1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở huyện diễn châu nghệ an trong thời kỳ hội nhập

55 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở huyện Diễn Châu – Nghệ An trong thời kỳ hội nhập
Tác giả Ngô Văn Thanh
Người hướng dẫn Ts. Đặng Trung Thành
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục Chính trị
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 267,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến khoá luận Về nghề, làng nghề TCTT ở nớc ta nói chung, Nghệ An và Diễn Châu nóiriêng, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu khoa học trong vàng

Trang 1

Trờng đại học vinhKhoa giáo dục chính trị

Ngô văn thanh

Phát triển làng nghề thủ công

truyền thống ở huyện diễn châu – Nghệ An

trong thời kỳ hội nhập

khóa luận tốt nghiệp đại học

ngành cử nhân s phạm giáo dục chính trị

cán bộ hớng dẫnkhóa luận

Ts đinh trung thành

Vinh - 2010

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG 5 Chương 1: Làng nghề thủ công truyền thống ở diễn châu (Nghệ An) trong những năm qua 5

1.1 Lý luận chung về nghề, làng nghề thủ cụng truyền thống 51.2 Tỡnh hỡnh phỏt triển làng nghề thủ cụng truyền thống ở Diễn chõutrong những năm qua 9

Chơng 2: Định hớng và một số giải pháp phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở Diễn Châu trong thời

kỳ hội nhập 44

2.1 Những định hớng cơ bản cho sự phát triển làng nghề thủ công truyềnthống Diễn Châu trong thời gian tới 442.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm làng nghề thủ công truyền thống ởDiễn Châu trong thời kỳ hội nhập 47

Kết luận 63 Tài liệu tham khảo 67

Trang 3

và kinh tế nông thôn là vấn đề có ý nghĩa cốt tử của cách mạng xã hội chủnghĩa ở một nớc đi lên từ một nền nông nghiệp kém phát triển.

Một trong những nội dung trọng tâm của CNH, HĐH nông nghiệp, nôngthôn là khôi phục và phát triển làng nghề thủ công truyền thống (TCTT) Vì

nó có tác động to lớn đến quá trình phân công lao động xã hội, giải quyết việclàm, tăng thu nhập cho ngời lao động Mặt khác, sự phát triển của làng nghềTCTT kéo theo sự phát triển của nhiều ngành dịch vụ liên quan, tạo thêmnhiều việc làm mới, thu hút lao động d dôi trong nông nghiệp Nhờ đó tránh đ-

ợc luồng di dân ồ ạt từ nông thôn vào thành phố tìm việc làm, góp phần thựchiện chiến lợc kinh tế mở, đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu Đây là nhiệm vụkhông chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế, mà còn có ý nghĩa chính trị - xã hội to lớntrong sự nghiệp phát triển đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, hiện nay làng nghề TCTT ở Nghệ An cũng nh Diễn Châu nóiriêng phát triển cha tơng xứng với tiềm năng của nó Có làng nghề vẫn tồn tại

và phát triển Ngợc lại, có làng nghề phát triển cầm chừng, thậm chí có làngnghề bị mai một dần Đây là vấn đề cấp thiết cần đợc nghiên cứu, luận giải, từ

đó rút ra cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển làng nghề TCTT ở Diễn Châutrong thời kỳ hội nhập, đồng thời nêu lên những giải pháp phát triển trong thời

gian tới Chính vì vậy mà vấn đề Phát triển làng nghề thủ công truyền“Phát triển làng nghề thủ công truyền

thống ở huyện Diễn Châu- Nghệ An trong thời kỳ hội nhập” đợc tôi chọn

làm đề tài khoá luận tốt nghiệp

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích: trên cơ sở làm rõ tiềm năng, thực trạng, vai trò của phát triển

làng nghề TCTT ở Diễn Châu hiện nay, khoá luận đề xuất những phơng hớng

và giải pháp cơ bản nhằm khôi phục và phát triển phát triển làng nghề TCTT ởDiễn Châu trong giai đoạn tới

* Nhiệm vụ: để đạt đợc mục đích trên, khoá luận phải thực hiện những

nhiệm vụ sau:

- Làm rõ khái niệm nghề, làng nghề TCTT, tiềm năng và những nhân tố

ảnh hởng đến sự phát triển của phát triển làng nghề TCTT ở Diễn Châu

- Phân tích, đánh giá, thực trạng, vai trò của phát triển làng nghề TCTT ởDiễn Châu hiện nay và những tồn tại cần khắc phục

- Luận giải, đề xuất những phơng hớng và giải pháp cơ bản nhằm pháttriển làng nghề TCTT theo hớng CNH, HĐH ở Diễn Châu

Trang 4

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

* Đối tợng nghiên cứu: Các làng nghề TCTT ở Diễn Châu.

* Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát làng nghề TCTT từ thời kỳ đổi mới

(1986) đến nay trên địa bàn huyện Diễn Châu - Nghệ An

4 Phơng pháp nghiên cứu

Khóa luận sử dụng các phơng pháp nghiên cứu của Kinh tế chính trị Mác

- Lênin

5 Tình hình nghiên cứu liên quan đến khoá luận

Về nghề, làng nghề TCTT ở nớc ta nói chung, Nghệ An và Diễn Châu nóiriêng, cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu khoa học trong vàngoài nớc đề cập đến:

Sách: Các nền văn minh trên đất n“Phát triển làng nghề thủ công truyền ớc Việt Nam” (Nxb Giáo dục, 1998)

của hai tác giả Trơng Hữu Quýnh và Đào Tố Uyên đã nêu lên nhu cầu thúc

đẩy sự ra đời của nghề TCTT và khẳng định một số nghề thủ công nh: nghề

đúc đồng, nghề đan lát… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầucủa nền văn minh đất Việt

Sách: Địa lý các huyện, thành phố, thị xã tỉnh Nghệ An“Phát triển làng nghề thủ công truyền ” (Nxb Nghệ An,2004) của tác giả Trần Kim Đôn Mặc dù tác phẩm này không đề cập đếnTCTT nhng đã nêu khác đầy đủ về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, cuộcsống của con ngời các huyện thị Nghệ An vào công cuộc đấu tranh bảo vệ vàxây dựng đất nớc, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế - xã hôi Nghệ An, trong

đó có nghề TCTT

Sách: Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX“Phát triển làng nghề thủ công truyền ” do Dơng Thị The và PhạmThị Thoa dịch, Nxb Khoa học xã hội, 1981, đã khái quát một cách cụ thể vềnghề TCTT và đi vào phân tích nguồn gốc, khái niệm nghề thủ công

Sách: Nghề, làng nghề thủ công truyền thống ở Nghệ An “Phát triển làng nghề thủ công truyền ” (Nxb Nghệ

An, năm 2000) do tác giả Ninh Viết Giao chủ biên, đã giới thiệu quá trình ra

đời và phát triển nghề TCTT ở Nghệ An

Trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử“Phát triển làng nghề thủ công truyền ” số 5 - 1999 có bài viết của Lu Thuyết

Văn: Một số vấn đề về làng nghề thủ công truyền thống ở n“Phát triển làng nghề thủ công truyền ớc ta hiện nay” đã

khái quát đôi nét lịch sử phát triển của làng nghề và sự đan xen giữa các làngnghề TCTT với sự hình thành các làng nghề mới ở Việt Nam

Sách: Diễn Châu - kể chuyện 1380 năm“Phát triển làng nghề thủ công truyền ” (Nxb Nghệ An, năm 2007) củaHuyện Uỷ - HĐND - UBND Huyện Diễn Châu viết về 1380 năm có tên Diễn

Trang 5

Châu Cuốn sách này đã đề cập đến các làng nghề thủ công truyền thống DiễnChâu cũng nh một số đề xuất, phơng hớng nhằm phát triển làng nghề TCTT.Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà sử học địaphơng, tạp chí, luận văn, tiểu luận nghiên cứu về làng xã và các ngành nghềTCTT trên mọi miền đất nớc.

Tuy nhiên, cho đến nay cha có công trình khoa học nào đi sâu tìm hiểulàng nghề TCTT ở Diễn Châu một cách có hệ thống, từ việc phân tích, đánhgiá tiềm năng, thực trạng, vai trò làng nghề, cho đến việc đề xuất các giảipháp chủ yếu phát triển làng nghề TCTT ở Diễn Châu trong thời kỳ hội nhập

6 Đóng góp của khoá luận

- Phân tích, đánh giá tiềm năng và những nhân tố chủ yếu ảnh hởng tới sựphát triển làng nghề TCTT ở Diễn Châu

- Đánh giá thực trạng, vai trò của làng nghề TCTT ở Diễn Châu, trên cơ

sở đó, đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm khôi phục và phát triển làng nghềTCTT ở Diễn Châu theo hớng CNH, HĐH

- Góp phần giáo dục lòng tự hào về truyền thống quê hơng và trân trọngnhững di sản mà cha ông để lại và có định hớng phát triển đúng

7 Bố cục khoá luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, khoá luậngồm 2 chơng 4 tiết:

Chương 1: Làng nghề thủ cụng truyền thống ở Diễn Chõu - Nghệ Antrong những năm qua

Chơng 2: Định hớng và một số giải pháp phát triển làng nghề thủ côngtruyền thống ở Diễn Châu trong thời kỳ hội nhập

Trang 6

Chơng 1 Làng nghề thủ công truyền thống ở diễn châu

(Nghệ An) trong những năm qua

1.1 Lý luận chung về nghề, làng nghề thủ công truyền thống

1.1.1 Khái niệm nghề, làng nghề thủ công truyền thống và đặc điểm làng nghề thủ công truyền thống ở Diễn Châu

1.1.1.1 Khái niệm nghề, làng nghề thủ công truyền thống

* Nghề thủ công truyền thống

Nghề thủ công vốn xuất hiện sớm trong lịch sử dân tộc, mặc dù đã trảiqua nhiều thời kỳ phát triển với trình độ sản xuất khác nhau, song nghề thủcông luôn tồn tại và phát triển, đợc truyền từ thế này sang thế hệ khác và th-ờng đợc gọi là những nghề TCTT Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều cáchhiểu khác nhau

Tác giả Trần Kim Đôn cho rằng: Một nghề đ“Phát triển làng nghề thủ công truyền ợc gọi là nghề thủ công truyền thống nhất thiết phải có các yếu tố sau:

- Đã hình thành tồn tại và phát triển lâu đời ở Việt Nam.

