CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” Ở CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10...8 1.1.. tác gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ MỸ DUNG
Phát huy các giá trị đạo đức truyền thống
trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức”
ở chơng trình GDCD lớp 10 (qua khảo sát ở trờng THPT Phạm Hồng Thái - Hng Nguyên - Nghệ An)
CHUYÊN NGàNH: Lý LUậN Và PPDH Bộ MÔN GIáO DụC CHíNH TRị
Mã Số: 60.14.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN THÁI SƠN
VINH - 2011
Trang 2Trong quá trình thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo Khoa Giáo dục Chính trị, các thầy cô giáo Khoa Sau đại học cũng như sự động viên chia sẻ của gia đình, bạn bè và những người thân, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình, chu đáo, sâu sắc của thầy
giáo - TS Nguyễn Thái Sơn, người đã trực tiếp hướng dẫn Tất cả những
tình cảm đó là ngồn động lực tinh thần vô cùng lớn lao để cổ vũ và tiếp thêm sức mạnh cho tôi để tôi hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo
và các em học sinh của Trường THPT Phạm Hồng Thái đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo, gia đình, những người thân và bạn bè, đặc biệt là thầy giáo TS Nguyễn Thái Sơn Kính chúc thầy cô, các anh chị và các bạn mạnh khỏe, thành công trong cuộc sống.
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Trang 3A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 8
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” Ở CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 8
1.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” cho học sinh THPT 8
1.2 Thực trạng của việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình GDCD 10 tại trường THPT Phạm Hồng Thái 35
Kết luận chương 1 48
Chương 2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” Ở CHƯƠNG TRÌNH GDCD LỚP 10 49
2.1 Chuẩn bị thực nghiệm 49
2.2 Nội dung thực nghiệm 54
2.3 Kết quả thực nghiệm 91
Kết luận chương 2 91
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC” Ở CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10 93
3.1 Lựa chọn các giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu, thích hợp để vận dụng vào quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình GDCD 10 93
Trang 4với đạo đức” 95
3.3 Phát huy các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình GDCD 10 thông qua việc tăng cường tính tích cực chủ động của học sinh khi tiếp thu bài giảng 116
Kết luận chương 3 122
KẾT LUẬN 123
TÀI LIỆU THAM KHẢO 126
Trang 5CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - hiện đại hóaCNXH : Chủ nghĩa xã hội
Trang 6A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình xây dựng nền văn hoá mới, vấn đề hình thành hệ giá trị
và chuẩn mực xã hội mới phù hợp với truyền thống, bản sắc dân tộc và yêucầu của thời đại là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định Giải quyếtvấn đề này trong lĩnh vực đạo đức chính là làm hình thành hệ giá trị và chuẩnmực đạo đức mới phù hợp với truyền thống và yêu cầu của thời đại
Trong thời kỳ mở cửa hội nhập quốc tế, với những thời cơ, vận hội lớn,đan xen những thách thức không nhỏ, yếu tố con người cần được đặc biệt coitrọng, nhất là đối với thế hệ trẻ - một nhân tố vô cùng quan trọng, bảo đảm đấtnước phát triển nhanh, bền vững Tiếp tục cụ thể hoá quan điểm của Đại hộiĐảng lần thứ X (2006) về sự cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện giá trị,nhân cách con người Việt Nam thời kỳ mới, tại Đại hội XI, Đảng ta đã nêu ranhững tiêu chí, những chuẩn mực của con người Việt Nam trong giai đoạnhiện nay cần phải chăm lo xây dựng để có nguồn nhân lực chất lượng cao
Những chuẩn mực đó là: “Xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêunước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, laođộng giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình, có tinh thần quốc tế chân chính” [24,
76 - 77] Tuy nhiên, mặt trái của nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế đã
và đang gây ra nhiều khó khăn ảnh hưởng xấu tới nhiều mặt trong đời sống xãhội của Việt Nam,vấn đề việc làm, sự nghèo đói, các tệ nạn xã hội có xuhướng tăng, tệ nạn ma túy, mại dâm, bạo lực xâm nhập học đường đang lànhững vấn đề bức bách, những giá trị đạo đức ít được chú trọng, có nơi, cólúc còn bị mai một Ngành giáo dục cũng không ngoại lệ, hiện nay việc giáodục, giữ gìn và phát huy những giá trị và chuẩn mực đạo đức truyền thống củadân tộc Việt Nam cho HS đang phải đối mặt với muôn vàn khó khăn Đã córất nhiều ý kiến lo lắng, trăn trở về những khó khăn hiện nay mà ngành giáo
Trang 7dục đang phải đối mặt, đó là tình trạng HS vi phạm pháp luật, thiếu lễ độ vớingười lớn, với thầy cô giáo, nói tục, không trung thực, ham chơi, đặc biệt làtình trạng bạo lực học đường như hiện nay đang gây nên sự bức xúc lớn trong
dư luận xã hội, ảnh hưởng xấu tới việc giáo dục đạo đức cho HS…
Trong chương trình giáo dục, đã có rất nhiều hình thức, môn học nhằmgiáo dục đạo đức cho học sinh như môn văn học, lịch sử, giáo dục công dân…tất cả các môn học này ngoài việc cung cấp kiến thức cho HS thì thông qua đóphải coi trọng và đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho HS Khôngthể giao phó nhiệm vụ ấy cho riêng một môn học nào mà cần có sự kết hợpchặt chẽ với nhau, biện chứng với nhau hướng tới một mục đích chung cuốicùng là giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho HS Trongphạm vi nghiên cứu của mình, tôi muốn đề cập đến vấn đề giáo dục đạo đứctruyền thống cho học sinh THPT thông qua hoạt động dạy và học môn giáodục công dân trong nhà trường
GDCD là môn học có vai trò quan trọng trong việc hình thành thế giớiquan và phương pháp luận khoa học, giáo dục đạo đức lối sống, truyền đạtcác kiến thức về kinh tế, xã hội, chủ trương, chính sách của đảng và nhà nước.Đây là những tri thức đặc biệt quan trọng hình thành nên phẩm chất của conngười mới XHCN, trong đó, phần “Công dân với đạo đức” - GDCD 10 đóngvai trò là nền tảng cho việc hình thành nên các phẩm chất ấy
Trường THPT Phạm Hồng Thái đóng tại địa bàn xã Hưng Châu - HưngNguyên - Nghệ An, có bề dày truyền thống hơn 30 năm Đa số các em họcsinh có lối sống trong sáng, lành mạnh, có ý thức, có tư cách đạo đức, hamhọc hỏi… Tuy nhiên, do bị tác động bởi những mặt trái của cơ chế thị trường,vẫn còn hiện tượng sống buông thả, thiếu lý tưởng, những hành vi trái với đạo
lý, lơ là đến việc học tập các giá trị truyền thống của người Việt Nam ở một
bộ phận học sinh đang học tập và rèn luyện trong nhà trường Bởi vậy, công
Trang 8tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh đặt ra những vấn đề bức xúc trongcông tác giáo dục của nhà trường.
Với tư cách là giáo viên giảng dạy bộ môn GDCD của nhà trường,mong muốn góp một phần sức lực của bản thân vào quá trình giáo dục nhằmphát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cho HS THPT nói
chung và HS trường THPT Phạm Hồng Thái nói riêng, tôi chọn đề tài “Phát
huy các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình GDCD lớp 10 (qua khảo sát ở trường THPT Phạm Hồng Thái - Hưng Nguyên - Nghệ An)”.
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn
Các vấn đề liên quan đến việc giáo dục đạo đức truyền thống cho thế hệtrẻ nói chung và học sinh THPT nói riêng đã và đang đuợc nhiều nhà nghiêncứu, nhiều nhà khoa học, nhà giáo quan tâm Bởi vậy, cũng đã có nhiều bàiviết, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Mặc dù các côngtrình, bài viết này đề cập đến nhiều góc độ khác nhau của công tác giáo dụcđạo đức truyền thống nói chung nhưng ở mức độ nhất định nào đó đều phảnánh đuợc vai trò, đặc điểm, nội dung, giải pháp của công tác giáo dục đạo đứctruyền thống nói chung và công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho họcsinh THPT nói riêng Có thể kể đến một số tác phẩm, bài viết như:
- Chương trình KHCN cấp Nhà nuớc: “Các giá trị truyền thống và con
nguời Việt Nam hiện nay” của GS Phan Huy Lê; PGS TS Vũ Minh Giang
(chủ biên) Tập 1 (1994); Tập 2 (1996) đã đưa ra những giá trị truyền thốngdân tộc được hình thành trong lịch sử và vận động tới ngày nay
Mảng đề tài về truyền thống và đạo đức truyền thống được nhiều nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu và có nhiều công trình, bài viết có giá trị Đó
là những công trình như: "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt
Nam" (1980) của GS Trần Văn Giàu; "Về truyền thống dân tộc" của GS.
Trang 9Trần Quốc Vượng, (Tạp chí Cộng sản, số 2/1981); "Biện chứng của truyền
thống" của GS Hà Văn Tấn, (Tạp chí Cộng sản, số 3/1981); "Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển" của GS Nguyễn Trọng
- “Đạo đức mới”- GS Vũ Khiêu, Nxb KHXH Hà Nội 1974 với vấn đề
giáo dục con người mới, truyền thống và hiện đại trong lĩnh vực đạo đức
- Góp ý dự thảo chiến lược phát triển giáo dục năm 2009-2020, GS
Phan Đình Diệu có “Đừng quay lưng với những giá trị truyền thống”.
