Đầu tư hợp lí, cóhiệu quả xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế… Phân môn Tập làm văn lớp 2 thực chất là rèn luyện cho học sinh kĩ năng tạo lập lời nói trong những
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ VĂN HÒA
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỘI THOẠI CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN, NĂM 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ VĂN HÒA
PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG HỘI THOẠI CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN
Chuyên ngành: Giáo dục học (bậc Tiểu học)
Mã số : 60.14.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS CHU THỊ THỦY AN
NGHỆ AN, NĂM 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu và các thầy cô Khoa Sau Đại học, Khoa giáo dục tiểu học trường Đại học Vinh, đã trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc PGS.TS Chu Thị Thủy
An, người cô đã tận tình hướng dẫn khoa học và giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo quận Bình Tân, TP HCM, Ban giám hiệu và quý đồng nghiệp các trường trên địa bàn quận, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do bản thân còn những hạn chế nhất định, nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn.
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Trang bìa phụ Lời cảm ơn Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng Danh mục các hình vẽ, đồ thị MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Giả thuyết khoa học 5
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Cấu trúc của luận văn 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận 8
1.1.1.Khái quát về hội thoại 8
1.1.1.1 Khái niệm hội thoại 8
1.1.1.2 Phân loại hội thoại 9
1.1.1.3 Cấu trúc hội thoại 10
1.1.1.4 Các nguyên tắc hội thoại 17
1.1.1.4 Điều kiện để hội thoại có kết quả 18
1.1.2 Phân môn Tập làm văn lớp 2 với việc phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh 20
Trang 51.1.2.1 Mục tiêu, cấu trúc nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 2 20
1.1.2.2 Nội dung dạy học hội thoại trong phân môn Tập làm văn lớp 2 22
1.1.2.3 Các dạng bài tập phát triển kĩ năng hội thoại trong phân môn Tập làm văn lớp 2 24
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2 và việc phát triển kỹ năng 29
1.1.3.1 Đặc điểm về nhận thức 29
1.1.3.2 Đặc điểm về ngôn ngữ 32
1.2 Cơ sở thực tiễn 34
1.2.1 Thực trạng phát triển kĩ năng hội thoại của học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn 34
1.2.1.1 Trình độ kỹ năng hội thoại của học sinh lớp 2 hiện nay 34
1.2.1.2 Mức độ hứng thú, tham gia hoạt động hội thoại của học sinh lớp 2 trên giờ Tập làm văn 39
1.2.2 Thực trạng dạy học hội thoại thông qua giờ Tập làm văn lớp 2 của giáo viên 41
1.2.3.Nguyên nhân của thực trạng 52
1.2.3.1 Nguyên nhân chủ quan 52
1.2.3.2 Nguyên nhân khách quan 53
1.3 Tiểu kết chương 1 54
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG HỘI THOẠI QUA CÁC BÀI HỌC CỦA PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 2 2.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 56
2.1.1 Nguyên tắc bám sát mục tiêu môn học Tiếng Việt ở tiểu học 56
2.1.2 Nguyên tắc chú trọng đặc trưng của hoạt động hội thoại 57
Trang 62.1.3 Nguyên tắc đề cao sự sáng tạo, tích cực của học sinh 57
2.1.4 Nguyên tắc tính đến đặc điểm của học sinh tiểu học 58
2.2 Một số biện pháp đề xuất 59
2.2.1 Nhóm biện pháp liên quan đến nội dung dạy học hội thoại trong phân môn Tập làm văn lớp 2 59
2.2.2 Nhóm biện pháp liên quan đến hình thức tổ chức hoạt động hội thoại trong giờ Tập làm văn lớp 2 69
2.2.3 Nhóm biện pháp liên quan đến quy trình dạy học các loại bài tập hội thoại trong phân môn Tập làm văn lớp 2 81
2.2.4 Biện pháp liên quan đến nội dung dạy học hội thoại trong phân môn Tập làm văn lớp 2 89
2.3 Tiểu kết chương 2 91
CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1 Mục đích thử nghiệm 93
3.2 Nội dung thử nghiệm 93
3.3 Đối tượng, địa bàn thử nghiệm 93
3.4 Phương pháp nghiệm 94
3.5 Kết quả thử nghiệm 94
3.6 Tiểu kết chương 3 102
KẾT LUẬN CHUNG 1.Kết luận 104
2 Đề xuất 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO……….107 PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Trong quá trình dạy hội thoại cho học sinh lớp 2, đồng chí nhận xét
về khả năng nói lời trao và đáp lời của các em như thế nào 34
Bảng 1.2: Trong quá trình dạy hội thoại cho học sinh lớp 2, đồng chí có nhận xét như thế nào về kỹ năng sử dụng ngôn ngữ của các em 36
Bảng 1.3: Đồng chí có nhận xét như thế nào về sự kết hợp giữa cử chỉ, thái độ với nghi thức lời nói đang sử dụng ở các em học sinh lớp 2 37
Bảng 1.4: Trong quá trình dạy hội thoại cho học sinh lớp 2, đồng chí có nhận xét như thế nào về sự hứng thú của các em đối với những giờ học hội thoại39 Bảng 1.5: Nhận thức của giáo viên về kỹ năng hội thoại của học sinh 42
Bảng 1.6: Nhận thức của GV về nội dung dạy kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 2 44
Bảng 1.7: Nhận thức của GV về các kĩ năng hội thoại cụ thể cần chú trọng đối với học sinh 46
Bảng 1.8: Các phương pháp GV sử dụng trong dạy học hội thoại ở lớp 2 47
Bảng 1.9: Những khó khăn khi dạy học hội thoại cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn TLV 50
Bảng 3.1: Các nhóm thử nghiệm và đối chứng 94
Bảng 3.2: 95
Bảng 3.3: 98
Bảng 3.4: 101
Trang 9DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1 11Biểu đồ 3.1 99
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam địnhhướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020: “Đổi mới căn bản vàtoàn diện giáo dục, đào tạo, với một số yêu cầu cụ thể sau đây: Thực hiệnđồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Đổimới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểmtra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coitrọng giáo dục lý tưởng, giáo dục lịch sử truyền thống cách mạng, đạo dức, lốisống, năng lực sáng tạo, kĩ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thứctrách nhiệm xã hội Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêucầu về chất lượng Đề cao trách nhiệm của gia đình và xã hội phối hợp chặtchẽ với nhà trường trong giáo dục thế hệ trẻ Tiếp tục phát triển và nâng cao
cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các cơ sở giáo dục, đào tạo Đầu tư hợp lí, cóhiệu quả xây dựng một số cơ sở giáo dục, đào tạo đạt trình độ quốc tế…
Phân môn Tập làm văn lớp 2 thực chất là rèn luyện cho học sinh kĩ năng tạo lập lời nói trong những tình huống giao tiếp cụ thể Bởi vì học sinh có thểtạo lập được lời nói thật sự là của mình khi các em được đặt vào những tìnhhuống giao tiếp cụ thể, buộc các em phải bộc lộ suy nghĩ, tình cảm, thái độcủa mình trước một sự vật, sự việc, hiện tượng nào đó Cụ thể là, các em đượcluyện nói lời tự giới thiệu, chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, khẳng định, phủ định, nóilời mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị, lời chào, đáp lời cảm ơn,… Các bài tập đã đưa
ra những tình huống giao tiếp đa dạng, phù hợp với học sinh, tạo được hứngthú học tập cho các em Đây là nội dung nhằm rèn luyện cho học sinh kĩ nănggiao tiếp thể hiện thái độ lịch sự, tế nhị trong các mối quan hệ gia đình, nhàtrường và xã hội
Trang 11Thực tế cho thấy, việc dạy phân môn Tập làm văn lớp 2 của các trườngtiểu học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua dù đã cónhiều cố gắng nhưng vẫn còn những hạn chế: học sinh đã học xong chươngtrình lớp 2 nhưng nói, trả lời không tròn câu Học sinh không phát huy đượctính tích cực chủ động trong từng loại bài thực hành Một trong những nguyênnhân dẫn đến tình trạng trên là công tác tổ chức rèn luyện kĩ năng hội thoạicho học sinh còn nhiều hạn chế, nhà trường chưa có biện pháp và chưa xâydựng thiết kế một quy trình rèn luyện kĩ năng hội thoại cho học sinh hợp lí Vìvậy, học sinh còn bộc lộ những hạn chế về kĩ năng khi lên những lớp cao hơn.
