1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát huy vai trò của giáo viên bộ môn giáo dục công dân trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông

118 838 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát huy Vai Trò Của Giáo Viên Bộ Môn Giáo Dục Công Dân Trong Việc Nâng Cao Hiệu Quả Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Trung Học Phổ Thông
Tác giả Vũ Ngọc Lộc
Người hướng dẫn TS. Bùi Văn Dũng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục Chính trị
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 762 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thực hiện vai trò định hướng phát triển nhân cách học sinh của giáo viên bộ môn GDCD trong giáo dục đạo đức thông qua hoạt động dạy học môn GDCD...59 2.2.3.3.. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH



Học viên: VŨ NGỌC LỘC

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

TRONG VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠOĐỨC

CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(Qua khảo sát tại trường THPT Lương Thế Vinh,

Thành phố Hồ Chí Minh, 2012

Trang 2

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN

GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

3.1 Mục đích 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Giới hạn đề tài 6

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận 6

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 7

6 Giả thuyết khoa học 7

7 Đóng góp của đề tài 7

8 Bố cục của đề tài 7

Chương 1 9

VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH THPT 9

1.1 Cơ sở xác định vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 9

1.2 Các vai trò chủ yếu của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 13

1.2.1 Mục đích yêu cầu giáo dục đạo đức cho học sinh THPT 13

1.2.2 Vai trò tấm gương sáng của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh 16

1.2.3 Vai trò định hướng phát triển nhân cách của học sinh thông qua hoạt động dạy học môn GDCD của giáo viên bộ môn GDCD 19

1.2.4 Vai trò nâng cao hiểu biết, kỹ năng, thái độ cho học sinh của giáo viên bộ môn GDCD thông qua các HĐGDNGLL 22

1.3 Những yếu tố tác động đến việc rèn luyện đạo đức của học sinh ở trường THPT 27

1.3.1 Về tâm sinh lý học sinh 27

1.3.2 Về phía gia đình 30

1.3.3 Về phía nhà trường 32

1.3.3.1 Chất lượng đội ngũ giáo viên 32

1.3.3.2 Chất lượng hoạt động dạy học 34

Trang 3

1.3.3.3 Chất lượng HĐGDNGLL 35

1.3.4 Về phía xã hội 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39

Chương 2 41

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT LƯƠNG THẾ VINH, Q.1, TP.HCM 41

2.1 Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục của trường THPT Lương Thế Vinh, Q.1, TP.HCM 41

2.1.1 Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội của Q.1 41

2.1.2 Tình hình giáo dục của Q.1 42

2.1.3 Đặc điểm của trường THPT Lương Thế Vinh 44

2.2 Tình hình thực hiện vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Lương Thế Vinh, Q.1, TP.HCM 45

2.2.1 Thực trạng nhận thức về vị trí, nhiệm vụ môn GDCD và về vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh của cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh và học sinh trường THPT Lương Thế Vinh 45

2.2.1.1 Nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về vị trí, nhiệm vụ môn GDCD và về vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Lương Thế Vinh 45

2.2.1.2 Nhận thức của phụ huynh về vị trí, nhiệm vụ môn GDCD và về vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Lương Thế Vinh 47

2.2.1.3 Nhận thức của học sinh về vị trí, nhiệm vụ môn GDCD và về vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Lương Thế Vinh 48

2.2.2 Thực trạng đạo đức của học sinh trường THPT Lương Thế Vinh 49

2.2.2.1 Ý thức đạo đức và thực hiện nội qui của học sinh 49

2.2.2.2 Nguyên nhân vi phạm nội qui của học sinh 51

2.2.2.3 Những yếu tố ảnh hưởng 53

2.2.3 Việc thực hiện vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT Lương Thế Vinh 56

2.2.3.1 Việc thực hiện vai trò là tấm gương sáng của giáo viên bộ môn GDCD trong giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua việc rèn luyện bản thân 56

2.2.3.2 Việc thực hiện vai trò định hướng phát triển nhân cách học sinh của giáo viên bộ môn GDCD trong giáo dục đạo đức thông qua hoạt động dạy học

môn GDCD 59

2.2.3.3 Việc thực hiện vai trò nâng cao hiểu biết, kỹ năng, thái độ cho học sinh của giáo viên bộ môn GDCD trong giáo dục đạo đức thông qua các HĐGDNGLL 67

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

Trang 4

Chương 3

MỘT SỐ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA GVBMGDCD TRONG VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH TRƯỜNG THPT LƯƠNG THẾ VINH, Q.1, TP.HCM 74

3.1 Phương hướng 74

3.1.1 Nâng cao tinh thần trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để hoàn thành tốt vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong trường THPT 76

3.1.2 Phát huy vai trò của giáo viên bộ môn GDCD để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trên cơ sở đảm bảo mục tiêu giáo dục trong ba môi trường và phối kết hợp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường 84

3.2 Giải pháp 91

3.2.1 Giáo viên bộ môn GDCD thường xuyên tu dưỡng, học tập nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ để phát huy vai trò tấm gương sáng trong giáo dục đạo đức cho học sinh 92

3.2.2 Giáo viên bộ môn GDCD tích cực đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD để phát huy vai trò định hướng phát triển nhân cách cho học sinh 95

3.2.3 Giáo viên bộ môn GDCD phối kết hợp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường để phát huy vai trò nâng cao hiểu biết, kỹ năng, thái độ cho học sinh trong giáo dục đạo đức thông qua các HĐGDNGLL 104

3.2.4 giáo viên bộ môn GDCD tích cực đề xướng và có vai trò tiên phong trong tham gia xây dựng nhà trường tiên tiến, là tấm gương sáng để học sinh noi theo trong nhiều lĩnh vực 110

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 112

KẾT LUẬN CHUNG 114

PHỤ LỤC 119

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 122

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời gian qua, vấn đề đạo đức xã hội ở nước ta diễn ra rất phức tạp,

đạo đức xã hội có phần xuống cấp, điều đáng lo ngại hơn cả là: “… một bộ phận

Trang 6

học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân

và đất nước.” [12, 21] Đến những năm gần đây, xu hướng xuống cấp đạo đức đã

biểu hiện theo chiều hướng phức tạp đó là “bạo lực học đường” Tại Đại Hội ĐạiBiểu Toàn Quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ ra hạn chế,

khuyết điểm của vấn đề này là: “Xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức

trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội.” [14, 168] Điều này chứng tỏ việc giáo dục đạo đức cho thanh thiếu

niên và học sinh đã qua hơn hai thế hệ song hành với hơn 25 năm đổi mới toàndiện đất nước chưa thực sự có hiệu quả như kỳ vọng

Nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là từ tác động mặt trái của kinh tế thịtrường và chính sách mở cửa, các hiện tượng tiêu cực ngoài xã hội; công tácquản lý các hoạt động văn hóa, dịch vụ văn hóa có lúc còn buông lỏng; công tácphòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luậttrong lứa tuổi thanh thiếu niên còn chưa quan tâm đúng mức và thường xuyên;nội dung giáo dục đạo đức, công dân còn nặng lý thuyết; phương thức tổ chứchoạt động ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa còn mang tính áp đặt; nhà trường lại có

xu hướng chạy theo giáo dục những môn văn hóa mang tính “chiến lược” vì mụcđích thi cử, vì thành tích

Trường THPT Lương Thế Vinh, Q.1, TP.HCM cũng không đứng ngoàithực trạng đó Nằm ở vị trí khá phức tạp về mặt xã hội, trong những năm qua,nhiều gia đình, cha mẹ mải miết lo kiếm tiền, không chăm lo đến sự học hành,đời sống của con trẻ Hàng loạt hàng quán mọc lên với đủ loại hình trò chơi từBillard, games online, playstation, internet chat… để kiếm tiền từ học sinh Một

số học sinh ra trường không có việc làm hay tụ tập, lôi kéo học sinh còn đanghọc vào những sinh hoạt không lành mạnh làm ảnh hưởng đến học tập và rènluyện đạo đức của những học sinh ấy

Đội ngũ giáo viên, là nhân tố quan trọng nhất quyết định chất lượng giáodục (Điều 15, Luật Giáo dục đã chỉ rõ), đặc biệt là giáo viên bộ môn GDCD.Môn GDCD trang bị cho học sinh một cách trực tiếp và có hệ thống những trithức về thế giới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng Hồ Chí Minh;đường lối lãnh đạo xây dựng và bảo vệ đất nước của Đảng; pháp luật và đạo đức

Trang 7

xã hội chủ nghĩa Từ đó giúp học sinh định hướng cuộc sống, giúp hình thành vàphát triển nhân cách; hình thành lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; hình thànhđạo đức, lối sống và phẩm chất của một công dân xã hội chủ nghĩa đích thực Vìvậy, để cùng tham gia khắc phục tình trạng xuống cấp về đạo đức trong một bộphận học sinh, để cùng đáp ứng nhiệm vụ và mục tiêu giáo dục thế hệ trẻ, xâydựng con người mới của thế kỷ XXI thì việc phát huy vai trò của giáo viên bộmôn GDCD trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh THPTthông qua sự mẫu mực về phẩm chất, đạo đức, lối sống, thông qua hoạt động dạyhọc và tham gia HĐGDNGLL cũng trở thành một trong những vấn đề cấp thiếthiện nay Bài viết này mong đóng góp một phần nhỏ để giải quyết vấn đề cấpthiết đó.

2 Tình hình nghiên cứu vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh

Từ xưa, vấn đề đạo đức và vai trò giáo dục đạo đức của người thầy đãđược xem trọng

Khổng Tử (551-479 TCN) là nhà giáo dục lớn, rất xem trọng đạo đức vàvai trò giáo dục đạo đức qua các tác phẩm “Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc XuânThu” Quan điểm của ông là nhân cách không phải bẩm sinh bởi vì bản chất đơn

sơ của con người đều giống nhau, song do sự tác động của môi trường nên thóiquen đem lại tất cả Theo ông, để xây dựng một xã hội lý tưởng thì điều tiênquyết là phải giáo dục và đào tạo nên một mẫu người lý tưởng, có đủ tài và đức,trí và lực, văn và chất, một lòng trung thành phụng sự chế độ, là rường cột củachế độ xã hội Từ mục tiêu ấy, Khổng Tử đã đề xuất một hệ thống phương phápgiáo dục khá chặt chẽ, chỉ rõ yêu cầu đối với người học và vai trò của người dạy

Với người học thì “kẻ nào không cố công tìm kiếm, ta chẳng chỉ vẻ Khi nào

không bộc lộ tư tưởng của mình, ta chẳng khai sáng cho Kẻ nào ta dạy mà không biết hai ta chẳng dạy” (Luận Ngữ) Với người dạy thì nguyên tắc làm

gương được coi trọng và “học không biết chán, dạy người không mệt” [5]

Socrat (470-399 TCN) là một nhà triết học có khuynh hướng nghiên cứuhướng nội, tức là nghiên cứu về con người, về đạo đức của con người Theo ông,triết học là trí tuệ, là tiền đề của đạo đức; không có trí tuệ thì không có đạo đức

Trang 8

Thậm chí ông đồng nhất trí tuệ với đạo đức Từ đó, ông khẳng định rằng đạo đức

và sự hiểu biết qui định lẫn nhau, có được đạo đức là nhờ ở sự hiểu biết Để thựchiện việc mang lại những cơ sở của đạo đức, ông đã đưa ra phương pháp cơ bản– phương pháp đàm thoại mà về sau người ta gọi là “phương pháp Socrat”, qua

đó vai trò, nhiệm vụ của người dạy cũng được đề ra thông qua việc thực hiện bốnbước “Mỉa mai”, “Đỡ đẻ”, “Quy nạp”, “Xác định” trong phương pháp [4]