- Sản xuất tập trung, tạo thành các làng nghề, phố nghề, phố nghề.

- Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề.

- Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam.

- Sử dụng nguyên liệu tại chỗ, trong nớc hoàn toàn hoặc chủ yếu nhất

- Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo của nghề thủ công, phải có giá trị và chất lợng cao, vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm nghệ thuật Thậm chí, nó trở thành các di sản văn hoá dân tộc mang bản sắc dân tộc Việt Nam.

- Là nghề nuôi sống một bộ phận dân c của cộng đồng và có đóng góp

đáng kể vào ngân sách nhà nớc” [19, tr.13).

Có quan niệm lại cho rằng: nghề thủ công là nghề:

- Cá nhân trực tiếp lao động một nghề chuyên và nhằm thu nhập cho“Phát triển làng nghề thủ công truyền

bản thân.

- Tự định đoạt lấy mọi việc (sản xuất, chế biến, sữa chữa, phục vụ …kể kể cả cung cấp sản phẩm).

Trang 7

- Có thể làm việc đơn độc hoặc chỉ với một số ngời trong gia đình, một số thợ bạn hay một số thợ học việc.

- Thể hiện một tay nghề nhất định, một tài khéo léo riêng biệt, hoặc xuất sắc độc đáo thông qua lao động bằng tay hoặc bằng các máy móc hay công

cụ ở trình độ đơng đại ” [18, tr.6)

Từ các quan điểm nêu trên có thể khái quát một cách chung nhất nh sau:

Nghề thủ công truyền thống là để chỉ các hoạt động sản xuất bằng tay với công cụ đơn giản, đã đợc hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời tại Việt Nam, đã từng có nhiều thế hệ nghệ nhân hay đội ngũ lành nghề với kỹ thuật khá ổn định và nguyên liệu chủ yếu tại chỗ.

công” [12, tr.63] Có quan niệm khác cho rằng: Làng nghề TCTT là trung“Phát triển làng nghề thủ công truyền

tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phờng hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa

và nhỏ, có cùng tổ nghề và các thành viên luôn luôn tuân thủ những ớc chế xã hội và gia tộc Sự liên kết hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật, đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dòng tộc, cùng phờng nghề trong quá trình lịch sử hình thành, phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngay trên đơn vị

c trú, làng xóm truyền thống của họ” [19, tr.13].

Từ các ý kiến trên, có thể rút ra khái niệm chung nh sau: Làng nghề thủcông truyền thống là chỉ một cộng đồng dân c cùng nghề sinh sống trong mộtthôn (làng), có một nghề hay một số nghề tách ra khỏi nông nghiệp để sảnxuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các làng nghề đó chiếm tỉ trọng caotrong tổng giá trị sản phẩm của làng

1.1.1.2 Đặc điểm làng nghề thủ công truyền thống ở Diễn Châu

* Làng nghề thủ công truyền thống ở Diễn Châu có sự phát triển đa dạng

và gắn chặt với sản xuất nông nghiệp

Trang 8

Với một địa hình đa dạng, phong phú có núi sông, ao hồ, đồng bằng,biển… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu cùng với sự khai phá của con ngời, Diễn Châu có tiềm năng phát triểnmột nền kinh tế đa ngành, đa nghề Một trong những ngành nghề đóng vai tròquan trọng ở đây là nghề TCTT ở Diễn Châu có tới hơn 18 làng nghề và làng

có nghề truyền thống, thu hút hàng vạn lao động tham gia Trong đó có nhữngnghề TCTT quan trọng và nổi tiếng khắp cả nớc, nh: chế biến hải sản, mây tre

đan xuất, nghề luyện sắt và nghề rèn… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu

Các làng nghề TCTT ở Diễn Châu đều ra đời và tách dần từ nông nghiệp.Theo thời gian, chúng đã ăn sâu, bám rễ, phát triển rộng khắp, thu hút đông

đảo lực lợng lao động tham gia Ban đầu ngời lao động ở nông thôn do nhucầu việc làm và thu nhập đã thêm nghề thủ công bên cạnh nghề nông Khi lựclợng sản xuất phát triển hơn, TTCN tách ra độc lập, vơn lên thành ngành sảnxuất chính ở một số làng

* Sản phẩm của các làng nghề thủ công truyền thống phát triển đa dạng

Nhờ bám sát thị trờng, am hiểu thị hiếu của ngời tiêu dùng nên các mặthàng TCTT ở Diễn Châu đợc cải tiến nhanh chóng, ngày càng đáp ứng nhucầu và chiếm u thế trên thị trờng Đặc biệt, có những chất liệu có hàng trămloại nh mây tre đan: làn, bàn, giỏ, khay… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu ợc làm ra từ trình độ tay nghề cao, đtinh tế và hoàn mỹ bậc nhất, không thua kém các sản phẩm khác trong nớc và

có thể đứng vững trên thị trờng

* Về đặc điểm lối sống của làng nghề thủ công truyền thống

ở Diễn Châu, mỗi làng nghề thể hiện một lối sống tơng đối đặc biệt,

nh-ng đều thể hiện tính cộnh-ng đồnh-ng và nhân văn cao cả Mỗi sản phẩm nh-nghề thủcông đều phải trải qua nhiều công đoạn, mọi ngời đều có trách nhiệm chungtrong việc làm ra sản phẩm, vì thế luôn có sự ràng buộc gữa ngời thợ này vớingời thợ kia, tạo nên một lối sống cộng đồng bền chặt Qua đó, tình làngnghĩa xóm càng đậm đà hơn trong những buổi cùng lao động, tạo điều kiệncho nghề TCTT tồn tại và phát triển

* Làng nghề thủ công truyền thống ở Diễn Châu là sự kết tinh những giá trị văn hoá, văn minh lâu đời của dân tộc

Các sản phẩm TCTT ở Diễn Châu vừa phản ánh những nét văn hoá chungcủa dân tộc vừa có những nét riêng của các làng nghề Đối với mỗi ngời Việt

Trang 9

Nam sinh sống ở nớc ngoài khi nghĩ về quê hơng là nhớ ngay đến dấu ấn đạmnét của mỗi làng nghề với vô vàn sản phẩm độc đáo Nh vậy, làng nghề TCTTkhông chỉ đóng vai trò là những đơn vị kinh tế, thực hiện mục tiêu sản xuấttiêu dùng, hàng xuất khẩu… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu mà còn mang những nét đặc sắc văn hoá dân tộc,văn hoá cộng đồng làng xã Việt Nam nói chung và Nghệ An - Diễn Châu nóiriêng.

* Về hình thức tổ chức kinh doanh của làng nghề thủ công truyền thống

Nghề TCTT ở Diễn Châu đợc tổ chức sản xuất kinh doanh dới các hìnhthức: là hộ gia đình, các doanh nghiệp t nhân, các hình thức hợp tác và cáchợp tác xã kiểu mới… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu cơ chế mới đã tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích

đa dạng hoá các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong làng nghề TCTT.Tuy nhiên, trong những năm qua, hình thức kinh doanh hộ gia đình vẫn chiếm

1.2.1.1 Tiềm năng phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở Diễn Châu

a Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý: Diễn Châu là một đơn vị hành chính cấp huyện, nằm ở phía

bắc tỉnh Nghệ An, có bờ biển dài 25 km Trong vùng kinh và vĩ độ từ 105030’

đến 105045’ kinh độ Đông và từ 18020’ đến 1905’ vĩ độ Bắc, phía Bắc giáphuyện Quỳnh Lu, phía Nam giáp với huyện Nghi Lộc, phía Tây và một phầnTây Nam, Tây Bắc giáp với huyện Yên Thành, phía Đông giáp biển

Tổng diện tích đất tự nhiên của Diễn Châu là 330,49 km2, trong đó diệntích đất canh tác là 13200 ha Dân số năm 2009 là 296.000 ngời, với mật độdân số 940 ngời/km2 Hiện nay Diễn Châu có 38 xã và một thị trấn, trung tâmcủa huyện là thị trấn Diễn Châu ở ngã ba Phủ Diễn nơi giao nhau giữa quốc lộ

Trang 10

nhiều cảnh quan đẹp, khí hậu biển mát lành Biển Diễn Châu giàu hải sản,thềm lục địa bằng phẳng, có bài tắm và khu nghỉ mát Diễn Thành thuộc loại