Để nâng cao chất lượng học tập phân môn tập làm văn ở lớp 2, ngoàiviệc trang bị kiến thức, kĩ năng cho học cho sinh Việc rèn luyện, phát triển kĩnăng hội thoại cho học sinh lớp 2, thông qua phân môn Tập làm văn sẽ gópphần nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn Do vậy, cần phải
có một sự nhìn nhận cụ thể, khách quan về hiệu quả của hoạt động này Từ đó,xây dựng, thiết kế được một quy trình rèn luyện kĩ năng dạy học Phân mônTập làm văn một cách hợp lí, đảm bảo yêu cầu của thực tế giáo dục tiểu họchiện nay
Vì các lí do trên, chúng tôi xác định đề tài nghiên cứu là: “Phát triển kỹ
năng hội thoại cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn.”
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Các công trình nghiên cứu về lý thuyết hội thoại
Trong những năm qua, việc dạy kĩ năng hội thoại cho học sinh cấp tiểuhọc rất được chú tâm nghiên cứu tìm hiểu Nhận thức được tầm quan trọng đó
Bộ giáo dục cũng đã có những hướng dẫn cụ thể để áp dụng chương trình mớivào giảng dạy phân môn Tập làm văn trong chương trình tiểu học nói chung
và lớp hai nói riêng Nhiều đơn vị trường tiểu học trong cả nước cũng đã có
Trang 12những đề tài nghiên cứu mang chủ đề tương tự, những sáng kiến kinh nghiệmgiúp cho việc dạy và học phân môn này đạt hiểu quả cao hơn.
Trên bình diện lý thuyết vấn đề hội thoại và câu hội thoại đã được nhiềunhà ngôn ngữ học nghiên cứu như: Diệp Quang Ban với “Giao tiếp văn bảnmạch lạc liên kết đoạn văn”, Đỗ Hữu Châu với “Đại cương Ngôn ngữ học”,
Đỗ Thị Kim Liên với “Ngữ nghĩa lời hội thoại”, “Giáo trình Ngữ dụng học”,Nguyễn Đức Dân với “Ngữ dụng học”… Bên cạnh đó, còn có các luận án,luận văn, các bài viết có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề hội thoại
và câu hội thoại, như Hồ Lê với “Tìm hiểu nội dung và cách thức hỏi trongtiếng Việt hiện đại” được in trên tạp chí Ngôn ngữ số 2/1978; Lê Đông với
“Câu trả lời và câu đáp câu hỏi” được in trên tạp chí Ngôn ngữ số 1/1985 Đặcbiệt, luận án tiến sĩ Ngữ Văn Đại học sư phạm Hà Nội của Phạm Văn Tuấnđược thực hiện năm 2000 với đề tài “Cấu trúc liên kết của cặp thoại” Nhìnchung các công trình nghiên cứu về hội thoại và lý thuyết hội thoại nhận được
sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của các côngtrình về cơ bản đã tạo được nền tảng lý luận cơ bản cho việc nghiên cứu sâu
Trang 13năm 2010 “Một số vấn đề dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp ở tiểuhọc” Trong cuốn sách này có một chương đề cập đến dạy học hội thoại.Trong công trình này đã có hai phần đề cập đến vấn đề giao tiếp trong cấp tiểuhọc Phần I: Chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học viết theo quan điểm giaotiếp Phần II: Một số điểm cần lưu ý về phương pháp dạy và học môn TiếngViệt ở tiểu học theo quan điểm giao tiếp
Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Xuân Yến với các bài viết đã được đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập rất nhiều đến vấn đề dạy hội thoại ở cấp tiểu học Tiêu biểu như: Xây dựng bài tập dạy học hội thoại cho học sinh đầu cấp tiểu học theo nguyên tắc giao tiếp được in trên tạp chí Giáo dục, Số 103/2004 và Quy trình tổ chức thực hành các bài tập giao tiếp trong dạy học hội thoại cho học sinh tiểu học, Số 111/2005
Tác giả Chu Thị Thủy An, có bài Phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinhtiểu học thông qua phân môn Tập làm văn được in trên Tạp chí Dạy và họcngày nay, số 2/2011 Tác giả Trịnh Thị Nga, Phát triển kỹ năng hội thoại chohọc sinh tiểu học, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Vinh 2004
Như vậy có thể thấy, lý thuyết hội thoại cũng như việc dạy học hội thoại ởcấp tiểu học nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học Tuynhiên, chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách hệ thống, toàndiện và cụ thể về việc phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh lớp 2 thôngqua một phân môn cụ thể là Tập làm văn
3 Mục đích nghiên cứu
Nhằm nâng cao chất lượng phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp
2 thông qua phân môn Tập làm văn
Trang 144 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 2 thông qua phânmôn Tập làm văn
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 2 thông quaphân môn Tập làm văn
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành khảo sát và thực nghiệm ở các trường tiểu học tại quậnBình Tân, thành phố Hồ Chí Minh, trên đối tượng học sinh lớp 2
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các biện pháp dạy học hội thoại phù hợp với đặc điểmtâm lý - ngôn ngữ của học sinh lớp 2 và đặc trưng của phân môn Tập làm vănthì có thể phát triển tốt kỹ năng hội thoại cho học sinh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ góp phần làm
rõ những vấn đề sau:
Trang 156.1 Tìm hiểu các vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài
6.2 Tìm hiểu thực trạng phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn.
6.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn.
6.4 Tổ chức dạy học thử nghiệm để kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp đề xuất
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, cụ thể hóa cáctài liệu lý luận có liên quan đến đề tài từ nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng phương pháp điều tra, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu sảnphẩm hoạt động nhằm tìm hiểu thực trạng về vấn đề phát triển kỹ năng hộithoại cho học sinh lớp 2 thông qua phân môn Tập làm văn
Sử dụng phương pháp lấy ý kiến chuyên gia để khảo nghiệm tính khả thicủa các biện pháp đề xuất
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng toán thống kê để xử lí số liệu thu được về phương diện địnhlượng và mặt định tính
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn
Trang 16Chương 2 Một số biện pháp phát triển kỹ năng hội thoại cho học sinh
lớp 2 thông qua giờ học Tập làm văn
Chương 3 Thử nghiệm sư phạm
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1.Khái quát về hội thoại
1.1.1.1 Khái niệm hội thoại
Giao tiếp là quá trình truyền đi, phát đi một thông tin từ một người haymột nhóm cho một người hay một nhóm khác, trong mối quan hệ tương táclẫn nhau Mục đích của giao tiếp là chuyển tải được những thông điệp Đây làquá trình liên quan đến cả người gửi và người nhận thông điệp Quá trình này
có khả năng bị mắc lỗi do thông điệp thường được hiểu hoặc dịch sai đi bởi 1hay nhiều hơn những thành phần khác tham gia vào quá trình này Điều nàytạo nên những rối loạn không cần thiết và giảm hiệu quả khi giao tiếp Thực tếthì một thông điệp chỉ thật sự thành công khi cả người gửi và người nhận điềulĩnh hội nó theo cùng một cách Như vậy có thể thấy hội thoại cũng là mộtdạng của quá trình giao tiếp
Theo từ điển Tiếng Việt: Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói
chuyện với nhau Hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến của ngôn ngữ Hộithoại không phải là các hành vi ngôn ngữ đứng độc lập mà chúng kế tiếp nhauthành chuỗi Sự kết thúc của hành vi này là tiền đề cho những hành vi tiếptheo
“Hội thoại là hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra”.
