ không có kiến thức ở mức độ caohơn Để tự học có hiệu quả người học phải tự trang bị cho mình vốn kiến thức tốithiểu đủ để có thể tự nghiên cứu các vấn đề mình quan tâm Với môn GDCD lớp 12,

có nội dung kiến thức pháp luật rất gần gủi liên quan đến cuộc sống hàng ngày của

HS Cho nên, mỗi HS phải nắm và hiểu được những kiến thức cơ bản của pháp luậtthì mới giải quyết được các tình huống pháp luật có liên quan

Thứ tư, phương pháp học tập của mỗi cá nhân HS, mỗi HS có một phương pháp học

tập, phương pháp làm việc riêng, không ai giống ai Tuy nhiên, vẫn có những yếu tố chungtrong phương pháp học tập, vì vậy để hình thành phương pháp học tập cho HS, GV cầnphải trang bị cho HS những kiến thức cơ bản về vấn đề này “phương pháp tự học như thếnào thì cũng do chính học viên tự mày mò điều chỉnh dần với sự hướng dẫn của các thầy

để có được cách học phù hợp nhất với hoàn cảnh, điều kiện, tư chất của mình” [43; 412].Việc trao đổi học hỏi kinh nghiệm học tập của những người đi trước là một yếu

tố quan trọng để mỗi HS tự hình thành và phát triển năng lực tự học của HS Mỗi

HS phải tự mình tìm ra và hoàn thiện phương pháp học tập cho bản thân

Thứ năm, ảnh hưởng của năng lực trí tuệ, đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng

đến khả năng nắm bắt tri thức khoa học nhanh hay chậm của mỗi HS Yếu tố này

Trang 22

ảnh hưởng rất lớn đến khả năng học tập nói chung và khả năng tự học nói riêng.Những HS có khả năng trí tuệ đặc biệt tốt thường có khả năng tự học rất cao, khi đã

đủ vốn tri thức tối thiểu thì đôi khi họ không cần thầy hướng dẫn

Thứ sáu, cách dạy học trong nhà trường, hệ thống tài liệu, SGK và các điều

kiện về cơ sở vật chất, gia đình, xã hội đối với việc tự học của HS

Hiện nay, hầu hết các tri thức và kỹ năng, kỹ xảo mà các em có được đa phần

do tiếp thu được qua các giờ học ở nhà trường Vì vậy, cách dạy học của nhà trường

là một yếu tố ảnh hưởng quyết định đến cách học và phương pháp tự học của HS

Hệ thống tài liệu, SGK, các phương tiện dạy học, với tư cách là phương tiện,công cụ giúp HS nắm bắt được tri thức, có ảnh hưởng đến việc phát triển khả năng

tự học của HS Nếu tài liệu, SGK được biên soạn theo hướng dẫn để HS có thể tựhọc sẽ phát triển được khả năng này, ngược lại sẽ kìm hãm hoặc gây khó khăn choviệc tự học của HS

Bên cạnh đó trong quá trình dạy học, người học và người dạy còn chịu ảnhhưởng bởi môi trường xung quanh đó là các yếu tố về điều kiện dạy học, văn hóa,

xã hội Đây là những yếu tố không thể không quan tâm trong quá trình hình thành

và phát triển năng lực tự học của HS

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và vấn đề phát triển năng lực tự

học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12

Theo tác giả Nguyễn Bá Kim “việc học tập tự giác, tích cực chủ động và sángtạo đòi hỏi HS phải có ý thức về những mục đích đặt ra và tạo được động lực bên trongthúc đẩy bản thân họ hoạt động để đạt được mục đích đó Điều này thực hiện trong dạyhọc không chỉ đơn giản bằng việc nêu rõ mục đích mà quan trọng hơn là gợi được độngcơ” [27; 29]

Đây là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tự học của HS, đặc biệt là khi

HS tự học ở nhà Trong giờ học các nhiệm vụ học tập là rất rõ ràng, nếu GV tạo đượchứng thú học tập, tạo được không khí học tập thuận lợi trong lớp thì sẽ lôi kéo HS thamgia vào quá trình dạy học Trong khi đó, ở bên ngoài nhà trường các điều kiện này không

Trang 23

còn nữa, nên giáo dục để HS tự xác định động cơ, mục đích học tập để từ đó HS hìnhthành ý chí học tập là rất quan trọng và có tính chất quyết định đến chất lượng tự học củaHS.

Phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, chi phối sự hình thànhhứng thú học tập của HS Bởi vì, chỉ khi có hứng thú học tập thì mới kích thíchđược tư duy của HS, các em mới tự tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề, tựmình nắm lấy các tri thức Trong một giờ học, để HS nắm được một đơn vị kiếnthức nào đó trong một thời gian hạn chế thì các thủ pháp dạy học của GV là rất quantrọng, là nghệ thuật dạy học

Chính vì vậy trình độ dạy học của GV ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả tiếp thutri thức cũng như năng lực tự học của HS

Phương pháp dạy học, trình độ tổ chức dạy học của GV không những ảnhhưởng đến phương pháp học và tự học của HS mà còn ảnh hưởng đến việc pháttriển năng lực tự học của HS

Hiện nay, các xu hướng dạy học hiện đại đã khẳng định rằng để phát huy đượcnăng lực tự học của HS cần áp dụng mô hình dạy học tích cực lấy người học làmtrung tâm Bởi vì, theo mô hình này, “Mối quan hệ giữa dạy và tự học là mối quan

hệ giữa ngoại lực và nội lực Trong mối quan hệ đó thì năng lực tự học của HS lànhân tố quyết định sự phát triển của bản thân người học” [44; 13]

Như vậy, các phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học có ảnhhưởng quyết định đến hoạt động tự nhận thức của HS nhằm tiếp thu tri thức Tronghọc tập cũng như trong cuộc sống, phương pháp học tập của cá nhân, năng lực tựhọc được hình thành chủ yếu qua con đường nhà trường mà cụ thể là qua các tiếthọc của các bộ môn Vì vậy, phương pháp dạy học, hình thức tổ chức dạy học là cácnhân tố ảnh hưởng có tính chất quyết định đến sự phát triển năng lực tự học của HS.Trong quá trình học tập, dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của GV tính tự giác, tíchcực trong học tập của HS phát triển Theo Đanilốp “Bản chất của việc động viên HShọc tập là tạo điều kiện giúp HS hiểu ý nghĩa của việc học tập, đào sâu những mâu