đất tốt trong khu vực mền Trung

Địa hình Diễn Châu cũ ba bề có núi bao bọc chỉ hở mặt biển Trớc đây,

đó là một phá nớc mặn mênh mông có thể gọi là vịnh Diễn Châu Nhng rồi

n-ớc biển lùi dần, để lại cho ta cái bề mặt địa hình nh ngày nay Trầm tích biểnvới các lớp vỏ sò, vỏ hến và cát đã tham gia vào cấu tạo đồng bằng Diễn Châu.Vùng đồng bằng Diễn Châu còn đợc tạo ra bởi các trận ma lũ, ma ngàn Đấttrên đồi núi bị ma lũ, ma ngàn bào mòn tạo ra lợng phù sa lớn cho các consông nh: sông Bùng, sông Dinh

Địa hình Diễn Châu có thể chia làm ba vùng mang đặc điểm nh sau: Vùng có nhiều đồi núi: gồm các xã Diễn Lâm, Diễn Phú, Diễn Lợi, DiễnThắng và Diễn Đoài Đây là vùng đất đỏ đá vôi thờng có màu nâu đỏ, màuvàng, chất đất tốt Song địa hình hẹp lai bị cắt xẻ mạnh, làm cho tầng đất chỗdày chỗ mỏng khác nhau, chỗ dày thì đất thịt nhiều, chổ mỏng thi pha lẫn sỏi

đá, gây những trở ngại cho việc canh tác Nhng đây là loại đất có thể hìnhthành vùng chuyên canh lúa, ngô, đỗ, lạc

Vùng đất phù sa đồng bằng: bao gồm nhiều xã nh Diễn Thọ, Diễn Lộc,Diễn An, Diễn Bình, Diễn Minh, Diễn Cát, Diễn Phúc, Diễn Hoa, Diễn Hạnh,Diễn Nguyên, Diễn Quảng, Diễn Yên, Diễn Mỹ, và các xã ven biển Lợng

đất phù sa ở đồng bằng Diễn Châu không tơi tốt nh các đông bằng khác, đấtphù sa con xen lẫn với đất phèn chua mặn do thềm biển để lại và một số núi

đồi mỏ sắt tạo ra Nhng đồng bằng này cũng hình thành vựa lúa từ bao đời nay

và hiện nay vẫn là cơ sở để cung cấp lơng thực trong huyện

Vùng đất cát ven biển: thuộc những xã Diễn Trung, Diễn Thịnh, DiễnThành vùng này đất nhẹ, kém màu mỡ Nhng loại đất ở nơi đây rất phù hợp vớicác loại cây hoa màu nhất là lạc, đỗ, vừng và cả loại cây lơng thực nh ngô,khoai

Thiên nhiên không có sự u ái cho vùng đất Diễn Châu nhng con ngời nơi

đây cần cù chịu khó khai khẩn, canh tác, cày bừa, cải tạo làm cho đất đaithành thuộc làm cho Diễn Châu trù mật Nh câu ca dao chính con ngời nơi đâythờng truyền miệng:

Đông Thành là mẹ là cha

“Phát triển làng nghề thủ công truyền

Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành”

Trang 11

Về mặt kiến tạo của địa hình Diễn Châu tơng đối bằng phẳng, ít núi non

so với các huyện khác của Nghệ An ở Diễn Châu có những ngọn núi:

Núi Mộ Dạ nằm trên đất Diễn Trung và Diễn An, núi này phía Đông giápbiển, phía Bắc có của biển bị lấp, phía Nam là đất của huyện Nghi Lộc Trớc

đây tại núi Mộ Dạ, cây cối um tùm, có nhiều chim công và động vật Dới chânnúi có đền thờ Thục An Dơng Vơng

Núi Bạc trên đất Diễn Phú núi này cùng núi Mụa, núi Kìm, núi Chạch vàdãy Đại Vạc gần nh liền kề nhau trập trùng Dãy Đại Vạc là ranh giới tự nhiêngiữa Diễn Châu và Nghi Lộc

Núi Hai Vai nhân dân Diễn Châu thờng gọi là lèn Hai Vai, tên chữ củanúi này là Lỡng Kiên Sơn ở núi Hai Vai có nhiều tầng văn hoá, ngời ta khámphá ra nhiều di chỉ văn hoá thời kì đồ đá mới Núi có nhiều hang động đẹp nhhang Gơm, hang Khôn, hang Dơi… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu Phải nói rằng lèn Hai Vai gắn liền với sựthăng trầm của Diễn Châu Nói đến lèn Hai Vai là nói đến Diễn Châu, vì ở đóthắng cảnh liền với truyền thống, với kỳ tích lịch sử, với tâm hồn con ngời vớibao kỷ niệm về nhân sinh Nên lèn Hai Vai là nơi gửi gắm niềm tin tin sứcsống, lòng kiêu hãnh và tự hào yêu quê hơng của chính những con ngời nơi

đây Lèn Hai Vai còn tiêu biểu cho cốt cách văn hoá, cho đạo lý và cho cảnhững suy nghĩ, ớc ao về thế cuộc, về tơng lai của ngời dân Diễn Châu.Ngoài ra, còn có núi Mua (Rú Ta) ở Nho Lâm, Hòn Trơ ở Yên Lý thợng.Núi Nhuệ ở làng Đăng Cao thuộc xã Diễn Đoài, hòn Nhọn ở xã Diễn Lâm và

đi dịch lên một đoạn là Truông Vên (bên này Truông Vên là Diễn Châu, bênkia Truông Vên là Nghĩa Đàn) Đi về phía biển ở xã Diễn Hải có Hòn Câu.Phía Bắc giáp giới xã Diễn Hoàng và Quỳnh Lu có hai núi nhng nhân dan nơi

đây gọi là hòn, đó là Hòn Thè và Hòn Hung là hai hòn núi đá nhìn ra biển làmranh giới tự nhiên giữa Diễn Châu và Quỳnh Lu

Sông ngòi: Diễn Châu có những con sông đáng kể nh:

Sông Bùng là con sông lớn nhất của Diễn Châu bây giờ, chỉ là đoạn cuốicủa nhiều sông nhỏ đất Đông Thành xa, bắt nguồn từ dãy núi Động Đình(nay thuộc hai xã Quang Thành và Thịnh Thành), chảy theo các con sông vềDiễn Châu qua các xã Diễn Minh, Diễn Bình, Diễn Thái, Diễn Cát,… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu rồi chảyxuống Diễn Vạn và đổ ra biển

Diễn Châu còn có các con sông đào nhỏ khác: Kênh nhà Lê chạy từ NghiLộc ra Diễn Phú qua Diễn An, Diễn Lộc, Diễn Tân, Diễn Phúc rồi nhập với

Trang 12

sông Bùng; sông Cầu Lồi bây giờ gọi là sông Vách Bắc chảy từ Phúc Thànhxuống Lăng Thành, Mã Thành, Đô Thành rồi xuống Diễn Hồng, Diễn Phongrồi đổ ra lạch Vạn; sông Yên Sở chạy từ kênh Nhà Lê ở xã Diễn Quảng raDiễn Cát, Diễn Hạnh, Diễn Đồng rồi nhập với sông Bùng Trớc đây Diễn Châu

có một con sông nữa gọi là sông Hiền Sông này chảy từ Yên Thành xuốngDiễn Thắng và đoạn cuối ở Diễn Trung đổ ra cửa Hiền ở phía Bắc núi Mộ Dạ,nay con sông này bị lấp

Nhìn chung các con sông ở Diễn Châu ngắn và hẹp, lại không xuất phát

từ dãy núi cao nên rất ít phù sa bồi đắp cho đồng ruộng

Về giao thông: Diễn Châu có quốc lộ 1A và tuyến đờng sắt chậy dọc

Bắc - Nam, là điểm khởi đầu của quốc lộ 7 nối với các huyện miền Tây vànớc bạn Lào, quốc lộ 47 lên các huyện vùng tây bắc của tỉnh, các tuyếngiao thông nội huyện và liên huyện rất thuận tiện và hiện đại

Về đờng thủy, có tuyến kênh nhà Lê theo hớng Bắc Nam nối liền vớisông Cấm, sông Bùng chảy qua 10 xã trong huyện đỗ ra biển Đông Có cửaVạn, của Hiền và 25 km bờ biển nối liền các huyện trong nớc Ngoài ra DiễnChâu còn có hai tuyến tỉnh lộ lớn quan trong đi qua các huyện không kém gìquốc lộ nh đờng 38 từ ngã ba cầu Bùng, chạy qua các xã Diễn kỷ, Diễn Xuân,Diễn Đồng, Diễn Thái rồi qua các xã ở huyện Yên Thành ra gặp quốc lộ 7 Đ-ờng 48 từ Yên Lý (xã Diễn Yên) xuất phát từ quốc lộ 1A đi Nghĩa Đàn, QuỳChâu, Quế Phong Những tuyến đờng này không chỉ gắn chặt hoạt động của 3huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lu thành một thị trờng thống nhất làmcho Diễn Châu trở thành của ngõ lớn của Bắc Nghệ An mà còn là nơi hội tụgiao thoa của nhiều luồng giao lu kinh tế và văn hoá

Các con đờng liên xã nói trên thờng có mặt đờng rộng từ 6 - 10 mét đã

đ-ợc nhựa hoá, bê tông hóa một phần, còn phần lớn là giải đá cấp phối để ô tô cótrọng tải lớn có thể hoạt động tốt Năm 2005, Diễn Châu đã có 31/39 xã có đ -ờng giải nhựa với chiều dài 80km

Khí hậu: Diễn Châu nằm trong vùng nhiệt đới, nóng ẩm nhng lại ở miền

biển nên thờng nhận đợc những luồng gió: gió mùa Đông Bắc; gió mùa TâyNam ở tận vịnh Băng Gan tràn qua lục địa, luồn qua các dãy Trờng Sơn mà ở

