1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch ở vườn quốc gia pù mát luận văn tốt nghiệp đại học

86 821 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển du lịch ở vườn quốc gia pù mát
Tác giả Dương Thị Đông
Người hướng dẫn GVC. ThS. Nguyễn Thị Bình Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Du lịch
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến với VQG Pù Mát du khách không những được hòa mình vào thiênnhiên, với những thắng cảnh hấp dẫn du khách như thác Kèm, đập Phà Lài,sông Giăng, suối nước Mọc mà còn được tìm hiểu những

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 3

VINH - 2011

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu "Phát triển du lịch ở Vườn quốc gia Pù Mát" là khóaluận tốt nghiệp của tác giả Là sinh viên chuyên ngành du lịch, nhận thức rõvai trò của du lịch đối với phát triển kinh tế đất nước nói chung và VQG PùMát nói riêng Vì thế, qua đề tài nghiên cứu tác giả xin đề ra một số giải phápmong góp một phần nhỏ bé của mình cho phát triển du lịch của VQG Pù Mát

Khóa luận được hoàn thành là nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của Quý thầy

cô trong tổ bộ môn chuyên ngành Du lịch, Khoa Lịch sử, Trường Đại họcVinh Đặc biệt là Th.S Nguyễn Thị Bình Minh - Phó khoa Lịch sử - TrườngĐại học Vinh Cô đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hưỡng dẫnchỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện khóa luận Qua đây, tác giả xin gửi lờicảm ơn chân thành tới Cô và Quý thầy cô trong khoa

Tá giả xin được trân trọng cảm ơn tập thể cán bộ Vườn quốc gia PùMát, đặc biệt là các cán bộ Phòng Giáo dục môi trường và Du lịch sinh thái,Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế đã cung cấp những số liệu cần thiết, tạođiều kiện cho tác giả thực hiện khóa luận tại Vườn

Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè

đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2011

Tác giả

Dương Thị Đông

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢN ĐỒ, BẢNG 8

Nguồn: Phòng GDMT - DLST, Phòng KH - HTQT vườn quốc gia Pù Mát, năm 2010 8

LỜI MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài 11

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 12

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 12

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 12

6 Đóng góp của đề tài 13

7 Bố cục của đề tài 14

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT 15

1.1 Các khái niệm 15

1.1.1 Khái niệm du lịch 15

1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch 16

1.1.3 Khái niệm Vườn quốc gia 18

1.2 Khái quát chung về huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương 21

1.2.1 Lịch sử hình thành 21

1.2.2 Điều kiện tự nhiên 22

1.2.3 Điều kiện về kinh tế - xã hội 23

1.2.4 Truyền thống văn hóa 24

1.3 Khái quát về vườn quốc gia Pù Mát 25

1.3.1 Lịch sử hình thành vườn quốc gi Pù Mát 25

1.3.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của vườn quốc gia Pù Mát 27

1.3.3 Các sản phẩm du lịch của vườn quốc gia Pù Mát 28

Chương 2 HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT 30

2.1 Tài nguyên du lịch của vườn quốc gia Pù Mát 30

2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 30

2.1.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 41

2.1.3 Các điều kiện khác 48

2.2 Thực trạng hoạt động du lịch ở vườn quốc gia Pù Mát 52

2.2.1 Tình hình du khách đến tham vườn quốc gia Pù Mát 52

2.2.2 Các chương trình du lịch đã được khai thác 54

2.2.3 Doanh thu đạt được từ du lịch của vườn quốc gia Pù Mát 55

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT 57

3.1 Định hướng phát triển du lịch ở vườn quốc gia Pù Mát 57

3.2 Giải pháp phát triển du lịch ở vườn quốc gia Pù Mát 59

Trang 6

3.2.1 Giải pháp về lĩnh vực đầu tư để phát triển du lịch ở vườn quốc gia Pù Mát 59

3.2.2 Giải pháp đa dạng hóa chất lượng sản phẩm du lịch 66

3.2.3 Giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư 69

3.2.4 Đẩy mạnh xúc tiến quảng bá du lịch 70

71

3.2.5 Xác định thị trường khách du lịch 72

3.2.6 Giải pháp về tổ chức quản lý 73

3.2.7 Giải pháp bảo vệ môi trường du lịch 74

3.2.8 Giải pháp tuyên truyền quảng bá 76

3.2.9 Giải pháp chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương 77

3.2.10 Giải pháp tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tài nguyên du lịch 78

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 83

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

DLST Du lịch sinh thái

GDMT Giáo dục môi trường

IUCN Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới

KH - HTQT Khoa học - Hợp tác quốc tế

TC - KH Tài chính - Kế hoạch

TCHC- QT Tổ chức hành chính- Quản trị

TNDL Tài nguyên du lịch

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

UBND Ủy ban nhân dân

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp QuốcVQG Vườn quốc gia

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH, BẢN ĐỒ, BẢNG

Nguồn: Phòng GDMT - DLST, Phòng KH - HTQT

vườn quốc gia Pù Mát, năm 2010

Ảnh 1: Logo vườn quốc gia Pù Mát

Ảnh 2: Sao La trong vườn quốc gia Pù Mát

Ảnh 1: Logo VQG Pù Mát 25

Bản đồ 1: Vị trí VQG Pù Mát trong tỉnh Nghệ An 30

Ảnh 2: Sao La trong VQG Pù Mát 34

Ảnh 3: Cây Sa Mu dầu ở VQG Pù Mát 35

Ảnh 4: Danh thắng thác Khe Kèm ở VQG Pù Mát 35

Ảnh 5: Du thuyền trên sông Giăng 37

Ảnh 6: Cảnh quan VQG Pù Mát 41

Bản đồ 2: Bản đồ du lịch của VQG Pù Mát 52

Bảng 1 Bảng thống kê số lượng khách tham quan VQG Pù Mát năm 2007-2009 54

Bảng 2 Tổng doanh thu du lịch của VQG Pù Mát năm 2007-2009 56

Ảnh 7, 8: Du thuyền trên sông Giăng 83

Ảnh 9: Cảnh sắc Phà Lài 83

Ảnh 10, 11: Khung cảnh vườn quốc gia Pù Mát 84

Ảnh 12, 13: Một số loài động vật trong vườn quốc gia Pù Mát 85

Ảnh 16: Du khách tham quan nhà cụ Vi Văn Khang ở VQG Pù Mát 86

Trang 9

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Du lịch là tấm vé thông hành của hòa bình, là sứ giả của tình đoàn kết,hữu nghị, hợp tác giữ các quốc gia dân tộc Trên thế giới du lịch được xem làmột trong những ngành kinh tế hàng đầu, là ngòi nổ để phát triển kinh tế,doanh thu từ du lịch cao, tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho người laođộng Gần nửa thập niên hình thành và phát triển, đặc biệt từ năm 1990, dulich Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc nhanh chóng Du lịch đãlàm thay đổi hình ảnh của đất nước, mang thế giới vào Việt Nam và đưa hìnhảnh Việt Nam ra thế giới Có thể thấy, du lich đã và đang nhận được sự quantâm lớn khi mà ống khói của các nhà máy, xí nghiệp ngày càng vươn cao lênbầu trời, dân số không ngừng tăng nhanh Đặc biệt kinh tế xã hội ngày càngphát triển, mức sống tăng cao, thì nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí tìm về với cộinguồn, môi trường sinh thái là một tất yếu

Việt Nam là đất nước nhiệt đới, bốn mùa xanh tươi Địa hình có núi, córừng, có sông, có biển, có đồng bằng và có cả cao nguyên tạo nên nhiều danhlam thắng cảnh đẹp.Với truyền thống văn hóa hàng nghìn năm lịch sử đã tạonên hệ thống di tích lịch sử văn hóa độc đáo Việt Nam được đánh giá là một

đất nước an toàn, ổn định về chính trị, xứng đáng là "Điểm đến của thiên

nhiên kỷ mới" Du lịch phát triển nhanh chóng và đạt những thành tựu đáng

kể Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, Du lịch Việt Nam vẫn cònnhiều khó khăn, hạn chế phát triển chưa xứng đáng với tiềm năng to lớn củađất nước

Nghệ An là một tỉnh lớn nằm ở phía Bắc trên dải đất miền Trung cáiđòn gánh hai đầu đất nước, với cảnh quan thiên nhiên đẹp như tranh vẽ Trênmảnh đất thân thương đầy nắng và gió này đã sản sinh ra nhiều danh nhân

Trang 10

lịch sử, nhà văn hóa nổi tếng đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ vĩđại của dân tộc Việt Nam, một nhà yêu nước lớn, một danh nhân văn hóa thếgiới, anh hùng giải phóng dân tộc Hòa chung với tiến trình lịch sử, sức laođộng và chiến đấu của nhân dân Việt Nam Các thế hệ người con Nghệ An đãnhân hóa, thổi hồn vào cuộc sống của con người trên mảnh đất nơi đây, tạonên hệ thống di tích lịch sử văn hóa.Với hệ thống di tích lịch sử văn hóa, lễhội, danh lam thắng cảnh đẹp, Nghệ An đang là miền đất hứa, là địa chỉ dulịch hấp dẫn du khách Những năm gần đây du lịch Nghệ An đã đạt đượcnhững kết quả khá khả quan nhưng nhìn chung quy mô phát triển và tỉ lệ đónggóp của du lịch trong GDP của địa phương chưa cao, chưa tương xứng vớitiềm năng du lịch sẵn có Nguyên nhân là do điểm xuất phát thấp, kinh doanhtheo mùa vụ, thiếu tính chuyên nghiệp.

