Bên cạnh những thành tựu trên, giáo dục đại học Việt Nam còn bộc lộ nhiềuhạn chế và yếu kém: chất lượng đào tạo nhìn chung còn thấp, chương trình đào tạo và phương pháp đào tạo lạc hậu,
Trang 1NGUYỄN HỮU NĂNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60140114 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Ngô Đình Phương
NGHỆ AN - NĂM 2012
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một trong những vấn đề đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta rất quantâm là làm gì và làm như thế nào để nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, làm chogiáo dục – đào tạo thực sự trở thành động lực, mục tiêu thúc đẩy kinh tế - xã hộiphát triển
Đổi mới quản lý giáo dục đại học ở nước ta hiện nay là một công tác vừamang tầm chiến lược, vừa là khâu đột phá để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáodục đại học Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ
2 khóa VIII đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu”, “Quản lýgiáo dục là khâu đột phá nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo” Quan điểm nàyđược cụ thể hóa trong chỉ thị 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của Ban Bí thưTrung ương Đảng: “Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là mộttrong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người” Sau 26 năm đổi mới và 9năm thực hiện chiến lược phát triển giáo dục năm 2001 – 2010, giáo dục đại họcViệt Nam đã phát triển rõ rệt về quy mô, đa dạng về loại hình và các hình thức đàotạo, bước đầu điều chỉnh cơ cấu hệ thống, cải tiến chương trình và quy trình đào tạo,huy động được nhiều nguồn lực và tăng cường mạnh mẽ hợp tác quốc tế
Bên cạnh những thành tựu trên, giáo dục đại học Việt Nam còn bộc lộ nhiềuhạn chế và yếu kém: chất lượng đào tạo nhìn chung còn thấp, chương trình đào tạo
và phương pháp đào tạo lạc hậu, chậm đổi mới, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phòngthí nghiệm, cơ sở thực hành thiếu thốn, nghèo nàn, đào tạo với nghiên cứu khoa họctrong nhà trường thiếu sự gắn kết, đặc biệt phương pháp quản lý trong nhà trườngkém hiệu quả, trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý - giảng viên còn hạnchế, … Tại thông báo số 242-TB/TW ngày 15/4/2009 Thông báo kết luận của BộChính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, phương hướngphát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2020, Bộ Chính trị nhận định “chính côngtác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém là nguyên nhân chủ yếu của nhiều yếu kém
Trang 3khác” Kết luận của Bộ Chính trị cũng đã khẳng định: để đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sựnghiệp giáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện và mạnh mẽ.Hiện nay, công tác quản lý đào tạo ở các cơ sở giáo dục đại học thuộc hệ thống giáodục đại học Việt Nam còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập, thiếu tập trung, cơ chếquản lý lỏng lẻo, chưa đáp ứng được những đòi hỏi và theo kịp sự đổi mới của giáodục trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên chưa đạt được hiệu quả mongmuốn Chính vì vậy tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đàotạo tại trường đại học Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh” đề xuất một số giải phápnâng cao hiệu quả quản lý đào tạo nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạocủa Trường góp phần đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho xã hội trong thời giantới.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác quản lý đào tạo, đề xuấtmột số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo tại trường đại học Văn HiếnThành phố Hồ Chí Minh
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý đào tạo tại trường đại học VănHiến
- Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo
ở trường đại học Văn Hiến
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được các giải pháp quản lý phù hợp với thực trạng và yêu cầucủa công tác đào tạo đại học trong thời kỳ hiện nay sẽ mang lại những hiệu quả thiếtthực góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở trường đại học Văn Hiến Thành phố
Hồ Chí Minh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo ởtrường đại học Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 4- Đánh giá thực trạng công tác quản lý đào tạo ở trường đại học Văn HiếnThành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất và thăm dò tính khả thi một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lýđào tạo có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở trường đại học VănHiến trong thời gian tới
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
- Tiếp cận quan điểm hệ thống cấu trúc trong nghiên cứu quản lý đào tạo làxem xét các mối quan hệ biện chứng của các thành tố: mục tiêu, nội dung, chươngtrình, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức đào tạo, mối quan hệ giữa dạy
và học, giảng viên và sinh viên, cùng với các hoạt động quản lý đào tạo của trườngđại học Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh
- Muốn nhận thức đúng sự vật hoặc hiện tượng, phải nắm được lịch sử của sựvật hay là xem xét quá trình phát sinh, phát triển và hiện nay của nó ra sao Nhưvậy, phải tìm hiểu, phát hiện sự nảy sinh, phát triển của quá trình đào tạo và quản lýquá trình đào tạo ở trường đại học Văn Hiến
- Nghiên cứu công tác quản lý đào tạo ở trường đại học Văn Hiến cần phảixuất phát từ thực tiễn để tìm ra những ưu điểm và hạn chế, thuận lợi và khó khăn,những vấn đề nổi cộm, cấp thiết, phát hiện nguyên nhân để giải quyết nhằm cảithiện thực trạng và đề xuất một số giải pháp quản lý đào tạo phù hợp với thực tiễn ởtrường đại học Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng phối hợp các nhóm phươngpháp sau:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê SPSS for Windows xử lý số liệu, tính trị trung bình,
độ lệch chuẩn
Trang 57 Đóng góp của luận văn
- Luận văn sẽ làm sáng tỏ một số khái niệm về đào tạo, khái niệm về quản lý
và quản lý đào tạo, khái niệm về hiệu quả và hiệu quả quản lý đào tạo, khái niệm vềgiải pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo
- Phản ánh được thực trạng công tác quản lý đào tạo tại trường đại học VănHiến Thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo tại trường đạihọc Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian sắp tới
- Giúp cho cán bộ quản lý làm việc khoa học hơn, năng động, sáng tạo trongcông tác, phân công trách nhiệm rõ ràng, ý thức trách nhiệm cao trong công tác
- Công tác chỉ đạo điều hành được nâng lên, cơ chế phối hợp giữa các đơn vịtrong trường đạt hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý đào tạo
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đào tạo tại trường đại học Văn HiếnThành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo tại trường đạihọc Văn Hiến Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6có biến động lớn Cho nên, quản lý đại học ngày nay có xu hướng tăng cườngquyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học.
Quản lý giáo dục bằng pháp luật là một đặc trưng chung của tất cả các nướctrên thế giới Như ở Mỹ, dưới thời tổng thống Mỹ A.Lincoln đạo luật Morrill đã rađời quy định cấp đất công cho các bang để xây dựng các trường đại học khác vớicác quan niệm giáo dục đại học truyền thống của châu Âu có từ thời trung cổ Cáctrường đại học mới theo đạo luật này có các ngành nghề đào tạo phải gắn chặt với
sự phát triển sản xuất, kinh tế, xã hội Ở Hàn Quốc, Luật giáo dục có quan tâm đếnviệc quản lý các hoạt động giáo dục, tổ chức và chỉ đạo công tác kiểm định cáctrường đại học
Thực tế cho thấy các nước có hệ thống giáo dục được xem là tốt nhất trên thếgiới đều là những nước có trình độ phát triển kinh tế - xã hội và chỉ số phát triển conngười cao, đây là những nước đạt trình độ phổ cập giáo dục cao và có hệ thống giáodục đại học phát triển mạnh Do đó, hiện nay các quốc gia luôn coi trọng việc xâydựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao
về nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực và nhu cầu giáo dục của cáctầng lớp trong xã hội
Trang 7Các cơ sở giáo dục đại học thực hiện quốc tế hóa các chương trình đào tạothì tất cả những hình thức liên kết đào tạo và nghiên cứu đều hướng tới các quytrình bảo đảm chất lượng quốc tế.
Một số hoạt động thúc đẩy hội nhập giáo dục đại học của UNESCO như là:
- Hội đồng quốc tế về Giáo dục cho thế kỷ XXI (Hội đồng Jacques Delors)với kết quả tích tụ trong tác phẩm “Học tập - một kho báu tiềm ẩn” (Learning: TheTreasure Within)
- Hội nghị Thế giới về giáo dục đại học thế kỷ XXI, Paris tháng 10/1998
- Các hoạt động thúc đẩy hội nhập giáo dục đại học của Liên minh Châu ÂuTuyên ngôn Bologna (6/1999): của 29 Bộ trưởng giáo dục đại học nhằm thiếtlập “Không gian giáo dục đại học châu Âu” (the European Higher Education Area)vào 2010
- Các biện pháp để tiến đến “Không gian giáo dục đại học châu Âu” tập trunggiải quyết các vấn đề như là:
Hệ thống văn bằng,
Học chế tín chỉ,
Tháo gỡ mọi rào cản cho sinh viên, giáo chức
Hệ thống đảm bảo và kiểm định công nhận chất lượng
Thực chất của quá trình Bologna là: nền giáo dục đại học tương đồng với
Mỹ, mang thương hiệu EU, để tăng khả năng cạnh tranh
- Đồng tuyên ngôn của một số tổ chức giáo dục đại học chủ chốt của phươngTây khẳng định:
+ Các trường đại học cam kết giảm cản trở đối với thương mại quốc tế vềgiáo dục đại học bằng cách sử dụng các công ước và thỏa thuận bên ngoài thể chếchính sách thương mại Cam kết đó bao gồm tăng cường giao tiếp, mở rộng trao đổithông tin, phát triển thỏa thuận về các trường, các chương trình, văn bằng, trình độ,việc xem xét chất lượng
Trang 8+ Các quốc gia không nên cam kết về các dịch vụ giáo dục đại học hoặccác phạm trù tương tự đối với giáo dục người lớn và giáo dục khác trong khuôn khổcủa GATS.
Thông báo của UNESCO về phản ứng của một số nước đối với GATS.