đây thờng gọi là gió Lào; gió đông nam mát mẻ từ Biển Đông thổi vào mà ngờidân nơi đây thờng gọi là gió Nồm Diễn Châu quanh năm có độ ẩm cao, độ ẩmbình quân trong năm từ 80% - 100% Biểu hiện của độ ẩm rõ rệt nhất là lợng

Trang 13

ma hàng năm lợng ma mà nớc không chảy và bốc hơi thì tạo thành một lớp nớcdày từ 1,5m đến hơn 2m Cũng nh năng lợng của mặt trời, đây là một loại tàinguyên quý giá Nhờ có lợng bức xạ mặt trời và độ ẩm phong phú nên quanhnăm cây cối xanh tơi, cây lơng thực và thực phẩm đều cho năng suất cao, ruộng

đồng ở Diễn Châu có thể thâm canh 2 đến 3 vụ: Tổng lợng ma bình quân: 1737mm/ năm; nhiệt độ bình quân 23,90; nhiệt độ mặt đất bình quân 270; độ ẩm bìnhquân 87%; lợng bốc hơi nớc bình quân 984,8mm; hệ số thuỷ nhiệt 2,2, Cân bằngbức xạ quanh năm đạt đến 75 Kcalo/cm2/năm Mùa hè có thàng đến 200 giờnắng Mùa đông không kém 70 giờ

Đây là một nguồn tài nguyên thiên nhiên mà nhiều nơi không có, nhất làcác vùng nằm ở vĩ độ cao Tính chất nhiệt đới thể hiện rõ trong cảnh quan địa

lý tự nhiên và ảnh hởng đến hoạt động kinh tế địa phơng

Đất đai ở vùng ven biển nhìn chung độ màu mỡ không cao, vùng bán sơn

địa đa số là đất bạc màu, nhng nhân dân Diễn Châu giàu kinh nghiệm trongviệc cải tạo đất và thâm canh nên nông nghiệp Diễn Châu vẫn là một trongnhững huyện phát triển nhất ở Nghệ An

Do vị trí địa lý nh đã nói trên, khí hậu Diễn Châu hình thành hai mùa rõrệt: mùa nóng và mùa khô Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dơng lịch, mùalạnh từ tháng 11 đến tháng 4 dơng lịch

Mùa nóng nhiệt độ nóng nực, nhiệt độ trung bình là 300, có khi lên tới

400 Gió Lào (gió Tây Nam) thờng xuất hiện trong mùa này và kéo theo khítiết nóng nực dới ánh nắng gay gắt của mùa hè Dù ở miền biển nhng DiễnChâu vẫn không thoát khỏi ảnh hởng của gió Lào

Mùa ma bão thờng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 dơng lịch, Diễn Châucũng năm trong dãi đất của miền Trung nên hàng năm phải hứng chịu nhiềucơn bão đổ bộ vào, năm ít nhất cũng từ 1 đến 2 cơn, nhiều nhất là 6 cơn Sứcgió của các cơn bão thờng có cờng độ lớn từ cấp 8 đến cấp 12, 13 gây nhiềuthiệt hại cho nghề nông và nghề làm muối Gió bão thờng kéo theo ma lụtcũng làm thiệt hại nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống nhân dân

Mùa lạnh thờng có gió mùa Đông Bắc, gió này xuất phát từ lục địa ĐôngBắc á và Thái Bình Dơng Đặc điểm của gió này là khô và lạnh, song thờngmang theo hơi nớc vào Nghệ An, gặp dãy Trờng Sơn và các núi khác dừng lạithờng gây ra ma phùn Bởi vậy Nghệ An nói chung và Diễn Châu nói riêng,nhiều khi gió mùa đã qua nhng ma phùn con kéo dài

Trang 14

Cũng nh toàn thể c dân Nghệ An, c dân Diễn Châu cũng vất vả trong việcchế ngự thiên nhiên, với khí hậu và thời tiết để sản xuất và sinh sống So vớinhiều địa phơng khác ở Nghệ An, con ngời Diễn Châu vẫn đợc thiên nhiên u

đãi Mặc dù gió mùa Tây Nam thổi cồn cột, nhng Diễn Châu ở miền biển, nêncũng đợc hơi nớc của biển làm dịu bớt phần nào Rồi gió mùa Đông Bắc thờngkèm theo ma phùn, nhng Diễn Châu ở xa dãy Trờng Sơn nên gió mùa ĐôngBắc và ma phùn chỉ kéo dài vài ba tháng, không dầm dề nh Nam Đàn, ThanhChơng và nhiều nơi khác trong tỉnh

b Điều kiện kinh tế - xã hội

* Về kinh tế

Từ những năm 1995 trở lại đây, cùng với sự phát triển kinh tế của tỉnh,kinh tế huyện Diễn Châu cũng đã có những bớc chuyển biến đáng kể, Nềnkinh tế của huyện có tốc độ tăng trởng khá so với cả tỉnh

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hớng, tỷ trọng công nghiệp - dịch vụtrong nền kinh tế ngày càng tăng Huyện đã xây dựng đợc khu công nghiệpnhỏ Diễn Hồng Hơn 200 DN và gần 200 hộ hoạt động kinh doanh trên cáclĩnh vực kinh tế Khu du lịch biển Diễn Thành đang đợc đầu t phát triển, thuhút hàng chục ngàn lợt du khách mỗi năm Kinh tế tăng trởng bình quân hàngnăm từ 17 – 17,5%, thu nhập bình quân đầu ngời (năm 2009) trên 7 triệu

đồng

Về nông - lâm - ng nghiệp: giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế củahuyện Trong những năm gần đây ngành nông - lâm - ng có bớc phát triển t-

ơng đối toàn diện Sản xuất trong các ngành này có sự chuyển biến tích cực,

đúng hớng bảo đảm khai thác tốt hơn các tiềm năng hiện có, phù hợp với điềukiện t nhiên đặc thù của huyện

Năng xuất vụ Đông Xuân đạt 57,3 tạ/ha, năng xuất lạc 26,7 tạ/ha; tăng4,1 tạ so với cùng kỳ năm ngoái Sản lợng lơng thực có hạt là 68.657 tấn, sảnlợng ngô là 20.846 tấn, sản lợng lạc là 10.936 tấn [15, tr.1]

Chăn nuôi tiếp tục phát triển Tổng đàn trâu: 7.568 con, tổng đàn bò37.063 con, tổng đàn lợn (không kể lợn sữa): 145.867 con, tổng đàn gia cầm679.000 con [15, tr.1]

Diện tích nuôi trồng mặn lợ 275 ha Trong đó, diện tích nuôi tôm sú là

149 ha, diện tích tôm thâm canh và bán thâm canh 125 ha Diện tích cá nớcngọt 1.582 ha [15, tr.1]

Trang 15

Về lâm nghiệp: Diện tích trồng rừng, chăm sóc, khoanh nuôi, bảo vệ rừng

đạt chỉ tiêu kế hoạch của dự án Làm tốt công tác phòng chống cháy rừng Chỉ

đạo trồng cây phân tán 0,6 triệu cây, đạt 60% kế hoạch [15, tr.2]

Về Diêm nghiệp: Sản lợng muối 6 tháng đầu năm là 7.000 tấn, đạt 48,37%giảm 20% kế hoạch so với cùng kỳ năm ngoái Triển khai kịp thời dự án cải tạonâng cấp đồng muối, đầu t cải tạo sửa chữa nâng cấp hệ thống ô nề, thay cátlọc, nạo vét kênh mơng thuỷ lợi, xây dựng kho muối đảm bảo cho sản xuất, ứngdụng quy trình sản xuất muối sạch và đạt kết quả tốt [15, tr.2]

Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng 6 tháng đầu năm tăng 44% so vớicùng kỳ năm ngoái Trong đó, công nghiệp tăng 19,8%; xây dựng tăng 62,1%.Các sản phẩm công nghiệp tăng khá là: Gạch nung các loại, tăng 22,7%; ngóităng 13,4%, đá xây dựng tăng 58,2%; phôi thép 7,7%; tơ tằm, kén 31,3% Cáclàng nghề, làng có nghề đợc duy trì và ngày càng phát huy hiệu quả, thu nhập

từ ngành nghề ngày càng cao [15, tr.3]

* Về xã hội

Dân số: Toàn huyện có tổng số dân là 296.000 ngời (2009), mật độ dân sốkhá cao so với cả tỉnh Dân c phân bố không đồng đều, tập trung đông ở thị trấnDiễn Châu và các xã ven các trục đờng giao thông đờng sắt, quốc lộ 1A… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu

Lĩnh vực Văn hóa - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo cónhiều chuyển biến tích cực, y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ.Giáo dục: Chất lợng dạy và học đợc quan tâm Kết thúc năm học

2006 - 2007, Diễn Châu đã xây dựng thêm 10 trờng chuẩn quốc gia,nâng tổng số trờng chuẩn của huyện lên 46 trờng

Nhiều năm nay, giáo dục Diễn Châu luôn ở trong tốp đầu của tỉnh về chấtlợng đại trà cũng nh thành tích học sinh giỏi và số lợng thi đậu vào đại học

Từ năm 2002 - 2003 đến năm 2006 - 2007 (liên tục 6 năm), giáo dục DiễnChâu đạt tiên tiến xuất sắc cấp tỉnh Hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học

đúng độ tuổi và phổ cập trung học cơ sở từ năm 2003 Toàn huyện có 46 trờngchuẩn quốc gia dẫn đầu tỉnh Nghệ An, đợc Bộ giáo dục tặng bằng khen

