Hiện nay chơng trình, sách giáo khoa Kể chuyện tiểuhọc 2000 đã đợc dạy đến lớp 4 với nội dung phong phú, hìnhthức đa dạng đã thực sự trở thành một cơng lĩnh tiến bộ.Hơn nữa sự thay đổi n
Trang 1Trờng đại học Vinh khoa giáo dục tiểu học
-
-phát triển kỹ năng nghe, kể cho học
sinh các lớp 1, 2, 3 qua phân môn kể chuyện
khóa luận tốt nghiệp đại học Chuyên ngành: phơng pháp dạy học văn - tiếng việt
Ngời hớng dẫn: TS chu thị hà thanh
Ngời thực hiện : SV Vơng thị thu hà
Lớp : 43A2 - GDTH
Trang 2Vinh - 2006
Lời cảm ơn!
Đề tài "Phát triển kỹ năng nghe, kể cho học sinh lớp 1, 2,
3 qua phân môn Kể chuyện" đợc thực hiện trong một thời gian ngắn, điều kiện không ít khó khăn Để hoàn thành công trình nghiên cứu này, ngoài sự cố gắng nổ lực của bản thân, tôi đã nhận đợc sự tận tình giúp đỡ của các thầy giáo cô giáo và sự khích lệ của bạn bè Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Tiến sĩ Chu Thị Hà Thanh - ngời trực tiếp hớng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Giáo dục tiểu học đã cho tôi những ý kiến đóng góp quý báu, cảm ơn các cô giáo và học sinh trờng tiểu học Lê Mao - thành phố Vinh đã tạo điều kiện cho tôi trong việc nghiên cứu và thực nghiệm tại trờng.
Đây là công trình tập dợt nghiên cứu khoa học với một vấn đề khá mới mẻ nên chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận đợc những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và bạn đọc.
Vinh, tháng 5 năm 2006
Tác giả
Trang 3A phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Bớc vào thế kỷ XXI, thế kỷ mởi đầu một thiên niên kỷmới, đất nớc ta bớc vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Trên thế giới cũng nh ở nớc ta bớc đầu đặt ra nhiều vấn đềmới nh nền kinh tế trí thức, sự phát triển của công nghệthông tin, xu hớng quốc tế hóa, toàn cầu hóa trong kinh tế,vấn đề hội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dântộc Những thay đổi đó trên thế giới đã phản ánh vào giáodục và đào tạo, đòi hỏi phải có sự đổi mới trong nhận thức
và t duy
Trên cơ sở đó, chơng trình và sách giáo khoa TiếngViệt tiểu học 2000 đợc soạn thảo theo quan điểm giao tiếp,với mục tiêu cơ bản là hình thành và phát triển cho học sinhnăng lực sử dụng tiếng Việt để học tập, giao tiếp trên bìnhdiện sản sinh văn bản (nói, viết) và lĩnh hội văn bản (nghe,
đọc)
Trong chơng trình môn Tiếng Việt, phân môn Kểchuyện có một vị trí quan trọng, đợc xếp liền sau phân
Trang 4môn Tập đọc, Học thuộc lòng Cùng với các môn học khác, Kểchuyện giúp học sinh có điều kiện để phát triển tối đanăng lực ngôn ngữ của mình, biết sử dụng ngôn ngữ tiếngViệt để làm công cụ giao tiếp và t duy Phân môn Kểchuyện vừa có nhiệm vụ cung cấp tri thức về tiếng Việt, vănhọc lại vừa góp phần rèn luyện các kỹ năng sử dụng tiếng Việtcho học sinh Trong đó nhiệm vụ cơ bản của phân môn Kểchuyện là rèn luyện kỹ năng nghe, kỹ năng kể chuyện, một
kỹ năng nói ở trình độ cao, mang tính nghệ thuật cho họcsinh tiểu học
Nh vậy, có thể khẳng định rằng: việc dạy và học Kểchuyện ở tiểu học có vai trò rất quan trọng trong việc thựchiện mục tiêu rèn luyện kỹ năng của chơng trình Tiếng Việttiểu học 2000 Để thực hiện việc dạy và học Kể chuyện đợctốt, thực hiện nhiệm vụ đề ra cần hai yếu tố cơ bản đó là
có bộ chơng trình, sách giáo khoa tiến bộ, hiện đại và có hệthống phơng pháp dạy học hoàn chỉnh, tối u
Hiện nay chơng trình, sách giáo khoa Kể chuyện tiểuhọc 2000 đã đợc dạy đến lớp 4 với nội dung phong phú, hìnhthức đa dạng đã thực sự trở thành một cơng lĩnh tiến bộ.Hơn nữa sự thay đổi nội dung chơng trình cũng đòi hỏiphải có sự đổi mới phơng pháp dạy học cho phù hợp, phát huy
đợc tính tích cực, chủ động của học sinh, tạo điều kiện chocác em đợc thực hành luyện tập các kỹ năng giao tiếp bằngtiếng Việt , cụ thể là kỹ năng nghe, kể
Tuy nhiên, các phơng pháp dạy học Kể chuyện đợc sửdụng trong nhà trờng tiểu học hiện nay cha thích ứng đợc vớiyêu cầu của chơng trình mới, cha thực hiện đợc nhiệm vụ cơ
Trang 5bản của phân môn Kể chuyện là phát triển các kỹ năngnghe, kể cho học sinh Đặc biệt là ở các lớp 1,2,3, giai đoạn
đầu của bậc tiểu học, các em mới đến trờng còn nhiều khókhăn, bỡ ngỡ Bên cạnh đó, việc nghiên cứu các phơng phápdạy học mới nhằm đáp ứng đợc yêu cầu, nhiệm vụ của phânmôn Kể chuyện chơng trình 2000 của các nhà nghiên cứu,những ngời làm chơng trình còn đang bỏ ngỏ, cha thực sự
đợc quan tâm
Chính vì vậy, để mọi ngời có thể nắm đợc những
điểm chung nhất về chơng trình và những yêu cầu kỹ năngcủa phân môn Kể chuyện lớp 1, 2, 3, đặc điểm của họcsinh các lớp 1, 2, 3 đối với việc học tập, rèn luyện các kỹ năngqua chơng trình Kể chuyện và những biện pháp nhằm pháttriển kỹ năng nghe, kể cho học sinh lớp 1, 2, 3 qua phân mônnày là rất thiết thực
Đó cũng chính là lý do chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu:
Phát triển kỹ năng nghe, kể cho học sinh các lớp 1, 2, 3 qua phân môn Kể chuyện
2 Lịch sử vấn đề.
Với mục tiêu "xây dựng nội dung- chơng trình giáo dụcthế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nhân lực phục vụcông nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nớc, phù hợp với thực tiễn
và truyền thống Việt Nam ,tiếp cận trình độ giáo dục phổthông ở các nớc phát triển trong khu vực và trên thế giới", BộGiáo dục và Đào tạo đã cho ra đời bộ chơng trình tiểu học
2000 , trong đó có phân môn Kể chuyện Sự ra đời của bộchơng trình này đã tạo nên một bớc ngoặt lớn , nâng cao vịtrí của phân môn Kể chuyện ,góp phần tạo nên tính hoàn
Trang 6chỉnh của môn Tiếng Việt nói riêng và toàn bộ chơng trìnhtiểu học nói chung Vì thế nó đợc rất nhiều ngời quantâm , từ giáo viên , học sinh cho đến các bậc phụ huynh.
Đến nay, chơng trình Tiếng Việt tiểu học 2000 đã đợcdạy đến lớp 4 nhng việc nghiên cứu về toàn bộ chơng trìnhTiếng Việt 2000 nói chung và phân môn Kể chuyện nói riêngvẫn còn bó hẹp trong phạm vi các nhà soạn thảo chơngtrình Nó mới chỉ đợc đề cập đến trong phạm vi các tài liệubồi dỡng giáo viên, các kỷ yếu khoa học và một số sách thamkhảo về việc dạy và học môn Tiếng Việt Nội dung chủ yếucủa bài viết, các tài liệu này mới chỉ đề cập đến việc cầnthiết phải đổi mới nội dung, chơng trình, phơng pháp vàhình thức tổ chức dạy học mang tính tích cực, chủ độnglấy học sinh làm trung tâm Cụ thể:
1 Dạy học Kể chuyện ở trờng tiểu học - Chu Huy - NXB
GD 2000 Nội dung cuốn sách này tác giả chia làm 3 phầnchính:
Phần 1: Một vài cơ sở lý luận và thực tiễn của phânmôn Kể chuyện
Phần 2: Dạy Kể chuyện ở trờng tiểu học
Phần 3: Vấn đề tự bồi dỡng tiềm lực của ngời giáo viêntiểu học
ở đây tác giả chủ yếu đề cập đến nội dung chơngtrình và phơng pháp dạy học phân môn Kể chuyện ở chơngtrình 165 tuần, song cũng không có phần nào nói đến việcphát triển kỹ năng nghe, kể cho học sinh
2 Dạy Tiếng Việt 1 Hoàng Xuân Tâm Bùi Tất Tơm
-NXB GD 2002
Trang 7Cuốn sách này đã đề cập đến phơng pháp dạy học và
đặc điểm của phân môn Kể chuyện tiểu học 2000 mộtcách cụ thể ở đây, các tác giả đã xác định đợc nội dung lời
kể, kỹ thuật kể, cách đọc tranh của từng bài học
3 Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chơng trình mới -Nguyễn Trí - NXB GD 2005.