- Ủng hộ GATS:
1) Trao đổi giáo dục đại học gia tăng vì thêm nhiều nhà cung cấp và thểthức cung cấp mới;
2) Tăng số sinh viên được hưởng giáo dục đại học;
3) Tăng lợi ích về kinh tế cho người cung cấp giáo dục đại học và đấtnước
- Phản đối GATS:
1) Đe dọa vai trò và trách nhiệm của Chính phủ về giáo dục đại học;2) Làm đi chệch quan niệm giáo dục đại học là “public good” (lợi íchcông);
3) Đe dọa chất lượng giáo dục đại học;
4) Thương mại và lợi ích kinh tế làm méo mó chính sách giáo dục đạihọc
- UNESCO khẳng định:
Thương mại giáo dục là một thực tế, nhưng giáo dục đại học không thể mua bán như các hàng hóa khác Chính phủ và các trường đại học không thể từ bỏ quan niệm giáo dục đại học là một “public good” và mục tiêu cuối cùng là “globalpublic good” (lợi ích công toàn cầu).
Hệ thống đào tạo theo tín chỉ ngày nay đã trở thành phổ biến như một đơn vị
đo lường quá trình học tập trong giáo dục đại học Hoa Kỳ, nó được dùng để:
Phân bổ kinh phí
Tính toán kết quả của việc học tập
Phân công công việc
Bảo đảm chất lượng
Có hai mốc phát triển chính:
Trang 91) Một chương trình đào tạo bậc đại học được quy định toàn bộ cùng vớinhững môn học bổ sung mà mỗi sinh viên đều có quyền lựa chọn Cần “tính toán”hoạt động giảng dạy trong những giới hạn tiêu chuẩn của một môi trường mà mỗisinh viên có thể bắt tay vào việc học tập qua con đường riêng của mình (Havard,1870).
2) Vì các trường trung học khác nhau khá nhiều (ngày nay cũng vẫn vậy),cần phải có một đơn vị tiêu chuẩn để bảo đảm rằng những em sinh viên bước vàobậc đại học về đại thể có cùng trình độ Do vậy sự mở rộng đồng thời đường vào đạihọc cũng đòi hỏi phải hợp lý hóa các tiêu chuẩn tuyển sinh đại học
Đổi mới triết lý về giáo dục thế kỷ XXI đã được UNESCO nêu ra là:
- Học thường xuyên suốt đời,
- 4 mục tiêu của việc học (học để biết, học để làm, học để chung sống và học cách sống với người khác, học để khẳng định mình),
Năm 1954 đến 1975 ở miền Bắc, các trường đại học đơn lĩnh vực hoặc đơnngành theo mô hình giáo dục của Liên Xô cũ với cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tậptrung Quản lý đào tạo theo niên chế, chương trình đào tạo đại học đầy đủ thường từ
4 đến 6 năm học liền một mạch, ngành đào tạo hẹp, chuyên sâu vào năm cuối
Trang 10Ở miền Nam, một phần giáo dục đại học theo mô hình giáo dục của Pháp(như Viện Đại học Sài Gòn), một phần giáo dục đại học còn lại chịu ảnh hưởng môhình giáo dục của Mỹ (như Viện Đại học Cần Thơ) Quản lý đào tạo theo chứng chỉtích lũy mô-đun; ghi danh học tự do, thi đạt yêu cầu mỗi mô-đun thì cấp một chứngchỉ hoặc đào tạo theo tín chỉ; để đạt được bằng cấp thường phải tích lũy đủ số tínchỉ.
Năm 1975 đến 1986, hệ thống giáo dục đại học cả nước xây dựng theo môhình giáo dục của Liên Xô cũ
Năm 1987, Việt Nam thực hiện đổi mới giáo dục đại học cho phù hợp vớinền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Giáo dục đại học cả nước năm 1986 đến nay, quản lý đào tạo theo niên chếkết hợp với học phần; khối lượng học tập tính theo đơn vị học trình (15 tiết/1 đvht)
Nhìn lại các chủ trương đổi mới GDĐH nước ta từ góc độ “hội nhập”:
Có sự tương đồng của đổi mới giáo dục đại học nước ta từ 1987 với “quá
trình Bologna” từ năm 1999 đến nay:
- Cơ cấu hệ thống giáo dục đại học
- Quy trình đào tạo mô-đun hóa (quy định đơn vị học trình của ta về địnhlượng rất gần với đào tạo theo học chế tín chỉ ở châu Âu)
- Xây dựng hệ thống đảm chất lượng và kiếm định công nhận chất lượng(Các chủ trương đổi mới giáo dục đại học của ta trùng hợp với 4 trong 6 điểm củacác biện pháp Bologna)
Vì sao có sự tương đồng? Phải chăng và cả hai có mục đích gần giống nhau: tạo dựng một nền giáo dục đại học mạnh để chuẩn bị nhân lực thích hợp cho một nền kinh tế thị trường đầy thách thức.
Sự tương đồng đó cho thấy là chúng ta đã “đổi mới” đúng hướng để sớm đạtđược mục tiêu đề ra
Sự tương đồng tạo thuận lợi để giáo dục đại học nước ta “hội nhập” vớikhông gian giáo dục đại học châu Âu và giáo dục đại học thế giới
Trang 11Khác nhau ở chỗ: ở nước ta thực hiện chưa triệt để việc đào tạo theo tín chỉ
là vì nhiều lý do; trong đó là sự hạn chế về cơ sở vật chất, phương tiện đào tạo,người dạy, người học và tài chính
Tiến bộ nhảy vọt của khoa học công nghệ, đặc biệt công nghệ thông tin vàtruyền thông, nhân loại bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức, xu thế toàn cầuhóa
Chiến lược phát triển KT-XH:
- 2010: ra khỏi tình trạng kém phát triển,
- 2020: trở thành nước công nghiệp,
- Công nghiệp hóa - hiện đại hóa, từng bước phát triển kinh tế dựa vào trithức
- Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu
Bên cạnh những thành quả to lớn về kinh tế - xã hội của Việt Nam thời gianvừa qua; tuy nhiên còn nhiều bất cập như: chậm chuyển biến về chất lượng tăngtrưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp
Chủ trương của Việt Nam là “chuyển các hoạt động sự nghiệp công ích sang
cơ chế dịch vụ phù hợp với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”
Cơ hội, thách thức đối với hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam và
sự bức thiết phải đổi mới:
Cơ hội:
- Công nghệ thông tin - truyền thông giúp tiếp cận với các nguồn thông tin vàtri thức khổng lồ;
- Học tập kinh nghiệm phát triển giáo dục đại học thế giới;
- Đảng và dân rất quan tâm đến giáo dục đại học;
- Tiềm năng nguồn lực trong xã hội tăng hơn trước
Thách thức:
- Khoảng cách giữa ta và các nước phát triển tăng;
- Thất thoát chất xám;
- Phai nhạt bản sắc dân tộc
Trang 12- Cản trở công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa và làm chậm đạt mục tiêuchung phát triển đất nước.
- Sự yếu kém của hệ thống giáo dục đại học cùng các cơ hội và thách thứctạo nên sự bức thiết phải đổi mới
Về lý luận quản lý giáo dục và tổ chức quản lý quá trình đào tạo có các tácgiả đã nghiên cứu như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Bùi MinhHiền, Châu Kim Lang Các chuyên đề về nghiệp vụ quản lý đào tạo như: xây dựng
kế hoạch và tổ chức đào tạo của Lê Đức Ngọc, hay quản lý đào tạo trong trường họccủa Bộ Y tế
Ngoài ra, đã có các luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục nghiêncứu về: “Thực trạng và giải pháp quản lý đào tạo tại Đại học mở Bán công thànhphố Hồ Chí Minh”, “Thực trạng quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường đạihọc An ninh Nhân dân, TP.HCM”, “Thực trạng quản lý đào tạo đại học tại chức ởcác cơ sở giáo dục thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu”, “Nâng cao hiệu quả công tácquản lý giáo dục đào tạo của Trường cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật TP Hồ ChíMinh”…
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Đào tạo
“Quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm,những tri thức, những kĩ năng kĩ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồidưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vàocuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước” [7, tr.76]
“ Đào tạo là cơ cấu, quá trình quyết định mang lại cho giáo dục tính tổ chức,
kế hoạch, hướng đích và điều khiển được” [11, tr.43]
“ Quá trình biến cải nhân cách theo mục tiêu đào tạo” [8, tr.98]
Qua các định nghĩa trên, thì đào tạo về cơ bản được xem như một quá trìnhnên tính biện chứng của việc thực hiện đào tạo, điều chỉnh đào tạo và mục tiêu mớiđược đảm bảo trong quá trình thay đổi của môi trường Vì là quá trình, nó có: trạngthái ban đầu gọi là đầu vào, sự diễn biến chủ yếu ở đây là hoạt động đào tạo và
Trang 13trạng thái kết thúc gọi là đầu ra Quá trình đào tạo trong trường đại học là một quátrình xuyên suốt từ việc tuyển sinh (đầu vào) cho đến khi tốt nghiệp (đầu ra) củasinh viên, trong đó bao gồm chủ yếu là quá trình dạy và học của giảng viên và sinhviên.
