Trong đó phát triển giáo dục thường xuyên như là mộthình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tậpphù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của cá nhân tạo cơ hội cho đôn
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹OTR¦êNG §¹I HäC VINH
PHAN THANH ĐOÀI
mét sè GI¶I PH¸P n©ng cao HIÖU QU¶ HO¹T §éNG CñA BAN QU¶N Lý TRUNG T¢M HäC TËP CéNG §åNG
ë NGHÖ AN
LUËN V¡N TH¹C Sü khoa häc gi¸o dôc
Vinh, n¨m 2007
Trang 2Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O
TR¦êNG §¹I HäC VINH
PHAN THANH ĐOÀI
mét sè GI¶I PH¸P n©ng cao HIÖU QU¶ HO¹T §éNG CñA BAN QU¶N Lý TRUNG T¢M HäC TËP CéNG §åNG
Trang 3GD - ĐT: Giáo dục - Đào tạo.
GDTX: Giáo dục thường xuyên
HĐND: Hội đồng nhân dân
TD - TT: Thể dục - Thể thao
TTGDTX: Trung tâm giáo dục thường xuyên
TTHTCĐ: Trung tâm học tập cộng đồng
TT - VH: Thể thao - Văn hóa
UBND: Ủy ban nhân dân
XHHT: Xã hội học tập
Trang 4MỤC LỤC
Trang
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về TTHTCĐ 61.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về TTHTCĐ 101.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 11
1.2.2 Trung tâm học tập cộng đồng 121.2.3 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 13
1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng
231.4 Vấn đề tổ chức, quản lý TTHTCĐ 26
Trang 5Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI. 31
2.1 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống lịch sử, văn hóa của
Trang 63.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với các chức năng quản lý giáo dục 513.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban quản lý TTHTCĐ ở
3.2.6 Giải pháp hoàn thiện cơ chế hoạt động và cơ chế quản lý của Ban quản lý
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Bước vào thế kỷ 21, cũng như cả nước, giáo dục và đào tạo tỉnh Nghệ
An đã thu được những thành quả quan trọng về mở rộng quy mô, đa dạnghóa các hình thức giáo dục và nâng cấp cơ sở vật chất cho nhà trường Trình
độ dân trí được nâng cao Chất lượng giáo dục có chuyển biến bước đầu Hệthống giáo dục đã được đa dạng hóa về loại hình, phương thức và nguồnlực từng bước hòa nhập với xu thế chung của giáo dục trên thế giới Từmột hệ thống chỉ có các trường công lập và chủ yếu là loại hình chính quy,đến nay đã có các trường ngoài công lập, có nhiều loại hình giáo dụcthường xuyên, các phương thức đào tạo đáp ứng nhu cầu người học
Đạt được những thành tựu trên là do đại bộ phận nhân dân ta có tinhthần hiếu học, chăm lo việc học tập của con em; phần lớn các nhà giáo tậntụy với nghề Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và có những chủ trương,chính sách đúng đắn phát triển giáo dục Sự ổn định về chính trị, nhữngthành quả phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân trong thời kỳ đổimới đã tạo thêm điều kiện cũng như môi trường cho giáo dục phát triển toàndiện
Mặc dù đã đạt được những thành tựu như vậy, nhưng nhìn chung giáodục tỉnh nhà vẫn còn yếu về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu, hiệu quảgiáo dục chưa cao, giáo dục chưa gắn bó với thực tiễn, Chưa chú trọngđúng mức đến các hình thức giáo dục thường xuyên, giáo dục ngoài nhàtrường, đặc biệt cho người lao động Nhìn chung chất lượng và hiệu quảnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài còn thấp, chưa đápứng được nhu cầu của đất nước trong giai đoạn mới
Nguyên nhân của những yếu kém trên trước hết là do những yếu tốchủ quan, trình độ quản lý giáo dục chưa theo kịp với thực tiễn và nhu cầuphát triển khi nền kinh tế đang chuyển từ kế hoạch tập trung sang kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa; chưa phối hợp tốt và sử dụng có hiệu
quả nguồn lực của Nhà nước và của xã hội Quan điểm "giáo dục là quốc
sách hàng đầu" của Đảng và Nhà nước chưa được nhận thức đầy đủ và thực
sự chỉ đạo hành động trong một bộ phận cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp.Giáo dục vẫn được xem như là công việc riêng của ngành giáo dục; chưatạo ra được sự liên kết, phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các lựclượng xã hội và ngành giáo dục để phát triển sự nghiệp giáo dục
Trang 8Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, sự pháttriển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hóađang làm cho yêu cầu rút ngắn thời gian phát triển so với các nước đi trướctrở thành cấp bách, đòi hỏi khoa học - công nghệ phải trở thành động lực cơbản của sự phát triển kinh tế - xã hội Giáo dục là nền tảng của sự phát triểnkhoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xãhội hiện đại Giáo dục phải đi trước một bước Đảng, Nhà nước và nhân dân
ta ngày càng coi trọng vai trò của giáo dục, quan tâm nhiều hơn và đòi hỏigiáo dục phải đổi mới và phát triển đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của mọitầng lớp nhân dân về học tập và tiếp thu những kiến thức, kỹ năng nghềnghiệp, rèn luyện những phẩm chất năng lực cần thiết cho thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế Quốc tế
Giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Các cấp
ủy Đảng cần chỉ đạo xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người
ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học suốt đời Nhànước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục Đẩy mạnh xãhội hóa; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham giaphát triển giáo dục Trong đó phát triển giáo dục thường xuyên như là mộthình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để xây dựng xã hội học tậpphù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của cá nhân tạo cơ hội cho đông đảongười lao động được tiếp tục học tập, được bồi dưỡng kiến thức góp phầnnâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời đáp ứng yêu cầuchuyển đổi nghề nghiệp, chuyển đổi cơ cấu kinh tế
Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng đã khẳng định: "Chuyển dần
mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục"
Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) là một mô hình học tậpđược thành lập đáp ứng nhu cầu học tập của cộng đồng, do cộng đồng và vìcộng đồng, phục vụ việc học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho mọingười tại các xã, phường, thị trấn theo phương thức giáo dục thường xuyên
với phương châm trước mắt là “cần gì học nấy”, sau đó từng bước nâng
cao trình độ về mọi mặt của người dân
Ở Nghệ An, thời gian qua đã xây dựng được gần 460 trung tâm làtương đối nhanh, nhưng hiệu quả hoạt động chưa cao Thực tiễn đã chứng
Trang 9minh sự cần thiết của việc xây dựng và phát triển các TTHTCĐ xã, phường,thị trấn để góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và hướngtới một xã hội học tập
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban quản lý TTHTCĐ
là hết sức cần thiết cả trước mắt và lâu dài
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Tìm ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của Banquản lý trung tâm học tập cộng đồng ở xã, phường, thị trấn
Tiến tới xây dựng xã hội học tập nhằm góp phần phát triển kinh tế
-xã hội đưa Nghệ An thoát nghèo vào năm 2010 và cơ bản trở thành tỉnhcông nghiệp vào năm 2020
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Vấn đề hoạt động của Ban quản lý trung tâm học tập cộng đồng
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban quản lý trungtâm học tập cộng đồng ở Nghệ An
4 Giả thuyết khoa học:
Có thể nâng cao chất lượng hoạt động của TTHTCĐ ở Nghệ An, nếu
đề xuất được một số giải pháp có cơ sở khoa học và tính khả thi để nâng caohiệu quả hoạt động của Ban quản lý TTHTCĐ
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu:
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của TTHTCĐ
5.1.2 Tìm hiểu thực trạng Ban quản lý TTHTCĐ ở Nghệ An
5.1.3 Đề xuất một số giải pháp hoạt động có hiệu quả của Ban quản
Trang 106.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra; tổng kếtkinh nghiệm; lấy ý kiến chuyên gia
6.2.3 Phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu
7 Những luận điểm cần bảo vệ:
7.1 TTHTCĐ là địa chỉ tin cậy của phương thức giáo dục thườngxuyên, là nơi người dân cần gì học nấy, học thường xuyên và học suốt đời
7.2 Xây dựng các TTHTCĐ là một cuộc vận động cách mạng to lớnnhằm tạo ra sự thay đổi xã hội sâu sắc về mặt giáo dục từ đó góp phầnkhông nhỏ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
7.3 Nâng cao nhận thức; đa dạng hóa các chương trình, nội dung,hình thức học tập là những yếu tố để nâng cao hiệu quả hoạt động củaBan quản lý TTHTCĐ ở Nghệ An
8 Những đóng góp mới:
- Ban quản lý các trung tâm học tập cộng đồng được tập huấn về kinhnghiệm, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động củaTrung tâm
- Một số trung tâm được đầu tư kinh phí xây dựng mô hình
- In thành sách như tên của đề tài để phổ biến rộng rãi
9 Tính khả thi của đề tài nghiên cứu:
- Sẽ được áp dụng ở các trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thịtrấn trên toàn tỉnh
- Thời gian: Tháng 4/2007, thông qua đề cương nghiên cứu; tháng10/2007, hoàn thành bản thảo thứ nhất; tháng 11/2007, bảo vệ thử; tháng12/2007, bảo vệ Luận văn
10 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, danh mục các ký hiệu viết tắt, tài liệu tham khảo,phụ lục, kết luận và khuyến nghị, luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Ban quản lý trung tâm học tập cộng đồng
(TTHTCĐ)
Chương 2: Thực trạng Ban quản lý trung tâm học tập cộng đồng ở
Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban
quản lý trung tâm học tập cộng đồng ở Nghệ An
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BAN QUẢN LÝ TRUNG TÂM HỌC TẬP
CỘNG ĐỒNG.