Nội dung cuốn sách này đợc các tác giả chia làm 3 phầnchính:
Phần 1: Chơng trình mới môn Tiếng Việt ở tiểu học.Phần 2: Một số điểm cần lu ý về phơng pháp dạy họcmôn Tiếng Việt ở bậc tiểu học theo chơng trình mới
Phần 3: Kiểm tra, đánh giá môn Tiếng Việt ở tiểu họctheo chơng trình mới
Trong cuốn sách này, tác giả chủ yếu đề cập đếnnhững vấn đề cơ sở lý luận của việc xây dựng và thực hiệnchơng trình Tiếng Việt 2000 Trong đó có một phần nhỏ nói
đến những vấn đề chung nhất của việc dạy 4 kỹ năng nghe,nói, đọc, viết tiếng Việt cho học sinh tiểu học: đặc điểmcủa từng loại kỹ năng, các yêu cầu luyện tập kỹ năng vànhững bài luyện tập các kỹ năng trong các phân môn củamôn Tiếng Việt
4 Phơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học ( tập 2) - Lê
Phơng Nga - Nguyễn Trí - NXB ĐHQG Hà Nội - 1995
Cuốn sách này đợc tác giả chia làm 2 phần:
Phần 1: Bàn về vấn đề chung của phơng pháp dạy họcTiếng Việt ở tiểu học
Phần 2: Đi sâu vào nghiên cứu phơng pháp dạy học cácphân môn cụ thể
Trang 8Cuốn sách này dành một phần nhỏ cho phơng pháp dạyhọc Kể chuyện ở tiểu học, nhng vấn đề phát triển kỹ năngnghe, kể cho học sinh cha đợc các tác giả đề cập đến trongcuốn sách này.
5 Ngoài ra còn có một số bài viết góp ý thêm về chơngtrình Kể chuyện ở một số báo, tạp chí giáo dục
Nh vậy, nhìn vào hệ thống các tài liệu phơng pháp dạyhọc Tiếng Việt ở tiểu học ta thấy cha có một tài liệu nàonghiên cứu về các biện pháp tổ chức dạy học phát triển kỹnăng nghe, kể chuyện cho học sinh tiểu học, đạc biệt là ởcác lớp giai đoạn đầu bậc tiểu học Đây là một vấn đề quantrọng, liên quan trực tiếp tới việc thực hiện mục tiêu chungcủa chơng trình Tiếng Việt 2000 Chính vì vậy, nội dung
đề tài của chúng tôi là:
Phát triển kỹ năng nghe, kể cho học sinh các lớp 1,
2, 3 qua phân môn Kể chuyện.
3 Mục đích nghiên cứu.
Thực hiện đề tài này chúng tôi nhằm mục đích:
- Giúp giáo viên tiểu học vận dụng đợc các phơng pháp dạyhọc mới nhằm thực hiện đợc những yêu cầu, nhiệm vụ cơ bảncủa phân môn Kể chuyện
- Bồi dỡng, phát huy các phẩm chất, năng lực cần có chohọc sinh để phát triển các kỹ năng nghe, kể chuyện
- Góp phần bổ sung về mặt lý thuyết phơng pháp dạy
Kể chuyện trong dạy học Tiếng Việt ở tiểu học
4 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến đềtài
Trang 9- Đề ra một số biện pháp dạy học kể chuyện nhằm pháttriển kỹ năng nghe, kể cho học sinh lớp 1, 2, 3.
- Thực nghiệm s phạm để chứng minh tính hiệu quả củaquy trình xây dựng
5 Khách thể nghiên cứu.
5.1 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học kể chuyện ở các lớp 1, 2, 3
5.2 Đối tợng nghiên cứu
- Việc tổ chức các hoạt động dạy - học trong giờ Kểchuyện nhằm phát triển kỹ năng nghe, kể cho học sinh lớp 1,
2, 3
6 Giả thuyết khoa học.
- Dạy học Kể chuyện lớp 1, 2, 3 nếu giáo viên tổ chức tốtcác hoạt động dạy, học thì sẽ phát triển kỹ năng nghe, kể chohọc sinh
7 Phơng pháp nghiên cứu.
7.1 Phơng pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổnghợp các tài liệu thực tiễn, tổng hợp và khái quát một số vấn đềliên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 10đều có ở trẻ lứa tuổi học sinh tiểu học bởi mỗi câu chuyện
mở ra trớc mắt các em một thế giới đầy mới lạ, hấp dẫn
Mặt khác, trẻ cũng có nhu cầu rất lớn trong việc giao luvới bạn bè, san sẻ với bạn những thu nhận mới lạ của mình, vìthế kể lại chuyện cho bạn nghe cũng là một nhu cầu của họcsinh tiểu học Đặc điểm này là thuận lợi cho giáo viên trongquá trình rèn luyện kỹ năng kể chuyện cho học sinh Song ởcác em nhu cầu thích thể hiện mình lại mâu thuẫn với bảntính rụt rè, ngợng ngùng, sợ cô giáo, bạn bè cời chê Vì vậytrong quá trình hớng dẫn học sinh tập kể chuyện giáo viêncần giúp học sinh nắm chắc câu chuyện để các em tự tinvào những gì mình kể, khuyến khích động viên các emtham gia kể chuyện
Học sinh tiểu học, nhất là trong giai đoạn đầu bậc tiểuhọc khó duy trì sự chú ý lâu Các em dễ bị hấp dẫn bởi các
Trang 11hình ảnh nhiều màu sắc, biết cử động Vì thế trong quátrình dạy Kể chuyện ở tiểu học, giáo viên cần lựa chọn vàphối hợp nhiều phơng pháp dạy học, đồng thời kết hợp sửdụng các phơng tiện phụ trợ khác nh tranh, ảnh minh họa,nhằm duy trì sự chú ý và kích thích sự hứng thú ở học sinhtrong quá trình nghe hiểu câu chuyện và tham gia kể lạichuyện.
Do trí nhớ còn hạn chế, học sinh ở các lớp đầu bậc tiểuhọc khó nhớ các câu chuyện nhiều tình tiết, nhiều nhânvật nên giáo viên cần chú ý chọn các truyện thích hợp với từnglớp để kể, hớng dẫn các em nắm mạch truyện, chi tiếttruyện trong từng nhân vật và các đặc điểm hình dạng,tính cách của nhân vật
1.1.1.2 Cơ sở ngôn ngữ học, văn học
Giờ Kể chuyện mang tính tổng hợp, để kể chuyện mộtcách hấp hẫn, cuốn hút ngời nghe, ngời kể cần có các hiểubiết về kỹ năng dùng từ, đặt câu, kỹ năng nghe, nói và kỹthuật trình bày trớc công chúng Ngoài ra khả năng kểchuyện còn phụ thuộc một phần không nhỏ vào các hiểu biết
về văn học (văn học dân gian, văn học trong nớc, văn học nớcngoài), các hiểu biết về tác phẩm văn học (về nhân vật, cốtruyện, các ngôi trong câu chuyện ), năng lực cảm thụ vănhọc Vì thế giáo viên cần hớng dẫn học sinh biết đợc trongcâu chuyện đâu là lời dẫn chuyện, đâu là lời hội thoại củanhân vật, hoàn cảnh và đặc điểm của từng nhân vật khinói lời thoại để các em biết phân biệt giọng kể của từngtính huống, từng nhân vật trong chuyện
Trang 12Kể chuyện chính là rèn kỹ năng sử dụng ngôn ngữ ởdạng nói có nghệ thuật Đây là một dạng đặc biệt của độcthoại, ngời nói trình bày lại không phải là ý tởng của bảnthân, hoặc một văn bản khoa học hay một văn bản hànhchính mà là một văn bản đợc nghệ thuật hóa Vì vậy trongquá trình kể yêu cầu ngời kể phải có sự xâm nhập một cáchsâu sắc vào nội dung truyện kể, ngời kể dờng nh nhậpthân vào toàn bộ câu chuyện, lúc là ngời dẫn chuyện, lúc lànhân vật này hoặc nhân vật khác trong chuyện; khi là sựthể hiện tâm lý, nhân cách của nhân vật chính diện, khi lại
là đặc điểm tính cách của nhân vật phản diện; lúc thìbộc lộ sự vui sớng hả hê, lúc lại thể hiện nỗi buồn rầu lolắng Để học sinh làm đợc điều này khi kể chuyện giáoviên cần kết hợp việc hớng dẫn học sinh tìm hiểu nội dungchuyện với việc gợi ý cho các em giọng kể của toàn câuchuyện, giọng kể của từng nhân vật trong chuyện
Tuy nhiên trong quá trình kể chuyện, ngời kể phải ýthức đợc rằng dù kể lại bất kỳ một hình thức truyện kể nào,
dù là truyện có sẵn hay truyện sáng tạo thì cũng chỉ là ngời
kể lại nội dung truyện chứ không phải là nhân vật chínhtrong truyện đó, vì vậy không thể biến giờ Kể chuyệnthành giờ diễn kịch
1.1.2 Đặc điểm của đối tợng học sinh lớp 1, 2, 3.