VQG Pù Mát là trung tâm của của khu dự trữ sinh quyển thứ 6 của thếgiới Nằm trong khu vực sinh thái Bắc Trường Sơn, với tổng diện tích là91.113 héc-ta, diện tích phân khu bảo vệ nghiên nghặt là 89.517 héc-ta VQG

Pù Mát đang bảo tồn và lưu giữ nhiều nguồn gen động vật quý hiếm trongdanh sách đỏ của Việt Nam và Thế giới Không chỉ có giá trị đa dạng cao vềsinh học, VQG Pù Mát còn là điểm du lịch hấp dẫn Pù Mát đẹp ở cái hùng vĩcủa rừng xanh, ở vẻ nguyên sinh không chút đụng chạm bàn tay của conngười Đến với VQG Pù Mát du khách không những được hòa mình vào thiênnhiên, với những thắng cảnh hấp dẫn du khách như thác Kèm, đập Phà Lài,sông Giăng, suối nước Mọc mà còn được tìm hiểu những nét văn hóa phongtục tập quán độc đáo của các dân tộc thiểu số sống trong vùng đệm của Vườn

Mặc dù tiềm năng du lịch của VQG Pù Mát rất to lớn nhưng tiềm năng

đó vẫn chưa được đánh thức nhiều và còn tồn tại nhiều hạn chế Du khách đếnthăm VQG Pù Mát phần đông là khách nội địa, sản phẩm du lịch của Vườncòn đơn điệu, cơ sở dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí còn ít chưa đápứng được nhu cầu của du khách, đội ngũ cán bộ làm du lịch còn thiếu tính

Trang 11

chuyên nghiệp, các điểm du lịch chưa được đầu tư nâng cấp, việc xúc tiếnquảng bá hình ảnh thiếu hấp dẫn du khách, đồng thời chưa có sự tham gia củangười dân bản địa vào du lịch đặc biệt là loại hình du lịch văn hóa cộng đồng.

Vì vậy, tìm hiểu và nghiên cứu “Phát triển du lịch ở VQG Pù Mát” là

cần thiết Việc phát triển du lịch ở VQG Pù Mát góp phần vào việc bảo vệkhu dự trữ sinh quyển thiên nhiên của thế giới Mặt khác, phát triển du lịch ởVQG Pù Mát còn góp phần phát triển kinh tế, chia sẻ lơi ích với cộng đồngđịa phương, tạo việc làm tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho cư dân sốngtrong khu vực vùng đệm của VQG Pù Mát, tạo sự giao lưu văn hóa giữa dukhách với người dân bản địa, thông qua đó bảo lưu được những giá trị vănhóa bản địa, góp phần phát triển kinh tế địa phương Qua đó đề xuất một sốgiải pháp nhằm phát triển du lịch ở VQG Pù Mát, bảo tồn môi trường sinhthái, văn hóa bản địa và các làng nghề truyền thống tại VQG Pù Mát

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

VQG Pù Mát là điểm du lịch hấp dẫn về đa dạng sinh học và giá trịnhân văn cho phát triển du lịch Hiện nay, du lịch của VQG Pù Mát đangđược đầu tư mạnh mẽ để phát triển du lịch, xứng đáng với tiềm năng du lịchcủa Vườn

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tổ chức, các nhà khoahọc trong và ngoài nước về VQG Pù Mát ở các lĩnh vực giá trị đa dạng sinh

học, giá trị bao tồn Tiêu biểu như công trình nghiên cứu "Đa dạng thực vật ở

VQG Pù Mát" của GS.TS Nguyễn Nghĩa Thìn, Chủ tịch Hội đồng ngành Sinh

học, trường Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001 Về lĩnh vực du lịch, một

số tác giả đã nghiên cứu để phát triển du lịch như đề tài "Bảo tồn và Phát triển

Du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Pù Mát" của Trần Xuân Cường, Trưởng vụ

Nghiên cứu Khoa học và Hợp tác quốc tế VQG Pù Mát, năm 2007 Ngoàicác đề tài trên, còn có các chương trình khai thác du lịch ở VQG Pù Mát của

Trang 12

UBND huyện Con Cuông, Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Nghệ An và

Ban quản lý VQG Pù Mát như "Dự án quy hoạch điểm du lịch thác Kèm", đề

án "Phát triển du lịch ở VQG Pù Mát giai đoạn 2006 - 2010", hay đề án "Phát

triển du lịch miền Tây Nghệ An giai đoạn 2007 - 2010" của UBND tỉnh Nghệ

An và "Phương án kinh doanh dịch vụ du lịch tại VQG Pù Mát giai đoạn 2006

- 2010"

Các kết quả nghiên cứu trên đã góp phần to lớn vào phát triển du lịchcủa đề tài Nối tiếp thành công của các đề tài trên, tác giả tiến hành nghiêncứu "Phát triển du lịch ở Vườn quốc gia Pù Mát" Qua đề tài, tác giả đề ra một

- Phạm vi thời gian

Thời gian nghiên cứu từ 18 tháng 2 năm 2011 đến 25 tháng 4 năm 2011

- Phạm vi không gian

Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An

4 Đối tượng nghiên cứu của đề tài.

Đề tài tiến hành nghiên cứu các tiềm năng du lịch, các hoạt động dulịch của VQG Pù Mát như hoạt động quảng bá du lịch, hoạt động kinh doanhlưu trú ăn uống và các dịch vụ khác phục vụ du khách

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Trang 13

Khóa luận là công trình nghiên cứu tốt nghiệp của tác giả nên trongkhóa luận tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành sau.

- Phương pháp nghiên cứu thực địa

Để có cái nhìn tổng quát về đối tượng nghiên cứu tác giả đã tiến hànhkhảo sát thực địa tại VQG Pù Mát Qua đó đánh giá chung nhất được về tàinguyên du lịch cũng như tình hình hoạt động du lịch của VQG Pù Mát

- Phương pháp nghiên cứu tiếp cận tiềm năng du lịch

Phương pháp này giúp cho chúng ta tiếp cận tiềm năng du lịch mộtcách dễ dàng Để từ đó nhìn nhận và đánh giá tiềm năng du lịch dưới nhiềugóc độ khác nhau Thông qua đó lên kế hoạch khai thác các tiềm năng đó đểphát triển du lịch, đồng thời có chính sách đầu tư, bảo tồn các tài nguyên đógóp phần phát triển du lịch bền vững

- Phương pháp thu thập vá xử lý dữ liệu

Tác giả sử dụng phương pháp nhằm thu thập và xủ lý thông tin về đấtđai, dân số, lao động, số liệu về động thực vật, số liệu về hiệu quả kinh doanhcủa VQG Pù Mát để hoàn thành khóa luận

- Phương pháp mô tả

Sử dụng phương pháp này để mô tả các tài nguyên du lịch ở VQG PùMát cũng như là điều kiện tự nhiên và kinh tế, xã hội, tài nguyên tự nhiên vànhân văn trong chương 1 và chương 2

6 Đóng góp của đề tài

Đóng góp chung

Việc đề ra các giải pháp phát triển du lịch ở VQG Pù Mát, sẽ tạo bướcphát triển mạnh mẽ và bền vững cho du lịch, khẳng định vai trò của du lịch làmột ngành kinh tế quan trọng Đồng thời đề ra được các giải pháp để khaithác tất cả các tài nguyên du lịch nhằm đưa VQG Pù Mát trở thành điểm dulịch sinh thái, danh thắng, di tích lịch sử văn hóa truyền thống hấp dẫn dukhách trong và ngoài nước

Đóng góp cụ thể

Trang 14

Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển du lịch ởVQG Pù Mát.

Xây dựng các đề án phát triển du lịch, tranh thủ các chương trình các

dự án xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch của VQG Pù Mát.Tuyên truyền, quảng bá tiềm năng du lịch nhằm thu hút du khách và các nhàđầu tư cho phát triển du lịch của VQG Pù Mát Góp phần củng cố bộ máyquản lý, tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc hấp dẫn du khách

7 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụlục, nội dung của đề tài trình bày trong 3 chương

Chương 1: Khái quát chung về vườn quốc gia Pù Mát

Chương 2: Hoạt động du lịch ở vườn quốc gia Pù Mát

Chương 3: Định hướng và giải pháp để phát triển du lịch tại vườn

quốc gia Pù Mát

Trang 15

Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT

1.1 Các khái niệm

1.1.1 Khái niệm du lịch

Du lịch là một ngành công nghiệp không khói Bước vào thế kỷ 21, Dulịch trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến, là ngành kinh tế manglại lợi nhuận cao Ngành du lịch đã nhận được sự quan tâm đầu tư rất cao ở cảcác nước phát triển và đang phát triển trong đó có Việt Nam Hiện nay, trênthế giới nhận thức về du lịch rất đa dạng, để đưa ra một khái niệm về du lịch

là rất khó Do hoàn cảnh khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu, mỗi tác giảlại có cách hiểu khác nhau về du lịch Vì vậy, có hàng trăm định nghĩa khácnhau về du lịch

Năm 1963, với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về

du lịch ở Roma (1) các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau:

"Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt

nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của các cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ”.