Aristote ( 384-322 TCN) cho rằng, ở con người có hai phẩm hạnh cơ bản

là phẩm hạnh trí tuệ và phẩm hạnh luân lý Phẩm hạnh trí tuệ phụ thuộc phần lớnvào học vấn đã tiếp thu được, cả cho sự sản sinh, sự lớn lên và do vậy, phẩmhạnh ấy cần đến kinh nghiệm và thời gian Còn phẩm hạnh luân lý là sản phẩmcủa tập quán và do vậy, không có một phẩm hạnh luân lý nào được sản sinh do

tự nhiên (mang tính bẩm sinh) Con người ta muốn trở thành tốt thì phải tiếpnhận một sự giáo dục và các tập quán của con người tốt Theo Aristote, ba yếu tốlàm cho con người trở thành tốt và đạo đức là: tư chất, tập quán và lý trí Conngười, theo ông ngay từ khi sinh ra đã có tư chất của một con người, đã có một

số khuynh hướng phát triển thể xác và tinh thần Nhưng cũng có nhiều phẩm chất(năng khiếu) vốn có ở con người lại chẳng có lợi gì cho con người, bởi nhữngtập quán mà người ta tiếp nhận được từ giáo dục trong gia đình và xã hội đã làmbiến đổi chúng, thậm chí còn làm cho chúng mất hẳn Hơn nữa, dưới tác độngcủa các tập quán, một số phẩm chất thuộc về bản chất cơ thể đã quay hướng vềcái tốt nhất hay cái xấu nhất Ngoài tư chất, tập quán, con người còn được lý tríthuyết phục theo một xu hướng khác, nghĩa là thông qua giáo dục thì nó sẽ tốthơn cái năng khiếu bẩm sinh vốn có ở con người Do đó, thông qua lý luận về sưphạm học và phương pháp giáo dục, ông khẳng định vai trò rất cần thiết củangười giáo dục là phải kết hợp được hài hòa cả ba yếu tố (tư chất, tập quán và lýtrí) trong con người Ông còn cho rằng không phải hy vọng vào thượng đế để cóngười công dân hoàn thiện về đạo đức, mà việc phát hiện nhu cầu trên trái đấtmới tạo nên được con người hoàn thiện trong quan hệ đạo đức [41]

Ngày nay, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin ở nước ta cũng cónhiều nhà nghiên cứu nghiên cứu về vấn đề này

Hồ Chí Minh (1890-1969) là nhà tư tưởng quan tâm hàng đầu đến vấn đềđạo đức Những vấn đề đạo đức đã được Người xem xét một cách toàn diện với

Trang 9

tư tưởng kết hợp giữa truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với tinh hoa đạođức nhân loại, giữa truyền thống với hiện đại tạo nên một cuộc cách mạng trênlĩnh vực đạo đức ở Việt Nam Từ Hồ Chí Minh, nền đạo đức Việt Nam đã mang

bản chất mới được gọi là đạo đức mới, đạo đức cách mạng Người khẳng định

đạo đức là nền tảng của người cách mạng và sự quan trọng của đạo đức được ví

như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối, không có nguồn thì sông cạn,

không có gốc thì cây héo Đối với Người, nếu có tài mà không có đức sẽ trởthành con người vô dụng, con người cần có bốn đức: cần – kiệm – liêm – chính

mà thiếu một đức thì sẽ không thành người được Đặc biệt, Người coi trọng mụctiêu, nội dung giáo dục đạo đức trong các nhà trường như: “Đoàn kết tốt”, “Kỷluật tốt”, “Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm” Từ các quan điểm ấy, người cũng chỉ

rõ vai trò nêu gương, vai trò dạy học của người thầy giáo cùng với những nhiệm

vụ cao quý phải làm trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh [24]

Kế thừa tư tưởng của Người, có rất nhiều tác giả Việt Nam đã nghiên cứu

về vấn đề này như: Trần Hậu Kiêm, Các dạng đạo đức xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1993 [26]; Đặng Xuân Kỳ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và vấn đề bồi dưỡng các

thế hệ cách mạng, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1995 [28]; Phạm Minh Hạc, Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 [21]

Trên đây là những công trình nghiên cứu sâu sắc của những tác giả uyênthâm về vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và vị trí, vai trò, trách nhiệm củangười giáo dục đạo đức Tuy nhiên các công trình ấy đã đề cập đến giáo dục đạođức và vai trò giáo dục đạo đức nói chung mà chưa đề cập đến giáo dục đạo đức

ở một môi trường cụ thể, chưa đề cập đến vai trò cụ thể, khác biệt của giáo viên

bộ môn GDCD ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Kếthừa giá trị của những công trình nghiên cứu ấy đã giúp tác giả có cơ sở lý luận

để viết đề tài này qua khảo sát tại trường THPT Lương Thế Vinh, Q.1, TP.HCM

là địa bàn chưa có nhiều người đề cập đến, và có đề cập thì cũng chưa cập nhậtnhững hiện tượng đạo đức xảy ra gần đây nhất ở đối tượng học sinh THPT Vìvậy tác giả có trách nhiệm tham gia đóng góp bổ sung những vấn đề mang tínhthực tiễn xác định mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh của BộGiáo dục và Đào tạo nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 10

3.1 Mục đích: Qua nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng việc thực

hiện vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong giáo dục đạo đức cho học sinhcủa những năm qua, đề xuất những giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Lương Thế Vinh, Q.1,TP.HCM hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng về giáo dục và mục tiêu,nhiệm vụ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, luận văn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Xác định cơ sở khoa học của việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPTthông qua sự mẫu mực của người thầy, thông qua giảng dạy môn GDCD vàthông qua việc tham gia HĐGDNGLL trong nhà trường của giáo viên bộ mônGDCD

- Khảo sát, phân tích thực trạng việc thực hiện vai trò của giáo viên bộmôn GDCD trong giáo dục đạo dức cho học sinh THPT

- Đề xuất và lý giải các biện pháp nhằm phát huy vai trò của giáo viên bộmôn GDCD trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh THPTvới vị trí là nhân tố chủ quan trong hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Ngoài việc dựa vào cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là mối quan

hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực để làm rõ vai trò của các nhân tố chủquan trong sự chuyển biến khả năng thành hiện thực trong việc giáo dục đạo đứccho học sinh, luận văn này còn vận dụng các phương pháp mang tính đặc thù sauđây:

Trang 11

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp từ các tri thức lý luậnchuyên ngành và liên ngành, tổng kết lý luận trong trường THPT

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra xã hội: sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụthể như khảo sát, điều tra, tọa đàm, phỏng vấn, so sánh, tiếp cận, thống kê…Phân tích kinh nghiệm giáo dục đạo đức và dạy học môn GDCD là một trongnhững phương pháp quan trọng được tác giả chú ý vận dụng

6 Giả thuyết khoa học

- Vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức chohọc sinh ở trường THPT Lương Thế Vinh còn nhiều hạn chế Nếu phát huy đượcvai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh sẽnâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức trong nhà trường, và từ đócũng sẽ nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường

- Làm rõ vị trí, vai trò và nhiệm vụ của giáo viên bộ môn GDCD tronggiáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT và những yêu cầu đặt ra trongthực tiễn để đảm bảo hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh

7 Đóng góp của đề tài

- Sẽ là tài liệu tham khảo tốt cho Sinh viên Đại học Sư phạm Khoa Giáodục Chính trị

- Sẽ là tài liệu nghiên cứu cho các trường THPT

- Góp phần phát huy vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc nângcao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Lương Thế Vinh, Q.1,TP.HCM

8 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, phần danh mục tài liệutham khảo, luận văn được thể hiện trong 3 chương 7 tiết

Trang 12

Chương 1: Vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạođức cho học sinh THPT.

Chương 2: Tình hình thực hiện vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trongviệc giáo dục đạo đức cho học sinh trường THPT Lương Thế Vinh, Q.1,TP.HCM

Chương 3: Một số phương hướng và giải pháp phát huy vai trò của giáoviên bộ môn GDCD trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinhtrường THPT Lương Thế Vinh, Q.1, TP.HCM

PHẦN NỘI DUNG

Trang 13

Chương 1 VAI TRÒ CỦA GIÁO VIÊN BỘ MÔN GDCD TRONG VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC

CHO HỌC SINH THPT 1.1 Cơ sở xác định vai trò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Để thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông, cần phải cóchương trình, nội dung giáo dục, giáo dục phù hợp với đất nước, con người ViệtNam, phù hợp với thời đại Yêu cầu đó được quán triệt trong tất cả chương trình

và nội dung học tập của toàn bộ các môn học trong nhà trường nói chung, trườngTHPT nói riêng Trước đây Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa vào nhà trường giảngdạy môn Chính trị, đã từng được gọi là môn “Thống soái” Từ năm học 1990 –

1991 môn Chính trị được thay thế bởi môn GDCD, là một môn khoa học xã hộiđược học tập trong trường THPT Điều này nói lên vị trí quan trọng của mônGDCD là cùng với các môn khoa học khác nó góp phần thực hiện mục tiêu đàotạo của nhà trường phổ thông: hình thành và phát triển nhân cách toàn diện chothế hệ trẻ Đó là những công dân tương lai, những người lao động mới phát triểnhài hòa trên tất cả các mặt đức dục, trí dục, mỹ dục, thể dục lao động; nhữngngười sẽ xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, sẽ nâng cao đời sống vật chất,tinh thần của nhân dân ngày càng tươi đẹp và hạnh phúc Là một giáo viên giảngdạy một môn học trong số hơn mười môn học trong trường THPT nên giáo viên

bộ môn GDCD cũng sẽ có vai trò, nhiệm vụ được qui định đối với nhà giáo trongLuật giáo dục 2005 như sau:

“… Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.

Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học…” (Điều 15, Chương I, Luật giáo dục 2005).

“Nhà giáo có những nhiệm vụ sau đây:

1 Giáo dục, giảng dạy theo mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy

đủ và có chất lượng chương trình giáo dục;

Trang 14

2 Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các qui định của pháp luật và điều lệ nhà trường;

3 Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học;

4 Không ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình

độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gương tốt cho người học;

5 Các nhiệm vụ khác theo qui định của pháp luật.” (Điều 72, Mục 1,

Chương IV, Luật Giáo dục 2005)

Vai trò của giáo viên bộ môn GDCD xuất phát từ mục tiêu giáo dục vàđào tạo nguồn nhân lực của đất nước, từ vị trí, vai trò của nhà trường và cụ thể

là từ vị trí, nhiệm vụ môn học GDCD ở trường THPT Vị trí môn GDCD ởtrường THPT đã được xác định trong Chỉ thị số 30/1998/CT- BGD&ĐT của Bộ

trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998: “Môn Giáo dục công

dân ở trường trung học phổ thông có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản

về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại”.