Nghiên cứu đối tợng học sinh là một hoạt động có tínhchất s phạm đầu tiên mà ngời giáo viên cần làm Việc tìmhiểu một số đặc điểm về mặt tâm lý lứa tuổi, về nhậnthức và vốn tích luỹ của trẻ, về mặt t duy và ngôn ngữ làhết sức cần thiết để xác định phơng hớng lên lớp của bất kỳ
Trang 13môn học nào, trong đó có phân môn Kể chuyện, cụ thể làviệc phát triển các kỹ năng nghe, kể cho học sinh qua phânmôn này
1.1.2.1 Đối tợng học sinh lớp 1.
1.1.2.1.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi
Đối với học sinh lớp 1 việc đến trờng là bớc ngoặt vĩ đạitrong cuộc đời các em Trớc tuổi đi học, các em có thể làmquen với các thao tác học tập một cách tự giác hoặc không tựgiác ở một mức độ nhất định nhng không cơ bản Chỉ khibớc chân vào học thực thụ trong nhà trờng, các em mới thực
sự khép mình vào trong một hoạt động mới - hoạt động họctập, một kỷ luật mới - kỷ luật học tập Việc bắt đầu học tập
đem lại những thay đổi căn bản trong toàn bộ cuộc đời củatrẻ Tuổi thơ ấu vô t đã chấm dứt Việc học tập là bắt buộc,
đòi hỏi ở trẻ một trách nhiệm và sự tổn phí lao động nhất
định Các em phải đi học đúng giờ, hết tiết học mới đợc rachơi, phải mang đầy đủ sách giáo khoa, vở viết, phấn vàbảng, bút và mực, các em phải học bài và học chép vần tạilớp, trả lời câu hỏi hoặc tham gia các hoạt động học tập cótính chất nhanh trí tại lớp
Mặc dù những hoạt động học tập có tính chất "bắtbuộc" và "vất vả" nh vậy, song hầu hết ở trẻ em lớp một đều
có tính hng phấn cao về mặt cảm xúc Các em học sinh lớp 1rất ham hiểu biết, khát khao tìm hiểu các hiện tợng thiênnhiên, các hiện tợng về đời sống con ngời và biết bao lĩnhvực nhận thức khác Một lời nói sâu sắc, một câu chuyện kểhấp dẫn gây nên một tiếng vọng trong tâm hồn các em vàtạo cho các em những tiền đề thuận lợi trong việc hình
Trang 14thành nhân cách, hình thành những tình cảm đạo đức caocả nh tình cảm gia đình, tình yêu Tổ quốc
Nhìn chung các em học sinh lớp 1 có nhu cầu cao trongviệc giao tiếp với ngời lớn (đặc biệt là với thầy giáo, cô giáo)
và với bạn cùng lớp, có tính bắt nhạy những ảnh hởng giáo dụccủa ngời lớn, thực hiện một cách tận tình những nhiệm vụkhác nhau mà giáo viên yêu cầu Có nhiều trờng hợp các emhọc sinh lớp 1 thực hiện các nhiệm vụ cô giáo, thầy giáo yêucầu ở trờng cần mẫn hơn cả việc thực hiện các yêu cầu docha mẹ đề ra Ngợc lại nếu ngời giáo viên không chú ý tới tínhhng phấn cao về mặt cảm xúc của đối tợng học sinh lớp 1thì rất dễ làm cho các em nẩy sinh những biểu hiện tiêu cựctrong học tập và nhân cách, gây nên những hậu quả lâudài, có khi theo suốt cuộc đời các em
1.1.2.1.2 Đặc điểm về mặt nhận thức và vốn tích luỹ.Chỉ có trẻ vừa mới sinh mới không nhận thức đợc gì vàtích luỹ đợc gì Còn trớc tuổi đi học, trẻ đã có một số nhậnthức về thế giới và vốn tích luỹ khá lớn, nghĩa là việc "họctập" của các em đợc tiến hành khá sớm, mặc dù đợc tiến hànhtrong những điều kiện rất khác biệt với điều kiện nhà trờng.Trẻ đã có những biểu tợng (hiểu biết về hình dáng, màusắc, tính chất, công dụng) nhất định về các sự vật, cáchiện tợng tự nhiên và cuộc sống, về con ngời và những mốiquan hệ của con ngời, về kỹ năng lao động Trẻ biết quansát, nghe ngóng, nói năng, kể chuyện, biết đếm từ 1 đến
10, từ 10 đến 20, biết đọc thơ, vẽ, hát
Để quá trình dạy học ở nhà trờng phổ thông đợc tiếnhành tốt hơn, ngời giáo viên phải làm cho việc dạy học ở lớp 1
Trang 15là quá trình tiếp tục sự phát triển và hoàn thiện những nhậnthức và vốn tích luỹ ban đầu của trẻ hợp với quy luật nhậnthức và tích luỹ của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo Về thực chất dạyhọc ở lớp 1 là tiếp tục việc dạy học ở lứa tuổi mẫu giáo ở mẫugiáo, trẻ đã có dịp làm quen với chữ cái và toán qua hình vẽthì ở lớp 1 các em học sinh học vần, học toán; ở mẫu giáo trẻ
đã đợc nghe cô kể chuyện thì ở lớp 1 trẻ đợc học kể chuyện.Quá trình tri giác các biểu tợng (tri giác là hoạt động phản
ánh trọn vẹn và nhiều mặt các thuộc tính của sự vật và hiệntợng khi chúng trực tiếp tác động vào các cơ quan thụ cảm)của trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo sẽ đợc tiếp tục phát triển và hoànthiện ở lớp 1 và các lớp tiếp theo Trong sự nhận thức và vốntích luỹ ban đầu của trẻ trớc tuổi đi học có những lệch lạc
và tiêu cực nhất định (nói năng thô lỗ, sự nghịch ngợm quátrớn, dùng từ không chính xác), thông qua các môn học nóichung và phân môn Kể chuyện nói riêng, ngời giáo viên dạylớp 1 cần điều chỉnh lại cho các em
1.1.2.1.3 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ và t duy
Nói ngôn ngữ và t duy của học sinh lớp 1 cha phát triển
và ít phát triển là một cách nói chung chung Theo sự nghiêncứu hiện nay với trẻ 2 tuổi vốn ngôn ngữ có khoảng 400 từ,với trẻ 3 tuổi vốn từ phát triển nhanh chóng và có thể đạt
đến 1000 từ Từ năm thứ năm đến năm thứ bảy, quá trìnhhình thành chức năng ngôn ngữ kết thúc về cơ bản
Nói đến ngôn ngữ của trẻ, trớc hết nói đến cách phát
âm, cách chọn lựa từ và cách dùng từ Về mặt phát âm, trừnhững em có dị tật trong bộ máy phát âm, còn nói chungngời lớn (cha mẹ, cô giáo mẫu giáo ) có thể luyện cho các
Trang 16em cách phát âm đúng Về cách chọn lựa từ ở lứa tuổi họcsinh lớp 1, quá trình này vẫn tiếp tục Do việc không hiểunghĩa và sắc thái của từ, do biểu tợng bằng hình ảnh cụ thểnên có em dùng từ sai mà nghe rất thú vị Ví dụ: Có em đợc
mẹ cho về quê chơi, đến khi ngời lớn hỏi "nhà bà có cái gì?"thì em đó trả lời "nhà bà có một đàn cây chuối, một đàn
xu hào" Lại có em xem tranh, tranh vẽ anh bộ đội vác súng,mang bi đông, đeo ba lô, em đó nhận xét: "Khẩu súng ngồitrên vai anh bộ đội, bi đông đi trớc, còn ba lô thì theo sau"
ở đây những từ "đàn", "ngồi", "đi trớc", "đi sau" vì khônghiểu nghĩa của từ nên các em đã chọn lựa sai Còn cách dùng
từ, tức là cách đặt câu (cú pháp) mang ý nghĩa ngữ phápthì nhiều em cha biết cách sắp xếp theo thứ tự C - V Khánhiều em bớc vào tuổi học lớp 1 còn đòi "mệ bắt đền con
đi" (thực ra là "con bắt đền mẹ đấy") hoặc "bách hoá cửa
đóng hả mẹ ?" (thực ra là "bách hoá đóng cửa hả mẹ ?").Những sai lệch về mặt ngôn ngữ này sẽ đợc sửa chữa tronghoạt động vui chơi và học tập của trẻ Đặc biệt, phân môn
Kể chuyện có vai trò lớn trong việc phát triển vốn ngôn ngữthông qua việc các em đợc nghe cô kể và đợc trực tiếp kểhàng trăm câu chuyện trong chơng trình
Phân môn Kể chuyện có khả năng góp phần phát triển
t duy của trẻ thông qua việc nhận biết ý nghĩa câu chuyện,tính chất thiện, ác, đúng, sai của các nhân vật trong truyện,nhận biết ý nghĩa của từ và cách sử dụng từ trong kểchuyện
1.1.2.2 Đối tợng học sinh lớp 2, 3.