Trang 18“Hội thoại là cuộc giao tiếp bằng lời (ở dạng nói hay dạng viết) tối thiểu giữa hai nhân vật về một vấn đề nhằm đạt đích đã đặt ra” 1
Hội thoại là hình thức giao tiếp thường xuyên, căn bản, phổ biến củangôn ngữ và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Cáchình thức hành chức của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạtđộng căn bản này
Cần phân biệt hội thoại và độc thoại Độc thoại là lời một người nói vớimột hay nhiều người nghe, không cần lời đáp lại Còn hội thoại là cuộc tròchuyện tối thiểu giữa hai người trong đó họ luân phiên đổi vai, lúc là ngườinói, lúc là người nghe, lúc người này nói thì người kia nghe và ngược lại
1.1.1.2 Phân loại hội thoại
* Phân loại theo số người tham gia: căn cứ vào số người tham gia hộithoại ta có:
- Song thoại: cuộc hội thoại của hai người
- Tam thoại: cuộc hội thoại có ba người tham gia
- Đa thoại: cuộc hội thoại có nhiều người tham gia
* Phân loại theo cương vị và vai trò của người tham gia hội thoại: Theocương vị và vai trò của người tham gia hội thoại, người ta chia thành các cuộchội thoại được điều khiển và không được điều khiển
* Phân loại theo hình thức của của cuộc hội thoại: cuộc hội thoại chínhthức hay không chính thức, trang trọng hay bình thường, dân dã…
Nên lưu ý rằng, dạng cơ bản của hội thoại là dạng song thoại (dialogue),tức là dạng diễn ra giữa hai nhân vật đối đáp Tuy nhiên, hội thoại có thể códạng tam thoại và nói chung là đa thoại Lý thuyết hội thoại thế giới đang bắt
1 Nguyễn Trí Một số vấn đề dạy hội thoại cho học sinh tiểu học NXB Giáo dục 2008, tr 67
Trang 19đầu nghiên cứu các dạng đa thoại của hội thoại Ở đây, chúng ta chỉ làm quenvới dạng song thoại đối mặt của hội thoại.
Như vậy có thể thấy hội thoại là một dạng của hoạt động giao tiếp Giaotiếp có thể là hoạt động trao đổi thông tin diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp, vănngôn ngữ hoặc văn bản, có thể hoạt động trao và nhận thông tin diễn ra cũnglúc,… Nhưng đối thoại là hoạt động giao tiếp diễn ra trực tiếp, bằng ngôn ngữ
và quá trình phát thông tin và nhận thông tin diễn ra đồng thời Hội thoại vừa
là một hiện tượng giao tiếp bằng ngôn ngữ vừa là một hiện tượng xã hội
Mặc dù càng ngày người ta càng nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng củacác kỹ năng giao tiếp nói chung và hội thoại nói riêng, nhưng nhiều cá nhânvẫn đang chật vật vì điều này, họ không thể trao đổi những suy nghĩ và ýtưởng của họ một cách hiệu quả ở cả ở dạng nói hay viết Sự hạn chế nàykhiến họ gần như không thể thể hiện được hết khả năng của mình, không thểdiễn đạt hết ý tưởng của mình trong công việc cũng như trong cuộc sống
1.1.1.3 Cấu trúc hội thoại
Chuỗi những đơn vị ngôn ngữ được người thoại nói ra trong một cuộcthoại được gọi là một lượt lời Đằng sau vẻ tuỳ tiện của các lượt lời kế tiếpnhau, trong hội thoại vẫn tồn tại cấu trúc của những đơn vị hội thoại xác định
Sơ đồ 1
Trang 20Lượt lời do những hành động ở lời tạo nên Trước khi xem xét cấu trúccủa hội thoại, cần xem xét cách tổ chức nói chung của các hành động ở lờitrong hội thoại Tổ chức các hành động ở lời trong hội thoại bao gồm:
+ Cặp kế cận: Hành động ở lời nói ra, còn gọi là hành động dẫn nhập hay
bộ phận thứ nhất, như đã biết thường gợi ra hành động ở lời đáp lại, tức hànhđộng hồi đáp hay bộ phận thứ hai Hành động dẫn nhập và hành động hồi đáp
thích ứng với nó lập thành một cặp kế cận Có hai loại cặp kế cận:
- Cặp kế cận tích cực: là cặp có hành động hồi đáp thoả mãn đích của
hành động dẫn nhập
Tổ chức các hành động ở lời trong hội thoại
Cặp kế cận Cặp kế cậnChêm xen hội thoạiĐơn vị Sự kiệnlời nói
Cuộc thoại
Đoạn thoại
Cặp thoại
Tham thoại
Cặp thoại tối thiểu
Cặp thoại hẫng
Cặp chủ hướng
Cặp phụ thuộc
Trang 21Ví dụ : - Đi chơi đi!
- Sẵn sàng!
- Cặp kế cận tiêu cực: là cặp có hành động ở lời không thoả mãn đích
của hành động dẫn nhập
Ví dụ: - Đi chơi đi !
- Không được! Tớ phải làm bài tập đã
+ Cặp kế cận chêm xen: Có khi giữa hành động dẫn nhập và hành độnghồi đáp của một cặp kế cận lại có một (một số) cặp kế cận khác chêm xen vàogiữa
Ví dụ 1: - Đi chơi đi!
- Tiền đâu mà đi?
- Tớ vừa được mẹ cho đây này
- Thế à! Vậy đi thôi!
Ví dụ 2: - Cậu sửa giúp mình cái điện thoại di động với nhé!
- Ái chà! Cậu cũng có điện thoại cơ à?
- Thời buổi này cũng phải cố mà mua kẻo các em lại chê cho
là quê một cây Sửa giúp tớ với nhé!
- Ừ! Cứ để đấy lát nữa tớ sửa cho!
+ Sự kiện lời nói: có nhiều cách hiểu khác nhau về sự kiện lời nói Ở đây
ta quan niệm rằng một sự kiện lời nói là một hoạt động, trong đó những ngườitham gia (những người giao tiếp) dùng những hành động ở lời tác động lẫnnhau nhằm đạt đến một mục đích nào đấy Mỗi sự kiện lời nói được tạo nênbởi một cặp thoại trung tâm, trong cặp thoại đó đích của hành động ở lời dẫnnhập quyết định đích của sự kiện lời nói chứa nó Tên gọi của hành động ở lờidẫn nhập của cặp thoại trung tâm cũng là tên gọi của sự kiện lời nói đó
Trang 22Ví dụ: - Thưa cô, tuần này cô có bận gì không ạ?
- Tuần này tôi có vài việc bận Có việc gì thế?
- Chúng em muốn học bù vào ngày mai
- Ngày mai là thứ mấy?
- Mai là thứ năm ạ!
