1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy vai trò đội ngũ tri thức nghệ an trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá

43 462 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Huy Vai Trò Đội Ngũ Trí Thức Nghệ An Trong Quá Trình Công Nghiệp Hoá, Hiện Đại Hoá
Tác giả Vũ Thị Huyền
Người hướng dẫn Ts Đoàn Minh Duệ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Chủ Nghĩa Xã Hội Khoa Học
Thể loại Luận Văn Tốt Nghiệp Đại Học
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 217 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinhKHoa giáo dục chính trị--- Luận văn tốt nghiệp đại học Đề tài Phát huy vai trò đội ngũ trí thức nghệ an trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đạ

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinhKHoa giáo dục chính trị -

Luận văn tốt nghiệp đại học

Đề tài

Phát huy vai trò đội ngũ trí thức

nghệ an trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

chuyên Ngành : Chủ nghĩa xã hội khoa học

Sinh viên Lớp 39 A1 - Khoa giáo dục chính trị

Ngời hớng dẫn khoa học: Ts Đoàn Minh Duệ

Vinh, 5/2002

Trang 2

A- Phần mở đầu I- Lý do chọn đề tài:

Tấm bia đá ở văn miếu Quốc Tử Giám có khắc dòng chữ: "Ngời tài là nguyên khí quốc gia" Hay "Các bậc hiền tài là yếu tố cốt tử đối với một chính thể Khi yếu tố này đợc phát huy thì đất nớc phồn thịnh; những ngời tài giỏi là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình phát triển" Lời dặn dò đó của ông

cha ta thuở trớc hiện vẫn còn nguyên giá trị, nhất là lúc mà chúng ta đang tậptrung mọi tiềm lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Ngời tài ở đâychính là vốn “chất xám”, là năng lực trí tuệ của con ngời, là nguồn lực cơ bản của

sự tăng trởng kinh tế, xã hội Nguồn lực đó trớc hết ở đội ngũ trí thức có trình độhọc vấn chuyên môn cao

Thực vậy, do những điều kiện khách quan và chủ quan chúng ta thực hiệncông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc trong hoàn cảnh khó khăn Hiện nay, muốntránh nguy cơ tụt hậu, chúng ta phải tăng tốc để rút ngắn khoảng cách so với cácnớc phát triển Nhiều nớc từ tổng kết thực tiễn đã đi đến kết luận: thứ “nhiên liệu”dùng để tăng tốc là trí tuệ Thiếu tài nguyên trí tuệ thì không thể có sự phát triểnnhanh về kinh tế, xã hội Nhân loại đang bớc vào những năm đầu của thế kỷ XXIvới biết bao biến đổi sâu sắc kỳ diệu, từ một nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc vàothiên nhiên, sang nền kinh tế có sự tham gia nhiều của chất xám Những biến đổi

kỳ diệu ấy càng khẳng định và đòi hỏi cao hơn vai trò trách nhiệm của đội ngũ tríthức Tại Đại hội VII (1991) của Đảng đã khẳng định:

Trong cách mạng dân tộc dân chủ, vai trò của giới trí thức rất quan trọng Trong xây dựng CNXH vai trò của giới trí thức càng quan trọng hơn Giai cấp công nhân nếu không có đội ngũ trí thức của mình và bản thân công - nông không đợc nâng cao trí thức, không dần dần đợc trí thức hoá thì không thể xây dựng CNXH" {17,113} Đến Đại hội IX, Đảng ta lại tiếp tục nhấn mạnh:"Động

Trang 3

lực chủ yếu để phát triển đất nớc là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và tầng lớp trí thức do Đảng lãnh đạo" { 19,86}

Xuất phát từ nhận thức đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu vai trò của trí thức nóichung, trí thức ở Nghệ An nói riêng là hết sức cần thiết

Nghệ An là một tỉnh đất rộng, ngời đông, tiềm năng về tài nguyên, khoángsản hết sức phong phú và đa dạng, có đờng sắt, đờng bộ Bắc - Nam, có đờng hàngkhông, và cảng biển lớn; có nhân dân giàu truyền thống cách mạng, cần cù, chịukhó, yêu lao động v.v

Mặc dầu rất cố gắng, đã đạt đợc những thành tựu nhất định trên mọi lĩnhvực nhng Nghệ An vẫn cha thoát khỏi tình trạng là một tỉnh nghèo và đang cónguy cơ ngày càng tụt hậu

Để đẩy nhanh quá trình phát triển, Nghệ An phải tập trung nghiên cứu, tìmhiểu một cách kỹ lỡng các nhân tố thúc đẩy quá trình này; đặc biệt là các nhân tố

đã đợc xác định là động lực, vai trò chính Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên,

chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu đề tài: “Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức

Nghệ An trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay” là hết sức

cấp bách, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

II- Tình hình nghiên cứu

Trí thức” là một vấn đề lớn, đợc xã hội quan tâm Trên phơng diện lý luận,

đã có nhiều nhà khoa học, với nhiều công trình, bài viết đề cập đến vai trò độnglực của trí thức trong sự phát triển đối với Nghệ An Vấn đề vai trò trí thức trong

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tuy đã đợc đề cập ở một số bài viết, songcha có công trình khoa học nào đề cập một cách có hệ thống, toàn diện và sâu sắc

ở Nghệ An trong những năm từ 1996 - 2000 đã triển khai nghiên cứu chơngtrình khoa học “Con ngời Nghệ An trớc yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá” (mã số KX-1-NA) là một trong 7 chơng trình khoa học công nghệcấp Tỉnh Chơng trình bao gồm 6 đề tài, trong đó có một số đề tài liên quan đến

đội ngũ trí thức: “Đào tạo, bồi dỡng và sử dụng nhân tài ở Nghệ An phục vụ sự

Trang 4

dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý ở Nghệ An'' (chủ nhiệm đề tài: TS

Tr-ơng Công Anh) Ngoài chTr-ơng trình khoa học trên, những năm gần đây, ở Nghệ Ancũng đã có các đề tài về điều tra nguồn lực con ngời, về đội ngũ công nhân lànhnghề, về đội ngũ giáo viên các trờng THCS, THPT

