Nguyên nhân và kinh nghiệm về chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy và học ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh
Trần đình bích
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN Lí HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH & CễNG NGHỆ HÀ NỘI
luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục
VINH - 2011
LỜI CAM ĐOAN
Tụi xin cam đoan đõy là cụng trỡnh nghiờn cứu của riờng tụi.
Cỏc số liệu, kết quả nờu trong luận văn là trung thực Những kết
luận của luận văn chưa từng được cụng bố trong bất cứ cụng
trỡnh nào.
Trang 2TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Đình Bích
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN
1.1 Chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy và học theo hướng 7
Trang 4tích cực, chủ động và sáng tạo - những vấn đề lý luận và thực tiễn
1.2 Chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy và học theo hướng
tích cực, chủ động và sáng tạo - quan niệm, tiêu chí đánh giá 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI – NGUYÊN NHÂN VÀ KINH
2.1 Tổng quan về cơ cấu tổ chức quản lý của trường đại học Kinh
doanh và Công nghệ Hà Nội 27
2.2 Thực trạng chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy và học ở
trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội 332.3 Nguyên nhân và kinh nghiệm về chất lượng công tác quản lý
hoạt động dạy và học ở trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 513.1 Phương hướng nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt độngdạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo ở trường đạihọc Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. 513.2 Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạtđộng dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo ở trường đạihọc Kinh doanh và Công nghệ Hà nội trong giai đoạn hiện
Trang 5Nhân loại đang bước từ xã hội công nghiệp sang xã hội thông tin vớinhững biến đổi cực kỳ nhanh chóng cùng với sự phát triển như vũ bão củakhoa học - công nghệ Kinh tế thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế trithức với hàm lượng tri thức cao và có vai trò quyết định trong các sản phẩm.
Để đáp ứng sự phát triển của kinh tế tri thức, của xã hội thông tin trên phạm vitoàn cầu, cách mạng về "học tập" trở thành một tất yếu khách quan mở đườngcho cách mạng tri thức của thời đại
Trong xu thế đó, mục đích giáo dục chung của các quốc gia trên thế giớikhông chỉ dừng lại ở việc truyền thụ cho học sinh, sinh viên những kiến thức,
kỹ năng loài người đã tích lũy được trước đây mà còn đặc biệt quan tâm đếnviệc bồi dưỡng cho họ năng lực sáng tạo ra những tri thức mới, phương phápmới, cách giải quyết vấn đề mới Đặc biệt là người học phải đạt tới trình độ:học để biết, học để làm, học để phát triển
Giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong đời sốngchính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi quốc gia Vìvậy, ngay từ khi giành được chính quyền, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộcdốt là một dân tộc yếu”, do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụquan trọng của cách mạng Việt Nam Từ đó đến nay, Đảng và Nhà nước takhông ngừng quan tâm và coi trọng đến sự nghiệp phát triển giáo dục và đàotạo của đất nước, với quan điểm chỉ đạo “Phát triển giáo dục là quốc sáchhàng đầu”, “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển”, "Đổi mới nội dung,chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, tăngcường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tự tu dưỡng, tự tạo việc làm.Tăng cường giáo dục hướng nghiệp, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực của đấtnước và các địa phương, vùng, miền"
Trải qua hơn 20 năm thực hiện đường lối đổi mới, nhân dân ta đã đạtđược những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử Tuy nhiên, cho đến nay, nước
Trang 6ta vẫn chưa thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển Khoảng cách về trình độkinh tế, khoa học và công nghệ giữa nước ta với các nước phát triển trên thếgiới, kể cả một số nước trong khu vực, có xu hướng ngày càng mở rộng thêm,
mà một nguyên nhân quan trọng là do sự yếu kém, bất cập và tụt hậu của giáodục và đào tạo đang trở thành lực cản đối với sự phát triển nhanh và bền vữngcủa đất nước
Để thu hẹp nhanh khoảng cách giữa Việt Nam và các nước phát triểntrên thế giới thì giáo dục nước ta phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc, toàn diệnnhằm nâng cao chất lượng giáo dục Cụ thể, nhà trường phải đào tạo nhữngmẫu người lao động mới có khả năng đánh giá, nhận xét nêu vấn đề và biếtvận dụng lý thuyết đã học vào giải quyết các vấn đề của thực tiễn người laođộng, đồng thời cũng phải biết luôn đổi mới kiến thức và năng lực của mìnhcho phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
Thực tiễn cho thấy nền giáo dục nước ta đã và đang có những cải cách tolớn chú trọng đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa vànhất là đổi mới phương pháp (cách dạy, cách học) Trong những nămgần đây, xu hướng chủ đạo trong sự đổi mới quá trình dạyhọc, nâng cao chất lượng GD – ĐT, về mặt quan điểm, địnhhướng là chuyển sang quan điểm dạy học tích cực (hay còngọi là dạy học lấy người học làm trung tâm) mà ý tưởng cốt lõi
là người học phải tích cực, chủ động, tự chủ, sáng tạo trongquá trình học tập Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp Hành TW ĐảngCộng Sản Việt Nam khóa VIII cũng đã xác định: “Đổi mới mạnh
mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyềnthụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiệnhiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian
Trang 7tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên ĐH” Cũngnhư vậy, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đã nhấn mạnh: "đổimới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục, chuyển từ việc truyền thụ tri thứcthụ động thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trongquá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhậnthông tin một cách có hệ thống có tư duy phân tích tổng hợp; phát triển nănglực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động tích cực của học sinh, sinhviên trong quá trình học tập " Điều này đòi hỏi phải thay đổi tư duy kịp thời,
từ cách nhìn, tầm nhìn đến những yêu cầu rất cao về sự thích nghi
Trường ĐH Kinh doanh và công nghệ Hà Nội có nhiệm vụ đào tạo cán