Về Văn hoá: Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân đợc đề cao Toànhuyện có 48.302 hộ là gia đình văn hoá đạt 77%, 275 cơ quan, đơn vị đạt danhhiệu đơn vị văn hoá Các thiết chế văn hoá ngày càng đợc củng cố và hoàn thiện.Ngành y tế Diễn Châu làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ, khám chữabệnh cho nhân dân, 39 xã, thị trấn đều có trạm xá trong đó 21 xã đạt chuẩn

Trang 16

quốc gia về y tế, 28 xã có bác sĩ ổn định… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu Công tác y tế dự phòng và các ch

-ơng trình y tế quốc gia làm tốt Hiện đã hoàn thành các bớc đẻ đề nghị trạm y

tế xã Diễn Vạn đạt danh hiệu đơn vị anh hùng trong thời kỳ đổi mới

Con ngời Diễn Châu: Trớc hết c dân Diễn Châu cũng là c dân xứ Nghệ,

nhng ở đây chỉ có c dân ngời Việt, ngoài ngời Việt bản địa, có ngời Việt ngoàiBắc vào c trú Ngoài ra có một số c dân phía trong, không có c dân thuộc dântộc thiểu số, nên nền văn hoá của Ngời Việt là chủ yếu Nói thế không phảikhông có tính giao lu, hội nhập, tiếp thu và đa dạng văn hoá Dù trong một địaphơng nhng ngời Diễn Châu đã hội nhập nhiều luồng văn hoá để tạo dựng nơi

đây nền văn hoá vừa đa dạng vừa mang bản sắc riêng Điều đó cho chúng ta tựhào rằng, hơn nghìn năm Bắc thuộc và sau đó những ngày thuộc Minh, ngờiTrung Hoa muốn đồng hoá Việt Nam, nhng lịch sử không phải chứng kiến sự

đồng hoá, sự Hán hoá Thôn xã Việt Nam, trong đó có Diễn Châu với văn hoácủa mình là yêu nớc, thờ phụng tổ tiên, sùng bái ngời có công với nớc, kínhtrọng thơng yêu ông bà cha mẹ, đoàn kết với xóm làng,… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu tóm lại sống với đạo lýtốt đẹp đã đợc thể hiện qua văn hoá

Truyền thống của nhân dân Diễn Châu về bản chất là truyền thống củangời Việt biểu hiện trong hoàn cảnh cụ thể Các truyền thống đợc truyền lạicho các thế hệ tiếp nối, góp phần cùng cả nớc làm nên những bản anh hùng cahàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc

Nguồn lao động: trong các làng nghề TCTT ở Diễn Châu, lao động trẻ là

chủ yếu, trình độ văn hoá khá cao, khả năng tiếp thu nhanh, cần cù và chịukhó, năng động và sáng tạo Đặc điểm nổi bật của lao động là kế thừa đợctrình độ kỹ thuật và công nghệ cổ truyền nhng lại thích nghi nhanh với kỹthuật và công nghệ mới, nhanh nhạy với sự biến động của thị trờng

Lực lợng lao động trong các làng nghề có đôi bàn tay khéo léo và kinhnghiệm đợc đúc kết từ lâu đời, đó là vốn quý để sản phẩm làm ra có chất lợngcao, mang đậm nét bản sắc văn hoá của dân tộc Hơn nữa, số nghệ nhân cóthâm niên, giàu kinh nghiệm còn khá lớn, đang là hạt nhân cho việc huấnluyện, đào tạo nghề cho lớp trẻ

Thị trờng: Thị trờng hàng TCTT ở Diễn Châu rất phong phú, có bề dày

lịch sử về quá trình ra đời và phát triển, nó tác động sâu sắc thúc đẩy sản xuấtphát triển nhất là những mặt hàng độc đáo mang rõ sắc thái của địa phơng vàcủa dân tộc Tại các chợ ở nông thôn, việc mua bán hàng hoá thủ công do sản

Trang 17

xuất làng nghề diễn ra rất sầm uất, thị trờng các mặt hàng TCTT không ngừng

đợc mở rộng và quan hệ chặt chẽ với thị trờng trong nớc, sản xuất xuất khẩu

có phần tăng nhanh

Thị trờng trong các làng nghề TCTT bây giờ không chỉ có thị trờng hànghoá, thị trờng nguyên liệu mà dân dần đã có thị trờng tiền tệ, thị trờng côngnghệ… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu trong đó nổi bật lên là thị trờng xuất khẩu và thị trờng nội địa

Tiềm năng về thị trờng của hàng TCTT ở Diễn Châu còn rất lớn, tuynhiên vấn đề quan trọng lúc này là cần phải có một chiến lợc phát triển sảnxuất, phục vụ khách hàng cũng nh tiêu ding cả nớc với sản phẩm mang nét

đặc thù, độc đáo và đặc sắc truyền thống Việt Nam

1.2.1.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hởng tới sự phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở Diễn Châu

* Chủ trơng chính sách của các cấp lãnh đạo

Chủ trơng chính sách trong việc khuyến khích phát triển các làng nghề cótác động rất lớn tới sự phục hồi và phát triển các làng nghề TCTT Từ xa, th-ờng đặt ra các quy ớc luật tục… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu để giữ nghề và duy trì nghề, song đó chỉ lànhững kế sách tạm thời Còn để phát triển thì cha đủ, bởi muốn phát triển mộtnghề TCTT thì phải ban hành các chính sách phát triển sản xuất là rất quantrọng Và chính những chính sách này mà các nghề TCTT ở Diễn Châu đứngtrớc những thách thức mới, có nghề nhờ đó mà thịnh đạt, nhng cũng có một sốnghề bị mai một dần do không bắt kịp đợc với thời cuộc và do thuế cao

Hoà bình lâp lại và bớc sang thời kỳ đổi mới với sự quan tâm của chínhquyền, các mặt hàng nghề TCTT lại có điều kiện phát triển

Thực hiện NQ 06 của BTV Huyện uỷ và Đề án phát triển CN - TTCN vàxây dựng làng nghề của huyện giai đoạn 2006-2010, các cấp uỷ, chính quyền các xã

đã quan tâm chỉ đạo xây dựng để phát triển làng nghề và làng có nghề Điều này đãlàm cho nhiều làng nghề ở Diễn Châu đợc khôi phục trở lại, khả năng tồn tại, pháttriển và đứng vững trên thị trờng trong nớc và xuất khẩu là rất lớn

* Nhu cầu của ngời tiêu dùng trên thị trờng đối với hàng thủ công truyền thống

Nhu cầu về hàng TCTT là rất lớn và hết sức đa dạng vì nó gắn liền thiếtthực với mỗi con ngời Đó là nhu cầu nh ăn, mặc, ở, đi lại… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu cùng tồn tại vàphát triển suốt tiến trình lịch sử của dân tộc

Trang 18

Có nhu cầu về hàng thủ công, tất yếu phải có sản xuất hàng thủ công Khidời sống vật chất ngày một cao thì nhu cầu sử dụng của con ngời cũng càng đ-

ợc nâng lên Chính vì vậy, ngành nghề TCTT ở Diễn Châu cũng theo đó màngày càng phát triển Sự phát triển đó một phần đáp ứng nhu cầu của nhân dântrong huyện, tỉnh và khi đã trở thành nghề nghiệp thì nó lài là cơ hội phát triểnkinh tế với quy mô lớn trở thành phơng tiện kiếm sống cho rất nhiều ngời Lúcnày họ sản xuất không chỉ để đáp ứng nhu cầu thị trờng nội tỉnh mà còn thị tr-ờng trong nớc và quốc tế

* Trình độ của nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề

Nói đến sản xuất phát triển làng nghề TCTT không thể nói đến vai tròcủa các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề Vai trò của nghệ nhân đối vớilàng nghề TCTT là rất lớn Không có nghệ nhân thì không có nghề, ít nhất làkhông có nghề nổi tiếng và khó đứng vững đợc trên thị trờng Tài năng vàniềm say mê của các nghệ nhân đã tạo nên những sản phẩm quý giá và độc

đáo, vừa có giá trị vật chất lẫn tinh thần mang đậm bản sắc dân tộc và đó lànhững kinh nghiệm quý báu truyền lại cho đời sau duy trì và phát triển làngnghề TCTT

* Vị trí địa lý

Vị trí địa lý là môi trờng phát triển của làng nghề TCTT Đây là yếu tố cóvai trò quan trọng ảnh hởng đến sự tồn tại và phát triển đối với bất cứ làngnghề TCTT nào ở nớc ta nói chung, ở Nghệ An, Diễn Châu nói riêng

ở Diễn Châu, các làng nghề phát triển thờng ở những vị trí thuận tiện vềgiao thông và gần các vùng nguyên vật liệu Nếu thiếu hai điều kiện (giaothông, nguyên liệu) thì không thể tồn tại và phát triển các làng nghề lâu đời vànổi tiếng nh: Mây tre đan xuất khẩu ở Diễn Lộc, Diễn Trờng, Diên Hoa, nghề

đóng thuyền ở Diễn Bích, nghề nớc mắm ở Diễn Ngọc… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu

Nh vậy, những nhân tố ảnh hởng tới sự tồn tại và phát triển của làng nghềTCTT ở Diễn Châu phải có 4 yếu tố kể trên Nó có tác động, ảnh hởng rất lớn

đến các làng nghề, quyết định sự tồn tại, phát triển cũng nh sự suy vong củacác làng nghề TCTT