Dưới con mắt của các nhà kinh tế Du lịch không chỉ là một hiện tượng

xã hội đơn thuần mà nó gắn liền chặt với các hoạt động kinh tế Theo nhà

kinh tế học Picara- Edomd thì "Du lịch là tổng hòa việc tổ chức và chức năng

của nó, không chỉ về phương diện khách vãng lai mà chính về phương diện giá trị do du khách chi ra và của những khách vãng lai mang đến với túi tiền đầy, tiêu dùng trực tiếp hoặc gián tiếp cho các chi phí của họ nhằm thỏa mãn nhu cầu hiểu biết và giải trí ” (2)

1() Họp từ 21 tháng tám đến 5 - 9 năm 1963.

2() Trần Đức Thanh, Nhập môn khoa học du lịch, trang 9, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trang 16

Trong cuốn Bách Khoa toàn thư Việt Nam, các học giả biên soạn lại cóquan điểm khác Theo các học giả thì du lịch gồm 2 nội dung cơ bản sau: thứ

nhất "Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng, sự tham quan tích cực của con người

ngoài nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tham quan di tích lịch sử văn hóa, xem danh lam thắng cảnh…" Nghĩa thứ 2 các chuyên gia coi "Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt, nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu quê hương đất nước, đối với người nước ngoài là tăng tình hữu nghị với nước mình Về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi du lịch là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ" (3) Ở nước ta, du lịch là ngành kinh tế luôn được Đảng và Nhà nướcquan tâm đầu tư Vì thế để khai thác và phát triển du lịch bền vững, Nhà nước

ta đã đề ra nhiều pháp lệnh nhằm tăng cường sự quản lý của Nhà nước Trongpháp lệnh tháng 2 năm 1999 ghi rõ “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp,quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên vùng và xã hội hóacao” Tại khoản 1, điều 4, Luật du lịch được Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam ký lệnh công bố vào ngày 27/6/2005 quy định "Du lịch

là các hoạt động liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu thăm quan, tìm hiểu, nghỉ dưỡng, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định".

1.1.2 Khái niệm tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự pháttriển của du lịch, là cơ sở, tiền đề để phát triển du lịch Tài nguyên du lịchcàng phong phú đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động dulịch càng cao Trên thế giới và Việt Nam có rất nhiều độc giả đưa ra các quanniệm khác nhau về tài nguyên du lịch, nhưng đều có một nhận định chung là

3() Từ điển bách khoa toàn thư, tập 1, Hà Nội, 1996.

Trang 17

tài nguyên du lịch có sức hấp dẫn với con người, là cơ sở để phát triển du lịch,mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Trong cuốn "Quy phạm tổng điều tra tài nguyên du lịch Trung Quốc"

của Viện nghiên cứu khoa học địa lý quốc gia Trung Quốc, xuất bản năm

1992, tài nguyên du lịch được định nghĩa như sau: "Tất cả giới tự nhiên và xã

hội loài người, có sức hấp dẫn khách du lịch, có thể sử dụng cho ngành du lịch, có thể sản sinh ra hiệu quả kinh tế - xã hội và môi trường đều có thể gọi

là tài nguyên du lịch" (4)

Ở Việt Nam, tại khoản 4, điều 4, chương I - Luật du lịch Việt Nam

(2005) quy định "Tài nguyên du lịch là những cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự

nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch,

là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch"

Theo các nhà khoa học Việt Nam trong một số tài liệu như Địa lý du

lịch do Nguyễn Minh Tuệ chủ biên, cuốn Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam do Phạm Trung Lương chủ biên, Nhà xuất bản Giáo Dục và theo kết

quả nghiên cứu của một số dự án Quy hoạch phát triển du lịch ở Việt Nam đãtiến hành khẳng định: Tài nguyên du lịch vốn rất phong phú và đa dạng, song

có thể phân chia thành hai loại là tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên dulịch nhân văn

Tại khoản 1, điều 13, chương III - Luật du lịch Việt Nam (2005) quyđịnh Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên dulịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác:

"Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo,

khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch.

4 () Ngô Tất Hổ (Trần Đức Thanh và Bùi Thanh Hương biên dịch), Phát triển và quản lý du lịch địa phương, tr 41, NXB Khoa học Bắc Kinh, 2000).

Trang 18

Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch".

Trong đó, tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm tài nguyên du lịch nhânvăn vật thể và phi vật thể

"Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể có thể được hiểu là những di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật, di tích lịch sử, các công trình đương đại mang các giá trị lịch sử văn hóa gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của quốc gia, vùng, địa phương.

Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể được hiểu là những lễ hội, văn hóa nghệ thuật, nghệ thuật ẩm thực, làng nghề cổ truyền, phong tục tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng của các tộc người có giá trị về mặt thẩm mỹ, tinh thần được lưu truyền và ảnh hưởng đến quốc gia, vùng hoặc địa phương" (5)

1.1.3 Khái niệm Vườn quốc gia

Khái niệm Vườn Quốc gia:

Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn thiên nhiên và Tài

nguyên thiên nhiên (IUCN) thì "Vườn Quốc Gia là những khu vực thiên nhiên

của vùng đất hoặc vùng biển được chọn để bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai, loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc chọn lựa khu vực và chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và tham quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường"

Ở Việt Nam, năm 1986, Bộ Lâm nghiệp đã đưa ra khái niệm Vườn

Quốc Gia như sau “Vườn quốc gia là khu bảo vệ có giá trị sử dụng toàn diện

5() Bùi Thị Hải Yến, Quy hoạch du lịch, tr 115, NXB Giáo dục.

Trang 19

về các mặt bảo vệ thiên nhiên nghiên cứu khoa học, bảo tồn di tích văn hóa, phục vụ tham quan du lịch”.

Theo quyết định số 186/2006/QD-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướngChính Phủ về quy chế quản lý rừng thì Vườn quốc gia là một rừng đặc dụngđược xác định trên các tiêu chí sau:

"Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập

mặn, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít

từ bên ngoài, bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp.

Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái.

Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số về hệ sinh thái đặc trưng, các loài động thực vật đặc hữu, về diện tích tự nhiên của vườn,

và tỉ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn".

Tại khoản 1, điều 17, chương III- Luật đa dạng sinh học (2008) quyđịnh Vườn quốc gia phải có các tiêu chí sau đây:

“Có hệ sinh thái tự nhiên quan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù

hoặc đại diện cho một vùng sinh thái tự nhiên.

Là nơi sinh sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất một loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ.

Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục.

Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinh thái”.

Mục tiêu quản lý của Vườn quốc gia

Để bảo vệ các khu vực tự nhiên và cảnh quan có tầm quan trọng quốcgia và quốc tế phục vụ cho mục đích vui chơi, giải trí, giáo dục, nghiên cứukhoa học, đời sống tinh thần hay du lịch

Trang 20

Để duy trì một cách lâu dài hiện trạng tự nhiên, các minh hoạ đặc trưngcủa các vùng địa sinh học, quần thể sinh học, nguồn gen và các loài khácnhau, bảo đảm ổn định và đa dạng về sinh thái.

Để quản lí khách du lịch trong việc sử dụng các dịch vụ vui chơi, giảitrí, văn hoá, giáo dục sao cho vẫn duy trì được đặc điểm tự nhiên hoặc gần gũivới thiên nhiên

Để ngăn ngừa và sau đó chấm dứt các hoạt động khai thác và chiếm giữlàm tổn hại đến mục tiêu đã xác định

Duy trì và tôn trọng các giá trị sinh thái, địa mạo, thiêng liêng, haythẩm mỹ đã được xác định

Quan tâm đến nhu cầu của người dân tộc bao gồm cả việc sử dụngnguồn tài nguyên từ trước đến nay của họ vì họ sẽ không gây tác động xấuđến các mục tiêu quản lý khác

Như vậy, Vườn quốc gia là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệlâu dài một hay nhiều hệ sinh thái Ngoài việc phục vụ cho nghiên cứu khoahọc, bảo tồn văn hóa, Vườn quốc gia còn có giá trị lớn về mặt kinh tế, là điềukiện để phát triển du lịch sinh thái - một ngành công nghiệp không khói, tạonguồn ngoại tệ lớn cho đất nước

Khái niệm về đa dạng sinh học:

Theo khoản 5, điều 3, chương 1, Luật đa dạng sinh học thì "Đa dạng

sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái tự nhiên".

Khái niệm Khu bảo tồn thiên nhiên.