bộ có trình độ cao đẳng, cử nhân và sau ĐH theo phương châm đào tạo cácnhà kinh tế thực hành và các nhà kỹ thuật - công nghệ, với quy mô trung bìnhkhoảng 3.000 – 3.500 sinh viên/năm Nhà trường đã góp phần tạo nguồn nhânlực cho việc hình thành một đội ngũ cán bộ chủ chốt của các doanh nghiệp -những “binh đoàn chủ lực” trên mặt trận phát triển kinh tế - xã hội theo hướngdân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Tuy nhiên, trongcông tác đào tạo của nhà trường, quan điểm “lấy người học làm trung tâm”vẫn chưa được chú trọng đúng mức; trong giảng dạy, hiện tượng “thầy giảng,trò ghi” vẫn còn phổ biến Sự quan tâm đầu tư của đội ngũ nhằm phát huytính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên còn nhiều hạn chế
Xuất phát từ thực tiễn dạy và học ở nhà trường và nhu cầu của xã hộitrong tình hình mới hiện nay đòi hỏi các trường ĐH cung ứng nguồn nhân lựcchất lượng cao có tri thức, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, có đạo đức, năngđộng và sáng tạo trong công việc, do đó vấn đề đặt ra là cần phải nâng caochất lượng quản lý hoạt động dạy và học của giảng viên và sinh viên trường
ĐH Kinh doanh và công nghệ Hà Nội theo hướng tích cực, chủ động và sángtạo là nhiệm vụ cấp bách và có tính thực tiễn cao Với ý nghĩa đó, tác giả chọn
Trang 8đề tài: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy học ở trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội” làm Luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ Quản lý giáo dục của mình
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạtđộng dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo ở trường ĐH Kinhdoanh & Công nghệ Hà Nội trong giai đoạn hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Để đạt được mục đích trên, Luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu quan niệm, vai trò, vị trí, đặc điểm và hoạt động quản lýhoạt động dạy học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo
- Phân tích thực trạng hoạt động quản lý dạy học ở trường ĐH Kinhdoanh và Công nghệ Hà Nội
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy
và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo ở trường ĐH Kinh doanh vàCông nghệ Hà Nội
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu của luận văn
Khách thể nghiên cứu là hoạt động dạy học ở trường ĐH Kinh doanh vàCông nghệ Hà Nội
Đối tượng nghiên cứu là các giải pháp nâng cao chất lượng quản lýhoạt động dạy học ở ĐH kinh doanh & Công nghệ hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Trang 9Nếu áp dụng hợp lý các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạtđộng dạy học do tác giả đề xuất thì trường ĐH KD&CN HN sẽ nâng cao đượctính tích cực, năng động sáng tạo trong hoạt động dạy học
5 Phạm vi và thời gian nghiên cứu của Luận văn.
- Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động dạy và học của đội ngũ giảng viên vàsinh viên chính quy của trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2005 đến nay (từ khi hoànthành hệ thống giảng đường chính)
6 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
6.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những nguyên lý cơ bảntrong quản lý giáo dục bậc ĐH, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối,Nghị quyết của Đảng ta về công tác giáo dục và đào tạo và lý thuyết của hoạtđộng dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo
6.3 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vậtlịch sử
Trang 10Ngoài ra, luận văn còn sử dụng phương pháp nghiên cứu như phân tích
hệ thống, tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn, điều tra xã hội học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn được kết cấu thành 3 chương, 7 tiết
Trang 111.1.1 Đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ đào tạo của Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
1.1.1.1 Đặc điểm
Trường ĐH dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội được thành lập tháng
6 năm 1996, do Giáo sư Trần Phương (Chủ tịch Hội khoa học kinh tế ViệtNam, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng) làm Hiệu trưởng Do mởrộng mục tiêu đào tạo sang lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ, Trường được đổi
tên thành Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội kể từ tháng 5 năm
2006 Sau 15 năm hoạt động, Trường đã được Nhà nước tặng thưởng Huânchương Lao động hạng Ba và Huân chương Lao động hạng Nhì
Trường là một tổ chức hợp tác của những người lao động trí óc, tựnguyện góp sức, góp vốn để xây dựng và phát triển Trường bền vững, vì mụcđích đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, không vì mục đích lợi nhuận
Trường xác định sứ mệnh của mình là đào tạo các nhà kinh tế thực hành
và các nhà kỹ thuật - công nghệ, tạo nguồn nhân lực cho việc hình thành mộtđội ngũ cán bộ chủ chốt của các doanh nghiệp - những “binh đoàn chủ lực”trên mặt trận phát triển kinh tế - xã hội theo hướng dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh
Trang 12Trường lấy đào tạo nghề nghiệp - thực hành làm định hướng chủ yếu, không chỉ quan tâm trau dồi kiến thức, mà trau dồi kiến thức phải đi đôi
với rèn luyện kỹ năng thực hành, phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, kết hợp lýluận với thực tiễn, không chỉ quan tâm phát triển tài năng, mà phát triển tàinăng phải đi đôi với bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nhằm đào tạo thanh niênthành những cán bộ vừa hồng vừa chuyên
Tính đến 31/12/2010, Trường đã cấp bằng tốt nghiệp cho 15.991 cửnhân và 73 thạc sỹ Trong đó, ĐH chính quy (11 khoá) 13.234 cử nhân, đạt tỷ
lệ tốt nghiệp so với số sinh viên đầu khoá là 83,6 % ĐH liên thông (2 khoá)
743 cử nhân, tỷ lệ tốt nghiệp 77,5% Cao đẳng chính quy (5 khoá) 845 cửnhân, tỷ lệ tốt nghiệp 83,3% Trung cấp chuyên nghiệp (cao đẳng 2 năm)1.169, tỷ lệ tốt nghiệp 78,6% Hầu hết nhận được việc làm ngay sau khi ratrường, với mức lương tương đối cao
Đội ngũ giảng dạy của Trường gồm 350 giảng viên cơ hữu và 420 giảngviên thỉnh giảng Số giảng viên có trình độ Tiến sĩ, Phó Giáo sư và Giáo sưchiếm 28% tổng số giảng viên, số giảng viên có trình độ Thạc sĩ chiếm 31%,phần còn lại là Cử nhân, Kỹ sư
Trường được trang bị 1.400 máy vi tính, bảo đảm cho mỗi người mộtmáy khi học và thực hành
Khối lượng kiến thức và kỹ năng của Chương trình đào tạo tương đối
Trang 13Điều đó tạo thuận lợi cho sinh viên học liên thông từ bậc Cao đẳng lên ĐH, họcliên thông từ bậc Trung cấp lên Cao đẳng và lên ĐH.