Trang 24

thuẫn giữa nhiệm vụ mới và trình độ kỹ thuật, kỹ năng, kỹ xảo đã có, giữa kỹ thuậtmới và những biểu tượng và khái niệm mà HS nắm được Do đó, nảy sinh lòng hamhiểu biết điều mới, muốn bồi dưỡng những kỹ xảo còn thiếu và ứng dụng thành thạo

kỹ thuật mới vào thực tiễn” [15; 31]

Sự phát triển tính độc lập tư duy của HS là cơ sở của toàn bộ những hoạt động

tự học, do vậy dạy học phải dạy cho HS những biện pháp để phát triển tư duy độclập Bởi vì, trong quá trình học tập tính tự giác của HS bắt đầu từ việc ý thức đượcnhiệm vụ nhận thức, hứng thú đối với công việc đó và nhu cầu giải quyết nhiệm vụnhận thức Bên cạnh đó, trong quá trình dạy học GV phải dạy cho HS cả biện pháphoạt động sáng tạo và tính tích cực chủ động, vì đây là biểu hiện cao nhất của nănglực tự học Tư duy sáng tạo và tính tích cực chủ động không thể tự nhiên được hìnhthành mà nó phải được hình thành và phát triển một cách từ từ bằng các hoạt động

tự học của HS trong suốt quá trình học tập

Thông qua quá trình dạy học, HS lĩnh hội kiến thức ngày càng chắc chắn, phát triểnnăng lực nhận thức ngày càng toàn diện Theo Đanilốp “sự lĩnh hội kiến thức và sự pháttriển năng lực nhận thức của HS là hai mặt gắn bó qua lại với nhau của cùng một quátrình Trong khi lĩnh hội những kiến thức khoa học hoàn thành nhiệm vụ nhân thức nhấtđịnh, thì đồng thời HS cũng phát triển những năng lực nhận thức của mình” [15; 31].Trong quá trình tiếp thu tri thức nói chung và quá trình tự học, tự nhận thức nói riêng, kếtquả học tập của HS tùy thuộc vào tư duy tích cực của các em Sự tìm tòi trong học tậpcàng lớn bao nhiêu thì kết quả học tập càng cao bấy nhiêu, cả về mặt lĩnh hội tri thức vàtrình độ tư duy, đây là biểu hiện cao nhất của sự tự học

Bên cạnh đó, hoạt động kiểm tra, đánh giá của GV cũng ảnh hưởng đến hoạt động

tự kiểm tra, tự đánh giá của HS Trong quá trình tự mình tìm ra kiến thức, người học cóthể tìm hiểu được một lượng kiến thức nhất định nào đó, lúc đầu có thể chưa chính xác,chưa đầy đủ nhưng căn cứ vào sự kiểm tra, kết luận của GV, HS tự kiểm tra sản phẩmcủa mình để sửa sai hoặc tự điều chỉnh, bổ sung để có được những kiến thức chính xác

và hoàn thiện nhất Quá trình này sẽ làm cho khả năng tự học, tự nghiên cứu của HS

Trang 25

ngày càng phát triển Cũng qua quá trình kiểm tra, đánh giá, GV biết được khả năng họctập, suy nghĩ, tìm tòi, và động cơ của người học, để có thể giúp đỡ người học điều chỉnhhoặc phát huy khả năng của mình, từ đó rèn luyện và phát triển năng lực tự học của HS.Khả năng tự đọc, tự nghiên cứu tài liệu học tập của HS là kết quả của sự rèn luyện

và hướng dẫn công phu của GV Tự học ở nhà là đọc lại bài giảng của GV, đọc SGK

và tài liệu tham khảo để bổ sung cho kiến thức đã học trên lớp Bằng cách riêng củamình HS hệ thống, sắp xếp lại kiến thức mà GV đã trình bày ở trên lớp và tìm cách hòanhập các tri thức ấy vào vốn tri thức đã có của bản thân mình Với môn GDCD lớp 12,

HS tự đọc nhằm hiểu được những nội dung về pháp luật một cách cụ thể, tự mình đặt

ra các tình huống và giải quyết các tình huống liên quan đến nội dung kiến thức đã họctrên lớp Khả năng đọc và nghiên cứu tài liệu của HS không thể tự hình thành mà phảithông qua sự hướng dẫn của GV và quá trình luyện tập của từng cá nhân Nếu không

có kỹ năng này HS không thể tự học thành công

Dạy học bằng cách rèn luyện và phát triển năng lực tự học trở thành một trongnhững phương thức phát huy tính năng động, sáng tạo, phát triển tư duy cho HS.Dạy học cho HS cách tự học thì GV mới có thể giúp HS khai thác tối đa tiềm năng bộnão của mình trong học tập Đặc biệt đối với HS trường chuyên, đa số các em vốn lànhững HS thông minh, sáng tạo và có tinh thần ham học hỏi Cho nên GV phải làm sao

để khơi gợi niềm đam mê, hứng thú học tập nơi các em Thông qua cách dạy cho HS tựhọc, HS sẽ nhận biết được tầm quan trọng của việc tự học trong quá trình học tập, tự các

em sẽ vận động thay đổi cách học của mình cho phù hợp với yêu cầu của dạy học hiệnđại Năng lực tự học mà các em có được trong nhà trường THPT giúp các em biết vậndụng kiến thức, phương pháp đã học vào việc nhận thức các đối tượng trong cuộc sốngmột cách sâu sắc và chủ động

1.1.4 Cấu trúc chương trình môn GDCD lớp 12

Trong nhà trường THPT, bộ môn GDCD cùng với tất cả các bộ môn học khácgóp phần hình thành và phát triển dần dần nhân cách, năng lực và phẩm chất ngườicông dân Khác với các bộ môn khoa học khác, môn GDCD góp phần đào tạo nên