- Thạc sĩ Nguyễn Thị Tuất có bài viết “Kế thừa một số giá trị truyền
thống của dân tộc trong việc giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay”, in trong
“Tài liệu bồi duỡng thường xuyên cho GV THPT chu kỳ III” của Bộ Giáo dục
và Đào tạo, 2005 đã đề xuất một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy nhữnggias trị truyền thống của dân tộc trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay ởnước ta
- “Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục
đào tạo ở Việt Nam hiện nay”, Nguyễn Lương Bằng, luận án tiến sĩ Triết học,
Hà Nội, 2001 đã phân tích mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại và sựvận dụng mối quan hệ này trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể là giáo dục -đào tạo ở nước ta hiện nay
- Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Hiền, CH15 - Đại học Vinh: “Một
số phuơng pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy, giáo dục các giá trị truyền thống của dân tộc trong môn GDCD ở truờng THPT” (Thông qua
khảo sát một số truờng THPT trên địa bàn Nghệ An), năm 2009, đã gắn giáo
Trang 10dục truyền thống nói chung vào một đố tượng cụ thể là HS THPT đồng thờivận dụng những phương pháp dạy học hiện đại để nâng cao chất lượng giáodục các giá trị truyền thống của dân tộc.
Trên đây là những đóng góp vô cùng quý giá của các thế hệ tác giả quatừng thời kỳ Có thể nói, đây là những nguồn tư liệu quý giá mà tác giả kếthừa trực tiếp trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện đề tài này Luận văn sẽ
đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm phát huy các giá trị đạo đức truyềnthống trong quá trình dạy học Đồng thời, tác giả cũng sẽ thiết kế một vài giáo
án mang tính thực nghiệm nhằm mục đích chia sẻ những đóng góp của mìnhvới đồng nghiệp
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Quá trình nghiên cứu luận văn nhằm mục đích phát huy các giá trị đạođức truyền thống của dân tộc trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạođức” ở chương trình GDCD lớp 10 Thông qua đó nâng cao hơn nữa chấtlượng dạy học môn GDCD nói chung và góp phần hoàn thiện nhân cách cũngnhư phát huy các phẩm chất đạo đức trong sáng cho học sinh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ
cơ bản sau đây:
- Xác định được cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy các giá trịđạo đức truyền thống trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở chươngtrình GDCD lớp 10
- Tiến hành thực nghiệm dạy học nhằm phát huy các giá trị đạo đứctruyền thống cho học sinh ở trường THPT Phạm Hồng Thái - Hưng Nguyên -Nghệ An
Trang 11- Đề xuất hệ thống các giải pháp mang tính khả thi nhằm phát huy cácgiá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT nói chung và học sinh ởtrường THPT Phạm Hồng Thái - Hưng Nguyên - Nghệ An nói riêng.
4 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chỉ nghiên cứu một số giá trị đạo đức truyền thống của dân tộctrong phạm vi chương trình GDCD lớp 10, phần “Công dân với đạo đức” ởtrường THPT
- Luận văn cũng đề cập đến một số giải pháp để phát huy giá trị đạođức truyền thống với đối tượng là học sinh THPT
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau đây:
Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các Văn kiện Đại hội Đảng, Hướng dẫn thực hiện chươngtrình giáo dục của Bộ Giáo dục
- Tài liệu, Tạp chí…
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Trao đổi, đàm thoại, quan sát, khảo sát
- Thực nghiệm sư phạm
- So sánh, phân tích, tổng hợp
- Điều tra, phỏng vấn
6 Đóng góp của luận văn
- Cung cấp cái nhìn tương đối khái quát, có hệ thống về các giá trị đạo
đức truyền thống của dân tộc, trong đó nhấn mạnh đến một số giá trị đạo đứctruyền thống chủ yếu của dân tộc có liên quan đến một số bài học trong phần
“Công dân với đạo đức” ở chương trình GDCD lớp 10 Trên cơ sở đó giúp
Trang 12chúng ta nhận thức rõ hơn thái độ của thế hệ trẻ ngày nay đối với những giátrị đạo đức truyền thống của dân tộc.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy các giá trị đạo đứctruyền thống của dân tộc
7 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng hợp lý các giá trị đạo đức truyền thống vào quá trình dạyhọc phần “Công dân với đạo đức ” môn GDCD 10 thì sẽ góp phần phát huycác giá trị đạo đức tryền thống cho học sinh THPT nói chung và học sinhtrường THPT Phạm Hồng Thái nói riêng
8 Bố cục luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận vănđược trình bày trong ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc phát huy các giá trị đạo
đức truyền thống trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” ởchương trình Giáo dục công dân lớp 10
Chương 2 Thực nghiệm phát huy các giá trị đạo đức truyền thống
trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình GDCD 10
Chương 3 Một số giải pháp phát huy các giá trị đạo đức truyền
thốngtrong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở chương trìnhGiáo dục công dân lớp 10
Trang 13B NỘI DUNGChương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT HUY
CÁC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH
DẠY HỌC PHẦN “CÔNG DÂN VỚI ĐẠO ĐỨC”
Ở CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 10
1.1 Tầm quan trọng của việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” cho học sinh THPT
1.1.1 Khái niệm truyền thống và các giá trị đạo đức truyền thống
* Khái niệm truyền thống
Truyền thống là một khái niệm được dùng trong tiếng Việt, song chođến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này Tuy nhiên, cáchhiểu phổ biến nhất đến thời điểm hiện nay là: “Thói quen hình thành đã lâuđời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệkhác” [20, 812]
Nghiên cứu về “truyền thống dân tộc và tính hiện đại của truyền thốngdân tộc”, GS.TS Trần Đình Sử cho rằng: Truyền thống là mối liên hệ của lịch
sử, mà một đầu là giá trị tư tưởng, văn hóa được sáng tạo trong trong quátrình lịch sử của dân tộc và một đầu là sự thẩm định, xác lập và phát huy củangười hiện đại
Dưới góc độ triết học, khi đề cập đến khái niệm “truyền thống”, TS.Nguyễn Lương Bằng trong luận án tiến sĩ Triết học của mình đã đưa ra địnhnghĩa: “Truyền thống là một khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng nhưtính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, thói quen trong tư duy, tâm lý, lốiứng xử được hình thành trên cơ sở những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
Trang 14cũng như hoạt động của con người trong quá trình lịch sử và được truyền từthế hệ này sang thế hệ khác trong một cộng đồng nhất định” [26, 18]
Trên cơ sở những định nghĩa chung nhất về truyền thống, các nhà khoahọc đã khai thác khái niệm này ở nhiều cấp độ Như vậy, có thể hiểu, khi nóiđến truyền thống, người ta thường nghĩ đến tính ổn định và lưu truyền của nó.Tất nhiên những đặc trưng đó chỉ có ý nghĩa tương đối, vì bản thân truyềnthống bao giờ cũng có quá trình hình thành, phát triển và biến đổi Mỗi khihoàn cảnh lịch sử, cơ sở kinh tế, xã hội và hệ tư tưởng thay đổi thì truyềnthống cũng có những biến đổi, vừa có mặt kế thừa, vừa có mặt phát triển, cómặt đào thải và loại bỏ, vừa có sự hình thành những truyền thống mới
Ở một thời điểm nhất định, di sản truyền thống do lịch sử để lại bao giờcũng hàm chứa những yếu tố tích cực và tiêu cực, bao gồm mặt ưu việt, tiến
bộ, phù hợp và thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giữ gìn bản sắc dân tộc cũngnhư mặt hạn chế, hiện thân của bảo thủ, sức ỳ của quá khứ Hai mặt mâuthuẫn đó cùng tồn tại trong di sản truyền thống và có khi đan xen chồng chéonhau Vì vậy, truyền thống cũng như mọi sự vật hiện tượng khác đều luôn ởtrong trạng thái vận động và phát triển, do đó việc nhận thức về truyền thốngphải luôn đứng trên quan điểm phát triển và biện chứng Thái độ tuyệt đốihóa, lý tưởng hóa các giá trị truyền thống, coi đó là khuôn mẫu vĩnh hằng, là
“khuôn vàng, thước ngọc” của bản sắc dân tộc sẽ dẫn đến ý thức bằng lòngvới quá khứ và quay lưng với những trào lưu tiến hóa của thời đại, cản trởcông cuộc đổi mới và quá trình CNH - HĐH đất nước Trái lại thái độ phủđịnh truyền thống, coi truyền thống là sản phẩm và nguyên nhân của tìnhtrạng nghèo nàn và lạc hậu của đất nước sẽ dẫn đến xu hướng hiện đại hóabằng con đường ngoại nhập mà hậu quả không tránh khỏi là đánh mất bản sắcdân tộc, tự hủy hoại sức mạnh nội sinh, làm mất tính bền vững và ổn định của
sự phát triển Cả hai thái độ cực đoan trên đều không có cơ sở khoa học, xa lạ
Trang 15với thực chất truyền thống và đều đi đến những sai lầm trong nhận thức vàtrong hành động, trong cách ứng xử đối với các di sản truyền thống.