Từ việc xác định “vị trí hàng đầu” của môn GDCD trong việc định hướngphát triển nhân cách của học sinh, có thể thấy được vị trí hàng đầu của giáo viên

bộ môn GDCD trong đội ngũ giáo viên ở trường THPT và là vị trí có mối liên hệmật thiết với các lực lượng giáo dục khác ở nhà trường đối với việc giáo dục đạođức cho học sinh Vị trí này đã xác định rõ vai trò của giáo viên bộ môn GDCDtrong việc giáo dục nhân cách, giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Từ vị trí, có thể thấy được vai trò của giáo viên bộ môn GDCD cũng như

các giáo viên bộ môn khác trong trường THPT Tuy nhiên do tính đặc thù củanội dung môn GDCD ở trường THPT là hệ thống tri thức được tổng hợp từ nhiềulĩnh vực và bộ môn khoa học khác nhau; do những tri thức được cung cấp một

Trang 15

cách hệ thống, toàn diện, trực tiếp, thường xuyên, liên tục giúp hình thành nhâncách, đạo đức cho học sinh; do môn GDCD là môn học có vị trí hàng đầu trongviệc định hướng phát triển nhân cách học sinh nên vai trò, nhiệm vụ của giáoviên bộ môn GDCD cũng có những điểm khác biệt hơn so với giáo viên các bộmôn khác trong trường THPT ở mức độ ảnh hưởng, ở cấp độ và tính bức thiếtcủa nó, nhất là trong việc giáo dục đạo đức Điều này có thể nhận thấy được cụthể qua các vai trò chủ yếu sau đây:

Thứ nhất là vai trò tấm gương sáng trong việc giáo dục và giáo dục đạo đức cho học sinh Với vai trò này giáo viên bộ môn GDCD có trách nhiệm không

ngừng học tập, rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị,chuyên môn, nghiệp vụ để thực hiện Vai trò là tấm gương sáng của giáo viên bộmôn GDCD không chỉ dừng lại ở mức độ nêu gương như các văn bản pháp luật

đã qui định mà còn đòi hỏi phải ở cấp độ có tác động giáo dục mạnh mẽ hơn, yêucầu hiệu quả cao hơn; phải trở thành phương pháp giáo dục đầu tiên và nhất thiếtphải có; phải là điều kiện tiên quyết đảm bảo chất lượng hoạt động giáo dục đạođức và đảm bảo hiệu quả khi thực hiện các vai trò còn lại của giáo viên bộ mônGDCD ở trường THPT

Thứ hai là vai trò định hướng phát triển nhân cách, đạo đức của học sinh thông qua việc cung cấp tri thức môn GDCD cấp THPT qua hoạt động dạy học.

Với vai trò này giáo viên bộ môn GDCD có trách nhiệm giáo dục và giảng dạyđúng mục tiêu, nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ và có chất lượng chươngtrình giáo dục, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng dạyhọc môn GDCD Việc thực hiện vai trò này của giáo viên bộ môn GDCD đòi hỏi

sự nỗ lực cao hơn bởi tính đặc thù của tri thức môn học GDCD: tính tổng hợp,tính khái quát trừu tượng, tính thời sự, tính định hướng chính trị sâu sắc và nógắn liền với việc hình thành kỹ năng sống của học sinh; bởi thực trạng dạy họcmôn GDCD hiện nay chỉ ra những khó khăn, trở ngại gấp bội so với các bộ mônkhác

Thứ ba là vai trò nâng cao tri thức, kỹ năng và thái độ qua việc tổ chức hoạt động thực tiễn cho học sinh Với vai trò này giáo viên bộ môn GDCD có

trách nhiệm tích cực tổ chức thực hiện, tích cực tham gia việc tổ chức thực hiệnHĐGDNGLL ở trường THPT để giúp học sinh tiếp nối, bổ sung những tri thức

Trang 16

lý luận gắn với thực tiễn, tạo sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, gópphần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn cho học sinh Việc thực hiện vai trònày cũng đòi hỏi sự nỗ lực cao hơn, trí tuệ hơn bởi sự tương đồng giữa nội dungHĐGDNGLL với nội dung chương trình môn GDCD, bởi chất lượng của hoạtđộng này yêu cầu phải có sự đồng bộ, sự phối kết hợp cao giữa các lực lượnggiáo dục trong nhà trường mà giáo viên bộ môn GDCD có vị trí đặc biệt và phải

có vai trò chủ động

Giáo viên bộ môn GDCD sẽ bằng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, bằngviệc tham gia tích cực các hoạt động giáo dục và giáo dục đạo đức trong nhàtrường, bằng việc thông qua hoạt động dạy học – hoạt động tương tác, phối hợpthống nhất giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh, để

chuyển tải các nội dung chương trình cấp THPT nhằm góp phần thực hiện nhiệm

vụ chung là hình thành nhân cách, năng lực, phẩm chất (bao gồm phẩm chất

chính trị, tư tưởng, đạo đức) tốt đẹp, tích cực cho học sinh – công dân tương lai,gắn liền với đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước, hình thành người lao độngmới có thế giới quan khoa học, nhân sinh quan tiên tiến, đạo đức trong sáng, có ýthức sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có ý thức trách nhiệm cao đốivới Tổ quốc, đối với nhân dân, đối với gia đình và đối với chính bản thân mình.Giáo dục phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức cho học sinh do tất cả các mônhọc, các hình thức giáo dục của nhà trường thực hiện Song trong quá trình thực

hiện vai trò của mình, giáo viên bộ môn GDCD còn có nhiệm vụ cụ thể hết sức

quan trọng là: Làm cho học sinh hiểu đúng đắn lý tưởng, giá trị của chủ nghĩa xãhội là nhằm giải phóng con người, thực hiện độc lập, tự do, công bằng, hòa bình,hạnh phúc, con người có điều kiện phát triển toàn diện, hài hòa nhân cách; Trang

bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, thiết thực của triết học Mác –Lênin, lý luận về sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản, thắng lợi tất yếu của chủ nghĩa

xã hội, hiểu về nhà nước pháp quyền, pháp luật hiện hành làm nến tảng cho chế

độ và lẽ sống xã hội chủ nghĩa, quyền và nghĩa vụ công dân…; Trang bị cho họcsinh những kiến thức về lý tưởng, nguyên tắc, những phạm trù đạo đức, nhânđạo, tiến bộ, truyền thống đạo đức của dân tộc, của cách mạng, của Bác Hồ, cách

cư xử văn minh lịch sự; Bồi dưỡng cho học sinh có tư duy biện chứng, biết phântích, đánh giá các hiện tượng xã hội, từng bước vận dụng tri thức đã học vào

Trang 17

cuộc sống lao động, học tập và sinh hoạt… Từ đó học sinh có thái độ ủng hộ cáimới, cái tiến bộ, tôn trọng sự thật, sống và làm việc theo pháp luật, ghét dối trá,chống các hiện tượng tiêu cực, bảo vệ môi trường… Rèn luyện cho học sinh tinhthần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết sống có mục đích, lý tưởng, tự hào dântộc, tôn trọng và bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc…

1.2 Các vai trò chủ yếu của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

1.2.1 Mục đích yêu cầu giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Giáo viên bộ môn GDCD phải xác định và thực hiện tốt mục đích giáodục đạo đức cho học sinh THPT hiện nay là: Hình thành cho học sinh thế giớiquan khoa học, hiểu được tính qui luật cơ bản của sự phát triển tự nhiên, xã hội;giúp học sinh nhận thức đúng về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi cánhân với tư cách là những công dân chân chính đối với xã hội và cộng đồng, có ýthức phấn đấu thực hiện tốt nghĩa vụ của người công dân trong việc thực hiệnmục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đểđạt được mục đích ấy, giáo viên bộ môn GDCD có vai trò làm cho học sinh hiểu

và nắm vững những vấn đề cơ bản trong đường lối chính sách của Đảng và Nhànước, những cơ sở pháp luật của hiến pháp, các luật pháp hiện hành, có ý thức,hành động và sống theo pháp luật; làm cho học sinh thấm nhuần các nguyên tắc

và chuẩn mực đạo đức do xã hội qui định về lối sống, phong cách và thái độ ứng

xử trong cộng đồng như lòng yêu nước, ý thức dân tộc, thái độ lao động, lòngnhân ái, ý thức công dân… tạo điều kiện tốt nhất để học sinh tích cực tham giacác hoạt động lao động, xã hội, chính trị… có ý thức đấu tranh chống những biểuhiện tiêu cực, lối sống lạc hậu, lỗi thời không phù hợp với xã hội hiện đại

Đạo đức, nhất là đạo đức của lứa tuổi học sinh THPT được hình thành chủyếu bằng các con đường giáo dục Với mỗi con đường giáo dục, để có hiệu quảcần phải có những phương pháp phù hợp, do vậy mà giáo viên bộ môn GDCDphải có những phương pháp dạy học theo hướng đổi mới; những phương pháptác động vào nhận thức tình cảm như: đàm thoại, tranh luận, kể chuyện, giảnggiải, khuyên răn, giao việc, rèn luyện, tập thói quen… các phương pháp kíchthích tình cảm và hành vi như: thi đua, nêu gương, khen thưởng, phê bình…

Trang 18

trong tổ chức hoạt động thực tiễn Thông qua các con đường giáo dục và cácphương pháp giáo dục, giáo viên bộ môn GDCD thực hiện vai trò chuyển cácquan niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, khôngngừng nâng cao trình độ nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi học sinh, từ trình

độ nhận thức thông thường lên trình độ nhận thức khoa học Nhận thức thôngthường hình thành do ảnh hưởng trực tiếp của những điều kiện sinh hoạt hàngngày mang lại, nó phản ánh những giá trị đạo đức gần gũi với cuộc sống đờithường, còn nhận thức khoa học phản ánh các giá trị đạo đức một cách gián tiếp,khái quát, cả những giá trị đạo đức hiện đại, cả những phẩm giá của con ngườiđược kết tinh trong truyền thống lâu dài của dân tộc

Để đạt được mục đích giáo dục đạo đức cho học sinh, giáo viên bộ mônGDCD còn phải thực hiện vai trò truyền lại cho thế hệ đang trưởng thành nhữnggiá trị đạo đức mà thế hệ trước đã tạo ra, những giá trị đạo đức được kết tinhtrong hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc Trên cơ sở đó giúp học sinh nhận rachân giá trị của các giá trị đạo đức, nhận thấy giá trị và ý thức cuộc sống mangtính nhân bản, nhân ái, nhân văn sâu sắc, góp phần to lớn trong việc nhân đạohóa con người và đời sống xã hội của con người, trong việc hình thành, củng cốnhững giá trị nhân cách tốt đẹp Chẳng hạn, qua giáo dục chủ nghĩa yêu nước,chủ nghĩa xã hội và tinh thần quốc tế vô sản, những giá trị đạo đức tốt đẹp như:lòng tự hào dân tộc, ý thức và hành vi sẵn sàng bảo vệ độc lập và chủ quyềnquốc gia, yêu hòa bình, tôn trọng các dân tộc khác… có ý thức cộng đồng và tinhthần quốc tế, có tinh thần lao động năng động và sáng tạo, có thái độ tích cựcxây dựng và bảo vệ môi trường… được củng cố, được nâng lên làm cho thế hệtrẻ thấy được những giá trị lớn lao, ý nghĩa đích thực của cuộc sống hòa bình, tự

do, độc lập Những giá trị ấy trở thành tình cảm, động lực thôi thúc họ vượt quamọi khó khăn, gian khổ để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia vươn lên trong sựnghiệp xây dựng đời sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc

Giáo viên bộ môn GDCD ngoài vai trò giúp học sinh nâng cao các giá trịđạo đức, tạo ra những giá trị đạo đức mới, còn có vai trò tạo cho học sinh mộtsức đề kháng, một bản lĩnh để không những không bị tiêm nhiễm mà còn có thểchủ động khắc phục những quan điểm đạo đức lạc hậu, sự lệch chuẩn các giá trịnhân cách, những thói hư tật xấu, chống lại những hiện tượng vô đạo đức đang

Trang 19

đầu độc bầu không khí xã hội, tạo ra cơ chế phòng ngừa các phản giá trị đạo đức,phản giá trị văn hóa

Hiện nay, trước nhiều biến động phức tạp của đạo đức trong xã hội, trước

sự suy thoái về đạo đức của một bộ phận thanh niên học sinh trong các trườnghọc, giáo viên bộ môn GDCD cần phải thực hiện tốt vai trò giáo dục và giáo dụcđạo đức cho học sinh để đáp ứng yêu cầu chiến lược chăm lo phát triển nguồn

lực con người mà Đại hội VIII đã khẳng định: "Cùng với đổi mới nội dung giáo

dục theo hướng cơ bản, hiện đại, phải tăng cường giáo dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng yêu nước, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân

và tiền đồ của đất nước" [11, 29].

