Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta chỉ rõ “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình mở - mô hình xã hộihọc tập, với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liê
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa họccông nghệ thì lượng kiến thức trong nhà trường đem lại cho người học trởnên quá ít ỏi và chóng lạc hậu Các quốc gia trên thế giới đang tích cựcchuyển đổi hệ thống giáo dục, chương trình và phương pháp giáo dục nhằmxóa bỏ mọi ngăn cách trong các nhà trường, hướng đến một xã hội học tậpthực sự Chính vì vậy, giáo dục thường xuyên, giáo dục suốt đời đã trởthành xu thế chủ đạo của giáo dục thế kỷ XXI
Để rút ngắn khoảng cách kinh tế giữa nước ta với các nước pháttriển, thực hiện thành công CNH - HĐH đất nước, Đảng ta coi “con ngườivừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển” Nghị quyết Hội nghịBCHTW lần 2 khóa VIII khẳng định: “Muốn tiến hành CNH - HĐH thắnglợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người,yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững”
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta chỉ rõ
“Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình mở - mô hình xã hộihọc tập, với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa cácbậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người
và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tậpthường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, đảmbảo công bằng xã hội trong giáo dục” [19 tr 95]
Trung tâm Học tập cộng đồng là mô hình giáo dục mới, ngoài nhàtrường, được xây dựng trên địa bàn xã, phường, thị trấn, thỏa mãn nhu cầuhọc tập suốt đời của người dân trong cộng đồng Phát triển mô hìnhTTHTCĐ là một xu thế tất yếu nhằm thực hiện các chương trình xóa mù
Trang 2chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, cập nhật kiến thức chuyển giaoKHCN cho người dân và đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương, đáp ứngmục tiêu xây dựng xã hội học tập
Ngày 18/5/2005, Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định phê duyệt
Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005- 2010” nhằm xây dựng cảnước trở thành một xã hội học tập, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người ởmọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên, học liên tục, họcsuốt đời, ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ Một trong những nhiệm
vụ chủ yếu để thực hiện đề án là phát triển bền vững và nhân rộng mô hìnhTrung tâm học tập cộng đồng trên các địa bàn xã, phường, thị trấn
Việc triển khai xây dựng các TTHTCĐ ở Nghệ An tuy có chậm hơn
so với cả nước, nhưng tốc độ phát triển nhanh và khá vững chắc Đến nay
đã có 479/479 xã, phường, thị trấn có TTHTCĐ, đạt tỉ lệ 100%; trong đónhiều trung tâm hoạt động đúng hướng, có hiệu quả góp phần nâng cao dântrí, nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế xã hội ở địaphương
Nghĩa Đàn là một huyện miền núi nghèo, nằm phía Tây Bắc tỉnhNghệ An, có diện tích tự nhiên 61.754 ha, với dân số hơn 132.000 người;
308 thôn, bản thuộc 24 xã; trong đó khoảng 1/3 dân số là đồng bào dân tộc
ít người, có 9 xã đặc biệt khó khăn và hơn một nửa số xã có xóm, bản đặcbiệt khó khăn; cơ sở vật chất chưa phát triển, điểm xuất phát thấp, tỷ lệ hộnghèo cao, đời sống nhân nhân nhìn chung còn thấp Để nâng cao dân trí,đào tạo nguồn nhân lực góp phần phát triển kinh tế huyện nhà là việc làm cấpbách trong giai đoạn hiện nay Riêng trong lĩnh vực giáo dục, đi đôi với việcnâng cao chất lượng toàn diện, đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình,phương pháp giáo dục phổ thông, Nghĩa Đàn đã chú trọng xây dựng, pháttriển các trung tâm học tập cộng đồng trên các địa bàn xã Mặc dù ra đời
Trang 3muộn nhưng phát triển nhanh về mặt số lượng, 100% các xã đều cóTTHTCĐ; một số trung tâm đã đi vào hoạt động có hiệu quả cho thấy sựcần thiết của mô hình giáo dục này
Trong báo cáo chính trị của BCH huyện Đảng bộ Nghĩa Đàn tại Đạihội khóa XXVII (Nhiệm kỳ 2010- 2015) một lần nữa khẳng định “ Xâydựng và nâng cao chất lượng hoạt động của TTHTCĐ là một trong nhữngnhiệm vụ để phát triển kinh tế xã hội của địa phương” [19]
Bên cạnh những kết quả đạt được, trong quá trình xây dựng và pháttriển TTHTCĐ ở Nghĩa Đàn vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, yếu kém trongkhâu tổ chức, quản lý Vì vậy, chất lượng và hiệu quả hoạt động của cáctrung tâm này chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xãhội
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của địa phương và để trở lại phục vụ
thực tiễn, tôi chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động các Trung tâm học tập cộng đồng huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An” để
nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của cácTTHTCĐ huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An nhằm đáp ứng yêu cầu xâydựng XHHT, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Những hoạt động của các Trung tâm THTCĐ huyện Nghĩa Đàn, tỉnhNghệ An
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐhuyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Trang 44 Giả thuyết khoa học
Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐ huyện Nghĩa Đàn
sẽ đạt kết quả cao hơn, nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp mangtính chất hệ thống, phù hợp với thực tiễn dựa trên những đặc trưng củaTTHTCĐ và đặc điểm kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa, thực tiễn giáodục của huyện Nghĩa Đàn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề quản lý TTHTCĐ
5.2 Đánh giá thực trạng tổ chức quản lý, hiệu quả hoạt động cácTTHTCĐ huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
5.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cácTTHTCĐ huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
5.4 Tổ chức khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giảipháp đã đề xuất
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
+) Nghiên cứu tài liệu;
+) Phân tích tổng hợp;
+) So sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+) Khảo sát, điều tra qua hệ thống phiếu hỏi và phỏng vấn trực tiếp +) Phương pháp chuyên gia
+) Tổng kết kinh nghiệm
6.3 Phương pháp khảo sát
6.4 Phương pháp phân tích định lượng và định tính
Các phương pháp trên để xây dựng cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn của
đề tài và đánh giá các giải pháp đã đề xuất, góp phần nâng cao chất lượng,hiệu quả hoạt động các TTHTCĐ huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
Trang 57 Những đóng góp chủ yếu của luận văn
7.1 Phân tích, khái quát hóa một số cơ sở lý luận cơ bản về hoạtđộng của TTHTCĐ
7.2 Đánh giá thực trạng hoạt động của các TTHTCĐ huyện NghĩaĐàn, tỉnh Nghệ An
7.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cácTTHTCĐ huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm 3chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt độngTTHTCĐ
Chương 2: Cơ sở thực tiễn hoạt động của các TTHTCĐ huyện NghĩaĐàn, tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cácTTHTCĐ huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ an
Trang 6Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu về TTHTCĐ ở nước ngoài
Hiện nay, tại các nước đang phát triển trong khu vực Châu Á- TháiBình Dương đang rất quan tâm đến vấn đề xây dựng và mở rộng mạng lướiGDTX và tìm kiếm các giải pháp nâng cao hoạt động của các mô hình họctập tại các làng, xã tạo cơ hội cho mọi người được học tập, được tiếp cậnvới KHCN; đặc biệt là đối với những nhóm đối tượng thiệt thòi như: người
mù chữ, người mới biết chữ, phụ nữ, trẻ em thuộc các dân tộc ít người sống
ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo
Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò của các TTHTCĐ đối vớiviệc tạo cơ hội học tập cho mọi người, góp phần nâng cao chất lượng cuộcsống cho người dân, phát triển kinh tế xã hội, tổ chức UNESCO đã tổ chứcnhiều cuộc hội thảo bàn về vấn đề xây dựng và phát triển các TTHTCĐnhằm thể chế hóa cũng như tìm các giải pháp để phát triển mô hình giáodục này Trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, Nhật Bản và Thái Lan
là hai nước tiêu biểu cho hoạt động của các TTHTCĐ
+ Nhật Bản là một trong những nước có lịch sử lâu đời về giáo dụckhông chính quy Từ khoảng thế kỷ 17 đã xuất hiện các mô hình học tậpTERAKOYA mở tại các thôn, xã dành cho con em những người bình dân;hoạt động của các trung tâm TERAKOYA đã góp phần đáng kể cho sựphát triển kinh tế xã hội Nhật Bản trong thời kỳ CNH Sau thế chiến thứ II,Nhật Bản gọi TTHTCĐ là KOMINKAN; hoạt động của các trung tâm họctập này có liên quan sâu sắc đến việc xây dựng đất nước sau chiến tranh
Trang 7Nhật Bản vốn có hai bộ phận của nền giáo dục là: giáo dục nhà trường bao gồm tất cả các cơ sở giáo dục chính quy, từ bậc mẫu giáo đến
bậc trên đại học và các cơ sở giáo dục dành cho thanh niên đang làm việc;
còn giáo dục xã hội là giáo dục ngoài nhà trường, gắn với giáo dục người