Trang 26

những người lao động mới, vừa có tri thức khoa học, vừa có đạo đức và có năng lựcthực tiễn Có phẩm chất chính trị, tư tưởng vững vàng, ý thức trách nhiệm đối với cộngđồng, với gia đình luôn gắn liền với đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Nội dung chương trình môn GDCD ở bậc THPT được chia làm 5 nội dungchính với thời lượng phân phối như sau:

Phần thứ nhất, công dân với việc hình thành thế giới quan và phương pháp luậnkhoa học (16 tiết)

Phần thứ hai, công dân với đạo đức (11 tiết)

Phần thứ ba, công dân với kinh tế (13 tiết)

Phần thứ tư, công dân với các vấn đề chính trị- xã hội (14 tiết)

Phần thứ năm, công dân với pháp luật (35 tiết)

Riêng phân phối chương trình GDCD lớp 12 gồm 10 bài và được phân phối như sau:

Bài 1: Pháp luật và đời sống (3 tiết)

Bài 2: Thực hiện pháp luật (3 tiết)

Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật (1tiết)

Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống xãhội (3tiết)

Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo (2 tiết)

Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (4 tiết)

Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (3 tiết)

Bài 8: Pháp luật và sự phát triển của công dân (2 tiết)

Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước (4 tiết)

Bài 10: pháp luật với hòa bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại (2 tiết)(Theo chương trình giảm tải của Bộ Giáo Dục, năm 2011, bài 10 được cắt giảm.) Ngoài ra, theo phân phối chương trình GDCD lớp 12, mỗi học kỳ có một giờ kiểmtra 1 tiết, có 2 tiết hoạt động ngoại khóa, 3 tiết ôn tập và 2 tiết kiểm tra học kỳ

Trang 27

Nội dung chương trình GDCD lớp 12 rất phong phú, nhiều nội dung khó, liênquan đến việc thực hiện và ứng xử pháp luật của HS trong đời sống hàng ngày Căn cứ vào nội dung của từng bài, chúng ta có thể cụ thể hóa thành 3 chủ đềkiến thức lớn:

Chủ đề thứ nhất, đề cập về nội dung, bản chất và vai trò của pháp luật đối với

đời sống xã hội, được cụ thể hóa ở bài 1 và bài 2 Với chủ đề kiến thức này, GV cóthể cho HS tự học, tự nghiên cứu về vai trò của pháp luật đối với xã hội và với côngdân

Chủ đề thứ hai, nói lên quyền và nghĩa vụ công dân trong một số lĩnh vực của

đời sống xã hội được cụ thể hóa ở bài 3, 4, 5, 6, 7 Chủ đề này bao gồm những kiếnthức gần gũi và cần thiết với HS như: Công dân với một số quyền tự do cơ bản (bài6) hay công với một số quyền dân chủ cơ bản (bài 7)

Chủ đề thứ ba, gồm bài 8, 9, 10, đề cập đến vai trò của pháp luật đối với sự

phát triển toàn diện của đất nước và công dân

Như vậy, với một lượng kiến thức về pháp luật rất khó và khô khan được dạytrong một thời gian có hạn Để HS có thể nắm được và thức hiện được trong cuộcsống thực tế thì ngoài việc dạy và học ở trên lớp thì GV phải khuyến khích để HS cóthể tự học thêm ở nhà qua các kênh khác nhau tùy vào khả năng của mỗi HS

1.2 Cơ sở thực tiễn để phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12

1.2.1 Thực trạng của việc dạy học môn GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai

1.2.1.1 Khái quát về Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh

Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh là trường chuyên của tỉnh Đồng Nai,được thành lập từ năm 1994, tọa lạc ở một vị trí khá thuận lợi về giao thông cũngnhư tình hình an ninh trật tự Trường có cơ sở vật chất và trang thiết bị khá đầy đủ,khuôn viên nhà trường có diện tích 27.000 m2, tính bình quân 31m2/ HS

Trang 28

Cơ cấu các khối công trình trong trường gồm: Khu phòng học (39 phòng), phòng thựchành bộ môn; khu phục vụ học tập: Thư viện theo đúng tiêu chuẩn hiện hành, một nhà truyềnthống, sân bóng chuyền, bóng đá mini, bóng rổ, quần vợt… khu sân chơi và khu vệ sinh

HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh đại đa số là HS giỏi được tuyểnchọn từ các huyện của tỉnh đồng Nai, các em chăm ngoan và ham học hỏi HS củatrường luôn đứng tốp đầu của toàn tỉnh về thành tích học tập cũng như hạnh kiểm.Trong năm học 2011- 2012 Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh có tổng số họcsinh là 829 HS, duy trì sĩ số đạt 100%, trong đó khối 10 có 288 HS; khối 11 có 238HS; khối 12 có 293 HS Trường hiện có 3 Cán bộ quản lý, 87 GV, trong đó có 51

nữ, chiếm tỉ lệ 58,62% Trường có 10 tổ chuyên môn: Toán, Tin, Vật Lý, Hóa, Văn,

Sử - Địa, Sinh, Anh Văn, GDCD- CN, Thể dục Trường THPT chuyên Lương ThếVinh, là một đơn vị có số GV tham gia học nâng cao trình độ cao nhất trong toàntỉnh, hiện có 1 tiến sĩ, hai ngiên cứu sinh, 30 thạc sĩ, và 17 GV đang học cao học,100% GV đạt chuẩn Hầu hết các thầy, cô giáo đều thực hiện nghiêm túc nề nếp, kỷcương, mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương về đạo đức và tự học

Chất lượng giáo dục đại trà của trường đạt kết quả cao, từ 75 đến 78% HS toàn

trường đạt loại khá giỏi, tỉ lệ đậu tốt nghiệp là 100%, số HS đỗ đại học năm 2010 là184/ 204 HS chiếm tỉ lệ 90,19% (nguyện vọng 1), toàn trường có 98,83% HS đạthạnh kiểm tốt

Chất lượng giáo dục mũi nhọn trong năm học 2010- 2011 HS của trường đạt 44giải quốc gia, trong đó có 7 giải nhì, 18 giải ba, 19 giải khuyến khích Trong kỳ thiOlympic HS đạt 45 huy chương, 18 giải máy tính khu vực, 218 giải HS giỏi cấp tỉnh.Hoạt động giáo dục của trường luôn được quan tâm và tạo điều kiện pháttriển, Đoàn trường thường xuyên tổ chức cho HS tham gia các hoạt động ngoạikhóa như: Hội trại xuân, hội khỏe phù đổng, đặc biệt là hoạt động thường xuyêncủa các câu lạc bộ trong nhà trường Có được những thành tích này là nhờ sựquan tâm chỉ đạo sâu sát của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai cùng với sự cố gắngkhông ngừng của tập thể sư phạm Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh và toàn

Trang 29

thể HS của trường [Báo cáo tổng kết năm học 2010- 2011 của Hiệu trưởng

Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh].