Tóm lại, những đặc điểm cụ thể về rèn luyện đạo đức của học sinh ởtrường THPT là phải có sự gắn kết chặt chẽ quá trình dạy học với hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp; có định hướng thống nhất các yêu cầu, mục đích giữa các

tổ chức giáo dục trong và ngoài nhà trường; tính lâu dài của quá trình hình thànhphát triển nhân cách và các phẩm chất đạo đức của học sinh Vì vậy, vai trò củagiáo viên bộ môn GDCD trong giáo dục đạo đức cho học sinh THPT sẽ thôngqua việc rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của bản thân để thực hiện vai tròtấm gương sáng; thông qua hoạt động dạy học môn GDCD để thực hiện vai tròhình thành nhận thức đúng đắn định hướng cho phát triển nhân cách của họcsinh; thông qua việc tham gia tổ chức các HĐGDNGLL để thực hiện vai tròchuyển hóa những nhận thức thành tình cảm, niềm tin và hành động qua thựctiễn Tuy nhiên cách thức và mức độ thể hiện vai trò của giáo viên bộ mônGDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh có nhiều khác biệt so với cácgiáo viên bộ môn khác được thể hiện trong từng vai trò chủ yếu dưới đây

1.2.2 Vai trò tấm gương sáng của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT

Trong Điều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiềucấp học, được ban hành kèm theo Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ngày28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ những yêu cầu về

phẩm chất và năng lực của người giáo viên là: “Rèn luyện đạo đức, học tập văn

hóa, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng

Trang 20

dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh”

(Điểm c, Khoản 1, Điều 31, Chương IV) “Giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín

của nhà giáo, gương mẫu trước học sinh; thương yêu, tôn trọng học sinh, đối xử công bằng với học sinh, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp; tạo dựng môi trường học tập và làm việc dân chủ, thân thiện, hợp tác, an toàn và lành mạnh.” (Điểm đ, Khoản 1, Điều 31,

Chương IV) Những yêu cầu này đòi hỏi giáo viên phải là người mẫu mực từphẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, giao tiếp xã hội cho đến tâm tư tìnhcảm thể hiện trong cuộc sống… tổng hợp thành một tấm gương sáng cho họcsinh noi theo Chỉ khi nào thực hiện tốt các yêu cầu trên thì vai trò tấm gươngsáng của người giáo viên mới thực sự được thể hiện

Để xây dựng một nền đạo đức mới, Hồ Chí Minh đã nêu ra những nguyêntắc cơ bản để định hướng cho sự lãnh đạo của Đảng, cũng như cho việc rèn luyện

đạo đức của mỗi người Nguyên tắc đầu tiên đó là “Nói đi đôi với làm, phải nêu

gương về đạo đức” Điều này đã được Hồ Chí Minh nói đến trong tác phẩm Đường Kách mệnh khi đề cập đến tư cách của một người làm cách mạng Với

mỗi người, lời nói đi đôi với việc làm thì mới đem lại hiệu quả thiết thực chochính bản thân mình và có tác dụng đối với người khác Trong gia đình tấmgương tốt của cha mẹ, người thân; trong nhà trường tấm gương sáng của thầy cô;trong xã hội thì tấm gương của người này đối với người khác, tấm gương của thế

hệ trước đối với thế hệ sau… Nêu gương đạo đức không chỉ là một nguyên tắcrèn luyện mà còn là cơ sở để phân biệt giữa đạo đức cách mạng và những cáikhác nó, còn là một phương pháp giáo dục đạo đức cách mạng hiệu quả

Từ nguyên tắc đã nêu trên của Hồ Chí Minh, có thể thấy được vai trò tấmgương sáng của giáo viên bộ môn GDCD – một giáo viên giáo dục đạo đức trựctiếp cho học sinh, chỉ thể hiện được khi phẩm chất đạo đức của giáo viên bộ mônGDCD không chỉ thực sự mẫu mực và còn phải hơn thế nữa Việc thực hiện vaitrò tấm gương sáng của giáo viên bộ môn GDCD không chỉ dừng lại ở mức độyêu cầu tối thiểu là “giữ gìn”, “gương mẫu trước học sinh” mà phải ở mức độyêu cầu bức thiết và ở cấp độ cao hơn nhiều trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức

“Tấm gương sáng” ở đây cũng không dừng ở mức độ là “cho học sinh noi theo”

Trang 21

mà phải ở mức độ có thể “tác động mạnh mẽ, có hiệu quả” trong quá trình giáodục đạo đức cho học sinh, phải trở thành một phương pháp giáo dục đặc biệt, đầutiên, thường xuyên, ở mọi lúc và ở mọi nơi… của giáo viên bộ môn GDCD

Cũng có thể nhận thấy rằng, vai trò tấm gương sáng là một vai trò quantrọng nhất trong các vai trò của giáo viên bộ môn GDCD để giáo dục đạo đứccho học sinh ở trường THPT Bởi lẽ, môn GDCD là môn giáo dục tình cảm đạođức, hành vi đạo đức nên “Nói đi đôi với làm, nêu gương đạo đức” không chỉ lànguyên tắc rèn luyện đạo đức của giáo viên bộ môn GDCD mà còn là mộtphương pháp giáo dục đạo đức bằng hành vi thị phạm của chính mình – ngườidạy những nội dung đạo đức ấy Phương pháp giáo dục đạo đức bằng hành vi thịphạm là phương pháp giáo dục trực quan sinh động nhất, có tác động giáo dụctrực tiếp và mạnh mẽ nhất, có sức thuyết phục cao nhất trong giáo dục nhâncách, giáo dục đạo đức học sinh Hơn nữa, giáo viên bộ môn GDCD còn có vaitrò trang bị cho học sinh một cách trực tiếp và có hệ thống những tri thức về thếgiới quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối lãnh đạoxây dựng và bảo vệ đất nước của Đảng; pháp luật và đạo đức xã hội chủ nghĩa đểđịnh hướng phát triển nhân cách của học sinh, thì chính bản thân giáo viên bộmôn GDCD không chỉ là người nhận thức đầy đủ, sâu sắc mà còn phải thực sựcảm xúc, tin tưởng vào những nội dung mình sẽ truyền đạt, phải có những biểuhiện mẫu mực để thực hiện vai trò “chất dẫn” mang những tình cảm, niềm tin ấyđến trái tim và khối óc của mỗi học sinh

Ngoài ra, vai trò tấm gương sáng để giáo dục đạo đức cho học sinh củagiáo viên bộ môn GDCD không những phải thể hiện thường xuyên mà còn phảithể hiện ở mọi lúc mọi nơi, dù là ở lớp hay ở gia đình, dù ở trường hay ở ngoài

xã hội Bởi lẽ, dù ở đâu thì cũng luôn luôn có những học sinh mà mình đanggiảng dạy và đã từng giảng dạy đều đang từng phút từng giờ dõi theo bóng dángngười thầy, cho nên tấm gương sáng không chỉ tác động giáo dục đạo đức chothế hệ học sinh hiện tại mà còn tiếp tục tác động giáo dục đạo đức cho thế hệ họcsinh trong quá khứ Những học sinh dù đã lớn không còn học mình nữa, dù đãtrưởng thành và đang tham gia lao động trong cuộc sống, nhưng nếu thấy đượcbiểu hiện thiếu nhân cách, vô đạo đức của người thầy GDCD mà mình đã từnghọc thì ngay lúc ấy, vai trò tấm gương sáng của người thầy bị rạn nứt và vết nứt

Trang 22

đó chắc chắn sẽ lan rộng, bởi vì nó sẽ được lan truyền đến những học trò thế hệsau là con em của họ

Tóm lại, hơn ai hết trong nhà trường, giáo viên bộ môn GDCD phải là tấmgương sáng về năng lực, phẩm chất, lối sống tới mức độ có thể tác động tích cựctrong giáo dục đạo đức cho học sinh Trở thành một phương pháp giáo dục đạođức quan trọng, đầu tiên và là phương pháp giáo dục đặc thù, thường xuyên suốtquá trình giáo dục đạo đức mà chỉ có ở môn học GDCD chứ không có ở bất kỳmôn học nào khác

1.2.3 Vai trò định hướng phát triển nhân cách cho học sinh thông qua hoạt động dạy học môn GDCD của giáo viên bộ môn GDCD

Vai trò của giáo viên THPT trong việc giáo dục và giáo dục đạo đức chohọc sinh thông qua công tác dạy học được qui định bởi nhiệm vụ giáo viên trongĐiều lệ trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học được

nêu rõ là: “Dạy học và giáo dục theo chương trình, kế hoạch giáo dục, kế hoạch

dạy học của nhà trường theo chế độ làm việc của giáo viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định…” (Điểm a, Khoản 1, Điều 31, Chương IV,);

“Rèn luyện đạo đức, học tập văn hóa, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục; vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực và sáng tạo, rèn luyện phương pháp tự học của học sinh” (Điểm c, Khoản 1, Điều 31, Chương IV)

Vai trò này được nhận thấy rõ ràng hơn và cụ thể hơn từ việc xác định vịtrí, nhiệm vụ môn GDCD ở trường THPT là vị trí hàng đầu trong việc địnhhướng phát triển nhân cách của học sinh trong Chỉ thị số 30/1998/CT-BGD&ĐTcủa Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998 như đã nêu.Qua đó, giáo viên bộ môn GDCD có vai trò: Trang bị cho học sinh hệ thống trithức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách của Đảng, Nhànước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam;trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giátrị tốt đẹp của nhân loại và thời đại… để định hướng phát triển nhân cách củahọc sinh Cụ thể là thông qua hoạt động dạy học để chuyển tải những tri thức

Trang 23

trong nội dung chương trình môn GDCD cấp THPT được Bộ Giáo dục và Đàotạo qui định, gồm có năm phần chính được phân bổ trong ba năm học THPT:

+ Một số nội dung chủ yếu của Triết học, nhằm trang bị cho học sinhnhững cơ sở ban đầu về thế giới quan, phương pháp luận trong cuộc sống và là

cơ sở lý luận cho các nội dung sau đó

+ Một số giá trị đạo đức của con người Việt Nam trong giai đoạn hiệnnay Đây là sự phát triển nối tiếp những chuẩn mực đạo đức mà học sinh đã học

ở lớp dưới được nâng lên thành giá trị đạo đức, tư tưởng, chính trị, lối sống củacon người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm giúp học sinhgiải quyết hợp lý, có hiệu quả các mối quan hệ xã hội

+ Cung cấp cho học sinh những hiểu biết cơ bản về một số phạm trù , quiluật kinh tế và phương hướng phát triển kinh tế nước ta Trên cơ sở đó, giúp họcsinh có thể xác định được phương hướng học tập, lựa chọn ngành, nghề hoặc cáclĩnh vực khác khi ra trường

+ Giúp học sinh có những hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa xã hội và một sốchính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước để học sinh có thể xác định đượctrách nhiệm công dân đối với việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc

+ Cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò và nội dung củapháp luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội giúp học sinh có thể chủđộng, tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của ngườikhác theo quyền và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng nhà nướcpháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Để quá trình dạy học của giáo viên nói chung, giáo viên bộ môn GDCDnói riêng đạt chất lượng cao thì ngoài chất lượng giảng dạy của người thầy còncần phải đảm bảo chất lượng học tập của học sinh, nghĩa là quá trình người họcnắm vững hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, hình thànhphương pháp nhận thức và thực hành sáng tạo, tạo nên một trình độ học vấn chomình Đó chính là vai trò giáo dưỡng của giáo viên Để thực hiện vai trò giáodưỡng thì người giáo viên không chỉ thể hiện ở hoạt động dạy học, mà còn phảithông qua việc hướng dẫn giúp đỡ học sinh tự học, tự bồi dưỡng để nâng caotrình độ học vấn – đó là hoạt động tự giác, có mục đích cá nhân với sự năng

Trang 24

động, tích cực của tư duy, trí tuệ để chiếm lĩnh những tri thức của nhân loại, biếnthành sở hữu của riêng mình Chất lượng học tập tùy thuộc chủ yếu vào nội lựccủa học sinh, bởi “lượng tri thức” có chuyển hóa thành “chất trình độ” hay không

sẽ được quyết định bởi “nội lực giải quyết mâu thuẫn nội tại” của họ Tuy nhiên

ở đây phải thấy được vai trò chủ đạo của người thầy, là người tạo nên “điều kiệntối ưu” để “qui luật” diễn ra không những ở nhiều học sinh mà còn phải diễn ra ởtừng học sinh cụ thể với những trình độ khác nhau (dạy học theo hướng cá thểhóa)

Để thực hiện tốt vai trò này giáo viên bộ môn GDCD phải thường xuyênhọc tập, rèn luyện bản thân để nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên mônnghiệp vụ, nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD; phải nắm vững hệ thốngnhững kiến thức cơ bản, hiện đại, rộng và sâu về các môn khoa học Mác – Lênin,lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh, những kiến thức cơbản, cập nhật và thiết thực về khoa học giáo dục, nghiệp vụ sư phạm, những vấn

đề quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội ở Việt Nam; phải biết vận dụng lý luận vào thực tiễn và kỹ năng sưphạm để hoàn thành tốt nhiệm vụ nhà giáo, đáp ứng yêu cầu đổi mới của sựnghiệp đổi mới giáo dục, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiệnnay Đặc biệt và cấp thiết là phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học theođịnh hướng phát huy tính tích cực và tương tác của học sinh, rèn luyện cho họcsinh biết tự học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD, trên cơ sở đónâng cao chất lượng giáo dục và giáo dục đạo đức cho học sinh

Tóm lại, giáo viên bộ môn GDCD có vai trò quan trọng hàng đầu trongviệc giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua công tác dạy học môn GDCD Tuynhiên, vai trò này sẽ thực hiện với nhiều khó khăn trở ngại hơn so với giáo viên

bộ môn khác bởi thực trạng hiện nay về dạy và học môn GDCD; bởi đặc thù trithức của môn GDCD; bởi sự nhận thức chưa đúng đắn về vị trí, nhiệm vụ mônGDCD và vai trò của giáo viên giảng dạy môn GDCD trong trường THPT Vìvậy, để nâng cao chất lượng giảng dạy môn GDCD, để thực hiện hiệu quả vai tròđịnh hướng nhân cách học sinh của giáo viên bộ môn GDCD đòi hỏi phải có một

sự nỗ lực cao, bền bỉ và đầy sự tin tưởng, quyết tâm của đội ngũ giáo viên bộ

Trang 25

môn GDCD Đó cũng là điều khác biệt về vai trò so với giáo viên bộ môn kháctrong trường THPT.

1.2.4 Vai trò nâng cao hiểu biết, kỹ năng, thái độ cho học sinh của giáo viên bộ môn GDCD thông qua các HĐGDNGLL

Để thực hiện mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông, Điều lệ trườngTHCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học cũng đã nêu rõ cáchoạt động giáo dục trong nhà trường tại Điều 26 là:

1 Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.

2 Hoạt động giáo dục trong giờ lên lớp được tiến hành thông qua việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình giáo dục của cấp học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khóa về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hóa, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh.

Do đó, để thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu phát triển toàn diện,ngoài hoạt động dạy học trên lớp còn có HĐGDNGLL theo chương trình của BộGiáo dục Đào tạo được thực hiện bắt buộc trong năm học Theo đó, nội dungchương trình HĐGDNGLL được thực hiện với thời gian 3 tiết/tuần như trong kếhoạch giáo dục của trường THPT mà Bộ Giáo dục Đào tạo đã ban hành, tậptrung vào ba mục tiêu:

1- Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng nhưnhững giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và khắc sâu kiến

Trang 26

thức đã học trên lớp; có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, giađình, nhà trường và xã hội; bước đầu có ý thức định hướng nghề nghiệp.

2- Tiếp tục rèn luyện các kỹ năng cơ bản đã được hình thành từ cấp, lớphọc dưới để trên cơ sở đó phát triển một số năng lực chủ yếu như: năng lực tựhoàn thiện, năng lực tự thích ứng, năng lực giao tiếp, năng lực hoạt động chính

trị – xã hội, năng lực tổ chức quản lý, năng lực bày tỏ quan điểm của mình trước

tập thể…

3- Có thái độ đúng đắn trước những vấn đề của cuộc sống, biết chịu tráchnhiệm về hành vi của bản thân; đấu tranh tích cực với những biểu hiện sai tráicủa bản thân (để tự hoàn thiện mình) và của người khác; biết cảm thụ và đánhgiá cái đẹp trong cuộc sống

Nội dung chương trình HĐGDNGLL tập trung vào 6 vấn đề và cụ thể hóathành 10 chủ đề hoạt động trong 12 tháng Sáu vấn đề của nội dung là:

- Lý tưởng sống của thanh niên trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước

- Tình bạn, tình yêu và gia đình

- Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng, bảo vệ đi sản văn hóadân tộc

- Thanh niên với vấn đề lập thân, lập nghiệp

- Những vấn đề có tính toàn cầu như: bảo vệ môi trường sống, hạn chếbùng nổ dân số và tình trạng đói nghèo, phòng ngừa và đẩy lùi các dịch bệnhhiểm nghèo…

Quỹ thời gian để thực hiện bao gồm tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, tiếtsinh hoạt lớp cuối tuần và một tiết do nhà trường sắp xếp sao cho phù hợp vớiđặc điểm và điều kiện thực tế của mỗi trường

Tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần được tổ chức theo qui mô toàn trường với

sự tham gia điều khiển của giáo viên và học sinh Giáo viên chủ nhiệm quánxuyến lớp mình để quản lý và động viên học sinh tham gia vào hoạt động chung

Trang 27

của trường Nội dung hoạt động của tiết này gắn liền với nội dung hoạt động củachủ điểm giáo dục, có tính định hướng, chuẩn bị cho các hoạt động của tuần vàcủa tháng.

Tiết sinh hoạt lớp cuối tuần là một dịp thuận lợi để học sinh rèn luyện khảnăng tự quản Khi tổ chức tiết này, giáo viên chủ nhiệm kết hợp nội dung hoạtđộng chủ nhiệm với nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp để việc thựchiện các nội dung HĐGDNGLL vẫn luôn luôn đảm bảo được duy trì theo kếhoạch chương trình mà Bộ đã ban hành

Tiết HĐGDNGLL còn lại hằng tuần được bố trí trong thời khóa biểu hàngtuần do nhà trường sắp xếp Nếu không bố trí được hằng tuần thì có thể sắp xếpthành một buổi hoạt động chung với qui mô khối lớp, lớp hoặc toàn trường

Toàn thể giáo viên trong nhà trường đều có trách nhiệm thực hiện HĐGDNGLL Tuy nhiên giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp tổ chức hoạt

động này cho học sinh ở lớp mình phụ trách Các lực lượng giáo dục khác nhưBan Giám hiệu, cố vấn Đoàn thanh niên, cha mẹ học sinh, các nhà giáo dục cũngnhư một số cơ quan và tổ chức đoàn thể khác tùy theo khả năng mỗi trường sẽphối hợp cùng với giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn tổ chức hoạt động cho họcsinh

HĐGDNGLL là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp,tạo điều kiện để học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục toàn diện của nhàtrường ở qui mô toàn trường, ở qui mô lớp và ở qui mô từng bộ môn

Có thể thấy được toàn bộ nội dung của chương trình HĐGDNGLL đềunằm trong nội dung chương trình GDCD cấp phổ thông nhưng được chọn lựa,sắp xếp theo chủ đề, phù hợp với hoạt động thực tiễn Vì vậy để thực hiện vaitrò: Củng cố và khắc sâu những kiến thức của môn học GDCD, mở rộng và nângcao hiểu biết cho học sinh về các lĩnh vực của đời sống xã hội, làm phong phúthêm vốn tri thức, kinh nghiệm hoạt động tập thể của học sinh; Rèn luyện chohọc sinh những kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi như kỹ năng giao tiếp, kỹnăng tổ chức quản lý, kỹ năng kiểm tra đánh giá …; Củng cố, phát triển các hành

vi, thói quen tốt trong học tập, lao động và công tác xã hội; Bồi dưỡng thái độ tựgiác, tích cực tham gia các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội, hình thành tình

Trang 28

cảm chân thành, niềm tin trong sáng với cuộc sống, với quê hương, đất nước, cóthái độ đúng đắn với tự nhiên, xã hội… đòi hỏi giáo viên bộ môn GDCD phảitích cực tham gia hoạt động Khi tham gia, giáo viên bộ môn GDCD lại tiếp tụcthực hiện vai trò giáo dưỡng ở giai đoạn mang tính quyết định đó là thông quahoạt động thực tiễn tạo điều kiện và giúp các em chuyển hóa những nhận thứcthành tình cảm, niềm tin và hành động trong cuộc sống.

Giáo viên bộ môn GDCD sẽ tùy nhiệm vụ cụ thể được phân công trongHĐGDNGLL để thực hiện vai trò của mình, tích cực tham gia và hoàn thànhtrách nhiệm được giao Nếu kiêm nhiệm giáo viên chủ nhiệm thì sẽ phát huy ưuthế của giáo viên bộ môn GDCD trong công tác chủ nhiệm để giáo dục đạo đứctốt cho học sinh Nếu là trợ lý thanh niên hoặc còn tuổi sinh hoạt đoàn thể thì sẽ

là cầu nối giữa hoạt động đoàn thể với hoạt động tổ nhóm chuyên môn GDCDtrong sự phối hợp tổ chức thực hiện HĐGDNGLL để chất lượng giáo dục đạođức cho học sinh đạt hiệu quả cao nhất Quan trọng nhất là giáo viên bộ mônGDCD phải linh hoạt, sáng tạo trong việc phối kết hợp với các lực lượng giáodục khác trong nhà trường để tái hiện và đưa những kiến thức mà học sinh đãhọc qua môn GDCD vào trong hoạt động nhằm định hướng cho học sinh khitham gia, giúp củng cố và phát triển những hành vi thói quen tốt đã có, tính tựgiác trong hoạt động tập thể, bồi dưỡng tình cảm và niềm tin đạo đức trong cuộcsống để không uổng phí những tri thức lý luận mà học sinh đã học trên lớp Vaitrò của giáo viên bộ môn GDCD ở hoạt động này là còn là “chất dẫn” để mangđến sự thống nhất, đồng tâm, khắc sâu và mở rộng nội dung HĐGDNGLL giữahoạt động ở lớp và ở trường, giữa hoạt động của các lớp, các cấp lớp, giữa hoạtđộng của các lực lượng giáo dục trong nhà trường, tạo sự chặt chẽ, hài hòa vềmặt tổ chức Ngoài ra, giáo viên bộ môn GDCD còn có thể là người cung ứngmột số phương pháp đặc thù của bộ môn – là những phương pháp chỉ có bộ mônGDCD mới vận dụng hoặc thường xuyên vận dụng – làm phong phú thêm hìnhthức hoạt động nhằm lôi cuốn học sinh tham gia tự nguyện, tự giác