Trong xu thế mới, Đảng và Nhà nước chủ động chuyển nền kinh tế từ
cơ chế tập trung quan liêu sang cơ chế thị trường, mở cửa giao lưu với bênngoài, coi đó là một trong những định hướng cơ bản để đưa nước ta ra khỏinghèo nàn, lạc hậu Muốn thế, chúng ta phải chủ động tiếp thu những cái cólợi cho đất nước, lọc bỏ những gì không phù hợp với truyền thống của dântộc Bởi vì, phát triển nền kinh tế thị trường, hiện đại hóa đất nước mà xa rờigiá trị truyền thống sẽ dễ làm đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất mình, trởthành cái “bóng” của dân tộc khác
* Khái niệm giá trị đạo đức truyền thống
Thuật ngữ "giá trị" ra đời cùng với sự ra đời của triết học Nói cách khác,
ngay từ đầu, gắn với triết học đã có những hiểu biết về giá trị và giá trị học.Trước thế kỷ XIX, những kiến thức về giá trị học đã gắn liền với những trithức triết học Sau này, khi khoa học có sự phân ngành, thì giá trị học tách rathành một môn khoa học độc lập và thuật ngữ giá trị được dùng để chỉ mộtkhái niệm khoa học
Khái niệm "giá trị" trở thành trung tâm của giá trị học, nó được sử dụngtrong các lĩnh vực như: triết học, xã hội học, tâm lý học, đạo đức học, kinh tếhọc Trong lĩnh vực kinh tế học, "giá trị" chỉ sức mạnh của vật này khốngchế lại vật khác khi trao đổi với nhau, để bộc lộ giá trị thì vật phẩm được làm
ra đó phải có ích cho cuộc sống con người và đáp ứng được nhu cầu của conngười Chính vì lẽ đó trong kinh tế, giá trị là yếu tố hàng đầu C.Mác viết:
"Lao động có một sức sản xuất đặc biệt, hoạt động là một lao động được nhânlên cấp số nhân, hay là một khoảng thời gian như nhau, nó tạo ra giá trị caohơn so với một lao động giá trị trung bình cùng loại" [40, tr 104-105]
Trang 16Trong triết học, chủ nghĩa duy tâm chủ quan coi giá trị là hiện tượngcủa ý thức, là biểu tượng của thái độ chủ quan của con người đối với kháchthể mà người đó đang đánh giá.
Chủ nghĩa Mác - Lênin nhấn mạnh bản chất xã hội, tính lịch sử của giátrị, đồng thời khẳng định giá trị có thể nhận thức được và giá trị có tính thựctiễn Tất cả mọi cái gọi là giá trị đều có nguồn gốc xuất phát từ chính cuộcsống lao động thực tiễn của con người Do vậy, có thể nói, chỉ trong xã hộiloài người mới có cái gọi là giá trị Và chính "con người là giá trị cao nhất củamọi giá trị là thước đo của mọi giá trị Đầu tư vào con người là cơ sở chắcchắn nhất cho sự phát triển người kinh tế - xã hội" [66, tr 11]
Trong hoạt động thực tiễn, giá trị của một sự vật hiện tượng đều đượcxác định bởi sự đánh giá của con người Sự đánh giá đó nằm trong quy luậtcủa sự vận động và phát triển tiến lên trong thế giới, nó phục vụ ngày càng tốthơn cho cuộc sống con người, cho lợi ích và tiến bộ xã hội Có thể nói, "mọigiá trị đều thể hiện mối quan hệ giữa người với vật; chỉ khi nào sự vật kháchquan có ích với con người thì mới là giá trị" [38, tr 32] và "nói đến giá trị lànói đến cái có ích, có lợi cho nhân dân, cho dân tộc, cho sự phát triển của xãhội, nói đến những gì có thể thỏa mãn được nhu cầu và lợi ích của con ngườitrong lịch sử" [67, tr 136]
Trong cuốn Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát
triển có viết như sau: "Nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt tích cực,
mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cáiđúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp, là nói đến cái có khả năng thôi thúc con ngườihành động và vươn tới" [2, tr 16]
Trong cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư Xô viết định nghĩa:
Giá trị là sự khẳng định hoặc phủ định ý nghĩa của các đối tượng thếgiới xung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm của toàn bộ xã hội nói
Trang 17chung Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính tự nhiên,
mà là bởi tính chất cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vào phạm vi hoạtđộng sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ
xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩa nói trên được biểuhiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong lý tưởng, tâm thế vàmục đích [63, tr 1462]
Qua các khái niệm, các quan điểm về giá trị trên đây, có thể khái quátlại như sau:
Thứ nhất, giá trị là tất cả những cái gì mang ý nghĩa tích cực, gắn với
cái đúng, cái tốt, cái đẹp, được con người thừa nhận và xem nó là nhu cầuhoặc có một vị trí quan trọng trong đời sống của mình, là những thành tựugóp phần vào sự phát triển của xã hội
Thứ hai, giá trị không phải là một cái gì nhất thành bất biến mà nó luôn
vận động biến đổi theo thời gian và không gian sao cho phù hợp trong từngthời điểm nhất định Chính vì vậy, trên thực tế không phải những cái gì đã cógiá trị trong quá khứ đều giữ nguyên giá trị đối với hiện tại Điều đó cho thấygiá trị mang tính lịch sử khách quan, sự ra đời tồn tại hay mất đi của một giátrị nào đó không phụ thuộc vào ý thức của con người mà do yêu cầu của từngthời đại nhất định trong lịch sử
Thứ ba, giá trị đóng một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã
hội, giá trị giúp con người điều chỉnh hành vi của mình trong cuộc sống, giátrị giúp con người định hướng và xác định mục đích cho hành động của mình,
là động cơ thúc đẩy hoạt động của con người
Trên thực tế đã có rất nhiều cách phân loại giá trị Dựa vào tiêu chí mụcđích phục vụ cho nhu cầu của con người, người ta chia ra làm hai loại giá trị:Giá trị vật chất và giá trị tinh thần
Trang 18Giá trị vật chất thể hiện rõ nét trong đời sống kinh tế, nó quyết định sựtồn tại và phát triển của xã hội loài người Giá trị tinh thần là những phẩmchất đặc biệt về trí tuệ, tình cảm, ý chí, nó được thể hiện trên các lĩnh vực tưtưởng, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật, phong tục tập quán Những phẩm chất
đó ăn sâu, bám rễ vào trong đời sống tinh thần và chúng trở thành các chuẩnmực để con người đánh giá phân biệt cái đúng, cái sai, cái xấu, cái đẹp trongđời sống hàng ngày, trong quan hệ giữa con người với con người, con ngườivới xã hội
Giá trị đạo đức là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của đời sống
xã hội và được con người lựa chọn, nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi ứng
xử giữa con người với con người, con người với xã hội, chúng được thực hiệnbởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Giá trịđạo đức biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội
Giá trị đạo đức truyền thống là một thành tố cấu thành của hệ giá trị
tinh thần của dân tộc Việt Nam, nó là nhân lõi, là sức sống bên trong của dântộc Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa củadân tộc được xác định là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng,những quy tắc ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với tựnhiên (mà ngày nay ta gọi là giá trị đạo đức sinh thái) Đặc điểm cơ bản củatruyền thống nói chung, giá trị đạo đức truyền thống nói riêng là sự kế thừa.Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã rènluyện và tạo nên những thế hệ người Việt Nam giàu lòng yêu nước, yêuthương con người, cần cù, thông minh, sáng tạo, chịu thương, chịu khó Những đức tính đó đã trở thành những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc ViệtNam, mà hàng ngàn đời nay chúng ta vẫn nâng niu quý trọng
Nói đến giá trị truyền thống của một cộng đồng dân tộc, chính là nói đến truyền thống tốt đẹp của cộng đồng dân tộc đó Nó chính là những giá trị
Trang 19bình ổn, tốt đẹp, có thể lưu truyền từ đời này qua đời khác, là những cái cần được giữ gìn phát huy phát triển cho phù hợp với xã hội hiện tại
Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức truyềnthống là một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trịtinh thần đó Chính vì vậy, khi nói đến những giá trị đạo đức truyền thống dântộc ta, là nói đến những phẩm chất tốt đẹp, quý báu đã được hình thành và bảolưu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam Giá trị đạo đức truyềnthống của dân tộc ta được cô đúc, được thử thách và tái tạo qua nhiều thế hệkhác nhau, theo những bước thăng trầm của lịch sử, nó chứa đựng một tiềmnăng hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn có của dân tộcViệt Nam, giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển Giá trị đạo đứctruyền thống của dân tộc ta do chính cộng đồng người Việt Nam tạo lập trongquá trình dựng nước và giữ nước, với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thùriêng vốn có, đã tạo nên một bản sắc hết sức độc đáo
1.1.2 Sự cần thiết khách quan của việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh ở trường THPT
Trong quá trình sống và hoạt động xã hội của con người, ý thức đạođức được hình thành Trên thực tế, ở các xã hội khác nhau, đạo đức và ý thứcđạo đức biểu hiện ở những điều cấm và khuyến khích khác nhau nhằm ngănchặn những hành vi xấu và kích thích những điều tốt trên quan điểm lợi íchchung, lợi ích xã hội Nói cách khác, sự phát triển của ý thức đạo đức cónhững biến thái cơ bản tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội bởi vì mỗihình thức sở hữu đều sản sinh ra lý luận luân lý của nó
Chúng ta đều biết hành vi con người tuân theo hệ thống quy tắc của xãhội, do xã hội đặt ra Có người tuân thủ nó do nhập tâm, do ý thức được cácgiá trị đạo đức, các chuẩn mực xã hội Có người tuân thủ vì xung quanh họ
có những cơ chế "kiểm soát xã hội" mạnh mẽ như gia đình, họ hàng, làng
Trang 20xóm, luật lệ Thế nhưng khi xã hội chuyển biến dồn dập sẽ nhanh chóng làmcho hệ thống quy tắc dễ bị phá vỡ Lúc đó, phải trái, đúng sai không cònrạch ròi Trong hoàn cảnh như vậy, con người dễ thờ ơ trước cái thiện, dửngdưng trước cái ác Chính điều đó đã tạo điều kiện cho cái ác, cái bất lươngphát triển Lối sống thực dụng, cá nhân ích kỷ đã làm cho tình trạng thamnhũng, buôn lậu, lừa đảo trong sản xuất kinh doanh ngày càng có đà sinhsôi, nảy nở Chính tâm lý sống gấp, sống hưởng thụ đã làm cho nhiều ngườithuộc nhiều tầng lớp khác nhau sa vào các tệ nạn xã hội Thậm chí một bộphận không nhỏ bị tha hóa bởi đồng tiền, vì những hưởng thụ vật chất màhành động mù quáng.