Tại khoản 12, điều 3, chương 1 đã định nghĩa về Khu bảo tồn thiên

nhiên như sau."Khu bảo tồn thiên nhiên (sau đây gọi là Khu bảo tồn) là khu

vực địa lý được xác lập danh giới và phân khu chức năng để bảo tồn đa dạng sinh học".

Trang 21

1.2 Khái quát chung về huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương

1.2.1 Lịch sử hình thành

Trong bài "Cử Toại" của Phùng Khắc Hoan (Trạng Bùng) thế kỷ 15,

Con Cuông được biết đến với:

"Núi chẳng cao, nước cũng chẳng sâu.

Tranh sơn thủy một màu ai khéo vẽ".

Theo Đại Việt Sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên thế kỷ 15, Con Cuông

có tên là Kiềm Châu sau đó đổi tên là Mật Châu Năm 1406, Nhà Minh xâmchiếm đã đổi tên thành Trà Long rồi Trà Thành Nhà Lê gọi là phủ Trà Lân.Năm Minh Mạng thứ 2 (năm 1822) nhà Nguyễn đổi phủ Trà Lân thành phủTương Dương gồm huyện Tương Dương, Vĩnh Khang, Hội Ninh Sau cáchmạng tháng Tám năm 1945 đặt tên là Con Cuông Dân gian có cách giải thích

về tên gọi Con Cuông khá thú vị Xưa kia, khúc sông Cả (sông Lam) chảy quanơi này dần tụ thành một khu đất Thời khắc bình minh hay lúc chiều tà, đàncông ở các làng, bản thường tụ tập về nhảy múa Vì vậy, người dân gọi vùngđất này là Con Công Lâu ngày, tên gọi bị biến âm thành Con Cuông

Cùng chiều dài lịch sử, huyện Anh Sơn cũng có truyền thống lịch sửlâu đời Thời hậu Lê, vùng đất Anh Sơn thuộc huyện Nam Đường, phủ Anh

Đô, xứ Nghệ Năm 1406, phủ Anh Sơn gồm hai huyện Anh Sơn và ĐôLương Tháng 4 năm 1963, huyện Anh Sơn được thành lập theo quyết định số32/QĐ - TTg ngày 19/4/ 1963 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam

Còn vùng đất huyện Tương Dương cùng với huyện Kỳ Sơn ở khía Tâyxưa kia là lãnh thổ của Vương quốc Bồn Ma (Vương quốc này nằm ở phíaTây các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, một phần Sơn La ngày nay của Việt Nam

và tỉnh Hua Phan của Lào ngày nay) Vương quốc này chính thức bị sát nhậpvào Đại Việt thời vua Lê Thánh Tông năm 1479 và được mang tên là TrấnNinh, Thời hậu Lê, huyện Tương Dương thuộc thủ phủ Trà Lân, xứ Nghệ

Trang 22

Như vậy, các huyện trên địa bàn VQG Pù Mát có bề dày truyền thốnglịch sử từ lâu đời Đây chính là điều kiện để các dân tộc nơi đây sản sinh nềnvăn hóa lâu đời, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

1.2.2 Điều kiện tự nhiên

Từ thành phố Vinh về phía Tây Nam, ngược dòng sông Lam dọc theoquốc lộ 7 để đến với mảnh đất Con Cuông, Anh sơn, Tương Dương Theo conđường rải nhựa thuộc quốc lộ, một bên là sông Lam quanh năm nước chảy, vàmột bên là những cánh rừng xanh biếc của VQG Pù Mát, tạo cho nơi đây mộtkhung cảnh sơn thủy hữu tình

"Kiềm Châu xe chỉ cơ điều

Dưới hiên mài đá, trên đèo ghi công Sơn trùng trùng, thủy dung dung Mặt đá biếc, bóng lồng chân đá biếc” (6)

Về vị trí địa lý:

Huyện Con Cuông, Tương Dương, Anh Sơn nằm ở phía Tây tỉnh Nghệ

An, có tuyến đường quốc lộ 7 chạy qua mà trước đây thực dân Pháp gọi con

đường này là "Chìa khóa Đông Dương".

Huyện Con Cuông: Huyện Con cuông có diện tích tự nhiên là 1.44,54km2 Phía Đông Nam giáp huyện Anh Sơn, phía Đông Bắc giáp huyện QuỳHợp và Tân Kỳ, phía Tây Bắc giáp huyện Tương Dương, phía Tây Nam cóđường biên giới nước Lào dài 55,5km Con Cuông cách cửa khẩu Nậm Cắnhuyện Anh Sơn 120km

Huyện Tương Dương: Phía Bắc và Tây Bắc giáp với huyện Quế Phong

và nước bạn Lào Phía Nam giáp với Lào, phía Đông giáp với huyện Kỳ Sơn

và Con Cuông với diện tích là 281.130 héc-ta

Huyện Anh Sơn: Phía Đông giáp với huyện Đô Lương, phía Bắc giápvới huyện Tân Kỳ và Quỳ Hợp, phía Tây giáp với huyện Con Cuông và nước

6() Phùng Khắc Hoan, Đào Nguyên Hành, thời Trần thế kỷ XIII.

Trang 23

Lào, phía Nam giáp với huyện Thanh Chương với diện tích đất tự nhiên là60.299 héc-ta.

Các huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương là những huyện vùngcao, có lợi thế về vị trí và giao thông vận tải nên có nhiều điều kiện thuận lợi

để phát triển nông-lâm nghiệp và du lịch, thương mại

Về khí hậu:

Theo số liệu của trạm khí tượng của 3 huyện Con Cuông, Anh Sơn,Tương Dương thì khí hậu của 3 huyện là khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnhhưởng của khí hậu Bắc Trung Bộ, nhiệt độ trung bình là 23-240C, lượng mưatrung bình là 1.517 mm, độ ẩm là 85 - 86%

Về thủy văn và tài nguyên sinh vật:

Trên địa bàn ba huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương có nhiềusông suối nhỏ như Khe Mọi, Khe Khặng, Khe Thơi, sông Giăng phân bốrộng khắp trên địa bàn Vì cả 3 huyện có chung VQG Pù Mát nên diện tíchrừng và tài sinh vật rất phong phú và đa dạng trong đó có nhiều loài được ghivào Sách Đỏ Việt Nam Phong phú về loại hình rừng, thảm động thực vậtcùng với các danh thắng, di tích như: thác Khe Kèm, thác Bổ Bố (Vải trắng)

và nhất là Vườn quốc gia Pù Mát lại được công nhận là Khu dự trữ sinhquyển của thế giới, đã tạo cho huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dươngnhiều tiềm năng du lịch, có sức hấp dẫn du khách trong và ngoài nước

1.2.3 Điều kiện về kinh tế - xã hội

Dân cư và nguồn lao động:

Cùng cải tạo thiên nhiên và tạo lập cuộc sống trên mảnh đất này có cácdân tộc anh em cùng sinh sống là Thái, Đan Lai, Kinh, Hoa Trong đó dântộc Thái chiến hơn 70% dân số Số dân của 3 huyện là: huyện Con Cuông là64,530 triệu người, phân bố ở 12 xã và 1 thị trấn, huyện Anh Sơn là 110.000người với 20 xã và 1 thị trấn, huyện Tương Dương là 15.140 hộ với 74.574nhân khẩu gồm 17 xã và 1 thị trấn

Trang 24

Theo Báo cáo tổng kết 8 năm triểm khai thực hiện Nghị quyết số NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về phát triển du lịch Nghệ An,thời kỳ 2002-2010 thì tổng số lao động của 3 huyện Con Cuông, TươngDương, Anh Sơn là hơn 61 nghìn người chiếm 60% dân số của 3 huyện.Trong đó, lực lượng lao động trong khu vực nông - lâm nghiệp chiếm tỉ lệcao Lực lượng lao động qua đào tạo còn hạn chế Nhìn chung dân số và lượclượng lao động của cả ba huyện đông Đây chính là nguồn lực quan trọng đểxây dựng kinh tế xã hội của các huyện.