Tóm lại, từ yêu cầu phải có nhận thức đúng đắn để định hướng cho hànhđộng, phải có sự thống nhất về mặt nội dung giữa các hoạt động giáo dục; từ sựđòi hỏi phải có sự thống nhất, đồng bộ, hài hòa trong HĐGDNGLL của nhàtrường đã đề ra yêu cầu về tính chủ động, linh hoạt và sáng tạo của giáo viên bộ

Trang 29

môn GDCD khi thực hiện vai trò của mình nhằm nâng cao chất lượng giáo dụcđạo đức Bởi lẽ theo qui định, trong HĐGDNGLL thì cấp ủy và Ban Giám hiệu

có vai trò chỉ đạo, giáo viên chủ nhiệm có vai trò trực tiếp và cố vấn, đoàn thể vàgiáo viên có vai trò hỗ trợ Vì vậy, giáo viên bộ môn GDCD chỉ có trách nhiệmtham gia hoạt động cũng như các giáo viên khác, một vị trí khá mờ nhạt trongkhi vai trò của giáo viên bộ môn GDCD lại liên quan mật thiết đến chất lượnghoạt động Đó cũng là những khó khăn và cũng là những điều khác biệt giữa vaitrò của giáo viên bộ môn GDCD so với vai trò của các giáo viên khác trong nhàtrường

1.3 Những yếu tố tác động đến việc rèn luyện đạo đức của học sinh ở trường THPT

Đối tượng của giáo dục và giáo dục đạo đức trong trường THPT là họcsinh THPT Đạo đức là hình thái ý thức xã hội nên đạo đức phản ánh tồn tại xãhội Do đó, khi nền kinh tế xã hội có sự biến đổi đòi hỏi đạo đức xã hội cũngbiến đổi theo Chính vì lẽ đó, để phát huy vai trò của mình trong việc giáo dụcđạo đức cho học sinh ở trường THPT thì giáo viên bộ môn GDCD cần phải hiểu

rõ bản thân đối tượng và những điều kiện kinh tế – xã hội khác tác động tới việc

hình thành đạo đức của họ Bởi lẽ, những yếu tố tác động đến việc rèn luyện đạođức của học sinh cũng chính là những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện vaitrò của giáo viên bộ môn GDCD trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh

1.3.1 Về tâm sinh lý học sinh

Đa số học sinh THPT là ở lứa tuổi thanh niên, lứa tuổi này hoạt động tưduy ghi nhớ, chú ý, hứng thú, khát vọng, ý chí, tình cảm và xúc cảm đều biến đổi

so với thiếu niên Họ có sức khỏe dồi dào, bộ máy thần kinh và hoạt động thầnkinh bậc cao trung đã hoàn thiện, nên họ có phản xạ chính xác, nhanh nhẹn, dễthích ứng hơn với các tác động khác nhau của hiện thực xung quanh, hăng háitrong hoạt động, ham hiểu biết, thích đổi mới, nhu cầu về tình bạn, tình yêu pháttriển mạnh, những đặc điểm này tác động mạnh tới sự hình thành tư tưởng chínhtrị ở họ và khi họ đã xác định được niềm tin, lý tưởng, họ có thể xả thân vì lýtưởng và phấn đấu với niềm lạc quan, với sức sống mạnh mẽ để đạt được niềmtin và lý tưởng đó

Trang 30

Tư duy của họ so với thiếu niên đã có hệ thống hơn, có tính phê phánhơn, do vậy khi tiếp thu tri thức chính trị, nhất là tri thức lý luận, họ thường đòiphải chứng minh, luận giải chặt chẽ Họ có khả năng tranh luận, khả năng tìm tòiđọc thêm sách báo, các nguồn thông tin khác để bổ sung cho tri thức của mình.

Sự phát triển hoàn chỉnh về tâm sinh lý cũng cho phép họ có khả năng tự tìmhiểu, tự nghiên cứu những vấn đề chính trị xã hội Học sinh ở lứa tuổi này thíchsinh hoạt cộng đồng, thích giao lưu Vì vậy, họ tự nguyện và tích cực tham gia

các hoạt động đoàn thể, hoạt động lớp, các lễ hội, hoạt động chính trị – xã hội,

và chính qua các hoạt động đó, họ được rèn luyện năng lực thực tiễn Ở họ,không có tính bảo thủ, trì trệ như người lớn tuổi Vì vậy, họ dễ thích ứng vớiđường lối đổi mới, dễ thích ứng với các chủ trương, chính sách mới Vì họ quantâm đến tương lai, luôn hướng về tương lai nên họ cũng rất quan tâm đến nhữngvấn đề lớn của đất nước, của thời cuộc Điều đó giúp họ xác định phương hướngtiến thân lập nghiệp

Khả năng cảm thụ xúc cảm, đồng cảm của họ phát triển cao, do vậy họcởi mở để hòa nhập, thích những hình thức hoạt động văn hóa nghệ thuật, dễcảm thông với người khác Ở họ, kinh tế chưa độc lập, còn phụ thuộc gia đình

Vì vậy, họ coi trọng các quan hệ xã hội, coi trọng gia đình, tích cực học tập, tíchcực học thêm Những kiến thức họ được học ở phổ thông có tính chất cơ bản,phổ cập không bị gián đoạn nên khi học ở THPT đảm bảo tính liên thông, tính kếthừa và phát triển Khi học ở phổ thông, họ đã ý thức được vị trí của mình quacác chủ trương chính sách, quy định, quy chế hiện hành Vì vậy họ phải có sự tựđiều chỉnh, tự rèn luyện, sự vươn lên trong môi trường THPT Những sự tácđộng trên đã đưa họ vào những hoạt động cụ thể một cách tích cực như: nghe nóichuyên đề về chế độ chính sách pháp luật, tham gia lao động công ích, tham giahoạt động văn hóa văn nghệ, quyên góp từ thiện, ủng hộ Bà mẹ Việt Nam anhhùng, tìm hiểu về Đảng, Bác Hồ

Vì có hoài bão, ước mơ, có lý tưởng chính trị và ý chí vươn lên, nên họcsinh đa số đã tích cực phấn đấu vào Đoàn, tuy nhiên đặc điểm của lứa tuổi cũng

có những mặt hạn chế tác động đến tuổi trẻ học sinh

Thứ nhất, tâm lý không thích nghe, không thích bàn luận đến các vấn đề

chính trị mà thiên về những vấn đề tình bạn, tình yêu, văn hóa, nghệ thuật Do đó

Trang 31

chính trị ít được quan tâm Thứ hai, vì chưa trải qua các hoạt động thực tiễn

trong sản xuất, chiến đấu, thiếu kinh nghiệm sống, vốn sống chưa đủ nên dễ mơ

hồ về chính trị, ngại tham gia công tác đoàn thể Sự chưa từng trải này nguyhiểm ở chỗ là dễ bị các thế lực chính trị xấu lôi cuốn thông qua các hình thức

hoạt động khác Chính vì vậy, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Giáo dục

thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội Trong xã hội cũ có nhiều nọc độc nó làm hại thanh niên, nhất là văn hóa độc ác của Mỹ, nó dùng mọi cách như sách báo, phim ảnh v.v để làm cho thanh niên hư hỏng trụy lạc, thậm chí một số thanh niên hóa ra lưu manh, trộm cắp, cờ bạc, v.v ” Người còn nói rằng: “Từ tiểu học, trung học cho đến đại học,

là nơi rèn luyện nhi đồng và thanh niên Óc những người trẻ tuổi trong sạch như một tấm lụa trắng Nhuộm xanh thì nó sẽ xanh Nhuộm đỏ thì nó sẽ đỏ.” [35,

102] Có nghĩa là sự chưa từng trải, sự thiếu vốn sống ấy phải được sự tác độngtích cực của nhiều hình thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi để tạo ra nhu cầu vàcũng là để chiếm lĩnh khoảng trống trong họ trên mặt trận tư tưởng Do có sứcsống dồi dào, có nguyện vọng muốn được thử sức mình nhưng lại chưa đủ kinhnghiệm sống và không phải mọi mục tiêu đặt ra đều được ý thức rõ ràng, cho nênđôi khi trong thâm tâm học sinh không thấy thỏa mãn, họ dễ thay đổi mục tiêu đã

đề ra Họ thường quan tâm tới bản thân và nhân cách của mình nên càng đề caomình quá mức, và trong mọi hoạt động họ đều muốn thử sức, muốn bộc lộ khảnăng của mình và nhiều khi không phân biệt hoạt động đó là xấu, là tốt thế nào.Những đặc điểm này dẫn đến dễ ngã nghiêng trước những bước ngoặt, trướcnhững vấn đề phức tạp của cuộc sống, dẫn đến những hành động bột phát trái vớipháp luật, trái với đạo đức, trái với những tiêu chuẩn hành vi đã được xã hộichấp nhận, nhất là trong lối sống, nếp sống Bác Hồ đã nêu rõ trong bức thư gửi

thanh niên: Nói tóm lại: ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái giàu tinh thần

xung phong; khuyết điểm là: ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh "anh hùng".

Tóm lại, giai đoạn học THPT là giai đoạn học sinh đang phát triển mạnh

về thể chất, tinh thần và tình cảm, dễ bị kích động, lôi kéo… Có nhu cầu giaotiếp rất lớn đặc biệt là sự giao tiếp với bạn bè, từ đó mà hình thành nên các nhómbạn cùng sở thích Nếu không được quan tâm giáo dục sẽ dễ bị sai lệch

Trang 32

1.3.2 Về phía gia đình

Gia đình như Mác và Ăngghen viết trong Hệ tư tưởng Đức - ngay từ đầu

đã tham gia vào quá trình phát triển của lịch sử, đó là nơi mà "hàng ngày tái tạo

ra đời sống của bản thân mình, con người còn tạo ra những người khác sinh sôi, nảy nở, đó là quan hệ giữa chồng và vợ; cha mẹ và con cái" Gia đình vừa là một

thiết chế xã hội, vừa là một nhóm tâm lý xã hội đặc biệt, thực hiện các chức năngcao quý, tái sản xuất ra con người, tái sản xuất ra sức lao động, tái sản xuất racủa cải vật chất và giá trị tinh thần Đó là nơi con người được sinh ra, được nuôidưỡng và trưởng thành, là mạch nguồn, là chiếc nôi ban đầu nuôi dưỡng và hìnhthành đạo đức con người Việt Nam theo những chuẩn mực truyền thống củagiống nòi Gia đình là nơi đầu tiên, đào luyện con người hình thành đạo đức; làmôi trường đầu tiên để giáo dục ý thức công dân, tinh thần trách nhiệm và nghĩa

vụ xã hội cho mỗi thành viên của nó Theo cách nói của giáo sư Vũ Khiêu, giađình: Đó là trường học đầu tiên để giáo dục con người đi vào xã hội Có thể nói,chức năng quan trọng nhất của gia đình là giáo dục nền tảng đạo lý cho conngười, dạy cho con người biết đâu là tình thương, lẽ phải, đâu là nhân nghĩa thủychung, đâu là đạo lý làm người (đạo làm con, làm anh, làm chị, đạo làm vợ, làmchồng, làm cha, làm mẹ ), còn việc trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ họcvấn, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp thì gia đình có thể trông cậy vào hệ thốnggiáo dục quốc dân Thế mạnh của giáo dục gia đình so với giáo dục nhà trường

và giáo dục xã hội là ở chỗ gia đình có điều kiện để quan tâm, chú ý đến từngthành viên của mình, biết được mặt mạnh, mặt yếu của nó, hiểu được tâm lý, tínhcách cũng như năng lực, nhất là năng lực tư duy của từng thành viên, từng conngười Do đó, phương pháp tác động thích hợp với từng đối tượng trên cơ sởtình thương và trách nhiệm của mọi thành viên trong gia đình là rất quan trọng,thực tế cho chúng ta thấy rằng: cuộc sống và lối sống của gia đình, của bố mẹ tácđộng trực tiếp đến tình trạng thể chất cũng như đời sống tinh thần của con cái;nghĩa là ảnh hưởng trực tiếp đến đạo đức của từng người con Tục ngữ Việt Nam

có câu: "Cha nào con nấy", "giỏ nhà ai, quai nhà nấy", "Con nhà tông khônggiống lông cũng giống cánh" Nếu gia đình hòa thuận, bố mẹ có cuộc sống vậtchất đầy đủ, đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú, ham học hỏi, chuộng trithức, biết cư xử một cách hợp lý, sống hòa thuận, đức độ với mọi người, luôn