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về TTHTCĐ:
- Khuyến nghị của Hội đồng Quốc tế về giáo dục cho thế kỷ XXI(thuộc UNESCO): “Giáo dục đóng một vai trò cơ bản trong sự phát triểncủa cá nhân và xã hội Ba đối tác đóng vai trò quan trọng cho sự thànhcông của các cách giáo dục là: Trước hết là cộng đồng địa phương, nhất làcác bậc cha mẹ, người đứng đầu các tổ chức xã hội và các nhà giáo; thứ hai
là chính quyền địa phương; thứ ba là cộng đồng quốc tế Đã có nhiều thấtbại trong quá khứ, do sự cam kết không đầy đủ của một trong những đối tác
đó Những ý đồ cải cách giáo dục áp đặt từ cấp cao nhất, hoặc từ bên ngoàiđều không đạt được kết quả tốt đẹp Rõ ràng cộng đồng địa phương bao giờcũng giữ vai trò quan trọng hàng đầu đối với bất kỳ một chiến lược cải cáchnào Vì vậy, một trong những giải pháp quan trọng để phát triển cộng đồng
và để cộng đồng tham gia vào quá trình cải cách giáo dục cần thiết phải xâydựng và phát triển các cơ sở giáo dục cộng đồng” [ ]
- Ở Nhật Bản, người đề xuất ra mô hình TTHTCĐ là Giáo sưTeranaka Sakuto (GS Trường Đại học Matsumoto), một nhà cải cách giáodục Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ 2 Nhật Bản gọi TTHTCĐ là
Komikan Hoạt động của các Komikan liên quan sâu sắc đến việc xây dựng
đất nước Nhật Bản sau chiến tranh và trở thành nền móng vững chắc trongviệc xây dựng cộng đồng Nhật Bản ngày nay
Số Komikan ở Nhật Bản phát triển qua các năm: 3.534 TT (năm1947), 20.268 TT (năm 1950), 19.410 TT (năm 1963), 17.562 TT (năm1993), 17.947 TT (năm 2002) Năm 2006, ở Nhật Bản có 18.000 Komikanhoạt động dưới sự bảo trợ của Nhà nước Trung ương và địa phương và76.883 Komikan tự quản
Việc hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các Komikan là kết quả của việc
ra đời Đạo luật giáo dục - xã hội Nhật Bản năm 1949, coi Komikan là một
bộ phận của hệ thống giáo dục người lớn/giáo dục thường xuyên
Theo báo cáo của GS Akiko Hurusa, Giám đốc trung tâm nguồnKomikan của thành phố Matsumoto, thì kinh phí hỗ trợ cho một Komikannguồn (ở quận, huyện) thuộc thành phố Matsumoto là 71.340.000 Yên/1năm (tương đương với 710.000 USD)
Trang 12Sơ đồ hệ thống quản lý TTHTCĐ ở Nhật Bản
- Ở Thái Lan, hiện nay đang phải đối mặt với những thay đổi lớn về
xã hội, kinh tế và chính trị Những thay đổi đó ảnh hưởng rất lớn đến cuộcsống của nhân dân nói riêng và toàn bộ đất nước nói chung Nhân dân đượcxác định là nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển của đất nước và cầnphải được trang bị những kiến thức và khả năng thiết yếu để thích ứng vớinhững thay đổi đó Vì vậy, các cơ sở giáo dục cộng đồng thực sự cần thiết
để cung cấp kiến thức và thông tin cho mọi người sống trong cộng đồng
Hiện nay, ở thái Lan không có các sở giáo dục và đào tạo mà tổ chứcquản lý giáo dục theo 5 khu vực hành chính Để quản lý các hoạt độngGDTX ở mỗi khu vực hành chính có trung tâm nguồn; ở cấp huyện có trungtâm GDTX và ở cấp xã có TTHTCĐ
Năm 2006, ở Thái Lan có 7 trung tâm nguồn (riêng Thủ đô Băngkok
có 3 trung tâm), 858 trung tâm GDTX cấp huyện và 7.000 TTHTCĐ cấp xã.Tổng biên chế cho các trung tâm này là 10.600 người (riêng số biên chế cho
7 trung tâm nguồn là 400 người) Trung tâm nguồn có nhiệm vụ điều phốicác hoạt động về tài chính (phân phối nguồn tài chính từ ngân sách nhànước và các nguồn tài trợ nước ngoài), nhân sự (điều phối, cán bộ quản lý,nhân viên) cho các trung tâm GDTX và TTHTCĐ Trung tâm GDTX cấphuyện điều phối giáo viên, tập huấn cán bộ, hỗ trợ về học liệu cho cácTTHTCĐ
Ngân sách nhà nước dành cho hoạt động GDTX ở Thái Lan khoảng 4
tỷ Bạt/1 năm Ngoài ra nguồn đóng góp từ khu vực tư nhân chiếm khoảng10% ngân sách nhà nước
Trang 13Nguyên tắc điều hành và hoạt động của TTHTCĐ ở Thái Lan nhưsau:
1) TTHTCĐ là của dân, do dân và vì dân Người đứng đầu trung tâmphải có định hướng cụ thể để phát triển trung tâm, đảm bảo để mọi ngườiđều có cơ hội học tập
2) TTHTCĐ hoạt động theo cơ chế mở Mọi người trong cộng đồng
4) Cho phép mọi người trong cộng đồng sở hữu và đánh giá chấtlượng, hiệu quả hoạt động của trung tâm
5) Phân công ít nhất một giáo viên tham gia quản lý các chương trìnhgiáo dục của trung tâm
Mô hình quản lý TTHTCĐ ở Thái Lan
Trung tâm nguồn
(cấp vùng)
Trung tâm GDTX cấp huyện
Các giáo viên,
Cộng tác viên
Trung tâm học tập cộng đồng
Các chuyên gia
Các cơ sở giáo dục tại cộng đồng
Các tổ chức
xã hội
Các cơ sở liên kết khác Các thành viên
trong cộng đồng
Trang 14Dự án phát triển TTHTCĐ trong khuôn khổ Chương trình Châu Á Thái Bình Dương về giáo dục cho mọi người (APPEAL) đã triển khai từnăm 1998, TTHTCĐ phục vụ cho các đối tượng người lớn, thanh thiếu niênthuộc mọi đối tượng trong cộng đồng thông qua các hoạt động xóa mù chữ
-và GDTX TTHTCĐ giúp người học có được lượng thông tin chủ yếu -vànhững kiến thức, kỹ năng cần thiết cho sự phát triển của cá nhân, gia đình
và xã hội Đến năm 2005, chương trình phát triển TTHTCĐ của UNESCO
đã được triển khai tại 20 quốc gia trong khu vực
Sau một thời gian thực hiện, các quốc gia tham gia dự án phát triểnTTHTCĐ đã có những dánh giá tích cực, coi TTHTCĐ như là một cơ chế
có hiệu quả để thực hiện xóa mù chữ và GDTX Nhiều quốc gia cũng báocáo về nhu cầu phát triển toàn diện của cộng đồng, trong đó TTHTCĐ đóngvai trò quan trọng trong các hoạt động giáo dục, y tế, nông nghiệp, pháttriển cộng đồng ở nông thôn Để làm được việc đó, cần phải nâng caonăng lực cho cán bộ quản lý của TTHTCĐ và xây dựng mối quan hệ, liênkết chặt chẽ với các tổ chức, cơ quan và doanh nghiệp đóng trên địa bàn Đócũng là mục đích, mục tiêu của “Dự án xây dựng mối liên kết và mạng lướihoạt động trong các TTHTCĐ” được tài trợ từ Quỹ hỗ trợ của Nhật Bản và
từ ngân sách của UNESCO với sự tham gia của 6 quốc gia trong khu vực làIndonesia, Bangladesh, Trung Quốc, Phillippines và Thái Lan
UNESCO tổ chức Hội nghị đại biểu của các quốc gia trong khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương để học tập và trao đổi kinh nghiệm về tổ chứccác hoạt động tại cộng đồng theo mô hình Komikan (TTHTCĐ kiểu NhậtBản) Hội nghị tổ chức tại thành phố Matsumoto, Nhật Bản từ 03-08/8/2006
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về TTHTCĐ:
Mô hình TTHTCĐ lần đầu tiên được giới thiệu ở Việt Nam năm
1998 Các nỗ lực quốc gia cùng với sự trợ giúp quốc tế của các tổ chứcUNESCO và Hiệp hội quốc gia UNESCO Nhật Bản đã chứng minh rằng
mô hình TTHTCĐ và những kết quả hoạt động vừa qua là phương tiện hữuhiệu mang lại các cơ hội học tập cho những người thiệt thòi Do vậy, môhình này có thể đóng góp vào quá trình xóa đói giảm nghèo và phát triểncộng đồng một cách bền vững
Nghiên cứu gần đây cho thấy TTHTCĐ thực sự có tác động trực tiếp
và tích cực đến chất lượng cuộc sống của người dân Nhiều người được hỏicho rằng sự tự tin và chủ động của người dân cũng như sự tham gia của họtrong các hoạt động của cộng đồng đã được cải thiện
Trang 15Đến tháng 5/2005, cả nước có 5.384 TTHTCĐ trên tổng số 10.770 xã,phường, thị trấn (đạt tỷ lệ tương đương 50% số xã, phường, thị trấn trong cảnước có TTHTCĐ) Đặc biệt, có 9 tỉnh/thành phố đạt 100% số xã, phường,thị trấn có TTHTCĐ là Thái Bình, Ninh Bình, Phú Thọ, Bắc Ninh, NamĐịnh, Vĩnh Phúc, Đà Nẵng, Hải Dương và Đồng Tháp.