1.2.2 Tình hình phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở Diễn Châu trong những năm qua

Trang 19

Làng nghề TCTT ở Diễn Châu có lịch sử tồn tại từ hàng trăm năm nay

đ-ợc phân bố rộng khắp trên địa bàn huyện và hoạt động hầu hết ở nhiều ngànhkinh tế chủ yếu Trong những năm qua, nhất là khi nớc ta chuyển sang nềnkinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa, hội nhập vàp nền kinh tế thế giớithì hoạt động làng nghề TCTT ở Nghệ An nói chung và Diễn Châu nói riêng

đã có bớc nhảy vọt lớn, sôi động cha từng thấy Đến nay, Diễn Châu đã có gần

18 làng nghề và làng có nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực nh: Mây tre đan xuấtkhẩu, chế biến hải sản, ơm tơ dệt lụa, chổi đót, bánh bún, dệt vải, đúc đồng… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầuTuy nhiên, trong quá trình phát triển, do tác động của nhiều yếu tố kháchquan và chủ quan làm cho một số nghề, làng nghề duy trì và phát triển đợc nh-

ng cũng có nghề, làng nghề bị mai một dần

Những làng duy trì đợc truyền thống làng nghề là: Làng nghề ơm tơ dệt

đũi Diễn Kim, làng nghề Mây tre đan xuất khẩu Diễn Lộc, Diễn Trờng, DiễnVạn, làng nghề chế biến hải sản Hải Đông - Diễn Bích, làng nghề bún bánhHuỳnh Dơng - Diễn Quảng, làng nghề chổi đót Thái Loan, Cao Minh - Diễn

Đoài, làng nghề chế biến lơng thực Diễn Kỷ, làng nghề chế biến hải sản DiễnNgọc, dệt vải Phợng Lịch, Nghề làm võng Hoàng La, Phúc Hậu… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu

Những ngành nghề bị mai một dần theo thời gian là: nghề đúc đồng ởDiễn Tháp, nghề luyện sắt và nghề rèn ở Nho Lâm, Nghề đúc lỡi cày ở Diễn

Kỷ… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu và sau đây là một số nghề, làng nghề TCTT tiêu biểu qua thời gian vẫntồn tại, duy trì và phát triển góp phần xây dựng kinh tế - xã hội chung củahuyện Diễn Châu

* Làng nghề trồng dâu nuôi tằm ơm tơ Kim Tân, xã Diễn Kim

Với 200 ha dâu, hàng năm xã sản xuất 150 tấn kén và 20 tấn tơ, năm

2008 mở thêm dệt vải và dệt đợc 5000 m vải, các sản phẩm tiêu thụ thị trờngtrong và ngoài tỉnh, tổng giá trị sản xuất hàng năm đạt trên 4 tỷ đồng, giảiquyết việc làm cho 400 lao động, riêng nghề ơm tơ có hơn 800 lao động thamgia

Làng nghề đã mở rộng sản xuất thu hút nhiều lao động có việc làm, mởrộng vùng nguyên liệu trong xã cũng nh các vùng lân cận Trong đó số lao

động làm nghề 460 chiếm 57,5%, giá trị sản xuất đạt 2,7 tỷ đồng, thu nhậpbình quân từ nghề đạt 6,7 triệu đồng/năm/LĐ Làng nghề đã đợc đầu t gần 1

tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông [15, tr.8]

* Nghề làm nớc mắm Vạn Phần

Trang 20

Làng Vạn Phần, còn gọi là Kẻ Vạn, nằm ở ngay cửa Vạn - nơi con sôngBùng đổ nớc ra biển Nhân dân ở đây làm nghề nông, làm nghề muối, nghề

đánh bắt và trớc kia đặc biệt nổi tiếng là nghề làm nớc mắm nhng chủ cáchãng nớc mắm lớn làm nên tiếng tăm “Phát triển làng nghề thủ công truyềnnớc mắm Vạn Phần” hầu hết là nhữngchủ thuyền đánh cá kiêm chủ thuyền vận tải đờng thuỷ Nớc mắm có thơnghiệu cách đây hàng trăm năm vì nó đã đợc dùng làm phẩm vật để đâng hiếnvua, quan, vì vừa thơm vừa ngon, đậm đà vừa lại có độ đạm cao

Để làm nớc mắm, khâu đầu tiên là phải chọn cá Phải là cá nục, cá thu,chủ yếu là cá nục, bởi vì cá nục nhiều chất đạm

Khâu thứ hai là cho cá vào ang bằng gỗ vàng tâm có đai đóng chắc Cá đi

đánh bằng thuyền giã ngoài biển về, thờng là dăm bảy ngày, bao giờ cũng đợc

ớp với muối trong những cái thùng lớn Nên chọn cá xong là phải ném cá Bàcon Vạn Phần nếm bằng cách nớng vài con ăn thử, lúc bấy giờ mới quyết địnhcho lợng muối vào

Khâu thứ ba: ngâm ủ từ 9 đến 12 tháng, bao giờ cá thành chợp ngấu đến

độ cuối cùng mới thôi Trong thời gian ngâm ủ, nớc đầu chảy ra bà con hứnglấy cất một nơi

Khâu pha chế: dùng gạo nếp hoặc gạo đỏ không giã rang làm thính, rangbằng chảo gang, rang cho đến khi nào gạo chuyển qua màu vàng rồi màu đentiết ra một thứ nhựa kết lại với nhau lên khói trắng (tựa nh cà phê) Rang gạoxong rồi, bà con thắng mật mía, thắng đến khi náo quánh lại không khét,không chua rồi mới cùng với thính cho vào chợp đổ nớc vào quấy đều Lợngthính cũng bằng lợng muối, cứ một tạ cá đổ vào từ 100 - 120 lit nớc Khi quấy

đều bà con đem lóng (lọc) rồi lấy nớc lóng ấy đem nấu

Khâu cuối cùng là nấu nớc mắm: nấu là để xử lý hết các tạp chất còn lạitrong chợp Dụng cụ nấu nớc mắm là cái bung hoặc nồi lớn bằng đồng không

đợc đốt lửa to mà lửa lúc nào cũng cháy nhỏ trong lò Nờu đợc rồi, phân nớcmắm làm ba loại: ngon thơm nhiều hay ít là bí quyết pha nớc đầu nỏ, rangthính và gia thêm các hơng liệu… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu ớc mắm Vạn Phần, loại đặc biệt để lâu, có Nngâm vừng vàng (thêm nớc béo) dùng chống rét cho ngời đi biển mùa đông,tăng sức khoẻ cho ngời thợ lặn, làm thuốc chữa bệnh đau bụng gió, đau bụngbão Trong mâm cơm có chút nớc mắm đầu nỏ (còn goi nớc mắm cốt) VạnPhần, mùi thơm nhức mũi, gắp miếng thịt lợn ba chỉ chấm vào, miếng thịtcong lại; chấm sôi, ăn vào thấy muốn ăn mãi… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu Nghề làm nớc mắm Vạn Phần

Trang 21

nay không còn bởi vì bao thuyền giã ở đây đã chuyển sang vận tải hàng hóa,rồi đoàn thuyền vận tải này cũng tiêu tan, nên không co cá nục, cá thu để làmnớc mắm.

Ngày nay làng Vạn Phần không còn ở sát biển nữa mà cách biển vài cây

số Các hãng nớc mắm lớn mang thơng hiệu Vạn Phần và làm theo công nghệnớc mắm cổ truyền Vạn Phần, lại nằm ở Diễn Ngọc, Diễn Bích… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu Ngời VạnPhần vẫn sản xuất nớc mắm nhng làm ít chỉ đủ bán các chợ ở gần và sử dụngtrong gia đình

Làng nghề chế biến nớc mắm sản Hải Đông - Diễn Bích: Tổng số hộ là

434 hộ, số lao động làng nghề là 880 lao động trọng đó 525 lao động làmnghề chiếm 59,7% Sản phẩm làm ra mỗi năm trên 3 triệu lít n ớc mắm, giátrị sản xuất từ nghề trên 8 tỷ đồng, thu nhập bình quân từ nghề đạt 8,6 triệu

đồng; giải quyết lao động có việc làm thờng xuyên và đang từng bớc nângcao chất lợng sản phẩm Làng nghề vần duy trì đợc sản xuất tơng đối ổn

định [15, tr.5]

Làng nghề chế biến nớc mắm Ngọc Văn - Diễn Ngọc: Làng nghề chếbiến hải sản Ngọc Văn có 466 lao động, lao động tham gia làm nghề 262chiếm 58,7% Giá trị sản xuất đạt 13,5 tỷ đồng, thu nhập bình quân từ nghề

đạt 22,5 triệu đồng Làng nghề đang đi vào sản xuất ổn định và ngày càngphát triển mạnh, giải quyết lao động có việc làm thờng xuyên và đang từng b-

ớc nâng cao chất lợng sản phẩm [15, tr.5]

* Nghề làm bún ở Huỳnh Dơng

Làng bún Huỳnh Dơng (Diễn Quảng) nằm ở phía tả ngạn sông Bùng.Cách chợ Chùa khoảng 1km về phía tây Nó bao gồm ba làng cũ: Thổ Hậu,Thổ Hào, Thổ Ngoả (Tam Thổ) hợp lại và đổi tên thành làng Huỳnh D ơng

Trang 22

trong có mùi thơm chua đặc trng, ăn vào miệng vừa béo vừa chua chua mátmát.