1.2.2 Quản lý và quản lý đào tạo
1.2.2.1 Quản lý
Quản lý là “Hoạt động hay tác động có định hướng có chủ đích của chủ thểquản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chứcnhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7, tr.326]
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đốitượng quản lý đạt mục tiêu đề ra” [13, tr.l5]
“ Quản lý là sự tác động có kế hoạch của chủ thể đến đối tượng để hoạt độngđạt mục tiêu của tổ chức.” [8, tr.3]
Các định nghĩa quản lý nêu trên, có một số điểm lớn cần quan tâm đó là:
- Chủ thể quản lý: người quản lý, hoặc tổ chức quản lý tác động đến đốitượng quản lý
- Tác động có tổ chức, hướng đích có thể một lần hoặc liên tục nhiều lần
- Mục tiêu xác định hướng tác động của chủ thể quản lý
- Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý (nhiệm vụ làm quản lý, điều khiển) vàđối tượng quản lý (bộ phận chịu sự quản lý)
- Tác động mang tính chủ quan nhưng phù hợp quy luật khách quan
1.2.2.2 Quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lýgiáo dục lên đối tượng đào tạo và khách thể đào tạo nhằm sử dụng có hiệu quả nhấtcác nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đào tạo đã đặt ra trong điềukiện môi trường luôn biến động
“Quá trình đào tạo là quá trình phức tạp vừa tiếp quá trình giáo dục vừa baogồm quá trình dạy học” [8, tr.98], việc quản lý đào tạo phải bảo đảm nội dung đào
Trang 14tạo gồm “ mục tiêu đào tạo, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo”[8, tr 120].
Vì vậy, quá trình đào tạo đại học là quá trình phức tạp vừa tiếp quá trình giáodục ở phổ thông vừa bao gồm quá trình dạy học ở đại học nên việc quản lý đào tạophải quản lý xuyên suốt từ việc tuyển sinh cho đến khi tốt nghiệp của sinh viên.Trong công tác quản lý đó trọng tâm vẫn là việc quản lý hoạt động dạy và hoạt độnghọc gắn bó chặt chẽ với nhau hay nói cách khác là quản lý quá trình dạy học (quátrình giáo dục) ở đại học
1.2.3 Hiệu quả và hiệu quả quản lý đào tạo
1.2.3.1 Hiệu quả
Trong Từ điển Tiếng Việt thuật ngữ “hiệu quả” được hiểu là “kết quả như yêu
cầu của việc làm mang lại” [12, tr.440]
“Hiệu quả đào tạo là mức độ phù hợp giữa phẩm chất và năng lực của học viêntốt nghiệp với yêu cầu công tác được phân công” [8, tr 117]
Như vậy, có thể xem hiệu quả là kết quả mong muốn mà chúng ta chờ đợi vàhướng tới Hiệu quả đào tạo là kết quả mà giáo dục mang lại đáp ứng những yêucầu về chất lượng, số lượng, cơ cấu đào tạo mà xã hội, nền kinh tế và sự phát triểnđất nước đòi hỏi
1.2.3.2 Hiệu quả quản lý đào tạo
“Hiệu quả quản lý đào tạo là kết quả do hoạt động quản lý đào tạo của chủ thểquản lý mang lại, có tác dụng trong toàn bộ quá trình quản lý
Quan niệm trên thể hiện các dấu hiệu đặc trưng cơ bản sau:
- Hiệu quả bao hàm chất lượng hoạt động quản lý
- Hiệu quả có tác động đến quá trình quản lý và đối tượng bị quản lý” [20, tr.256]
Người ta không thể hình dung hoạt động quản lý có hiệu quả mà lại không cóchất lượng Như vậy, hiệu quả bao giờ cũng đi đôi với chất lượng Tuy nhiên, điềungược lại không phải bao giờ cũng đúng: một việc làm có chất lượng nhưng chưachắc đã có hiệu quả, chỉ đơn giản là kết quả đó đã đạt được bằng quá nhiều công
Trang 15sức của chủ thể và đối tượng bị quản lý Mặt khác, hiệu quả quản lý đào tạo khôngthể thoát ly mục tiêu quản lý đào tạo Suy cho cùng, hiệu quả quản lý đào tạo chính
là bậc thang dẫn tới mục tiêu quản lý đào tạo đề ra Hiệu quả quản lý đào tạo phảithể hiện ở tác dụng của nó lên toàn bộ quá trình quản lý đào tạo, tức là thể hiện ởviệc thực hiện các chức năng quản lý đào tạo
1.2.4 Giải pháp và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo
1.2.4.1 Giải pháp
Theo Từ điển Tiếng Việt, giải pháp là: “phương pháp giải quyết một vấn đề cụthể nào đó” [12, tr.602] Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác độngnhằm thay đổi chuyển biến một quá trình, một trạng thái hoặc hệ thống…nhằm đạtđược mục đích Giải pháp là tìm ra phương pháp giải quyết tốt nhất một vấn đề nào
đó Giải pháp thích hợp sẽ giúp cho vấn đề được giải quyết nhanh hơn, mang lạihiệu quả cao hơn
1.2.4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo là cách thức, là phương pháp tốtnhất để đạt được mục tiêu quản lý đào tạo đề ra
1.3 Lý luận quản lý đào tạo
1.3.1 Quản lý mục tiêu đào tạo
Quá trình giáo dục có nhiều cấp độ khác nhau từ hệ thống giáo dục bậc đạihọc của đất nước, nhà trường, cho đến một ngành học, môn học, và bài học cho nênmục tiêu giáo dục cũng có nhiều cấp độ tương ứng với cấp độ trên Vì thế, quản lýmục tiêu đào tạo đại học, cần quản lý ba cấp độ mục tiêu chính của giáo dục đại họcnhư sau:
Tôn chỉ: là cấp độ cao nhất, rộng nhất của mục tiêu giáo dục, đường lối chỉđạo chung cho một trường đại học nói đến những giá trị và những năng lực màngười học đại học cần tích lũy Như luật giáo dục năm 2005 về giáo dục đại học cónêu “Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạođức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp
Trang 16tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” [17, tr.107]
Mục đích: là cấp độ kế tôn chỉ gọi là tuyến bố sứ mệnh hoặc các mục tiêutrung gian của trường đại học, mục đích giáo dục này được rút ra từ tôn chỉ ở trên,đồng thời phản ánh điều kiện xã hội, những ưu thế, và những nhu cầu của nhàtrường Cụ thể như, nội dung kế hoạch chiến lược phát triển trường đại học VănHiến TP HCM giai đoạn 2010 - 2015 tuyên bố sứ mệnh trường là: “Là một trườngđại học ngoài công lập với thế mạnh về các ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội
và nhân văn, trường đại học Văn Hiến TP HCM có sứ mạng góp phần thực hiệnchủ trương xã hội hóa giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và năng lực tácnghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thích ứng với xuthế hội nhập quốc tế
Với phương châm hoạt động: Con người là vốn quý – Tri thức tạo sự khác biệt, trường đại học Văn Hiến TP HCM tạo cơ hội cho bất cứ ai muốn:
Mở rộng và nâng cao hiểu biết
có được hiểu biết, năng lực, và phẩm chất tương xứng với trình độ đào tạo, đủnhanh chóng thích nghi với những ngành nghề nhất định
Trang 17Cho nên, cán bộ quản lý, giảng viên, và người học cần hiểu rõ, ý thức đầy đủ
về mục tiêu đào tạo, để mỗi người thực hiện hoạt động giáo dục tích cực, tự giác, nỗlực nhằm đạt được kết quả đào tạo cao
Vì vậy, quản lý đầu vào, quá trình và đầu ra đào tạo nên xác định mục tiêuđào tạo là tiêu chuẩn để xem xét việc tuyển chọn và đánh giá kết quả giáo dục, xemsản phẩm này đạt được chuẩn ở mức độ nào Quá trình kiểm tra, đánh giá cần phảicăn cứ vào mục tiêu đào tạo đã được xác định
Công tác lãnh đạo trường đại học, phải xác định rõ mục tiêu đào tạo nhằmđịnh hướng cho vận động và phát triển các thành tố khác của quá trình đào tạo, nótrở thành phương hướng chỉ đạo cho toàn bộ quá trình tổ chức và thực hiện hoạtđộng đào tạo, giúp cho quá trình đào tạo vận hành có chất lượng và hiệu quả, đảmbảo không đi chệch hướng do có điều chỉnh theo mục tiêu đào tạo đã được vạch ra
1.3.2 Quản lý chương trình đào tạo
Tùy thuộc vào cách lý giải người ta có các cách hiểu khác nhau về chươngtrình đào tạo như: một tập hợp các môn học, một khóa học, cái được dạy bên trong
và ngoài trường học nhưng được định hướng bởi nhà trường , việc hiểu khác nhaunày dẫn đến việc xác nhận nhiệm vụ công tác quản lý đào tạo nhà trường sẽ gánhhoặc là đơn giản, hoặc là nặng nhọc lên Nhìn chung, hiện nay có ba cách tiếp cậnphổ biến về một chương trình đào tạo như sau:
Tiếp cận nội dung: trên quan điểm giáo dục là quá trình truyền thụ nội dungkiến thức thì chương trình đào tạo là bản phác thảo về nội dung đào tạo Nên việcquản lý đào tạo chủ yếu quản lý việc dạy và học có đảm bảo đầy đủ nội dung đã đề
ra hay không
Tiếp cận mục tiêu: cho rằng giáo dục là công cụ để đào tạo nên các sản phẩm
và các tiêu chuẩn đã được xác định sẵn, do đó chương trình đào tạo là một kế hoạchđào tạo phản ánh các mục tiêu mà nhà trường đeo đuổi Dẫn đến, trong quản lý đàotạo chủ yếu là quản lý và điều chỉnh nhân cách người học theo mô hình người mẫu
dự kiến trước của các mục tiêu nhà trường đã xác định Với cách tiếp cận này, mụctiêu có thể chuẩn hóa qui trình xây dựng chương trình đào tạo cũng như qui trình
Trang 18đào tạo theo một công nghệ nhất định Chính vì thế, người ta mới xem công nghệgiáo dục và chương trình đào tạo theo kiểu này gọi là chương trình đào tạo kiểucông nghệ.