1.2.1.2 Thực trạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho HS thông qua giảng dạy môn GDCD ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai

Để đánh giá một cách khách quan thực trạng phát triển năng lực tự học mônGDCD cho HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, chúng tôi đã dùng phiếuđiều tra, dự giờ, trao đổi trực tiếp với GV và HS của trường Mục đích khảo sátnhằm đánh giá nhận thức của HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh về vấn đề

tự học môn GDCD, thực trạng giảng dạy theo hướng phát triển năng lực tự học cho

HS của GV Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh

Trước khi tiến hành khảo sát, chúng tôi đã nghiên cứu đặc điểm tình hình của HS, cơ sởvật chất của nhà trường và hoạt động giảng dạy của GV bộ môn GDCD trong nhà trường

Về phía HS, chúng tôi chúng tôi khảo sát ở 4 lớp: 12 văn, lớp 12A1, lớp 12Hóa2 và lớp 12A2, tổng số HS được khảo sát là 136 HS

Về phía GV, chúng tôi khảo sát 3 GV giảng dạy môn GDCD Trong quá trình khảo sát,chúng tôi kết hợp trò chuyện, phỏng vấn cán bộ quản lý, một số GV và HS Trường THPTchuyên Lương Thế Vinh về vấn đề phát triển năng lực tự học môn GDCD

Qua khảo sát, xử lý số liệu thu được các kết quả như sau: (phiếu thăm dò ởphần phụ lục)

Bảng 1 Mục đích của HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh về vấn đề tự học

TT Mục đích tự học môn GDCD SL

( hs )

Tỉ lệ (%)

1 Tự học GDCD là để thi, kiểm tra đạt kết quả cao 81 61,8

2 Tự học GDCD là để làm phong phú thêm hiểu biết của mình 27 16

3 Tự học là để vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn

cuộc sống

(Nguồn: Tác giả điều tra tháng 12, năm 2011)

Những số liệu trên đây cho thấy HS vẫn chưa hiểu được mục đích của việc tự học

Đa số HS cho rằng tự học là để đối phó với các kỳ thi, kiểm tra của GV, HS chưa thấy

Trang 30

được tự học có vai trò quan trọng trong việc gi nhớ, tái hiện, nắm kiến thức có hệ thống.Chỉ có (26,7%) HS cho rằng tự học là biện pháp quan trọng nhất làm phong phú thêmhiểu biết của bản thân Nhìn chung, HS chưa nhận thức đầy đủ và sâu sắc về vai trò củahoạt động tự học môn GDCD Điều này xuất phát từ quan niệm và nhận thức chưa đầy

đủ về vai trò vị trí của môn học, cộng thêm áp lực của việc học môn chuyên và các mônthi tốt nghiệp, đại học Khi điều tra cho thấy chỉ có 20 % HS hứng thú khi học mônGDCD còn 80% là không hề quan tâm đến môn học này

Bảng 2 Thực trạng tự học môn GDCD lớp 12 theo hướng phát triển năng lực

tự học của HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh

1 Đọc SGK và đánh dấu những nội dung chưa hiểu để hỏi

thầy, hỏi bạn

27 20,6

2 HS chuẩn bị trước các tư liệu, tranh ảnh, tình huống liên

quan đến nội dung bài học

31 23,66

3 HS đọc và xây dựng đề cương trước khi nghe giảng 62 47,3

4 HS đọc SGK để nắm kiến thức trước ở nhà trước khi nghe

giảng

68 51,9

5 HS tự đọc sách tham khảo và tìm hiểu các kênh thông

tin phục vụ cho nội dung bài học và tự mình chiếm lĩnh

7 HS không chuẩn bị bài trước khi đến lớp 52 39,69

8 HS đặt vấn đề về những nội dung chưa hiểu trao đổi với

thầy cô và các bạn trong lớp

47 35,87

(Nguồn: Tác giả điều tra tháng 12, năm 2011)

Qua kết quả khảo sát về thực trạng tự học môn GDCD lớp 12 ở TrườngTHPTchuyên Lương Thế Vinh cho thấy, việc HS sử dụng các biện pháp tự học là rấtthấp HS chủ yếu học để tái hiện kiến thức những nội dung mà GV đã cho ghi ở trênlớp, chiếm đến 74,8 % và HS chỉ soạn bài và làm bài khi GV yêu cầu Vẫn còn nhiều

HS chưa chuẩn bị bài trước khi đến lớp (39,69%), chỉ có 23,66% HS chuẩn bị trước tư

Trang 31

liệu, tranh ảnh, tình huống liên quan đến nội dung bài học và chỉ có 29 % HS tự đọcsách tham khảo và tìm hiểu các kênh thông tin phục vụ cho nội dung bài học Có 68

HS đọc qua bài mới trước khi nghe giảng, chiếm tỷ lệ 51,9%, chỉ có 47 HS đặt vấn đề

về những nội dung chưa hiểu với thầy, với bạn để cùng giải quyết, chiếm tỷ lệ 35,87% Qua phân tích số liệu thu được chúng tôi thấy, HS Trường THPTchuyên LươngThế Vinh chưa chú trọng đến việc tự học môn GDCD, biện pháp mà HS áp dụng nhiềunhất là học bài cũ tái hiện kiến thức đã học Các biện pháp như đọc SGK và soạn đềcương bài học trước khi nghe giảng, tìm hiểu sách tham khảo và các kênh thông tinphục vụ cho nội dung bài học hoặc đặt vấn đề mà mình chưa hiểu với thầy, với bạn đểcùng giải quyết còn rất ít HS áp dụng