Hiện tại, trường có 14 ngành nghề và ba bậc học, cụ thể:
A - Nhóm ngành kinh tế, Kinh doanh và Quản lý kinh doanh
1- Ngành Quản lý kinh doanh
7- Ngành Công nghệ Thông tin (công nghệ phần mềm)
Với 3 bậc: ĐH, Cao đẳng và Trung cấp
8- Ngành Kỹ thuật Điện - Điện tử
Trang 1414- Tiếng Nhật kinh doanh
Với 3 bậc: Sơ cấp, Trung cấp và ĐH
Chương trình đào tạo ĐH của Trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ HàNội có phần “nặng” hơn nhiều trường ĐH khác Vì Trường ĐH Kinh doanh
và Công nghệ Hà Nội chủ trương: một sinh viên tốt nghiệp ĐH phải hội đủ cả
3 khối kiến thức và kỹ năng sau đây:
1- Thông thạo nghề nghiệp chuyên môn
2- Thành thạo kỹ năng sử dụng máy vi tính (thông qua 360 tiết học và thựchành trên máy, không kể số giờ tự do truy cập Internet tại Thư viện của Trường)3- Sử dụng tương đối thành thạo tiếng Anh (thông qua 1.080 tiết học trênlớp để đạt trình độ C hay 500 - 550 điểm TOEFL)
Hai môn Tin học và Tiếng Anh được bố trí vào chương trình đào tạochính khoá, vì vậy sinh viên không phải học thêm tại Trung tâm Tin học hayTrung tâm tiếng Anh Sinh viên học hết năm thứ ba có khả năng học tiếp nămthứ tư bằng tiếng Anh tại Hà Lan Sinh viên tốt nghiệp đạt trình độ tiếng Anh
từ 550 điểm TOEFL trở lên có thể học tiếp Thạc sĩ bằng tiếng Anh tại cáctrường ĐH nước ngoài và ngay tại Trường
Trang 15Nhờ hội đủ cả 3 khối kiến thức và kỹ năng nêu trên, sinh viên Trường
ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội thường được các nhà tuyển dụng đánhgiá cao và được đãi ngộ bằng một mức lương tương đối cao
1.1.2 Quan niệm, đặc điểm, vai trò, nhiệm vụ của công tác quản lý hoạt động dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo.