Trớc năm 60 của thế kỷ XX hầu hết các gia đình trong làng Huỳnh Dơng

đều có lò bún, cứ khoảng 3 - 4 giờ chiều cả làng vang lên tiếng thậm thịch giãbột, rồi rậm rịch đến quá nửa đêm để bún ra lò cho kịp đi chợ sớm Khoảng 3 -

4 giờ sáng đã thấy từng đoàn ngời hối hả gánh bún chạy về các chợ

Sau những năm 60 một phần do thiếu lơng thực, một phần do cơ chế, việclàm bún hầu nh bị cấm, các lò bún tắt lửa trong nỗi nhớ tiếc của ngời dân làngnghề Huỳnh Dơng

Từ khi có chủ trơng đổi mới (1990) đến nay các lò bún Huỳnh Dơng lạiphục hồi và phát triển mạnh mẽ, nhờ lơng thực dồi dào, công nghệ lại tiên tiếnmột số khâu nh nhuyễn, giã, vận chuyển, tiêu thụ đợc thay bằng máy nên năngsuất cao gấp bội Trớc đây lò nào làm giỏi cũng chỉ đợc dăm yến/ngày, naymỗi ngày sản xuất vài tạ bún là việc bình thờng Làng có cả thảy 270 hộ thì có

185 hộ làm bún, những ngày lễ tết làng có thể cho ra lò 40 - 50 tấn bún Tuy

số lợng nhiều nhng chất lợng vẫn đợc đảm bảo vì một số khâu vẫn đợc thựchiện theo công nghệ truyền thống nh ngâm ủ, loại bỏ tạp chất, luộc bún… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầuMỗi ngày làm cực lực, một lò bún cũng chỉ cho thu nhập trực tiếp khoảng

40 - 50 ngan đồng nhng còn có một nguồn thu nhập khác bù vào ấy là việcchăn nuôi Tất cả các lò bún đều nuôi thờng xuyên hàng đàn lợn thịt Có nhàhàng năm bán 4 - 5 tấn lợn mà không phải bỏ tiền mua lơng thực chăn nuôi.Làng Huỳnh Dơng xa đói nghèo xơ xác, từ ngày đổi mới bộ mặt của làngthay đổi hẳn, đờng nhựa về tận thôn, xe máy, ôtô đi lại nhộn nhịp, nhà cửakhang trang, các của hàng dịch vụ mở suốt hai bên đờng Một khung cảnh no

ấm, hạnh phúc hiện trên từng gơng mặt ngời dân làng bún Huỳnh Dơng

Từ năm 2006 làng Huỳnh Dơng đợc Nhà nớc công nhận là “Phát triển làng nghề thủ công truyềnlàng nghềbánh bún Huỳnh Dơng” Danh hiệu đó càng làm cho cán bộ và nhân dân tronglàng thêm tin tởng vào sự nghiệp đổi mới của Đảng, vào nghề nghiệp củamình

Tổng số lao động của làng là 565 lao động trong đó có 335 lao động làmnghề chiếm 59,3% Giá trị sản xuất từ nghề đạt trên 8,6 tỷ đồng với thu nhậpbình quân từ nghề đạt 7,3 triệu đồng Hiện nay làng nghề đã đợc đầu t500triệu đồng xây dựng đờng giao thông; làng nghề đang hoạt động sản xuất

ổn định [15, tr.6]

Trang 23

* Nghề làm ruốc ở Diễn Châu

Các xã miền biển của Diễn Châu: Diễn Trung, Diễn Thịnh, Diễn Ngọc,Diễn Vạn, Diễn Bích… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu xã nào cũng có nghề làm ruốc

Một số gia đình các xã lân cận (không phải xã miền biển) nh Diễn An,Diễn Lộc, Diễn Hoa, Diễn Kỷ… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu cũng có làm nghề ruốc Nghề làm ruốc cònphổ cập đến tận các gia đình ở vùng đồng chiêm trũng nh Diễn Thọ, Diễn Cát,Diễn Minh… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu nhng ở những nơi này ngời ta chỉ mua con ruốc tơi về để muối,

tự túc trong nhà mà thôi Còn có các gia đình ở các xã miền biển làm ruốc chủyếu là để bán coi đó là một nghề kinh doanh

ở miền biển không gia đình nào là không làm ruốc vì nếu không làmruốc để bán thì cũng để tự túc ở đây, nguyên vật liệu có sẵn mà việc làm ruốccũng khônh phải khó khăn gì lắm

Nghề làm ruốc có thể tính theo thời vụ Nhng cũng có thể là nghề kinhdoanh quanh năm vì công việc đánh ruốc con (con ruốc) chỉ rầm rộ trongnhững tháng trọng điểm Còn những tháng khác thì ít ngời làm hơn, ngời sảnxuất cũng ít hợn, số lợng ruốc sản xuất cúng ít hơn

ở các xã miền biển, số gia đình chỉ chuyên một nghề sản xuất thì khôngnhiều Đa số là làm ruốc kết hợp nông nghiệp hoặc ng nghiệp, trong đó phânglớn là làm ruốc để bán, một phần sản xuất ruốc để tự túc

Ruốc con tốt là loại đã đợc làm sạch Khi đem ruốc con ở biển lên, ngời

đánh ruốc phải làm sạch cát, rêu, rong, rác rởi bị cuốn vào lới và lẩn lộn vớicon ruốc Những thứ lẫn lộn vào trong ruốc ngời ta gọi chúng là “Phát triển làng nghề thủ công truyềnsịn” Ruốccon có hai loại:

Ruốc mùa: là loại ruốc mới sinh, con còn nhỏ, đánh đợc vào các tháng 4,

5, 6, 7 mà trọng điểm là hai tháng là hai tháng 5, 6 Sản xuất ruốc từ loại nàychất lợng sẽ cao hơn Kỹ thuật làm ruốc cũng dễ dàng xử lý hơn

Ruốc gởi: Ruốc gởi là ruốc đánh đợc ngoài các tháng trên, con ruốc tohơn, vì đã lớn, nhiều thịt và béo Nhng chất lợng ruốc lại kém hơn loại trên.Nhng nếu nấu ăn tơi thế ruốc gởi ăn ngon hơn ruốc mùa

Sự phân biệt chất lợng giữa ruốc mùa và ruốc gởi còn phụ thuộc vào yếu

tố thời tiết Ruốc mùa dễ làm và chất lợng cao vì mùa này đợc nắng (thang 5,

6 mà hạ) Còn ruốc gởi là giữa mùa thu - đông khi ít nắng, giá lạnh, hay bị

m-a, ruốc chín không kỹ, không đẹp

Trang 24

Muối: Không thể làm thành ruốc nếu không có muối biển (muối ăn) Saucon ruốc là đến muối Mà chủ yếu cũng chỉ hai loại Cho nên, ngời ta gọi việcsản xuất ruốc là muối ruốc – làm ruốc Phải chọn muối tốt, trắng mịn, thìlàm ruốc mới đẹp và ngon.

* Nghề dệt vải ở làng Phợng Lịch

Tơng trình nghề dệt vải làng Phợng Lịch do bà Hồng Thị Châu Nơng (A

La Công chúa) truyền dạy Bà là vợ 3 Thợng tớng Thái s Trần Quang Khải,theo chồng vào trấn thủ Nghệ An trong cuộc kháng chiến chống Nguyên -Mông lần thứ 2 T dinh của bà đóng ở vùng Hạnh Lâm, Đào Viên (nay thuộcxã Diễn Hạnh) Ngoài việc huy động, tích trữ lơng thực và quân nhu chochồng đánh giặc, bà còn dạy cho dân quanh vùng nhiều nghề: trồng bông, kéosợi, nấu gạch ngói, làm bún, ép dầu… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu

Nghề dệt vải một nghề đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ với nhiều công đoạn phứctạp Làng thì lớn nhng ruộng đất lại ít nên ngời dân phải bơn chải nhiều nghề,trong đó nổi bật nhất là nghề nấu ngói vảy và nghề dệt vải bông Riền nghềdệt vải đã đa làng Phợng Lịch thành một làng nghề nổi tiếng

Vải Phợng Lịch trớc hết nhiều về số lợng, nó đợc chất cao trong các sạphàng chợ Vinh, chợ Si, Chợ Lờng, chợ Giát Số lợng khung cửi trong làngnhều hơn số nóc nhà, nghĩa là có rất nhiều nhà có đến 2, 3 khung Cứ dăm bảynhà gần nhau hoặc hợp nhau lại thành một phờng, mua một lô sợi về chianhau Từ sợi để thành vải phải trải qua nhiều công đoạn phức tap nhng có 3công đoạn gây đợc ấn tợng nhất:

Thứ nhất là giáp (hồ) vải, sợi mua về phải ngâm nớc kỹ vớt ra dùng

cơm dẻo nhồi vào và dùng dùi cui đập kỹ cho nhuyễn có nh thế sợi vải mớicứng và bền

Thứ hai là việc đánh ống suốt, có lẽ đây là công việc các cô thích nhất,

vui nhất Vào những đêm trăng sáng các chị em mang sợi đến một nhà rộngrãi trong phờng vừa đánh ống đánh suốt vừa chuyện trò rôm rã, cùng nhau hát

đối, hát ghẹo, hát phờng vải

Thứ ba là việc dệt vải, công việc dệt vải đợc tiến hành suốt ngày đêm.