Tiếp cận phát triển: từ nhận định chương đào tạo là quá trình, còn giáo dục là
sự phát triển Quản lý đào tạo là quản lý hoạt động sinh viên học cách học để có thểphát triển tối đa các tố chất có sẵn đáp ứng mục đích đào tạo Cách tiếp cận này chútrọng đến lợi ích, nhu cầu của từng cá nhân người học, xem cá nhân người học nhưmột thực thể chủ động, độc lập suy nghĩ nên quá trình đào tạo giúp người học pháttriển được tính tự chủ, khả năng sáng tạo giải quyết vấn đề, để từ đó nhận thức thếgiới một cách sáng tạo và có khả năng tự bổ khuyết tri thức của mình Như vậy,cách tiếp cận phát triển gắn với quan niệm người học là trung tâm và việc xây dựngchương trình đào tạo theo mô-đun cho phép người học với sự giúp đỡ của ngườidạy có thể tự mình xác định lấy chương trình đào tạo cho riêng mình
Thực tế, việc xây dựng chương trình ở Việt Nam, theo Điều 41 của luật giáodục năm 2005 về chương trình thì “Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chương trìnhkhung cho từng ngành đào tạo đối với trình độ cao đẳng, trình độ đại học bao gồm
cơ cấu nội dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữacác môn học, giữa lý thuyết với thực hành, thực tập Căn cứ vào chương trìnhkhung, trường cao đẳng, trường đại học xác định chương trình giáo dục của trườngmình” [17, tr.110] Như vậy, chương trình khung trên gồm khung chương trình vàphần nội dung cứng, nên các bộ phận phụ trách xây dựng chương trình ở từngtrường đại học sẽ bổ sung thêm nội dung mềm, cấu trúc sắp xếp lại các môn họcmột cách hợp lý để hình thành chương trình đào tạo cụ thể của trường
Sau khi thiết kế xong chương trình đào tạo, các trường gởi trình Bộ Giáo dục
và Đào tạo, phải được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt chính thức, thì khâu kếtiếp là thực thi chương trình đào tạo mới được tiến hành ở trường đại học đã xâydựng chương trình đó Trong khi chương trình được vận hành, người thực hiệnchương trình thường chính là các giảng viên đã xây dựng, hoặc một số rất ít là thỉnhgiảng ngoài trường, đồng thời có các bộ phận giám sát như bộ môn, khoa, phòng
Trang 19đào tạo, phòng thanh tra theo dõi việc thực hiện chương trình đào tạo Nội dung vàphạm vi kiến thức quy định trong chương trình phải đảm bảo trên cơ sở cấu tạochương trình, không được giảm nhẹ, và cũng không được nhồi nhét quá tải Đảmbảo đúng và đủ theo phân phối chương trình về mặt số tiết, về thời gian, và trình tự.Phương pháp thực hiện đúng đặc trưng từng môn, từng loại bài học.
Khâu kế tiếp thực thi chương trình ở trường đại học là khâu đánh giá chươngtrình đào tạo Việc đánh giá chương trình đào tạo ở đại học không phải chỉ chờ đếngiai đoạn kết thúc thực hiện chương trình, mà người dạy, người xây dựng và quản lýchương trình đào tạo phải luôn tự đánh giá chương trình qua mỗi buổi, mỗi năm,mỗi khóa để rồi vào năm học mới, kết hợp với tình hình mới thiết kế lại hoặc hoànchỉnh hơn chương trình đào tạo
1.3.3 Quản lý đổi mới phương pháp dạy học
Theo nghĩa chung nhất của phương pháp dạy học là cách thức, con đường đểđạt tới một mục tiêu dạy học, theo nghĩa này ta cũng có thế hiểu phương pháp dạyhọc là cách thức hoặc hệ thống kế hoạch được áp dụng để đạt mục tiêu của quá trìnhgiáo dục Hay đơn giản hơn, phương pháp dạy học còn là phương thức làm việc củagiảng viên và sinh viên Nên việc dựa trên cách tiếp cận của giảng viên với sinhviên có các phương pháp chủ yếu như: tiếp cận trực tiếp, tiếp cận gián tiếp, tiếp cậndạy học độc lập
Như vậy, việc quản lý phương pháp chính là quản lý hình thức của nội dung,hay hình thức của chương trình dạy học, về thực tế, các trường đại học xem vấn đềphương pháp dạy học là mỗi giảng viên tự lo lấy, phương pháp dạy học là theo kinhnghiệm, ngoại trừ giảng viên trước đây được đào tạo theo hệ sư phạm Các văn bảnqui định về phương pháp dạy học do các cơ quan quản lý giáo dục ban hành thườngchỉ có giá trị hướng dẫn, tham khảo, người dạy toàn quyền chọn lựa và quyết địnhphương pháp dạy học Bên cạnh đó, việc soạn đề cương cho bài giảng chưa thật sựđược coi trọng ở đại học, trước đây đã được học như thế nào thì nay lại dạy theonhững cách như vậy và tùy theo từng giảng viên, từng hoàn cảnh mà những giảng
Trang 20viên này có những cải tiến nhất định Cho nên ở đây, các trường đại học xem nặngviệc bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học là một nhiệm vụ rất quan trọng cần phải làm.
Vì phương pháp dạy đòi hỏi một phương pháp học tương ứng, đối với đốitượng là sinh viên đã có một trình độ học thức nhất định thì quản lý của nhà trườngđịnh hướng cho được việc tổ chức phương pháp dạy và học của giảng viên cho sinhviên phù hợp nhất, đồng thời nắm bắt tình hình chọn lựa phương pháp dạy học tránhtùy tiện Theo dõi phương pháp dạy học có gắn liền được với: ngành nghề đào tạo;thực tiễn xã hội, sản xuất, thực nghiệm khoa học; tiếp cận với phương pháp khoahọc; kích thích tính tích cực, sáng tạo của sinh viên; sử dụng đa dạng các phươngpháp; và gắn liền với cơ sở vật chất, thiết bị dạy học hiện có của trường
Tổ chức dạy học là tổ chức tạo thành một hệ thống, một đơn vị hay côngtrình có chức năng thực hiện mục tiêu giáo dục Hay là sự biểu hiện bên ngoài củahoạt động phối hợp chặt chẽ giữa giảng viên và sinh viên nhằm thực hiện tốt mụctiêu dạy học Mỗi loại hình tổ chức dạy học đều chứa đựng ý nghĩa những phươngpháp thích hợp, ta có các loại hình tổ chức dạy học chủ yếu nhất là: dạy học theolớp học, dạy học cá thể hóa, dạy học hợp tác, dạy học theo trình độ, phát triển khảnăng và kỹ năng tư duy, dạy học vi tính hóa, và dạy học lấy người học làm trungtâm
Tổ chức dạy học hợp lý ảnh hưởng lớn đến chất lượng hoạt động đào tạo,hoàn thành được mọi nhiệm vụ và đạt mục tiêu đào tạo đề ra Cho nên việc tổ chứcdạy học phải xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu đào tạo, tình hình đội ngũ cán bộ,giảng viên và các điều kiện hoạt động của nhà trường
Nhìn chung phương pháp cùng với các thành tố dạy học khác và tổ chức dạyhọc tồn tại song song và quan hệ mật thiết với nhau Quan trọng là nhận thức củacán bộ quản lý, giảng viên ở trường đại học về mối quan hệ nói trên và nhữngnguyên nhân làm thúc đẩy sự thay đổi phương pháp và hình thức tổ chức dạy họcnhư: sự ảnh hưởng của cách mạng khoa học - công nghệ; sự bùng nổ thông tin; ứngdụng công nghệ thông tin; những thay đổi to lớn trong đời sống xã hội; số lượngsinh viên các trường đại học tăng lên rất nhanh; về trình độ và thành phần xã hội
Trang 21của người học càng đa dạng; những yêu cầu cải cách đào tạo đại học theo hướngmềm dẻo và yêu cầu cao về chủ động tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.
1.3.4 Quản lý đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên
Quản lý đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên trường đại học chính là quản
lý nguồn nhân lực của một tổ chức Nhưng nguồn nhân lực này chỉ là một bộ phậncủa lực lượng lao động gồm những người trong độ tuổi quy định thực tế đang cóviệc làm tại trường, không quản lý những người không có việc làm dù là đang tíchcực tìm việc hay không tìm việc, vì thực tế họ chưa là thành viên của trường
Cho nên quản lý nguồn nhân lực của trường đại học là tập trung tìm mọi cáchtạo thuận lợi cho đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên trong trường hoàn thành tốtcác mục tiêu chiến lược và các kế hoạch của nhà trường, tăng cường cống hiến củamọi người theo hướng phù hợp phát triến chiến lược của nhà trường và xã hội
Vì vậy, việc quản lý nguồn nhân lực trên như của trường đại học phải xâydựng đội ngũ giảng viên của trường có đủ phẩm chất, năng lực, đồng bộ về cơ cấu,
có đủ loại hình để đảm bảo giảng dạy đạt chất lượng Đồng thời xây dựng đội ngũcán bộ, nhân viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thích hợp, phục vụ tích cựccho nhiệm vụ giáo dục - đào tạo của trường
1.3.5 Quản lý tuyển sinh
Quy định tổ chức tuyển sinh đầu vào khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia.Chủ yếu dựa trên qui định về giáo dục mà mỗi nước, hoặc từng trường đại học củanước đó đề ra các chính sách tuyển sinh
Tuyển sinh ở Hoa Kỳ không có kỳ thi chung, tổ chức tuyển sinh với hìnhthức mở thì chỉ cần nhận đơn của người học đã tốt nghiệp phổ thông là được nhậphọc; Còn những trường tổ chức tuyển sinh mang tính cạnh tranh cao, người học cóbằng trung học phổ thông không phải là điều kiện đủ vào học đại học mà phải quamột kỳ thi tuyển sinh đầu vào Còn ở châu Phi học sinh tốt nghiệp phổ thông phảiqua kỳ thi mới được vào đại học Giáo dục đại học ở Ai Cập thi tuyển sinh do hộiđồng của khoa ở các trường đại học quyết định, riêng Nigiêria những người tốtnghiệp phổ thông trung học đăng ký dự thi các kỳ thi tuyển sinh đặc biệt Tuyển
Trang 22sinh ở châu Âu, một số nước như Pháp, Vương quốc Anh, người học có bằng tốtnghiệp phổ thông muốn theo học đại học phải qua kỳ thi tuyển sinh.