12-Cơ sở vật chất kỹ thuật:

Là những huyện miền núi của tỉnh Nghệ An, lại có nhiều đồng bào cácdân tộc thiểu số sinh sống, nhưng trong những năm qua tốc độ tăng trưởngkinh tế của ba huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tương Dương khá cao hàng nămđạt từ 13-14% Sự chuyển biến về kinh tế đã làm thay đổi căn bản cuộc sốngcủa nhân dân Nhờ nằm trong vùng quy hoạch khu du lịch VQG Pù Mát nên

cơ sở hạ tầng, điện, đường, trường, trạm của 3 huyện được đầu tư nâng cấp.Lĩnh vực sản suất kinh tế nông, lâm nghiệp có sự chuyển biến, từng bướchình thành các cơ sở sản xuất, một số ngành nghề được phục hồi và phát triểnnhư nghề dệt thổ cẩm của xã Yên Thành -huyện Con Cuông rất phát triển văn hóa xã hội có nhiều khởi sắc, đời sống của người dân ngày càng được cảithiện và nâng lên đáng kể, góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị, giữvững an ninh quốc phòng ở khu vực biên giới

1.2.4 Truyền thống văn hóa

Truyền thống văn hóa của các dân tộc sinh sống trên địa bàn ba huyệnCon Cuông, Anh Sơn, Tương Dương là những di sản quý hóa, kết tinh từ baođời nay, thể hiện sức sáng tạo của cha ông

Mỗi một dân tộc đều có nét văn hóa, phong tục tập quán riêng biệt,mang màu sắc riêng, ở dân tộc Thái có điệu khắp, điệu xên có thể nói vốnvăn hóa dân gian rất phong phú và đa dạng không kể các làn điệu dân ca Nền

Trang 25

văn hóa đó phản ánh chân thực cuốc sống lao động và chiến đấu của nhân dâncùng tư tưởng tình cảm của đồng bào miền núi, đặc biệt là thú vui khi uốngrượu cần Nét độc đáo trong văn hóa của người dân trên địa bàn ba huyện củaVQG Pù Mát còn được thể hiện trong các lễ hội Nơi đây khắp bốn mùa đều

có lễ hội, mỗi dân tộc trên địa bàn lại có những lễ hội mang dấu ấn riêng như

lễ hội xăng khan, lễ hội cầu mưa, lễ xuống đồng, lễ hội kỷ niệm ngày thànhlập Chi bộ Đảng miền Tây Nghệ An

Không chỉ giàu truyền thống văn hóa, nơi đây còn lưu giữ nhiều di tíchlịch sử, di tích cách mạng, văn hóa, danh lam thắng cảnh đẹp như hang ThẳmNàng Màn, hang Thẩm Hoi- di chỉ khảo cổ của văn hóa Hòa Bình, văn bia MaNhai khắc trên vòm núi thế kỷ 13, ghi lại chiến công của nhà Trần, di tíchthành Trà Lân, di tích lịch sử nhà cụ Vi Văn Khang- nơi thành lập Chi bộĐảng của miền tây xứ Nghệ Đến đây du khách sẽ được đón tiếp bằng nhữngtình cảm chân thành của bà con, được thưởng thức những món ăn dân tộc đặcsản như cá Mát sông Giăng, cơm Mường Quạ, canh bon, cơm lam, lạp pa,canh măng đắng, rượu siêu, rượu trấu

1.3 Khái quát về vườn quốc gia Pù Mát

1.3.1 Lịch sử hình thành vườn quốc gi Pù Mát

Nằm trên sườn đông của dải Trường Sơn, phía

Bắc tỉnh Nghệ An Với địa hình tương đối bằng

phẳng, một bên bờ hữu sông Lam, trụ sở của VQG Pù

Mát được đặt tại huyện Con Cuông, cách thị trấn 2km

Diện tích của khu văn phòng tuy không lớn khoảng 2

héc-ta Đến đây, du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ

đẹp của những hàng cây xanh, mùi hương và màu sắc

Ảnh 1: Logo VQG

Pù Mát

Trang 26

khác nhau của muôn hoa khoe sắc Đến với Pù Mát chúng ta sẽ được thamquan những danh lam thắng cảnh, được biết đến các di tích lịch sử và đặc biệtchúng ta sẽ hiểu rõ hơn về sự đa dạng của cảnh quan và hệ động thực vật ởđây Mỗi VQG đều gắn với một cái tên nhất định Vậy câu hỏi đặt ra là tại saolại gọi là VQG Pù Mát.

Ngày 9/8/1986 Quyết định 194/CT Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đãquyết định hai khu rừng đặc dụng độc lập ở phía Tây Nam tỉnh Nghệ An: Khubảo tồn Thiên nhiên Anh Sơn với diện tích là 1500 héc-ta và Khu Bảo tồnThiên nhiên Thanh Thủy, huyện Thanh Chương với diện tích 7000 héc-ta Haikhu bảo tồn trên sau này được kết hợp thành một để thành lập khu Bảo tồnThiên nhiên Pù Mát tại các huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương (BộNN& PTNT, 1997)

Năm 1993, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây dựng đề án đầu tưkhu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát Bản kế hoạch đầu tư nay đã được Bộ Lâmnghiệp thẩm định theo văn bản số 343/LN-KH ngày 20/02/1995 và đượcUBND tỉnh Nghệ An phê duyệt theo Quyết định số 3355/ QD-UB ngày28/12/1995 Đây là khu vực có diện tích rừng lớn nhất miền Bắc Việt Nam và

có ý nghĩa quan trọng nhất trong việc bảo tồn hệ sinh thái của dải TrườngSơn Nơi đây, có một ngọn núi cao nhất toàn khu vực (cao1841m) Ngọn núinày thuộc xã Tam Quang, huyện Tương Dương Theo tiếng Thái “Pù” cónghĩa là đỉnh núi, dông, dốc, còn “Mát” có nghĩa là cao Chính vì vậy màngười ta lấy tên đỉnh núi cao nhất đặt tên cho khu bảo tồn này là khu Bảo tồnThiên nhiên Pù Mát

Ngày 21/11/1996, Quyết định số 876/QĐ-TTg của Thủ tướng ChínhPhủ về phê duyệt Dự án Lâm nghiệp xã hội và Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát,tỉnh Nghệ An do EU tài trợ

Trang 27

Ngày 21/5/1997, Quyết định số 2150/QĐ-UB của UBND tỉnh Nghệ An

về việc thành lập khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát và thuộc sự quản lý củaChi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An

Năm 2000, Viện Điều tra Quy hoạch Rừng đã xây dựng kế hoạch đầu

tư mới cho Pù Mát Đề xuất chuyển khu bảo tồn thiên nhiên thành VườnQuốc Gia Bản kế hoạch đầu tư được UBND tỉnh nghệ An phê duyệt ngày20/06/2000 theo quyết định số 2113/QD- UB và được Bộ NN&PTNT phêduyệt ngày26/06/2000 theo Công văn số 2495/QĐ/BNN-KH

Ngày 08/11/2001, Quyết định số 174/2001/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ về chuyển hạng khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát tỉnh Nghệ Anthành Vườn Quốc Gia Theo quyết định này tổng diện tích VQG là 91.133héc-ta, trong đó phần khu bảo vệ nghiêm nghặt là 89.517 héc-ta, phân khuphục hồi sinh thái là 1.569 héc-ta VQG Pù Mát thuộc sự quản lý tài chính củaUBND tỉnh Nghệ An, trong khi kế hoach quản lý được giao cho Chi cục kiểmlâm tỉnh

VQG Pù Mát là khu rừng nguyên sinh hiếm có của Việt Nam VQG PùMát là môi trường sinh sống lý tưởng cho các loài sinh vật Đây là khu rừngrất phong phú về đa dạng sinh học Nơi đây vẫn đang giữ được nhiều néthoang sơ, với thảm thực vật và hệ động vật đa dạng, phong phú, quý hiếmgồm: 1297 loài thực vật bậc cao, 64 loài thú137 loài chim, 25 loài bò sát, 15loài lưỡng cư và nhiều loài được ghi vào sách Đỏ của Việt Nam và thế giới.Chính vì những giá trị trên, tháng 9 năm 2007 VQG Pù Mát đã đượcUNESCO công nhận là một trung tâm của Khu dự trữ sinh quyển thế giớimiền Tây Nghệ An, là Khu dự trữ sinh quyển trên cạn, hành lang xanh lớnnhất Đông Nam Á

1.3.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của vườn quốc gia Pù Mát

Ngày 08/11/2001, Quyết định số 174/2001/QĐ-TTg của Thủ tướngChính phủ về chuyển hạng khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Mát tỉnh Nghệ An

Trang 28

thành Vườn quốc gia Căn cứ vào đó xác định mục tiêu và nhiệm vụ của VQG

Pù Mát gồm:

Bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học của hệ sinh thái

Bảo vệ môi trường và tăng khả năng phòng hộ của rừng đầu nguồnsông Lam và đồng bằng Nghệ An

Thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học bảo tồn thiên nhiênđộng vật quý hiếm

Phát triển lâm nghiệp xã hội góp phần củng cố, nâng cao đời sống cộngđồng trong vùng

1.3.3 Các sản phẩm du lịch của vườn quốc gia Pù Mát

Trong thời gian qua, khách đến tham quan tại VQG Pù Mát khôngngừng được tăng lên Để đáp ứng nhu cầu du lịch, tham quan của du khách thìVQG Pù Mát đã không ngừng đa dạng các loại hình du lịch Nhiều loại hình

du lịch đã được đưa vào khai thác và đem lại hiệu quả cao tiêu biểu là các loạihình du lịch sau

Du lịch kết hợp nghiên cứu khoa học

VQG Pù Mát là khu rừng có giá trị cao về đa dạng sinh học, có bề dàylịch sử với hang Thẩm Hoi - dấu tích của nền văn hóa Hòa Bình, và nhiều ditích lịch sử cách mạng Vì vậy, VQG Pù Mát là địa chỉ quan trọng để nghiêncứu khoa học và các cuộc hội nghị, hội thảo về đa dạng sinh học và văn hóacủa Vườn