1.1.2.1 Quan niệm về giáo dục- đào tạo bậc ĐH và công tác quản lý dạy và học bậc ĐH.
* Quan niệm về giáo dục đào tạo bậc ĐH
Giáo dục ĐH là một bậc học và là bậc học cao nhất của hệ thống giáodục quốc dân Giáo dục ĐH là loại hình giáo dục chuyên sâu Do đó, khôngphải tất cả học sinh phổ thông đều được vào ĐH Giáo dục ĐH chỉ tuyển chọnvới một tỷ lệ nhất định (do Nhà nước quy định trong số học sinh tốt nghiệpPTTH và phải đạt kết quả trong kỳ thi tuyển sinh cao đẳng, ĐH)
Giáo dục ĐH có bốn chức năng chính: một là đáp nhu cầu và nguyênvọng của cá nhân về tri thức, để họ có tự khai thác tiềm năng của mình vàcống hiến lại cho xã hội; hai là cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động cótrình độ chuyên môn cao, cần thiết cho sự tăng trưởng và giàu mạnh của mộtnền kinh tế hiện đại; ba là khai hóa xã hội, hướng dẫn dư luận, góp ý vềđường lối và chính sách của Nhà nước; bốn là thu thập hay sáng tạo ra kiếnthức qua nghiên cứu và chuyển giao kiến thức này đến xã hội
* Quan niệm về công tác quản lý dạy và học bậc ĐH
Để tồn tại và phát triển, con người không thể hành động riêng lẻ màcần phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung Quátrình tạo ra của cải vật chất và tinh thần… ngày càng được thực hiện trên quy
mô lớn với tính chất và độ phức tạp ngày càng cao, càng đòi hỏi sự phâncông, chuyên môn hoá lao động đã xuất hiện một dạng lao động đặc biệt - lao
Trang 16động quản lý Hoạt động quản lý cần thiết với mọi lĩnh vực hoạt động trong
xã hội, trong mỗi quốc gia và trên toàn cầu
Với tính chất là lao động dạng đặc thù xã hội của con người, quản lý
và công tác quản lý là một vấn đề có tính lý luận và luôn gặp trong thực tiễnđời sống của mọi lĩnh vực riêng biệt trong hoạt động xã hội Quản lý là mộtkhoa học, là nghệ thuật mang đặc điểm tâm lý với tính nhạy cảm tế nhị có kỹthuật (lao động đặc thù: trí óc và tay chân kết hợp hỗ trợ của các phương tiện
kỹ thuật và công nghệ…), mà thực chất là quản lý “Một tiểu hệ thống xã hội”nảy sinh từ chức năng của chính bản thân nó trong quá trình điều khiển mọiquá trình xã hội khác: thông qua mối quan hệ hữu cơ tương tác, ảnh hưởngqua lại lẫn nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý, vận hành theo một hệthống để hướng đến đạt được mục tiêu nhất định của tổ chức xã hội Đó chính
là công tác quản lý và tập hợp các tác động tương hỗ quản lý, làm xuất hiệncác mối quan hệ quản lý để điều khiển một hệ thống tổ chức chuyển động từtrạng thái này sang trạng thái khác theo ý đồ của nhà quản lý
Cho đến nay cũng đã có rất nhiều định nghĩa về “quản lý giáo dục”, nhưngtrên bình diện chung, những định nghĩa này đều thống nhất về mặt bản chất
Theo F.G Panatrin thì “Quản lý giáo dục là tác động một cách có hệthống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở cáccấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm mục đích đảm bảo sựphát triển toàn diện, hài hoà ở thế hệ trẻ.”
Theo P.V Khudominxki thì “Quản lý giáo dục là việc xác định nhữngđường lối cơ bản, những nhiệm vụ chủ yếu của các cơ quan trong hệ thốnggiáo dục”
Theo M.Zade thì “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp nhằmđảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục,bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũngnhư chất lượng”
Như Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII thì “Quản
lý giáo dục (nói chung) và quản lý trường học (nói riêng) là hệ thống tác động
Trang 17có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục)nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng,thực hiện mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài,hình thành đội ngũ lao động có tri thức và có tay nghề, có năng lực thực hành,
tự chủ, năng động và sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước, yêuchủ nghĩa xã hội Nhà trường đào tạo thế hệ trẻ theo hướng toàn diện và cónăng lực chuyên môn sâu, có ý thức và khả năng tự tạo việc làm cho nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần”
Trên cơ sở hiểu về “quản lý giáo dục” nêu trên, có thể hiểu công tác
quản lý dạy và học của trường ĐH Kinh doanh và công nghệ Hà Nội là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật với chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục sinh viên, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
Từ sự phân tích trên, có thể thấy nội hàm khái niệm công tác quản lýdạy và học bậc ĐH qua sơ đồ sau:
Trang 18Quản lý dạy và học bậc ĐH là quá trình tác động có định hướng, có tổchức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các cơ chế quản lý,nhằm sử dụng có hiệu quả cao nguồn lực trong điều kiện môi trường biếnđộng để hệ thống ổn định, phát triển, đạt được những mục tiêu đã định.
Quản lý có 4 chức năng cơ bản bao gồm: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Chỉđạo và Kiểm tra
Yêu cầu của hoạt động quản lý nhằm đạt các mục tiêu:
- Quản lý nhằm tạo sự thống nhất ý chí trong tổ chức
- Định hướng sự phát triển của tổ chức trên cơ sở xác định mục tiêuchung và hướng mọi nỗ lực của các cá nhân vào mục tiêu đó
- Tổ chức, điều hoà, phối hợp và hướng dẫn hoạt động của các cá nhântrong tổ chức, tạo sự ổn định nhằm đạt mục tiêu quản lý
- Tạo động lực cho mọi cá nhân trong tổ chức
- Tạo môi trường và điều kiện cho sự phát triển cá nhân và tổ chức,đảm bảo phát triển ổn định, bền vững và hiệu quả
1.1.2.2 Đặc điểm của công tác quản lý hoạt động dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo.