Cách đây 6 năm, ở khoa Giáo dục chính trị, thầy giáo Phan Văn Bình đãtiến hành nghiên cứu đề tài: “Vai trò của trí thức Nghệ An trong sự nghiệp đổi mới hiện nay" ở đề tài này, tác giả đã làm rõ giới thiệu khái niệm, điều tra thực

trạng, và đề ra một số giải pháp mang tính khoa học cao

Tuy vậy, đội ngũ trí thức Nghệ An trong mấy năm gần đây đã có nhiều biến

động Vì vậy chúng tôi mạnh dạn đi sâu nghiên cứu vấn đề này bằng tập trungkhảo sát đội ngũ trí thức Nghệ An năm 2000 và 2001 để từ đó tìm ra giải phápnhằm tạo điều kiện để lãnh đạo địa phơng có cơ sở khoa học trong việc đề ra giảipháp nhằm khơi dậy nội lực của đông đảo trí thức

III- Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Điều tra khảo sát đội ngũ trí thức Nghệ An Từ đó đề

ra giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức phục vụ cho mục tiêu pháttriển kinh tế - xã hội của Nghệ An từ nay đến 2010

IV- Nhiệm vụ của đề tài

Xuất phát từ mục tiêu, đề tài có nhiệm vụ sau:

1- Hệ thống hoá và phân tích khái niệm, vai trò, chức năng của trí thức.2- Điều tra khảo sát thực trạng của trí thức Nghệ An hiện nay, từ đó rút ranhững kết luận bớc đầu về vai trò, vị trí của đội ngũ này

3- Bớc đầu đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của trí thứcNghệ An trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá

V- cơ sở lý luận và Phơng pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên cơ sở lý luận CN Mác - Lê nin - T tởng Hồ Chí Minh vànhững quan điểm của Đảng ta về đội ngũ trí thức

Để tiến hành thực hiện đề tài, chúng tôi đồng thời sử dụng các phơng phápsau:

Trang 5

- Phơng pháp điều tra

- Phơng pháp phân tích và tổng hợp

- Phơng pháp đối chiếu, so sánh

- Phơng pháp phỏng vấn

VI ý nghĩa của đề tài

Đề tài đã có ít nhiều đóng góp trong quá trình giúp cho chúng ta nhận thức

rõ hơn về đội ngũ trí thức - Họ là ai? Và vai trò của trí thức nói chung, trí thứcNghệ An nói riêng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay Đồngthời xem xét những giải pháp bớc đầu nhằm khơi dậy, phát huy vai trò của trí thứcNghệ An trong công cuộc phát triển chung của đất nớc

VII - Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của

đề tài còn bao gồm 3 chơng lớn

Trang 6

Tơng tự nh vậy, trong Từ điển bách khoa Triết học (tiếng Nga, NXB tiến bộ

M 1983), định nghĩa trí thức là : "Tầng lớp những ngời lao động trí óc và thờng

có học vấn cao tơng ứng, có chức năng sáng tạo, phát triển và phổ biến văn hoá"

Từ điển CNXH Khoa học (1986 ) nêu: "Trí thức là một nhóm xã hội bao gồm những ngời chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó" {16,360}

Trong Giáo trình CNXH Khoa học (2001), có nêu: "Tầng lớp trí thức là đại biểu cho lao động trí óc (lao động trí tuệ có trình độ cao) Do vậy, tuy số lợng không đông trong cơ cấu xã hội, nhng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nớc và vai trò đó ngày càng tăng Là một chủ thể của cách mạng khoa học và công nghiệp hiện đại nên số lợng và chất lợng của trí thức của sự biến

đôỉ nhanh, cơ cấu của tầng lớp này ngày càng phong phú".{9,150}

Theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tầng lớp trí thức đó là: "Tầng lớp xã hội đặc biệt, là một bộ phận tiêu biểu nhất trong lực lợng lao động trí óc Họ là những ngời lao động trí óc phức tạp và sáng tạo, chủ yếu về mặt lý thuyết, khoa học và giá trị tinh thần Nhng những giá trị lý thuyết và tinh thần đó lại càng đợc ứng dụng vào sản xuất vật chất và tinh thần của xã hội, quy định năng suất, chất l-

Trang 7

ợng, hiệu quả tốc độ phát triển và trình độ của sản xuất, kinh tế, đời sống xã hội Xã hội càng hiện đại, đặc biệt là xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vai trò của trí thức ngày càng quan trọng Và trên thực tế, trí thức ngày càng gắn bó với nền sản xuất hiện đại, với giai cấp công nhân" {9,166}

Qua một số khái niệm trên, ta thấy rõ trí thức là ai Dù ở góc độ này haygóc độ khác, nhìn chung trong các định nghĩa về trí thức có hai đặc điểm cơ bản đ-

ợc khẳng định:

Thứ nhất: Trí thức bao gồm những ngời có trình độ học vấn cao

Thứ hai: Trí thức bao gồm những ngời lao động trí óc có chuyên môn cao

ở đặc điểm thứ nhất, trên thế giới hiệu nay, hầu hết các nớc thờng tính từnhững ngời có trình độ từ Cao đẳng trở lên, tức những ngời có học vấn nhất định,

có bằng cấp tơng ứng, cần thiết cho ngành lao động của mình

ở đặc điểm thứ hai, trí thức phải là những ngời có chuyên môn cao; lao

động bằng trí óc phức tạp và sáng tạo Nhng nếu chỉ có lao động trí óc, có chuyênmôn cao và là những ngời có học vấn cao thì vẫn cha thể xem là trí thức đợc

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về trí thức đều bác bỏ cách đánh

đồng khái niệm lao động trí óc với trí thức Trí thức là ngời lao động trí óc, nhngchỉ lao động trí óc không thôi thì cha thể coi là trí thức Trong nhân cách của tríthức có sự kết hợp chặt chẽ giữa “Trí” tức là hiểu biết với "Thức” nghĩa là lơng tri

và đức độ

Theo Ju Kurmosov, trí thức bao gồm những ngời có văn hoá và đạo đứccao, tích cực tham gia vào đời sống xã hội Nghĩa là một ngời không học, không

có văn hoá thì không thể là trí thức, đồng thời có văn hoá không thôi thì cha đủ

mà còn phải tham gia hoạt động đóng góp cho sự tiến bộ của xã hội Hơn nữa, đã

là trí thức, cần phải có khả năng sáng tạo, có tiêu chuẩn đạo đức Nếu thiếu mộttrong những yếu tố trên thì cũng không phải là ngời trí thức