lớn và tạo điều kiện cho thanh thiếu niên học nhà trường chính quy tiếpnhận giáo dục bổ sung từ môi trường xã hội
Từ đầu thế kỷ 21, Nhật Bản đã chú trọng phối hợp cả ba hình thứcgiáo dục chính quy, không chính quy và phi chính quy; huy động các lựclượng xã hội và cá nhân tham gia hệ thông giáo dục xã hội Người Nhậtcho rằng sống ở thế kỷ 21 phải tạo ra môi trường xã hội năng động, phongphú trên cơ sở một XHHT và học tập suốt đời, một cơ cấu xã hội trong đómọi người có thể tự do lựa chọn cho mình cơ hội học tập vào thời điểmtrong cuộc đời mà mình cho là thích hợp
Các TTHTCĐ ở Nhật luôn nhận được quan tâm thường xuyên củanhà nước, mỗi năm một TTHTCĐ được hỗ trợ trên 7.000 USD để hoạtđộng
Sơ đồ 1.1 Hệ thống quản lý TTHTCĐ ở Nhật Bản
Bộ Giáo dục- Khoa học-
Thể thao và công nghệ Luật Giáo dục - Xã hội
Chính quyền quận/ huyện
Hội đồng giáo dục quận/
huyện
Người học
Trang 8+ Ở Thái Lan, từ năm 1998 đã bắt đầu triển khai mạnh mẽ việc thànhlập các TTHTCĐ nhằm thực hiện giáo dục cơ bản (xóa mù chữ, sau xóa
mù chữ), huấn luyện kỹ năng nghề nghiệp ngắn ngày và thông tin tư vấncho mọi người dân Chỉ trong khoảng thời gian gần hai năm, Thái Lan đãthành lập được 5.868 TTHTCĐ/7.255 xã, phường, chiểm tỉ lệ 80%
Ngân sách hàng năm dành cho hoạt động GDTX khoảng 88 triệuUSD, ngoài ra nguồn đóng góp từ tư nhân chiếm khoảng 10% ngân sáchnhà nước
Các TTHTCĐ Thái Lan được điều hành và hoạt động theo cácnguyên tắc:
- TTHTCĐ là của dân, do dân và vì dân Người đứng đầu trung tâmphải có định hướng cụ thể để phát triển TT, đảm bảo mọi người đều có cơhội học tập
- TTHTCĐ hoạt động theo cơ chế “mở”, mọi người dân trong cộngđồng có thể đến học bất cứ lúc nào
- TTHTCĐ phải trở thành cầu nối thông tin giữa mọi người, gắnđược việc học chữ với việc thực hành trong đời sống hàng ngày
- TTHTCĐ phải có mạng lưới liên kết với các cơ sở giáo dục, với tổchức xã hội, các cơ sở sản xuất và các chuyên gia trên các lĩnh vực
Trong công tác quản lý TTHTCĐ, Thái Lan thực hiện chính sáchnhư sau:
- Sử dụng TTHTCĐ như một công cụ quan trọng để điều hành và tổchức hoạt động chung của cộng đồng
- Sử dụng tối đa nguồn lực và kinh nghiệm quản lý của cộng đồng
- Kết hợp chặt chẽ các chương trình giáo dục với truyền thống vànhu cầu thực tế của cộng đồng
- Cho phép mọi người trong cộng đồng sở hữu và đánh giá chấtlượng, hiệu quả hoạt động của trung tâm
- Phân công ít nhất một giáo viên tham gia quản lý các chương trìnhgiáo dục của trung tâm
Trang 9Sơ đồ 1.2 Mô hình liên kết của TTHTCĐ Thái Lan
+ Ở các nước: Lào, Campuchia, Trung Quốc, Inđônesia, Malaysia,Mông Cổ, Miến Điện, Nepal, Pakista cũng đang quan tâm đến việc xâydựng TTHTCĐ Tổ chức UNESCO đang khuyến khích, thuyết phục cácchính phủ nhân rộng mô hình TTHTCĐ nhằm tạo cơ hội học tập cho tất cảmọi người, tiến tới xây dựng xã hội học tập trong thế kỷ 21, khi công cuộcxóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cơ bản đã hoàn thành
1.1.2 Các nghiên cứu về TTHTCĐ ở Việt Nam
Năm 1997, Hiệp hội quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản thôngqua Hội giáo dục người lớn Việt Nam giúp xây dựng 01 TTHTCĐ; đếnnăm 1998 tiếp tục xây dựng thử nghiệm 04 TTHTCĐ tại bốn tỉnh HòaBình, Điện Biên, Thái Bình, Bắc Giang Qua thử nghiệm các TTHTCĐ đã
có tác dụng to lớn trong việc nâng cao đời sống tinh thần và vật chất chongười lao động Đến năm 2000 Việt Nam cơ bản hoàn thành xóa mù chữ vàphổ cập GDTH nên đã khẩn trương xây dựng, phát triển các TTHTCĐ;hiện nay cả nước ta có 10.428 TTHTCĐ chiếm tỉ lệ 97,6%
Trung tâm nguồn (Cấp vùng)
TTHTCĐ
TTGDTX cấp huyện
Các giáo viên,
cộng tác viên
Các chuyên gia
Các thành viên trong cộng đồng Các cơ sở liên kết khác
Các cơ sở GD tại cộng đồng
Các tổ chức xã hội
Trang 10Vấn đề nghiên cứu về tổ chức, quản lý TTHTCĐ ở Việt Nam mớiđược quan tâm nghiên cứu trong khoảng mười năm trở lại đây Một số đềtài cấp Bộ, luận văn Thạc sĩ, các bài báo đã làm rõ được một số vấn đề lýluận và thực tiễn của TTHTCĐ như: Vị trí của TTHTCĐ trong hệ thốnggiáo dục quốc dân nói chung và hệ thống GDTX nói riêng; vai trò củaTTHTCĐ đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa-
xã hội ở địa phương; chức năng của TTHTCĐ; công tác quản lý TTHTCĐ;
đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động củacác TTHTCĐ
Hội Khuyến học Việt Nam trong thời gian vừa qua đã đi đầu trongviệc quán triệt chủ trương của Đảng và Nhà nước, triển khai các đề tàinghiên cứu, tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học về xây dựng XHHT vàphát triển TTHTCĐ ở Việt Nam Từ những hoạt động đó Hội Khuyến học
đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết nhiều vấn đề lý luận và thựctiễn mấu chốt trong xây dựng XHHT nói chung, quản lý Trung tâm HTCĐnói riêng
Tại Nghệ An, tác giả Nguyễn Xuân Đường với đề tài “Giải phápquản lý TTHTCĐ ở Nghệ An” đã trình bày khá hệ thống những kết quảnghiên cứu về TTHTCĐ cả phương diện lý luận và thực tiễn Về lý luận,tác giả đã làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài như: Giáo dục chínhquy, giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy, GDTX, giáo dụccho mọi người, XHHT, giáo dục cộng đồng, TTHTCĐ, giải pháp quản lýTTHTCĐ Về thực tiễn, tác giả đã điều tra, khảo sát chất lượng hoạt độngcủa các TTHTCĐ tại Nghệ An và đề xuất các giải pháp để quản lýTTHTCĐ
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Giáo dục thường xuyên
Trang 11Theo Từ điển giáo dục học: “GDTX là hình thức giáo dục theophương thức không chính quy nhằm giúp mọi người được học liên tục, suốtđời để mở rộng kiến thức, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp
vụ nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đờisống xã hội” [tr 162]
Luật Giáo dục năm 2005 đã xác định, hệ thống giáo dục bao gồmGDCQ và GDTX GDTX là hình thức giáo dục theo phương thức khôngchính quy nhằm “giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốtđời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ họcvấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việclàm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống xã hội” [7, tr 14]
1.2.2 Giáo dục cộng đồng
Giáo dục cộng đồng là phương thức giáo dục thường xuyên do ngườidân trong cộng đồng (xã, phường, thị trấn) tự tổ chức, nhằm đáp ứng nhucầu học tập của những người không đủ điều kiện theo học các trường lớpgiáo dục chính quy Cơ sở giáo dục cộng đồng thực hiện nhiều chức năngkhác nhau, trong đó quan trọng nhất là chức năng thông tin, tư vấn, truyền
bá, phổ cập những nội dung thiết thực nhất, phù hợp nhất với từng loại đốitượng người học, với những điều kiện, hoàn cảnh của từng địa phương,từng cộng đồng dân cư GDCĐ mang tính tự nguyện cao, nhưng cần có sựquan tâm giúp đỡ thường xuyên của cấp ủy Đảng, chính quyền, ban ngành,
và đoàn thể cơ sở; đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ với các cơ sở giáo dụcchính quy tại địa phương
1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng
Trung tâm học tập cộng đồng là mô hình giáo dục mới, ngoài nhàtrường, được xây dựng trên địa bàn xã, phường, thị trấn, nhằm thỏa mãnnhu cầu học tập suốt đời của người dân trong cộng đồng Phát triển mô
Trang 12hình TTHTCĐ là một xu thế tất yếu nhằm thực hiện các chương trình xóa
mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, cập nhật kiến thức chuyển giaoKHCN cho người dân và đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương, đáp ứngmục tiêu xây dựng xã hội học tập
Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phường, thịtrấn ban hành kèm theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT, ngày24/3/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT thì: “TTHTCĐ là cơ sở GDTX trong
hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tự chủ của cộng đồng cấp
xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thời phát huy mạnh mẽ sựtham gia, đóng góp của nhân dân trong cộng đồng dân cư để xây dựng vàphát triển các trung tâm theo cơ chế nhà nước và nhân dân cùng làm”
đề Tuy nhiên điểm khác nhau giữa các khái niệm là: Biện pháp chủ yếunhấn mạnh đến cách làm, cách hành động cụ thể; phương pháp nhấn mạnhđến trình tự các bước có quan hệ với nhau để tiến hành một công việc cómục đích; còn giải pháp là nhấn mạnh đến phương pháp giải quyết một vấn
đề, với sự khắc phục những khó khăn nhất định Trong một giải pháp có thể
có nhiều biện pháp Như vậy phương pháp và biện pháp có thể xem là nộihàm của giải pháp
1.2.5 Hiệu quả
Theo Từ điển tiếng Việt “Hiệu quả là cho kết quả rõ rệt” [14, tr 258]
Trang 13Để hiểu rõ hơn khái niệm hiệu quả ta cần phân biệt nó với khái niệmchất lượng Theo Từ điển tiếng Việt (1992) “Chất lượng là cái tạo nênphẩm chất, giá trị của một con người, một sự vật, sự việc” [tr 155]; mộtđịnh nghĩa khác cho rằng “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” Điểmgiống nhau của khái niệm hiệu quả và khái niệm chất lượng đều là nói đếnkết quả đạt được của sự việc đó Tuy nhiên khái niệm chất lượng mang tínhtrừu tượng hơn, đa nghĩa hơn; còn khái niệm hiệu quả là nói đến một kếtquả “đo” được, nhìn thấy rõ rệt.