Ở châu Á như Nhật Bản học sinh tốt nghiệp phổ thông muốn vào học đại họcphải qua kỳ thi tuyển sinh đặc biệt ở mỗi trường, thậm chí phải tham dự trước và đạt
kỳ thi chung cấp quốc gia Riêng ở Việt Nam, quản lý tuyển sinh qua kỳ thi chungcấp quốc gia, và các trường đại học căn cứ số lượng người dự thi, điểm sàn, yêu cầungành học để tuyển chọn theo chỉ tiêu đã công bố Vì vậy, việc quản lý tuyển sinh ởViệt Nam chủ yếu tập trung vào những công tác như: tính toán chỉ tiêu từng ngànhđào tạo cần tuyển, quảng bá tuyển sinh, tổ chức thi và xử lý kết quả
1.3.6 Hoạch định trong quản lý đào tạo
Hoạch định trong quản lý đào tạo là chức năng đầu tiên của quá trình quản
lý Nó có vai trò quan trọng là xác định phương hướng hoạt động đào tạo và pháttriển của nhà trường, xác định các kết quả đào tạo cần đạt được trong tương lai.Hoạch định trong quản lý đào tạo là một quá trình gồm các bước: dự báo đào tạo,xác định mục tiêu quản lý đào tạo, xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu đào tạo
Dự báo đào tạo: trên cơ sở nắm vững đường lối phát triển kinh tế xã hội
-giáo dục của Đảng, Nhà nước và địa phương, đồng thời hiểu biết thị trường laođộng và nhu cầu đào tạo, đặc biệt là phân tích kỹ điểm mạnh và điểm yếu củatrường về đào tạo để quyết định hướng hoạt động và phát triển đào tạo của trường
Xác định mục tiêu quản lý đào tạo thường quan tâm đến các vấn đề sau:
- Phát triển số lượng sinh viên;
- Nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học,
- Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên đồng bộ, từng bước phát triển trình độchuyên môn, nghiệp vụ;
- Xây dựng, sử dụng, bảo quản cơ sở vật chất phục vụ đào tạo;
- Phát triển mối quan hệ nhà trường với xã hội để công tác đào tạo ngày càngtốt;
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và quản lý đào tạo
Trang 23Lập kế hoạch: cần tiến hành các công việc như xác định các hoạt động đào
tạo, các nguồn lực (nhân lực - vật lực - tài lực) và các điều kiện, quỹ thời gian đểthực hiện mục tiêu đào tạo, thấy được những khó khăn và hạn chế, đoán trướcnhững nguyên nhân có thể dẫn đến thất bại khi thực hiện kế hoạch
1.3.7 Tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo
Các quyết định, các kế hoạch cần phải được thực hiện để biến nó thành hiệnthực, như Lê-nin đã chỉ ra rằng “Sau khi đã vạch ra được chính sách đúng, đườnglối đúng rồi, thì sự thành công tùy thuộc trước hết vào việc tổ chức”
Cho nên, tổ chức thực hiện trước hết và chủ yếu là xây dựng cho được cơ cấu
tổ chức, tức là: xác định các bộ phận cần có hay liên quan; thiết lập mối quan hệngang và dọc của các bộ phận này; phân chia chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn củatừng bộ phận trên đảm bảo tương tác với nhau hoàn thành thực hiện kế hoạch đàotạo
Mặt khác, tổ chức thực hiện kế hoạch phải xác định cơ chế quản lý nhằm bảođảm hoạt động có hiệu quả, như: chính sách là những điều khoản hay những quiđịnh của nhà nước định hướng suy nghĩ và hành động của người quản lý; thủ tụcchính là các hướng dẫn về hành động, vạch ra những chi tiết, theo thứ tự thời gian,các biện pháp chính xác để tiến hành hoạt động; phương hướng hoạt động; các quan
hệ quản lý; các nguyên tắc quản lý; xây dựng qui chế hoạt động ; và các quyết địnhquan trọng được ghi thành văn bản phổ biến rộng rãi và kịp thời thực hiện kế hoạch
Khi tổ chức thực hiện kế hoạch đào tạo thì cần có bộ phận, hay chuyên viêntheo dõi riêng, thường xuyên đôn đốc và báo cáo lãnh đạo về tình hình triển khai kếhoạch khóa học, năm học, học kỳ Định kỳ kiểm tra tiến độ thực hiện các kế hoạchtrên, nếu phát hiện sai sót, chậm tiến độ phải có giải pháp, phương án điều chỉnh, bổsung phù hợp
1.3.8 Chức năng điều khiển
Điều khiển trong quản lý đào tạo là công việc của người chỉ huy, điều hànhgóp phần quan trọng biến mục tiêu dự kiến thành kết quả, thực hiện kế hoạch đàotạo với hiệu quả cao Muốn vậy phải chỉ đạo để huy động và phân bổ các nguồn lực
Trang 24vào việc thực hiện kế hoạch, đồng thời điều hành mọi việc nhằm bảo đảm vận hànhthuận lợi và tối ưu.
Vì vậy, điều khiển quản lý hoạt động đào tạo cần chỉ huy, điều hành mộtcách khoa học lao động của cả tập thể, cũng như của từng người; động viên kíchthích kịp thời và thường xuyên; giám sát làm rõ các vấn đề cần quan tâm (đánh giácông việc tới đâu?, có trục trặc gì?, cần can thiệp gì? ); và điều chỉnh cho phù hợphơn
1.3.9 Chức năng kiểm tra
Kiểm tra diễn ra ở tất cả các giai đoạn của hoạt động đào tạo Kiểm tra có cácmục tiêu cơ bản là phát hiện, điều chỉnh, bổ sung và đánh giá hoạt động đào tạo.Kiểm tra khách quan, đánh giá chính xác là yêu cầu có tính thời sự của việc quản lýđào tạo
Chức năng kiểm tra liên quan mật thiết với các chức năng khác của công tácquản lý, do vậy việc quản lý đào tạo nên thực hiện tốt những nhiệm vụ chính như:đánh giá trạng thái kết thúc hoạt động đào tạo của nhà trường, phát hiện những lệchlạc sai sót trong kế hoạch, và điều chỉnh kế hoạch
1.3.10 Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo
Thực tế quá trình đào tạo đã chứng minh rằng cơ sở vật chất, thiết bị dạy họcngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp người học và người dạy thuận lợitrong quá trình đào tạo, đồng thời giảm nhẹ sức lao động của người dạy, tăng chấtlượng công tác quản lý đào tạo, là điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình đào tạo,thiếu điều kiện này thì quá trình đào tạo không diễn ra hoặc diễn ra không toàn vẹn
Trường đại học phải coi cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ đào tạo là điều kiệnkhông thể thiếu đảm bảo công tác đào tạo Từ đó, xem công tác quản lý cơ sở vậtchất, thiết bị không kém phần quan trọng, thường xuyên chỉ đạo các bộ phận nắmvững tình hình, tình trạng, cũng như xây dựng nội quy bảo quản và sử dụng từngloại cơ sở vật chất và thiết bị
Bên cạnh đó, vấn đề biết rõ xu hướng phát triển cơ sở vật chất, thiết bị phục
vụ đào tạo là chiến lược cho nhà trường trong tương lai Như phương tiện nhỏ
Trang 25nhưng tính năng cao, tạo điều kiện tương tác với con người, hay đào tạo vượt rangoài biên giới quốc gia, cũng như xây dựng phòng học theo: nhu cầu đăng kýngười học, đặc thù của môn học, và thiết bị dạy học
1.3.11 Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo
Đánh giá trong giáo dục là sự xác định và phán xét những giá trị mà ngườihọc đã đạt được theo các mục tiêu của quá trình giáo dục Vì vậy, quản lý kiếm trađánh giá kết quả đào tạo phải thực hiện hai vấn đề sau:
Thứ nhất: cần quan tâm các tiêu chuẩn cho một quá trình đánh giá như:
- Nhất quán với mục tiêu: phán xét những giá trị của quá trình giáo dục đượcqui định trong mục tiêu của nó
- Toàn diện: đánh giá đầy đủ các giá trị về mọi mặt mà mục tiêu của quátrình dạy học đã thể hiện
- Chuẩn đoán đầy đủ giá trị: giá trị đạt được của người học phải được chuẩnđoán cả trong quá trình thực hiện lẫn trong sản phẩm cuối cùng
- Bảo đảm tính hiệu lực: đánh giá được đúng những gì cần đánh giá
- Thống nhất trong phát xét giá trị: các bằng chứng về giá trị phải được thốngnhất trong một phán xét chung
- Có tính liên tục: xác định những gì đã đạt được trong thời gian qua, đồngthời tiên đoán những gì sẽ đạt trong thời gian tới
Thứ hai: quản lý kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo phải quản lý kế hoạchkiểm tra đánh giá của người dạy; có kế hoạch kiểm tra giữa kỳ, cuối học kỳ và hếtnăm học; yêu cầu chấm, trả bài đúng thời hạn, có sửa chữa hướng dẫn cho sinhviên; phân công bộ phận quản lý tổng hợp tình hình kiểm tra đánh giá kết quả theođịnh kỳ
1.3.12 Một số vấn đề về nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo
Nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượngđào tạo là chủ trương của Đảng, Nhà nước, ngành và được các trường triển khaithường xuyên với sự đánh giá, điều chỉnh kịp thời Vấn đề này được quan niệm theo
Trang 26nhiều chiều, bao hàm tất cả các chức năng và nhiều yếu tố Sự đánh giá là cần thiết,công khai để điều chỉnh, để rút kinh nghiệm, cải tiến và được xác định những chấtlượng được thừa nhận trên bình diện thực tế Đánh giá phải chú trọng tính đa dạng,tính đồng bộ và đảm bảo không tách khỏi tính phù hợp đáp ứng nhu cầu xã hội Đểnâng cao hiệu quả quản lý đào tạo phải xác định các yếu tố phụ thuộc như:
Chất lượng của sự quản lý cơ sở: Sự quản lý được coi như một chính thểphối hợp và tương tác giữa các đơn vị, cá nhân trực thuộc theo một quy chế nhấtđịnh nhưng đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý
Chất lượng của chương trình đào tạo: Chương trình đào tạo là cơ sởpháp lý được coi như một trong những cẩm nang kiến thức trang bị cho sinh viên.Nên cần chú trọng xác định rõ mục tiêu, yêu cầu đào tạo phải gắn liền với nhu cầuđáp ứng của xã hội
Chất lượng về cơ sở vật chất: Cơ sở vật chất được coi là phương tiệnhữu hiệu để đáp ứng thực hiện nhiệm vụ đào tạo Nếu phương tiện đầy đủ, hiện đại
sẽ tác dụng thúc đẩy sự tư duy, sáng tạo trong nghiệp vụ giảng dạy, nghiên cứukhoa học Cơ sở vật chất là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả quản lý đào tạo Nếu không có cơ sở vật chất đủ mạnh, sẽ không có thểnói đến nâng cao chất lượng đào tạo và kỳ vọng ở nó