Nh vậy, theo đúng nghĩa của danh từ, trí thức là ngời vừa hiểu biết sự vật,vừa hiểu mình, biết “ngời”, biết "ta” và họ đem giảng giải cho ngời khác biết

Trang 8

những kiến thức đó, hầu mong lợi ích chung Ngời thiếu đức độ, thiếu lơng tri, thì

dù có bằng cấo cao tột bậc, có thông thái đến đâu thì cũng chỉ xứng đáng đợc gọi

là “ngời có học”, “ngời đỗ đạt”, ngời làm việc bằng trí óc mà thôi Họ không phải

là trí thức Tuy nhiên tiêu chuẩn “học vấn cao” mà ta đòi hỏi ở trí thức cũng là

t-ơng đối Điều quan trọng là nhận thức cho đợc những tiêu chí cần vơn tới củanhững trí thức ở từng thời kỳ theo yêu cầu tất yếu của dân tộc và thời đại Ngày xa,

cụ đồ nho hoặc ngời đỗ tú tài (tơng đơng với ngời tốt nghiệp trờng phổ thông trunghọc ngày nay) đã đợc xem nh ngời có trình độ hiểu biết nhiều Còn bây giờ, nếukhông có bằng đại học hoặc có trình độ tơng đơng thì xã hội thờng không coi làtrí thức Song, trong cuộc sống thực tại, có những ngời học vấn không cao nhng họlại làm công việc phát triển và truyền bá văn hoá trong nhân dân

Xét trên phơng diện khác, trí thức không phải là một giai cấp, mà là mộttầng lớp xã hội, một tầng lớp xã hội đặc biệt Bởi trí thức không có quan hệ riêng,

đặc biệt với t liệu sản xuất Đồng thời gắn bó mật thiết với các giai cấp đang tồntại trong xã hội, và phục vụ nhu cầu của các giai cấp đó Trí thức có một vai tròchính trị và xã hội to lớn

Xét về cơ cấu trí thức có cơ cấu hết sức đa dạng và phức tạp Bởi trí thức tồntại trong mọi giai cấp, tầng lớp xã hội: công nhân, nông dân; trong mọi ngànhnghề nh quản lý, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hoá, y tế, thể dục -thể thao, trong dịch vụ, trong đối ngoại, quân sự v.v

Do đó, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với một số ý kiến chia tầng lớp trí thứcthành 3 nhóm chính sau:

Nhóm 1: Gồm những ngời thờng gọi là nhân viên (viên chức) đó là nhữngngời lao động trí óc ít chuyên môn, không đòi hỏi phải có trình độ đại học Họ lànhững nhân viên đánh máy, thủ quỹ, kế toán lao động trí óc của họ chủ yếu là lao

động thực hành, ít mang tính sáng tạo

Nhóm 2: Gồm những ngời là cán bộ chuyên môn, có trình độ cao đẳng, đại

học và trên đại học nh cán bộ nghiên cứu khoa học, kỹ s, cán bộ kỹ thuật, giáo

Trang 9

viên, bác sỹ, nhà văn, nhà báo v.v Đây là một tập đoàn xã hội lớn gồm những

ng-ời lao động trí óc có học vấn cao

Nhóm 3: Gồm những ngời vừa có trình độ chuyên môn vừa có trình độ

quản lý {12,8}

Tuy nhiên, ở nớc ta hiện nay còn có quan niệm cho rằng: Trí thức là nhữngcán bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ Quan niệm này hiểu cha đầy đủ Bởi vì,tầng lớp trí thức tồn tại ở nhiều lĩnh vực, trong đó bao hàm cả lĩnh vực khoa họccông nghệ Do đó, nên hiểu những cán bộ khoa học công nghệ là một thành phầncủa trí thức

Để hiểu rõ thêm trí thức - Họ là ai? Một điều quan trọng là chúng ta phảithấy rõ họ có chức năng nh thế nào ? Trong cuốn “Trí thức Việt Nam - Thực tiễn

và triển vọng” do Giáo s Phan Tất Dong chủ biên nêu 4 chức năng cơ bản của tríthức:

Thứ nhất: Chức năng đặc thù của lao động trí óc chuyên môn cao là sự

sáng tạo văn hoá, là sáng tạo và duy trì những giá trị cơ bản của xã hội; cái chân,cái thiện, cái mỹ và chân lý

Thứ hai: Chức năng phê phán: Khi phân tích những vấn đề của trí thức

trong những xã hội t bản, Paul Alecxandre Baran rấtcoi trọng tính phê phán xem

đó là điều kiện không thể thiếu để trở thành trí thức Dựa theo ý kiến của Masx,

ông cho rằng, ngời trí thức, từ bản chất, là một nhà phê bình xã hội, nhìn rõ sựvật, phải suy nghĩ đến cùng và phải dám phê phán không thơng tiếc những gì hiệnhữu đang là chớng ngại vật ngăn cản sự vơn tới một trật tự xã hội tốt đẹp hơn,nhân đạo hơn và hợp lý hơn

- Thứ ba: Chức năng đào tạo các cán bộ, đào tạo lớp trí thức mới cho đất

n-ớc

Thứ t: Chức năng xã hội Chức năng này thể hiện ở sự tham gia các hình

thức hoạt động xã hội, các công tác mang tính xã hội và đặc biệt là tham gia vàoquá trình quản lý xã hội {15,132}

Trang 10

Trí thức luôn là vấn đề cần quan tâm của mọi thời đại Từ khi xã hội phânchia thành các giai cấp khác nhau, giai cấp thống trị luôn cần đến đội ngũ trí thức.Trí thức là một bộ phận của nhân dân, là một trong những động lực thúc đẩy sự đilên của mỗi dân tộc, của toàn bộ lịch sử phát triển của nhân loại ở những giai

đoạn lịch sử khác nhau, tầng lớp trí thức trong từng xã hội khác nhau có nhữngquan niệm khác nhau về trình độ, về cơ cấu nghề nghiệp, về t tởng, chính trị v.v nhng dù khác nhau ở mức độ nào chăng nữa, thì điểm đặc trng của lực lợng xã hộinày cho mọi thời đại là họ đại diện cho trí tuệ đơng thời, cho đỉnh cao học vấn màxã hội đạt đợc, cho trình độ lao động trí óc và có sứ mạng phổ biến, duy trì, pháttriển văn hoá của dân tộc mình nói riêng và của nhân loại nói chung