Cả nước hiện có 8.150 TTHTCĐ, 100% số tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương tổ chức TTHTCĐ, 50% số tỉnh, thành đã xây dựng được gần100% số xã phường có TTHTCĐ, trong đó gần 50% trung tâm hoạt độngkhá và tốt, 25% trung tâm hoạt động trung bình Đáng chú ý, hầu hết cácđịa phương có TTHTCĐ đang hoạt động còn nghèo Đầu tư ban đầu rất hạnchế Cơ sở vật chất cho hoạt động các TTHTCĐ còn thiếu thốn, thiếuphương tiện quản lý, đồ dùng học tập và tài liệu học tập
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1 Giáo dục cộng đồng:
- Giáo dục cộng đồng là phương thức giáo dục thường xuyên dongười dân trong cộng đồng (xã, phường, thị trấn, thôn, bản, khối phố) tự tổchức nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của những người không đủ điều kiệntheo học các trường, lớp giáo dục chính quy Cơ sở giáo dục cộng đồngthực hiện nhiều chức năng khác nhau, trong đó quan trọng nhất là chứcnăng thông tin tư vấn, truyền bá, phổ cập những nội dung thiết thực nhất,phù hợp nhất với từng loại đối tượng người học, với những điều kiện, hoàncảnh của từng địa phương, từng cộng đồng dân cư
- Giáo dục cộng đồng mang tính tự nguyện cao, nhưng cần có sự quantâm, giúp đỡ thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành vàđoàn thể cơ sở, đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở giáo dụcchính quy tại địa phương
1.2.2 Trung tâm học tập cộng đồng:
- TTHTCĐ là cơ sở giáo dục thường xuyên của một xã, phường, thịtrấn do cộng đồng địa phương đứng ra thành lập và quản lý, nhằm góp phầnnâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng thôngqua việc tạo cơ hội học tập suốt đời cho họ TTHTCĐ là cơ sở giáo dục củadân, do dân quản lý và điều hành dưới sự lãnh đạo của Đảng và chính quyềnđịa phương
- TTHTCĐ là nơi bà con trong xã, phường, thị trấn có thể đến đó đểhọc chữ, học nghề; dự các lớp tập huấn kỹ thuật; nghe phổ biến các kiếnthức phổ thông về khoa học và đời sống; đọc sách báo; đề nghị cán bộTrung tâm góp ý giải quyết một số khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong sảnxuất và đời sống; tham gia các hoạt động chính trị, văn nghệ, thể thao, vui
Trang 16chơi, giải trí TTHTCĐ còn là nơi các ban, ngành, đoàn thể tổ chức hộihọp, mít tinh, sinh hoạt; phối kết hợp với nhau nhằm thực hiện thành côngcác chương trình kinh tế-văn hóa xã hội-an ninh chính trị ở địa phương.
- TTHTCĐ là mô hình giáo dục mới ở Việt Nam, ngoài nhà trườngđược tổ chức trên các địa bàn xã, phường, thị trấn, tập trung vào việc tổchức các hình thức học tập đa dạng, theo hướng cần gì học nấy cho nhữngđối tượng là người lao động
- TTHTCĐ có thể có những vai trò sau: Xác định và giải quyết cácnhu cầu và lợi ích của cộng đồng thông qua các hoạt động của mình; huyđộng các nguồn lực của cộng đồng; thiết lập mối liên kết và hợp tác chặtchẽ và thường xuyên với các ban ngành, đoàn thể và các tổ chức phi chínhphủ; chỉ đạo đánh giá các hoạt động nhằm rút kinh nghiệm cho việc lập kếhoạch phát triển tương lai; thu thập và lưu trữ hồ sơ, số liệu về các hoạtđộng của TTHTCĐ; huấn luyện cán bộ nhằm tạo tiềm lực để họ công tác cóhiệu quả hơn
- TTHTCĐ có bốn chức năng Đó là: giáo dục và đào tạo; thông tin và
tư vấn; phát triển cộng đồng; liên kết và phối hợp Để thực hiện bốn chứcnăng trên, TTHTCĐ dựa trên nhu cầu cảu cộng đồng và khả năng cho phép,
tổ chức các hoạt động khác nhau Nói chung TTHTCĐ có nhiều hoạt động
Có thể xếp các hoạt động đó thành bảy loại như sau: Xóa mù chữ và nângcao trình độ văn hóa cho nhân dân; hình thành và nâng cao kỹ năng laođộng; nâng cao chất lượng cuộc sống; học tập theo sở thích; các dịch vụthông tin; văn hóa địa phương; thể dục - thể thao, vui chơi giải trí
1.2.3 Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường:
Như vậy, quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có mụcđích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bịquản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đíchcủa tổ chức
1.2.3.2 Quản lý giáo dục:
Trang 17- Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội, là sự tác động
có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sưphạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn
- Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kếhoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản
lý hoạt động giáo dục của người làm công tác giáo dục
- Quản lý giáo dục cũng có những chức năng cơ bản là: Kế hoạch hóa,
tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá quá trình giáo dục Các chức năngquản lý tạo thành quá trình quản lý và chu trình quản lý (xem hình 1.1)
THÔNG TIN QUẢN LÝ
Hình 1.1: Chức năng quản lý và chu trình quản lý.
- Nội dung của quản lý giáo dục là quản lý các yếu tố cấu thành quátrình giáo dục tổng thể, gồm có: Mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục,phương pháp giáo dục, nhà giáo dục, người được giáo dục, kết quả giáodục, đồng thời quản lý các cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, giáo dục, môitrường giáo dục, các lượng lượng giáo dục
- Tóm lại, quản lý giáo dục là quản lý quá trình sư phạm, quá trìnhdạy học giáo dục diễn ra ở tất cả các cấp học, bậc học và cơ sở giáo dục,làm cho quá trình đó vận động đúng hướng, đúng đường lối, quan điêmrgiáo dục của Đảng và Nhà nước
1.2.3.3 Giải pháp quản lý giáo dục:
- Nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác động nhằm thayđổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định ,tiến tới nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càng ưu việt, cànggiúp con người nhanh chóng giải quyết được những vấn đề đặt ra Tuy vậy,
để có được những giải pháp đó, cần phải dựa trên những cơ sở lý luận vàthực tiễn khách quan, khoa học và chính xác
- Giải pháp quản lý giáo dục là những cách thức tác động của chủ thểquản lý hướng vào việc giải quyết những vấn đề đặt ra của hệ trhoongs giáodục, làm cho cả hệ thống đó vận hành đạt được kết quả cao nhất
Trang 181.2.3.4 Quản lý nhà trường:
Quản lý nhà trường là hoạt động quản lý giáo dục trong tổ chức nhàtrường, do chủ thể quản lý nhà trường thực hiện, bao gồm các hoạt độngquản lý bên trong nhà trường như: quản lý giáo viên, học sinh, quá trình dạyhọc, giáo dục, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
1.2.4 Quản lý TTHTCĐ:
- Mỗi TTHTCĐ có thể có một Ban Quản lý (BQL) hay Ban Chủnhiệm (BCN) gồm đại diện lãnh đạo Đảng, chính quyền, các ban ngành,đoàn thể của xã, phường, thị trấn, đại diện giáo viên, học viên (khoảng trêndưới 10 người) do UBND xã, phường, thị trấn được ủy quyền hoặc huyện,quận, thành phố, thị xã ra quyết định thành lập Thường trực của BQL (hayBCN) gồm 3 người: Trưởng ban (hay Chủ nhiệm), Chuyên trách và Thư ký.Chuyên trách thường đóng vai trò là cố vấn cho BQL, BCN Chuyên tráchcần có những phẩm chất sau: nhiệt tình, năng động và sáng tạo; có trình độhieur biết rộng; có quan hệ rộng rãi và có tác phong quần chúng; có thờigian và công tác nhiều năm ở địa phương
+ Kiểm kê các nguồn lực của cộng đồng
+ Phối kết hợp với các ban ngành, đoàn thể nhằm huy động nhữngnguồn lực cần thiết như trí tuệ của địa phương (gồm cán bộ khoa học kỹthuật, cán bộ nghỉ hưu, các nghệ nhân, nghệ sỹ, những người sản xuấtgiỏi ), sức lao động, nguyên vật liệu, tiền nhằm thực hiện kế hoạch pháttriển cộng đồng
+ Vận động bà con trong cộng đồng tham gia ý kiến và có nhữngđóng góp công sức, nguyên vật liệu, tiền của
+ Làm việc tập thể để xây dựng kế hoạch cho trung tâm
+ Tổ chức thực hiện các hoạt động như đã nêu trong kế hoạch
+ Giám sát theo dõi và giải quyết những vấn đề phát sinh
+ Đánh giá và báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch
Ở một số nơi, người ta chia BQL thành 5 tiểu ban Mỗi tiểu banchuyên trách một số hoạt động như Tiểu ban Giáo dục Chính trị và Phápluật; Tiểu ban Giáo dục và Đào tạo; Tiểu ban Đời sống và Sức khỏe; Tiểu
Trang 19ban Thông tin, Tư vấn và Thư viện; Tiểu ban Văn hóa, Văn nghệ và Thểdục - Thể thao.