Ngày nay, khi những tiến bộ về khoa học công nghệ đã đạt tới mứcvượt ra ngoài sự tưởng tượng của không ít người thì cùng với điều đó, sự biếnđộng của các xã hội cũng mạnh mẽ và nhanh chóng đến mức không có vậnhội nào mà lại không đi kèm với những nguy cơ Có thể thấy rất rõ bên cạnhnhững giá trị văn minh to lớn mà con người được hưởng, những hiểm họacũng đang rình rập một cách thường trực đối với con người, đối với nhiềuquốc gia, nhất là các quốc gia nghèo đói, chậm phát triển Nhiều nhà nghiêncứu đã thận trọng cho rằng: chỉ riêng có sự tăng trưởng và phát triển về mặtkinh tế, thì đời sống xã hội chưa chắc đã được đảm bảo để trở nên lành mạnhhơn, văn minh hơn Song nếu không tiến hành điều đó hoặc nếu người ta thờ
ơ với nó thì chắc chắn xã hội sẽ không thể đạt tới sự phát triển và tiến bộ Chonên, vấn đề đặt ra là, tăng trưởng và phát triển về mặt kinh tế phải được thựchiện một cách đồng bộ với việc giải quyết các vấn đề xã hội Nói cách khác,
xã hội muốn có hạnh phúc thì công bằng xã hội phải là bạn đồng hành với sựtiến triển của văn minh
Tuy vậy, cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa con ngườivẫn nhận thức rằng: Giá trị đạo đức, đặc biệt là các giá trị đạo đức truyền
Trang 21thống luôn là vấn đề ý nghĩa đối với bất cứ xã hội nào, thời đại nào Chẳngphải ngẫu nhiên mà cái nhìn đạo đức đã là cái nhìn truyền thống của nhiều xãhội Trong nền văn minh hiện đại, việc đánh giá trình độ tiến bộ của các hiệntượng xã hội, trên thực tế vẫn rất cần sự tham gia của các tiêu chuẩn đạo đức.Bên cạnh đó, tính đặc thù, tính giai cấp, tính khu vực… vốn là những tínhchất cố hữu của đạo đức càng làm cho các chuẩn mực đạo đức khó ăn nhậpvới đời sống hiện thực Trong khi đó, bên cạnh đạo đức còn có hàng loạt giátrị cùng loại như phong tục, tập quán, lối sống, nếp tư duy cũng đang đượccoi là cái cần phải tính đến khi xác định tiêu chuẩn của tiến bộ xã hội Đây làcái giá trị mà nếu thiếu vắng nó thì xã hội công nghiệp hiện đại dễ có nguy cơ
biến hành "nơi bất hạnh" của con người Cũng cần nói thêm rằng: Nhịp độ
phát triển của xã hội hiện đại đã làm cho mối tương quan giữa con người và
thế giới (xã hội và tự nhiên) xung quanh ngày càng trở nên phức tạp hơn Một
mặt, con người được chứng kiến những dấu hiệu to lớn của sự phát triển,nhưng mặt khác con người cũng nhận thấy những nguy cơ khủng khiếp tồn tạiphản tiến bộ
Có thể nói rằng, quá trình phát triển của đời sống xã hội sẽ đem lạinhững yếu tố mới cho việc làm sâu sắc thêm, phong phú thêm những giá trịđạo đức truyền thống đồng thời cũng gây ra những xáo trộn, những thay đổitrong lối sống, những quan niệm về các chuẩn mực đạo đức xã hội Vấn đề ởchỗ là làm thế nào để thực hiện quá trình phát triển mà vẫn giữ được nét đẹpriêng, những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Đây quả là vấn đề bứcxúc đang đặt ra cho toàn xã hội Việt Nam hiện nay
Trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,giáo dục và đào tạo đã được chúng ta xác định là “quốc sách hàng đầu” đểnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.Thực hiện chiến lược
đó của sự nghiệp giáo dục và đào tạo Giáo dục công dân được định hướng
Trang 22mục tiêu xây dựng và phát triển con người theo hướng xây dựng và phát triểncon người - công dân toàn diện về đạo đức, và trí tuệ, thể chất, kỹ năng laođộng và năng lực cảm thụ thẩm mỹ, có khả năng phát triển năng lực cá nhân
và cộng đồng, tính năng động và tư duy sáng tạo, mang bản lĩnh và nhân cáchcon người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, không ngừng phát huy tư cách, nghĩa
vụ và trách nhiệm của công dân Để có được những con người - công dânphát triển toàn diện với năng lực phẩm chất cần thiết ấy giáo dục công dânkhông thể thiếu giáo dục cho học sinh ý thức giữ gìn, phát huy các giá trịtruyền thống và bản sắc dân tộc - những yếu tố không thể thiếu trong sự hìnhthành và phát triển bản lĩnh, nhân cách con người
Thật vậy, bản lĩnh và nhân cách con người là những cái mang đậm bảnsắc dân tộc Nhờ sức mạnh của giá trị truyền thống mà nhân cách, bản lĩnh conngười được duy trì ngay cả khi những điều kiện sinh ra chúng đã biến mất hoặc
có sự thay đổi căn bản Sử học, dân tộc học, văn hóa học và nhiều nghành xãhội, nhân văn khác đã đưa ra những bằng chứng, nhờ những nhân cách và bảnlĩnh độc đáo của con người Việt Nam được hun đúc bởi truyền thống hào hùngđấu tranh dựng nước và giữ nước của cha ông ta, nhân dân đã đứng vững vàgiành thắng lợi trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược để giờ đây, thế hệchúng ta đang vững bước trên con đường đổi mới Nhận thức rõ tầm quantrọng và sự lớn lao của các giá trị truyền thống đân tộc trong sự hình thành vàphát triển bản lĩnh và nhân cách của con người Việt Nam mới, trong suốt 20năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước vừa qua, Đảng ta đã nhiều lần nhấnmạnh rằng, chúng ta chỉ có thể tăng trưởng nguồn lực con người khi quá trinhcông nghiệp hóa giáo dục đào tạo luôn có sự gắn kết kế thừa, gìn giữ và pháthuy những giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc
Các giá trị đạo đức truyền thống là những truyền thống tốt đẹp, mang ýnghĩa tích cực và tiêu biểu cho bản sắc văn hóa của dân tộc, được kết tinh bởi
Trang 23văn hóa của dân tộc, được cô đúc trong suốt quá trình hình thành, tồn tại vàphát triển của dân tộc, gắn với những thăng trầm của lịch sử dân tộc và do vậychúng có sức tiềm tàng và bền vững Giá trị truyền thống có cốt lõi bất biến,đồng thời có phần biến động Nó tự bổ sưng, chuyển hóa làm phù hợp vớitính chất của thời đại và ngày càng phong phú hơn Giá trị truyền thống làm
cơ sở vững chắc trong sự vận động, phát triển của xã hội ở mỗi cộng đồngdân tộc
Hệ thống các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam rất phongphú và đa dạng Việc giáo dục cho học sinh gìn giữ và phát huy các giá trịtruyền thống là chúng ta khơi dậy, củng cố và làm phong phú hơn bản sắc dântộc ở các em - những công dân tương lai của đất nước, từ đó khuyến khích các
em phát triển văn hóa dân tộc, phát huy sức mạnh tinh thần dân tộc vào côngcuộc đổi mới đất nước
Một trong những giá trị đạo đức truyền thống xuyên suốt lịch sử dântộc và hun đúc tinh thần, khi phách con người Việt Nam đó là lòng yêu nước.Yêu nước là giá trị hàng đầu của mỗi con người Việt Nam qua mọi thời đại vàgiờ đây nó đã trở thành cái chung, thước đo phẩm giá của người Việt Nam
Do vậy, cần phải giáo dục ý thức gìn giữ và phát huy các giá trị đạo đứctruyền thống dân tộc cho học là cần thiết Nó sẽ là nền tảng tinh thần vữngchắc để hình thành nên các chuẩn mực đạo đức mới của học sinh.Trước hết,cần giáo dục cho học sinh lòng yêu nước cho học sinh, khơi dậy ở các em tinhthần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định khôngchịu làm nô lệ” như Hồ Chí Minh đã dạy, khuyến khích các em phát huy chủnghĩa anh hùng Việt Nam, lòng yêu chuộng hòa bình, tôn trọng tự, ý chí độclập, tinh thần đoàn kết dân tộc, lấy nghĩa cả làm lý tưởng cuộc đời Bên cạnhlòng yêu nước tinh thần cố kết cộng đồng đoàn kết, tương trợ lẫn nhau cũng làgiá trị nổi bật trong hệ thống các giá trị đạo đức Việt Nam Có thể nói, không