- Thôi được! Mai chúng ta sẽ học bù
Sự kiện lời nói tối thiểu chỉ có một cặp kế cận Sự kiện lời nói mở rộng
là sự kiện lời nói ngoài cặp trung tâm còn có những cặp làm thành phần thứnhất và thành phần thứ hai Trong phần thứ nhất đáng chú ý là cặp tiền dẫnnhập, trong phần thứ hai là cặp kết thúc Ở sự kiện lời nói tối thiểu, người nóiđưa ngay đích của mình ra bằng hành động dẫn nhập Tuy nhiên do lịch sự,người nói hành động dẫn nhập trung tâm của mình ngay có thể làm tổn hạiđến thể diện của người nhận và cũng sợ mình sẽ bị “mất mặt” nếu bị từ chối
nên thường dùng những hành động tiền dẫn nhập hành động trung tâm, gọi tắt
là tiền dẫn nhập, để thăm dò phản ứng của người nhận trước khi nói ra hànhđộng dẫn nhập trung tâm
- Có các hành động tiền dẫn nhập như:
+ Tiền - thỉnh cầu + Tiền - hỏi
+ Tiền - mời + Tiền - trao tặng
Trang 23Đơn vị cơ bản của hội thoại là cuộc thoại Cuộc thoại lại được xem như
sự hợp thành từ các đơn vị nhỏ hơn như đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại,hành vi ngôn ngữ
Ở tiểu học chỉ sử dụng các đơn vị: cuộc thoại, đoạn thoại và cặp thoại
* Cuộc thoại: Là đơn vị lớn nhất của hội thoại, là sản phẩm của tìnhhuống hội thoại Cuộc thoại giải quyết vấn đề đặt ra trong tình huống hộithoại Các tiêu chí để nhận diện một cuộc thoại:
- Nhân vật hội thoại
- Tính thống nhất về thời gian và địa điểm
- Về đề tài diễn ngôn
- Về ranh giới của cuộc thoại
Mô hình điển hình của một cuộc thoại gồm 3 loại đoạn thoại: đoạn thoại
mở đầu, các đoạn thoại phát triển nội dung hội thoại (tham thoại) và đoạnthoại kết thúc Tuy nhiên, những cuộc thoại không điển hình có thể thiếu mộtloại đoạn thoại nào đó
* Đoạn thoại:
Trang 24Đoạn thoại là một đoạn của cuộc thoại do một hoặc một số cặp thoại liênkết với nhau về đề tài và về đích có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùngcác đoạn thoại khác làm cho cuộc thoại thành công (đạt được đích cũng có thểnói một đoạn thoại là một lập luận bộ phận (có kết luận tường minh hoặc hàmẩn) góp phần vào lập luận chung của cuộc thoại Trong một cuộc thoại có cấutrúc tổng quát: đoạn mở - thân thoại - kết thoại Đoạn mở và kết thoại có cấutrúc tương đối ổn định, dễ nhận ra hơn các đoạn thoại tạo nên thân thoại.
Được xây dựng trên cơ sở xác lập các cặp thoại liện kết chặt chẽ vớinhau về nội dung (chủ đề) về tính duy nhất của đích Đoạn thoại ngắn nhất chỉgồm một cặp thoại, đoạn thoại lớn nhất không thể hạn định số cặp thoại
* Cặp thoại:
Định nghĩa: cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất tạo nên đoạn thoại
và qua đoạn thoại mà góp phần tổ chức nên cuộc thoại Các loại cặp thoại:+ Cặp thoại tối thiểu
+ Cặp thoại một tham thoại
+ Cặp thoại chủ hướng
+ Cặp thoại phụ thuộc
Cặp thoại tối thiểu tương đương với sự kiện lời nói tối thiểu, tức là tốithiểu cặp thoại phải là một cặp kế cận với hành động dẫn nhập và hành độnghồi đáp Một cặp thoại tối thiểu chỉ gồm một lời trao (lời dẫn nhập) và một lờiđáp (lời hồi đáp)
Ví dụ: - Này, cậu làm bài tập chưa?
- Tớ làm xong rồi!
- Cậu lúc nào cũng chăm chỉ!
Cặp thoại một tham thoại xảy ra khi:
Trang 25- Người nghe thực hiện một hành động vật lý (gật đầu, lắc đầu, xuatay…) thay cho hành động ngôn ngữ.
- Người nghe im lặng, không có hành động gì cả (cặp thoại hẫng)
Ví dụ: - Cậu làm bài tập chưa?
- (gật đầu)
* Tham thoại: là phần đóng góp của một người thoại vào một cặp thoại.
Tham thoại do hành động ở lời tạo nên Về tổ chức nội tại, tham thoại do một
hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo nên Một tham thoại có một hành vi chủ hướng (hành động quyết định cái đích của tham thoại, cùng với hành động chủ
hướng của tham thoại kia trong cặp thoại lập thành một cặp kế cận) và có thể
có hành vi phụ thuộc (làm rõ lý do hoặc bổ sung nghĩa cho hành động chủhướng) Hành động chủ hướng của một tham thoại hoặc đòi hỏi hành độngchủ hướng của tham thoại kia trong cặp thoại hồi đáp hoặc hồi đáp cho hànhđộng chủ hướng của tham thoại ấy Không nên đồng nhất lượt lời và thamthoại Lượt lời có thể lớn hơn hoặc nhỏ hơn một tham thoại
Ví dụ: - Chào!
- Chào!
- Thế nào? Dạo này cậu vẫn khoẻ chứ?
- Cảm ơn! Tớ vẫn khoẻ! Thế còn cậu?
- Cảm ơn! Tớ cũng thế! Đi đâu mà ăn mặc chỉn chu thế?
- Tớ đi họp lớp
1.1.1.4 Các nguyên tắc hội thoại
Hội thoại một cách chân thực đòi hỏi người tham gia phải tôn trọng một
số nguyên tắc Những nguyên tắc này không chặt chẽ như những nguyên tắcngôn ngữ học thuần tuý Hội thoại thường theo những nguyên tắc cơ bản sau:
Trang 26* Nguyên tắc luân phiên lượt lời: Do bản chất tuyến tính nên sự giao
tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời củanhau Vì thế, khi hai người hội thoại, người kia phải nói khi người này nhườnglời theo cách lời người này kế tiếp lời người kia Ta có những dấu hiệu nhấtđịnh, báo một cách tự động cho người kia biết rằng họ có thể nói Đó là nhữngdấu hiệu như sự trọn vẹn về ý nghĩa, sự trọn vẹn về cú pháp, ngữ điệu, các câuhỏi, các hư từ…
* Nguyên tắc liên kết hội thoại: Nguyên tắc liên kết hội thoại không chỉ
chi phối các diễn ngôn đơn thoại mà chi phối cả các lời tạo thành một cuộcthoại Tính liên kết hội thoại thể hiện trong lòng một phát ngôn, giữa các phátngôn, giữa các hành động ở lời, giữa các đơn vị hội thoại Tính liên kết hộithoại không chỉ thuộc lĩnh vực nội dung và thể hiện bằng các dấu hiệu ngữpháp hiểu theo nghĩa truyền thống mà nó còn thuộc các lĩnh vực hành động ởlời, còn thể hiện trong quan hệ lập luận
* Nguyên tắc cộng tác hội thoại: nguyên tắc cộng tác hội thoại do Grice
đề ra năm 1967 Nguyên tắc được phát biểu tổng quát như sau: “Hãy làm chophần đóng góp của anh (vào cuộc thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn(của cuộc hội thoại) mà nó xuất hiện phù hợp đích hay phương hướng của
cuộc hội thoại mà anh đã chấp nhận tham gia vào.” Nguyên tắc cộng tác hội
thoại bao gồm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châmquan hệ, phương châm về cách thức Phương châm về lượng được chia làmhai vế: Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi củađích của hội thoại; và đừng làm cho lượng tin của anh lớn hơn yêu cầu mà nóđược đòi hỏi Phương châm về chất được phát biểu tổng quát như sau: “Hãy
cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là: Đừng nói điều gì
mà anh tin rằng không đúng, đừng nói điều gì mà anh không có đủ bằng
chứng.” Phương châm quan hệ thể hiện ở chỗ hãy làm cho phần đóng góp của
Trang 27anh quan yếu tức có dính líu đến câu chuyện đang diễn ra Phương châm cáchthức: dạng tổng quát của phương châm này là hãy nói cho rõ ràng, đặc biệt là:Hãy tránh lối nói tối nghĩa Hãy tránh lối nói mập mờ, mơ hồ về nghĩa Hãynói ngắn gọn Hãy nói có trật tự Nguyên tắc cộng tác hội thoại và phươngchâm của Grice đúng cho những cuộc hội thoại chân thực nhưng nó cũng cónhững hạn chế nhất định.