Du lịch sinh thái

Đến với VQG Pù Mát, du khách sẽ có chuyến du lịch khám phá thiênnhiên, ngắm cảnh núi non hùng vĩ, được du thuyền trên dòng sông Giăng thơmộng, thả mình dưới dòng nước mát lạnh của thác Khe Kèm Đi bộ trongrừng du khách sẽ được tham quan khu du lịch Thác Kèm, khám phá quần thểcây Pơ Mu, Sa Mu thuần loài, rừng Săng Lẻ và khám phá thế giới muôn sắchoa của hoa rừng thơm ngát và khám phá những nét văn hóa của các dân tộcsống trong VQG Pù Mát

Trang 29

Du lịch khám phá

Du lịch khám phá là loại hình du lịch được các bạn trẻ rất yêu thích.Tại đây du khách sẽ được thử sức tham gia vào các chương trình du lịch mạohiểm để thử lòng can đảm Đó là các chương trình du lịch như vào Khe Thơi

để khám phá và chinh phục đỉnh núi Pù Mát - đỉnh núi hùng vĩ và cao nhấtcủa VQG Pù Mát, hay trèo lên đỉnh Pơ Mu để khám phá quần thể loài Pơ Muđặc thù của VQG Pù Mát Đăc biệt, du khách có thể leo lên đỉnh thác KheKèm ngắm toàn khung cảnh của khu rừng nguyên sinh bạt ngàn

Du lịch tìm hiểu văn hóa - lịch sử

Du khách sẽ có cơ hội tìm hiểu kho tàng văn hóa lịch sử còn lưu giữtrong dân gian của vùng đệm, khám phá các địa danh còn in dấu lịch sử dựngnước và giữ nước của cha ông ta như hang Thẩm Hoi, bia Ma Nhai, hang ÔngTrạng, thành Trà Lân, cây đa Cồn Chùa Đồng thời du khách sẽ được thưởngthức văn hóa ẩm thực của người dân bản địa cơm lam Kẻ Quạ, cá Mát sôngGiăng, nộm hoa chuối rừng, Mọc Trong cảm giác lâng lâng của men rượucần ngày hội xăng khan, du khách sẽ được vui cùng điệu múa lăm vông, điệukhắp, điệu lăm

Du lịch cộng đồng

VQG Pù Mát là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc như Thái,Kinh, Đan Lai, Ơđu, H'mông mỗi dân tộc lại mang những nét văn hóa,phong tục tập quán riêng như tục ngủ ngồi của người Đan lai, lễ hội xăngkhan của người Thái Đến đây, du khách sẽ được tìm hiểu văn hóa của cộngđồng bà con đang sinh sống tại các bản làng như bản Búng, Bản Nưa, Bản CòPhạt, thăm làng nghề dệt thổ cẩm Yên Thành

Trang 30

Chương 2 HOẠT ĐỘNG DU LỊCH CỦA VƯỜN QUỐC GIA PÙ MÁT

2.1 Tài nguyên du lịch của vườn quốc gia Pù Mát

2.1.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý và danh giới hành chính

Bản đồ 1: Vị trí VQG Pù Mát trong tỉnh Nghệ An

Cách thành phố Vinh khoảng 120km đường bộ về phía Tây Nam, ngượcdòng sông Lam Theo con đường rải nhựa thuộc quốc lộ 7 (là Quốc lộ có tầmquan trọng rất lớn Thực dân Pháp gọi con đường này là “Chìa khóa ĐôngDương” vì nó có thể mở của cho việc ngự trị của chúng trên bán đảo quantrọng và giàu có này) Cách thị trấn Con Cuông 2km, VQG Pù Mát có tọa độđịa lý là: 18o46’30”-19o19’42” vĩ độ Bắc, 104o24"-104o56" kinh độ Đông

Trang 31

Ranh giới của VQG Pù Mát là: Phía Nam có chung 61km với đườngbiên giới Lào Phía Tây giáp với xã Tam Hợp, Tam Định, Tam Quang,huyện Tương Dương Phía Bắc giáp với xã Lạng Khê, Châu Khê, Lục Dạ,Môn Sơn huyện Con Cuông Phía Đông giáp với các xã Phúc Sơn, Hội Sơnhuyện Anh Sơn.

Toàn bộ diện tích của VQG Pù Mát nằm trong địa giới hành chính của

ba huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, tỉnh Nghệ An Tổng diện tíchcủa VQG Pù Mát là 91.113 héc-ta, diện tích bảo vệ nghiêm ngặt là 89.517 héc-

ta, trên diện tích 16 xã Trụ sở của VQG Pù Mát đặt tại xã Yên Khê, huyện ConCuông, tỉnh Nghệ An Trong đó huyện Tương Dương gồm 4 xã: Tam Hợp,Tam Định, Tam Quang, Tam Hóa Huyện Con Cuông gồm 7 xã: Lạng Khê,Châu Khê, Lục Dạ, Yên Khê, Môn Sơn, Chi Khê, Bồng Khê, huyện Anh Sơngồm 5 xã: Phúc Sơn, Hội Sơn, Tường Sơn, Cẩm Sơn, Đỉnh Sơn

Nằm trên dải đất Con Cuông, quê hương của đồng bào dân tộc ít người,nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, truyền thống vănhóa nên VQG Pù Mát rất thuận lợi để phát triển du lịch Tuy nhiên, với conđường khúc khuỷu, uốn lượn nên VQG Pù Mát cũng gặp khó khăn về giaothông nên chưa thu hút nhiều du khách tham quan, làm giảm sự đầu tư vào dulịch từ các nhà đầu tư

2.1.1.2 Địa hình, địa chất.

Địa hình

VQG Pù Mát nằm trên dãy Trường Sơn Bắc Quá trình kiến tạo địachất được hình thành qua các thế kỷ Palezoi, Đề Vôn, Các Bon, Pecmi,Triat đến Mioxen cho tới ngày nay Trong suốt quá trình phát triển của dãyTrường Sơn thì chu kỳ tạo núi Hecxinin, địa hình luôn bị ngoại lực tác độngmạnh mẽ tạo nên 4 dạng địa hình chủ yếu gồm núi cao trung bình, kiểu núithấp và đồi cao, thung lũng kiến tạo, và các khối đá vôi nhỏ VQG Pù Mátnằm trong khu vực có địa hình phức tạp, và bị chia cắt bởi 3 hệ suối chính là

Trang 32

Khe Thơi, Khe Bu, Khe Khặng Các đỉnh núi phụ có độ cao từ 1000m, đỉnhnúi cao nhất là đỉnh Pù Mát cao 1841m, địa hình hiểm trở Phía Tây dốc lớn,

độ cao trung bình từ 800m, phía Nam của VQG Pù Mát có địa hình tương đốibằng phẳng, thấp là nơi sinh sống của một số cộng đồng người dân tộc

Về chế độ nhiệt

Nhiệt độ trung bình năm từ 23o - 24oC, tổng nhiệt năng từ 8500

-8700oC Mùa đông từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau Do chịu ảnh hưởng của

Trang 33

gió mùa Đông Bắc thường kèm theo mưa phùn lạnh giá và có 1- 2 lần sươngmuối Nhiêt độ trung bình các tháng này xuống dưới 20oC và nhiệt độ trungbình thấp nhất xuống dưới 18oC (tháng Giêng) Ngược lại, vào mùa hè, do có

sự hoạt động của gió Tây nên thời tiết rất khô nóng kéo dài từ 3 tháng (từtháng 4 đến tháng 7) Nhiệt độ trung bình mùa hè nên trên 25oC, nóng nhấtvào tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình là 29oC Nhiệt độ tối cao lên tới

42oC ở Con Cuông và 42,7oC ở Tương Dương vào tháng 5 và 4, độ ẩm trongcác tháng này nhiều ngày xuống dưới 30%

Về chế độ mưa

VQG Pù Mát có lượng mưa ít đến trung bình, 90% lượng mưa tập trungvào mùa mưa, lượng mưa lớn nhất vào tháng 9, 10 và thường kèm theo lũ lụt.Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Các tháng 2, 3, 4 có mưa phùn dochịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc Tháng 5, 6, 7 là những tháng nóngnhất và lượng bốc hơi cũng cao nhất Độ ẩm không khí trong vùng đạt từ 85%

- 86% mùa mưa lên tới 90%

Khí hậu của VQG Pù Mát khá thuận lợi cho sự sinh trưởng của các loàisinh vật tạo nên sự đa dạng sinh học hấp dẫn du khách Đồng thời, khí hậumát mẻ thuận lợi cho việc nghỉ dưỡng của du khách Tuy nhiên, do lượngmưa phân bố không đồng đều giữa các mùa và các khu vực nên tình trạng lũlụt và hạn hán thường xuyên xảy ra Vì vậy, cũng gây khó khăn cho tổ chứctham quan và tổ chức các hoạt động du lịch

2.1.1.4 Sông hồ

Trong khu vực có hệ thống sông Cả chạy theo hướng Tây Bắc ĐôngNam Các di lưu phía hữu ngạn như Khe Thơi, Khe Khặng, Khe Bu có thểdùng thuyền đi ngược dòng ở phía hạ lưu Nhìn chung, mạng lưới sông suối ởVQG Pù Mát khá dày đặc kết hợp với cảnh hai bên bờ sông tạo nên khungcảnh vừa đẹp vừa lãng mạn với những dòng suối trong xanh in bóng cây cổthụ Không chỉ vậy, trong VQG Pù Mát còn có nhiều thác nước đổ từ độ cao