Trang 24ở đâu, truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng và cái nghĩa đồng bào lại lớnlao như ở Việt Nam và chính những giá trị đạo đức truyền thống này đã manglại sức mạnh cho dân tộc ta trong suốt hàng nghìn năm dựng nước và giữnước và giờ đây giá trị truyền thống này cũng đang mang lại cho chúng ta sứcmạnh tinh thần lớn lao trong công cuộc đổi mới đất nước Do vậy việc giáodục cho học sinh - những công dân tương lai của đất nước có ý thức gìn giữ
và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống nhằm tạo cho các em trở thànhnhững công dân tương lai có ý thức đoàn kết, có ý chí phấn đấu vì mục tiêu:
“Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”
Trước xu thế toàn cầu hóa mở cửa giao lưu văn hóa và hội nhập kinh tếthế giới, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường thì việc giáo dục cho họcsinh ý thức gìn giữ và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống càng trở nêncần thiết Cùng với việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống trong môn giáodục công dân cho học sinh, chúng ta cũng cần giúp cho thế hệ công dân tươnglai nhận thức rõ những hệ quả tiêu cực và sự nguy hại của thái độ xem nhẹcác giá trị đạo đức truyền thống, chạy theo đồng tiền và lợi nhuận một cách
vô điều kiện, tiếp nhận lối sống và văn hóa nước ngoài một cách thiếu suynghĩ, không chọn lọc Từ đó, góp phần ngăn chặn và hạn chế những biểu hiệntiêu cực trong đời sống đạo đức của học sinh
Một vấn đề có nghĩa thực tiễn và cấp bách đang đặt ra trước chúng ta làlàm thế nào để có thể tiến lên văn minh, hiện đại mà vẫn giữ được bản sắc vănhóa dân tộc, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc thì việc giáodục cho học sinh ý thức gìn giữ và phát huy các giá trị đạo đức truyền thốngđược đặt ra một cách bức thiết, có ý nghĩa sống còn, giúp cho học sinh giữđược hướng phát triển đúng trong quan hệ giao lưu văn hoá với thế giới bênngoài mà không bị đồng hoá, giữ vững, phát huy được bản sắc văn hoá dântộc; đồng thời lấy đó làm cơ sở để sự nghiệp giáo dục và đào tạo nước nhà
Trang 25hiện nay thu được những thành tựu ngày càng to lớn trong chiến lược pháttriển con người - công dân toàn diện, có đủ năng lực và phẩm chất cần thiếtnhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước.
Trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tahiện nay, tinh thần yêu nước của người Việt Nam bên cạnh những giá trịtruyền thống còn biểu hiện ở những nội dung mới Đó là sự dũng cảm vượtqua chính mình mà trước hết là vượt qua những toan tính vị kỷ, đầu óc hẹphòi, trí tuệ bảo thủ, yếu kém về trí tuệ, không chịu học hỏi, không dám đổimới Đó là thái độ không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, dám nghĩ, dám làm, làtinh thần sáng tạo trong tư duy, hăng hái trong học tập, không ngừng nâng caohiểu biết, trình độ chuyên môn, hăng hái tiến quân vào khoa học, công nghệ
vì sự nghiệp phát triển và phồn vinh của đất nước Đó còn là tinh thần laođộng cần cù, có kỹ thuật, sáng tạo và có hiệu quả cao, quyết chí làm giàu chobản thân, cho gia đình, cho tập thể và cho xã hội Để rèn luyện những phẩmchất đó cho học sinh thì việc giáo dục các giá trị đạo đức dân tộc là cần thiết.Giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống sẽ giúp cho học sinh điều chỉnh tìnhcảm đạo đức, ý thức đạo đức phù hợp với các giá trị truyền thống đạo đức tốtđẹp của dân tộc đồng thời góp phần điều chỉnh các mối quan hệ xã hội
1.1.3 Các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cần được giáo dục cho học sinh THPT
Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội có thể được xem làtoàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt xấu, lương tâm, trách nhiệm, hạnhphúc, công bằng và về những quy tắc đánh giá, điều chỉnh hành vi ứng xửgiữa cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội Vì vậy, cũngnhư các hình thái ý thức xã hội khác đạo đức xã hội trong sự phát triển củamình không thể không kế thừa các giá trị truyền thống dân tộc
Trang 26Hệ thống các giá trị truyền thống Việt Nam được hình thành trong suốthàng nghìn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, trong sự giao lưu,tiếp thu cải biến, chọn lọc những giá trị văn hóa của các dân tộc khác Tuyvậy, cái cốt lõi, cái nền tảng của các giá trị truyền thống văn hóa của dân tộcViệt Nam hoàn toàn được bất nguồn từ nền tảng của dân tộc, từ truyền thốnghàng nghìn năm đấu tranh giữ nước và dựng nước, vượt qua khó khăn tácđộng khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và xã hội Bên cạnh đó, giá trị đạođức truyền thống còn là kết quả của quá trình tiếp thu một cách sáng tạo, chọnlọc các giá trị tư tưởng văn hóa lớn của thế giới, đặc biệt là chủ nghĩa Mác -Lênin Vì vậy, các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam phong phú
và đa dạng Theo GS Vũ Khiêu, chủ biên công trình “Đạo đức mới” cho
rằng, truyền thống đạo đức Việt Nam bao gồm: Lòng yêu nước, truyền thốngđoàn kết, lao động cần cù, sáng tạo, tinh thần nhân đạo, lòng yêu thương vàquý trọng con người
Giáo sư Nguyễn Hồng Phong cho rằng: “tính cách dân tộc gần như làtất cả những đặc trưng truyền thống bao gồm tính tập thể - cộng đồng, trọngđạo đức, cần kiệm, giản dị, thực tiễn, tinh thần yêu nước bất khuất và lòngyêu chuộng hòa bình, nhân đạo lạc quan” [17, 453 - 454]
Giáo sư Trần Văn Giàu khẳng định: “Các giá trị truyền thống đạo đứccủa dân tộc Việt Nam bao gồm: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạcquan, thương người, vì nghĩa” [5, 94]
Dựa vào các tiêu chí xác định giá trị đạo đức truyền thống cũng nhưquan điểm của Đảng ta và quan điểm của các nhà khoa học, có thể khẳng địnhcác giá trị đạo đức truyền thống cơ bản của dân tộc ta gồm: Tinh thần yêunước, lòng thương người, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, tinh thần laođộng cần cù, sáng tạo, tiết kiệm, giản dị, hiếu học
Trang 27Tuy nhiên, trong giới hạn chương trình và thời lượng của cấp học trunghọc phổ thông, giáo viên không thể giảng dạy tất cả các giá trị truyền thốngdân tộc Vì vậy việc chọn lựa các giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu là cầnthiết Những giá trị đạo đức truyền thống được lựa chọn để giảng dạy vừaphải mang tính tiêu biểu cho những giá trị chung của toàn dân tộc, lại phảimang những nét đặc thù riêng của các học sinh đang cư trú Làm được nhưvậy, việc giảng dạy các giá trị truyền thống sẽ thiết thực, bổ ích với học sinhxét trên cả hai phương diện giáo dục và giáo dưỡng.