1.2.6 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động có thể được hiểu rằng: Khi sửdụng đồng bộ các phương pháp có tính ưu việt tác động nhằm làm thay đổi,chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng thái nhất định thì kếtquả đạt được của công việc được nâng lên một cách rõ rệt, cao hơn nhiều
so với trước
1.3 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
1.3.1 Quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về phát triển các hình thức giáo dục cộng đồng, xây dựng xã hội học tập
Lý luận Mac- Lênin coi giáo dục có vai trò quan trọng trong cáchmạng xã hội chủ nghĩa Giáo dục vừa là mục đích, vừa là sức mạnh củakinh tế; đây là bộ phận chủ yếu của đời sống văn hoá tinh thần, lại là nhân
tố quan trọng góp phần thúc đẩy sản xuất, nâng cao năng suất lao động
Vấn đề lý luận này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện sinhđộng và phát triển sáng tạo trong tiến trình cách mạng của nước ta Ngaysau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời (tháng 9/1945) Hồ Chủtịch đã nêu ra mục tiêu của chế độ mới là làm cho mọi người “Ai cũng cócơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” Trong phiên họp đầu tiên, Chínhphủ lâm thời đã ra lời kêu gọi chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm
Trang 14Chỉ sau đó 6 ngày, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh thành lập Nha bình dânhọc vụ lo việc học tập cho toàn dân nhờ đó phong trào Bình dân học vụphát triển nhanh chóng trên toàn quốc
Thực tế đã chứng minh rằng, một xã hội muốn phát triển được vàmuốn phát triển ổn định, bền vững thì sự phát triển đồng đều là đặc biệtquan trọng, đương nhiên sự phát triển đồng đều không phải là bình quânhay cào bằng Trong lĩnh vực giáo dục, sự phát triển đồng đều càng có vaitrò quan trọng trong ổn định và phát triển xã hội Đó chính là cơ sở để Chủtịch Hồ Chí Minh kiến tạo và xây dựng một nền giáo dục toàn dân Ngườinói: không phân biệt già, trẻ, gái, trai, cứ là người Việt Nam thì phải thamgia học tập, tham gia xóa nạn mù chữ Theo thống kê chưa thật đầy đủ thì
từ năm 1954 đến năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có hơn 700 lần đithăm các cơ sở từ ở Trung ương và địa phương, có thể nói ở bất kỳ đâu vàđối tượng nào, Người cũng căn dặn phải học tập để nâng cao trình độ, đểhiểu biết được nhiều và phục vụ được tốt Nói với học sinh, thanh niên,Người càng nhấn mạnh hơn nhiệm vụ học tập và khẳng định rằng “chỉ cókhông ngừng học tập thì mới tiến bộ mãi” Đến thăm các thầy giáo, Ngườicũng không quên nhắc nhở “phải không ngừng học tập để bồi bổ kiến thức
mà dạy cho học sinh ngày càng một tốt hơn” Chỉ có xây dựng được một
“xã hội học tập” thì mới thực hiện được vấn đề “học tập suốt đời” và ngượclại, mỗi con người Việt Nam, mỗi công dân Việt Nam có lấy học tập làmmục đích, là công việc suốt đời thì mới đóng góp được vào việc xây dựngmột xã hội học tập
Quan điểm xây dựng một xã hội học tập và học tập suốt đời của Chủtịch Hồ Chí Minh là một quan điểm giáo dục rất hiện đại Để đáp ứng nhucầu học tập của nhân dân, kế thừa và phát huy thành tựu của phong tràoBình dân học vụ, bổ túc văn hóa, đào tạo tại chức, hàm thụ ra đời
Trang 15Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III (1960) đã chỉ rõ: Phải đào tạo
và bồi dưỡng với quy mô lớn những cán bộ xây dựng kinh tế và công nhânlành nghề, phương thức đào tạo là vừa đào tạo tập trung, vừa đào tạo tạichức Cần sử dụng rộng rãi các hình thức học buổi tối, học hàm thụ và mởlớp tại các cơ sở sản xuất
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) tiếp tục nhấn mạnh: Phảitích cực xây dựng hệ thống đào tạo, bồi dưỡng tại chức với nhiều hình thứchọc tập bảo đảm cho mọi người lao động đều có thể suốt đời tham gia họctập, trau dồi nghề nghiệp và mở rộng kiến thức
Bước vào những năm cuối của thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, nước tachuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơchế thị trường định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước Trong thời
kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương về phát triển giáodục- đào tạo, điều đó được thể hiện qua các Nghị quyết của Đảng, chínhsách của Nhà nước, Luật Giáo dục, các Nghị định, Chỉ thị, Đề án
Nghị quyết TW 4 khóa VII đã khẳng định: Cần phải thực hiện mộtnền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời làquyền lợi và trách nhiệm của mỗi công dân Đổi mới giáo dục bổ túc vàđào tạo tại chức, khuyến khích phát triển các loại hình giáo dục- đào tạokhông chính quy, khuyến khích tự học
Nghị quyết TW 2 khóa VIII lại nêu: Giáo dục- Đào tạo là sự nghiệpcủa toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân, mọi người đi học, họcthường xuyên, học suốt đời; Mở rộng các hình thức học thường xuyên, đặcbiệt là hình thức học từ xa
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX tiếp tục nhấn mạnh: “Đẩy mạnhphong trào học tập trong nhân dân ”, thực hiện “Giáo dục cho mọi người”
và “Cả nước trở thành một xã hội học tập”
Trang 16Kết luận Hội nghị TW 6 khóa IX chỉ rõ: Thực hiện chương trình giáodục cho mọi người, phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức họctập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế đời sống kinh tế-
xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời,hướng tới xã hội học tập
Hội nghị TW 7 khóa IX đã chủ trương tiến hành cuộc vận động
“Toàn dân xây dựng phong trào cả nước trở thành một xã hội học tập, họctập suốt đời”
Văn kiện Đại hội X của Đảng nêu rõ “Phấn đấu xây dựng nền giáodục hiện đại của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội họctập cho mọi người, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời,đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH đất nước phát triển rộng khắp và nâng caochất lượng các Trung tâm Học tập cộng đồng”[18, tr 208]
Chỉ thi số 11-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa X) đã nêu: Quán triệtNghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X về “chuyển dần mô hìnhgiáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mới - mô hình xã hội học tập” và
tư tưởng Hồ Chí Minh về học tập suốt đời nhằm nâng cao dân trí, đào tạonguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp CNH- HĐH đấtnước, nhất là trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nềnkinh tế thế giới ”
Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 được Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt (12/2001) đã chỉ rõ quan điểm: Giáo dục là sự nghiệp củaĐảng, Nhà nước và của toàn dân; xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiệncho mọi người, ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường xuyên,suốt đời
Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn
Trang 172005- 2010”, “Phát triển bền vững và nhân rộng mô hình trung tâm học tậpcộng đồng trên các địa bàn xã, phường, thị trấn trong cả nước nhằm thựchiện các chương trình xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ và cácchương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu của người học trong cộng đồng dân
cư Trên cơ sở tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm, chỉ đạo điểm về môhình trung tâm học tập cộng đồng hiện có; xây dựng và ban hành quy định
về mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, cơ chế hoạt động của mô hìnhnày để nhân rộng trên phạm vi cả nước”[12]
Luật Giáo dục (2005) tại khoản 1, điều 4 quy định: “Hệ thống giáodục Quốc dân bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên”;điều 44 quy định: “Giáo dục thường xuyên giúp mọi người vừa làm, vừahọc, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểubiết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ để cải thiện chấtlượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghi với đời sống
xã hội”[7]
Ngày 24/3/2008 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ký Quyết định số09/2008/QĐ-BGDĐT về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động củaTTHTCĐ tại xã, phường, thị trấn Đây là cơ sở pháp lý quan trọng giúp cácđịa phương trong quá trình xây dựng và phát triển TTHTCĐ
Căn cứ vào Quyết định số 112/2005/QĐ-TTg ngày 18/5/2005 củaThủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tậpgiai đoạn 2005- 2010”, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Nghệ An đã ban hành các vănbản chỉ đạo quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện
Đề án “Xây dựng xã hội học tập”:
- Quyết định số 4254/QĐ-UBND.VX ngày 9/11/2006 của UBNDtỉnh Nghệ An về việc phê duyệt Kế hoạch “Xây dựng xã hội học tập” ởNghệ An giai đoạn 2005- 2010
Trang 18- Kế hoạch số 571/KH- TGTU ngày 21/6/2007 của Ban Tuyên giáoTỉnh ủy về việc thực hiện Chỉ thị 11/CT-TW của Bộ Chính trị về “Tăngcường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xâydựng xã hội học tập”.