1.1.2.2.1 Đặc điểm phát triển tâm lý lứa tuổi
Trang 17Học sinh lớp 2, 3 hiện nay có độ tuổi từ 7 đến 9 tuổi.Tuổi của các em là tuổi đang phát triển thể chất, hệ cơ x-
ơng phát triển nhanh, đồng thời cũng có sự thay đổi cơ bản
nh việc thay hệ răng sữa bằng hệ răng xơng vĩnh viễn Nétphổ biến ở các em 7 tuổi trai cũng nh gái là có hàm răng
"mở cửa" Việc thay đổi này ban đầu có làm các em lolắng, nhng khi đợc giải thích các em lại thấy đó là sự bìnhthờng, vì bạn nào cũng có hàm răng "mở cửa" nh vậy cả Tuynhiên việc thay răng của các em có ảnh hởng một phần nàotới sự phát âm, vì hơi tự do phát ra từ vị trí răng khuyết Vìvậy, việc nói năng của các em có thể bị "ngọng" nhất thời.Giáo viên cần nắm đợc đặc điểm này để có những uốnnắn cần thiết
Về mặt tâm lý, các em học sinh lớp 2, 3 không còn lànhững đứa trẻ nữa mà là những đội viên nhi đồng Nhiều
em lên lớp 3 bắt đầu đợc quàng khăn đỏ Trong sinh hoạt, vuichơi, học tập, các em không phụ thuộc nhiều vào sự chỉ bảodẫn dắt của bố mẹ hoặc anh chị trong gia đình mà tự lực
tổ chức trò chơi Hầu hết các em đều chững chạc hơn hẳncác em học sinh lớp 1 hoặc lớp mẫu giáo lớn Một số em khá cóthể dạy lại bài ở lớp cho các em học sinh lớp dới Các em chahẳn là thiếu niên, nhng không còn là trẻ con nữa; nét hngphấn học tập từ lớp 1 còn đợc giữ vững và phát triển ởnhững em học kém hoặc bố mẹ ít quan tâm thì điều đóngợc lại Đồng thời những biểu hiện tiêu cực cũng bắt đầunảy sinh nếu không đợc uốn nắn kịp thời
1.1.2.2.2 Đặc điểm phát triển nhận thức, năng lực họctập
Trang 18Trải qua một năm học theo quy chế chính khoá, các emhọc sinh lớp 2, 3 đã tự xác định đợc kỷ luật học tập nh đi học
đúng giờ, học bài và làm bài tại lớp, giữ trật tự, nghe giáo viênhớng dẫn học bài mới Các em biết đọc, biết viết chậm hoặcchép theo bảng, biết nhận xét, tính toán Năng lực t duy vàngôn ngữ đều có bớc phát triển Ghi nhớ chủ định nảy sinhxen kẽ với năng lực ghi nhớ máy móc Qua một năm học tập, các
em tích luỹ đợc một số vốn tri thức các môn học, rèn luyện
đợc một số kỹ năng nhất định, đặc biệt là kỹ năng đọc, kỹnăng viết Riêng về phân môn Kể chuyện các em học sinh lớp
2 đã đợc nghe và phần nào tập kể 27 truyện kể các loại Tuynhiên do việc mới từ lớp 1 lên lớp 2, năng lực đọc và viết của
em còn nhiều hạn chế Hầu hết các em còn đọc chậm vìkhả năng ghép vần, viết chữ chậm, cha thuần thục, cơ taycòn yếu
ở lớp 3 tình hình có thuận lợi hơn vì bớc chập chững ấy
sẽ không còn diễn ra nữa ở lớp 3 các em học sinh có đủ điềukiện hoàn thiện những kỹ năng còn chập chững ở lớp 2 Nhngcũng nh ở lớp 2, các em học sinh lớp 3 vẫn cha có bớc phát triển
đột biến, nhảy vọt so với lớp 1 Quá trình phát triển về nhậnthức, năng lực học tập vẫn là một quá trình tịnh tiến và đócũng là lý do để có thể xếp học sinh lớp 2, 3 thành một khốilớp chung, một loại đối tợng khảo sát chung
1.1.3 Đặc điểm kỹ năng nghe, nói.
1.1.3.1 Kỹ năng nghe
Nghe là một hoạt động nhận tin nhờ bộ máy thính giác
Đầu tiên ngời nghe phải nghe chính xác, đầy đủ thông báo
Trang 19Sau đó nhờ các hoạt động của t duy mà chúng ta hiểu đợcnội dung các thông báo.
Căn cứ vào các kiều giao tiếp chúng ta có hai hình thứcnghe: nghe đối thoại (trong kiểu giao tiếp hội thoại) và nghe
độc thoại (trong kiểu giao tiếp truyền, phát tin)
Nghe đối thoại và nghe độc thoại bên cạnh những đặc
điểm giống nhau: cùng phụ thuộc vào chất lợng âm thanh,tiếng ồn, độ chú ý hay phân tán của ngời nghe, còn cónhững đặc điểm riêng:
- Nghe đối thoại: Ngời nghe đối thoại là ngời trong cuộc,
là ngời góp phần xác lập nội dung cuộc hội thoại luôn luôn có
sự đổi vai từ ngời nghe sang ngời nói hoặc ngợc lại
- Trong đối thoại, đề tài có thể đợc xác định trớc (cókhi tuỳ hứng của những ngời tham gia) song nội dung cụ thểluôn luôn phát triển, biến đổi trong suốt cuộc hội thoại Điềunày đòi hỏi ngời nghe phải theo sát cuộc hội thoại từng giây,từng phút, phải hiểu nhanh mọi thông báo để có những ứng
đối ) ngời nghe sẽ ảnh hởng đến ngời nói buộc họ phải
điều chỉnh nội dung hoặc cách nói
Trang 20Sống trong cộng đồng, con ngời phải dùng kỹ năng nghethờng xuyên (khi giao tiếp, sinh hoạt, học tập, làm việc ).Song nếu không đợc rèn luyện, kỹ năng nghe không pháttriển và không trở nên thành thục, con ngời sẽ gặp khó khăntrong giao tiếp với mọi ngời Tiếng Việt có thành ngữ "nghe
nh vịt nghe sấm" để chỉ những ngời dù tai không bị hỏngnhng không hiểu đợc điều đã nghe Nhiều trờng hợp nghechỉ hiểu một phần, thậm chí không hiểu, hoặc có hiểu thìkhông thấu đáo đầy đủ, không hiểu biết sự tinh vi, tinh tếcủa lời ngời nói Chính vì vậy việc rèn luyện cho học sinh kỹnăng nghe ngay từ trờng tiểu học là rất cần thiết
Để có thể nghe tốt, ngời nghe cần phải:
- Có bộ máy thính giác tốt Nếu phát hiện học sinh cókhuyết tật cần gợi ý để gia đình đa các em đi chữa hoặc
sử dụng các phơng tiện kỹ thuật nghe (máy nghe ) Đồngthời giáo viên cần có thái độ ân cần với các học sinh cá biệtnày (chọn chỗ ngồi thích hợp, có sự hớng dẫn riêng, giáo dụccác bạn có thái độ đúng mực )
- Tạo tâm thế sẵn sàng tiếp nhận thông tin Nói cáchkhác phải có sự hào hứng, có sự tập trung t tởng và hớng sựchú ý vào ngời nói để nghe cho hết, cho chính xác những
Trang 21Nghe kể chuyện là một trong nhiều hình thức nghe(nghe báo cáo, nghe tin tức trên đài ) Đối tợng của hình thứcnghe này là một văn bản nói mang tính nghệ thuật Do đóngời nghe không cần nhớ (nhân vật, tình tiết, chi tiết củacâu chuyện), cần hiểu (đề tài, chủ đề, ý nghĩa xã hội )
mà còn cần cảm đối với câu chuyện Họ đắm mình trongnhững cảm xúc thẩm mỹ do câu chuyện gây ra Họ rộng
mở tâm hồn mình để cảm nhận, rung động trớc số phậncủa các nhân vật, các cảnh ngộ xảy ra trong tác phẩm Do
đó nghe kể chuyện vừa phải vận dụng cả t duy lẫn cảm xúc,vừa huy động cả trí nhớ lẫn tình cảm Đây là điều đặc thùcủa kỹ năng nghe kể chuyện
Trong các phân môn của Tiếng Việt, Tập đọc, Chính tả
và Kể chuỵên có nhiều điều kiện để rèn kỹ năng nghe chohọc sinh Chính tả rèn cho học sinh nghe đúng, nghe chínhxác để viết lại đúng, chính xác bài chính tả Tập đọc rèncho học sinh nghe đúng, nghe chính xác và nghe tinh tế đểnhận ra sự diễn cảm trong giọng đọc của bạn Nhng Kểchuyện có u thế hơn cả trong việc rèn kỹ năng nghe Họcsinh không những đợc rèn luyện nghe đúng, chính xác màcòn đợc rèn luyện khả năng nghe hiểu nội dung câu chuỵên
để sau đó có khả năng tái tạo lại câu chuyện đó
Mặt khác, trong hai hình thức nghe: nghe độc thoại vànghe đối thoại, nhà trờng tiểu học hiện nay thờng chú trọngtới hình thức nghe độc thoại, coi nhẹ hình thức nghe đốithoại Phân môn Kể chuyện có khả năng khắc phục phầnnào nhợc điểm này của chơng trình Hình thức nghe đối
Trang 22thoại đợc rèn luyện cho học sinh qua bài tập phân vai dựng lạicâu chuyện.