Trang 33

luôn lạc quan, yêu đời; thường xuyên quan tâm, chăm lo đến sự tiến bộ của concái thì con cái dễ thành đạt trong học tập, trên con đường công danh Ngượclại, nếu gia đình bất hòa, ly tán, đời sống tinh thần nghèo nàn, "văn hóa gia đình"

ở trình độ thấp, thiếu tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau sẽ làm ảnh hưởng xấuđến sự phát triển đạo đức của con cái Dưới tác động của nền kinh tế thị trường,với chính sách đối ngoại mở rộng, hội nhập với nền kinh tế và văn hóa thế giới,bên cạnh mặt tích cực cần được khẳng định, bản thân kinh tế thị trường cũng cómặt trái của nó làm nảy sinh nhiều mặt tiêu cực: có sự xuống cấp về mặt đạo đức

do đề cao sức mạnh của đồng tiền, đặt quyền lợi cá nhân lên trên mọi đạo lýtrong quan hệ giữa các thành viên gia đình, giữa họ hàng thân tộc; ở một số giađình, sự thiếu gương mẫu của cha mẹ trong cách làm ăn, kiếm tiền, trong lốisống đã có tác động xấu đến sự hình thành và phát triển thành phần đạo đứctrong cấu trúc nhân cách của con cái Vai trò to lớn của gia đình trong việc giáodục con cái thể hiện một cách rõ nét nhất trong việc gia đình biết định hướng giátrị đúng cho các con để họ phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, trở thành nhữngngười có ích cho gia đình và xã hội

Trong thực tế có nhiều gia đình, bố mẹ tuy trình độ học vấn thấp, thậm chírất thấp, song họ lại là những người "hiểu biết", nắm bắt được những định hướnggiá trị xã hội chủ yếu, biết nuôi dạy con cái, biết hướng con cái hành động theonhững chuẩn mực đạo đức chân chính, dành hết tình cảm và công sức nuôi dạycon cái, đầu tư cho con cái học tập để con cái nên người và làm người Nhiều vàrất nhiều những người con sinh ra trong những hoàn cảnh khó khăn về kinh tế,nhưng được sự chăm sóc chu đáo và đúng mực của các bậc phụ huynh, họ đãtrưởng thành một cách nhanh chóng, đem lại niềm tin và sự tự hào, hiển vinh và

sự tôn trọng cho cha mẹ Đây là nét đẹp của văn hóa Việt Nam cần tiếp tục pháthuy

Tóm lại, nhiều cha mẹ do nhận thức chưa đúng đắn, thiếu hiểu biết vềgiáo dục con cái; sự quan tâm nuông chiều thái quá trong việc nuôi dạy; chú ýchăm lo vật chất đầy đủ nhưng lại thiếu quan tâm đến học tập, rèn luyện của con;

sử dụng quyền uy của cha mẹ một cách cực đoan; tấm gương phản diện của cha

mẹ, người thân; các hoàn cảnh éo le hoặc hay bị sử dụng bằng vũ lực… đã tác

Trang 34

động không nhỏ đến sự hình thành và phát triển nhân cách, đạo đức cho họcsinh

1.3.3 Về phía nhà trường

Sự tác động từ phía nhà trường đến việc rèn luyện đạo đức của học sinhTHPT phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng của đội ngũ giáo viên, chất lượng củahoạt động dạy học, chất lượng của HĐGDNGLL

1.3.3.1 Chất lượng đội ngũ giáo viên

Giáo viên là nhân tố quan trọng nhất quyết định chất lượng của giáo dục.Khẳng định điều đó, Điều 15 Luật Giáo dục đã chỉ rõ: Nhà giáo giữ vai trò quyếtđịnh trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục, giáo viên đóng vai trò chủ đạotrong quá trình sư phạm, trong các hoạt động đa dạng của học sinh Nhà giáophải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho nguời học

Để xứng đáng vị trí và vai trò của mình trong công tác giáo dục ở nhàtrường, người giáo viên phải có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng những yêucầu đã qui định, không chỉ có nhiệm vụ truyền đạt kiến thức, kỹ năng lao độngthực hành… mà còn phải là một tấm gương, một mẫu mực về đạo đức, về giáodục đạo đức cho người học Vai trò của người giáo viên trong các trường học,đặc biệt là ở các trường THPT phải vừa là người hướng dẫn, vừa là người cố vấnquá trình học tập, rèn luyện cho học sinh, đồng thời vừa là người trọng tài trongviệc đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học sinh Giáo viên bộ môn GDCD

là giáo viên được phân công giảng dạy môn GDCD, một môn học trực tiếp giáodục đạo đức, chính trị và lý tưởng cho học sinh Do vậy giáo viên bộ môn GDCD

có vai trò tích cực trong tác động đến việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, xâydựng nếp sống văn hóa, ý thức tôn trọng pháp luật của học sinh Thông qua việctruyền thụ kiến thức môn GDCD một cách chuẩn xác, người thầy giảng dạy mônGDCD là người tốt nhất để xây dựng cho học sinh những tình cảm tốt đẹp,những nhận thức chính trị, tư tưởng đúng đắn Sự giáo dục trang bị nhận thứccho thanh niên học sinh không đầy đủ sai lệch, giáo dục theo kiểu chủ quan, duy

ý chí, phiến diện, giáo điều chỉ bắt học sinh công nhận một chiều, thiếu tư duybiện chứng để phù hợp với sự phát triển của thời đại, xã hội có sự biến động; trithức không kịp thời đổi mới, học sinh không được phân tích định hướng kịp thời

Trang 35

Nhận thức không đầy đủ đúng đắn lại bị thực tiễn diễn ra đầy mâu thuẫn, đảo lộnchân lý trong cuộc sống xã hội và ngay trong cuộc sống nhà trường khiến chomột số học sinh suy nghĩ nông cạn, ưa hưởng thụ mà ngại học hành, làm việc,lấy đó mà làm cái cớ ngụy biện cho sự lười học và những hành vi lệch chuẩn củamình.

Qua đó, chúng ta thấy hình ảnh của người giáo viên mà đặc biệt là giáoviên bộ môn GDCD đối với việc rèn luyện đạo đức của học sinh rất quan trọng.Muốn hình thành được ở họ lòng tin vào chủ nghĩa xã hội, vào đường lối đổimới, vào lý tưởng ngày mai… thì trước hết họ phải có tình cảm, phải đượcthuyết phục bởi chính người thầy dạy họ những điều đó Tuổi trẻ có lẽ dễ bịthuyết phục khi tính khoa học, tính chân thực được kết hợp chặt chẽ với tínhthẩm mỹ và tính lãng mạn cách mạng, tức là từ cái đẹp của hiện thực trước mắt,cái đẹp trong khó khăn để nuôi những ước mơ về cái đẹp trong tương lai

1.3.3.2 Chất lượng hoạt động dạy học

Để đạt hiệu quả cao của giáo dục và giáo dục đạo đức trong nhà trườngcần phải có phương pháp giáo dục phù hợp Nghị quyết Bộ Chính trị về cải cách

giáo dục ghi rõ: "Công tác giáo dục tư tưởng chính trị đạo đức cách mạng phải

thông qua tất cả các hoạt động giáo dục gắn học tập lý luận, hoạt động thực tiễn" Vì vậy, việc đổi mới này phải thực hiện trên cả hai khâu cơ bản là truyền

thụ kiến thức và tổ chức hoạt động nhằm đạt hiệu quả trên cả ba mặt tri thức,niềm tin và hành động, thông qua hoạt động giảng dạy và học tập Muốn giáodục đạo đức cách mạng, hình thành thế giới quan khoa học phải bằng nhiều biệnpháp, nhưng biện pháp cơ bản nhất và quan trọng nhất là phải thông qua việcgiảng dạy và học tập các môn học Mặc dù có nhiều môn học trong đó không nóimột lời nào về đạo đức cách mạng nhưng lại bao hàm một nội dung đạo đức sâusắc, chẳng hạn như môn toán học, vật lý học Ngoài việc làm phong phú tri thức

cá nhân như những tiền đề cho việc xây dựng quan niệm đạo đức thì bản thânchúng với tư cách là khoa học, nó làm cho con người hướng tới cái Chân – Thiện– Mỹ Sự hình thành một hệ thống kiến thức ấy với tư cách là một hệ thống lôicuốn chặt chẽ sẽ góp phần rèn luyện tính trung thực, thái độ thẳng thắn, tính

Trang 36

nguyên tắc cho người học Mặt khác, thông qua các môn học sẽ cung cấp chohọc sinh những kiến thức khoa học khách quan, có hệ thống để xây dựng niềmtin, tình cảm đạo đức cho học sinh Trên cơ sở tri thức ấy học sinh có cách nhìn

về thế giới và rèn luyện cho mình nề nếp xem xét con người, cuộc sống xungquanh theo phương pháp khoa học Như vậy, hoạt động giảng dạy và hoạt độnggiáo dục trong nhà trường không những phát triển năng lực trí tuệ, mà thông quaviệc bồi dưỡng trí tuệ phải nhằm giáo dục thế giới quan, hình thành niềm tin tưtưởng, quan điểm sống tích cực tạo ra một chất lượng về lối sống, nghĩa là tạo ramột hệ thống giá trị nhân cách cho học sinh Đặc biệt là bộ môn GDCD góp phầntích cực, trực tiếp vào việc xây dựng thế giới quan, đạo đức cộng sản cho thanhniên học sinh

Ngoài ra, các môn học khác giúp cho học sinh nắm được qui luật của mốiquan hệ giữa các nhóm xã hội, các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội,

sử học cung cấp kiến thức về qui luật vận động của các chế độ xã hội trong quákhứ, trong đó có các trào lưu tư tưởng chính trị trong lịch sử… và bản thân giáoviên môn học bộc lộ thái độ chính trị qua bài giảng, qua liên hệ, qua tiếp xúc vớihọc sinh

1.3.3.3 Chất lượng HĐGDNGLL

Nói đến yếu tố tác động đến việc rèn luyện đạo đức của học sinh còn phảinói tới hình thức giáo dục, phương pháp giáo dục Hình thức giáo dục là loạihình tổ chức để thực hiện quá trình giáo dục một cách có hiệu quả tùy thuộc vàomục đích, yêu cầu và nội dung giáo dục Thông qua hình thức giáo dục mà cácphương pháp giáo dục được thực hiện, phương pháp giáo dục là cách thứcchuyển tải, cách thức tác động để đưa được nội dung giáo dục từ chủ thể giáodục tới người tiếp nhận giáo dục Hiện nay đang tồn tại các hình thức giáo dụcchính trị tư tưởng, giáo dục thông qua HĐGDNGLL, hoạt động đoàn thể chủ yếu

là đoàn thanh niên, hội thanh niên hình thức tự giáo dục của học sinh, do họcsinh tự quản Chẳng hạn, việc ngoại khóa của nhà trường cũng giúp học sinhnắm được sâu sắc các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,các diễn biến, các sự kiện chính trị trong và ngoài nước, xác định được lợi ích,phương hướng chính trị của bản thân, nâng cao hiểu biết và kỹ năng thực hànhchính trị