- Quyết định số 3728/2007/QĐ-UBND.VX ngày 27/9/2007 củaUBND tỉnh Nghệ An về việc hỗ trợ kinh phí thường xuyên hàng năm chohoạt động của Hội khuyến học cấp huyện, cấp xã và các TTHTCĐ
- Chỉ thị số 17/2008/CT-UBND.VX ngày 11/7/2008 của UBND tỉnhNghệ An về việc đẩy mạnh phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng
xã hội học tập
- Công văn số 8138/UBND ngày 8/12/2008 của UBND tỉnh Nghệ
An về việc bố trí 01 biên chế phụ trách TTHTCĐ và Văn phòng Hộikhuyến học ở các huyện, thành, thị
- Quyết định số 3779/2009/QĐ-UBND.VX ngày 5/8/2009 củaUBND tỉnh về việc quy định mức chi phụ cấp kiêm nhiệm cho cán bộ thamgia quản lý TTHTCĐ
Bên cạnh đó Sở GD&ĐT Nghệ An là cơ quan quản lý trực tiếp vềchuyên môn của các TTHTCĐ, hàng năm đã kịp thời ban hành các văn bảnchỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ xây dựng XHHT, phát triển cácTTHTCĐ; tiêu chí đánh giá xếp loại các TTHTCĐ
Trong Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ huyện NghĩaĐàn khóa XXVI trình Đại hội lần thứ XXVII (Nhiệm kỳ 2010- 2015)khẳng định: “Xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâmgiáo dục thường xuyên huyện và Trung tâm học tập cộng đồng ở các xã lànhiệm vụ quan trọng” [19]
Trang 191.3.2 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của TTHTCĐ
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của TTHTCĐ được quy định cụ thểtrong Quy chế tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phường, thị trấn(Ban hành kèm theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BGDĐT ngày 24/3/2008của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT) như sau:
1.3.2.1 Vị trí của TTHTCĐ
Được quy định tại khoản 1 điều 2, chương I của Quy chế: TTHTCĐ
là cơ sở GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm học tập tựchủ của cộng đồng cấp xã, có sự quản lý, hỗ trợ của Nhà nước; đồng thờiphải phát huy mạnh mẽ sự tham gia, đóng góp của nhân dân trong cộngđồng dân cư để xây dựng và phát triển các trung tâm theo cơ chế Nhà nước
và nhân dân cùng làm
Như vậy, TTHTCĐ thuộc hệ thống GDTX, giáo dục không chínhquy Tuy TTHTCĐ là của cộng đồng, do cộng đồng, được thành lập trênđịa bàn xã, phường, thị trấn nhưng phải chịu sự quản lý về chuyên môn của
Sở GD&ĐT; TTHTCĐ phải căn cứ vào nội dung, chương trình do BộGD&ĐT quy định để lập kế hoạch chương trình GDTX cho cộng đồng;TTHTCĐ chịu sự giám sát, kiểm tra của Phòng GD&ĐT huyện và sự tưvấn, giúp đỡ về chuyên môn của TTGDTX huyện
1.3.2.2 Chức năng của TTHTCĐ
Được quy định tại điều 3, chương I của Quy chế: Hoạt động củaTTHTCĐ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người ở mọi lứa tuổi đượchọc tập thường xuyên, học tập suốt đời; được phổ biến kiến thức và sángkiến kinh nghiệm trong sản xuất và cuộc sống góp phần xóa đói giảmnghèo, tăng năng suất lao động, giải quyết việc làm; là nơi thực hiện việcphổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật đến với mọi người dân
Như vậy, TTHTCĐ phải thực hiện được 4 chức năng cơ bản sau:
Trang 20- Chức năng giáo dục: Là chức năng quan trọng nhất của TTHTCĐ.TTHTCĐ phải là nơi để người dân trong cộng đồng được tham gia học tậpsuốt đời; họ có thể học bất cứ lúc nào họ muốn, học những điều cần thiếtcho cuộc sống, cho lao động sản xuất; TTHTCĐ phải thực hiện cácchương trình xóa mù chữ, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ
- Chức năng thông tin, tư vấn: TTHTCĐ còn là nơi để người dân cóthể tìm hiểu về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật củaNhà nước; được tư vấn từ kinh nghiệm sản xuất đến kinh doanh, thị trườnghàng hóa; từ sức khỏe đến tâm lý, cuộc sống gia đình Đặc biệt ở các vùngsâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người, nơi chưa có điều kiện pháttriển thì chức năng này càng phải được thực hiện tốt hơn
- Chức năng phát triển cộng đồng: TTHTCĐ là của cộng đồng nênchỉ có thể tồn tại và phát triển nếu như biết dựa vào cộng đồng, biết pháthuy sự tham gia và quyền làm chủ của cộng đồng Vì vậy, ngoài chức nănggiáo dục, chức năng thông tin- tư vấn TTHTCĐ phải còn là nơi tổ chức cácsinh hoạt tập thể như: Văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao; là nơi lưutruyền bản sắc văn hóa dân tộc; tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề gópphần nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng cuộc sống để thu hút người dântham gia nhiều hơn
- Chức năng liên kết, phối hợp: TTHTCĐ muốn hoạt động có hiệuquả thì phải tăng cường liên kết, phối hợp với các tổ chức chính trị, các cơ
sở sản xuất để tranh thủ được nguồn lực (vật lực, tài lực ) để duy trì bềnvững hoạt động của mình và tranh thủ được sự chỉ đạo của các cấp lãnhđạo, phát huy được quyền làm chủ của nhân dân
1.3.2.3 Nhiệm vụ của TTHTCĐ
Được quy định tại điều 4, chương I như sau:
1 Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác xóa mù chữ và giáo dụctiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập giáo dục; tăng cường
Trang 21công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức nhằm mở rộng hiểu biết, nângcao nhận thức và cải thiện chất lượng cuộc sống của nhân dân trong cộngđồng; phối hợp triển khai các chương trình khuyến nông, khuyến công,khuyến ngư và các dự án, chương trình tại địa phương.