1.1.3.2 Kỹ năng nói
Nói là hoạt động phát tin nhờ sử dụng bộ máy phát âm
Đầu tiên ngời nói phải xác định nội dung lời nói, lựa chọnngôn ngữ để diễn tả nội dung đó Sau đó ngời nói sử dụng
bộ mát phát âm để truyền đi chuỗi lời nói đã đợc xác định
Từ đặc điểm kiểu giao tiếp, ngời ta nói đến hai dạngnói: đối thoại và độc thoại Mỗi dạng có những đặc điểmriêng
- Đối thoại: Ngời nghe đối thoại là ngời tham gia vào quátrình xây dựng nội dung và diễn biến cuộc hội thoại Họluôn luôn có sự đổi vai, từ nói sang nghe hoặc ngợc lại Đốithoại đòi hỏi sự thích ứng nhanh khi đổi vai để có thểnhập ngay vào nội dung cuộc đối thoại
Lời đối thoại thờng ngắn gọn, các từ đa đẩy chêm xen
đợc sử dụng nhiều tạo cho câu văn, lời văn có phong cáchkhẩu ngữ Có sự hỗ trợ của các yếu tố phi ngôn ngữ nh điệu
bộ, cử chỉ, ánh mắt, giọng cời Trong nhiều trờng hợp, cácyếu tố phi ngôn ngữ giúp ngời nghe hiểu chính xác, đúng
đắn ý ngời nói và có tác dụng hấp dẫn ngời nghe
- Độc thoại: Ngời độc thoại thờng giữ vai trò chủ độngtrong việc lựa chọn nội dung, định hớng nói, trong việc xác
định phơng pháp nói Song ngời nghe, bằng cách phản ứngcủa mình, cũng có tác động ít nhiều đến ngời nói Ngời nóikhôn ngoan cần đón nhận các phản ứng này để sửa đổinội dung hoặc cách nói cho phù hợp
Trang 23Lời độc thoại thờng diễn ra liên tục do đó ngời nói ít cóthời gian ngừng nghỉ để chuẩn bị Điều này đòi hỏi ngời nóicần chuẩn bị kỹ lỡng nội dung (thậm chí cả ngôn từ, điệubộ ) trớc khi nói Sự chuẩn bị không chu đáo sẽ dẫn tới tìnhtrạng nói lộn xộn hoặc luống cuống không nói đợc.
Ngời độc thoại cũng có thể sử dụng các yếu tố phụ trợ
nh ánh mắt, điệu bộ, cử chỉ Điều cần nhớ là không nên lạmdụng để tự biến mình thành anh hề vụng về trên sânkhấu
* Kể chuyện, dạng đặc biệt của độc thoại
Kể chuyện là lời độc thoại mang tính chất nghệ thuật
về một văn bản mang tính thẩm mỹ Kỹ năng kể chuyện chỉ
có thể rèn luyện đạt kết quả trên cơ sở học sinh có kỹ năngnói tốt, rõ ràng Những ngời "ăn không nên đọi, nói không nênlời", "ấp úng nh ngậm hột thị" khó có thể kể chuyện hay
đợc Do đó muốn rèn luyện kỹ năng kể chuyện trớc tiên phảirèn luyện kỹ năng nói sao cho rõ ràng, khúc chiết, lu loát
Một yêu cầu quan trọng của kỹ năng kể chuyện là phảihấp dẫn, truyền cảm Ngời kể chuyện phải thu hút ngời nghevào câu chuyện, phải tạo cho ngời nghe cùng vui buồn, giậndữ, cảm thơng với diễn biến của số phận nhân vật, với cáctình huống và cảnh ngộ trong truyện Để tạo đợc sự hấp dẫn,truyền cảm phải:
+ Chọn đợc câu chuyện hay, có ý nghĩa nhân văn, cógiá trị nghệ thuật
+ Ngời kể phải có kỹ năng kể chuyện (nếu đạt đếnmức thành thục, điêu luyện là lý tởng nhất)
Trang 24Bên cạnh đó, yêu cầu ngời kể phải kể đúng, trungthành với nội dung câu chuyện, không bỏ sót những tìnhtiết, chi tiết quan trọng; và ngời kể phải nắm vững và hiểu
ý nghĩa câu chuyện
Kỹ năng kể chuyện bao gồm nhiều kỹ năng thành phầnnh: Kỹ năng sử dụng giọng điệu, thay đổi lời kể, lựa chọn
điểm ngừng, nghỉ, nhấn giọng, biết sử dụng các yếu tố phingôn ngữ, các đồ dùng minh hoạ để diễn tả nội dung câuchuyện
1.2 Cơ sở thực tiễn.
1.2.1 Thực trạng dạy học Kể chuyện ở các lớp 1, 2, 3.
Qua thực tế quan sát, dự giờ thăm lớp, chúng tôi đa ramột số nhận xét về thực trạng việc dạy và học Kể chuyện ởcác lớp 1, 2, 3 nh sau:
Do cha nhận thức đợc tầm quan trọng của giờ Kểchuyện nên phần lớn giáo viên cha giành cho tiết học này một
sự đầu t thích đáng Nhiều giáo viên vẫn lên lớp tiết Kểchuyện cha đúng phơng pháp đặc trng của bộ môn cũng
nh cha thực hiện đổi mới phơng pháp dạy học Điều này chủyếu do trình độ giáo viên còn hạn chế, do đó trong các giờ
Kể chuyện,giáo viên cha biết khai thác , lựa chọn hình thức
và phơng pháp dạy học phù hợp Nhiều giáo viên thờng tuỳtiện cắt xén nội dung tiết Kể chuyện và lên lớp tuỳ tiện theohứng thú của mình.Trong các tiết giảng dạy, các tiết Kểchuyện không đợc kiểm tra, đánh giá thờng xuyên Nóichung, phân môn Kể chuyện dờng nh bị coi là môn học phụ
Trang 25Chính vì lí trên nên việc phát triển kỹ năng nghe , kể chohọc sinh cha đợc chú trọng.