Như vậy, từ quan điểm của các nhà khoa học cũng như quan điểm củaĐảng, chúng ta có thể khẳng định dân tộc Việt Nam có một di sản giá trị truyềnthống vô cùng phong phú, trong đó các giá trị truyền thống điển hình có thểđưa vào giảng dạy trong chương trình THPT để giáo dục cho học sinh là: tinhthần yêu nước, lòng yêu thương con người, tinh thần đoàn kết, ý thức cộngđồng, tinh thần cần cù lao động, tiết kiệm, truyền thống tôn sư trọng đạo
Trong các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc đó, nổi lên hàng đầu vàđược người Việt Nam coi như là chuẩn mực cao nhất của đạo lý dân tộc làtinh thần yêu nước
* Tinh thần yêu nước
Trong kho tàng truyền thống phong phú và quý báu của dân tộc,truyền thống yêu nước là truyền thống hàng đầu, bao trùm của dân tộc ViệtNam Nó là sự tổng hợp của nhiều truyền thống khác Nói như giáo sư TrầnVăn Giàu: “Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đạiđến hiện đại” [5, 100]
Truyền thống yêu nước được hình thành, củng cố và phát triển trongquá trình đấu tranh chống thiên nhiên khắc nghiệt và trong quá trình đấu tranh
xã hội, nhất là trong cuộc đấu tranh chống xâm lược, trong quá trình dựngnước, giữ nước và xây dựng đất nước của dân tộc
Trang 28Trong quan niệm phỏ biến của nhân dân ta, lợi ích của Tổ quốc bao giờcũng lơn hơn lợi ích của cá nhân, quyền lợi của gia đình, dòng họ Kẻ nào vìlợi ích cá nhân mà làm tổ hại đến lợi ích của dân tộc đều bị nhân dân trừng trịbằng nhiều cách và lịch sử muôn đời sau lên án Những người có công trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước thì đều được nhân dân kính trọng và tỏ lòngbiết ơn sâu sắc Nhiều đền thờ, miếu mạo trải dài khắp đất nước đã ghi lạinhững chiến tích hào hùng của dân tộc Nó có sức mạnh giáo dục và cổ vũlòng yêu nước tinh thần dân tộc của thế hệ người Việt Nam từ xưa đến nay
Tinh thần yêu nước của con người Việt Nam không chỉ là một tình cảm
tự thân Nó được bắt nguồn từ những tình cảm thân thương, máu thịt như yêucha mẹ, anh em, chồng vợ, yêu những gì bình dị của quê hương: yêu dòngsông trước nhà, trái lê đầu mùa, mùi thơm của thảo nguyên xanh và sau đó
nó nâng lên thành tình yêu đất nước Tinh thần yêu nước là tình cảm thiêngliêng cao quý của con người Việt Nam, là sức mạnh đặc biệt của dân tộc, đểkhẳng định truyền thống cao đẹp này của dân tộc, Hồ Chí Minh viết: “Dân ta
có một lòng yêu nước nồng nàn Đó là truyền thống quý báu của ta, từ xưađến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, nó kết thành một làn sóng vô cùngmạnh mẽ, to lớn, lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè
lũ bán nước và cướp nước” [16, 171] Tình cảm ấy được bồi thấm và ngàycàng lớn lên theo chiều dài lịch sử
Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tinh thần yêu nước lại cónhững yêu cầu, những biểu hiện khác nhau Trong chiến tranh, yêu nước làsẵn sàng xả thân cho đất nước, sẵn sàng hiến dâng máu xương của mình cho
Tổ quốc khi cần
Yêu nước trong giai đoạn hiện nay trước hết phải hướng sang nhiệm vụxây dựng đất nước với ý thức coi nghèo nàn lạc hậu cũng là nỗi nhục khôngkém gì nỗi nhục mất nước Vì vậy nhiệm vụ của thế hệ thanh niên hiện nay là
Trang 29phải thắng được nghèo khổ, kém phát triển, mở ra một chương mới cho nonsông Việt Nam vinh quang sánh vai với các cường quốc khác.
Tinh thần yêu nước là "nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm
xã hội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào vềquá khứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc".Thực ra, trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu đất nước, nhưngbản sắc, sự hình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau Ở ViệtNam, chúng ta có thể thấy rằng, yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất củadân tộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậcgiá trị truyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, "là tiêu điểmcủa mọi tiêu điểm" Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lêntrên lợi ích cá nhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữgìn và phát triển bản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc
* Lòng yêu thương con người
Dân tộc Việt Nam vốn yêu quý con người, coi "Người là hoa của đất",
"Người sống đống vàng", "Một mặt người hơn mười mặt ruộng" Tìnhthương yêu con người là giá trị đạo đức đặc trưng của dân tộc ta, một giá trịrất đáng tự hào Nó gắn liền với tình yêu thương đồng loại và là "cái gốc củađạo đức"
Lòng yêu thương con người của ông cha ta có nguồn gốc sâu xa từsinh hoạt trong công xã nông thôn, thời cộng đồng nguyên thủy và đượccủng cố phát triển qua quá trình chung lưng đấu cật, khai phá giang sơn, gìngiữ đất nước
Tình yêu thương con người của người Việt Nam thấm đượm trong cácmối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình với nhau, được phát triểntrong quan hệ làng xóm và mở rộng ra là cả cộng đồng dân tộc Lấy tình yêuthương con người làm cơ sở cho cách xử thế ở đời là triết lý sống của người
Trang 30Việt Nam Khen ngợi hết lời những người sống nhân đức, vì nghĩa cả và lên
án mạnh mẽ những kẻ ác nhân, thất đức Con người Việt Nam thường thươngyêu, giúp đỡ lẫn nhau, san sẻ cho nhau lúc buồn vui, khó khăn hoạn nạn.Dângian ta có câu: “Tình sâu nghĩa nặng”, “Tình làng nghĩa xóm” Yêu thươngcon người, người Việt Nam đặt chữ Tình lên trên, coi trọng nhân nghĩa Trong
cư xử và lối sống, người Việt Nam coi trọng sự dung hòa, với phương châmsống: “Chín bỏ làm mười” Lòng yêu thương con người của người Việt Namluôn chan chứa trong mối quan hệ: tình chồng, tình mẹ con, tình anh em, tìnhlàng, tình đồng chí, đồng đội Chính tình thương vô bờ bến ấy đã giúp chomỗi con người có những hành động cao cả, sẵn sàng xả thân cứu giúp ngườihoạn nạn, nhường cơm sẻ áo, “thương người như thể thương thân” Yêuthương con người còn thể hiện ở sự vị tha “đánh kẻ chạy đi không đánh ngườichạy lại” Không chỉ vị tha trong cư xử láng giềng, gia đình, bè bạn mà dântộc Việt Nam còn vị tha với cả kẻ thù với quan điểm “lấy nhân nghĩa để thắnghung tàn; lấy chí nhân để thay cường bạo” Thiết nghĩ lòng nhân nghĩa, tìnhyêu thương con người có thể lay động lòng người, khiến con người cải tà quychính, sức mạnh đó còn hơn cả binh đao
Lòng yêu thương con người vốn có của dân tộc Việt Nam đã đượcĐảng ta kế thừa và phát triển rực rỡ trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin vàothực tiễn cách mạng Việt Nam Đúng như Đảng ta đã nhận định: Thươngnước - thương nhà, thương người, thương mình là truyền thống đậm đà củanhân dân ta Nhờ có tinh thần yêu nước và dân chủ ấy mà trong suốt quá trìnhlịch sử bốn ngàn năm, dân tộc ta đã làm nên những chiến công oanh liệt Từngày có Đảng, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc chủ nghĩa xã hội, truyền thốngyêu nước và dân chủ của nhân dân ta được nâng lên một trình độ mới và pháthuy mạnh mẽ hơn bao giờ hết
Trang 31Như vậy, không có lòng nhân ái thì không thể có lòng yêu nước,thương nhân dân được Nó là nhân tố cốt lõi trong hệ giá trị truyền thống củadân tộc Việt Nam Nhờ đó, con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam có đượcsức mạnh to lớn trước mọi thử thách
* Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng
Đây là một giá trị truyền thống mang đặc thù của dân tộc Việt Namđược quy định bởi điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và những nét riêng vềkinh tế xã hội nước ta Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết là nhân tố hợpthành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử
Tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ chủ nghĩa yêunước và là biểu hiện sâu sắc của chủ nghĩa yêu nước Tinh thần ấy được phảnánh rõ trong truyền thuyết về ngày đầu mở nước Truyền thuyết về hai chữ
"đồng bào" (mọi người cùng trong một cái bọc mà ra) phản ánh nhu cầu vàmong ước của người xưa về sự gắn bó giữa những con người với nhau
Tinh thần đoàn kết của người Việt Nam, trước tiên, được thể hiện tronggia đình, trong cộng đồng làng xã, và hơn hết, trong toàn thể cộng đồng cácdân tộc Việt Nam Trong gia đình, sức mạnh đoàn kết được thể hiện qua câu:
"Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn" Chính những quy tắc, thể lệ
về một mảnh ruộng chung (công điền), về việc phải cùng nhau hợp tác tronglao động sản xuất, chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, mà tinh thần đoànkết ngày càng được củng cố trong làng xã Có lẽ, hiếm có dân tộc nào trên thếgiới mà tinh thần đoàn kết lại được biểu hiện nhiều và đa dạng như ở làng quêViệt Nam Ở bất cứ lĩnh vực gì, người ta cũng tạo ra sự đoàn kết nhất trí cao,như học giả Đào Duy Ánh nhận xét: Ở trong một làng người ta thấy nhữngcuộc đoàn kết nhỏ, như hội tư văn gồm những người có chức tước khoa danh,hội văn phả gồm những người nho học mà không có phẩm hàm khoa mục gì,hội võ phả gồm những quan võ, hội đồng môn gồm có tất cả học trò của một
Trang 32thầy Ngoài ra còn có vô số các đoàn thể khác, như hội mua bán dùng cáchgắp thăm hay bỏ tiền úp bát mà lần lượt góp tiền cho nhau trong việc khánh
hỉ, cùng là những hội bách nghệ họp các thợ thủ công đồng nghiệp, hội chư
bà họp các bà vãi lễ phật, hội đồng quan họp những bà thời đồng thánh, hộibát âm họp các tài tử âm nhạc, cho đến hội chọi gà, hội chọi chim xem thếthì thấy người nhà quê ta rất ham lập hội
Tinh thần đoàn kết trong cộng đồng làng xã được mở rộng thành tinhthần đoàn kết dân tộc và không ngừng được nâng cao trong quá trình dựngnước và giữ nước Vì vậy, dân tộc Việt Nam đã duy trì được sự hài hoà trongcác quan hệ xã hội, làm hạn chế phần nào tính vị kỷ, tạo được sức mạnhchung cho sự sinh tồn và chiến thắng ngoại xâm Lịch sử dân tộc Việt Nam đãchứng minh rằng, nếu không tạo được sự đoàn kết nhất trí cao thì nguy cơnước mất nhà tan sẽ xảy ra Thất bại của nhà Hồ thế kỷ XIV là một ví dụ Dokhông thống nhất được lòng dân, nên dù có tinh thần chuẩn bị kháng chiếnlâu dài, vũ khí tân tiến vẫn không bảo vệ được độc lập dân tộc Hoặc trongcác thế kỷ XVI - XVIII chiến tranh phân chia Trịnh - Nguyễn, Nam - Bắctriều là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy yếu của đất nước, làm cho thựcdân Pháp có cơ hội xâm lược nước nhà Chính nhờ có truyền thống đoàn kết
mà chúng ta mới có được một dân tộc độc lập như ngày nay Những câu như
"đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết", "một cây làm chẳng nên non, ba câychụm lại thành hòn núi cao" không chỉ là một lời khuyên nhủ, mà còn làphương châm, mục đích của sự đoàn kết dân tộc
Nhờ đoàn kết mà cha ông ta đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả cộngđồng dân tộc trong bảo vệ cũng như xây dựng Tổ quốc Đoàn kết là điều kiệntất yếu để bảo tồn dân tộc, nhất là khi đất nước có giặc ngoại xâm
Cũng nhờ tinh thần đoàn kết mà cha ông ta đã vượt qua những khókhăn, thử thách khác nghiệt của thiên nhiên để không những tồn tại mà còn
Trang 33phát triển sản xuất Nhờ tinh thần đoàn kết mà cha ông ta đã sáng tạo nênnền văn minh sông Hồng, đặt nền móng cho toàn bộ sự phát triển sau nàycủa đất nước.