2 Tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa, văn nghệ, thể dục thểthao, đọc sách báo, tư vấn khuyến học, giáo dục con em nhân dân địaphương, phòng chống tệ nạn xã hội
3 Điều tra nhu cầu học tập của cộng đồng, xây dựng nội dung vàhình thức học tập phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nhóm đối tượng
4 Quản lý tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị của trung tâm theoquy định của pháp luật
1.3.3 Công tác tổ chức và quản lý hoạt động TTHTCĐ
Quy chế tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phường, thị trấnban hành kèm theo Quyết định số 09/2009/QĐ-BGDĐT ngày 24/3/2008của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã chỉ rõ:
* Công tác tổ chức:
+ Việc thành lập TTHTCĐ phải phù hợp với quy hoạch, đáp ứngđược nhu cầu học tập của cộng đồng
+ Có địa điểm đặt tại UBND các xã, phường, thị trấn
+ Có Quyết định thành lập của Chủ tịch UBND huyện
+ Bộ máy Ban quản lý TTHTCĐ có cơ cấu đủ số lượng 3 thành viên:
- Giám đốc TTHTCĐ chủ yếu là một đồng chí trong lãnh đạo UBND
xã kiêm nhiệm, là Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND xã, hoặc Phó Bí thưĐảng ủy xã, phường, thị trấn
- Phó giám đốc TTHTCĐ là Hiệu trưởng trường tiểu học hoặc THCS
và một Phó giám đốc nữa thường là Phó Chủ tịch Hội Khuyến học của xã
* Công tác quản lý hoạt động TTHTCĐ gồm có:
Trang 22+ Công tác quản lý hồ sơ
+ Công tác tham mưu, phối hợp
Tham mưu với Cấp ủy Đảng, Chính quyền về việc tổ chức và hoạtđộng của TTHTCĐ, tranh thủ sự hỗ trợ của các ban ngành, các tổ chứcchính trị xã hội như: Hội khuyến học, thanh niên, phụ nữ, hội phụ huynhhọc sinh xây dựng và tổ chức hoạt động của TTHTCĐ có chất lượng vàhiệu quả
+ Công tác xây dựng đội ngũ giáo viên, cộng tác viên
+ Công tác giám sát, đánh giá, báo cáo kế hoạch hoạt động
+ Công tác xây dựng mạng lưới liên kết và tổ chức huy động nguồnlực trong cộng đồng
+ Công tác thi đua, khen thưởng
1.3.4 Vai trò của TTHTCĐ trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực và đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho cộng đồng
1.3.4.1 Vai trò của TTHTCĐ trong việc nâng cao dân trí
+ Nhân loại đang sống trong thế ký 21 với những đặc điểm nổi bật:
- KHKT và công nghệ phát triển như vũ bão, thế giới đang hướngtới cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba là lấy tri thức làm động lực cho
sự phát triển Nền kinh tế tri thức, mà vật tượng trưng là máy tính điện tử lànền kinh tế dựa trên sự khai thác trí tuệ con người; đây là nguồn tài nguyênbất tận, không bao giờ cạn kiệt Trong nền kinh tế này người nào, quốc gianào chiếm hữu được nhiều tri thức thì có nhiều ưu thế trong cạnh tranhtrong phát triển
- Nhân loại đang xích lại gần nhau trong mối quan hệ toàn cầu Mởrộng các mối quan hệ hợp tác quốc tế thực chất là mở rộng nguồn cung cấpnguyên vật liệu, nguồn cung cấp nhân lực và thị trường tiêu thụ sản phẩm
Trang 23Đây vừa là quá trình vừa hợp tác để phát triển, vừa là quá trình đấu tranhgiữa các nước đang phát triển để bảo vệ lợi ích quốc gia
- Hiện nay nhân loại đang chung lưng đấu cật để giải quyết các vấn
đề mang tính toàn cầu như: Chiến tranh và hòa bình, đói nghèo, ô nhiễmmôi trường, các căn bệnh hiểm nghèo
+ Vai trò của TTHTCĐ:
- Trong nền kinh tế tri thức với sự lạc hậu nhanh chóng của thôngtin, sự thay đổi liên tục của công nghệ cho nên bản thân nền kinh tế tri thứcđòi hỏi con người phải học tập thường xuyên, học tập suốt đời để nâng caotrình độ, chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề; tri thức phải được cập nhật liêntục trong suốt cuộc đời lao động của con người Sống trong nền kinh tế trithức đòi hỏi người lao động phải có những phẩm chất: Tính linh hoạt, khảnăng thích nghi, khả năng đáp ứng và khả năng đổi mới nhanh chóng
- Hội nhập kinh tế quốc tế mở ra nhiều triển vọng cho thị trường xuấtkhẩu về nông sản của nước ta, cũng như tạo cơ hội mới về thu hút vốn đầu
tư, tiếp thu công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý là những điều kiện đểnâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong nông nghiệp Tuy nhiên, hộinhập cũng là những thách thức lớn cho nông nghiệp nước ta như sự biếnđộng lớn về giá cả, sự cạnh tranh trên thị trường quốc tế và trong nước Chính vì vậy người dân phải được trang bị kiến thức về tinh thần hội nhập,
về liên doanh, liên kết, về cách thức quản lý mới, về cơ chế thị trường đểbước vào hội nhập một cách tự tin, vững chắc mà không bị hòa tan
- Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN đã giúp nâng cao năng suất laođộng, chất lượng, giá thành sản phẩm, thay đổi cơ cấu sản xuất nôngnghiệp Tuy nhiên, do trình độ KHKT, công nghệ của đa số nông dân cònthấp cộng với nhận thức về cơ chế thị trường của người dân chưa đầy đủ,dẫn đến việc lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, chất kích thích
Trang 24tăng trọng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe cộng đồng, gây ônhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái, làm giảm chất lượng sản phẩm.
Vì thế, cần quan tâm đúng mức đến các nội dung giáo dục quốc tế, giáo dụccon người biết chung sống; người dân cần phải được giáo dục nâng cao ýthức, trách nhiệm với cộng đồng, góp phần làm giảm các vấn đề mang tínhtoàn cầu
Trong bối cảnh của nền kinh tế tri thức và xu thế toàn cầu hóa, việcnâng cao dân trí lại càng có ý nghĩa quan trọng hơn Và dĩ nhiên, việc nângcao dân trí chỉ thực sự mang lại hiệu quả cao khi nó được bắt đầu từ cộngđồng, từ bản thân mỗi người dân trong cộng đồng
- Nước ta mặc dù đã đạt chuẩn quốc gia về chống mù chữ vàPCGDTH từ năm 2000, nhưng trình độ mặt bằng dân trí ở các vùng nôngthôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít người cònthấp; khoảng cách về trình độ phát triển GD- ĐT giữa các vùng miền trong
cả nước chưa được thu hẹp Kinh nghiệm cho thấy muốn giữ vững thànhtựu xóa mù, PCGDTH thì cần phải tiếp tục xóa mù và giáo dục sau khi biếtchữ TTHTCĐ chính là nơi thuận lợi nhất để đáp ứng nhiệm vụ này
1.3.4.2 Vai trò của TTHTCĐ trong việc đào tạo nguồn nhân lực
Nước ta đang tiến hành sự nghiệp CNH - HĐH, trong đó phải nhanhchóng chuyển nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất manh múng, tự cung tựcấp sang nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa Nghĩa là chuyển nềnsản xuất từ thủ công sang máy móc và áp dụng những quy trình, quy phạmsản xuất khoa học
Thực hiện CNH- HĐH đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thúcđẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu, tỉ trọng giữa nông nghiệp, công nghiệp vàdịch vụ Theo đó, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng lên nhanh chóng sẽlàm cho lao động nông nghiệp chuyển sang lao động công nghiệp và dịch
Trang 25vụ Như vậy sẽ tạo được việc làm và thu nhập cho dân cư nông thôn, nângcao trình độ kỹ thuật công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, thu hút sốlượng lớn lao động trong nông nghiệp sang làm công nghiệp, dịch vụ Hộinhập kinh tế còn mở ra nhiều triển vọng cho thị trường nông sản xuất khẩu,cũng như tạo cơ hội thu hút vốn đầu tư, tiếp thu công nghệ, kỹ năng quảnlý là điều kiện để nâng cao năng suất lao động.
Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH- HĐH đất nước thì chúng taphải đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được yêu cầucủa xã hội Có thể khẳng định rằng nền móng của nền nông nghiệp hiện đại
là đòi hỏi phải có nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng vận dụng trithức mới của thời đại vào tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp Thếnhưng lao động nông nghiệp ở nước ta chiếm khoảng hơn 70% lao độngtrong cả nước và hầu như chưa được đào tạo nghề trồng trọt, chăn nuôi, bảoquản chế biến nông lâm hải sản để có thể nâng cao hiệu quả công việccủa mình Với đối tượng này, việc dạy nghề, chuyển giao kinh nghiệm sảnxuất và công nghệ mới không thể tiến hành một cách bài bản trong cáctrường lớp chính quy được mà phải bằng con đường GDTX, thông quanhững mô hình dạy nghề ở các TTHTCĐ dưới các hình thức lớp tập huấnngắn hạn
Thực tiễn cho thấy, trong thời gian qua TTHTCĐ đã góp phần quantrọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho các địa phương
1.3.4.3 Vai trò của TTHTCĐ trong việc đáp ứng nhu cầu học thường xuyên, học suốt đời của cộng đồng
- Sống trong bối cảnh thời đại như hiện nay, con người luôn phải đốimặt với những thách thức về việc làm, sự thay đổi liên tục của CNTT, sức
ép về thời gian, tâm lý, cơ chế thị trường những thách thức đó đòi hỏi conngười phải trang bị cho mình một lượng kiến thức cơ bản để không chỉ
Trang 26thích ứng mà còn phải biết vươn lên chế ngự chúng Như vậy, đòi hỏi conngười phải có tri thức Bản thân nền kinh tế tri thức đòi hỏi mỗi con ngườiphải học tập thường xuyên, học tập suốt đời, nhất là đối với người lớn.