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trước hết là do nhận thức của HS vềvấn đề tự học, HS chưa ý thức hết vai trò của việc tự học trong việc chiếm lĩnh tri thức ởtrường cũng như ngoài xã hội Mặt khác, do kỹ năng và phương pháp tự học của các em cònhạn chế Phần lớn GV khi dạy môn GDCD chưa quan tâm tới việc phát triển năng lực tự họccho các em trong quá trình dạy học GV còn lúng túng và gặp nhiều khó khăn trong quá trìnhgiúp HS phát triển năng lực tự học Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc HS thụ động khitham gia giờ học cũng như việc nắm bắt kiến thức bài học

Qua phỏng vấn cho thấy, HS ít tự xây dựng kế hoạch học tập môn GDCD chomình mà chỉ thực hiện kế hoạch học tập do GV và nhà trường đặt ra HS chưa cóthói quen rèn luyện cho mình các kỹ năng học tập cơ bản, chỉ có việc sử dụng SGK

là một kỹ năng thường xuyên được HS sử dụng (qua điều tra cho thấy có tới 83%thường xuyên sử dụng SGK, 17% HS cho rằng chỉ cần sử dụng vở ghi là được) Qua dự giờ các lớp cho thấy các kỹ năng như đặt câu hỏi cho mình, đặt câu hỏivới bạn với thầy, cô còn nhiều HS không thực hiện HS rất ngại phải thảo luận,tranh luận, trong khi đây là những kỹ năng cơ bản trong học tập

Qua trao đổi với 3 GV giảng dạy môn GDCD tại trường về vấn đề tự học của

HS đều cho rằng HS bị lệ thuộc vào kế hoạch học tập của GV và nhà trường, chưacoi trọng và chưa thường xuyên tự mình xây dựng kế hoạch tự học Cả ba GV đều

Trang 32

cho rằng HS ít quan tâm tới rèn luyện các kỹ năng tự học cho mình Đa số vẫn làhọc thuộc những điều mà GV đã cung cấp, rất ít HS tự mình tìm tòi, khám phá vàcòn quá thụ động khi tham gia học môn này Mặc dù đối tượng HS được khảo sát đa

số là HS khá giỏi, kết quả học tập tương đối cao nhưng cũng chưa chú ý đến rènluyện và phát triển năng lực tự học của bản thân

Chính các nhược điểm này là một trong các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến chấtlượng học tập môn GDCD của học sinh nói chung chưa cao, khả năng giải quyếtvấn đề nói riêng chưa tốt

Thực trạng giảng dạy môn GDCD gắn với yêu cầu phát triển năng lực tự học của HS ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh

Để nắm được tình hình dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học cho HStrong trường, chúng tôi cũng đã tiến hành điều tra, trao đổi trực tiếp và dự giờ 3 GVtrong tổ

Bảng 3 Thực trạng giảng dạy môn GDCD gắn với yêu cầu phát triển năng lực tự học của HS ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh

TT Biện pháp giảng dạy Số lượng

( GV)

Tỷ lệ (%)

5 Khuyến khích tư duy và hứng thú học tập của HS 2 66,6

6 Sử dụng tình huống pháp luật thực tế vào bài học 1 33,3

(Nguồn: tác giả điều tra tháng 1 năm 2012)

Qua kết quả điều tra cho thấy, việc tạo hứng thú cho HS trong học tập, đặc biệt làdạy học theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS trong nhà trường thông quagiảng dạy môn GDCD lớp 12 còn rất hạn chế, cụ thể: chỉ có 33, 3% GV tìm nhiều cáchkhác nhau để tạo hứng thú học tập cho HS trong giờ học Số GV còn lại thì chỉ cố gắng

Trang 33

làm sao để truyền đạt hết nội dung kiến thức tiết học yêu cầu Với một môn học đượcxem là môn phụ ở trường chuyên thì ít có GV nào quan tâm đến mức độ học tập của

HS, qua điều tra chỉ có 33, 3% GV quan tâm đến điều này Biểu dương những thànhcông của các em dù nhỏ là 66,6% Đặt ra mục tiêu học tập cho HS chỉ có 33,3% Vớimục tiêu đổi mới phương pháp dạy học, thì nhiều GV của Trường THPT chuyênLương Thế Vinh đã có những phương pháp khác nhau để kích thích tư duy và tạo hứngthú học tập cho HS như: tổ chức cho HS làm việc theo nhóm (66,6%), khuyến kích HSđặt câu hỏi (33,3%) nhưng chưa nhiều và chưa thường xuyên Với chương trình GDCDlớp 12, nội dung chủ yếu liên quan đến pháp luật, nhưng do chương trình dài, lại khôkhan nên GV của trường chủ yếu cung cấp thông tin cho các em mang tính lý thuyết.Chính vì thế hiệu quả chưa cao chỉ có 33,3% sử dụng các tình huống pháp luật thực tếvào bài học mà thôi Nhìn chung, môn GDCD lớp 12 ở Trường THPT chuyên LươngThế Vinh GV còn chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình để nhằm mục đích cungcấp thông tin Mặc dù đa số HS của trường đều có năng lực tự học rất cao nhưng donhiều nguyên nhân khác nhau nên GV chưa quan tâm tới phương pháp dạy học nhằmphát triển năng lực tự học cho HS thông qua môn học này

Bảng 4 Thực trạng việc rèn luyện cho HS các kỹ năng tự học nhằm phát triển năng lực tự học của HS thông qua giảng dạy môn GDCD lớp12 ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh

T

T

TT Phương pháp rèn luyện

Thường xuyên

Không thường xuyên

Không áp dụng

SL (GV)

TL (%)

SL (GV)

TL (%)

SL (GV)

TL (%)

Rèn luyện cho HS kỹ năng

nghe, ghi chép theo tinh 1 33,3 2 66,6 0 0

Trang 34

(Nguồn: Tác giả điều tra tháng 1, năm 2012)