Song, ở mỗi chế độ xã hội, tuỳ thuộc vào bản chất của nó mà vai trò của tríthức đợc thể hiện ở mức độ khác nhau

Dới chủ nghĩa t bản, trí thức chủ yếu bao gồm các nhà văn, các nhà hoạt

động xã hội, luật gia, bác sĩ, nghệ sỹ, hoạ sỹ, nhà kinh tế do đó vai trò chủ yếucủa họ là định hớng các hoạt động xã hội và khoa học cơ bản

Trong những năm 60-70 của thế kỷ XX, trí thức phát triển mạnh ở các bộphận là bác học, kỹ s, cán bộ kỹ thuật

Dới chủ nghĩa t bản, trí thức phục vụ đắc lực cho giai cấp t sản và thờng họcũng có cổ phiếu và tham gia vào quá trình bóc lột lao động làm thuê, nhng họ lại

lệ thuộc vào giai cấp t sản và bị t sản bóc lột

Còn dới chủ nghĩa xã hội, trí thức là một tầng lớp xã hội liên minh với côngnhân và nông dân, tạo nền tảng, cơ sở xã hội vững chắc của xã hội - xã hội chủnghĩa Trí thức đi theo hệ t tởng của giai cấp công nhân, nhiều đại biểu trí thức gianhập vào hàng ngũ những ngời cộng sản Họ trở thành những ngời làm chủ xã hội,Vai trò của trí thức trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đợc nâng lên Họ làngời phát minh khoa học, hớng dẫn, mở rộng các phạm vi ứng dụng; là lực lợng cơbản trong lao động trí óc, trong khoa học, công nghệ Là ngời tham mu, cố vấncho các chủ trơng đờng lối phát triển kinh tế xã hội Đồng thời trí thức cũng tham

Trang 11

gia trực tiếp vào quá trình quản lý xã hội, đào tạo và bồi dỡng nhân tài, bồi dỡngcán bộ

Vai trò của trí thức ngày càng đợc khẳng định một cách to lớn trong mọilĩnh vực của đời sống xã hội Thực tế đã chứng minh: ngày nay một đất nớc ngàu

có về tài nguyên cha hẳn là một nớc phát triển hàng đầu thế giới Trái lại, một nớcnghèo tài nguyên có thể vơn lên vị trí đó nếu họ biết sử dụng đội ngũ trí thức, biếtsáng tạo ra công nghệ mới và có một nền giáo dục hiện đại tiên tiến Nhật Bản làmột ví dụ điển hình, trong mặt hàng công nghệ của họ, chất xám đã chiếm 80%giá trị sản phẩm Mặt hàng điện tử, nguyên liệu chỉ chiếm 3% giá trị sản phẩm

Đầu thập kỷ 80, tổng sản phẩm kinh tế quốc dân của Mỹ trung bình hàngnăm tăng trởng 3,3%, trong đó phần tăng trởng do tiến bộ khoa học công nghệmang lại chiếm 1,8% tức khoảng 54% tăng trởng kinh tế hàng năm Một trămnăm qua, trung bình tiến bộ của khoa học công nghệ đóng góp vào s tăng trởngkinh tế của Mỹ là 40 - 70%/năm

Đã từ lâu, ông cha chúng ta cũng đã xác định đợc vai trò to lớn của tầng lớptrí thức Lê Quý Đôn đã có đợc sự tổng kết tài tình: “Phi công bất phú, phi thơng bất hoạt, phi nông bất ổn, phi trí bất hng” Sự hng thịnh của mỗi quốc gia phụ

thuộc rất lớn vào vai trò và thái độ của tầng lớp trí thức đối với xã hội

Nhìn lại quá trình từ những năm trớc cách mạng tháng Tám, nhiều trí thức

đã sớm giác ngộ cách mạng, gia nhập Đảng cộng sản, nêu gơng sáng về lòng trungthành với Đảng, với Tổ quốc và với nhân dân; nhiều ngời chấp nhận gian khổ, hysinh để tham gia kháng chiến, kiến quốc với tinh thần : “Tổ quốc lâm nguy, sỹ phu hữu trách”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chúng ta có quyền tự hào rằng: những ngời lao động trí óc ở Việt Nam đều đứng trong hàng ngũ kháng chiến”

{11,66} Ngời còn nói tiếp: “Những ngời trí thức tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến rất quý báu cho Đảng Không có những ngời đó thì công việc cách mạng khó khăn thêm nhiều”{10,446}

Trang 12

Trong kháng chiến chống Mỹ và trong quá trình xây dựng bên cạnh trí thứclớp trớc, còn có đội ngũ trí thức mới khá đông đảo, đợc đào tạo trong nhà trờng xãhội chủ nghĩa Nhìn chung, đại bộ phận trí thức này xuất thân từ công nông, đợcgiáo dục và rèn luyện qua thực tiễn chiến đấu và xây dựng đất nớc, đã thể hiệnbản lĩnh chính trị vững vàng, lòng trung thành và đức tính tận tuỵ vì sự nghiệpcách mạng của Đảng, của dân tộc Một số ngời đã có những sáng tạo lớn và đónggóp quan trọng trên nhiều lĩnh vực và ngày nay đang đứng ở vị trí đầu ngành tiêubiểu hoặc giữ những cơng vị quan trọng.

Sau ngày 30/4/1975, hàng vạn trí thức yêu nớc ở các tỉnh, thành phố phíaNam mới giải phóng đã nhanh chóng hoà mình vào khối đại đoàn kết dân tộc, vàhăng hái tham gia xây dựng đất nớc, tăng cờng cho đội ngũ trí thức ở nớc ta

Trí thức nớc ta có tiềm năng trí tuệ to lớn, thông minh và ham hiểu biết, rấtnhạy bén với cái mới, với xu thế thời cuộc, có khả năng nhanh chóng tiếp cận trình

độ tiến tiến của khoa học công nghệ và văn hoá thế giới Mấy năm gần đây, nhiềungời đã chủ động tìm cách bổ sung kiến thức và nâng cao trình độ của mình,nhanh chóng nắm bắt kỹ thuật và công nghệ tiến tiến, những kiến thức mới vềnhiều ngành khoa học để tạo ra động lực mạnh mẽ xây dựng đất nớc