- Việc học tập suốt đời của mỗi người dân nói chung, người dân làmnông nghiệp nói riêng là điều kiện tiên quyết và cũng là lâu dài để xâydựng nền nông nghiệp hiện đại ở nước ta trong sự nghiệp CNH- HĐH, hộinhập kinh tế quốc tế
- Ngày nay, nhu cầu học tập của người lớn không ngừng tăng lên do
sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đang diễn ra theo nhịp độcông nghiệp hóa và sự mở rộng thị trường, hội nhập quốc tế Người lớn đòihỏi những hình thức học tập rất đa dạng để đáp ứng sự phát triển của ngànhnghề Yêu cầu học tập suốt đời cho người lớn là phải cân đối giữa thời gianhọc tập và thời gian lao động; hình thức tổ chức phải linh hoạt, chươngtrình học phải tùy thuộc vào đặc điểm tình hình cụ thể về kinh tế, văn hóa,
xã hội của từng địa phương TTHTCĐ ở mỗi xã, phường, thị trấn là nơithích hợp nhất để người dân tham gia học thường xuyên, học suốt đời
- Hiện nay cả nước đang nỗ lực phấn đấu đạt chuẩn quốc gia vềPCGDTH đúng độ tuổi và phấn đấu đạt chuẩn quốc gia về PCGDTHCStrong thời gian tới, nhưng hiện nay vẫn còn học sinh tiểu học, THCS bỏhọc do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, học sinh có học lực yếu kém, học sinh
xa trường đi lại khó khăn, do thiên tai, dịch bệnh Những trẻ em không đihọc hoặc bỏ học ở những lớp đầu cấp của bậc tiểu học sẽ làm gia tăng tỉ lệngười mù chữ hàng năm Trước tình hình đó thì TTHTCĐ tại các địaphương phải tổ chức được các lớp xóa mù, duy trì các lớp giáo dục tiếp tụcsau khi biết chữ tại các làng, bản; vận động, giúp đỡ những gia đình cóhoàn cảnh khó khăn để con em họ được tiếp tục đến trường Như vậy chỉ
có TTHTCĐ mới có thể đáp ứng được yêu cầu này
Trang 271.3.5 Hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ
+ Hoạt động của TTHTCĐ được đánh giá là có hiệu quả, có chất lượng khi:
- Số lượng người tham gia vào các hoạt động giáo dục theo từng lĩnhvực ngày càng tăng, phát huy được tinh thần làm chủ của người dân trongcộng đồng
- Người dân biết vận dụng các kiến thức KHCN mới được tiếp thu từTTHTCĐ để áp dụng vào sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt góp phần nâng caonăng suất lao động; biết vận dụng kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho bảnthân và gia đình; có ý thức bảo vệ môi trường sống
- Cộng đồng dân cư hiểu biết về chủ trương đường lối của Đảng,chính sách pháp luật của Nhà nước để thực hiện tốt nghĩa vụ của mình;không vi phạm pháp luật, không vi phạm các tệ nạn xã hội góp phần nângcao mặt bằng dân trí
- Duy trì được các lớp xóa mù, giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ;tham gia công tác phổ cập giáo dục tại địa phương góp phần thực hiện mụctiêu quốc gia về PCGDTHCS
- Huy động được nhiều nguồn lực từ chính quyền, các ban ngành,đoàn thể và của các tổ chức kinh doanh, các học viên và từ lòng hảo tâmcủa các cá nhân ngay tại địa phương
- Đời sống vật chất, đời sống tinh thần của người dân được nâng lên
Trang 28tâm chỉ đạo sát sao, biết đưa các Nghị quyết của Đảng và chính sách củaNhà nước vào cuộc sống thì nơi đó phong trào khuyến học, khuyến tài, xâydựng xã hội học tập phát triển mạnh; đặc biệt là hoạt động của cácTTHTCĐ thực sự mang lại hiệu quả.
- Năng lực quản lý, tinh thần trách nhiệm của cán bộ phụ tráchTTHTCĐ
Cán bộ quản lý TTHTCĐ là những người tổ chức, giám sát, điềuhành các hoạt động của trung tâm Đây là nhân tố có ý nghĩa quan trọngnhất quyết định sự phát triển bền vững của TTHTCĐ Bởi vì, TTHTCĐ cóthu hút được đông đảo người dân tham gia hay không, có hấp dẫn haykhông, có khai thác được các nguồn lực từ cộng đồng hay không là phụthuộc vào tài tổ chức, tài lãnh đạo và tinh thần trách nhiệm của cán bộ quản
lý TTHTCĐ
- Tăng cường công tác quản lý chỉ đạo của Sở GD&ĐT; công táckiểm tra, giám sát, đánh giá xếp loại của phòng GD&ĐT huyện đối vớiTTHTCĐ và cán bộ quản lý TTHTCĐ
Sự chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời của Sở GD&ĐT thông qua các vănbản, các chương trình tập huấn đã giúp cho các TTHTCĐ xác định rõ chứcnăng, nhiệm vụ của mình; bên cạnh đó Phòng GD&ĐT huyện là cơ quantrực tiếp tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của các TTHTCĐ cho nêncần phải tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, đánh giá xếp loại để biếtđược kế hoạch triển khai đến đâu, có vướng mắc khó khăn gì, đồng thời tìmcác giải pháp để thúc đẩy hoạt động của các trung tâm và kịp thời biểudương những tập thể, cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ
- Đảm bảo cơ sở vật chất, kinh phí hỗ trợ cho TTHTCĐ hoạt động và
có chế độ phụ cấp thỏa đáng cho cán bộ quản lý TTHTCĐ
Để trung tâm bước đầu có thể triển khai được các hoạt động thì cầnphải có cơ sở vật chất ban đầu như: loa đài, ti vi, đầu CVD, máy chiếu, tủ
Trang 29sách vì vậy các địa phương cần phải cân đối ngân sách hỗ trợ kinh phí theođúng quy định của Nhà nước cho các TTHTCĐ hoạt động và có chế độ phụcấp cho ban quản lý TTHTCĐ một cách thỏa đáng để kịp thời động viêntinh thần làm việc, ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý đối với cộngđồng.
- Sự tự nguyện tham gia và tinh thần làm chủ của người dân trongcộng đồng
TTHTCĐ chỉ có thể hoạt động, duy trì bền vững khi có sự tham giamột cách tự nguyện của người dân trong cộng đồng Sự tham gia nàychứng tỏ xuất phát từ lòng hiếu học và nhu cầu học tập thường xuyên, họcsuốt đời của người dân; đồng thời tạo điều kiện để huy động nguồn lực (vậtlực, tài lực ) cho hoạt động của trung tâm, góp phần nâng cao hiệu quảcông tác
Kết luận chương 1
Qua nghiên cứu từ cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng ta thấy rằngTTHTCĐ ở nước ta đã hình thành và phát triển cho đến nay đã tròn 14năm Từ các mô hình thí điểm đầu tiên (năm 1997, 1998) hoạt động của cácTTHTCĐ đã tỏ ra có hiệu quả và có tác dụng thật sự trong việc tạo cơ hộihọc tập cho mọi người trong cộng đồng, góp phần nâng cao đời sống vậtchất và tinh thần cho nhân dân, góp phần phát triển kinh tế của địaphương Do đó việc xây dựng, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa TTHTCĐ là một yêu cầu tất yếu
Trong những năm gần đây, đặc biệt trong nền kinh tế tri thức việctạo điều kiện và cơ hội cho nhân dân học tập để nâng cao trình độ về mọimặt là mối quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới Nhà nước ta là Nhà
Trang 30nước của dân, do dân và vì dân, vì vậy Đảng và Nhà nước hết sức quan tâmđến việc phát triển mô hình giáo dục này để phục vụ nhân dân Trên thực
tế, trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chủ trương vàquyết sách đúng đắn, kịp thời cho nên TTHTCĐ đã phát triển hầu hết trênkhắp cả nước Nhiều trung tâm đã đi đúng hướng và thực sự có hiệu quả.Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều trung tâm hiệu quả hoạt động chưacao, chưa thực hiện đầy đủ các chức năng của mình, đặc biệt ở các xã vùngsâu, vùng xa, vùng kinh tế khó khăn, đồng bào dân tộc ít người
Vì vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để trong những năm tiếp theocác TTHTCĐ trên phạm vi cả nước nói chung, huyện Nghĩa Đàn nói riêngđều đi vào hoạt động có hiệu quả, phát triển bền vững, phục vụ tốt nhu cầuhọc thường xuyên, học suốt đời cho nhân dân, tạo tiền đề xây dựng xã hộihọc tập, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, phục vụ côngcuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ mới
Trang 312.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Nghĩa Đàn
Nghĩa Đàn là huyện miền núi nằm phía Tây Bắc tỉnh Nghệ An.Trước khi chia tách để thành lập thị xã Thái Hòa (Theo Nghị định 164/NĐ-
CP ngày 15/11/2007), Nghĩa Đàn là khu vực trung tâm của vùng Phủ Quỳgiàu tiềm năng và lợi thế phát triển, là đầu mối giao thương đến mọi miềnđất nước Sau khi chia tách, Nghĩa Đàn là một huyện miền núi nghèo, códiện tích tự nhiên khoảng 6.175.400 km2 Là một huyện chủ yếu phát triển
về nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại
- dịch vụ giảm nhiều so với trước khi chia tách
Một số xã vùng sâu, vùng xa có diện tích lớn đất đỏ Bazan quý hiếmphù hợp phát triển các loại cây cao su, mía, dưa hấu; có đồi núi thấp phùhợp để phát triển chăn nuôi gia súc; có hệ thống kênh mương Sông Sào vừacung cấp nước tưới, vừa là điểm để phát triển khu sinh thái, nuôi trồng thủysản; có các núi đá phù hợp để phát triển công nghiệp khai khoáng, sản xuấtvật liệu xây dựng
2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội; quốc phòng, an ninh của Nghĩa Đàn
+ Dân số, lao động:
Huyện Nghĩa Đàn với dân số tại thời điểm cuối quý I/2011 là132.875 người, trong đó khoảng 1/3 là dân tộc ít người Có 30.055 hộ dân,mật độ dân số bình quân là 47 người/km2, mức tăng trưởng dân số bình
Trang 32quân khoảng 0,7%, tỉ lệ người mù chữ dưới 0,4% Dân cư phân bố khôngđều, tập trung nhiều ở các xã gần trung tâm huyện lỵ mới.