- ở lớp 1,việc giờ Kể chuyện không đợc giáo viên thựchiện đầy đủ là rất phổ biến Nguyên nhân chủ yếu là dogiáo viên cha nhận thức đợc đầy đủ vai trò của giờ Kểchuyện, giáo viên chỉ coi tiết Kể chuyện nh một hoạt độnggiải trí cho học sinh, vì thế giáo viên cắt xén tiết Kểchuyện để giành thời gian cho những môn học khác "quantrọng" hơn nh Tiếng Việt, Toán
Văn bản Kể chuyện ở lớp 1 không đợc in sẵn trong sáchgiáo khoa, các đặc điểm về nhận thức, vốn tích luỹ, khảnăng ngôn ngữ và t duy của học sinh lại còn nhiều hạn chếnên việc nghe và kể lại đợc một văn bản mang tính nghệthuật theo yêu cầu của giờ Kể chuyện đối với các em thực sự
là một khó khăn Vì thế vai trò hớng dẫn, tổ chức của giáoviên là yếu tố quyết định đối với kết quả học tập giờ Kểchuyện của học sinh Nhng trong thực tế, giờ Kể chuyện ở lớp
1 chỉ dừng lại ở việc học sinh nghe giáo viên kể lại câuchuyện, giáo viên hầu nh không tổ chức các hoạt động khác
nh hớng dẫn học sinh tìm hiểu tranh gợi ý để ghi nhớ ý chínhcủa câu chuyện, hớng dẫn học sinh tập kể chuyện, tổ chứccác trò chơi kể chuyện Để phát triển kỹ năng nghe, kểchuyện, tạo hứng thú học tập cho học sinh, giọng kể của giáoviên là một phơng tiện trực quan đa học sinh đến với câuchuyện, gây hứng thú, hồi hộp ở học sinh, là cơ sở để các
em ghi nhớ câu chuyện Nhng cả yếu tố này cũng cha đợcgiáo viên chuẩn bị một cách chu đáo Giáo viên kể mẫu câuchuyện nhng lại với giọng kể tẻ nhạt, thiếu hình ảnh, đôi khi
Trang 26còn kể nhầm, kể sai các chi tiết trong truyện Nguyên nhân
là do giáo viên không nắm vững truyện, không tập kể từ trớc
Do đó dẫn đến tình trạng nhiều học sinh gần hết năm họclớp 1 nhng không nhớ nổi một câu chuyện, không kể lại đợcmột câu chuyện nào trong chơng trình
Đối với lớp 2, 3, tiết Kể chuyện đợc xếp liền sau tiết Tập
đọc, văn bản truyện kể chính là nội dung bài tập đọc trớc
đó Đặc điểm này tạo nhiều thuận lợi, nhng cũng gây nhiềuhạn chế cho quá trình dạy học Kể chuyện Do đã tìm hiểutrong tiết Tập đọc trớc nên trớc giờ Kể chuyện, học sinh đãnắm đợc nội dung, ý nghĩa của câu chuyện Đây là mộtthuận lợi đối với giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học
Kể chuyện, giáo viên không phải mất thời gian hớng dẫn họcsinh tìm hiểu một văn bản truyện kể hoàn toàn mới và cóthể giành nhiều thời gian để hớng dẫn học sinh tập kể lạicâu chuyện Nhng đặc điểm này cũng gây tâm lý ỷ lại ởcả học sinh và giáo viên Giờ Tập đọc học sinh chỉ lo họcthuộc lòng bài đọc để Kể chuyện có thể kể lại y nguyêncâu chuyện, để đợc cô giáo và các bạn khen ngợi Giáo viênvì cho rằng học sinh đã tìm hiểu câu chuyện trong giờ Tập
đọc, lại thấy một số học sinh đã kể lại đợc câu chuyện nêngiờ Kể chuyện chỉ thực hiện là gọi học sinh lên kể lại toàn bộcâu chuyện Cách dạy học nh vậy làm học sinh kể nhngkhông nắm đợc các chi tiết, ý chính của từng đoạn truyện,cả câu chuyện, các em kể nh đọc lại văn bản, không có sựphân biệt ngôn ngữ, giọng điệu khi kể và khi đọc Cũngchính dựa trên việc học thuộc lòng văn bản nên trong quátrình kể chỉ cần quên một từ là học sinh ngắc ngứ, không
Trang 27kể tiếp đợc Mặt khác với cách tổ chức này cũng chỉ rất íthọc sinh đợc tham gia kể chuyện, chỉ những em đã thuộccâu chuyện, tích cực mới đợc gọi kể Và giờ Kể chuyện chỉgiành cho một số ít học sinh khá, giỏi.
Với những tồn tại của học sinh cũng nh giáo viên đã nói ởtrên, cần có những biện pháp tích cực để khắc phục đồngthời nâng cao chất lợng của giờ Kể chuyện, phát triển kỹnăng nghe, kể chuyện cho học sinh
1.2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên trong dạy
tr-Nội dung phiếu trắc nghiệm gồm 5 câu hỏi Chúng tôi
đánh giá điểm số trong mỗi giáo viên từ 1 đến 5 nghĩa làthang điểm tối đa là 5 nếu trả lời đúng 5 câu, 4 nếu trả lời
Trang 28Từ bảng trên ta thấy một cách trực quan số giáo viên đạt
điểm 4 là 9, điểm 3 là 16, điểm 2 là 15, điểm 1 là 6 vàkhông có giáo viên nào đạt điểm 5 Cụ thể, tỉ lệ giáo viên
đạt các điểm từ 1 đến 4 so với tổng số giáo viên tham giatrắc nghiệm tính ra phần trăm nh sau:
Công thức:
Đối với điểm 1 là:
Đối với điểm 2 là:
Đối với điểm 3 là:
Đối với điểm 4 là:
Nh vậy, số giáo viên đạt điểm 3 chiếm tỉ lệ lớn nhất( 34,78%), số giáo viên đạt điểm 4 chiếm tỉ lệ tơng đốithấp (19,56%) Điều này cho thấy số giáo viên nhận thức sâusắc về dạy Kể chuyện ở tiểu học rất ít Phần đa các giáoviên chỉ nhận thức về vấn đề này ở mức hời hợt, nguyênnhân là do giáo viên cha thực sự chú trọng đến việc dạy Kểchuyện Vấn đề nhận thức lí luận và khả năng khái quáttrong quá trình thực hành giảng dạy của giáo viên rất mơ hồ:
từ việc xác định nhiệm vụ cơ bản của phân môn Kểchuyện cũng nh việc sử dụng các phơng pháp dạy học trongquá trình lên lớp Điều này đợc chứng tỏ qua việc xác định
điểm trung bình cộng của kết quả điều tra nhận thức củagiáo viên:
Trang 29So với điểm tối đa mà các giáo viên đạt đợc là 4 thì tathấy điểm trung bình cộng còn quá thấp.
Nh vậy, cả bằng phơng pháp quan sát thực tiễn và
ph-ơng pháp điều tra bằng trắc nghiệm test, chúng tôi rút rakêt luận chất lợng dạy học Kể chuyện hiện nay rất thấp, việcphát triển kĩ năng nghe, kể cho học sinh lớp 1, 2, 3 cha đợcchú trọng
Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi đi sâu vàonghiên cứu :
Phát triển kĩ năng nghe, kể cho học sinh lớp 1, 2, 3 qua phân môn Kể chuyện
1.2.3 Chơng trình sách giáo khoa Kể chuyện
1, 2, 3 với việc phát triển kĩ năng nghe, kể cho học sinh.
1.2.3.1 Chơng trình Kể chuyện tiểu học 2000 mang tínhtích hợp triệt để
Trong môn Tiếng Việt, tính tích hợp đợc thể hiện rõ vì
đặc trng của phân môn này mang tính chất phức hợp: nóvừa là đối tợng học tập, vừa là công cụ để học tập, t duy vàgiao tiếp trong cuộc sống hàng ngày Do vậy, nó cần phải đ-
ợc thực hành luyện tập thờng xuyên trong tất cả mọi tìnhhuống
Kể chuyện là một phân môn nằm trong môn Tiếng Việtnên nó cũng đợc xây dng theo quan điểm này Cụ thể:
1.2.3.1.1 Về nội dung kiến thức:
* ở lớp 1, nhất là giai đoạn học vần, học sinh cha biết
đọc, biết viết nên nội dung của bài kể chuyện có mục đíchgiúp học sinh ôn tập, củng cố các âm vần, dấu thanh mà học
Trang 30sinh đã học trong tuần Điều này đợc thể hiện cụ thể: trongnội dung câu chuyện có chứa các âm vần, dấu thanh vàcâu, từ ứng dụng mà học sinh vừa học Thông qua lời kể củagiáo viên, học sinh nghe và dựa vào tranh đẻ kể lại nội dungcâu chuyện, do vậy ngẫu nhiên học sinh đã nói và phát âm
đợc các đơn vị ngôn ngữ đó
Ví dụ: Bài Kể chuyện đầu tiên trong chơng trình lớp 1
có tiêu đề: Hổ (trang 25) Trong từ "hổ" có chứa thanh (?),
âm ô mới học Do đó, khi giáo viên tập cho học sinh đọc tiêu
đề của truyện, các đơn vị đó đợc củng cố một cách nhẹnhàng, hiẹu quả cao
*Lên lớp 2, 3 ngữ liệu đợc dùng trong giờ Kể chuyện lấynội dung từ bài Tập đọc trớc đó Mục Kể chuyện chỉ trìnhbày dới dạng kênh hình, kênh chữ chỉ có phần câu hỏi gợi ý