Tinh thần đoàn kết không chỉ là một điểm tựa, một động lực mạnh mẽtrong sự nghiệp giải phóng dân tộc mà nó còn là động lực trong sự nghiệp xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định mộtchân lý:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”
Trước lúc đi xa, Người vẫn còn trăn trở “Đoàn kết là một truyền thốngcực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân”, và yêu cầu mỗi cán bộ, Đảng viênphải thấm nhuần tư tưởng “Cần phải gìn giữ sự đoàn kết thống nhất trongĐảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”
* Tinh thần lao động cần cù, lối sống tiết kiệm, giản dị
Tinh thần tiết kiệm cũng là một giá trị nổi bật trong hệ giá trị củatruyền thống dân tộc Việt Nam Đây là sản phẩm của quá trình lao động, conngười sinh ra không phải ngẫu nhiên đã có sẵn sự thông minh, cần cù mà cầnphải trải qua một quá trình rèn luyện trong cuộc sống, xuất phát từ những giankhó, cực nhọc, vất vả, luôn phải chống trả sự khắc nghiệt của môi trường,hoàn cảnh, thời tiết
Thực ra, để kiến tạo ra của cải vật chất thì bất cứ dân tộc nào cũng phảilao động, cũng phải chịu khó, và họ cũng có thể tự hào về những thành quả đãtạo dựng được của mình, nhưng dân tộc Việt Nam lại là một trường hợp đặcbiệt Bởi lẽ, như đã nói, Việt Nam là một nước có nền văn minh nông nghiệplâu đời Lao động nông ghiệp là loại hình lao động vất vả, cần nhiều thời gian,công sức mới có hạt gạo, bát cơm để ăn Hơn nữa, thiên nhiên lại quá nhiềunắng gió, mưa bão mà nhiều khi, mùa nắng thì hạn cháy đồng, mùa mưa lại lũ
Trang 34lụt Quanh năm suốt tháng, người dân Việt Nam phải lo đắp đập, đào mươnglấy nước tưới, đắp đê phòng chống bão lụt (Việt Nam có hàng ngàn km đê,điều được làm mãi qua hàng chục thế kỷ) Theo GS Trần Văn Giàu, nhữngngười nước ngoài đến Việt Nam đều hết sức ngạc nhiên khi thấy mọi cơ năngcủa con người Việt Nam đều được dùng để làm việc: đầu đội, vai gánh, lưngcõng, tay nhanh nhẹn và khéo léo, chân chạy như bay Ngoài sự khéo léo, đócòn là một minh chứng cho sự cần cù, chịu khó của người Việt Nam
Thái độ yêu quý lao động, lao động cần cù,người Việt Nam cũng đi cùngvới thái độ phê phán, lên án thói lười biếng, lãng phí Họ ý thức rất rõ thói ănkhông ngồi rồi là nguồn gốc của rất nhiều tội lỗi: “Nhàn cư vi bất thiện” hay
“Giàu đâu những kẻ ngủ trưa Sang đâu những kẻ say sưa tối ngày”
Thái độ cần cù trong lao động luôn được cha ông ta gắn liền với lốisống tiết kiệm, giản dị Tiết kiệm, theo quan niệm của người Việt Nam, là sựchi tiêu một cách hợp lý Cần mà không kiệm thì cuộc sống bấp bênh do
“được đồng nào, xào đồng đấy” Còn không thể có kiệm mà không cần Từkinh nghiệm sống của rất nhiều thế hệ, người Việt Nam nhận thấy rằng: “Khi
có mà không ăn dè, đến khi ăn dè thì chẳng có mà ăn” Vì vậy họ phê phánhành vi: “Vung tay quá trán” trong sinh hoạt, tiêu dùng: “Buôn tàu, buôn bèkhông bằng ăn dè lỗ miệng”
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển tinh thần và lối sống ấytrong công việc và trong đời sống hằng ngày Trong đời sống cá nhân, Bác ởđâu, dù là chiến khu hay giữa lòng thủ đô Hà Nội, đều động viên mọi người
và trước hết hết Bác làm gương về phong trào tăng gia sản xuất, cải thiện bữasống Bữa cơm một vị chủ tịch nước ăn cũng chỉ vài món như mọi người dânbình thường, quả cà sau bữa ăn cũng được Người nhắc nhở để cất lại hôm saudùng tiếp Tấm áo kaki sờn cổ được thay đi thay lại mấy lần
Trang 35Như vậy, lao động cần cù ban đầu là một đòi hỏi tất yếu để sinh tồn.Dần dần, lao động cần cù trở thành một phẩm chất không thể thiếu đối vớicon người Việt Nam Nó vừa là điều kiện để đảm bảo nhu cầu sống của conngười, vừa là sự thể hiện ý chí thức trách nhiệm của người Việt Nam trong sựnghiệp dựng nước và giữ nước của mình Tất cả những thành quả vật chất vàtinh thần mà cha ông ta để lại đều bắt nguồn từ truyền thống cần kiệm đó.
Tính sáng tạo và sự cần cù, tiết kiệm, lối sống giản dị đã giúp đồng bào
ta, nhân dân ta vượt qua bao thác ghềnh trong sự nghiệp dựng nước và giữnước Ngày nay trong quá trình xây dựng CNXH, phẩm chất đạo đức ấy vẫntiếp tục được gọt dũa để ngày càng sáng hơn Thành công của đất nước ngàyhôm nay cũng là kết quả ghi nhận tinh thần chịu khó, chịu khổ, luôn luôn mày
mò sáng tạo và biết tiếp nhận những điều tiến bộ, mới mẻ để ngày càng hoànthiện mình hơn
* Truyền thống hiếu học
Việt Nam là một đất nước ngàn năm văn hiến Dân tộc VN vốn cótruyền thống hiếu học lâu đời Người VN lấy sự học làm điều căn bản để thựchiện đạo lý làm người, "nhân bất học bất tri lý" Do đó trong suốt mấy ngànnăm dựng nước và giữ nước, qua mọi giai đoạn thăng trầm của lịch sử, giáodục luôn là một lĩnh vực được coi trọng và đề cao
Xã hội Việt Nam không có giai cấp, chỉ có bậc thang giá trị Trong bậcthang giá trị này, người có học được xếp hàng đầu: sĩ, công, nông, thương
Trong tổ chức làng xã, người có học được nhiều quyền lợi ưu tiên nhưmiễn tạp dịch hay được tham dự vào ban tế lễ Người có học mà thi đậu, thìđược đón rước về làng rất long trọng, không những bản thân mình được danh
dự mà còn đem vinh dự về cho gia đình, họ hàng, làng nước
Từ sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, tư tưởng Hồ Chí Minh
về sự học, xem học tập là nhu cầu của cuộc sống đã được thể hiện một cách
Trang 36nhất quán trong đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Ngay từ ngàyđầu mới giành được độc lập, khi vận mệnh nước nhà đang như ngàn cân treosợi tóc, Đảng và Bác Hồ đã chủ trương cùng một lúc chống giặc đói, chốnggiặc dốt và chống giặc ngoại xâm, xem chống giặc dốt cũng quan trọng, cũngcấp bách như chống giặc đói để dân được ấm no và chống giặc ngoại xâm đểbảo vệ nền độc lập nước nhà Trong suốt cuộc đời hy sinh cho đất nước, chodân tộc, Bác Hồ chỉ có một ham muốn, "ham muốn tột bậc là nước nhà đượchoàn toàn độc lập, nhân dân được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm
ăn, áo mặc, ai cũng được học hành" Như vậy Bác xem sự học là nhu cầu thiếtyếu như cơm ăn, áo mặc hàng ngày Bác còn cảnh báo: "Một dân tộc dốt làmột dân tộc yếu"
Dân tộc Việt Nam ta là một dân tộc thông minh và có truyền thống hiếuhọc Những tấm gương hiếu học của ông cha phần lớn đã được ghi vào sửsách Quá trình lịch sử hào hùng đấu tranh chống ngoại xâm, dựng nước vàgiữ nước của dân tộc ta đã sản sinh ra rất nhiều nhân tài, xuất thân mỗi ngườituy khác nhau nhưng họ đều có điểm chung là tinh thần hiếu học Đó lànhững tấm gương sáng để những thế hệ đời sau noi theo, việc học của họđáng để chúng ta ngày nay phải suy ngẫm Chính tinh thần hiếu học ấy, cộngthêm ý chí đã giúp họ vượt qua mọi khó khăn để học thành tài và đỗ đạt caotrong các kỳ thi Nhưng hơn hết những tấm gương ấy cũng tự trau dồi và rènluyện để trở thành những nhân cách đạo đức lớn, đã góp sức mình giúp dân,giúp nước và được sử sách lưu danh muôn đời như những người có công đốivới dân tộc
Xuất phát từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu giá trị đạo đứctruyền thống là cái được con người lựa chọn và đánh giá, xem nó như là việclàm có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được lương tâm đồng tình và
dư luận biểu dương Trong những thử thách gay go, ác liệt của lịch sử, những
Trang 37giá trị đạo đức truyền thống vừa là kết quả, vừa là động lực của quá trình đấutranh gian khổ, lâu dài và quật cường của dân tộc ta chống lại thiên tai và địchhoạ Những giá trị ấy đã làm nên cốt cách, tinh thần và sức mạnh Việt Namđược bạn bè thế giới khâm phục.