Quan tâm đến đội ngũ cán bộ giảng dạy: Câu ngạn ngữ từ lâu của dântộc ta “không thầy đố mày làm nên” có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập vị tríxứng đáng của người thầy trong sự nghiệp giáo dục, đây là yếu tố quan trọng trongviệc nâng cao chất lượng đào tạo Người thầy là chủ thể của hoạt động giảng dạy,giữ vai trò chủ đạo trong quá trình dạy học Trong nhà trường, công tác giảng dạyluôn là vấn đề sống còn của cả một tập thể sư phạm, là mũi nhọn luôn phải đi trước,
đi đầu Vì vậy, vai trò quan trọng của thầy cô giáo đang là những người “truyềnlửa” trên bục giảng Người đời vẫn nói “thầy nào trò ấy”, điều đó quả không sai vìsinh viên là những “hình chiếu” trung thành nhất của những thầy cô hội tụ đủ haiyếu tố trí và đức để tạo ra sản phẩm là nguồn nhân lực đáp ứng với phục vụ cho xãhội
Trang 27 Chất lượng - nhân tố sinh viên: Sinh viên được coi là nhân tố của giáo
dục Sinh viên vừa là khách thể của hoạt động dạy, vừa là chủ thể hoạt động tíchcực độc lập sáng tạo Nhưng cũng phải xác định được “Người học không phải là cốcrót đầy mà là ngọn nến để châm lửa” Những tri thức trong tương lai với vận mệnhcủa đất nước
Chất lượng nghiên cứu khoa học: Công tác nghiên cứu khoa học được
coi là nhiệm vụ song hành với công tác giảng dạy Nhiệm vụ nghiên cứu khoa họcđược đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, được đánh giá kiểm định và ứng dụngtrong thực tiễn
Đổi mới phương pháp giảng dạy: Phương pháp giảng dạy được coi vừa
là sản phẩm vừa là kết quả của quá trình đứng trên bục giảng của mỗi một ngườithầy, là kết quả của công sức, tài năng và trí tuệ của chính họ, quyết định rất lớn đếnchất lượng đào tạo và do vậy đây cũng là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng đào tạo của nhà trường “Một người thầy giỏi là người càng lúc càng khôngcần thiết đối với học trò” (Thomas Carruters), chúng ta cảm nhận được phươngpháp giảng dạy có ý nghĩa to lớn đến như thế nào Cũng giống như những sản phẩmtrong nền kinh tế thị trường, “sản phẩm” được đào tạo phải là những sản phẩm mà
xã hội đang có nhu cầu, từ đó kéo theo một yêu cầu khác của phương pháp giảng
dạy là hãy truyền đạt những kiến thức gì mà xã hội đang cần, chứ không phải truyền đạt những kiến thức mà người thầy đang có.
Cách đặt vấn đề như trên, chính là xuất phát từ việc coi sinh viên là ngườithụ hưởng kết quả đào tạo, là chủ thể của quá trình đào tạo Từ suy nghĩ ấy nhàtrường khích lệ giảng viên giảng dạy theo phương pháp tích cực, kích thích tư duyđộc lập và sáng tạo trong học và nghiên cứu khoa học, khuyến khích thầy, cô giáođánh giá kết quả học tập cua sinh viên thông qua thảo luận và trân trọng ý kiến cánhân
Về liên kết đào tạo: Trong bối cảnh của sự hội nhập ngày càng sâu sắc và
toàn diện của nước ta với các nước trên thế giới và khu vực, việc đào tạo nguồnnhân lực không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn tham gia vào việc phân
Trang 28công lao động và hợp tác quốc tế, … Từ đó cần thiết phải tổ chức một sự liên kếtngày càng chặt chẽ và toàn diện với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặcbiệt là ở các nước có nền công nghiệp phát triển Sự liên kết ấy không chỉ là trườngvới trường, viện với viện mà là sự liên kết đan xen giữa trường với viện, từ đó nhàtrường có thể mở rộng, không chỉ là tầm nhìn mà còn tạo ra các kênh thông tinthông thoáng để thu nhận những kiến thức mới Song song đó, cần coi trọng việcxác lập mối quan hệ liên kết với các cơ sở đào tạo ở trong nước, bởi lẽ ở từng cơ sởđào tạo thế mạnh về các yếu tố, cơ bản của việc nâng cao chất lượng đào tạo làkhông giống nhau và từ đó đòi hỏi phải có sự liên kết với nhau nhằm bổ sung vàhạn chế những khiếm khuyết hiện có và tạo cho sự phát triển bền vững trong tươnglai, bao gồm việc sử dụng năng lực đào tạo, cơ sở vật chất của đào tạo, …
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 chúng tôi đã tìm hiểu quản lý giáo dục đại học ở Việt Namqua các thời kỳ và của các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới So sánh sựtương đồng và khác biệt của phương thức quản lý đào tạo đại học giữa Việt Nam vàthế giới
Nghiên cứu những quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng vàNhà nước về đổi mới giáo dục đại học trong giai đoạn thực hiện chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế
Làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề đào tạo và quản lý đào tạonhư: đào tạo, quản lý, quản lý đào tạo, giải pháp, …
Đặc biệt, trong chương này chúng tôi đã nêu lên những vấn đề liên quan đếncông tác đào tạo và những vấn đề thuộc về lý luận cơ bản của lý luận quản lý đàotạo như: quản lý mục tiêu đào tạo; quản lý chương trình đào tạo; quản lý đổi mớiphương pháp dạy học; quản lý đội ngũ cán bộ, giảng viên; quản lý cơ sở vật chất;
…
Trên cơ sở lý luận trên, để nghiên cứu thực trạng đào tạo và quản lý đào tạocủa trường đại học Văn Hiến TP HCM, chúng ta tìm hiểu, nghiên cứu qua chương2
Trang 29CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Khái quát về kinh tế, xã hội, giáo dục - đào tạo ở Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Kinh tế
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất nước bao gồm 19 quận và 5huyện, tổng diện tích 2.095,01 km2, dân số thành phố là 7.162.864 người (Theo kếtquả Điều tra dân số toàn quốc ngày 01/04/2009), chiếm 8,34% dân số Việt Nam;phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông bắcgiáp tỉnh Đồng Nai, Đông nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây và Tây nam giáptỉnh Long An và Tiền Giang Nằm ở miền Nam Việt Nam, TP HCM cách Hà Nội1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đườngchim bay
TP HCM có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng giúp TP HCMtrong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biểnÐông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nôngnghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành
Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, TP HCM có nhiệt độ caođều trong năm và phân thành hai mùa mưa – khô rõ rệt
Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền
Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ và với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á,
TP HCM là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy vàđường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế
TP HCM giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam, là vùng kinh tế trọngđiểm phía Nam, là trung tâm kinh tế của cả nước với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.Đây là nơi hoạt động kinh tế năng động, luôn dẫn đầu trong cả nước về tốc độ tăngtrưởng kinh tế Thành phố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Namnhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và34,9% dự án nước ngoài Vào năm 2005, TP HCM có 4.344.000 lao động, trong đó
Trang 30139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc Năm
2010, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.800 USD/năm, cao hơnnhiều so với trung bình cả nước, 1.168 USD/năm Tổng GDP cả năm 2010 đạt418.053 tỷ đồng (tính theo giá thực tế khoảng 20,902 tỷ USD), tốc độ tăng trưởngđạt 11.8% Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao đã tạo ra mức đóng gópGDP lớn cho cả nước, tỉ trọng GDP của thành phố chiếm 1/3 GDP của cả nước
Nền kinh tế của TP HCM đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản,
nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tếcủa thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%,phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụchiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%
TP HCM cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nướcngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007 Riêng trongnăm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD Trong bảng xếphạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, TP HCM xếp
ở vị trí thứ 20/63 tỉnh thành TP HCM là nơi thu hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh
so với cả nước Kể từ khi Luật đầu tư được ban hành, số dự án đầu tư vào TP HCMchiếm 1/3 tồng số dự án đầu tư nước ngoài trên cả nước Thành phố luôn chiếm tỉtrọng cao nhất trong tổng thu ngân sách của Nhà nước Mặc dù gặp nhiều khó khăn,song mức thu ngân sách của Thành phố vẫn không ngừng tăng
Về thương mại, TP HCM có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ
đa dạng Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thànhphố, hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng Những thập niên gần đây, nhiều trungtâm thương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza Mứctiêu thụ của TP HCM cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam vàgấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội
Tuy vậy, nền kinh tế của TP HCM vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn dokhủng hoảng lạm phát diễn ra trên toàn thế giới Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc
Trang 31hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xã hội, hành chính phức tạp cũng gâykhó khăn cho nền kinh tế Ngành công nghiệp thành phố hiện đang hướng tới cáclĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn.