Tính từ năm 2008 đến nay, đã tạo việc làm cho gần 8.100 ngườitrong độ tuổi lao động; chỉ tiêu đặt ra trong những năm tới bình quân mỗinăm phải giải quyết được từ 3.000 - 3.500 lao động Xuất khẩu lao động2.446 người; đã tư vấn , hướng nghiệp cho 35.813 lao động và đào tạođược 10.287 lao động Dân số đang trong độ tuổi đến trường chiếm khoảng20% tổng dân số
+ Về hành chính:
Huyện Nghĩa Đàn có 24 đơn vị hành chính cấp xã với 308 thôn, bản.Trong đó có 9 xã vùng sâu đặc biệt khó khăn (xã Nghĩa Thọ, Nghĩa Lợi,Nghĩa Lạc, Nghĩa Lâm, Nghĩa Minh, Nghĩa Mai, Nghĩa Yên, Nghĩa Đức,Nghĩa Khánh) và hơn một nửa số xã có xóm, bản đặc biệt khó khăn đượcxếp vào diện 135
+ Về phát triển kinh tế xã hội:
Sau khi chia tách, cơ cấu kinh tế Nghĩa Đàn có sự thay đổi cơ bản,
cơ cấu kinh tế có bước chuyển biến lớn Tỷ trọng nông nghiệp chiếmkhoảng 54%, tỷ trọng công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp- xây dựng cơ bảnchiếm 23%, tỷ trọng thương mại- dịch vụ chiếm khoảng 23%; chỉ tiêu đặt
ra năm 2015: nông- lâm- thủy sản chiếm 34,5%, công nghiệp- tiểu thủ côngnghiệp - xây dựng cơ bản chiếm 43%, thương mại- dịch vụ chiếm 22,5%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân từ 19- 20% Giá trị sản xuấtbình quân (năm 2008- 2010) đạt từ 11,5 - 13,2 triệu đồng/ người/ năm, chỉtiêu đặt ra từ nay đến năm 2015 là 34 - 35 triệu đồng/ người/ năm
Sản xuất nông nghiệp tương đối ổn định, giữ vững diện tích và sảnlượng lương thực đạt bình quân 37 - 39 tấn/năm Cây công nghiệp như mía,cao su có xu hướng giảm về diện tích nhưng tăng về năng suất và hiệu quả.Đàn gia súc, gia cầm tiếp tục phát triển và giữ vững sản lượng Tuy nhiên,
Trang 33trong những năm qua Nghĩa Đàn là một huyện nông nghiệp song chưa thực
sự tạo được sự bền vững trong sản xuất nông nghiệp; hiệu quả trên một đơn
vị diện tích chưa cao, phụ thuộc lớn vào thị trường nên thiếu sự ổn địnhtrong quy hoạch phát triển Tỉ lệ hộ nghèo cao, năm 2009 chiếm 21%, năm
2010 chiếm 18%; dự kiến đến năm 2015 giảm tỉ lệ hộ nghèo dưới 10%
Nhờ những lợi thế về điều kiện tự nhiên mà hiện nay Nghĩa Đàn đãthu hút được một số các cá nhân, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước thamgia đầu tư xây dựng các dự án, nhà máy như: Ngân hàng Cổ phần Bắc Ávới dự án chăn nuôi bò sữa với sản phẩm sữa TH Milk, nhà máy chế biến
gỗ MDF, các công ty khai thác đá, sản xuất bột đá, nhà máy chế biến thủysản xuất khẩu; dự án rau, củ , quả công nghệ cao
+ Về quốc phòng, an ninh:
Trong những năm trước đây, Nghĩa Đàn cũng là điểm nóng về tệ nạnhút, hít, cờ bạc, đề đóm, mại dâm, trộm cắp của tỉnh Nghệ An Tuy nhiên,trong mấy năm gần đây Huyện ủy, UBND đã kiên quyết chỉ đạo và triểnkhai thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng - an ninh và xây dựng cụm tuyến
an toàn làm chủ - sẵn sàng chiến đấu đạt kết quả tốt; đã tạo được thế chủđộng, kiểm soát được tình hình, không để xẩy ra tình huống bất ngờ Côngtác đấu tranh phòng chống tội phạm, phòng ngừa các loại tệ nạn xã hộiđược triển khai tích cực; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.Công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, tuyên truyền phổ biến giáo dụcpháp luật được tăng cường, các loại tội phạm giảm rõ rệt
Trong những năm tới, Nghĩa Đàn nằm trong vùng phát triển kinh tếnăng động và thu hút nhiều thành phần, nhiều tổ chức kinh tế trong vàngoài nước tham gia đầu tư và cũng là nơi thu hút nhiều lao động, có thểkéo theo nhiều tệ nạn xã hội và xuất hiện các loại tội phạm mới, tình hình
an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội có thể phức tạp
Trang 342.1.3 Truyền thống lịch sử, văn hóa của huyện Nghĩa Đàn
Nghĩa Đàn là huyện miền núi, có đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu
là Thanh, Thái, Thổ sinh sống chiếm khoảng 1/3 dân số; đồng bào theo đạoThiên Chúa giáo cũng chiếm khoảng 7,1% dân số Vì vậy, bản sắc văn hóaNghĩa Đàn tương đối đa dạng, phong phú, có những nét đặc trưng riêng
Người dân Nghĩa Đàn cũng mang đậm những nét đặc trưng của conngười xứ Nghệ, cần cù chịu khó trong lao động, dũng cảm trong chiến đấuchống giặc ngoại xâm và chống đỡ với thiên nhiên; tinh thần hiếu học, hamtìm tòi Tuy nhiên, người dân miền núi cũng có những nếp suy nghĩ khácvới người dân miền xuôi, phần lớn người dân chỉ lo khai hoang, phát rẫy đểphát triển kinh tế gia đình; đông con, ít quan tâm hơn đến việc học hànhcủa con em Những năm trước đây, hầu hết con em của nông thôn, đồngbào dân tộc ít người và đồng bào theo đạo Thiên chúa giáo thì chỉ học đếnnửa chừng rồi bỏ học về sản xuất nông nghiệp, lập gia đình, sinh con đẻcái; phần đa chỉ có con em của công nhân nông trường là còn theo học hếtbậc THPT, một số còn học lên đại học, cao đẳng hoặc TCCN Có một thời
kỳ khá dài trong khoảng những năm 1987 - 1995 một số trường THPThuyện Nghĩa Đàn giảm mạnh về quy mô trường lớp, phải sát nhập với bậcTHCS trong khi dân số Nghĩa Đàn là khá đông
Từ những năm 1997 trở lại đây, ý thức của người dân ngày càngđược nâng cao, công tác giáo dục đã được mọi tầng lớp quan tâm Công táckhuyến học, khuyến tài được phát triển rộng khắp; cả huyện có 26 Hội cơ
sở, 308 Chi hội thôn bản, 71 Ban khuyến học trường học, 20 Ban khuyếnhọc UBND xã, 13 Ban khuyến học của cơ quan đơn vị, 31 Ban khuyến họccủa dòng họ, 13 Ban của đồng hương, 4 Ban của đồng môn Với tổng số
Trang 35483 tổ chức Hội, đã tạo thành một mặt trận phủ kín toàn huyện để đẩymạnh phong trào khuyến học
Các hoạt động văn hóa - thể thao có bước phát triển khá, nhất là ở cơ
sở phong trào xây dựng làng, bản văn hóa được chú trọng và và đạt kết quảtốt Đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân được nâng lên, các hủ tụclạc hậu của đồng bào dân tộc ít người, của tôn giáo giảm đáng kể, duy trì
và phát huy tốt bản sắc văn hóa các dân tộc trên địa bàn Tính đến năm
2010 có 75 % gia đình văn hóa, 124 làng văn hóa đạt tỉ lệ 40,26%
2.1.4 Tình hình giáo dục của huyện Nghĩa Đàn
* Về quy mô phát triển mạng lưới trường, lớp:
Từ năm 2000 đến năm 2005, giáo dục Nghĩa Đàn đã phát triển mạnh
về quy mô Mỗi xã đều có một trường mầm non, có một đến hai trường tiểuhọc và trường THCS thì có 20 trường/24 xã; đặc biệt trường THPT số lớptăng lên mạnh mẽ