Hiện nay, đội ngũ trí thức nớc ta gồm hơn 1 triệu ngời có trình độ Đại học

và Cao đẳng, hơn 10.000 Thạc sĩ, gần 12.000 Tiến sĩ, có hơn 125.000 ngời hoạt

động trong các lĩnh vực kinh tế và khoa học công nghệ, gần 800.000 giáo viên,gần 200.000 bác sĩ, 20.000 ngời hoạt động trên các lĩnh vực văn hoá, hơn 100.000công chức trong các cơ quan Nhà nớc Đây là nguồn lực cho chúng ta vơn lêntránh tụt hậu so với các nớc trên thế giới.{18,33}

Sở dĩ đã đạt đợc những thành tựu to lớn trên, trớc hết là nhờ sự nỗ lực phấn

đấu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, trong đó vai trò của trí thức chiếm vịtrí quan trọng

Đảng và nhân dân ta đánh giá cao vai trò của trí thức trong sự nghiệp cáchmạng thể hiện qua các văn kiện Đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội IX của Đảngmột lần nữa xác định rõ: "Đối với trí thức, tạo điều kiện thuận lợi để thu nhận

Trang 13

thông tin, tiếp cận các thành tựu mới của khoa học, công nghệ và văn hoá thế giới, nâng cao trình độ chính trị, kiến thức chuyên môn Khuyến khích tự do sáng tạo, phát minh, cống hiến Phát hiện, bồi dỡng, sử dụng đúng và đãi ngộ xứng đáng các tài năng Phát huy năng lực của trí thức trong việc thực hiện các chơng trình, đề tài nghiên cứu của Nhà nớc và xây dựng đờng lối, chủ trơng, chính sách pháp luật {18,125 - 126}.

Kết luận chơng 1.

Nh vậy, ở nớc ta, qua các thời kỳ lịch sử, vai trò của trí thức đều hết sứcquan trọng, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, trí thức lại càng quan trọng hơn.Không có trí thức, không có nhân tài thì không thể tiến hành công nghiệp hoá,hiện đại hoá đất nớc, không thể xây dựng thành công CNXH

Thực vậy lao động của trí thức là lao động trí óc sáng tạo, loại lao động cókhả năng sáng tạo ra những giá trị to lớn, là nguồn tài nguyên vô tận Mọi nguồnlực, kể cả tài nguyên thiên nhiên đều có thể bị khai thác cạn kiệt Chỉ còn lại trítuệ con ngời là không bao giờ cạn kiệt

Trang 14

Chơng 2:

Vai trò của trí thức nghệ an trong sự nghiệp

đổi mới hiện nay.

2.1 Một số nét cơ bản về Nghệ An:

Nghệ An là một tỉnh lớn, có diện tích tự nhiên là 1.609.960 ha; trong đó đấtnông nghiệp : 182.360ha, đất lâm nghiệp là: 1.206.603 ha Nghệ An là tỉnh nằmtrong tuyến giao lu Bắc - Nam, có 82 km bờ biển, với hải phận rộng 4229 hải lývuông Nghệ An có 6 cửa lạch có thể phát triển hải cảng, trong đó nổi bật là Cửa

Lò và Cửa hội là hai hải cảng quan trọng Nguồn khoáng sản Nghệ An phong phú

và đa dạng, điển hình là vật liệu xây dựng (đá vôi 800 triệu m3, đá xây dựng 3 tỷ

m3, đất sét, cát sỏi ) có 113 vùng mỏ lớn nhỏ và 171 điểm quặng về than, thiếc,ban-xit, photphorits Tài nguyên rằng có các loại gỗ quý nh Pơmu, Samu, Lim,Táu, Đinh hơng, sếu ớc tính có khoảng 226 loài dợc liệu, lâm sản đồng thờicũng là nơi sinh sống của nhiều loài động vật quý hiếm nh: báo, hổ, voi, bò tót

Nghệ An hiện nay có 2.760.196 ngời(6/2000) với 5 dân tộc khác nhau sinhsống, có thành phố Vinh đang trong quá trình phát triển, có thị xã Cửa Lò và 17huyện; Nghệ An có vùng biển, đồng bằng trung du, bán sơn địa và miền núi, cócác danh lam thắng cảnh để phát triển du lịch nh các khu nghỉ mát ven biển Cửa

Lò, Nghi Thiết, Cửa Hiền di tích lịch sử Kim Liên, Bến Thuỷ, cảnh đẹp thiênnhiên vùng tây Bắc, Tây Nam Nghệ An có cả đờng bộ, đờng sắt Bắc - Nam, có đ-ờng hàng không, đờng biển thuận lợi cho sự phát triển kinh tế

Con ngời Nghệ An yêu lao động cần cù chịu khó, giàu truyền thống cáchmạng, đặc biệt là truyền thống hiếu học và học giỏi Thời nào cũng vậy, con ngời

Xứ Nghệ đều có vị trí và vai trò xứng đáng trong mọi lĩnh vực chính trị - xã hộicủa đất nớc Quê hơng này cũng từng sinh ra nhiều bậc hiền tài, mà trong đó tiêubiểu nhất là Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, danh nhân văn hoáthế giới

Trang 15

Nghệ An cũng tự hào có Trờng Đại học Vinh là một trung tâm đào tạo cán

bộ có trình độ đại học, sau đại học và là một trung tâm nghiên cứu khoa học lớncủa khu vực Bắc miền Trung- Đây là tiềm năng rất có lợi cho sự phát triển kinh tế,xã hội tỉnh nhà và đóng vai trò quan trọng trong hệ thống mạng lới các trờng Đạihọc, cao đẳng của cả nớc

Song, Nghệ An cũng còn có những khó khăn hạn chế nhất định: Trớc hết ởvùng đất này, khí hậu, thời tiết diễn biến phức tạp, ảnh hởng xấu đến sản xuất và

đời sống; tài nguyên đa dạng nhng phân bố trên các địa hình phức tạp, nên việc

đánh giá tài nguyên cha đầy đủ; hơn nữa, điều kiện khai thác lại quá khó khăn.Nguồn lực lao động dồi dào nhng trình độ cha cao Công nghệ, kỹ thuật lạc hậu.Sản xuất chậm phát triển, bình quân đầu ngời (GDP) năm 1998 chỉ đạt 248 USD.Năm 2000 mới đạt 370 USD, 2001 đạt 396 USD, dự kiến năm 2002 đạt 420 USD