Kết quả điều tra cho thấy, đa số các GV chưa thường xuyên rèn luyện cho HS các

kỹ năng để có thể tự học như: kỹ năng lên kế hoạch học tập, chỉ có 1 GV áp dụng nhưngcũng không thường xuyên, chiếm tỷ lệ 33, 3% còn 2 GV còn lại thì cho rằng không baogiờ rèn luyện cho HS kỹ năng này Chỉ có 1 GV là thường xuyên hướng dẫn cho HScách nghe và ghi chép theo tinh thần tự học, chiếm tỉ lệ 33, 3% Hướng dẫn HS cách thuthập và xử lý thông tin, hướng dẫn HS đọc sách và tài liệu tham khảo…chiếm tỉ lệ rấtthấp Điều này chứng tỏ việc dạy HS tự học thông qua giảng dạy môn GDCD lớp 12 ởTrường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai, chưa được quan tâm đúngmức

Qua kết quả khảo sát thực trạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự học cho

HS ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai, có thể rút ramột số nhận xét sau :

Thứ nhất, HS chưa xác định được ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động tự

học nên chưa đặt vấn đề tự học đúng vị trí của nó, cũng như việc xác định động cơ

Trang 35

hứng thú, tự xây dựng phương pháp học tập, kế hoạch học tập …còn rất hạn chế,thậm chí chưa quan tâm, cho nên HS thường rất thụ động khi học môn này.

Thứ hai, phương pháp dạy phổ biến của các GV dạy bộ môn GDCD Trường

THPT chuyên Lương Thế Vinh hiện nay là thiên về truyền thụ một chiều thông quagiảng giải của GV để HS hiểu được các khái niệm và nội dung bài học một cách thụđộng Trong dạy học chưa quan tâm tới việc giúp HS tự mình phát hiện, khám phá,

tự mình đi đến kết luận

Thực trạng trên đặt ra nhu cầu cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn đối với việcdạy học nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS nói chung, phát triểnnăng lực tự học cho HS thông qua giảng môn GDCD lớp 12 ở Trường THPTchuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai nói riêng

1.2.1.3 Những thuận lợi và khó khăn để phát triển năng lực tự học cho học sinh Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai thông qua dạy học môn GDCD lớp 12

Những thuân lợi của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh Trường

THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai thông qua dạy học môn GDCD lớp 12

Theo một khảo sát về khoảng cách IQ- EQ giành cho HS trường chuyên do

Viện nghiên cứu giáo dục- Đại học Sư phạm TP HCM thực hiện cho thấy: HS cáctrường chuyên có điểm mạnh về năng lực tư duy, trong đó óc suy diễn và sự tưởngtượng được đánh giá rất cao, mà theo HS do thường vận dụng các năng lực nàytrong việc học Hơn nữa, HS trường chuyên có khả năng làm việc dưới áp lực rấtcao, có nhiều cảm thông với người khác, có sự rõ ràng và quả quyết trong việc làmcủa mình và có nhận thức cá nhân cao HS trường chuyên có khả năng nhận thứcđược bản thân, đây là một kỹ năng không dễ có đối với HS THPT Đối với HSTrường THPT chuyên Lương Thế Vinh, đa số các em ngoan, chăm chỉ và năng lực

học tập rất cao (75,78% HS đạt học lực khá giỏi (năm học 2010- 2011)) Thi đua

Trang 36

nhau học tập là truyền thống của HS trường chuyên, phần lớn các em có tinh thần tựgiác học tập, chịu khó vươn lên, có tinh thần ham học hỏi

Được học dưới mái trường có bề dày về thành tích, có nhiều HS vượt khó, họcgiỏi, các em xác định được mục tiêu và phương pháp học tập của mình Sự nỗ lực cốgắng của các em vừa để khẳng định năng lực của bản thân vừa góp phần làm nângcao thương hiệu của nhà trường Để xứng đáng với danh hiệu HS trường chuyên củatỉnh Đồng Nai- nơi đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội, ngoài giờ họctrên lớp các em giành rất nhiều thời gian cho tự học, tự nghiên cứu Đây chính lànền tảng để GV giảng dạy các bộ môn phát triển thêm năng tự học cho các em bằngnhiều phương pháp khác nhau Nhất là môn GDCD lớp 12, môn học gắn liền vớiđời sống thực tế của các em, nên nhiều HS rất quan tâm nhưng do thời gian học mônchuyên, hầu như các em không còn thời gian để tìm hiểu và nghiên cứu Nếu GV cóphương pháp phù hợp sẽ phát triển được năng lực tự học của HS ở môn học này Cùng với sự lớn mạnh của nhà trường, GV Tổ GDCD- CN không ngừng nângcao trình độ vươn lên tự khẳng định chất lượng, làm tốt công tác giảng dạy, rènluyện đạo đức, lối sống cho HS, góp phần đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diệncủa nhà trường GV của tổ có trình độ cao, một GV có trình độ thạc sĩ, hai GV cònlại có trình độ khá, giỏi Với sự cố gắng của bản thân cộng với sự quan tâm, độngviên và sự đầu tư của Tỉnh cũng như nhà trường, đội ngũ GV bộ môn GDCD củaTrường THPT chuyên Lương Thế Vinh ổn định về số lượng, đảm bảo về chấtlượng Những yếu tố này là điều kiện để chúng tôi nâng cao chất lượng giảng dạy,tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, tạo điều kiện để chúng tôi chính hóa mônhọc phụ ở trường chuyên Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh là nơi thườngxuyên tổ chức các cuộc hội thảo bàn về đổi mới và vận dụng các phương pháp dạyhọc, trao đổi kinh nghiệm trong lĩnh vực phát hiện, bồi dưỡng HS giỏi Bên cạnh đónhà trường đã tiến hành tập đợt cho HS nghiên cứu khoa học, có nhiều công trìnhkhoa học được bảo vệ thành công tại hội đồng khoa học nhà trường và của Bộ GiáoDục như: Công trình nghiên cứu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của HS THPT dự

Trang 37

thi tại Singapore, trường đã đạt giải nhì, hay công trình nghiên cứu của HS lớpchuyên Sinh về việc sử dụng nước mưa nhân tạo đã đạt giải nhất do Bộ GD- ĐT tổchức …Cơ sở vật chất vật chất của trường khá đầy đủ thuận tiện cho việc dạy - họctheo nhóm hoặc ứng dụng CNTT trong dạy học Như vậy, có thể khẳng định TrườngTHPT chuyên Lương Thế Vinh là một trong những nơi có điều kiện tốt nhất để đổimới và vận dụng các phương pháp dạy học mới vào giảng dạy nhằm nâng cao chấtlượng dạy học hiện nay.