Trong vòng 3 năm trở lại đây, do thực hiện tốt chính sách dân số, kếhoạch hóa gia đình nên quy mô giáo dục tiểu học và THCS có xu hướnggiảm; tuy nhiên bậc học mầm non do Nghĩa Đàn đã thực hiện tốt chủtrương của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI là mỗi
xã, phường, thị trấn có một trường mầm non nên đã tạo điều kiện cho các
em ở lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo được đến trường; ngày càng thu hút đượcnhiều bậc phụ huynh đem con gửi ở trường mầm non
Để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu họctập của từng địa phương, Nghĩa Đàn đang tiếp tục điều chỉnh quy môtrường lớp cho đồng bộ như: thành lập trường THCS liên xã, thành lậptrung tâm giáo dục thường xuyên huyện, trung tâm dạy nghề huyện
Trang 36Từ năm học 2009- 2010 đến năm học 2011- 2012, quy mô giáo dụccủa Nghĩa Đàn như sau:
Năm học2009- 2010
Năm học2010- 2011
Năm học2011- 2012
Trang 37học sinh bỏ học (năm học 2010- 2011:học sinh THCS bỏ học < 1%, THPT
< 2%)
+ Kết quả xây dựng trường đạt Chuẩn quốc gia tính đến tháng7/2011, từ mầm non đến THPT có 26 trường, đạt tỉ lệ 36,6 % Cụ thể:
- Mầm non: 8/24 trường, chiếm tỉ lệ 33,3 %
- Tiểu học: 17/26 trường, chiếm tỉ lệ 65,4 %
- THCS: 1/19 trường, chiếm tỉ lệ 5,3 %
- THPT: 0/2 trường, chiếm tỉ lệ 0 %
+ Kết quả xếp loại học sinh cuối năm học 2010 – 2011:
- Chất lượng giáo dục bậc Mầm non: Chất lượng nhà trẻ kênh A đạt83,7%; kênh B (thể nhẹ cân) chiếm 12,6%; kênh C (thể thấp còi) chiếm3,7% Chất lượng mẫu giáo kênh A đạt 86,7%; kênh B chiếm 9,2%; kênh Cchiếm 4,1%
- Chất lượng giáo dục Tiểu học: Hạnh kiểm đạt yêu cầu 99,9%; chưa đạt0,1% Học lực loại giỏi 19,9%; loại khá 38,7%; loại TB 40%; loại yếu 1,3%
- Chất lượng giáo dục THCS: Hạnh kiểm tốt 61,07%; khá 31,27%;
TB 7,23%; yếu 0,43% Học lực loại giỏi 1,89%; loại khá 23,26%; loại TB69,01%; loại yếu 2,88%; loại kém 0,26%
- Chất lượng giáo dục THPT và BT THPT: Hạnh kiểm tốt 60,8%;khá 31,1%; TB 5,8%; yếu 0,6% Học lực loại giỏi 2,7%; loại khá 37,8%;loại TB 53,6%; loại yếu 5,1%; kém 0,5%
* Về chất lượng đội ngũ:
Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên toàn ngành (tính đến ngày 30/6/2011) là 1.843 người, trong đó:
- Bậc mầm non 358 người, tăng 6,5 %
- Bậc tiểu học 647 người, tăng 1,1 %
- Bậc THCS 674 người, giảm 1,02 %
Trang 38- Bậc THPT 154 người, giảm 0,62 %
- GDTX 10 người
Chất lượng đội ngũ giáo viên được nâng lên rõ rệt, số giáo viên đạtchuẩn và trên chuẩn đào tạo tăng; tỉ lệ trên chuẩn đào tạo ở bậc học mầmnon chiếm 53,5%, bậc tiểu học 78,4%, THCS 73%, THPT 10,5% Số giáoviên dưới chuẩn giảm còn 0,51%
* Về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học:
Công tác xây dựng cơ sở vật chất được tập trung chỉ đạo kiên quyết,hiệu quả hơn; việc thực hiện chương trình kiên cố hóa trường, lớp học, nhàcông vụ giáo viên đạt được những kết quả khá cao; công tác xã hội hóagiáo dục đạt kết quả đáng khích lệ, trong năm học 2010- 2011 đã vận độngđược 1,4 tỷ đồng để đầu tư cơ sở vật chất xây dựng trường lớp
Hệ thống các phòng thực hành bộ môn được đầu tư, xây dựng đảmbảo phát huy hiệu quả thiết bị dạy học Phòng thư viện, phòng đọc của cácnhà trường được chú trọng xây dựng theo hướng đạt chuẩn quốc gia
Thiết bị dạy học đã được quan tâm mua sắm nhiều hơn; được đưavào khai thác, sử dụng bảo đảm theo yêu cầu và hướng dẫn của Sở GD&ĐT;phát huy tốt các phòng máy vi tính, tăng cường làm đồ dùng dạy học
Trong những năm qua, ngành Giáo dục Nghĩa Đàn đã có nhiều cốgắng để rút ngắn khoảng cách giữa chất lượng giáo dục miền xuôi với chấtlượng giáo dục miền núi, song do điều kiện về kinh tế, văn hóa- xã hội, sựchậm đổi mới về tư duy và phương pháp làm việc của một bộ phận cán bộquản lý nên kết quả giáo dục của huyện Nghĩa Đàn vẫn còn ở mức thấp
Trang 39thời xây dựng bộ công cụ đánh giá và bảng câu hỏi phỏng vấn để tiến hànhđiều tra, khảo sát các đối tượng là: lãnh đạo địa phương, cán bộ quản lý,giáo viên các TTHTCĐ, một số cán bộ thôn xóm Cụ thể như sau:
- 72 cán bộ Ban Quản lý của 24 TTHTCĐ các xã, phường, thị trấn;
- 96 cán bộ lãnh đạo địa phương của 24 xã, bao gồm Bí thư, Phó bíthư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn;
- 12 giáo viên của các TTHTCĐ, bao gồm các báo cáo viên, giáoviên các trung tâm GDTX ;
- 120 cán bộ của thôn xóm/308 thôn xóm
Ngoài ra, tôi còn thăm dò ý kiến của một số cán bộ lãnh đạo Đảng,chính quyền, đoàn thể cấp huyện; tổng số người được lấy ý kiến là 315người Kết quả như sau:
2.2.1 Thực trạng về xây dựng, phát triển TTHTCĐ ở Nghĩa Đàn
Việc triển khai xây dựng và phát triển các TTHTCĐ ở tỉnh Nghệ Annói chung và huyện Nghĩa Đàn nói riêng tuy có muộn hơn so với cả nước,nhưng tốc độ phát triển khá nhanh và bền vững Sau khi chia tách thành lậpThị xã Thái Hòa, tại thời điểm năm 2008 Nghĩa Đàn đã có 24 TTHTCĐ/24
- Chuyển giao KHCN chiếm khoảng hơn 80%
- Phổ biến giáo dục pháp luật chiếm khoảng 10 %
- Kiến thức chăm sóc sức khỏe cộng đồng chiếm khoảng 5%
Kết quả đánh giá, xếp loại về hiệu quả hoạt động của các TTHTCĐtrong 2 năm: năm 2009 và năm 2010 như sau:
Trang 40Bảng 2.1 Tổng hợp kết quả xếp loại 24 TTHTCĐ năm 2009 và năm 2010
2009
Năm2010
1 Trung tâm HTCĐ được đánh giá đạt hiệu quả
- Các TTHTCĐ ngày càng thu hút được nhiều người dân trong cộngđồng tham gia chứng tỏ sự cần thiết tồn tại và phát triển của mô hình họctập này
Qua thực tế cho thấy: địa phương nào có TTHTCĐ hoạt động hiệuquả, chất lượng thì ở đó người dân có điều kiện được học tập; được tiếp thuthông tin, nâng cao hiểu biết về thời sự, về chủ trương đường lối, chínhsách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; biết áp dụng những thành tựu củaKHKT, công nghệ vào sản xuất, chăn nuôi; biết chú trọng chăm sóc sứckhỏe cộng đồng góp phần nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập,cải thiện đời sống, phát triển kinh tế - xã hội Một số địa phương cóTTHTCĐ hoạt động kém hiệu quả, chủ yếu tập trung ở các xã thuộc vùngsâu, vùng xa, vùng có nhiều đồng bào dân tộc ít người, đời sống dân tríthấp, cuộc sống của nhân dân khó khăn; bên cạnh đó cán bộ quản lý