Ban đêm cả làng nh hoà vào một bản nhạc Tiếng thoi đa lách cách, tiếng con

ác mổ đều đặn khắp cả làng Dới ánh đèn dầu lạc mờ ảo, hai tay các cô gái nhcác nghệ sĩ vừa tung hứng chiếc thoi qua lại thoăn thoắt vừa đẩy khuôn lênxuống nhịp nhàng, mắt lúng liếng theo nhịp thoi, hai chân đạp đều vào guốc,

Trang 25

chỉ sơ sẩy một chút là thoi bắn ra ngoài hoặc đâm đứt sợi Thế nhng các cô lạivùă làm vừa nói chuyện hoặc lẩm nhẩm hát.

* Làng nghề chổi đót

Làng nghề chổi đót Thái Loan Diễn Đoài: có 735 lao động trong

đó số lao động làm nghề là 435 lao động chiếm 59,2% Giá trị sản xuất

đạt 4,3 tỷ đồng, thu nhập bình quân từ nghề đạt 6,9 triệu đồng Làng nghề

đang đi vào sản xuất ổn định và ngày càng phát triển mạnh Làng nghề đã

đợc đầu t 500 triệu đồng xây dựng cơ sở hạ tầng [15, tr.3]

Làng nghề chổi đót Cao Minh- Diễn Đoài: Tổng số lao động của làng là

430, lao động tham gia làm nghề 260 chiếm 60,5% Giá trị sản xuất đạt 8,7 tỷ

đồng, thu nhập bình quân từ nghề đạt 17,2 triệu đồng Đây là một làng nghềphát triển khá tốt, bền vững Hiện nay công ty TNHH 1-7 đang bao tiêu sảnphẩm của làng nghề [15, tr.4]

Việc đầu tiên là phải lấy quánh, từ làng vào mỏ quánh ở Động Ngút,

Động Hồi thuộc núi Thiết Sơn, đờng đi gần hai chục cây số, đi lại vất vả, nênkhó đào, phải dùng cuốc, xà beng, ra sức mà đào mới có thể moi lên đợc Moiquánh lên rồi, còn phải sàng cho sạch, mới đổ vào bao tải, rồi chiều tối, kẻgánh bộ (đàn bà), kẻ đẩy xe cút kít (đàn ông) cũng có ngời dùng thuyền, dọctheo kênh Sắt chở về nhà

Lò hông: tên gọi của nơi nấu quặng sắt và cũng để gọi chính cái lò đúchay nồi hông, công cụ chính để luyện sắt, giống nh cái lò cao bây giờ

Những ngời đi lấy quánh đã cực nhọc nh vậy, những ngời đi lấy thancũng lam lũ không kém Bởi than luyện sắt phải là than gỗ chắc nh lim, sến,táu… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu Nên những ngời đi làm than để luyện sắt phải lặn lội hàng chục đờng đi,

Trang 26

luồn lách hết rừng này núi nọ, có khi hàng tuần, mới kiếm đợc một xe than,thật là vất vả.

Than, quánh có rồi, lại đến những ngời thợ lò trực tiếp nấu ra sắt Thợ lòhông không những phải có sức khoe mà còn phải có kỹ thuật tốt nữa So vớisức lửa của lò rèn, sức lửa của lò hông nóng hơn nhiều Lò hông không để mỗicái một nơi mà tập trung từng khu, hai ba chục cái thành một dãy dài.Khiquặng và than bỏ vào lò hông rồi, ngời thổi bễ phải ra sức kéo bễ để đa gióvào lò Sau một thời gian nhất định, quặng đã tan hết, xỉ ngừng chảy, sắt đãhoàn nguyên trong lò, tích tụ thành khối gọi là hòn chai hay hòn gói Muốnlàm sạch xỉ và biến nó thành sắt đặc hơn, sắt nới lấy ở lò ra đang còn rực đỏngời ta phải rèn đập thực lực Kíp thợ phụ này thờng là những ngời rất khoẻ,mùa đông cũng nh mùa hè thờng chỉ đóng khố, thân hình bóng nhẫy nh đồnghun, bắp chân bắp tay chắc nịch

Khi nghề luyện sắt thành thịnh, cả xã Nho Lâm có trên 400 lò hông Mỗi

lò hông gồm 10 ngời gồm: một thợ cả, một thợ phó, còn nữa là thợ phụ, rèn

đập sắt chai, tiếp than, tiếp quặng và cả các việc khác

Nghề rèn ở Nho Lâm cũng nổi tiến nh nghề luyện quánh Số ngời làmnghề rèn ở Nho Lâm cũng có đến vài trăm Nghề rèn không phức tạp nặngnhọc bằng tay Dụng cụ cũng không nhiều, chỉ bằng: một cái đe, vài cái búa,vài cái kìm, một cái bễ, hai cái bồ đựng than… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầuChính các ngời thợ rèn ở NhoLâm đã cung cấp cho thị trờng Bắc Nghệ An và một phần nào ở Thanh Hoá,cả miền núi miền xuôi, những dao, cuốc, dàn vét, lỡi hai… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu đẹp, bền, sắc màmọi ngời đều biết tài

Lò rèn ở Nho Lâm cũng nhiều xấp xỉ với là hông, lúc mà lò hông đãngừng hoạt động thì lò rèn vẫn còn nhiều và duy trì cho đến ngày nay, tuyngày nay số lợng lò rèn còn lại rất ít

Phơng pháp luyện, đúc sắt ở làng Nho Lâm là phơng pháp hoàn nguyên.Nghĩa là ngời ta nung quặng sắt đến một nhiệt độ nhất định làm nóng chảycác tạp chất và thải ra, để còn lại sắt rồi đập luyện lại thành một hòn chai Nhvậy, là sắt cha nóng chảy, sắt bị mềm đến độ dính kết với nhau thành khối sắtsau khi đợc đập luyện

* Nghề đúc đồng ở Diễn Tháp

Trang 27

Thực ra chỉ bà con hai xóm Yên Thịnh và Phú Thịnh ở xã Diễn Tháp làmnghề này Đồ đồng ở đây có nhiều loại, các loại nồi to nhỏ, xanh niễng, phèng

la, chiêng, kẽng, l hơng, cây đèn… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu và cả tợng đồng, đồ tế khí nữa Vào thời

đại phát đạt, số lò đúc đồng ở hai xá này có khoảng 100 lò Bà con trong làngtừng gia đình tự lo lấy tất cả phần việc của nghề này, từ phải đi mua than, mua

đồng ở các nơi khác về, rồi phải đi làm lò, làm khuôn, sắm bễ, thổi bễ, đổ

đồng vào khuôn, sửa chữa và làm đẹp đồ đồng vừa đúc ra đem đi chợ bán… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu

Đây là nghề tự sản, tự tiêu Song phần lớn là ai đặt gì đúc cái đó sau khi thoãthuận với nhau về giá cả, nhng đúc đồng cũng phải có lò đúc, khuôn đúc, nồi

đúc, bễ đúc than Lò và khuôn đúc đồng làm bằng đất nhồi với trấu Mỗi lò có

bễ thổi lửa, nồi đúc, khuôn đúc và các phụ tùng khác Nồi đúc và khuôn đúc

20 kg đồng, dùng để đúc những dụng cụ lớn nh chuông, vạc, bung nồi… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu Nồi

đúc loại trung bình thờng dùng trong gia đình có đớng kính 20 – 25 cm Đúc

ít thì nấu đồng lng nồi, đúc nhiều thì nấu đồng đầy nồi

Bễ thổi lửa cũng giống nh bễ lò rèn Hai ống bể làm bằng gỗ để thụt đầyhơi Sau này ngời ta thay bể thụt bằng bể quay tay, vừa nhẹ vừa nhiều gió.Than dùng để nấu đồng là loại than lim Ngoài than lim ra, ngày trớc ng-

ời ta không dùng một loại than nào khác Than lim có đặc điểm là lâu tàn,nhiệt độ cao và khi đã cháy hết thì hoà tan vào đồng, không để lại bã than

Đồ đồng ở Diễn Tháp phần lớn là do khách ở các địa phơng khác đem

đến đặt hàng Cũng có một số gia đình làm đồ đồng đem đi chợ bán Đồ đồngDiễn Tháp không những bán rộng rãi trong huyện mà còn ngoài huyện và cáctỉnh bạn nữa

* Nghề làm võng ở Hoàng La, Phúc Hậu

Nói đến cái võng ở Nghệ An không mấy ai không biết đến võng tre củangời Thanh Chơng, Nam Đàn, Đô Lơng… đã xuất hiện và phát triển ngay từ những buổi đầu Nhng khác với võng tre là võng đanbằng sợi gon và sợi dứa ngô ở Nghệ An có ba làng nghề sản xuất loại võngnày: Làng Phú Hậu (Diễn Châu), xã Nghi Thái (Nghi Lộc) sản xuất võng gon,còn làng Hoàng La lại chuyên làm võng dứa ngô

Võng gon Phú Hậu, Nghi Thái đều chung một chất liệu là cây cói CóiNghi Thái đợc trồng trên đồng đất ven sông Lam thuộc làng mình Cói PhúHậu đợc trồng ở Đồng Cống, Đồng Sông Mo, Hói Rầm, nhng vẫn không đủdùng Ngời thợ võng Phú Hậu còn phải đi cắt cói bên sông Kênh nhà Lê trênsuốt chiều dài từ Quỳnh Lu đến Nghi Lộc mới đủ cho sản xuất võng

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Hộ và ngành của các làng có nghề có hiệu quả kinh tế cao - Phát triển làng nghề thủ công truyền thống ở huyện diễn châu   nghệ an trong thời kỳ hội nhập
Bảng 1 Hộ và ngành của các làng có nghề có hiệu quả kinh tế cao (Trang 39)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w