1.3 Quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng.
1.3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng:
- Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960 đã chỉ rõ: “Phải đàotạo và bồi dưỡng với quy mô lớn những cán bộ xây dựng kinh tế và côngnhân lành nghề, phương pháp đào tạo là vừa đào tạo tập trung vừa đào tạo
tại chức Cần sử dụng rộng rãi các hình thức học buổi tối, hàm thụ và mở
lớp tại các cơ sở sản xuất”.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976 tiếp tục nhấn mạnh:
“Phải tích cực xây dựng hệ thống đào tạo, bồi dưỡng tại chức với nhiềuhình thức học tập bảo đảm cho mọi người lao động đều có thể suốt đời thamgia học tập, trau dồi nghề nghiệp và mở rộng kiến thức”
Nghị quyết số 14, năm 1979 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục đã
cụ thể hóa thêm: “Hệ thống mạng lưới trường, lớp tại chức phải được tổ
chức rộng khắp, bao gồm nhiều hình thức học tập linh hoạt, thuận tiện cho
người học Hệ thống đó phải gắn liền với hệ thống đào tạo tập trung nhưng
có tổ chức và người phụ trách riêng”
Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII đã khẳng định: “Cần phải thực
hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân Đổi mới giáo dục bổ túc
và đào tạo tại chức, khuyến khích phát triển các loại hình giáo dục - đào tạo không chính quy, khuyến khích tự học”.
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII đã khẳng định mục tiêu: “mởrộng các hình thức học tập thường xuyên, đặc biệt là hình thức học từ xa.Quan tâm đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản lý, kỹ thuật, nghiệp vụ và côngnhân các doanh nghiệp Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh
đạo, cán bộ quản lý các cấp, các ngành” “Có hình thức trường, lớp thích
hợp nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chủ chốt xuất thân từ công nông và lao động ưu tú, con em các gia đình thuộc diện chính sách”.
Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII đã xác định nhiệm vụ cấp báchtrong giai đoạn hiện nay là: “Có biện pháp thực hiện tốt các chủ trương vềxây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đã nêu trong Nghị quyết TW8 (khóaVII) và các điểm bổ sung sau đây: Cán bộ lãnh đạo phải được đào tạo, bồidưỡng kiến thức toàn diện, trước hết về đường lối chính trị, về quản lý nhà
Trang 20nước, quản lý kinh tế - xã hội; được bố trí, điều động theo nhu cầu và lợi íchcủa đất nước ”.
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IX đã chỉ ra, cần phải pháthuy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi pháttriển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ là nền tảng và động lực của
sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, là quốc sách hàng đầu
Đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và giáo dục không chính quy; thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành xã hội học tập” [ ].
Kết luận của Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khóa IX) đã chỉ rõ:
“Thực hiện chương trình giáo dục cho mọi người Tiếp tục đẩy mạnh đadạng hóa các loại hình trường lớp, hoàn thiện mô hình các loại hình trườnghọc phù hợp với hoàn cảnh nước ta nhằm tạo cơ hội học tập tốt nhất chomọi tầng lớp nhân dân có nhu cầu Phát triển giáo dục không chính quy,
các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế đời sống kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập” [ ].
Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa IX) đã chủ trương tiến
hành cuộc vận động “toàn dân xây dựng phong trào cả nước trở thành một
xã hội học tập, học tập suốt đời” [ ].
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 9 (khóa IX) đã khẳng định
“Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, xây dựng xã hội học tập”
Văn kiện Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ: “Phấn đấu xây dựng nền
giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [ , ].
Chỉ thị số 11 - CT/TW của Bộ Chính trị (khóa X) nêu rõ: Quán triệtnghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng về “chuyển dần
mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội họctập” và tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, nhằm nâng cao dân trí,phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, nhất là trong bối cảnh nước ta hội nhập ngàycàng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, Bộ Chính trị yêu cầu các cấp ủyđảng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác khuyến học, khuyến tài, xâydựng xã hội học tập trong thời gian tới, tập trung thực hiện một số nội dung
cơ bản sau đây:
Trang 21Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục trong Đảng và nhân dânvới nhiều hình thức phong phú, thiết thực để nhận thức rõ về sự cần thiết,tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội học tập ở nước ta hiện nay; xácđịnh xây dựng xã hội học tập là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, là mụctiêu cơ bản trong chiến lược chấn hưng và phát triển giáo dục của nước ta
Cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng xã hội học tậptrong phạm vi từng địa phương, đơn vị Mở rộng và nâng cao chất lượngcác phong trào khuyến học, khuyến tài, góp phần hỗ trợ các cơ sở giáo dụctrong giảng dạy và học tập; xây dựng gia đình hiếu học; cộng đồng, dòng
họ, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị khuyến học
Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng các trung tâm học tập cộng đồng ở xã,phường, thị trấn; phát triển nhiều loại hình học tập đa dạng, phù hợp vớiđiều kiện và nhu cầu học tập của cán bộ, nhân dân từng địa phương, đơn vị.Chú trọng và kịp thời phát hiện, có chính sách cụ thể để bồi dưỡng nhân tài,nhất là tài năng trẻ trên các lĩnh vực
Vận động nhân dân tích cực học tập nâng cao dân trí, nghề nghiệp,chuyên môn nhằm tăng năng lực sản xuất, chất lượng công việc, chất lượngcuộc sống Gắn việc phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài với xâydựng môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, với phong tràolàm kinh tế giỏi, xóa đói giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơsở
Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010 được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt (12/2001) đã chỉ rõ quan điểm: “Giáo dục là sự nghiệp củaĐảng, Nhà nước và của toàn dân; xây dựng xã hội học tập; tạo điều kiệncho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên,suốt đời”
Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn
2005 - 2010” đã ghi rõ: “Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập
với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, học suốt đời
ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong học tập và tham gia tích cực “xây dựng xã hội học tập” “Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập
được dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết, liên thông của hai bộphận cấu thành: giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên của hệ thốnggiáo dục quốc dân, trong đó giáo dục thường xuyên thực hiện các chương
Trang 22trình học tập nhằm tạo các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tậpsuốt đời, học tập liên tục của mọi người công dân sẽ là bộ phận có chức
năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập” “Phát triển bền
vững và nhân rộng mô hình trung tâm học tập cộng đồng trên các địa bàn
xã, phường, thị trấn trong cả nước nhằm thực hiện các chương trình xóa
mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và các chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân cư Trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, chỉ đạo điểm về mô hình trung tâm học tập cộng đồng hiện có; xây dựng và ban hành quy định về mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, cơ chế hoạt động của mô hình này để nhân rộng trên phạm vi cả nước” [ , ].