Trang 34

500m đổ xuống bọt tung trắng xóa tạo nên điểm du lịch hấp dẫn Nhưng vàomùa mưa lượng nước các sông dâng lên gây lũ lụt ảnh hưởng đến hoạt động

du lịch

2.1.1.5 Tài nguyên sinh vật

Về động vật

VQG Pù Mát là khu vực bảo tồn có

tính đa dạng sinh học đa dạng đại diện cho

hệ sinh thái rừng nhiệt đới và á nhiệt đới

điển hình lớn nhất khu vực Bắc Trường

Sơn Sau khi thành lập, VQG Pù Mát được

sự hỗ trợ của dự án lâm nghiệp xã hội và

bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An, cùng

với sự cộng tác của 55 nhà khoa học trong

và ngoài nước, 17 cán bộ VQG Pù Mát đã

tổ chức nhiều đợt điều tra nghiên cứu thực

địa ở vùng núi thấp và vùng núi cao Qua nhiều lần khảo sát và nghiên cứucho thấy, VQG Pù Mát có 938 loài động thuộc các nhóm khác nhau Điều đặcbiệt quan trọng đối với hệ động vật VQG Pù Mát là tính đa dạng, các yếu tốđặc hữu cao Trong đó, có nhiều loài đặc trưng như Chào vào, Vọoc đen, Sao

la, Mang lớn, Vượn, Má vàng, Thỏ vằn, Cầy vằn, Trĩ sao, Khướu mỏ dài

Trong VQG Pù Mát còn có nhiều loài động vật quý hiếm Có ít nhất 85loài được ghi trong Sách Đỏ của Việt Nam (2009) và 425 loài ở mức độ toàncầu có trong danh mục đỏ của IUCN (2006) Về lĩnh vực bảo tồn, VQG PùMát không những là một khu tầm cỡ quốc gia mà còn có giá trị cho cả Lào vàĐông Dương

Về thực vật

VQG Pù Mát có số loài thực vật tương đối phong phú, đa dạng Bướcđầu ghi nhận gồm 2494 loài thực vật thuộc 931 chi và 202 họ của 6 ngành

Ảnh 2: Sao La trong VQG Pù Mát

Trang 35

thực vật bậc cao Trong đó, có 32

loài nằm trong dang sách Đỏ của

Việt Nam và 26 loài được liệt kê

trong danh mục Đỏ của IUCN

(2002) Nhóm cây lấy gỗ có 330

loài, nhóm cây thuốc gồm 197 loài,

nhóm cây cảnh có 74 loài, nhóm cây

thực phẩm có 118 loài Tiêu biểu

như Pơ Mu, Sến, Ngọc lan, Phong

lan, Tuế

2.1.1.6 Các cảnh quan du lịch tự nhiên của Vườn quốc gia Pù Mát Khu du lịch Thác Khe Kèm

Ảnh 4: Danh thắng thác Khe Kèm ở VQG Pù Mát

Cách thị trấn Con Cuông khoảng 2km, Thác Khe Kèm được coi là một

kỳ thú mà thiên nhiên đã ban tặng cho VQG Pù Mát Từ độ cao 500m, độ dốc

Ảnh 3: Cây Sa Mu dầu

ở VQG Pù Mát

Trang 36

khoảng 800m, nước từ trên cao đổ xuống qua ba bậc thang, tung bọt trắngxóa Nhìn từ xa, thác Khe Kèm trông như một dải lụa trắng trên nền xanhthẳm của VQG Pù Mát Ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của thác Khe Kèm nhànghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Đổng Chi đã hứng khởi viết nên mấyvần thơ:

"Nước trên đỉnh núi

Dội xuống lòng khe Đẹp như bức tranh lụa the Trắng màu tinh khiết phủ che non ngàn”

Thưởng thức vẻ đẹp vào buổi sáng, du khách có thể hòa mình vào thiênnhiên dịu mát của thác Khe Kèm trong cái nắng oi ả đặc trưng của miềnTrung Rất nhiều nhà khoa học khi nghiên cứu tại đây, đã khẳng định thácKhe Kèm là thác nước gần như nguyên sinh nhất tại Việt Nam Con đườngvào thác quanh co, uốn lượn và gập ghềnh Có thể điều đó làm du khách nảnlòng nhưng với những ai vượt qua được chặng đường không ngắn chút nào đểtận mắt chiêm ngưỡng một cảnh vật mà thiên nhiên ban tặng cho VQG PùMát hẳn sẽ không cảm thấy tiếc nuối Người Thái gọi thác Khe Kèm là Bổ

Bố, có nghĩa là dải lụa trắng Nhìn dòng nước trắng xóa in hình trên vách đá,khiến cho du khách có cảm giác như đang nhìn một dải lụa trắng nằm trênkhung cửi Thác Khe Kèm càng huyền ảo hơn khi có tia nắng cuối chiều dọivào nàn nước tạo thành vòng cung bảy sắc cầu vồng Phía trên và hai bên thácnước là một thảm thực vật với hàng trăm loài hoa đua nhau khoe sắc Mỗimùa có một loài hoa tạo nên cho du khách có cảm giác như lạc vào vườn hoađại ngàn Dưới chân thác là khe nước dài với những phiến đá phẳng lì nhưnhững phiến đá lớn làm chỗ ngồi nghỉ chân cho du khách Tại chân thác lànhững hồ nhỏ có độ nông sâu khác nhau tạo nên bức tranh phong cảnh thiênnhiên tuyệt đẹp Du khách có thể thỏa thích vui chơi bên dòng thác tận hưởngkhông khí trong lành, uống rượu cần, ăn cơm lam, nghe đàn hợp xướng do

Trang 37

đàn chim trình diễn Tiếng chim hót, tiếng thác nước đổ, tiếng lá rơi xào xạc,hòa quyện vào nhau tạo thành một khung cảnh lãng mạn.

Hiện tại, điểm du lịch thác Khe Kèm đã được quy hoạch xong và đưavào khai thác, trở thành điểm du lịch sinh thái hấp dẫn với du khách, và có thểkết hợp với các điểm du lịch khác để tạo ra các sản phẩm du lịch đặc sắc

Đập Phà Lài, tuyến Sông Giăng

Từ ngã ba cầu Khe Diêm đi

vào 20km, du khách tới đồn biên

phòng 555 để thăm đập Phà Lài

-công trình thủy lợi lớn nhất của xã

Môn Sơn Đây là công trình nhân

tạo, một công trình thế kỷ Được

khởi công xây dựng vào ngày

03/02/2000 ngày thành lập Đảng

và được khánh thành vào ngày

sinh nhật của Chủ tịch Hồ Chí

Minh vĩ đại Vì thế công trình càng

có ý nghĩa hơn Công trình do binh

đoàn 11- Bộ quốc phòng và công

ty xây lắp 665 Nhân Chính

-Thanh Xuân - Hà Nội xây dựng

Đập Phà Lài được hoàn thành,

người dân địa phương đã khai thác

được những điều kiện thuận lợi

của tự nhiên, xây dựng những nhà nổi trên mặt nước để phục vụ du khách đếntham quan Đứng trên kè đá này, buông tầm mắt xuống dòng sông Giăng đểthấy được cái đẹp nơi đây Theo tiếng Thái “Phà” có nghĩa là trời, còn ‘Lài”

Ảnh 5: Du thuyền trên sông Giăng

Trang 38

là hoa Phà Lài là những bông hoa trên bầu trời, sở dĩ người ta ví như vậy vì,đứng bên này quan sát xung quanh những khối núi đất vôi trập trùng xen lẫnmàu xanh của lá, màu đỏ của hoa vàng tất cả hợp thành làm cho người taliên tưởng đến những bông hoa đang lung linh trên bầu trời.