để học sinh dựa vào đó và các tranh vẽ để kể lại nội dungcâu chuyện Đặc điểm này đòi hỏi học sinh phải có khảnăng ghi nhớ, khả năng đọc hiểu, biết quan sát, liên tởng, biếtdựa vào những điểm tựa đặc biệt để tái hiện lại nội dungvăn bản cần kể Do đó, giờ Kể chuyện góp phần củng cố trithức và kỹ năng sử dụng tiếng Việt của học sinh một cáchtích cực
Nguyên tắc tích hợp khi xây dựng chơng trình mônTiếng Việt ở tiểu học còn thể hiện ở chỗ tất cả nội dung củamôn học này đều nằm trong một chủ đề nhất định và đợcdạy trong vòng 2 tuần Điều này tạo điều kiện thuận lợi choviệc củng cố tri thức giữa các phân môn với nhau, giúp chohọc sinh nắm chắc, khắc sâu hơn từng mảng kiến thức
1.2.3.1.2 Về yêu cầu rèn luyện kỹ năng
Trang 31Ngữ liệu đợc sử dụng để dạy Tiếng Việt là các văn bảndùng trong đời sống, là các tác phẩm hợăc trích đoạn tácphẩm văn chơng tiêu biểu Thông qua những ngữ liệu nàyhọc sinh vừa đợc mở rộng hiểu biết về tự nhiên xã hội, vănhóa và văn học vừa rèn luyện đợc các kỹ năng sử dụng tiếngViệt: đọc, nghe, nói, viết Cụ thể yêu cầu kỹ năng đối vớitừng lớp nh sau:
Lớp 1:
- Kỹ năng nghe: nghe - hiểu một câu chuyện ngắn cónội dung thích hợp với học sinh lớp 1
- Kỹ năng nói: nói thành bài học sinh tập kể lại từng
đoạn rồi toàn bộ câu chuyện
ở giai đoạn học vần cha yêu cầu học sinh kể lại, chỉ vớihình thức giáo viên đặt câu hỏi để học sinh tìm hiểu
Lớp 2:
- Kỹ năng nghe: theo dõi đợc câu chuyện bạn kể để kểtiếp hoặc nêu ý kiến bổ sung, nhận xét, nghe và kết hợpnhịp nhàng với bạn trong hoạt động kể chuyện theo vai
- Kỹ năng độc thoại: kể lại câu chuyện đã đọc hay đã
đợc nghe trong những mức độ khác nhau Cụ thể:
+ Kể từng đoạn và kể toàn bộ câu chuyện
+ Kể theo lời kể trong văn bản và kể bằng lời củamình
- Kỹ năng đối thoại: tập dựng lại câu chuyện theo cácvai khác nhau, bớc đầu biết sử dụng các yếu tố phụ trợ tronggiao tiếp (nét mặt, cử chỉ, điệu bộ)
1.2.3.1.3 Về hình thức cấu tạo
Trang 32Nội dung chơng trình phân môn Kể chuyện tiểu học
2000 đợc đa vào chung trong một quyển gọi là Tiếng Việtcùng với các phân môn khác của bộ môn này Nghĩa là phânmôn Kể chuyện không có sách giáo khoa riêng mà nằm trongmột bản thể duy nhất là sách Tiếng Việt Việc đa nội dungphân môn kể chuyện vào cùng một cuốn sách với các phânmôn khác tạo ra sự thống nhất, gắn bó và tầm quan trọngcủa từng phân môn là nh nhau, có tác dụng tơng tác hỗ trợlẫn nhau trong từng chủ đề và trong suốt quá trình dạy học
1 2.3.2 Văn bản kể chuyện phong phú đa dạng
Chơng trình Kể chuyện tiểu học 2000 có nội dung kểphong phú, đa dạng Ngoài các thể loại văn học dân gian(60,9%) thì chơng trình còn có nhiều thể loại khác nh vănbản khoa học, hành chính - công vụ, báo chí, hài hớc… đặc
điểm này giúp trẻ rèn luyện kỹ năng nghe, kể chuyện trênnhiều thể loại văn bản Cụ thể:
Bảng phân loại chơng trình- sách giáo khoa Kể chuyệntiểu học 2000
Loại truyện Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 TổngThần thoại - truyền thuyết 2 3 0 5
Truyện ngời tốt - việc tốt 2 12 10 24
Trang 33Từ bảng phân loại trên ta thấy trong chơng trình Kểchuyện tiểu học 2000 truyện dân gian vẫn chiếm tỷ lệ caonhất (60,9%) nhng phần nào đã đảm bảo đợc sự phù hợp giữa
tỷ lệ các loại truyện dùng để kể cho học sinh, đảm bảo đợcnguyên tắc chú ý đến đặc điểm tâm lý của học sinh tiểuhọc là yêu thích truyện dân gian và phát huy đợc tác dụngcủa truyện dân gian trong việc giáo dục học sinh Sự phân bốcác thể loại truyện dân gian không thiên lệch quá về một loạitruyện đã tránh đợc tình trạng thái quá giữa các loại truyện :truyện cổ tích (17 truyện), truyện ngụ ngôn (24 truyện),thần thoại- truyền thuyết (5 truyện), truyện vui (5 truyện),truyện cổ nớc ngoài (2 truyện)
Từ bảng trên ta cũng thấy số lợng các loại truyện khoahọc, truyện vui quá ít, mặc dù các loại truyện này có tác dụngrất tốt trong việc kích thích lòng ham mê nghiên cứu khoahọc, ảnh hởng đến sự hình thành các phẩm chất đạo đức
và nhân cách của ngời học
- Thời gian giành cho môn Kể chuyện so với các phânmôn khác của môn Tiếng Việt ít hơn nhiều Hầu hết cácphân môn khác của môn Tiếng Việt đợc học từ 2 đến 3vòng trong tuần, sau đó mới đến tiết Kể chuyện ở giai
đoạn Học vần, Kể chuyện cha có tiết học riêng mà đợc dạyvào bài ôn tập trong tuần với khoảng thời gian 15 phút Từ giai
đoạn Luyện tập tổng hợp thì Kể chuyện mới có tiết dạy họcriêng độc lập với các môn học khác, với số lợng 1 tiết/ 1 tuần( trong tổng số 8 tiết/1 tuần ở lớp 1 và 9 tiết/ 1tuần ở lớp 2, 3của môn Tiếng Việt : 3 tiết Tập đọc, 2 tiết Chính tả, 1 tiết
Trang 34Tập viết, 1tiết Luyện từ và câu, 1tiết Tập làm văn và 1 tiết
Kể chuyện.)
- Ngữ liệu dùng trong chơng trình Kể chuyện tiểu học
2000 rất phong phú và đa dạng với đầy đủ các thể loạitruyện : thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện vui,truyện danh nhân…Những truyện đợc đa vào chơng trình
có gía trị nghệ thuật cao và có tác dụng tốt trong việc giáodục học sinh, đợc lấy từ bộ sách cải cách giáo dục và một sốnguồn khác, nhng có sự sắp xếp lại với cách thể hiện kết hợpchặt chẽ giữa kênh hình và kênh chữ Cụ thể :
+ ở lớp 1 ngữ liệu dùng để kể chủ yếu là truyện ngụngôn ( 15 truyện ) và truyện cổ tích ( 4 truyện ) Các truyệnnày phần văn bản chỉ đợc in trong sách giáo viên, còn sáchgiáo khoa chỉ có kênh hình là các tranh vẽ thể hiện cốttruyện một cách cụ thể, sinh động và các câu hỏi gợi ý, họcsinh dựa vào đó để nhớ và kể lại nội dung câu chuyện trongtừng tranh vẽ So với chơng trình Cải cách giáo dục trớc đâythì nội dung truyện kể chơng trình 2000 khác hẳn, chỉ cómột truyện truyền thuyết đợc giữ lại là truyện Thánh Gióng,nhng nó cũng đợc đổi thành truyện “ Tre ngà “, số còn lại làcác truyện mới dới dạng các mẩu chuyện
+ Lớp 2, 3: ngữ liệu dùng để kể gắn liền với bài tập
đọc trớc đó, do vậy cứ sau mỗi bài tập đọc đầu tuần sẽ cómột bài kể chuyện tơng ứng Thể loại truyện dùng để kểchủ yếu là truyện ngời tốt việc tốt, truyện ngụ ngôn trong n-
ớc và nớc ngoài
1.2.3.3 Hình thức bài tập kể đa dạng
Trang 35Chơng trình Kể chuyện tiểu học 2000 có các hìnhthức bài tập kể rất phong phú, đa dạng Ngoài hình thứcgiáo viên kể cho học sinh nghe rồi kể lại, còn có các hìnhthức khác nh: quan sát tranh và kể lại từng đoạn theo tranh,
kể lại toàn bộ nội dung câu chuyện theo lời nhân vật, phânvai dựng lại chuyện, tóm tắt truyện, sắp xếp các tranh vẽtheo đúng thứ tự câu chuyện…
Với các hình thức bài tập kể này chơng trình Kểchuyện tiểu học 2000 đã tạo ra một không khí học tập sôinổi, thoải mái và khai thác đợc nhiều kinh nghiệm sống, kếthợp rèn luyện đợc các kỹ năng, thao tác ngôn ngữ và t duy chohọc sinh
Đặc điểm này cùng với việc không in văn bản truyện kểtrong sách giáo khoa đã góp phần làm tăng thêm sự hứng thú,tâm trạng hào hứng chờ đợi giờ Kể chuyện ở học sinh, tạo raphong cách làm việc nhiệt tình và tự tin của giáo viên khi lênlớp Qua đó hiệu quả về mặt cung cấp tri thức và rèn luyện