Kinh tế Nghệ An chủ yếu là kinh tế nông nghiệp, mang nặng tính tự cung tựcấp Sản xuất công nghiệp có phát triển nhng vẫn là một nền công nghiệp nhỏ bé,công nghệ lạc hậu, sản phẩm hàng hoá ít, cha đủ sức cạnh tranh với thị trờng trongnớc và trên thế giới Kết cấu hạ tầng thấp kém Nguồn thu ngân sách cha đủ chi,tình trạng thất thu thất nộp còn lớn Kinh tế đối ngoại và xuất nhập khẩu còn yếukém Hệ thống thơng nghiệp phục vụ sản xuất và đời sống còn nhiều hạn chế.Trong toàn bộ hoạt động kinh tế thì nông nghiệp đang chiếm 57% tổng sản phẩmxã hội, 90,38% tổng số lao động là nông dân Sản phẩm nông nghiệp là chính, nh-

ng bình quân mới chỉ đạt 357kg/đầu ngời/ năm, có 21,6% hộ nghèo và đói, trong

đó hộ nghèo 12,4% hộ đói 9,2% (theo số liệu của Sở LĐTB-XH Nghệ An tháng6/2001)

Một khó khăn nữa của Nghệ An là : con ngời Nghệ An cha mềm dẻo trongcơ chế thị trờng, thiếu linh hoạt, thiếu nhạy cảm với cái mới, với những đặc tínhthích nghi ( hơn biến đổi) cần cù ( hơn cải tiến), tình nghĩa (hơn duy lý), kinhnghiệm ( hơn lý luận) Lao động trí tuệ, chất xám và “bàn tay vàng” đang bị đánh

đồng với lao động giản đơn; xã hội cha dành u tiên cho sự tôn vinh trí tuệ

Trang 16

So với cả nớc, Nghệ An là một tỉnh nghèo, nền kinh tế, sản xuất nhỏ cònphổ biến, lại gánh nặng về chính sách xã hội; số gia đình chính sách ở Nghệ Anchiềm từ 8-9% số lợng gia đình chính sách cả nớc Mỗi gia đình, cũng nh lãnh đạocác cấp quanh năm lo chạy vạy, cân đối cái ăn, cái mặc Thiếu thốn trăm đờng mànỗi lo của mọi ngời hầu nh đã trở thành bản năng, mở mắt ra là lo chống hạn,chống bão, chống lụt, chống đói, chống sâu bệnh,

Tình trạng thiếu hụt ngân sách đang là vấn đề nổi cộm trong đầu t phát triển

ở Nghệ An Lao động không có việc làm còn nhiều Các hoạt động khoa học, giáodục-đào tạo, y tế văn hoá, nghệ thuật, thể dục-thể thao cha theo kịp yêu cầu pháttriển kinh tế-xã hội

Nh vậy, đối với Nghệ An, hạn chế còn nhiều, khó khăn còn lớn Nhng đểtừng bớc khắc phục những yếu kém, đa Nghệ An thoát khỏi một tỉnh nghèo, tránhnguy cơ tụt hậu, tỉnh phải động viên nguồn lực, phải khai thác mọi tiềm năng, từnguồn vốn trong nhân dân, tài nguyên trong lòng đất, dới đại dơng, đến tinh thần,

ý chí trong cán bộ, đảng viên Nghĩa là các yếu tố từ nội lực đến sự giúp đỡ, tơngtrợ của bên ngoài (cá nhân và tập thể) v.v song làm gì, và làm nh thế nào để pháthuy đợc hiệu quả thì thật là vấn đề hết sức khó khăn Nghệ An không thể đi lêntheo phơng sách: “mo cơm, quả cà với tấm lòng cộng sản”, khi mà lao động trí

tuệ, chất xám đang đợc đặt lên hàng đầu Do vậy, Nghệ An phải thấy đợc động lựcnào là chính trong muôn vàn động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội tỉnhnhà

Những năm qua, Nghệ An đã xác định đợc một cách đúng đắn: lực lợngquyết định quan trọng nhất, đó là trí tuệ Bởi họ là ngời đại diện cho lao động trí

óc, sáng tạo, họ nằm trong mọi giai cấp, mọi tầng lớp xã hội, họ là nguồn lựckhông bao giờ cạn kiệt

2.2 Một số nét thực trạng của trí thức Nghệ An

Trớc hết, cần khẳng định, trí thức Nghệ An đó là những ngời có trình độ từcao đẳng trở lên Số lợng đó ở Nghệ An có khoảng 37.720 ngời Trong đó trình độ

Trang 17

Cao đẳng 13.544 (chiếm 35,9%), Đại học: 23.667 (chiếm 62,73%), Thạc sĩ:406(1,1%), GS.TS: 103 (0,3%) (Theo số liệu thống kê ngày 31/12/2001)

Trí thức Nghệ An có mặt trong mọi giai cấp, tầng lớp (trong công nhân,nông dân ), trong mọi ngành nghề (nh công nghiệp, nông nghiệp, y tế giáo dục,

đào tạo, khoa học, công nghệ, trong dịch vụ, trong quản lý, trong quốc phòng anninh v.v.); trí thức cũng tồn tại trong các địa bàn dân c khác nhau ( trong thànhthị , nông thôn, miền núi v.v )

Mặt mạnh của trí thức Nghệ An là: cần cù, nhiệt tình, hăng say với côngviệc Ham học hỏi, cầu tiến bộ, sẵn sàng cống hiến, hy sinh quyền lợi của mìnhcho tập thể và ngời khác v v

Song nhìn chung, trí thức Nghệ An hiện nay còn có nhiều khó khăn, hạnchế bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ hiện tại và còn xa mới đáp ứng đợc yêu cầucủa CNH, HĐH đất nớc Số lao động có đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụcòn đạt tỷ lệ thấp, cơ cấu ngành nghề cha hợp lý Số lợng trí thức chủ yếu tậptrung trên các lĩnh vực y tế, giáo dục đào tạo Theo thống kê ngày 31/12/2001 ởNghệ An có 37.720 ngời có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên, chiếm 1,3% thìtrong đó: hoạt động trong ngành giáo dục-đào tạo chiếm số lợng nhiều nhất với29.300 ngời; trong ngành y có gần 6.000 ngời Cũng theo số liệu của Cục thống kêNghệ An, trong số trên 37.000 ngời có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên thìkhoa học tự nhiên chiếm 32%, khoa học xã hội chiếm 37%, còn lại là các lĩnh vựckhoa học khác Trong khi đó các ngành nông, lâm, ng, thuỷ lợi là mặt trận hàng