Luật Giáo dục năm 2005, tại khoản 1 Điều 4 quy định: “Hệ thốnggiáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”.Điều 44 quy định: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm vừahọc, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểubiết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chấtlượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xãhội” [ , ]
- Ở Nghệ An, trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ
XV nhấn mạnh: “Phát huy truyền thống hiếu học của con người Xứ Nghệ,củng cố và mở rộng các hội khuyến học từ tỉnh, huyện đến phường xã Trên
cơ sở đó phát động phong trào tự học nâng cao kiến thức hình thành xã hộihọc tập đáp ứng yếu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thíchứng với sự nhảy vọt của khoa học công nghệ” [ , 63]
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI khẳng định:
“Đẩy mạnh xã hội hóa sự nghiệp giáo dục - đào tạo và dạy nghề Mở rộng
và đa dạng hóa các loại hình học tập, đào tạo Phát triển và nâng cao chấtlượng hoạt động của Hội Khuyến học, có chính sách biểu dương, tôn vinhnhững tấm gương hiếu học, học giỏi, những gia đình, dòng họ, làng xóm, cơ
quan, đơn vị làm tốt công tác khuyến học Phát triển các trung tâm học tập
cộng đồng ở tất cả các xã, phường, thị trấn để đẩy mạnh việc giáo dục pháp luật, giáo dục trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, dạy nghề, khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, tư vấn pháp lý, gia đình tạo
cơ hội để mọi người có điều kiện học tập, hình thành xã hội học tập đáp ứng yêu cầu tiếp tục phát triển kinh tế tri thức và từng bước thích ứng với phát triển của nền kinh tế sáng tạo”.[ , 53].
Ngày 23/02/2004, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Chỉ thị số CT/TU “về việc tăng cường lãnh đạo xây dựng và phát triển các TTHTCĐ
Trang 2320-xã, phường, thị trấn” đã khẳng định: “Thực tiễn phát triển kinh tế - xã hộiđặt ra sự cần thiết phải xây dựng và phát triển các TTHTCĐ xã, phường, thịtrấn hướng tới một xã hội học tập” Để đẩy nhanh tốc độ và hiệu quả củaviệc xây dựng, củng cố và phát triển các TTHTCĐ ở cơ sở, Chỉ thị yêu cầucác cấp ủy đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt một sốnội dung sau:
1) UBND tỉnh chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo cùng với Hội Khuyếnhọc và các ngành liên quan khẩn trương hoàn chỉnh Đề án xây dựngTTHTCĐ, xác định mục tiêu, nguồn lực, cơ chế vận hành, lộ trình thựchiện, tạo lập hành lang pháp lý để các địa phương thực hiện Có kế hoạch vàbiện pháp hỗ trợ bước đầu các TTHTCĐ Củng cố và phát huy hiệu quả cácTTHTCĐ hiện có, đẩy nhanh việc thành lập mới các TTHTCĐ ở xã,phường, thị trấn
2) Các huyện, thành, thị ủy cần quan tâm chỉ đạo việc thành lập cácTTHTCĐ ở các xã, phường, thị trấn, kiểm tra nắm chắc tình hình hoạt động,kịp thời lãnh đạo tháo gỡ khó khăn vướng mắc ban đầu của các trung tâmnày để phục vụ nhu cầu học tập nâng cao kiến thức của nhân dân ngày càngtốt hơn Cấp ủy đảng cơ sở phải tổ chức nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu họctập của nhân dân, bàn bạc dân chủ, ra nghị quyết chỉ đạo UBND cùng cấptriển khai thực hiện
3) Các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dântriển khai công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho cán bộ, đảng viên, nhândân nhận thức rõ vai trò quan trọng của TTHTCĐ đối với việc nâng cao dântrí, bồi dưỡng nhân lực ở cơ sở Động viên mọi tổ chức và cá nhân nhiệttình đóng góp, tham gia xây dựng và tổ chức hoạt động của TTHTCĐ
4) Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì phối hợp với các ngành liên quanbiên soạn tài liệu và chuẩn bị đội ngũ báo cáo viên để giúp các TTHTCĐnâng cao chất lượng hoạt động Hội Khuyến học các cấp vận động nhân dântích cực tham gia xây dựng TTHTCĐ và thường xuyên phối hợp với cáctrung tâm chuẩn bị các chuyên đề phù hợp với nhu cầu người học ở từng cơ
Ngày 01/07/2004, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số2434/QĐ.UB-VX về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng và phát triển
Trang 24TTHTCĐ góp phần phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và hướngtới xã hội học tập ở tỉnh Nghệ An (giai đoạn 2004 - 2010)”.
Quyết định số 4254/QĐ.UBND.VX ngày 09/11/2006 của UBND tỉnh
về việc phê duyệt Kế hoạch “Xây dựng xã hội học tập” ở Nghệ An giaiđoạn 2006 - 2010 đã khẳng định: “ ”
1.3.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng:
- Ngay từ khi mới thành lập Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủtịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến vấn đề “giáo dục cho mọi người” và
“mọi người cho giáo dục” Trong phiên họp đàu tiên (ngày 03/9/1945) củaChính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Một dân tộc dốt là mộtdân tộc yếu Vì vậy tôi đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ”[ , 8] Người đặt ra 3 nhiệm vụ cách mạng trước mắt của Chính phủ là:Chống nạn đói, nạn thất học, nạn ngoại xâm và coi chống giặc dốt cũngquan trọng như chống giặc đói và giặc ngoại xâm
Bởi vậy, chỉ 6 ngày sau khi đọc Bản “Tuyên ngôn độc lập”, ngày08/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành ba sắc lệnh về chống nạnthất học:
Sắc lệnh số 17 về việc thành lập Nha Bình dân học vụ trong toànnước Việt Nam để trông nom việc học tập của dân chúng
Sắc lệnh số 19 về việc thành lập những lớp bình dân buổi tối chonông dân và thợ thuyền
Sắc lệnh số 20 công bố việc học chữ Quốc ngữ là bắt buộc và khôngmất tiền cho tất cả mọi người và hạn trong một năm, toàn thể dân chúngViệt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ
Đến tháng 10/1945, trong “Lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học”,
Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm chodân mạnh, nước giàu, mọi người Việt Nam cần phải hiểu biết quyền lợi củamình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựngnước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ” [ , 36]
Tư tưởng “Giáo dục cho mọi người” còn được Hồ Chí Minh thể hiện
rõ khi Người trả lời báo chí tháng 01/1946: “Tôi chỉ có một ham muốn, mộtham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân tahoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, được học hành”.[ , 161]
- Chủ tịch Hồ Chí Minh không những chỉ kêu gọi mọi người học tập,
mà còn kêu gọi mọi người học tập thường xuyên, học tập suốt đời Đâychính là một tư tưởng tiến bộ đi trước thời đại của Người
Trang 25Trong Bức thư gửi Quân nhân học báo (tháng 4/1946), Hồ Chí Minh
đã căn dặn: “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn Muốn biết thì phải thiđua học Học không bao giờ ngừng Học mãi để tiến bộ mãi Càng tiến bộcàng thấy phải học thêm” [ , 489]
Đối với nhân dân, Bác khuyên “Học hành là vô cùng, học càng nhiều,biết càng nhiều càng tốt” [ , 220]
Bản thân Chủ tịch Hồ chí Minh là một tấm gương sáng ngời về họcsuốt đời Năm 1961, khi nói chuyện với cán bộ, đảng viên hoạt động lâunăm, Bác đã tâm sự “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học, côngviệc có tiến triển, không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình raphía sau Chúng ta là đảng viên già, hiểu biết của chúng ta hồi 30 tuổi sovới sự hiểu biết của lớp trẻ bây giờ thì chúng mình dốt lắm Tôi cũngdốt lắm Nếu thế hệ già khôn hơn thế hệ trẻ thì không tốt Thế hệ già thuathế hệ trẻ mới là tốt” [ , 79]
- Muốn cho ai cũng được học hành, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quantâm đến việc tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn dân, của tổ chứcĐảng, chính quyền, đoàn thể các cấp về vị trí, vai trò của bình dân học vụ,
từ đó động viên toàn xã hội hăng hái tham gia chống nạn thất học Người đãkêu gọi “Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đọc Vợchưa biết thì chồng bảo, em chưa biết thì anh bảo, người ăn người làm chưabiết thì chủ bảo, người giàu có thì mở lớp ở tư gia dạy cho người không biếtchữ ở làng xóm láng giềng Các chủ ấp, chủ đồn điền, chủ hầm mor, nhàmáy thì mở lớp cho những tá điền, những người làm của mình” [ , 309]
Xuất phát từ tư tưởng này của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều khẩu hiệu
đã được đưa ra như “Dạy bình dân học vụ là yêu nước”, “Giúp đỡ bình dânhọc vụ là yêu nước”, “Chống mù chữ cũng như chống ngoại xâm”, “Mỗi giađình là một lớp bình dân học vụ” Các khẩu hiệu này được viết dán ởtrong nhà, ở mặt tường, ở thân cây hoặc được hô vang trong các buổi truyềnthanh, trong các đội ngũ diễu hành, các buổi rước đuốc
Như vậy, nhờ tuyên truyền mạnh mẽ và rầm rộ, cho nên công cuộcchống mù chữ đã được toàn xã hội tham gia Theo lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, nhiều cá nhân, gia đình đã đứng ra mở lớp bình dân học vụ
để dạy chữ cho người chưa biết chữ; giáo viên thì tuyên thệ “Còn trời cònnước còn non Còn người mù chữ, ta còn gắng công”; các cụ già chia nhauđến giờ học thì gọi con cháu, dân làng đi học Các tổ chức đoàn thể đãtham gia góp sức cùng Bình dân học vụ lo việc xóa mù chữ, nâng cao trình
độ văn hóa cho đoàn viên, hội viên của mình Có thể nói đây là đặc trưng
Trang 26quan trọng của học tập cộng đồng mà hiện nay nhiều quốc gia đang phấnđấu.