Dòng sông Giăng bắt nguồn từ Khe Khặng, chảy về tận Thanh Chương

Du thuyền trên dòng sông Giăng là một loại hình du lịch thu hút rất nhiều dukhách tham quan Ngồi thuyền tản mạn xuôi ngược trên dòng sông Giăng thìmới cảm nhận được sự hùng vĩ của non nước Hai bên bờ sông là những tầngcây đủ các loài cây rừng Có những cây đại thụ vươn những cành cong, uốnmình ra khỏi mặt nước tựa như cánh tay khổng lồ, làm điểm vui đùa cho cácđàn khỉ đu mình nhảy múa Đi đến những đoạn sông yên tĩnh chúng ta có thểnghe được những âm thanh của thú rừng và tiếng rì rào của gió làm cành cây

va đập vào nhau

Những chiếc thuyền nhỏ rẽ sóng trên dòng sông Giăng, làm cho dukhách được trở về với thiên nhiên đích thực, nơi con người chỉ là một phầnnhỏ bé của thiên nhiên Hai bên bờ, cây cối rậm rạp mang đậm vẻ hoang sơvới điểm nhấn là dãy núi đá vôi hùng vĩ, điểm xuyết màu sắc sặc sỡ của cácloài hoa phong lan và làn nước trong xanh dịu mát Nếu du khách mang theomột vài loại hoa quả, hẳn sẽ được gặp lại con cháu lão Tôn không chút sợ sệt

ra “nhận quà’ Chúng sẽ đu mình trên những cành cây làm nên cảnh tượng ởHoa Quả Sơn

Rốn Cô Tiên (Khe nước Mọc)

Rốn Cô Tiên thuộc làng Tân Hương, xã Yên Khê, huyện Con Cuông.Ngoài cái tên Rốn Cô Tiên, thì còn nổi tiếng với nhiều tên gọi khác như: Khenước Mọc, suối Tạ Bó (theo tiếng Thái), giếng nước Mọc Đứng nhìn dòngnước trong veo ùn chảy từ lòng đất, người ta liên tưởng như đang có một máybơm với công suất lớn đang hút nước từ lòng đất để phun lên

Trang 39

Người dân trong làng ví Rốn cô tiên như một cái “Giếng trời” mà thiênnhiên đã ban tặng cho Yên Khê Nó tạo thêm cho mảnh đất này một cảnh đẹphữu tình không kém phần kỳ bí, thu hút nhiều khách du lịch đến chiêmngưỡng Từ bao đời nay, Rốn cô tiên cứ miệt mài “đội” mãi lên những cộtnước không thôi và đủ để quay 3 - 4 chiếc guồng nước, đưa nước lên để tưới

đủ cho những cánh đồng màu mỡ Rốn cô tiên không lớn, đường kính mặtgiếng chỉ khoảng 5m, độ sâu thì chưa một ai biết chính xác là bao nhiêu Từ

xa xưa, với vẻ đẹp huyền bí, nó đã được mang một cái tên mỹ miều và khôngkém phần thắc mắc "Rốn Cô Tiên" Không biết cái tên Rốn Cô Tiên có từ baogiờ nhưng các cụ gìa làng đã kể lại cho con cháu nghe một truyền thuyết rằng:

Ngày xưa, có một nàng tiên từ trên trời vì cảm mến vẻ đẹp của núi rừng

xứ này, nên đã đáp xuống trần gian để du ngoạn Nàng mải mê khám phá hếtnúi rừng nơi này đến nơi khác, từ eo Vực Bồng rồi đến Cửa Rọ Trong lúcmệt mỏi nàng đã bắt gặp dòng thác Bổ Bố (thác Kèm) Không ngần ngại,nàng đã để cho dòng nước của thác Bổ Bố nhẹ nhàng dội xuống gội đầu chonàng Một phần vì mệt mỏi, phần vì điệu nhạc du dương của dòng thác nênnàng đã ngủ thiếp đi thật lâu Vì thế, nàng đã mất hết phép thuật của nhà trời.Nàng đã mãi mãi ở lại hạ giới, dải rừng xanh bạt ngàn của VQG Pù Mát chính

là mái tóc của nàng Những dãy núi phía trước dòng thác Khe Kèm là cánhtay của nàng hóa thành Thân thể nàng đã hóa thành những dải đất kéo dài từthác Khe Kèm qua bản Tân Hương (Yên Khê) Với độ cao của dòng thác KheKèm đổ xuống hàng ngày nên nước đã ngấm vào thân thể nàng và nước thoát

ra từ rốn bụng của nàng Người đời thấy vậy nên gọi là “Rốn Cô Tiên”

Bà con trong vùng tin rằng sự hiện diện của nàng tiên là có thật, nênnhững cây cổ thụ xung quanh Rốn Cô Tiên không ai dám chặt phá Sau mỗingày làm việc mệt mỏi, bà con lại kéo nhau ra Rốn Cô Tiên để sinh hoạt Tắmdưới dòng nước của Rốn Cô Tiên, các chàng trai sẽ bội phần sức mạnh, cơ thểcường tráng, thông minh Còn các cô gái tắm dưới dòng nước náy sẽ có mái

Trang 40

tóc dài và xinh đẹp như cô tiên Nước ở Rốn Cô Tiên vào mùa hè và mùa thurất mát, mùa đông thì trở nên ấm áp vô cùng.

Hang Thẳm Nàng Màn

Đến với VQG Pù Mát du khách không chỉ được du thuyền trên dòngsông Giăng thơ mộng, hòa mình vào làn nước dịu mát của thác Khe Kèm, hítthở không khí trong lành của những cánh rừng nguyên sinh mà còn được khámphá những hang động đẹp, điển hình là khám phá hang Thẳm Nàng Màn

Thẳm Nàng Màn là một hang động nằm trên dãy núi thuộc bản Pha, xãYên Khê, huyện Con Cuông Toàn cảnh của hang được kiến tạo một cách tựnhiên, có nhiều họa tiết lộng lẫy với những nhũ đá muôn màu trông như mộtcung điện của nhà vua Hang Thẳm Nàng Màn gắn liền với một truyền thuyếthấp dẫn Truyền thuyết kể lại rằng “Ở làng Pha nọ có một gia đình giàu có,quyền thế, sinh được một người con gái Nàng vừa đẹp người đẹp nết, vừa háthay, dân bản ai cũng yêu quý Khi nghe nàng hát, chim rừng bay qua cũngdừng cánh Khi nàng xuống suối tắm, tôm cá lượn quanh đôi chân nõn nà củanàng Thế rồi, nàng đem lòng yêu một chàng trai nghèo, khôi ngô tuấn tú.Nhưng tình yêu của họ bị cha mẹ nàng cấm vì không môn đăng hộ đối Khibiết tin nàng mang thai cùng chàng trai, cha mẹ nàng đã đem giam nàng vàomột cái hang u tối có hình xấu xí Cấm không cho nàng ra tiếp xúc với bênngoài Dân bản nhiều người thương nàng muốn cứu nàng, nhưng đành ngậmngùi trong dạ "Tiếng lành đồn xa, tiếng giữ cũng đồn xa" tin ấy đến taiNgọc Hoàng Ngọc Hoàng bèn sai Nam Tào, Bắc Đẩu, chọn một số người nhàtrời có hoa tay giỏi xuống sắp xếp lại hang động ấy cho thật đẹp, thật lộng lẫy

để cho nàng - một cô gái thủy chung dũng cảm, trọn tình với người yêu, sinh

nở mẹ tròn con vuông Sau những ngày sống trong hang tối vừa đói rét, vừa

sợ hãi, vừa lo lắng cho người yêu sống chết ra sao nàng ngủ thiếp đi miênman Khi tỉnh dậy, nàng thấy ánh nắng mặt trời rọi thẳng vào trong hang.Hang động được trang trí rất đẹp Trên vòm sườn có cảnh rồng bay phượng

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Thanh Nhàn, Bùi Việt và Võ công Anh Tuấn (2008). Vườn quốc gia Pù Mát, Nhà xuất bản Kim Đồng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vườn quốcgia Pù Mát
Tác giả: Nguyễn Thanh Nhàn, Bùi Việt và Võ công Anh Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Kim Đồng
Năm: 2008
2. Trần Đức Thanh, Nhập môn khoa học du lịch, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốcgia Hà Nội
3. Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn (2004), Đa dạng thực vật Vườn quốc gia Pù Mát, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng thực vậtVườn quốc gia Pù Mát
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thanh Nhàn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2004
4. Phạm Trung Lương, Nguyễn Ngọc Khánh, Đặng Duy Lợi (2000).Tài nguyên và môi trường du lịh Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo Dục.Báo cáo hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tàinguyên và môi trường du lịh Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương, Nguyễn Ngọc Khánh, Đặng Duy Lợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo Dục.Báo cáo hội thảo
Năm: 2000
7. Dự án: "Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2006- 2020" - Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Nghệ An và Viện Nghiên cứu phát triển du lịch - Tổng cục Du lịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch Tổng thể phát triển du lịch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2006-2020
8. Báo các tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TU của ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An về phát triển du lịch Nghệ An, thời kỳ 2002- 2010.Các văn bản luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo các tổng kết 8 năm thực hiện Nghị quyết số 12-NQ/TU
9. Luật Du lịch của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XI, kỳ họp thứ 7, số hiệu 44/2005 QH11 ngày 14/6/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Du lịch
10. Luật Đa dạng sinh học của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khóa XII, kỳ thứ 4, số 20/2008/QH12 ban hành 28/11/2008.Các trang thông tin điện tử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đa dạng sinh học
5. UBND tỉnh Nghệ An (2007) "Đề án phát triển du lịch miền tây Nghệ An giai đoạn 2007-2010&#34 Khác
6. Vườn quốc gia Pù Mát (2005) "Phương án kinh doanh dịch vụ du lịch tại Vườn quốc gia Pù Mát giai đoạn 2005- 2010&#34 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Bảng thống kê số lượng khách tham quan VQG Pù Mát  năm 2007-2009 - Phát triển du lịch ở vườn quốc gia pù mát luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng 1. Bảng thống kê số lượng khách tham quan VQG Pù Mát năm 2007-2009 (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w