2.1.2 Xã hội
Là đô thị lớn nhất nước, TP HCM là nơi tập trung dân cư sinh sống đôngnhất cả nước Dân số thành phố là 7.162.864 người (Theo kết quả Điều tra dân sốtoàn quốc ngày 01/04/2009), chiếm 8,34% dân số Việt Nam, với khoảng 4,7 triệungười trong độ tuổi lao động Dân số TP HCM gồm 1.824.822 hộ dân trong đó:1.509.930 hộ tại thành thị và 314.892 hộ tại nông thôn, bình quân 3,93 người/hộ.Phân theo giới tính: Nam có 3.435.734 người chiếm 47,97%, nữ có 3.727.130 ngườichiếm 52,03% Những năm gần đây dân số thành phố tăng nhanh; trong 10 năm từ1999-2009 dân số thành phố tăng thêm 2.125.709 người, bình quân tăng hơn212.000 người/năm, tốc độ tăng 3,54%/năm, chiếm 22,32% số dân tăng thêm của cảnước trong vòng 10 năm Không chỉ là thành phố đông dân nhất Việt Nam, quy môdân số của TP HCM còn hơn phần lớn các thủ đô ở châu Âu ngoại trừ Moscow vàLondon Theo số liệu thống kê năm 2009, 83,32% dân cư sống trong khu vực thànhthị TP HCM có gần một phần ba là dân nhập cư từ các tỉnh khác
Phân tích theo cơ cấu dân tộc: Người Việt (người Kinh) 6.699.124 ngườichiếm 93,52% dân số thành phố, tiếp theo tới người Hoa với 414.045 người chiếm5,78%, còn lại là các dân tộc: Khmer 24.268 người, Chăm 7.819 người Tổng cộng
có đến 52/54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam có người cư trú tại thành phố(chỉ thiếu dân tộc Bố Y và Cống), ít nhất là người La Hủ chỉ có 01 người Ngoài racòn 1.128 người được phân loại là người nước ngoài, có nguồn gốc từ các quốc giakhác (India, Pakistan, Indonesia, France ) Cộng đồng người Hoa ở TP HCM làcộng đồng người Hoa lớn nhất Việt Nam (bằng 50,3% tổng số người Hoa cả nước),
cư trú khắp các quận, huyện, nhưng tập trung nhiều nhất tại Quận 5, 6, 8, 10, 11 và
có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế thành phố
Phân tích dân số theo tôn giáo: Căn cứ theo số liệu điều tra dân số năm 2009,1.983.048 người (27,68% tổng số dân thành phố) kê khai có tôn giáo Trong đó
Trang 32những tôn giáo có nhiều tín đồ là: Phật giáo 1.164.930 người chiếm 16,26%, Cônggiáo 745.283 người chiếm 10,4%, Cao đài 31.633 người chiếm 0,44%, Tin lành27.016 người chiếm 0,37%, Hồi giáo 6.580 người chiếm 0,09%.
Sự phân bố dân cư ở TP HCM không đồng đều Trong khi một số quận như:
3, 4, 10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành CầnGiờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km² Về mức độ gia tăng dân số, trong khi
tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5% Những năm gầnđây dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm; trong khi dân số các quận mới lậpvùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từcác tỉnh đến sinh sống Theo ước tính năm 2005, trung bình mỗi ngày có khoảng 1triệu khách vãng lai tại TP HCM Đến năm 2010, con số này đã tăng lên tới 2 triệu
Mặc dù TP HCM có thu nhập bình quân đầu người rất cao so với mức bìnhquân của cả Việt Nam, nhưng khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn do những tácđộng của nền kinh tế thị trường Những người hoạt động trong lĩnh vực thương mạicao hơn nhiều so với ngành sản xuất Sự khác biệt xã hội vẫn còn thể hiện rõ giữacác quận nội ô so với các huyện ở ngoại thành
2.1.3 Giáo dục - đào tạo
Cùng với Hà Nội, giáo dục – đào tạo TP HCM được xếp vào hàng phát triểnnhất cả nước, là nơi có trình độ dân trí cao và tập trung đông nhất các trường ĐH,
từ các nguồn khác nhau, có đủ trình độ để tiếp thu khoa học kỹ thuật tiên tiến củathế giới Với những thành tựu đã đạt được, cùng với thế mạnh về nguồn lực khoahọc kỹ thuật, thành phố đã trở thành trung tâm đào tạo khoa học kỹ thuật và chuyểngiao công nghệ của vùng và cả nước
Trang 33Trong năm học 2009 – 2010, toàn thành phố có 638 cơ sở giáo dục mầm non,
467 trường cấp I, 239 trường cấp II, 81 trường cấp III và 55 trường cấp II, III, tổngcộng 1.308 cơ sở giáo dục của thành phố có 1.169 cơ sở công lập và bán công, cònlại là cơ sở dân lập, tư thục TP HCM hiện nay cũng có 40 trường Quốc tế do cácLãnh sự quán, công ty giáo dục đầu tư
TP HCM cũng đã phát triển được mạng lưới trường chuyên nghiệp gấp 3 lần
so với năm 2000 Tổng số trường, cơ sở đào tạo TCCN: 43, trong đó trường đạihọc, cao đẳng: 10, trường TCCN: 33 (ngoài công lập 27) Cùng với hệ thống trườngchuyên nghiệp nêu trên, TP HCM có hệ thống khá lớn các trường dạy nghề từ sơcấp nghề, Trung cấp nghế đến CĐ nghề do Sở Lao động – Thương binh và Xã hộiquản lý cùng song hành thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghề nghiệp của thành phố (có
390 cơ sở đào tạo nghề gồm: CĐN: 9, TC nghề: 26, Trung tâm dạy nghề: 75, các cơ
sở khác: 280)
Bên cạnh hệ thống trường chuyên nghiệp, dạy nghề do Thành phố quản lý,trên địa bàn thành phố còn có 40 trường đại học, 28 trường cao đẳng, 08 trườngTCCN và các cơ sở dạy nghề thuộc các Bộ, ngành TW quản lý Hàng năm, hệ thốngtrường này cũng thu hút một bộ phận học sinh thành phố vào học
Với mạng lưới trường lớp dày đặc như thế, hệ thống các trường ĐH, CĐ,TCCN và các cơ sở giáo dục của thành phố và TW trên địa bàn đã góp phần tíchcực đào tạo nguồn nhân lực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Nhiều trường,
cơ sở đào tạo là đơn vị công lập đã có quy trình đào tạo từ nhiều năm, điều kiện về
cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ sư phạm luôn được quan tâm, củng cố, đổimới nên quy mô đào tạo không ngừng được tăng lên, các trường ngoài công lậpphát triển nhanh chóng, nhưng địa điểm thành lập trường theo các điều kiện cơ sởvật chất cụ thể của chủ đầu tư nên mạng lưới các trường chuyên nghiệp nói chungcòn nhiều yếu tố bất hợp lý Mạng lưới các trường tập trung ở các quận nội thành vàven nội, còn nhiều khu kinh tế trọng điểm, vùng dân cư mới, khu công nghiệp chưa
có trường để đáp ứng cho việc đào tạo nhân lực tại chỗ
2.2 Thực trạng
Trang 34Để khảo sát thực trạng đào tạo và quản lý đào tạo tại trường Đại học VănHiến TP HCM, xác định những mặt mạnh những việc làm tốt cũng như chỉ ranhững tồn tại, trên cơ sở đề ra những giải pháp phù hợp về quản lý đào tạo nhằmnâng cao chất lượng đào tạo Chúng tôi đã phát phiếu khảo sát lấy ý kiến 330 ngườigồm cán bộ, giảng viên, nhân viên và sinh viên của trường.