Dạy học là một hệ thống toàn vẹn các yếu tố tác động qua lại lẫn nhau.Các yếu tố này gồm giảng viên và hoạt động dạy, sinh viên và hoạt động học,mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp tổ chức và kết quả dạy học Giữacác yếu tố này có mối quan hệ mật thiết với nhau trong một môi trường kinh
tế, chính trị xã hội và văn hoá nhất định
Hoạt động dạy là hoạt động của giảng viên tổ chức và điều khiển hoạt
động của sinh viên nhằm giúp sinh viên lĩnh hội nền văn hoá xã hội, tạo ra sựphát triển tâm lý, hình thành nhân cách sinh viên
Trang 19Hoạt động học là hoạt động của sinh viên nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng,
kỹ xảo mới, những hành vi và những dạng hoạt động, những giá trị nhất định
Hoạt động dạy học trong nhà trường là một quá trình thuận nghịch
thống nhất giữa hai hoạt động: hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động họccủa sinh viên Trong quá trình đó, chức năng của giảng viên là tổ chức và điềukhiển hoạt động của sinh viên, chức năng của sinh viên là chiếm lĩnh nền vănhoá, tri thức của xã hội
Chất lượng học được xem là sản phẩm đầu ra sau một quá trình tác
động có chủ đích của hoạt động dạy học Sản phẩm của quá trình dạy học đốivới mỗi môn học thể hiện số lượng đơn vị kiến thức theo yêu cầu môn học mà
sinh viên nắm được ở các mức độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng,
phân tích, tổng hợp, đánh giá); đồng thời cũng biểu hiện ở kỹ năng và thái độ
của sinh viên sau khi có được những vốn kiến thức môn học
Tác động của quá trình dạy học bao gồm nhiều yếu tố dựa trên một
hệ điều kiện từ đời sống kinh tế, trình độ dân trí, cơ sở vật chất, chương trình,nội dung sách giáo khoa, chất lượng đầu vào, đội ngũ giảng viên và quản lýdạy học
Quản lí hoạt động dạy học là tổ chức, chỉ đạo và sinh viên thực hiện
quá trình dạy học theo các yêu cầu và qui luật nhằm đạt được mục tiêu dạyhọc
Chúng ta biết rằng: “Chất lượng trong lĩnh vực đào tạo được duy trìnếu như trường ĐH và cao đẳng xây dựng được các chương trình đào tạo vớicác chuẩn mực chất lượng nhất định, có các cấu trúc ra quyết định phù hợp vàcung cấp các chương trình đào tạo theo các quy định đó” [7] Như vậy, chấtlượng giáo dục nói chung chủ yếu là do các nhà trường tạo nên, bởi vậy khinói đến quản lý giáo dục chính là nói đến quản lý nhà trường cùng với hệthống giáo dục
Trang 20Quản lý nhà trường được hiểu là:
- Tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giảngviên, sinh viên và cán bộ nhân viên khác trong trường
- Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà trọngtâm là quá trình đào tạo các thế hệ sinh viên thông qua quá trình dạy học –giáo dục
- Thực hiện có chất lượng mục tiêu về kế hoạch đào tạo, đưa nhàtrường tiến lên trạng thái mới
Quản lý nhà trường mang tính đặc thù riêng biệt, được thể hiện trướchết bởi bản chất của quá trình dạy học và giáo dục, bởi sản phẩm của quá trìnhđào tạo (đó là nhân cách của người lao động có văn hóa) Hơn nữa trong nhàtrường, bản chất của quá trình dạy học sẽ quyết định tính đặc thù của sự quản
lý nhà trường Vì vậy, nắm chắc đặc thù này, người cán bộ quản lý mới có thểđưa nhà trường tiến tới đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra [11]
1.1.2.3 Vai trò của công tác quản lý hoạt động dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo.
Hoạt động dạy - học bao gồm hai hoạt động có quan hệ mật thiết vớinhau; đó là hoạt động dạy của thầy nhằm chỉ đạo, tổ chức việc lĩnh hội nộidung tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và hoạt động học của trò nhằm tổ chức các điềukiện đảm bảo cho sự lĩnh hội tri thức, kỹ năng và chuyển chúng thành kinhnghiệm của bản thân
“Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển” Với ý nghĩa, tầm quantrọng của giáo dục và đào tạo, để khắc phục những yếu kém trong giáo dụchiện nay thì những người làm công tác giáo dục, các nhà quản lý, đội ngũ cần
nỗ lực hết sức mình để cống hiến cho sự nghiệp “trồng người”, cho sự thànhcông của công cuộc CNH – HĐH hóa đất nước Việc đổi mới phương pháp
Trang 21dạy học là nhu cầu tất yếu trong thời đại mới Đó là việc chuyển từ dạy họctruyền thụ một chiều, dựa trên trí nhớ và bắt chước sang việc dạy học chủ yếu
là tổ chức, hướng dẫn quá trình tự khám phá, tự phát hiện, tự tìm đến kiếnthức của người học nhằm phát triển ở người học những tố chất cần có ở ngườilao động mới
Quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo tư tưởng “lấy người họclàm trung tâm” là một công cuộc cách mạng lâu dài và gian khổ, đòi nhiềucông sức, trí tuệ và tiền của; có tác động đến mọi mặt, đến các lĩnh vực trongcông tác giáo dục - đào tạo và đời sống xã hội Do đó, yêu cầu trước tiên làcác nhà quản lý giáo dục cần phải thay đổi tư duy và cung cách quản lý, thayđổi cách đánh giá chất lượng giáo dục và đánh giá đội ngũ ; lấy hiệu quả vàchất lượng thực sự làm thước đo sự cống hiến của ngành giáo dục đối với xãhội
Qua nghiên cứu và tổng hợp chúng ta có thể tóm tắt những biện pháp quản
lý dạy và học nhằm nâng cao tính tích cực nhận thức của người học, như sau:
+ Cần làm cho người học hiểu và nắm vững ý nghĩa của lý thuyết,thực tiễn hay tầm quan trọng của vấn đề đang nghiên cứu
+ Nội dung dạy học phải mới, những cái mới ở đây không được quá
xa lạ với người học, cái mới phải liên hệ và phát triển cái cũ Kiến thức hàngngày phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, ý nghĩ hàng ngày, thỏa mãnnhu cầu nhận thức của người học
+ Người thầy phải dùng các phương pháp dạy học đa dạng như: nêuvấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, làm việc độc lập và phối hợp chúngvới nhau Kiến thức phải được trình bày ở dạng động, phát triển và mâu thuẫnvới nhau Những vấn đề quan trọng, các hiện tượng then chốt cần có lúc diễn
ra một cách đột ngột và gây được sự bất ngờ cho người học
Trang 22+ Trong dạy học, người thầy cần sử dụng các phương tiện dạy học:
mô hình, học cụ, sơ đồ, thí nghiệm minh họa, multimedia… nhằm kích thíchhứng thú học tập của người học
+ Người thầy cần sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: cánhân hóa, dạy học theo hóm, tập thể, tổ chức tham quan, làm thí nghiệm, thựchành… tránh sự nhàm chán cho người học
+ Nhà trường cần xây dựng những chính sách nhằm động viên, khenthưởng khi người học có thành tích học tập tốt
+ Người thầy cần tổ chức luyện tập cho học trò dưới các hình thức khácnhau nhằm vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn, vào các tình huống mới
+ Kích thích tính tích cực của người học qua thái độ, cách ứng xử giữathầy và trò