kỹ năng cho học sinh đợc nâng cao hơn ở đây vai trò củangời giáo viên từ chỗ là ngời truyền đạt tri thức cho học sinhtrở thành ngời trọng tài, tổ chức, điều khiển hoạt động họctập của học sinh; học sinh giữ vai trò tích cực, chủ động đểchiếm lĩnh tri thức và rèn luyện kỹ năng, tránh đợc tình trạnggiáo viên phải làm việc một mình trong giờ Kể chuyện nh tr-
ớc đây
Các hình thức bài tập kể chuyện đợc sắp xếp, bố tríxen kẽ với nhau trong một tiết học Điều này tạo nên sự đadạng, phong phú trong hoạt động học, tận dụng đợc khả năng
Trang 36của mỗi học sinh, khắc phục đợc sự nhàm chán khi chỉ cónghe và kể lại một chiều nh trớc đây
Với chơng trình kể chuyện nh hiện nay thì không nhấtthiết giáo viên phải là ngời kể trớc nội dung câu chuyện ở lớp
2, lớp 3 khi văn bản kể chuyện chính là bài tập đọc trớc đóthì học sinh có thể là ngời kể trớc câu chuyện với giọng điệu,
cử chỉ… em đó cho là phù hợp với câu chuyện Điều này tránh
đợc sự áp đặt, bắt chớc của học sinh đúng theo cách kể củagiáo viên
* Các hình thức bài tập kể trong chơng trình Kể chuyệntiểu học 2000
Hình thức bài tập Lớp 1 Lớp 2 Lớp 3 TổngDựa theo tranh kể lại từng đoạn
Kể lại toàn bộ câu chuyện 0 12 13 25
Mợn lời nhân vật kể lại chuyện 0 4 9 13
Ví dụ: Tiếng Việt 2 Tuần 20 (tập 2, trang 15)
Chủ điểm: Bốn mùa Kể chuyện: Ông Mạnh thắng ThầnGió
Trang 371 Xếp lại thứ tự các tranh sau theo đúng nội dung câu
truyện Ông Mạnh thắng Thần Gió
2 Kể lại toàn bộ câu chuyện
3 Đặt tên khác cho câu chuyện
M: Ông Mạnh và Thần Gió
Từ việc sắp xếp, phân loại các bài tập Kể chuyện nhtrên, ứng với mỗi bài tập kể chuyện lại có những cách thức tổchức giờ học khác nhau để phát triển kỹ năng nghe, kể chohọc sinh
1.2.3.4 Kết hợp kênh hình với kênh chữ
Chơng trình Kể chuyện tiểu học 2000 đợc xây dựng kếthợp giữa kênh hình và kênh chữ với mức độ khác nhau ở từngkhối lớp Cụ thể:
* ở lớp 1, kênh hình hoàn toàn chiếm u thế: 100% cácbài kể chuyện đợc thiết kế dới dạng kênh hình ở cả phầnHọc vần và phần Luyện tập tổng hợp Kênh chữ chỉ có ở têncâu chuyện và các câu hỏi gợi ý sau mỗi tranh vẽ ở phầnLuyện tập tổng hợp
Sau khi nghe giáo viên kể nội dung câu chuyện 2 đến
3 lần, học sinh đợc hớng dẫn quan sát tranh và trả lời câu hỏigợi ý để nhớ và kể lại nội dung câu chuyện theo từng tranh vẽhay toàn bộ các tranh theo yêu cầu của bài học, tuỳ theo mức
độ nhận thức và khả năng thực tế của học sinh ở từng lớp học
cụ thể
ở lớp 1, kênh hình đợc bố trí nhiều hơn kênh chữ vìhọc sinh cha biết đọc thành thạo nên các văn bản truyện dàidòng thực sự là một khó khăn đối với các em Hơn nữa đặc
điểm tâm lý của học sinh tiểu học là thiên về hình ảnh trựcquan sinh động, nên nội dung câu truyện đợc cụ thể hóa bởicác tranh vẽ sinh động, ngộ nghĩnh, vui mắt, có tác dụng
Trang 38hấp dẫn trí tò mò của học sinh Lúc đó, hàng loạt câu hỏi
“vì sao?”, “nh thế nào” sẽ đợc nẩy sinh trong đầu các em.Muốn trả lời đợc các câu hỏi này các em phải chú ý lắngnghe, nhớ, hiểu, rồi suy luận liên tởng để kể lại nội dung câuchuyện một cách mạch lạc, từ đó phát huy đợc tính sáng tạo
độc lập của các em trong học tập, kỹ năng nghe nhớ, nghe hiểu câu chuyện của các em phát triển
-* ở lớp 2, 3, kênh hình vẫn đợc thiết kế ở tất cả các bàitập kể chuyện
Do đặc điểm nội dung truyện kể là nội dung của bàitập đọc trớc đó nên trong giờ Kể chuyện giáo viên không phải
kể lại mà chỉ cần sử dụng các câu hỏi để hớng dẫn học sinhnhớ lại các chi tiết chính của bài đọc, kết hợp với quan sáttranh vẽ rồi kể lại nội dung câu chuyện Các tranh vẽ ở đây
có vai trò là điểm tựa tâm lý, giúp các em khi quan sát tranhnhớ lại nội dung của ngữ liệu cần kể và kể theo yêu cầu củabài học
Tuỳ theo nội dung, tình tiết câu chuyện dài hay ngắn,
đơn giản hay phức tạp mà số lợng tranh vẽ nhiều hay ít Mỗibức tranh là một chi tiết quan trọng, mấu chốt để từ đó họcsinh có cơ sở để liên tởng, nhớ và kể lại câu chuyện ở lớp 2,
3 kênh chữ đợc bố trí ở văn bản của bài đọc, câu hỏi gợi ý vàcác yêu cầu khác của bài
Nh vậy sự kết hợp trình bày giữa kênh hình và kênhchữ của phân môn Kể chuyện trong sách giáo khoa tiểu học
2000 đã tránh đợc tình trạng khô cứng, nhàm chán, tạo ra
đ-ợc sự hứng thú trong học tập, sự mềm dẻo trong t duy và linhhoạt trong khả năng sử dụng ngôn ngữ của ngời học Nó vừaphù hợp với đặc điểm tâm lý của học sinh, vừa thực hiện đợc
Trang 39mục tiêu chú trọng rèn luyện kỹ năng nghe và kể cho họcsinh
Chơng 2: Các biện pháp dạy học nhằm phát triển kỹ năng nghe, kể cho học sinh các lớp 1, 2, 3
2.1 Yêu cầu chung đối với việc luyện tập kỹ năng tiếng Việt cho học sinh tiểu học.
2.1.1 Các kỹ năng sử dụng tiếng Việt là trọng tâm của chơng trình tiếng Việt tiểu học.
Xuất phát từ mục tiêu trên của môn học, các kỹ năng sửdụng tiếng Việt (đọc, viết, nghe, nói) trở thành trọng tâmhọc và luyện tập suốt bậc tiểu học Kỹ năng sử dụng tiếngViệt là một hệ thống kỹ năng đặc biệt, vừa liên quan đếncác hoạt động của bộ não, của t duy vừa liên quan đến hoạt
động của một số giác quan Nó mang tính hệ thống cao, là
hệ thống của các hệ thống Nó gắn liền với văn hoá ứng xử,mang đậm tính dân tộc, gắn với vốn kinh nghiệm, vốn hiểubiết của cá nhân Nó còn mang tính thực hành cao, gắn liềnvới các hoạt động lời nói, các tình huống giao tiếp
2.1.2 Luyện tập các kỹ năng sử dụng tiếng Việt trên hai phơng diện: gắn với hoạt động của các giác quan và gắn với hoạt động của t duy.
Đề cao việc học tập các kỹ năng sử dụng tiếng Việt là
điểm mới và cũng là điểm khó của chơng trình Để giảngdạy tốt các kỹ năng sử dụng tiếng Việt cần nắm đợc hai ph-
Trang 40ơng diện thông hiểu văn bản hoặc diễn đạt nội dung Mộtngời muốn nói hoặc viết đợc trớc tiên phải xây dựng nội dungcác thông báo (lập mã) sau đó truyền thông báo đi (bằng âmthanh hoặc chữ viết) Một ngời muốn nghe hoặc đọc đợc tr-
ớc tiên phải tiếp nhận đợc các thông báo (qua con đờng nghecác âm thanh hoặc đọc các chữ viết) sau đó phải giải mã
để hiểu đợc các nội dung chứa trong thông báo đó
Sự phân tích trên cho thấy: phơng diện kỹ thuật củamỗi kỹ năng nhằm thực hiện các bớc truyền thông báo đihoặc thu nhận thông báo Phơng diện này gắn liền với việc
sử dụng các giác quan của con ngời phục vụ cho việc trao
đổi thông báo Ngời nói hoặc viết dùng bộ máy phát âm đểtạo ra tiếng nói, dùng các cơ ngón tay, bàn tay, cánh tay phốihợp với các cơ quan vận động khác để tạo ra chữ viết, nhằmtruyền thông báo đi Ngời nghe hoặc đọc dùng tai và bộ máythính giác, dùng mắt và bộ máy thị giác (khi đọc to còn phốihợp với bộ máy phát âm) để thu nhận thông báo
Phơng diện thông hiểu nội dung hoặc diễn đạt đúngnội dung gắn liền với các hoạt động của bộ não Hàng loạtthao tác t duy đợc hành động (lựa chọn, phân tích, tổnghợp, khái quát, hệ thống ) để đa các ý cần nói hoặc viếtvào thông báo (khi lập mã) hoặc rút ra các ý gửi gắm trongthông báo (khi giải mã)
Rất khó tách rời hai phơng diện này trong kỹ năng nghehoặc nói, đọc hoặc viết Nhiều khi nội dung thông báo đợcgửi gắm ngay trong các động tác có tính chất kỹ thuật Lúc
đó ngời giải mã phải tìm hiểu đợc cả các nội dung đó Ví dụ
nh sự kéo dài giọng nói của một từ, một ngữ nào đó của