- Về cán bộ, giảng viên, nhân viên 130 người (nam: 87, nữ: 43) thuộc 12khoa, 6 phòng chức năng và 4 tổ trực thuộc Và thông tin về các cá nhân trên nhưsau:
2.2.1 Khái quát Trường Đại học Văn Hiến TP HCM
Trường đại học Văn Hiến TP HCM là trường đại học dân lập, được thànhlập theo quyết định số 517/TTg ngày 11 tháng 7 năm 1997 của Thủ tướng Chínhphủ Tuy nhiên, do một số lý do, đến tháng 11 năm 1999 Trường mới chính thức đivào hoạt động
Trường đại học Văn Hiến TP HCM có 03 cơ sở: cơ sở chính tọa lạc tại QuậnPhú Nhuận với diện tích 666 m2 gồm 3 tầng lầu, với 01 khu hiệu bộ phục vụ chocông tác hành chính và làm việc, 01 giảng đường và các phòng học, phòng thực
Trang 35hành, thí nghiệm có sức chứa hơn 1.300 sv Cơ sở 2 của trường đóng trên địa bànQuận 12 với diện tích 1.227 m2 gồm 4 tầng lầu, với khu giảng đường, các phònghọc, phòng thực hành có sức chứa trên 2.000 SV và 01 khu hỗ trợ học tập với đầy
đủ trang thiết bị phục vụ dạy học như máy vi tính, giáo trình, thư viện, phòng tự họcdành cho sinh viên … Cơ sở 3 tại Quận Tân Bình có diện tích 682 m2 với sức chứagần 1.000 SV Hiện cả 3 cơ sở này trường đều thuê mướn Ngoài ra, nhà trườngđược Ủy ban nhân dân TP HCM cấp cho 56.949 m2 đất dự án phục vụ cho xâydựng trường mới, hiện cơ sở này đang chờ giải phóng mặt bằng
Hiện tại, trường chỉ đào tạo một loại hình là chính quy tập trung với đa cấp, đangành, liên thông giữa các cấp đào tạo và tuyển sinh trong phạm vi toàn quốc Cácngành đào tạo trình độ:
- ĐH: Công nghệ thông tin, Kỹ thuật điện tử truyền thông, Quản trị kinhdoanh, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Xã hội học, Tâm lý học, Văn học, Vănhoá học, Ngôn ngữ Anh, Đông phương học
- CĐ: Tin học ứng dụng, Công nghệ kỹ thuật điện tử truyền thông, Quản trịkinh doanh, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành
- TCCN: Điện tử viễn thông, Tin học kế toán, Trung cấp tin học, Hướng dẫnviên du lịch, Kỹ thuật công nghệ may, Mỹ thuật công nghiệp, Quản lý khách sạn dulịch
Về cơ cấu tổ chức, bộ máy của trường gồm:
Hội đồng quản trị: 07 thành viên
Ban Giám hiệu: 02 người Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng phụ trách vềđào tạo
Sáu phòng chức năng và 04 tổ trực thuộc:
- Tổ chức hành chính
- Quản lý đào tạo
- Kế hoạch – Tài chính
- Công tác sinh viên
- Thanh tra giáo dục
Trang 36- Quản trị thiết bị
- Tổ Kiểm định
- Tổ Nghiên cứu khoa học
- Tổ Hợp tác quốc tế và quan hệ doanh nghiệp
- Tổ Website
Mười hai khoa:
- Khoa Công nghệ thông tin
- Khoa Điện tử - Viễn thông
- Khoa Đông phương học
- Khoa Trung cấp chuyên nghiệp
- Khoa Mác – Lênin
Các trung tâm:
- Trung tâm Ngoại ngữ
- Trung tâm Kỹ thuật cao
- Trung tâm hỗ trợ sinh viên
Trường đại học Văn Hiến TP HCM có đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhânviên cao tuổi (hầu hết là đã về hưu ở các trường ĐH công lập được mời về công táchoặc thỉnh giảng), trên 30% có tuổi đời trên năm mươi và khoảng 17% có tuổi đời
từ sáu mươi trở lên, cá biệt có vài trường hợp trên tám mươi tuổi Tính đến tháng 12năm 2011, đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên của trường có:
Tổng số: 191 (nam: 104, nữ: 87), trong đó:
- Tiến sĩ: 20
Trang 37- Nghiên cứu sinh: 03
Trang 38 ĐH, CĐ: chỉ tiêu 1.300, trúng tuyển 936
Liên thông: chỉ tiêu 500, trúng tuyển 1.132
Theo cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý nhà trường thì Phòng Quản lý đào tạotrường đại học Văn Hiến TP HCM có chức năng chính là quản lý đào tạo các loạihình và trình độ Chức năng, nhiệm vụ của phòng Quản lý đào tạo (Theo Quyếtđịnh về hoạt động bộ máy hành chính Trường Đại học Văn Hiến TP HCM - Banhành theo quyết định số 01/DVH/QĐ ngày 15 tháng 11 năm 1999 của Hiệu trưởngtrường đại học Văn Hiến TP HCM) là tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việcquản lý hành chính, tổ chức và quản lý đào tạo theo đúng quy định của Bộ GD&ĐT
Phòng Quản lý đào tạo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ chủ yếu:
- Tham mưu cho hiệu trưởng về công tác tuyển sinh, đào tạo, tốt nghiệp, liênkết, hợp tác đào tạo
- Quản lý hồ sơ, dữ liệu sinh viên trong toàn trường, biên chế các lớp tuyểnsinh và danh sách sinh viên hàng năm
- Quản lý các môn chung, tổ chức dạy và cấp chứng chỉ các môn giáo dụcquốc phòng, giáo dục thể chất
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học, học kỳ, kế hoạch tuyểnsinh, tốt nghiệp
- Quản lý các phòng học, giảng đường; phối hợp với các khoa, bộ môn lênlịch thi kết thúc học phần
- Quản lý, giám sát hoạt động giảng dạy - học tập của các khoa, bộ môn;quản lý chương trình đào tạo
- Cấp các loại giấy chứng thực, chứng nhận, xác nhận kết quả, tình trạng họctập của sinh viên
- Quản lý và giải quyết các trường hợp liên quan đến học vụ
2.2.2 Thực trạng đào tạo
2.2.2.1 Mục tiêu đào tạo
Trang 39Trên cơ sở nhiệm vụ được giao và mang tính đặc thù riêng, Trường đại họcVăn Hiến TP HCM đã xác định mục đích đào tạo: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhânlực, bồi dưỡng nhân tài cho xã hội Việt Nam phát triển”.
Mục tiêu đào tạo của trường là đào tạo kỹ sư, cử nhân các ngành thuộc lĩnhvực khoa học kỹ thuật, kinh doanh - quản lý, văn hóa, xã hội nhân văn, ngoại ngũ,
… bảo đảm yêu cầu về phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, góp phần thựchiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chất lượngcao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và thích ứng với xu thế hội nhập quốc tế
Về mục tiêu đào tạo Trường đại học Văn Hiến TP HCM, các bộ phận chứcnăng của trường và các chuyên gia về chương trình kết hợp cùng xác định nhu cầuđào tạo ở các cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài TP HCM, với tình hình pháttriển kinh tế của đất nước Trên cơ sở đó trường xây dựng mục tiêu theo trình độđào tạo qui định của Bộ GD&ĐT, và mục tiêu đào tạo đó chỉ dẫn cho quá trình đàotạo và quản lý đào tạo tại trường
Chúng tôi đã xây dựng bảng câu hỏi để tìm hiểu mức độ tốt, sự phù hợp,
cũng như sự cần thiết về mục tiêu đào tạo của trường Nhận được kết quả Bảng 2.1
thể hiện như sau:
Sự cần thiết xác định mục tiêu đào tạo: GV và SV đánh giá sự cần thiết là rấtcần thiết (TBGV=2.64 và TBSV=2.61>2.5) Kết quả này đánh giá đúng với thực tếhoạt động diễn ra ở nhà trường như: thăm dò nhu cầu xã hội, họp hội đồng khoa học
và đào tạo, họp tổ bộ môn, chú ý các ngành tuyển sinh có nhiều thí sinh đế xác địnhđược mục tiêu đào tạo cần thiết nhất trong từng thời điểm mở rộng đào tạo tạitrường
Bảng 2.1: Đánh giá về mục tiêu đào tạo ở VHU
Điểm trung bình: 2, phù hợp: 2, c n thi t: 2ần thiết: 2 ết: 2
Nhómđánhgiá
Mức độ tốt Sự phù hợp Sự cần thiết
Trang 40tập của sinh viên theo
mục tiêu đào tạo
Mức độ phù hợp của mục tiêu đào tạo: GV và SV đánh giá sự phù hợp là phùhợp (TBGV=2.02 và TBSV=2.06>2) Đánh giá trên cho thấy mức độ đáp ứng của mụctiêu đào tạo phần nào phản ánh đúng khả năng của GV, chuyên gia, và các cơ quandoanh nghiệp kết hợp cùng xác định, xây dựng, điều chỉnh mục tiêu đào tạo chotrường
Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của SV theo mục tiêu đào tạo:
GV và SV đánh giá xếp loại trung bình khá (2<TBGV=2.42 và TBSV=2.36<2.5), phùhợp (TBGV=2.21 và TBSV=2.12), và khá cần thiết (2<TBGV=2.46 và TBSV=2.42>2.5).Kết quả này đúng thực trạng ở trường về tổ chức kiểm tra, đánh giá như: thành lậphội đồng thi cuối khóa, thời điểm thi kết thúc môn học cuối học kỳ, trả nợ đầu học
kỳ, ra đề, phản biện, và chấm thi, xử lý điểm bằng phần mềm máy tính, niêm yếtđiểm trên bảng thông báo
Kết quả thực hiện mục tiêu đào tạo: GV và SV đánh giá xếp loại trung bìnhkhá (2.5<TBGV=2.75 và TBSV=2.71<3) Trường đang thực hiện quy chế đào tạo theoniên chế kết hợp với học phần (tín chỉ chưa triệt để), kiểm tra quá trình do GV tựquyết định, trường chưa tổ chức được Phòng khảo thí để thực hiện nhiệm vụ chuyêntrách GV tổ chức lớp học chỉ có giáo trình, tài liệu tham khảo còn hạn chế, thiếuphòng học, lịch học bị gián đoạn hoặc học dồn Và những hạn chế này là lý doảnh hưởng đến sự chưa hài lòng của SV và GV đánh giá về kết quả thực hiện mụctiêu đào tạo