Những khó khăn trong việc phát triển năng lực tự học cho học sinh

Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh, Biên Hòa, Đồng Nai thông qua dạy học môn GDCD lớp 12

Ở trường THPT nói chung và trường chuyên nói riêng, tất cả các môn học, tất

cả các thầy cô giáo đều có nhiệm vụ giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinhbên cạnh việc dạy học kiến thức của từng môn Môn GDCD với vị trí đặc thù củamình là “giữ vai trò chủ chốt trong việc giáo dục cho HS ý thức và hành vi củangười công dân góp phần hình thành và phát triển ở các em những phẩm chất vànăng lực cần thiết của người công dân trong xã hội công bằng dân chủ, văn minh

Do vậy, môn GDCD góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, đào tạo HS thành những người lao động mới đáp ứng được yêu cầu đòihỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu thế phát triển chungcủa thời đại” [32; 18] Với vai trò và tầm quan trọng như vậy nhưng hiện nay, mônGDCD chưa được phát huy hết vai trò và vị trí của mình trong trường THPT và

nhất là ở trường chuyên

HS chưa ý thức được vai trò của môn học, “xem nhẹ” môn GDCD biểu hiện rõrệt Theo tìm hiểu thì hầu như học sinh chưa bao giờ dành một qủy thời gian trên 30phút để học môn GDCD và cũng ít có HS đọc SGK hoặc soạn bài trước ở nhà Tronggiờ học thật hiếm có HS phát biểu ý kiến, GV đưa ra câu hỏi và chỉ định thì HS mớimiễn cưỡng đứng lên trả lời qua loa theo SGK Sự tìm tòi, đọc thêm tài liệu liên quanđến bài học cũng chỉ có những HS giỏi hoặc khi được giao cụ thể Các em cho biết

Trang 38

nhiều khi thấy một số vấn đề lý thú nhưng không biết tìm tài liệu nào? ở đâu? cáchkhai thác như thế nào? Lỗi này phải chăng do thiếu sót của đội ngũ GV chúng ta Các

em không biết nên ghi những gì trong chuỗi lời giảng của GV hoặc GV đọc nhanh quácác em không kịp chép Học theo cách này các em nắm được kiến thức trong SGK cònkhó, thì làm sao mà các em còn hứng thú để tìm tòi, học hỏi nghiên cứu sâu hơn bàihọc của mình để mở rộng kiến thức, còn đâu cơ hội để đưa ra một phương pháp học,hình thành một thói quen tự học, để tự đào tạo mình, tự phát triển Tôi thiết nghĩ, nếunhư HS học môn GDCD mà cũng giành thời gian và tâm huyết như các môn họcchuyên thì hiệu quả tác động của môn GDCD đối với các em sẽ đạt hiệu quả cao hơn

Vì HS ngày nay rất thông minh và nhạy bén nhưng do chúng ta chưa gợi được hứngthú học tập của các em, chưa tạo được tâm thế hứng khởi cho các em trong giờ họccũng như chưa kích thích sự tích cực, năng động trong tư duy Cho nên, việc tiếp nhậntri thức của HS còn mang tính chất thụ động, HS chưa phát huy hết khả năng và kinhnghiệm của mình

Thực ra, không có sự phân biệt chính phụ đối với các môn học trong trườngphổ thông Tuy nhiên, do tâm lý học để thi nên thông thường các môn thi bao giờcũng được coi là môn chính Còn những môn học không thi thì cho là môn học phụ,

do đó việc dạy và học khó có hứng thú và đạt hiệu quả thực tế mà chỉ là nghĩa vụ.Hơn nữa, mục tiêu học tập của học sinh THPT hiện nay là vượt qua hai kỳ thi tốtnghiệp và đại học mà môn GDCD lớp 12 không thi tốt nghiệp, nội dung lại khôngliên quan đến kỳ thi đại học nên HS ít đầu tư nghiên cứu nhất là HS trường chuyên.Nội dung chương trình môn GDCD còn quá nặng về lý thuyết, chưa thực sự đápứng được yêu cầu của người học Các phương tiện hỗ trợ dạy học GDCD ở trườngchuyên hầu như không có, phần lớn do GV phải sáng tạo.Tài liệu tham khảo cho

HS và GV giảng dạy còn hạn chế Hơn nữa, đây là môn học có tính thời sự cao nênviệc cập nhật tài liệu gặp nhiều khó khăn cho cả người dạy lẫn người học

Thời gian gần đây, quan điểm đổi mới phương pháp dạy học đã có tác độngmạnh mẽ đến các cấp học trong nhà trường, đặc biệt là cấp THPT GV bộ môn

Trang 39

GDCD cũng có những thay đổi đáng kể trong phương pháp giảng dạy nhưng chưathường xuyên và chưa có chuyển biến đáng kể GV khi lên lớp thường có sự chuẩn

bị thông qua thiết kế giáo án nhưng giáo án mới chỉ dừng lại là một đề cương nộidung bài học cần truyền đạt Dựa vào SGK và sách hướng dẫn, GV làm công việctóm tắt những nội dung chính cần truyền đạt cho HS Những hoạt động của HS quatừng nội dung bài học, từng chủ đề hình như không có mặt trong giáo án Với thiết

kế giáo án như vậy, GV là chủ thể hoạt động, HS là khách thể bị động, GV thôngqua khối lượng kiến thức đã chuẩn bị truyền thụ lại cho HS như một cuộc chạy đuavới thời gian, kết thúc giờ học là kết thúc bài học Thiết kế giáo án, kết hợp vớiphương pháp giảng dạy ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của HS Với cáchdạy truyền thụ một chiều làm cho HS không thể hứng thú và phát huy hết năng lực,kinh nghiệm hiểu biết sẵn có của mình cũng như lòng say mê học hỏi và làm cho