1.1.1.5 Điều kiện để hội thoại có hiệu quả
Để hội thoại có hiệu quả, trước hết các nhân vật tham gia hội thoại cầnphải biết luân phiên lượt lời cho nhau Lượt lời là khi có một lời trao đến chomột người nào đó thì người đó phải thực hiện vận động đáp lời vào thời điểmlời đã trao kết thúc Như vậy, khi người này nói thì người kia phải biết nhườnglời và lắng nghe, đồng thời phải phát hiện ra dấu hiệu kết thúc của lời trao màmình đang nhận để đáp lời hoặc tiếp lời cho phù hợp để cuộc hội thoại đượcdiễn ra liền mạch Phân môn Kể chuyện quy tắc này được thể hiện rất rõ trongdạng bài tập phân vai dựng lại câu chuyện Sau đó, là sự liên kết hội thoại.Trong hội thoại, những lời nói của người tham gia phải có sự liên kết chặt chẽvới nhau Sự liên kết này thể hiện ở các nội dung và hình thức của các hộithoại Về nội dung: các lời nói phải cùng hướng về nội dung đề tài nhất định
Về hình thức: các lời thoại cũng cần có những dấu hiệu liên kết cụ thể, ví dụviệc sử dụng các phép thế, phép lặp, phép nối, các quan hệ từ… để liên kết cáclời nói lại với nhau khi giao tiếp Tuy nhiên, sự liên kết hội thoại này khôngnhất thiết phải diễn ra trong suốt cuộc thoại Tiếp đến là phải tôn trọng thểdiện của nhau, những người tham gia giao tiếp phải có ý thức giữ gìn thể diệncho nhau và cũng là cho chính bản thân mình Khi giao tiếp, người nói phảibiết lựa chọn lời nói cho phù hợp với đặc điểm cá tính của người nghe Đồngthời, đòi hỏi người nói phải biết khiêm tốn, không nên nói quá nhiều về bản
Trang 28thân mình vì có thể nó sẽ khiến cho người nghe khó chịu Đây cũng là điềucần chú ý khi hội thoại Bên cạnh những nhân tố quan trọng đó còn có nhữngnhân tố nhỏ nhưng cũng không kém phần quan trọng như: sự cộng tác tronghội thoại Người nói và người nghe cần có sự cộng tác với nhau trong suốtquá trình hội thoại về các mặt: nội dung hội thoại, hình thức hội tho ại, chấtlượng hội thoại, quan hệ hội thoại…
Tóm lại, trên đây, là những điều cơ bản nhất trong hội thoại mà mỗichúng ta cần tôn trọng và thực hiện tốt để thể hiện tính văn hóa khi giao tiếp.Những quy tắc này cũng là những cơ sở để cho người giáo viên tìm ra nguyênnhân thành công hay thất bại của mỗi cuộc giao tiếp do mình thực hiện, đồngthời nó cũng là cơ sở để họ xây dựng các bài tập luyện nói với những yêu cầukhác nhau nhằm rèn luyện kĩ năng nói trong thực hành giao tiếp cho học sinh
1.1.2 Phân môn Tập làm văn lớp 2 với việc phát triển kĩ năng hội thoại cho học sinh
1.1.2.1 Mục tiêu, cấu trúc nội dung của phân môn Tập làm văn lớp 2
Tiếng Việt lớp 2 cũng được đánh giá là một trong những môn học quantrọng nhất của chương trình đào tạo của lớp 2 Tiếng Việt lớp 2 cũng bao gồmcác phân môn: Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu, Kểchuyện, Tập làm văn Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt quan trọng
* Phân môn Tập làm văn lớp 2 tận dụng những hiểu biết và kĩ năng vềTiếng Việt, do các môn học khác rèn luyện và cung cấp, đồng thời góp phầnhoàn thiện chúng sau khi tích lũy được các kĩ năng môn học này mang lại Đểlàm được 1 bài văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện cả 4 kĩ năng:nghe, nói, đọc, viết, phải vận dụng tốt kiến thức Tiếng Việt Trong quá trìnhvận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần
Trang 29* Phân môn Tập làm văn lớp 2 rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sảnsinh văn bản (nói và viết) Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấutrúc được xem xét trong từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thànhmột công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói một cáchkhác, Tập làm văn đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc nhấtcủa việc dạy và học Tiếng Việt Học sinh sử dụng tiếng mẹ đẻ trong đời sốngsinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học…
Mục tiêu của phân môn dạy Tập làm văn lớp 2:
* Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng nói, viết, nghe, đọc, phục vụ cho
học tập và giao tiếp, cụ thể là: Nắm được các nghi thức lời nói tối thiểu như:
chào hỏi, tự giới thiệu, cám ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủđịnh, tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn,…biết sử dụng chúng trong một sốtình huống giao tiếp ở gia đình, trong trường học và nơi công cộng
Nắm được một số kĩ năng học tập và đời sống hằng ngày như: khai bản
tự thuật ngắn, viết những bức thư ngắn đế nhắn tin, chia vui hoặc chia buồn,nhận và gọi điện thoại, đọc và lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, đọcthời khóa biểu, đọc và lập thời gian biểu…Kể một sự việc đơn giản, tả sơ lược
về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi Nghe - hiểuđược ý kiến của bạn, có thể nêu ý kiến bổ sung, nhận xét
* Trao đổi thái độ ứng xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong côngviệc, bồi dưỡng những tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy
* Cơ cấu nội dung chương trình:
+ Số lượng và thời lượng dạy: Học sinh được học 31 tiết Tập làm văntrong cả năm học
+ Nội dung và hình thức luyện tập:
Trang 30- Các nghi thức lời nói tối thiểu (chào hỏi, tự giới thiệu, cám ơn, xin lỗi,nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui, chiabuồn…) biết sử dụng chúng trong các tình huống giao tiếp nơi công cộng, ởgia đình, trong trường học.