Trang 37

Nội dung công việc như tập trung chỉ đạo sinh hoạt chính trị đầu năm chohọc sinh gồm tình hình nhiệm vụ chung, tình hình nhiệm vụ năm học mới, đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục đào tạo, nội qui qui chế quản

lý học sinh của trường, giới thiệu truyền thống của trường, phòng chống các tệnạn xã hội, tổ chức nói chuyện thời sự trong nước và quốc tế, tổ chức nghiên cứuquán triệt các chủ trương chính sách lớn của Đảng, Nhà nước Thông qua hệthống phát thanh truyền hình, bản tin nội bộ, cung cấp cho học sinh các thông tincần thiết, tổ chức các hoạt động lễ hội, giáo dục truyền thống vào dịp kỷ niệmnhững ngày lễ lớn hàng năm, phối hợp với đoàn thanh niên, hội thanh niên, côngđoàn duy trì các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, câu lạc bộ, bêncạnh đó nắm tình hình tư tưởng học sinh để kịp thời điều chỉnh hoạt động chothích hợp Đây là mảng giáo dục vừa cung cấp tri thức kinh nghiệm, vừa đưa họcsinh vào hoạt động thực tiễn, có định hướng rõ rang, tăng cường mối giao lưu đểrèn luyện nhân cách cho họ

Đoàn thể học sinh tham gia chủ yếu là đoàn thanh niên và hội thanh niên,đây là hai tổ chức mang tính chất xã hội vì đó không phải là đảng chính trị, cũngkhông phải là tổ chức quyền lực nhà nước, nhưng ở nước ta tính chất chính trịcủa đoàn và hội thanh niên… được biểu hiện ở ý nghĩa chính trị trong hoạt độngcủa tổ chức ấy Mọi sinh hoạt, hoạt động của đoàn thanh niên, hội thanh niên đềunhằm giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị cho các thành viên, tổ chức các hoạtđộng cho họ hoàn thành tốt nhiện vụ chính trị của mình Tích cực tham gia xâydựng nhà nước, thực hiện thắng lợi các đường lối chủ trương của Đảng Thôngqua việc tuyên truyền vận động và thuyết phục, thông qua các tổ chức hoạt độngchính trị xã hội, các tổ chức này tác động mạnh mẽ tới việc hình thành tình cảm,niềm tin, lý tưởng, nghĩa vụ, trách nhiệm, bản lĩnh và năng lực hoạt động chínhtrị của học sinh… Đoàn thanh niên và hội thanh niên là tổ chức phù hợp với lứatuổi học sinh THPT Các tổ chức này cần có nhiều hoạt động phong phú, sôi nổihấp dẫn, vừa mang tính giáo dục, vừa đáp ứng được yêu cầu giải trí có ích, vừatạo cho họ môi trường hoạt động tập thể lành mạnh Đoàn thanh niên trongtrường học còn là nơi giáo dục cho đoàn viên thể hiện được tính tiên phonggương mẫu, tích cực trong hoạt động chính trị, rèn luyện để trở thành người đảngviên Đoàn cần phối hợp với nhà trường đảm bảo quyền làm chủ của học sinh,

Trang 38

động viên được học sinh quan tâm đến các công việc xã hội hóa Đoàn thanhniên, một mặt có chức năng tham mưu cho lãnh đạo trên cơ sở nắm bắt được tìnhhình tư tưởng chính trị của học sinh để đề xuất những chủ trương, biện pháp cótính định hướng giáo dục cao, tác động đến học sinh qua các hoạt động ngoàithời gian lên lớp hoặc kết hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn tácđộng đến học sinh thông qia các môn học để xác lập phương hướng chính trịđúng đắn, đảm bảo sự ổn định về tư tưởng, tạo được nề nếp, kỷ cương trong họctập, sinh hoạt nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo.

Tóm lại, chất lượng đội ngũ giáo viên, chất lượng hoạt động giáo dụcngoài giờ lên lớp, chất lượng hoạt động đoàn thể sẽ tác động tích cực hoặc tiêucực đến quá trình giáo dục và giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trườngTHPT Giáo viên định kiến, thiếu thiện cảm; sử dụng biện pháp hành chính tháiquá; sự lạm dụng quyền lực của thầy cô giáo trong xử lý vi phạm kỷ luật của họcsinh; sự thiếu gương mẫu trong mô phạm giáo dục; việc đánh giá kết quả, khenthưởng, kỷ luật thiếu khách quan và không công bằng; sự phối hợp không đồng

bộ giữa các lực lượng giáo dục… đều có ảnh hưởng rất lớn vai trò giáo dục vàgiáo dục đạo đức cho học sinh

1.3.4 Về phía xã hội

Ngoài sự tác động của các đặc điểm tâm lý lứa tuổi, của gia đình, của cáclực lượng giáo dục trong nhà trường, đạo đức của học sinh THPT còn chịu ảnhhưởng không nhỏ của các điều kiện kinh tế xã hội khác

Nhờ đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa quan trọng qua hơn 25năm đổi mới, đất nước ta không những đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xãhội nghiêm trọng mà còn tăng trưởng kinh tế nhanh

Nhiều công trình kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghiệp trọng yếu được xâydựng, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, đời sống vật chất của đại bộ phận nôngdân được cải thiện Nhờ vậy nhiều gia đình học sinh đã có mức sống cao hơn,học sinh khi tốt nghiệp ra trường có thêm điều kiện xin việc làm, ăn uống chấtlượng khá cao, nhiều học sinh có khả năng học đại học, cao đẳng hoặc học nghề,hình thức ăn mặc phong phú, màu sắc đa dạng, đa số có phương tiện đi lại riêng

Trang 39

Sự tác động của những mặt trên đã làm cho nhân dân và học sinh phấnkhởi, lòng tin và sự gắn bó với Đảng, với chế độ được củng cố Con đường độclập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng

và văn minh đã bước đầu khơi dậy ở học sinh những lý tưởng và hoài bão caođẹp Nhờ thành tựu kinh tế, họ thấy được sự đúng đắn của đường lối đổi mới và

ý thức sâu sắc hơn về mối quan hệ gắn bó giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xãhội, thấy được tầm quan trọng của nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước trong thời kỳ quá độ và trách nhiệm học tập của mình

Mặt khác, cơ chế thị trường trong mấy năm gần đây cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc hình thành đạo đức của học sinh Cơ chế thị trường đã gây ra

sự phân hóa giàu nghèo, xuất hiện sự bất công trong xã hội "kẻ ăn không hết,người lần không ra", lối sống chạy theo sự sùng bái của đồng tiền Nhiều thanhniên học sinh tiêm nhiễm tâm lý tiêu xài, đua đòi chơi sang, tiêu dùng hàngngoại đắt tiền, nhưng vì gia đình không đủ cung cấp nên đã trở thành lưu manh,trộm cắp

"Kinh tế thị trường – như Đảng ta đã xác định – có những mặt tiêu cực,mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội Đó là xu thế phân hóa giàu nghèoquá mức, là tâm lý sùng bái đồng tiền mà chà đạp lên đạo đức, nhân phẩm" Kinh

tế thị trường, dĩ nhiên cũng có sự tác động tích cực chẳng hạn như trong mấynăm gần đây, phần đông học sinh quan tâm lo lắng đến kết quả học tập của mình,

vì có liên quan trực tiếp đến tương lai sau này Nhưng vì ở nước ta, cơ chế thịtrường đang ở giai đoạn còn mang nhiều yếu tố tự phát, hiệu lực quản lý nhànước chưa cao, vẫn chưa phát huy đầy đủ sức mạnh của cơ chế thị trường, vẫnchưa hạn chế được nhiều mặt tiêu cực của cơ chế đó Vì thế, cho nên trong xãhội xuất hiện nhiều tiêu cực: tư tưởng thực dụng, lối sống chạy theo đồng tiền,nạn tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và nhiều tệ nạn xã hội khác pháttriển nghiêm trọng đã làm cho nhiều người dao động, có phần giảm sút niềm tinvào đường lối chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, một số xarời lý tưởng, sa sút phẩm chất đạo đức Ở học sinh, các biểu hiện trên có tácđộng tới tư tưởng tình cảm đạo đức của họ Học sinh xuất thân từ các giai cấp,các tầng lớp xã hội khác nhau, lại đang trong giai đoạn còn phụ thuộc nhiều vàogia đình cả về kinh tế lẫn kinh nghiệm sống Vì vậy, trong học sinh không thể

Trang 40

không bị ảnh hưởng của cách sống, cách suy nghĩ và hành động của các nhómngười trong xã hội và của gia đình Một số học sinh chỉ vì học "gạo", học "đốiphó" một cách máy móc, nhận thức hời hợt về những vấn đề lý tưởng, do đókhông lý giải nổi thực tế tiêu cực nảy sinh từ cơ chế thị trường, họ nghi ngờhoang mang trước hiện tại, lo lắng cho tương lai dẫn đến giảm sút niềm tin, xaolãng việc học tập, rèn luyện, không đủ bản lĩnh để đấu tranh vượt qua những cáixấu, cái tiêu cực Từ đó, một số bị cuốn hút vào những dòng xoáy tiêu cực nhưham chơi, cờ bạc, uống rượu, đánh nhau, trộm cắp, đua đòi, ăn diện, ỷ lại, buôngthả, chỉ đòi quyền lợi, hưởng thụ, không nghĩ đến nghĩa vụ và trách nhiệm, cốnghiến, không tích cực học tập và rèn luyện,

Tóm lại, tác động của cơ chế thị trường, sự phát triển khoa học công nghệ;tác động của lối sống thực dụng xem trọng giá trị vật chất hơn giá trị nhân vănlàm cho học sinh xem nhẹ sự quan tâm, lời khuyên nhủ của cha mẹ, thầy cô dẫnđến những biểu hiện lệch lạc về chuẩn mực đạo đức Vai trò của giáo viên bộmôn GDCD trước những tác động này là: Vận dụng những đặc điểm tâm lý vàochiều hướng tích cực trong rèn luyện và học tập của học sinh; Phát huy thế mạnhcủa gia đình trong giáo dục đạo đức, hóa giải những tác động nghịch chiều củagiáo dục gia đình với giáo dục nhà trường; Tạo ảnh hưởng tích cực trong việcnâng cao chất lượng của đội ngũ giáo viên, chất lượng dạy học; Phối kết hợpchặt chẽ với các lực lượng giáo dục để nâng cao chất lượng HĐGDNGLL; Hìnhthành cho học sinh bản lĩnh để nhận thức được bản chất và qui luật của cơ chếthị trường, trở thành sức đề kháng hiệu quả trước tác động tiêu cực của nó

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một sự nghiệp vĩ đại

mà yếu tố quyết định sự thành công là con người Vì vậy, vấn đề quan trọng sốmột là chuẩn bị đội ngũ những người lao động, những trí thức mới có bản lĩnhchính trị và lòng trung thành với lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có đạo đức công dântốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa Công tác giáo dục thế hệ trẻ nói chung, công tác

Ngày đăng: 19/12/2013, 14:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w