HS thái độ không coi trọng giờ học, thái độ này không chỉ tồn tại ở HS mà còn cótrong ý thức của một số GV giảng dạy môn học này Chính điều này đã dẫn đến mộtthực trạng là có những HS học xong lớp 12 mà không nhớ nỗi khái niệm pháp luật

là gì? Bản thân mình có những quyền tự do cơ bản nào? Nói gì đến việc trách nhiệmcủa bản thân đối với Nhà nước với xã hội như nội dung bài đã học

Một lý do khác ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập nói chung vàmôn GDCD nói riêng là vấn đề học thêm của HS Chứng kiến việc học thêm củacác em, chúng ta thấy có nhiều điều bất cập, trong có vấn đề “tự học” Trước đây,khi HS học ở nhà nhiều hơn thì bây giờ ngược lại, thời gian học ở trường, ở lớpnhiều hơn ở nhà Các em bận rộn với chuyện đi học thêm, thời gian gần như lấp kín.Chúng tôi tự hỏi không biết HS, học bài, ôn bài, làm bài tập vào thời gian nào? Hiệnnay trên thị trường có rất nhiều tài liệu tham khảo, nhiều kênh thông tin phong phú,phục vụ cho môn học nhưng vì thời khóa biểu học thêm của các em kín hết ngàylàm gì còn thời gian để các em tự học, tự nghiên cứu

Theo xu thế chung của thời đại hiện nay nên đa số các em chọn cho mình môn

tự nhiên để học ra trường dễ kiếm việc làm và lương cao hơn khi chọn lĩnh vực xã

Trang 40

hội để học Đây cũng là thực trạng của xã hội Việt Nam hiện nay, khi mà lĩnh vực

tự nhiên, Ngân hàng Tài chính, Kinh tế…mọi người đổ xô vào học vào nghiên cứuthì lĩnh vực xã hội lại trầm lắng làm ảnh hưởng đến sự phát triển cân bằng của xãhội Thực tế, chỉ một số ít học sinh chuyên trở thành nhà Toán học, nhà Vật lý haynhà Văn ….phần lớn sẽ trở thành người lao động có trình độ cao của đất nước Dovậy, học chuyên không chỉ nhằm mục đích đi thi, làm nhà nghiên cứu … mà quantrọng là để các em có năng lực giải quyết những vấn đề trong thực tiễn, vấn đề xãhội của mỗi cá nhân

Như vậy, qua quá trình khảo sát, phỏng vấn, điều tra việc dạy học theo hướngphát triển năng lực tự học cho HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh cho thấy:Nhìn chung HS của trường chưa có nhận thức đầy đủ về vai trò, bản chất, ý nghĩacủa tự học, tự nghiên cứu đối với môn GDCD Vì thế, việc giành thời gian và sửdụng các biện pháp tự học cho môn học này chưa được chú trọng, chủ yếu tập trunghọc kỹ để chuẩn bị cho thi và kiểm tra Một trong những khó khăn dẫn tới thựctrạng trên là do HS thiếu các kỹ năng tự học, chưa có cách học, chưa có đủ tài liệu

và các phương tiện hỗ trợ học tập Đặc biệt, do GV chưa thực sự quan tâm đến việcphát triển năng lực tự học cho các em, chưa phát huy hết vai trò tích cực, sáng tạocủa HS trong quá trình dạy học Chính vì vậy, năng lực tự học môn GDCD lớp 12của HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh còn hạn chế, dẫn đến kết quả họctập chưa tương xứng với trình độ và khả năng của các em Để nâng cao chất lượnggiảng dạy môn học, GV cần đánh thức tiềm năng của các em, tạo cho các em điềukiện để phát triển, tạo cho HS niềm tin tự khẳng định mình trong học tập cũng nhưtrong cuộc sống Đây là trách nhiệm vô cùng nặng nề và lớn lao của GV nói chung

và GV giảng dạy môn GDCD nói riêng.Việc phát triển năng lực tự học cho HSTHPT trong giờ GDCD vẫn còn là một vấn đề khó khăn và dường như mới mẻ đốivới cả HS và GV Thay đổi một quan niệm cũ đã trở thành một thói quen trong nếpnghĩ quả là một công việc khó khăn nhưng nếu không thay đổi sẽ trở thành lạc hậu,bảo thủ Quan niệm của mỗi GV có đóng góp vô cùng quan trọng đối với việc xác

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2. Thực trạng tự học môn GDCD lớp 12 theo hướng phát triển năng lực  tự học của HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh - Phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 (qua khảo sát tại trường THPT chuyên lương thế vinh, tp  biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
ng 2. Thực trạng tự học môn GDCD lớp 12 theo hướng phát triển năng lực tự học của HS Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh (Trang 30)
Bảng    3.  Thực trạng giảng dạy môn GDCD gắn với yêu cầu phát triển  năng lực tự học của HS ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh - Phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 (qua khảo sát tại trường THPT chuyên lương thế vinh, tp  biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
ng 3. Thực trạng giảng dạy môn GDCD gắn với yêu cầu phát triển năng lực tự học của HS ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh (Trang 32)
Bảng 4. Thực trạng việc rèn luyện cho HS các kỹ năng tự học nhằm phát  triển năng lực tự học của HS thông qua giảng dạy môn GDCD lớp12 ở Trường  THPT chuyên Lương Thế Vinh - Phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 (qua khảo sát tại trường THPT chuyên lương thế vinh, tp  biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 4. Thực trạng việc rèn luyện cho HS các kỹ năng tự học nhằm phát triển năng lực tự học của HS thông qua giảng dạy môn GDCD lớp12 ở Trường THPT chuyên Lương Thế Vinh (Trang 33)
Đồ thị 1: Kết quả học tập của HS sau lần thực nghiệm thứ nhất - Phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 (qua khảo sát tại trường THPT chuyên lương thế vinh, tp  biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
th ị 1: Kết quả học tập của HS sau lần thực nghiệm thứ nhất (Trang 66)
Bảng  7. Kết quả học tập của HS sau giờ thực nghiệm số 2 Loại - Phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT thông qua dạy học môn GDCD lớp 12 (qua khảo sát tại trường THPT chuyên lương thế vinh, tp  biên hòa, tỉnh đồng nai) luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
ng 7. Kết quả học tập của HS sau giờ thực nghiệm số 2 Loại (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w