- Các kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày: khai bản tự thuậtngắn, viết thư ngắn để nhắn tin, chia vui hoặc chia buồn, nhận và gọi điệnthoại, đọc và lập thời gian biểu…
+ Nói, viết về những vấn đề chủ điểm: kể một sự việc đơn giản, tả sơlươc về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi…
- Hình thức rèn luyện: có 2 hình thức rèn luyện chính là nói và viết
Ở mỗi hình thức luyện tập này, học sinh hình thành kĩ năng tạo lập vănbản qua từng công đoạn, từ những yêu cầu đơn giản nhất như: điền vào chỗtrống, trả lời câu hỏi đến nói hay viết một đoạn văn trọn vẹn Trong các tiếtTập làm văn từ học kì 2 trở đi, sách giáo khoa tổ chức rèn luyện kĩ năng nghecho học sinh thông qua hình thức nghe, kể chuyện, trả lời câu hỏi theo nộidung câu chuyện
Ví dụ:
Ở tiết Tập làm văn tuần 33, từ bài 1: hãy nhắc lại lời an ủi và lời đápcủa các nhân vật trong tranh, đến nói lời đáp của các em trong những tìnhhuống cụ thể và yêu cầu của bài tập cuối cùng ở tiết học là học sinh viết mộtđoạn văn ngắn kể về một việc tốt của em hoặc bạn em Hay tiết 34: kể ngắn vềngười thân (nói, viết) Ở bài tập 1, kể về một người thân của em, sau đó yêucầu tiếp theo là viết những điều đã kể thành một đoạn văn Ở tiết 30, nghe, kểchuyện và trả lời câu hỏi bài “Qua suối” ở bài tập 1 yêu cầu nghe và trả lời câuhỏi, ở bài tập 2 yêu cầu viết lại những điều đã nghe …
Trang 311.1.2.2 Nội dung dạy học hội thoại trong phân môn Tập làm văn lớp 2
Rèn luyện kĩ năng nói giúp học sinh có năng lực dùng tiếng Việt để họctập, giao tiếp… trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi Trong việc rèn kĩnăng nói thì nói trong hội thoại nghĩa là các nghi thức lời nói được sắp xếptrong chương trình dạy Tập làm văn được cấu tạo theo hai mạch: dạy làm vănnói và dạy làm văn viết Đây là điểm khác cơ bản giữa chương trình theo sáchgiáo khoa Tiếng Việt lớp 2 mới và sách giáo khoa chưa được cải cách (cũ) Vìtheo sách cải cách chia Tập làm văn thành hai loại: bài văn miệng và bài vănviết Cả hai loại bài này chủ yếu là lời độc thoại Có quan niệm cho rằng bàilàm miệng chỉ chuẩn bị cho bài viết Cả bài miệng và bài viết đều chú ý thựchiện nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản mà chưa quan tâm nhiềuđến nghi thức lời nói trong giao tiếp hàng ngày Các em có thể sắp xếp câu, từ
để nói (viết) về một cảnh đẹp nhưng lời nói giới thiệu, làm quen, hay xin lỗingười khác lại khó nói Trong sách Tiếng Việt lớp 2 mới đưa hai mạch: làmvăn nói và làm văn viết là rất hợp lí vì ngoài những điểm chung (đều là hoạtđộng của sản sinh văn bản), văn nói có những điểm riêng về đề tài, nội dung,ngữ cảnh, chất liệu… Không phải đề tài nào, nội dung nào cũng có thể đem ranói được Văn nói có nhiệm vụ đưa học sinh vào các hoàn cảnh giao tiếp.Chương trình làm văn gồm các tiết rải đều ở hai học kì thì học sinh được rènluyện kĩ năng nói hầu hết ở các tiết Có 27 tiết được rèn luyện nói trong đó có
4 tiết hoàn toàn tập trung vào rèn luyện kỹ năng nói Các nội dung bài luyệnnói thường rất gần gũi, quen thuộc với học sinh lớp 2, thường xoay quanh môitrường hoạt động giao tiếp trong gia đình, nhà trường và xã hội Đây là những
kỹ năng giao tiếp đơn giản, thông dụng gắn với quan hệ vai giao tiếp hàngngày mà các em thường đảm nhận Ví dụ như tuần đầu tiên các em được họccách “Tự giới thiệu về mình” Được nói về bản thân mình, tự giới thiệu cho côgiáo và các bạn cùng nghe để làm quen với cô giáo và các bạn, điều đó thật
Trang 32cần thiết và cũng thật là thích thú đối với các em Hay các em được học cách
“Chia vui, chia buồn, an ủi” để vận dụng trong cuộc sống hàng ngày, để dầnhình thành nhân cách tốt cho các em, các em trở thành người biết quan tâmđến mọi người xung quanh Nội dung dạy làm văn theo chương trình sáchTiếng Việt mới còn chú ý luyện cho các em lời nói đối thoại (tả ngắn, kểngắn) Ví dụ bài tả ngắn về biển – Tuần 24 Khác với sách giáo khoa cũ chỉluyện kĩ năng nói độc thoại (chủ yếu qua hình thức trả lời câu hỏi theo nộidung bài tập đọc Ví dụ như bài: Phong cảnh đền Hùng – Học sinh dựa vào bàitập đọc cùng tên để trả lời câu hỏi…) Việc đưa lời hội thoại đơn giản trongquan hệ hòa hợp tới học sinh có tác dụng giúp học sinh 7, 8 tuổi sớm có khảnăng hòa nhập với xã hội rộng lớn Từ bài học trên lớp các em biết vận dụngvào thực tế cuộc sống để trở thành người học sinh nói những lời nói đẹp Bêncạnh đó, những lời hội thoại đơn giản sẽ tạo tiền đề sau này cho các em tậpnói lời hội thoại phức tạp, lời độc thoại ở những mức yêu cầu khác nhau Từ
đó cũng tạo ra được sự hứng thú tập nói cho học sinh
Các ngữ liệu trong dạy Tập làm văn không lặp lại ngữ liệu trong các giờTập đọc, Kể chuyện trước đó Ở một số bài có sự lặp lại như tiết “Tự giớithiệu” có phần được lặp lại của mẫu cấu trúc bài Tập đọc “Tự thuật” nhưng đó
là những điều khi làm tự thuật hay tự giới thiệu không thể thiếu (giới thiệu tên,quê quán) Sự thay đổi ngữ liệu giúp giờ làm văn tạo không khí sôi nổi tronggiờ học
Việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 2 trong phân môn Tập làm vănthực hiện theo phương pháp giao tiếp thể hiện chủ yếu thông qua hệ thống bàitập và biện pháp dạy học Các bài Tập làm văn đưa ra với nhiều hình thứckhác nhau: Bài tập học sinh nhận biết mẫu lời nói, có bài nhằm giúp học sinhthực hành, có bài rèn luyện nói dạng Nghi thức lời nói mang tính gợi mở đểhọc sinh phát huy tính sáng tạo nhiều hơn
Trang 331.1.2.3 Các dạng bài tập phát triển kĩ năng hội thoại trong phân môn Tập làm văn lớp 2
Các hình thức bài tập khác nhau còn có tác dụng làm cho hoạt động họctập sinh động, cách này hay cách khác các em được thay đổi hình thức hoạtđộng: xem tranh, đọc, nói, viết Ví dụ trong bài: Đáp lời xin lỗi (Tiếng Việt 2-Tập 2- Trang 40)
Bài tập 1: Đọc lời các nhân vật trong tranh (Các em được xem tranh, đọc
và làm quen với mẫu lời nói)
Bài tập 2: Em đáp lời xin lỗi trong các trường hợp sau như thế nào?+ (a) Một bạn vội nói với em trên cầu thang: “Xin lỗi Cho tớ đi trướcmột chút.”
+ (b) Một bạn vô ý đụng vào người em, xin lỗi em “Xin lỗi, tớ vô ý quá”.+ (c) Một bạn nghịch làm mực bắn vào áo em, bạn xin lỗi em: “Xin lỗibạn… mình lỡ tay thôi”
+ (d) Bạn xin lỗi em vì quên mang sách trả em: “Xin lỗi cậu Tớ quênmang sách trả cậu rồi”
Khi làm bài tập này, các em làm quen với 4 tình huống thường xảy ratrong cuộc sống hàng ngày Học sinh cần xác định được mục đích giao tiếp,đối tượng giao tiếp, nội dung giao tiếp trên cơ sở đó các em được thực hiệnyêu cầu bài tập qua 3 bước:
+ Suy nghĩ dự đoán ý cần diễn đạt
+ Tìm các cách có thể diễn đạt ý đó
+ Lựa chọn từ, câu nói thích hợp
Với bài tập này, học sinh sẽ xác định hoàn cảnh diễn ra từng sự việc,quan hệ vai giao tiếp (nói lời xin lỗi với em là bạn - ngang vai) Trên cơ sở đó,
Trang 34học sinh sẽ lựa chọn mẫu cấu trúc lời nói, đáp lại lời xin lỗi kèm theo cáchxưng hô thích hợp để thực hiện yêu cầu bài tập – cũng là thực hiện việc giaotiếp.