1.4 Các đặc trưng tổ chức sư phạm và kinh tế - xã hội của TTHTCĐ.
- TTHTCĐ là các cơ sở giáo dục chứ không đơn thuần chỉ là nơi đểtruyền thụ thông tin, kiến thức hoặc các kỹ năng việc làm, nhằm mục đíchngười tham gia sẽ nắm bắt được kinh nghiệm thông qua buổi tiếp xúc trựctiếp cá nhân
- Một vài hoạt động của TTHTCĐ hướng tới giáo dục việc làm,nhưng liên quan nhiều đến việc tự nghiên cứu hiện thực cuộc sống Mụcđích học tập ở TTHTCĐ là nhằm nâng cao trình độ văn hóa của người học,nhờ đó cải thiện chất lượng cuộc sống
- TTHTCĐ là một hệ thống giáo dục mở đối với tất cả dân cư,TTHTCĐ không giới hạn đối với giáo dục người lớn mà bao gồm cả cáchoạt động giáo dục dành cho giới trẻ Điều này được khẳng định qua thực tếrằng các TTHTCĐ được quản lý một cách công khai và không phụ thuộcnhiều vào các hoạt động của những người tự nguyện
thành lập
2 Nghiên cứu định hướng phát
triển kinh tế-xã hội của địa
phương Đặc điểm dân cư địa
phương Tham khảo ý kiến chỉ
đạo của Phòng GD cấp huyện
Ban vận động
TTHTCĐ
Báo cáo về tínhcần thiết củaTTHTCĐ
4 Phối hợp tổ chức tuyên truyền
trong cộng đồng Ban vận độngthành lập
TTHTCĐ, BanVH-TT, Tìnhnguyện viên
Các đợt tuyêntruyền, cácchương trìnhtruyền truyềnthanh
Trang 275 Điều tra nhu cầu học tập, mong
muốn tham gia của người dân
trong cộng đồng
Ban vận động
TTHTCĐ, BanThống kê, Tìnhnguyện viên
Nhu cầu học tậpsinh hoạt vănhóa Dự thảo kếhoạch hoạt độngcủa TTHTCĐ
6 Dự kiến về cơ cấu tổ chức và
Đưa vào Đề án
TTHTCĐ
7 Chuẩn bị địa điểm, trang thiết
bị, hỗ trợ ban đầu của chính
quyền địa phương
UBND xã, Banvận động thànhlập TTHTCĐ
TTHTCĐ, một
số trang thiết bị
8 Xây dựng đề án thành lập
TTHTCĐ gửi UBND huyện
(bao gồm chương trình hoạt
động của trung tâm
UBND xã, Banvận động thànhlập TTHTCĐ
Ý kiến củaUBND huyện
9 Chủ tịch UBND huyện ra quyết
định thành lập TTHTCĐ
Phòng GDhuyện thẩmđịnh trìnhUBND
Quyết định
11 Tổ chức khai trương TTHTCĐ
(bằng một hoạt động cụ thể)
UBND xã, Banvận động thànhlập TTHTCĐ,đại diện trườnghọc, đoàn thểtại địa phương,người dân
Một hoạt độngkhai trương có ýnghĩa thực tế
- Có thể sử dụng đình, chùa, hội trường hoặc nhà kho bỏ không cảitạo thành Trung tâm Nếu có điều kiện thì dựng bằng tranh, tre, nứa lá hoặcxây bằng gạch ngói hay bằng xi-măng cốt thép Nhưng dù cải tạo hay xâymới, chúng ta cần lưu ý đến 3 điểm sau:
Trang 281) Vì Trung tâm có nhiều hoạt động khác nhau, và những hoạt động
đó có thể diễn ra song song, nên ngôi nhà Trung tâm cần phải bố trí như thếnào đó để có thể sử dụng phục vụ nhiều mục đích khác nhau
2) Tận dụng các khoảng không gian xung quanh ngôi nhà để giảm chiphí xây dựng và tăng địa điểm phục vụ các hoạt động của Trung tâm
3) Trong hoàn cảnh khó khăn do kinh phí hạn hẹp, ta cần chú ý tậndụng những nguyên liệu sẵn có ở địa phương để tự tạo ra cơ sở vật chất choTrung tâm
1.5.2 Vấn đề quản lý TTHTCĐ:
Quản lý TTHTCĐ là quản lý mọi hoạt động của Trung tâm, bao gồm:Quản lý xây dựng kế hoạch; quản lý thiết kế nội dung, chương trình dạy họccho các đối tượng khác nhau; quản lý tổ chức lớp học và huy động cộngđồng tham gia các chương trình học tập; quản lý bảo quản học liệu, trangthiết bị, đồ dùng dạy học; quản lý tài chính;
Phần này tập trung chủ yếu vào việc quản lý các công việc hàng ngàycủa Trung tâm
Tùy địa phương, người chịu trách nhiệm về các hoạt động hàng ngàycủa Trung tâm có thể là Trưởng BQL hay Chủ nhiệm Trung tâm Có nơi,Trưởng BQL/Chủ nhiệm do quá bận rộn nhiều công tác, nên đã giao việcquản lý này cho một người có năng lực phù hợp trong BQL như ủy viên phụtrách văn hóa xã, Hiệu trưởng/hiệu phó trường phổ thông hay một cán bộnghỉ hưu
Ở nhiều nơi, học viên của các lớp học chữ, học nghề, lớp tập huấnchuyển giao kỹ thuật sản xuất cùng với cán bộ Trung tâm giám sát các hoạtđộng hàng ngày của lớp như theo dõi sỹ số, tìm hiểu lý do của những họcviên bỏ học, góp ý kiến để thầy giáo, cô giáo cải tiến cách tổ chức học tập
và giảng dạy Có nơi, do sự vận động khéo léo của BQL, cả cộng đồng đãtích cực chủ động đóng góp công sức tiền của, trí tuệ khiến cho các điềukiện dạy-học của Trung tâm được cải thiện rõ rệt
Thế nhưng, vai trò của người quản lý TTHTCĐ vẫn là rất quan trọng:định hướng, quán xuyến, giám sát các hoạt động của Trung tâm Người cán
bộ quản lý này cần có quyển sổ nhật ký công tác để hàng ngày ghi chépnhững hoạt động đã diễn ra tại Trung tâm, những nhận xét đánh giá, nhữngkinh nghiệm, bài học Cuốn sổ này được coi như là tập hồ sơ của Trungtâm cần lưu giữ Nhìn chung có hai loại hoạt động mà cán bộ quản lý Trungtâm cần tham gia:
1) Các hoạt động mà họ phải tự làm hàng ngày, gồm:
Trang 29 Cập nhật hệ thống thông tin và bổ sung sách báo cho thưviện.
Bảo quản học liệu, trang thiết bị, đồ dùng dạy-học, ngôi nhàTrung tâm và cảnh quan xung quanh
Theo dõi việc chi tiêu tài chính và và kiểm kê tài sản
2) Quản lý các hoạt động triển khai định kỳ với sự hỗ trợ của BQL,gồm:
Huy động cộng đồng vào việc tổ chức thực hiện các chươngtrình
Khuyến khích học viên tham gia các chương trình được tổchức tại Trung tâm
Giám sát việc thực hiện chương trình theo đúng tiến độ
Tổ chức các hoạt động nhằm thắt chặt mối quan hệ giữacộng đồng với Trung tâm
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG BAN QUẢN LÝ TRUNG TÂM HỌC TẬP
CỘNG ĐỒNG Ở NGHỆ AN.
2.1 Khái quát về điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống lịch
sử, văn hóa của Nghệ An.