đầu chỉ chiếm 8,21%, các ngành kinh tế tổng hợp chiếm 10%, các ngành côngnghệ chế biến nông, lâm, hải sản- đặc biệt quan trọng và bức thiết chiếm 0,7% )

Số lợng cán bộ đợc đào tạo chính quy tuy chiếm tỷ lệ khá (67,7%) nhngchất lợng, trình độ thực tế rất hạn chế, nhất là về kiến thức khoa học công nghệtiên tiến, ngoại ngữ, tin học và khả năng nghiên cứu, triển khai

Số cán bộ có trình độ trên đại học do tỉnh trực tiếp quản lý, sử dụng - ít về

số lợng, già về tuổi đời (toàn tỉnh có 103 PTS PGS, 406 Thạc sĩ, trong đó tuổitrung bình của PTS, PGS là 54,3 và Thạc sĩ là 45,2)

Trang 18

Số thạc sĩ làm việc trong các cơ quan nghiên cứu triển khai thấp ( 23/406).Nếu không đợc đào tạo nguồn bổ sung thì đến năm 2005 số cán bộ hiện có sẽ bịgià quá về tuổi đời và tụt hậu về kiến thức.

Về nguồn đào tạo, số đông trong đội ngũ PTS PGS đợc đào tạo ở Liên Xô(cũ) và các nớc Đông Âu trong thời kỳ bao cấp; đa số các Thạc sĩ đợc đào tạo chủyếu nhằm tiêu chuẩn hoá cán bộ, do đó khó thích ứng đợc yêu cầu nhiệm vụ củathời kỳ mở cửa, cơ chế thị trờng và đáp ứng nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệphoá, hiện đại hoá

Bên cạnh đó, sự phân bố đội ngũ trí thức cũng có sự mất cân đối lớn giữathành thị với nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi Theo số liệu thống kê ở 3huyện và thành phố Vinh, số cán bộ cao đẳng , đại học ở TP Vinh, Nghi Lộc, YênThành, Quỳnh Lu nhiều gấp 17,44 lần 4 huyện vùng cao Quế phong, Con Cuông,Tơng Dơng, Quỳ hợp Trong khi ở huyện Kỳ Sơn (huyện miền núi) với số dân là58.000 nghìn ngời (theo thống kê 2000 Của cục thống kê Nghệ An) thì tỷ lệ 253dân mới có 1 ngời có bằng cấp từ cao đẳng trở lên ( trong khi đó tỷ lệ toàn tỉnh là1/77)

Không những giữa các ngành nghề, sự phân bố trí thức mất cân đối, màngay trong từng ngành nghề cũng vậy Tính riêng trên lĩnh vực giáo dục, cácngành khoa học nh văn, toán, lý, hoá, sinh, sử đã có lúc bão hoà về cán bộ; đặcbiệt là giáo viên cấp 2, cấp 3 Thế nhng ngợc lại, giáo viên Giáo dục công dân,Giáo dục thể chất còn thiếu nhiều Theo số liệu thống kê của Sở Giáo dục- Đào tạoNghệ An năm học 1998-1999 Toàn tỉnh có 67 trờng PTTH chỉ có 137 giáo viênGDCD, nh vậy, trung bình mỗi trờng có 1,5 giáo viên dạy môn GDCD có trình độCao đẳng, Đại học Có thể nói, kinh tế thị trờng là một cuộc ganh đua quyết liệt,lạnh lùng giữa các đối thủ trên mọi lĩnh vực; muốn hay không, thì Nghệ An đãnhập vào cuộc canh tranh đó ngay trên chính mảnh đất của mình Nhng con ngờiNghệ An phần lớn kể cả cán bộ và nhân dân còn là con ngời “tỉnh lẻ”, con ngời

“nửa tỉnh nửa quê” trong nền kinh tế thị trờng Đó là bất lợi mà lịch sử để lại chochúng ta Nó tác động , ảnh hởng không nhỏ đến trí thức Nghệ An

Trang 19

Một thực tế “đáng buồn” là trí thức Nghệ An, hầu hết đều có tâm trạng cha

ổn định nơi công tác của mình; đặc biệt những cán bộ đầu ngành, có học hàm,học vị thờng muốn “chia tay”; hoặc những trí thức Nghệ An đi học, đỗ đạt ở nơi

khác cũng ít muốn trở về (Chỉ riêng trờng Đại học Vinh trong 10 năm qua đã cógần 20 PGS, TS đi khỏi trờng đến Hà Nội và TP Hồ Chí Minh giảng dạy)

Theo thống kê của Bộ khoa học công nghệ và môi trờng: hiện nay cả nớc cógần 12.000 Tiến sĩ thì trong đó có 34,6% là ngời gốc Nghệ Tĩnh nh : cả bố, mẹ,

đều là ngời Nghệ Tĩnh, hoặc bố là ngời Nghệ Tĩnh Đây là tỷ lệ rất lớn so với cáctỉnh, thành cả nớc, là niềm tự hào to lớn của ngời dân xứ Nghệ Song, trong số đó,

có bao nhiêu ngời đang công tác ở Nghệ Tĩnh nói chung, Nghệ An nói riêng? Phảichăng họ không tha thiết, không yêu quê hơng đất tổ? Phải chăng họ ngại thời tiết,khí hậu khắc nghiệt ? Điều đó có nhng rất ít còn đại đa số cho rằng về Nghệ An

khó sống”, “khó phát triển”, “khó ăn nên làm ra”; có ngời đã khái quát Nghệ An

là nơi mà “ Cái mới chậm vào và cái cũ khó ra” Điều nữa là trí thức Nghệ An

hiện nay có mức sống quân bình rất thấp, chủ yếu dựa vào đồng lơng danh nghĩa

là chính, thu nhập thêm cha có, hoặc không đáng kể Điều kiện làm việc, đầu t chocác hoạt động của trí thức còn thấp, cơ sở vật chất còn nghèo, phơng tiện cũ kỹ,lạc hậu nên cha phát huy đến mức tối đa sự cống hiến của đội ngũ này Hơnnữa, trong những năm qua, ở Nghệ An, số trí thức làm việc trái ngành, trái nghề,trái chuyên môn còn nhiều Số có trình độ Cao đẳng, Đại học cha có việc làm cònchiếm tỷ lệ lớn, số đỗ đạt loại giỏi, có năng lực cống hiến cha đợc u tiên chọn việchợp với chuyên môn, thậm chí còn “thất nghiệp”