+ Phát triển kinh nghiệm sống của người học trong học tập giáo dục vàđào tạo
1.1.2.4 Nhiệm vụ của công tác quản lý hoạt động dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo.
Hiện nay, hệ thống quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêngđang trong giai đoạn đổi mới mạnh mẽ Đối tượng tác động của các phươngpháp quản lý trong nhà trường cũng đang có sự chuyển biến nhanh chóng vềnhận thức và tâm lý Hoạt động dạy học không phải là công việc riêng lẻ củamỗi cá nhân Hiệu quả giáo dục mang lại không phải chỉ là của người quản lý
mà dựa vào sự nổ lực của toàn thể đội ngũ giảng viên và sinh viên của trường
Để nâng cao chất lượng, trong quản lý nhà trường, cũng như hoạt động dạy vàhọc, nhà quản lý cần phải rất chú trọng các phương pháp và nguyên tắc quản
lý và khơi nguồn động lực, để mọi thành viên của trường tham gia vào côngviệc chung, đem hết trí tuệ nhằm "Đào tạo thế hệ trẻ thành những người kếthừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa hồng vừa chuyên"
Trang 23Có thể hệ thống các biện pháp tổ chức, quản lý nhằm nâng cao tínhtích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên, như sau:
- Tăng cường và đổi mới quản lý quá trình dạy – học.
Việc đổi mới nhận thức của người quản lý về dạy học nhằm phát huytính tích cực, chủ động và sáng tạo của người học có tầm quan trọng đặc biệt
Vì khi đã nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của dạy học tích cực đốivới kết quả học tập; người cán bộ quản lý sẽ tổ chức các hoạt động sư phạm,xây dựng cơ chế chính sách và đầu tư xây dựng, hoàn thiện cơ sở vật chất, tạocác điều kiện thuận lợi để người tổ chức dạy học nhằm khơi dạy ở người họcnội lực cần thiết để học tập một cách chủ động và sáng tạo; đưa phong tràođổi mới, cải tiến phương pháp dạy học đi vào trọng tâm và có chiều sâu
Ngoài ra, việc phối hợp hoạt động giữa nhà trường với các khoa, bộmôn, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành…sẽ được tổ chức khoa học và hoànthiện hơn Việc bố trí, sắp xếp thời gian biểu, nội dung, chương trình, trangthiết bị dạy học sẽ tạo các điều kiện thuận lợi hơn để phục vụ dạy học nhằmtích cực hóa hoạt động học tập của người học
Một vấn đề không kém phần quan trọng là cần đổi mới phương phápquản lý, đánh giá quá trình dạy học Người quản lý cần lấy mục tiêu: học – hiểu– hành làm tiêu chí đánh giá chất lượng và hiệu quả quá trình dạy học
- Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy của
Vấn đề quan trọng và có tính cấp bách hiện nay là những người làmcông tác quản lý cần thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá chất lượng đào tạo,đánh giá , chống bệnh thành tích trong giáo dục để những người thầy, người
cô không phải dạy học theo kiểu đối phó; để người có thể thay đổi cách nhìn,tầm nhìn về các phương thức truyền thụ kiến thức cho người học, thay đổicách dạy học truyền thống bằng cách phương pháp dạy học tiến tiến và có
Trang 24hiệu quả.
Trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực,chủ động và sáng tạo của người học trong học tập thì đội ngũ là yếu tố đóngvai trò quyết định
Từ nhận thức trên, nhà trường cần quán triệt tư tưởng dạy học “lấyngười học làm trung tâm” cho đội ngũ ; làm cho họ thấy rằng: chất lượng đàotạo thể hiện chính lương tâm của người thầy đối với nghề nghiệp và đối vớihọc trò, là mục đích sống còn của cơ sở đào tạo Nhà trường và các phòngban nghiệp vụ cần tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ kiến thức và các kỹ năng
về nghiệp vụ sư phạm giúp họ những cơ sở để đổi mới phương pháp dạy học
- Tăng cường quản lý quá trình học.