Nghệ An nằm ở vùng Bắc Trung bộ nước ta, phía Bắc giáp ThanhHóa, phía Nam giáp Hà Tĩnh, phía Tây giáp nước bạn Lào với đường biêngiới dài hơn 419 km, phía Đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 82 km.Diện tích tự nhiên của Nghệ An là 16.487,4 km2, trong đó ¾ là miền núi,vùng cao Khí hậu Nghệ An khắc nghiệt, được chia thành hai mùa rõ rệt,mùa nắng-nóng kèm theo gió lào nhiệt độ nhiều ngày lên cao tới 38-40oC,gây khô hạn kéo dài, thường có mưa lớn kèm theo lụt bão; mùa lạnh thườngkèm theo hanh, khô và rét đậm
2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội:
Trang 30Số người được đào tạo chủ yếu thuộc vùng đồng bằng, đô thị còn ở miềnnúi, vùng cao không đáng kể.
c Về phát triển kinh tế:
Với tiềm năng về tự nhiên, đất đai, dân số, Nghệ An có nhiều thuậnlợi để phát triển kinh tế - xã hội một cách toàn diện và vững chắc Mấy nămgần đây, kinh tế - xã hội Nghệ An đã có bước phát triển khá toàn diện, cơcấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, văn hóa - xã hội có nhiều tiến bộ, cơ
sở hạ tầng kỹ thuật được tăng cường, đời sống nhân dân được cải thiện đángkể
Tuy nhiên, so với cả nước, Nghệ An vẫn là tỉnh nghèo, cơ cấu kinh tếcòn thiên về nông nghiệp là chủ yếu (chiếm tỷ trọng 34,2%), thu nhập bìnhquân đầu người thấp, chỉ bằng 64% mức bình quân chung của cả nước (390USD/640 USD/năm), nội lực trong dân còn rất mỏng, thu ngân sách mới chỉđáp ứng được khoảng 50% nhu cầu chi
2.1.2 Truyền thống lịch sử và văn hóa:
Nhân dân Nghệ An có truyền thống hiếu học và khổ học Học hầunhư đã trở thành phong trào quần chúng, một nếp sống xã hội của người XứNghệ Ngay cả những gia đình túng bấn nhất cũng thiết tha, mong muốn vàtìm mọi cách cho con “kiếm dăm ba chữ” để giữ đạo làm người Từ ngàncho tới nay, Nghệ An luôn luôn có một đội ngũ trí thức đông đảo Trướcđây là các thầy đồ Xứ Nghệ nghèo mà hay chữ, những học giả uyên thâm,tiết tháo, những chí sỹ yêu nước kiên cường Từ sau Cách mạng ThángTám, suốt hai cuộc kháng chiến, nhân dân Nghệ An không chỉ chiến đấudũng cảm mà còn thắt lưng buộc bụng cho con cháu học hành Đó chính làtiềm năng trí tuệ của cộng đồng dân cư Xứ Nghệ Đông đảo con người ởđây “học sáng dạ”, có khả năng tiếp thu tri thức văn chương, khoa học, kỹthuật Và khi có điều kiện thoát ly tiếp cận với văn minh của thế giới, họ dễtrở thành những chiến sỹ cách mạng lỗi lạc, những nhà canh tân, tiến bộ,
Trang 31những nhà văn hóa lớn tiêu biểu cho cả nước Truyền thống quý báu đó cầnđược khơi dậy và phải trở thành niềm tự hào chính đáng của nhân dân XứNghệ.
Người Nghệ An cần cù trong lao động, dũng cảm, kiên cường trongchiến đấu chống giặc ngoại xâm và chống đỡ thiên tai Nghệ An còn là quêhương của nhiều danh nhân dã để lại những dấu ấn đậm nét trong lịch sử đấtnước như Bạch Liêu, Hồ Tông Thốc, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Trường Tộ,Phan Bội Châu, Đặng Thai Mai, những lãnh tụ của Đảng và dân tộc như HồChí Minh, Lê Hồng Phong, Phan Đăng Lưu, Hồ Tùng Mậu đã làm rạng
rỡ quê hương đất nước Chính họ bao đời rồi, đã sáng tạo ra một gia tài vănhóa phong phú, đa dạng, giàu sức sống, mang rõ sắc thái văn hóa địaphương Xứ Nghệ trong bản sắc văn hóa chung của cả dân tộc Việt Nam.Biểu hiện rực rỡ nhất của gia tài văn hóa ấy là kho tàng văn học dân giannhư: Ca dao, đồng giao, truyện kể, vè, hát dân ca, hát phường vải, hò vídặm Truyền thống văn hóa và cách mạng quý báu đó được tiếp tục hunđúc, rèn dũa và phát huy trong quá trình phát triển của Nghệ An
2.2 Thực trạng xây dựng và quản lý TTHTCĐ ở Nghệ An.
2.2.1 Nhận thức về TTHTCĐ ở Nghệ An:
Nhằm tìm hiểu thực trạng nhận thức về TTHTCĐ ở Nghệ An, chúngtôi đã sử dụng phiếu điều tra để thu thập số liệu Đối tượng điều tra củachúng tôi bao gồm 260 người, chia thành 2 nhóm:
1 TTHTCĐ là một cơ sở giáo dục, không nằm
trong hệ thống GD quốc dân
2 TTHTCĐ là một cơ sở giáo dục chính quy,
nằm trong hệ thống GD quốc dân
3 TTHTCĐ là một cơ sở giáo dục không chính
quy, nằm trong hệ thống GD quốc dân
4 TTHTCĐ là một cơ sở giáo dục thường
xuyên, nằm trong hệ thống GD quốc dân và
Trang 32được tổ chức tại cộng đồng.
Bảng 2.1: Nhận thức của cán bộ, đảng viên về TTHTCĐ.
Kết quả ở bảng 2.1 cho thấy:
Số người quan niệm: “TTHTCĐ là một cơ sở giáo dục thường xuyên,nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân và được tổ chức tại cộng đồng”chiếm tỷ lệ cao nhất (80,8%) Điều này chứng tỏ sự hiểu biết của cán bộhuyện, xã về vị trí của TTHTCĐ là tương đối rõ Tuy nhiên vẫn còn 24,1%
số người hiểu chưa đúng và 17,5% số người hiểu chưa đầy đủ về vị trí củaTTHTCĐ
- Câu hỏi 2: Theo đồng chí, TTHTCĐ có vai trò như thế nào đối với sự phát triển của cộng đồng?
1 TTHTCĐ là nơi tổ chức và tiến hành có hiệu
quả các hoạt động giáo dục nhằm đáp ứng
nhu cầu học tập cơ bản, suốt đời của người
dân ở xã/phường/thị trấn
2 TTHTCĐ góp phần nâng cao chất lượng và
hiệu quả hoạt động của các tổ chức chính trị
-xã hội ở cơ sở
3 TTHTCĐ góp phần giúp người dân biết cách
xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng
cuộc sống
4 TTHTCĐ góp phần thúc đẩy việc thực hiện
cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa ở các cộng đồng dân cư
Bảng 2.2: Nhận thức của cán bộ, đảng viên về vai trò của TTHTCĐ.
Kết quả bảng 2.2 cho thấy:
Số người quan niệm: “TTHTCĐ là nơi tổ chức và tiến hành có hiệuquả các hoạt động giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu học tập cơ bản, suốt đờicủa người dân ở xã/phường/thị trấn” chiếm tỷ lệ cao nhất (88,3%) Số ngườiquan niệm: “TTHTCĐ góp phần giúp người dân biết cách xóa đói, giảmnghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống” chiếm tỷ lệ cao thứ 2 (76,7%) Sốngười quan niệm: “TTHTCĐ góp phần thúc đẩy việc thực hiện cuộc vậnđộng Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở các cộng đồng dâncư” chiếm tỷ lệ thấp nhất (70%) Điều này chứng tỏ cả 4 nội dung trả lờiđều thể hiện đúng vai trò của TTHTCĐ và nhận thức của đội ngũ cán bộhuyện, xã về vai trò của TTHTCĐ là tương đối đầy đủ và tương đối cao
- Câu hỏi 3: Theo đồng chí, TTHTCĐ có những chức năng gì?
Trang 33TT Nội dung trả lời Số người Tỷ lệ (%)
Bảng 2.3: Nhận thức của cán bộ, đảng viên về chức năng của TTHTCĐ.
Kết quả bảng 2.3 cho thấy:
Số người quan niệm: “TTHTCĐ có những chức năng giáo dục và đàotạo, thông tin và tư vấn, liên kết và phối hợp” chiếm tỷ lệ tương đối cao(80%, 79,2%, 68,3%) Có hai ý kiến nêu thêm các chức năng khác, đó là
“chức năng bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho người học và chức năngchuyển giao khoa học công nghệ ứng dụng” Không có ý kiến nào nêu chứcnăng phát triển cộng đồng Như vậy, nhận thức của cán bộ huyện, xã chưathật đầy đủ về các chức năng của TTHTCĐ
- Câu hỏi 4: Theo đồng chí, do những nguyên nhân nào khiến cho nhiều TTHTCĐ hiện nay hoạt động chưa có hiệu quả?
1 Chưa có quy chế tổ chức và hoạt động để tạo
hành lang pháp lý trong quá trình xây dựng và
phát triển TTHTCĐ
2 Chưa xây dựng được nội dung chương trình
học tập phù hợp với đối tượng người học ở
4 Chưa huy động được sự hỗ trợ của các ngành,
các cấp, các tổ chức xã hội cho hoạt động của
Bảng 2.4: Nhận thức của cán bộ, đảng viên về nguyên nhân TTHTCĐ hoạt
động chưa hiệu quả.