Tóm lại, ngoài những thuận lợi, những u điểm, trí thức Nghệ An còn không

ít những khó khăn, hạn chế Nguyên nhân, phải khẳng định vừa có tính kháchquan, đồng thời vừa mang tính chủ quan

Về khách quan: Môi trờng tự nhiên, xã hội ở Việt Nam cha tạo đợc nhiều

thuận lợi cho trí thức phát huy vai trò của mình Địa phơng tuy đã có chính sáchthu hút, quy tụ đội ngũ trí thức, đặc biệt là cán bộ đầu ngành nhng trí thức vẫn cha

Trang 20

cho các hoạt động của trí thức, cha kịp thời động viên, khen thởng về tinh thần đốivới những công trình “khoa học, những phát minh sáng chế”

Về chủ quan: Sự cố gắng để khẳng định mình của trí thức Nghệ An có lúc

cha cao, có nhiều ngời thờ ơ, không tha thiết với công việc, nhận thức về sự bình

đẳng giữa các thành phần kinh tế cha sâu, do vậy, còn tự ti, mặc cảm trong việclàm, dẫn đến tình trạng “rò rỉ chất xám”, '‘hao mòn chất xám” tại chỗ còn nhiều,

gây nên sự thiệt thòi cho xã hội và cá nhân

2.3 Vai trò của trí thức Nghệ An trong sự nghiệp đổi mới hiện nay:

Sự nghiệp đổi mới của đất nớc nói chung, của Nghệ An nói riêng bắt đầukhởi xớng từ 1986, từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng

Qua hơn 15 năm đổi mới, Nghệ An đã đạt đợc những thành tựu đáng kể

Đặc biệt trong 5 năm (1996 -2000) tổng sản phẩm quốc dân (GDP) tăng bình quânhàng năm là 7,37% Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hớng giảm tỷ trọng nôngnghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ Tốc độ tăng trởng bình quân ngànhnông nghiệp 1996 -1999 đạt 4,59%/năm; ngành nông-lâm-ng nghiệp 6,21%; côngnghiệp-xây dựng 13,62%; dịch vụ: 15,1% Sản lợng lơng thực tăng từ 66,4 vạn tấnnăm 1996 lên 79,78 vạn tấn năm 1999, 82,4 vạn tấn năm 2000, lơng thực bìnhquân đầu ngời đạt 278,2 kg/ngời/năm; đồng thời đã giảm đợc số hộ đói giáp hạthàng năm GDP bình quân đầu ngời tăng lên gần 400USD năm 2001

Các lĩnh vực văn hoá-xã hội có chuyển biến rõ nét; các chơng trình về giáodục-đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục, thể thao, dân số, kế hoạch hoá gia đình, cácchính sách xã hội, bảo vệ và chăm sóc trẻ em đợc tiển khai tích cực theo hớng xãhội hoá Giáo dục phổ thông, dạy nghề, cao đẳng và đại học đã tăng số lợng vànâng dần chất lợng

Theo số liệu của Sở Giáo dục-Đào tạo Nghệ An (2001), trong năm học2000-2001, các trờng S phạm, chuyên nghiệp, dạy nghề trực thuộc tỉnh có 2986cán bộ, giáo viên Các trờng PTTH hiện có 3644 giáo viên và 546 cán bộ quản lý,phục vụ ở các THCS có 11923 cán bộ quản lý, giáo viên v.v

Trang 21

Cũng trong năm 2000-2001, trên 19 huyện, thị, thành có 60186 học sinh tốtnghiệp phổ thông cấp 2, có 30242 học sinh tốt nghiệp cấp 3 Số học sinh, sinh viêncác hệ đào tạo chính quy, mở rộng, từ xa ở Cao đẳng SP Vinh, Trờng Đại họcVinh, trờng CĐ kỹ thuật và các cơ sở hàng năm có tới hàng ngàn, đặc biệt càng vềsau, con số này càng tăng gấp nhiều lần.

Tóm lại, sự nghiệp đổi mới vừa qua, đặc biệt là từ năm 1996-2000, Nghệ

An đã có bớc chuyển quan trọng, tạo đà phát triển cho giai đoạn tiếp theo Thànhtựu đó chứng tỏ rằng Nghệ An đã biết phát huy mọi nguồn lực, trong đó coi trọng

đội ngũ trí thức-những ngời lao động trí óc chuyên môn cao, biết duy trì những giátrị cơ bản của xã hội, biết lao động sáng tạo, đồng thời cũng biết phê phán xãhội,phê phán những gì hiện hữu đang là chớng ngại vật ngăn cản sự vơn tới một xãhội tốt đẹp hơn, nhân đạo và hợp lý hơn

Trí thức có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống, trong mọi ngành nghề, mọihoạt động kinh tế-xã hội ở phơng diện nào trí thức cũng đóng góp tích cực Nhờnhững đóng góp đó mà Nghệ An đã từng bớc đi lên, đã từng bớc biến các chỉ tiêu

do Đại hội tỉnh Đảng bộ XIV đề ra thành hiện thực

Trong lĩnh vực chính trị, những nhà lý luận qua quá trình tìm tòi khảonghiệm đã vận dụng sáng tạo CN Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của đất nớc,của địa phơng - Nghệ An Có không ít đội ngũ trí thức ở lĩnh vực này là ngời đã đa

ra những thông tin mới nhất để Đảng, Nhà nớc và nhân dân nhận thức và thay đổicách nghĩ, cách làm phù hợp, tiến bộ, nâng cao trình độ hiểu biết về thực tiễn đểtạo ra một cơ chế dân chủ trong quản lý xã hội, thực hiện dân chủ xã hội ngàycàng đầy đủ thực chất hơn, góp phần thúc đẩy nhịp độ của công cuộc đổi mới thu

đợc nhiều kết quả

Trên lĩnh vực khoa học công nghệ, các thành tựu áp dụng khoa học và côngnghệ vào sản xuất và đời sống đã có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển củaNghệ An, khoa học công nghệ đã trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp nâng caotrình độ khoa học - kỹ thuật của sản xuất thúc đẩy sự phát triển:

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w