1.1.4 Vai trò của phần “Công dân với đạo đức” trong chương trình GDCD
10 đối với việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT
* Nội dung cơ bản của phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình GDCD 10
Giáo dục các giáo trị đạo đức truyền thống cho học sinh không phải làtrách nhiệm riêng của môn giáo dục công dân, lại càng không phải chỉ mộtmình môn giáo dục công dân trong nhà trường là có thể đảm nhận được.Nhưng cũng cần phải khẳng định rằng, môn giáo dục công dân có vị trí riêng,
có tính đặc thù và có vai trò rất lớn trong việc giaó dục giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc Và đặc thể hiện rõ nét nhất trong phần: “Công dân với đạo
đức”ở chương trình GDCD 10
Chương trình phần “Công dân với đạo đức” gồm hai mạch nội dung:
Một là: Quan niệm về đạo đức, một số phạm trù cơ bản của đạo đức
học: nghĩa vụ, lương tâm, nhân phẩm và danh dự, hạnh phúc, bao gồm:
- Bài 10: Quan niệm về đạo đức
Đây là bài học mở đầu của phần “Công dân với đạo đức”, học sinhđược tiếp cận khái niệm cơ bản về đạo đức, từ đó có thể lý giải được một sốvấn đề đạo đức trong lịch sử, hiểu được mối quan hệ giữa đạo đức với phápluật và phong tục tập quán và nhận biết được vai trò của đạo đức trong đờisống xã hội
- Bài 11: Một số phạm trù cơ bản của đạo đức học
Bài này học sinh được tìm hiểu bốn phạm trù đạo đức là nghĩa vụ,lương tâm, nhân phẩm và danh dự, là những phạm trù không còn xa lạ với các
Trang 38em Tuy nhiên cái khó nhất đối với người giáo viên là phải làm sao biến trithức khoa học thành niềm tin và hành động theo niềm tin đó.
Hai là: Các giá trị đạo đức, thể hiện trong 3 mối quan hệ cơ bản của
con người, đó là:
- Quan hệ với bản thân: Bài 16 “Tự hoàn thiện bản thân”, giúp cho họcsinh có khả năng tự nhìn nhận, đánh giá về bản thân, hiểu được việc tự đánhgiá, nhìn nhận về bản thân theo các yêu cầu đạo đức xã hội là điều không dễdàng, phải biết phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu củabản thân
- Quan hệ với người khác: Bài 12 “Công dân với tình yêu, hôn nhân vàgia đình”, giúp cho học sinh hiểu được thế nào là tình yêu chân chính, hônnhân, gia đình cũng như các mối quan hệ trong tình yêu, hôn nhân, gia đình
Từ đó, có khả năng vận dụng kiến thức đã học để đưa ra nhận định hợp lý vềmột số quan niệm sai lẩm trong tình yêu, hôn nhân, gia đình
- Quan hệ với cộng đồng, đất nước, nhân loại, gồm các bài:
Bài 13: “Công dân với cộng đồng”, giúp cho học sinh hiểu được nhânnghĩa, hoà nhập, hợp tác là những yêu cầu đạo đức của người công dân hiệnnay trong mối quan hệ với cộng đồng, từ đó, biết cách thể hiện thái độ yêumến, quý trọng đối với những người xung quanh, có tinh thần đoàn kết, xâydựng cộng đồng
Bài 14: “Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, giúphọc sinh biết cách tham gia các hoạt động xây dựng, bảo vệ đất nước phù hợpvới khả năng của bản thân
Bài 15: “Công dân với một số vấn đề cấp thiết của nhân loại”, giúp họcsinh biết được một số vấn đề cấp thiết của nhân loại hiện nay, từ đó bày tỏthái độ đòng tình và hang hái tham gia giải quyết một số vấn đề cấp thiết củanhân loại phù hợp với khả năng của lứa tuổi
Trang 39* Tầm quan trọng của phần “Công dân với đạo đức” trong chương trình GDCD 10 đối với việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống cho học sinh THPT
Tìm hiểu những nội dung cơ bản của phần: “Công dân với đạo đức”
trong chương trình GDCD lớp 10 chúng ta nhận thấy phần kiến thức này cóvai trò rất quan trọng trong việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống chohọc sinh
Thứ nhất, những kiến thức của phần “Công dân với đạo đức” là những
tri thức tương đối khái quát, có hệ thống về truyền thống và các giá trị đạođức truyền thống của dân tộc
Thứ hai, những kiến thức của phần “Công dân với đạo đức” giáo dục
một cách sâu sắc, đầy đủ về lòng nhân ái, nhân nghĩa, lòng yêu nước, tráchnhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tính tự giác, năng động sáng tạo, tự chủ
có ý thức phát huy sức mạnh của cả dân tộc
Thứ ba, những kiến thức của phần “Công dân với đạo đức” không chỉ
giúp học sinh nâng cao hơn nữa ý thức gìn giữ và phát huy các giá trị đạo đứctruyền thống, bản sắc dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới mà cònlàm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống của chính mình và đời sốngcủa xã hội cả cộng đồng dân tộc Đồng thời giáo dục cho thế hệ công dântương lai đó nhận thức rõ và không ngừng nâng cao đạo lý làm người, ý thứctrách nhiệm và nghĩa vụ của công dân, lối sống, nếp sống văn hóa hiểu biếtlịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc có ý chí vươn lên vì tương lai của chínhmình và tiền đồ của đất nước
Thứ tư, cùng với việc giáo dục ý thức gìn giữ và phát huy các giá trị
đạo đức truyền thống dân tộc những kiến thức của phần “Công dân với đạo
đức” còn tạo ra ở học sinh - những công dân tương lai thái độ tích cực đấu
tranh, bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu cũng như loại trừ những quan
Trang 40điểm của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bá quyền nước lớn hoặc tự ti dân tộcđang làm tổn hại đến đời sống tinh thần, tâm tư tình cảm của con ngườiViệt Nam
Như vậy, có thể thấy, phần “Công dân với đạo đức” GDCD lớp 10 chútrọng giáo dục nhân sinh quan cho học sinh Nội dung phần này là một kếtcấu chặt chẽ, có logic với hai mạch nội dung rất rõ ràng, cô đọng, chọn lọc đãgiúp học sinh hiểu và vận dụng những vấn đề có tính lý luận về đạo đức vàoviệc xem xét, đánh giá các hiện tượng đạo đức trong xã hội Những kiến thức
về đạo đức học đã làm cho học sinh thấy được trách nhiệm của mình khi thamgia các mối quan hệ trong xã hội: quan hệ với người khác, quan hệ với cộngđồng, quan hệ với Tổ quốc, quan hệ với nhân loại để từ đó biết tự đánh giá, tựkiểm tra những suy nghĩ và hành động của mình, trên cơ sở đó không ngừng
tự hoàn thiện bản thân
1.2 Thực trạng của việc giáo dục các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở chương trình GDCD
10 tại trường THPT Phạm Hồng Thái
1.2.1 Vài nét về trường THPT Phạm Hồng Thái
Được thành lập vào năm 1979 theo quyết định cua Bộ Giáo dục và Đàotạo, trường THPT Phạm Hồng Thái là trường THPT công lập thứ 3 của củahuyện Hưng Nguyên trong thời kỳ đó, sau trường THPT Lê Hồng Phong vàThái Lão Năm học đầu tiên 1979 - 1980, nhà trường chỉ có 10 lớp với tổng sốhơn 400 học sinh và 20 cán bộ giáo viên đều có trình độ từ Đại học trở lên.Nhưng sau 29 năm số lớp của nhà trường đã nâng lên là 33 lớp với trên 60cán bộ giáo viên Vượt qua muôn vàn khó khăn của những ngày đầu mớithành lập, nhà trường ngày càng khẳng định vị thế giáo dục và đào tạo củamình trong hệ thống giáo dục của tỉnh