Kết quả bảng 2.4 cho thấy:
Phần lớn các ý kiến đều cho rằng nguyên nhân khiến cho nhiềuTTHTCĐ hiện nay hoạt động chưa có hiệu quả là do: “Chưa có quy chế tổchức và hoạt động để tạo hành lang pháp lý trong quá trình xây dựng vàphát triển TTHTCĐ”, (69,2%); “Chưa xây dựng được nội dung chươngtrình học tập phù hợp với đối tượng người học ở cộng đồng”, (76,7%);
“Chưa có sự đầu tư kinh phí cho hoạt động của TTHTCĐ từ ngân sách nhà
Trang 34nước”, (80,8%); “Chưa huy động được sự hỗ trợ của các ngành, các cấp,các tổ chức xã hội cho hoạt động của TTHTCĐ”, (75%) Riêng nguyênnhân “Cán bộ Ban quản lý TTHTCĐ trình độ còn hạn chế”, chiếm tỷ lệ caonhất: 85% Điều này khẳng định rằng: để nâng cao hiệu quả hoạt động củaTTHTCĐ thì vai trò của BQL là cực kỳ quan trọng, là yếu tố quyết định sựthành công hay thất bại của TTHTCĐ Thực trạng đó cho chúng ta thấy sựcần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động của BQL TTHTCĐ.
b Nhận thức của người dân về nhu cầu học tập của họ ở cộng đồng (nhóm 2):
- Câu hỏi 1: Theo ông (bà), sở dĩ hộ mình còn nghèo đói, trongthôn/bản, phường/xã mình còn hộ nghèo đói là do những nguyên nhân nào?
4 Không được sự hỗ trợ của cộng đồng 70 50
Bảng 2.5: Nhận thức của nhân dân về nguyên nhân nghèo đói.
Kết quả bảng 2.5 cho thấy:
Phần nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân của hộ mình và các hộ trongthôn/bản, phường/xã còn đói nghèo là do: “Không có vốn”, (83,6%); “Thiếu
kỹ thuật, thiếu thông tin”, (75,7%) Ngoài ra còn có ý kiến khác cho rằng:
“Trình độ học vấn còn hạn chế” và “Chưa được trang bị kiến thức làmgiàu” Qua những ý kiến trên cho chúng ta thấy người dân rất cần có cơ sởgiáo dục để họ có thể thu nhận được những kiến thức về khoa học-kỹ thuật,
về thông tin nhằm xóa đói giảm nghèo, tiến tới vươn lên làm giàu chínhđáng
- Câu hỏi 2: Nếu được đi học, ông (bà) học để làm gì?
Bảng 2.6: Nhận thức của nhân dân về mục đích của việc học.
Kết quả bảng 2.6 cho thấy:
Trang 35Số người quan niệm: “Học để nuôi dạy con cái tốt hơn, học để biếtcách làm ăn kiếm sống và học để nâng cao hiểu biết” chiếm tỷ lệ tương đốicao (85%, 87,1% và 88,6%) Có rất ít người quan niệm “Học để làm cánbộ” (7,8%) và “Học để có bằng cấp” (32,9%) Với kết quả trên cho chúng tabiết nhận thức về mục đích học tập của người dân rất cao, họ quan niệm học
là để nâng cao hiểu biết; để biết cách làm ăn kiếm sống; để nuôi dạy con cáitốt hơn
- Câu hỏi 3: Nếu có điều kiện học tập, ông (bà) có nhu cầu học những gì?
1 Học văn hóa (xóa mù chữ, sau xóa mù chữ và
bổ túc văn hóa)
2 Học kiến thức liên quan đến sản xuất, chuyển
giao khoa học kỹ thuật và hướng dẫn cách
làm ăn để tăng thu nhập
3 Học kiến thức về đời sống và xã hội 90 70,7
Bảng 2.7: Nhận thức của nhân dân về nhu cầu học tập ở cộng đồng.
Kết quả bảng 2.7 cho thấy:
Nhiều ý kiến cho rằng nhu cầu học tập của người dân là “Học kiếnthức liên quan đến sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật và hướng dẫncách làm ăn để tăng thu nhập” (83,6%) và “Học kiến thức về đời sống và xãhội” (70,7%) Nhu cầu về học văn hóa của người dân không cao (45,7%),ngoài ra còn nêu ý kiến có nhu cầu học kiến thức phát triển kinh tế gia đình,địa phương, về cách làm giàu; kiến thức về quản lý
- Câu hỏi 4: Ông (bà) sẽ đến đâu để học tập?
Bảng 2.8: Nhận thức của nhân dân về địa điểm học tập ở cộng đồng.
Kết quả bảng 2.8 cho thấy:
Phần lớn ý kiến cho rằng địa điểm học tập của người dân là “Đếntrường dạy nghề” (55%) và “Đến TTHTCĐ xã/phường/thị trấn” (84,3%).Như vậy, người dân rất muốn đến TTHTCĐ để được học những kiến thứcdạy ở đó
2.2.2 Thực trạng xây dựng TTHTCĐ ở Nghệ An:
Trang 36a Kết quả đạt được:
Thực hiện các văn bản chỉ đạo của tỉnh, nhiều địa phơng, đơn vị đãtích cực làm tốt công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức về vai trò, tácdụng cấp thiết của các TTHTCĐ cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhândân Các phòng giáo dục cùng với các trung tâm giáo dục thờng xuyên (TTGDTX) và Hội Khuyến học đã tham mu cho huyện đẩy mạnh công tác chỉ
đạo xây dựng và phát triển các TTHTCĐ
Việc triển khai xây dựng các TTHTCĐ ở Nghệ An tuy có muộn so vớicả nớc, nhng tốc độ phát triển khá nhanh và vững chắc Tháng 12/2002 mớichỉ có 1 TTHTCĐ ra đời (Quỳnh Thanh - Quỳnh Lu), đến tháng 12 năm
2003 có 59 TTHTCĐ, tháng 12/2004 có158 TTHTCĐ, tháng 12/2005 có
307 TTHTCĐ, đến tháng 12 năm 2006 có 429 TTHTCĐ và đến nay đã có
457 TTHTCĐ, đạt tỷ lệ 96,6% số xã, phờng, thị trấn trong toàn tỉnh
Trong đó, đã có 14/19 huyện, thành, thị đạt 100% số xã, phờng, thịtrấn có TTHTCĐ là Thành phố Vinh, Hng Nguyên, Nghi Lộc, Thị xã Cửa
Lò, Diễn Châu, Quỳnh Lu, Thanh Chơng, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quỳ Hợp, ConCuông, Đô Lơng, Nghĩa Đàn, Quế Phong
Sau khi đợc thành lập, các TTHTCĐ đã đi vào hoạt động có hiệu quả.Nhiều trung tâm đã làm tốt công tác điều tra nhu cầu, lập kế hoạch và tham
mu, phối hợp, tổ chức mở đợc nhiều lớp học về giáo dục chính trị và phápluật, về chuyển giao khoa học kỹ thuật, về chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, vềvăn hoá giáo dục, đáp ứng nhu cầu ngời học trên các địa bàn
ở Anh Sơn, Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Hội Khuyếnhọc, tham mu cho UBND huyện chỉ đạo đồng bộ, mạnh mẽ, quyết liệt việcxây dựng và phát triển TTHTCĐ Hoạt động của các TTHTCĐ ở đây đạthiệu quả cao
ở Đô Lơng, Phòng Giáo dục đã tham mu để UBND huyện ban hànhvăn bản chỉ đạo các ban ngành, các tổ chức, đoàn thể, các lực l ợng xã hộitrên địa bàn đa các chơng trình, dự án về triển khai ở các TTHTCĐ Chính vìvậy, đến nay, các TTHTCĐ đã mở đợc 118 lớp với 232 buổi cho 57.463 lợtngời học các chuyên đề về thời sự, đờng lối, chủ trơng, chính sách, phápluật của Đảng và nhà nớc; 81 lớp với 471 buổi cho 18332 lợt ngời học cácchuyên đề về chuyển giao khoa học kỹ thuật, sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt;
51 lớp với 155 buổi cho 9.783 ngời học các chuyên đề về những kiến thứcnâng cao chất lợng cuộc sống,
Một số TTHTCĐ ở Nam Đàn, Hng Nguyên, Vinh, Cửa Lò, Quỳnh Lu,Nghi Lộc, Thanh Chơng, Quế Phong, hoạt động cũng rất hiệu quả đem lạinhiều lợi ích thiết thực cho ngời học
Tính đến Tính đến hết tháng 3-2007, toàn tỉnh đã mở đợc gần 37.574 buổi cho
902.767 số lợt ngời tham gia các lớp bồi dỡng các chuyên đề; trong đó:
+ Nhóm thời sự, chính sách pháp luật: 506.452 lợt ngời+ Nhóm khoa học công nghệ: 219372 lợt ngời
+ Nhóm nâng cao chất lợng cuộc sống: 136.317 lợt ngời+ Nhóm văn hoá giáo dục: 40.626 lợt ngời
Hoạt động có hiệu quả của TTHTCĐ đã đem đến cho ngời lao độngnhận thức mới, có hành động tích cực góp phần nâng cao chất lợng cuộcsống, chất lợng nguồn nhân lực