Ví dụ trong tình huống (a) ở bài: “Đáp lời xin lỗi” đã nêu Các em có thể
có nhiều cách trả lời khác nhau như:
- Được thôi! Cậu đi đi!
Các bài tập tình huống như trên có tác dụng rất lớn nhằm phát triển lờinói, rèn luyện kỹ năng nói cho học sinh lớp 2 nói riêng và học sinh Tiểu họcnói chung
Để tiến hành các tiết dạy văn nói dạng Nghi thức lời nói cho học sinh,giáo viên cần chọn lựa các biện pháp dạy học phù hợp trên lớp Trước tiêngiáo viên, cần giúp học sinh nắm được các yêu cầu bài tập nêu tình huống Ởkiểu bài tập giúp học sinh làm quen với mẫu lời nói, giáo viên có thể cho họcsinh quan sát tranh, đọc lời các nhân vật trong tranh Ví dụ ở bài tập 1 bài
“Đáp lại lời xin lỗi”, giáo viên cho học sinh quan sát tranh (phóng to) từng cặphai học sinh đóng vai hai nhân vật: nói lời xin lỗi, đáp lời xin lỗi Từ đó, các
em ôn lại kiến thức cũ Trong trường hợp nào ta cần xin lỗi người khác Đồngthời làm quen với mẫu lời nói mới: Đáp lời xin lỗi
Trang 35Với bài tập tình huống, học sinh cần xác định nhân tố giao tiếp như:người nói, người nghe, vai giao tiếp, hoàn cảnh, nội dung, mục đích giao tiếp,chọn ngôn từ và thực hành nói Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh luyện tậpbằng các bài tập tình huống với nhiều hình thức như: hoạt động cá nhân, hoạtđộng nhóm, sắm vai, trò chơi… Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi, thảoluận để nhận xét, đánh giá kết quả thực hành, luyện tập, hướng dẫn học sinhthực hành kỹ năng vào thực tiễn giao tiếp lời nói Ví dụ ở bài tập 2 trong bài
“Đáp lời xin lỗi” các em cần đáp lời xin lỗi trong 4 tình huống khác nhau.Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đóng vai từng cặp 2 em (1 em nói lời xinlỗi - 1 em đáp lại), học sinh có thể sáng tạo cách nói lời xin lỗi của mình(không nhất thiết phải đúng theo lời trong sách giáo khoa) và nhiều em đáp lạitheo nhiều cách khác nhau ở mỗi tình huống Ví dụ tình huống (c) ở bài tập 2nêu trên có thay nhau hai học sinh nói lời xin lỗi và đáp lời xin lỗi Các em cónhiều cách nói lời xin lỗi:
+ Xin lỗi bạn Mình lỡ tay thôi
+ Ôi! Xin lỗi nhé! Tớ làm bẩn áo cậu rồi!
+ Tớ làm bẩn áo cậu rồi! Đừng trách tớ nhé!
Các em có thể đáp lại các cách như sau:
+ Thôi đã trót rồi mà!
+ Có gì đâu Lần sau cậu cẩn thận hơn nhé!
+ Ừ! Không sao đâu! Sẽ giặt được mà
Có thể cho các em đổi vai để học sinh đảm nhận vai giao tiếp khác Hoặc
có thể cho học sinh thảo luận theo nhóm, thi giữa các nhóm để tìm câu trả lờihay nhất Như vậy có thể nói phân môn Tập làm văn theo sách tiếng Việt lớp
2 mới có nhiều ưu thế để thực hiện nhiệm vụ rèn kỹ năng nói đồng thời cònphát triển ngôn ngữ cho học sinh Bên cạnh đó ta cũng phải nắm được đa số
Trang 36bài tập luyện kỹ năng nói cho học sinh mới đề cập đến quan hệ ngang vai(quan hệ giữa bạn với bạn), chính vì vậy mà nội dung chưa phong phú, họcsinh không được luyện nói với các tình huống ở quan hệ khác Không nhữngvậy mà còn có một số bài không xác định đựoc vai hay khó xác định vai khihội thoại Ví dụ như tình huống trong bài: “Khẳng định, phủ định” Sách tiếngViệt 2- Tập I trang 54 yêu cầu: Trả lời câu hỏi bằng hai cách:
- Em có đi xem phim không? Xác định quan hệ giao tiếp vai trên (ngườihỏi em là người trên: anh, chị, thầy giáo, cô giáo
- Mẹ có mua báo không? Học sinh khó xác định vai giao tiếp, có thểhiểu:
+ Bố hỏi con: Mẹ có mua báo không?
(con trả lời vai trên)+ Em hỏi chị: Mẹ có mua báo không?
(chị trả lời vai dưới)+ Bản thân hỏi mẹ: Mẹ có mua báo không?
(mẹ trả lời vai dưới)
Ở cách hiểu (1) và (2) mẹ là người ở ngôi thứ ba nói tới, ở cách hiểu (3)
mẹ là ngôi thứ hai cần trả lời (khẳng định hay phủ định) Cũng như vậy ở bài
“Gọi điện” (tuần 10 trang 85): Khi gọi điện gặp người nhà của bạn, em xinphép nói chuyện với bạn thế nào? Học sinh khó xác định vai giao tiếp (ngườinhà của bạn) là ai? (là bố mẹ, anh chị- vai trên hay là em của bạn - vai dưới)
để các em chọn lời đáp lại cho đúng theo cách xưng hô mình đảm nhiệm.Trong các bài thuộc nghi thức lời nói, rèn luyện kỹ năng nói với người thuộcvai dưới thì đề cập đến quá ít, đặc biệt chỉ có duy nhất một bài có đủ 3 tươngquan vai giao tiếp nên học sinh rất dễ tưởng nhầm người vai trên không cầnxin lỗi với người vai dưới trong bài “Nói lời xin lỗi” Nếu như trên sân trường
Trang 37khi chạy nhảy va vào một em nhỏ lớp 1 thì có cần xin lỗi không? Hay bạn em,
em của em có chuyện buồn thì có cần nói lời an ủi không? Vì trong bài “Chiabuồn, an ủi” không đề cập đến quan hệ ngang vai và vai dưới Nội dung rènluyện kĩ năng nói cho học sinh lớp 2 được sắp xếp ở kì I và kì II có sự phânchia độc lập Học kì I đề cập đến việc dạy nghi thức nói (như lời nói cảm ơn,xin lỗi, mời, nhờ…) thì học kì II dạy các lời đáp tương ứng Giữa lời nói vàđáp án cách xa nhau quá, vì vậy người giáo viên cần nắm chắc các đặc điểm
về nội dung chương trình của lớp 2 mới trong môn tiếng Việt để luyện nói chohọc sinh đúng, hay hơn
1.1.3 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2 và việc phát triển kỹ năng hội thoại
Những cấu tạo tâm lý mới chủ yếu do hoạt động học tập mang lại và được hình thành dần dần với chính quá trình hình thành của quá trình hoạt động học tập
1.1.3.1 Đặc điểm về nhận thức
Theo từ điển triết học: Nhận thức là quá trình tái tạo lại hiện thực ở trong
tư duy của con người, được quyết định bởi quy luật phát triển xã hội và gắnliền cũng như không thể tách rời khỏi thực tiễn, nó phải là mục đích của thựctiễn, phải hướng tới chân lý khách quan
Theo công trình “Giải thích thuật ngữ Tâm lý – Giáo dục học”: “Nhận
thức là toàn bộ những quy trình mà nhờ đó những đầu vào cảm xúc đượcchuyển hoá, được mã hoá, được lưu giữ và sử dụng.” Hiểu nhận thức là mộtquy trình, nghĩa là nhờ có quy trình đó mà cảm xúc của con người không mất
đi, nó được chuyển hoá vào đầu óc con người, được con người lưu giữ và mãhoá,…
Trang 38Theo Từ điển Giáo dục học: “Nhận thức là quá trình hay là kết quả phản
ánh và tái tạo hiện thực vào trong tư duy của con người” Như vậy, nhận thứcđược hiểu là một quá trình, là kết quả phản ánh Nhận thức là quá trình conngười nhận biết về thế giới
Học sinh ở cấp tiểu học thường chịu sự chi phối của những điều kiện vàquy luật như ở những giai đoạn khác nhưng sự phát triển về mặt tâm lý củacác em vẫn có những đặc trưng riêng N.X Laaychex đã khắc họa “tuổi tiểuhọc là thời kỳ của sự nhập tâm và tích lũy tri thức, thời kỳ mà sự lĩnh hộichiếm ưu thế Chức năng trên được thực hiện thắng lợi nhờ các đặc điểm đặctrưng của lứa tuổi này – sự tuân thủ tuyệt đối vào những người có uy tín vớicác em (đặc biệt là thầy cô giáo), sự mẫn cảm, sự lưu tâm đặc biệt là thái độvui chơi ngây thơ đối với các đối tượng mà các em được tiếp xúc.2
Ở đầu tuổi tiểu học chú ý có chủ định của trẻ còn yếu, khả năng kiểmsoát, điều khiển chú ý còn hạn chế Ở giai đoạn này chú ý không chủ địnhchiếm ưu thế hơn chú ý có chủ định Trẻ lúc này chỉ quan tâm chú ý đếnnhững môn học, giờ học có đồ dùng trực quan sinh động, hấp dẫn có nhiềutranh ảnh, trò chơi hoặc có cô giáo gần gũi, dịu dàng, Sự tập trung chú ý củatrẻ còn yếu và thiếu tính bền vững, chưa thể tập trung lâu dài và dễ bị phân tántrong quá trình học tập
Ghi nhớ máy móc phát triển tương đối tốt và chiếm ưu thế hơn so với ghinhớ có ý nghĩa Nhiều học sinh chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa,chưa biết dựa vào các điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hayxây dựng dàn bài để ghi nhớ tài liệu
Hành vi mà trẻ thực hiện còn phụ thuộc nhiều vào yêu cầu của người lớn(học để được bố cho đi ăn kem, học để được cô giáo khen, quét nhà để đượcông cho tiền, ) Khi đó, sự điều chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi ở các
2 Phan Thị Hạnh Mai, 2005, Nghiên cứu mức độ khái quát của học sinh lớp 2, Nxb Giáo dục
Trang 39em còn yếu Đặc biệt các em chưa đủ ý chí để thực hiện đến cùng mục đích đã
đề ra nếu gặp khó khăn
Học sinh lớp 2 chưa biết phân tích có hệ thống những thuộc tính vàphẩm chất của các đối tượng tri giác Trình độ tri giác phát triển nhờ vàonhững hành động học tập có mục đích, có kế hoạch Trẻ lớp 2 biết chú ý vàotài liệu học tập cũng như vào việc hoàn thành các nhiệm vụ học tập Ghi nhớ
có chủ định được hình thành và phát triển dần trong quá trình học tập và đượchình thành rõ nét ở trẻ lớp 2 Hai hình thức ghi nhớ chủ định và ghi nhớ khôngchủ định tồn tại song song, chuyển hóa, bổ sung cho nhau Ở những thời giancuối của độ tuổi này, trí nhớ có sự tham gia tích cực của ngôn ngữ Đặc biệt vềtrí tưởng tượng, học sinh lớp 2 tưởng tượng còn hạn chế có khi chưa phù hợpvới đối tượng Điểm khác nhau căn bản về tưởng tượng của trẻ mẫu giáo vàhọc sinh lớp 2 là ở chỗ với độ tuổi lớp 2 các em có ý thức rõ rệt về tính thuầntúy, qui ước về những điều tưởng tượng của mình Về sự phát triển của tư duy:
ở giai đoạn này, tư duy trực quan hành động chiếm ưu thế Trẻ học chủ yếubằng phương pháp so sánh, đối chiếu dựa trên các đối tượng hoặc những hìnhảnh trực quan Những khái quát của trẻ về sự vật hiện tượng ở giai đoạn nàychủ yếu dựa vào những dấu hiệu cụ thể nằm trên bề mặt của đối tượng hoặcnhững dấu hiệu thuộc công dụng và chức năng Tư duy còn chịu ảnh hưởngnhiều bởi yếu tố tổng thể Tư duy phân tích ban đầu hình thành nhưng cònyếu Đời sống cảm xúc, tình cảm khá phong phú, đa dạng và cơ bản mang tínhtích cực Tính kiềm chế và tự giác được tăng cường Trạng thái cảm xúc ổnđịnh Đặc biệt tâm trạng sảng khoái, vui tươi thường bền vững, lâu dài
Trang 401.1.3.2 Đặc điểm về ngôn ngữ
“Ngôn bản là chuỗi kết hợp các yếu tố ngôn ngữ tạo nên lời nói của nhânvật giao tiếp” 3 Nói cách khác ngôn bản là sản phẩm của lời nói được tạo ratrong một hoạt động giao tiếp nhằm đạt đến mục đích giao tiếp Như vậy cóthể hiểu một cách đầy đủ thì ngôn bản chính là sản phẩm dạng nói lẫn dạngviết của việc giao tiếp bằng ngôn ngữ
Hầu hết học sinh tiểu học có ngôn ngữ nói thành thạo Khi trẻ vào lớp 1bắt đầu xuất hiện ngôn ngữ viết Đến lớp 5 thì ngôn ngữ viết đã thành thạo vàbắt đầu hoàn thiện về mặt ngữ pháp, chính tả và ngữ âm Ở vào độ tuổi lớp 2,
cơ bản các em đã biết đọc, biết viết Nhờ có ngôn ngữ phát triển mà trẻ có khảnăng tự đọc, tự học, tự nhận thức thế giới xung quanh và tự khám phá bảnthân thông qua các kênh thông tin khác nhau Ngôn ngữ có vai trò hết sứcquan trọng đối với quá trình nhận thức cảm tính và lý tính của trẻ, nhờ cóngôn ngữ mà cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng của trẻ phát triển dễ dàng
và được biểu hiện cụ thể thông qua ngôn ngữ nói và viết của trẻ Mặt khác,thông qua khả năng ngôn ngữ của trẻ ta có thể đánh giá được sự phát triển trítuệ của trẻ
Ở lứa tuổi này các em đã sử dụng được những câu từ phức tạp hơn, đã
sử dụng các loại câu tường thuật để miêu tả sự vật, hiện tượng, con người, câunghi vấn, câu cảm thán, câu hô ứng Để cố gắng hiểu được thế giới xungquanh, trẻ em không ngừng đặt câu hỏi Có thể nói câu gồm 4-5 chữ; biếtdùng chữ “đã” hay “rồi” để diễn tả quá khứ; vốn từ khoảng 1500 chữ, biếtphân biệt nhiều màu sắc, hình thể; hay hỏi “tại sao”, “ai”… Các em cũng đã
có thể có những lời nói bày tỏ được cảm xúc hoặc nhu cầu, ý nghĩ và kinhnghiệm của bản thân như là “Con nhớ ông nhiều lắm, mẹ con cũng nhớ ông”
Bé cũng biết sử dụng lời nói để thoả thuận, trao đổi, hợp tác, chỉ dẫn bạn bè
3 Giáo trình tiếng việt 1, NXBGD, 1997, tr.31