Nhà trường và các thầy cô bằng các hoạt động thiết thực của mình: tổchức nói chuyện, hội thảo, xây dựng truyền thống học tập, các điển hình họctốt… để xây dựng cho sinh viên động cơ và thái độ học tập đúng đắn làm cơ
sở cho việc học tập tích cực, chủ động và sáng tạo
Bằng cơ chế, chính sách khuyến khích khen thưởng: học bổng, vượtgiai đoạn, ưu tiên công tác,… góp phần củng cố và phát huy tinh thần học tậpsáng tạo của sinh viên trong trường
Để giúp người học có được những công cụ cần thiết cho hoạt động tựhọc chủ động và sáng tạo, đội ngũ cần kết hợp với bài giảng, rèn luyện chosinh viên các kỹ năng tự học cơ bản như: đọc, ghi chép, ôn tập, tự kiển tra vàđánh giá, làm việc nhóm, ghi nhớ…
Song song với các biện pháp quản lý trên, các nhà quản lý cần tổ chứcquản lý quá trình học tập, tự học của sinh viên thông qua đội ngũ cán bộ quản
lý, đội ngũ và cán bộ lớp bằng các quy định, kế hoạch, kỷ luật học tậpnghiêm túc và có tính khoa học
Trang 25- Tăng cường quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị.
Với đặc trưng là nhà trường chuyên ngành khối kinh tế - kỹ thuật, đểphục vụ tốt việc học tập tích cực, sáng tạo; nhà trường cần đầu tư xây dựng vàhoàn thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học như: phòng thí nghiệm,xưởng thực hành, mạng máy tính, thư viện, các phương tiện nghe nhìn tiếntiến hiện đại: overhead, projector, multimedia… tiến tới chuẩn hóa các điềukiện về cơ sở vật chất và trang thiết bị nhằm phục vụ ngày một tốt hơn côngtác đào tạo và nghiên cứu của nhà trường
Cùng với nội dung trên, cần khuyến khích đội ngũ khai thác, sử dụng
và cải tiến đồ dùng dạy học và các trang thiết bị dạy học nhằm nâng cao hiệuquả sử dụng và chất lượng đào tạo
* Các nội dung cơ bản quản lý hoạt động dạy học
- Xây dựng kế hoạch dạy học năm học
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, thực hiện có hiệu quả kế hoạch dạy họcnăm học
- Chỉ đạo việc thực hiện mục tiêu, chương trình dạy học
- Chỉ đạo xây dựng nề nếp dạy học
- Chỉ đạo, phân cấp quản lý cho các khoa, tổ chuyên môn tổ chức cáchoạt động bồi dưỡng năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm cho giảng viên
- Chỉ đạo các khoa, chủ nhiệm, các tổ chức Đoàn, Hội sinh viênhướng dẫn hoạt động học của sinh viên theo chức năng của mình
- Chỉ đạo các khoa, tổ chuyên môn tiến hành hoạt động kiểm tra, đánhgiá kết quả dạy học và thực hiện kế hoạch dạy học năm học
- Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp dạy học
Trang 261.1.2.5 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý và nâng cao chất lượng hoạt động dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo.
Với mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới đã được hoạch định, cầnphải có sự thay đổi đồng bộ cả nội dung, phương pháp và điều kiện giáo dục
vì khi mục đích thay đổi thì cả nội dung và phương pháp cần phải thay đổicho phù hợp Phương pháp giáo dục phải trực tiếp đáp ứng yêu cầu của mụctiêu giáo dục thời kỳ đổi mới Như vậy, dạy học là giúp cho SV trang bịnhững gì cần thiết để đi vào cuộc sống, vừa giúp cho SV tiếp thu khoa họcvừa làm theo khoa học, đồng thời biết áp dụng kiến thức công nghệ - kỹ thuậtgiải quyết các vấn đề thực tiễn, thích nghi nhanh chóng với đời sống cộngđồng đang đổi mới hàng ngày Từ chỗ dạy kiến thức khoa học đơn thuần đếnchỗ chuẩn bị "con người hành động", "con người thực tiễn" thì dạy học phảigắn liền với công nghệ, kỹ thuật và gắn liền với xã hội: "Khoa học - côngnghệ - xã hội -phát triển nhân cách"
Tuy vậy, trong những năm qua, việc dạy học trong các trường ĐH nóichung và trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội nói riêng còn tồn tạinhiều bất cập Trong giảng dạy, GV chủ yếu trình bày kiến thức rồi cho SVchép bài Thời lượng của tiết học bị tiêu tốn nhiều cho việc ghi bảng và đọcchép; GV cũng ít nêu ra các vấn đề cho SV suy nghĩ, thảo luận tìm cách giảiquyết Cách dạy này làm cho SV thụ động, quen với lối học thuộc lòng, họcvẹt, trong khi đó các năng lực tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, đánhgiá và vận dụng kiến thức vào thực tiễn của SV không được rèn luyện Kiểudạy này chỉ phù hợp trong điều kiện SV không có giáo trình, không có nguồntài liệu nào ngoài GV Ngày nay, điều kiện dạy và học đã rất khác so với trướckia bởi nhiều trường được trang bị nhiều phương tiện dạy học hiện đại nhưcác thiết bị thí nghiệm, máy tính, projecteur, các phần mềm dạy học Hơn nữa,trong đời sống xã hội việc tiếp cận với công nghệ thông tin đã trở nên phổ
Trang 27biến Nhờ đó, SV có thể tìm kiếm kiến thức từ nhiều nguồn khác nhau:internet, tài liệu tham khảo,…[15,tr.1]
Để đáp ứng được mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới, việc đổi mớiphương pháp dạy học thụ động hiện nay được đặt thành nhiệm vụ trọng tâm.Như giáo sư Trần Hồng Quân đã khẳng định: "Muốn đào tạo được con ngườikhi vào đời là con người tự chủ, năng động và sáng tạo thì phương pháp giáodục cũng phải hướng vào việc khơi dậy, rèn luyện và phát triển khả năng nghĩ
và làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo ngay trong lao động học tập ởnhà trường" Phương pháp nói trên, trong khoa học giáo dục thuộc về hệthống các phương pháp giáo dục tích cực, lấy người học làm trung tâm, một
hệ phương pháp có thể trực tiếp đáp ứng các yêu cầu định hướng cho việc lựachọn, thiết kế lại nội dung học tập cho phù hợp với các yêu cầu cơ bản củamục tiêu giáo dục trong thời kỳ đổi mới
Quan điểm "dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của SV,người học là trung tâm của quá trình dạy học", gọi tắt là "dạy học tích cực, lấyngười học làm trung tâm" Đây là một tư tưởng tiến bộ với một số mô hìnhthử nghiệm đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử phát triển giáo dục từ vài thập
kỷ nay Một số nước Tây Âu và trong khu vực Đông Nam Á đã thực sự quántriệt tư tưởng này trong toàn bộ hoạt động dạy học Tư tưởng này có nguồngốc từ những kết quả nghiên cứu được thực hiện ở lĩnh vực tâm lý nhận thứctrong giáo dục: hướng phát triển trong học tập và giảng dạy [8,tr.11]
Vấn đề được đặt ra là: thực chất dạy học tích cực, lấy người học làmtrung tâm là gì? Đây là vấn đề đang còn tranh cãi và được lý giải bằng nhiềucách khác nhau, có khi đối lập nhau Song, đây là vấn đề then chốt, khai thôngcho việc nghiên cứu ứng dụng các phương pháp giáo dục tích cực vào nhàtrường
Trang 28+ Tích cực ở đây gắn liền với chủ động, với hứng thú và phương thức
tự phát triển để làm biến đổi nhận thức Tích cực hay thụ động ở đây là nói vềthái độ của SV chứ không phải của nhà giáo bởi có thể GV rất tích cực giảngdạy mà SV vẫn cứ thụ động tiếp thu
+ "Người học là trung tâm": người học sẽ tích cực nhiều hơn trong quátrình học tập
+ Người học tự xây dựng kiến thức cho chính mình
+ Người dạy phải là người thiết kế tiến trình học tập và hướng dẫnngười học trong tiến trình đó
Như vậy, dạy học tích cực, lấy người học làm trung tâm dựa trênnguyên tắc "GV giúp SV tự khám phá trên cơ sở tự giác và được tự do suynghĩ, tranh luận, đề xuất giải quyết vấn đề" GV trở thành người hướng dẫn,
SV trở thành người khám phá, người thực hiện và cao hơn nữa là "ngườinghiên cứu" Qua kiểu dạy học này mà ngay từ trên ghế nhà trường SV đãđược tập dượt giải quyết những tình huống vấn đề sẽ gặp trong đời sống xãhội, bằng những hành động của chính mình Qua những lần "hành để học" đó,
SV vừa nắm được kiến thức vừa có những thái độ và hành vi ứng xử thíchhợp cũng như SV đã tự lực hình thành và phát triển dần dần cho bản thânmình nhân cách của một con người hành động, con người thực tiễn "tự chủ,năng động, sáng tạo, có năng lực giải quyết vấn đề, có năng lực tự học", đápứng mục tiêu giáo dục thời kỳ đổi mới
Tăng cường quản lý đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động dạy vàhọc theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo là một yêu cầu tất yếu trong sựnghiệp đổi mới giáo dục – đào tạo của nước ta Đây cũng đang là vấn đề cấpbách không chỉ được toàn ngành giáo dục quan tâm mà cũng là sự quan tâmtrong đường lối lãnh đạo công tác giáo dục của Đảng, từng được ghi trong các
Trang 29Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) và Nghị quyết Trung ướng 2 (khoáVIII), Luật giáo dục.
Vấn đề đổi mới quản lý hoạt động dạy và học theo hướng tích cực, chủđộng và sáng tạo không phải là mới đối với công tác giáo dục đào tạo tại cáctrường ĐH Nó đã được đề cập, phát động dưới nhiều cách thức khác nhautrong các nhà trường từ thập kỷ 70 (thế kỷ XX) Đội ngũ giảng viên của ta ítnhiều cũng đã được trang bị kiến thức sư phạm giảng dạy tích cực Vậy thì tạisao vấn đề đó bây giờ chuyển động vẫn rất chậm chạp, vẫn được đánh giá làyếu kém Có rất nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan Song nguyên nhânquan trọng nhất là: công tác quản lý, từ cấp quản lý hệ thống tới quản lý ở cáctrường còn nhiều bất cập Phần đông các chủ thể quản lý (nhất là hiệu trưởngnhà trường) chưa thực sự vào cuộc, thậm chí chưa được quan tâm trong côngtác chỉ đạo, quản lý Bởi vậy, muốn quá trình đổi mới quản lý hoạt động dạy
và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo ở trường có hiệu quả, cầnđổi mới công tác quản lý, nhằm giải quyết những bất cập, những trở ngại choquá trình này
1.2 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC, CHỦ ĐỘNG VÀ SÁNG TẠO - QUAN NIỆM, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ.
1.2.1 Quan niệm về chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo
Thuật ngữ chất lượng trong khoa học xã hội được các nhà khoa họctiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau
Theo Từ điển Triết học ‘Chất lượng (chất) là tính quy định bản chấtcủa sự vật, tính quy định những đặc điểm và tính cách vốn có của sự vật; do
Trang 30tính quy định đó, sự vật là sự vật như nó đang tồn tại, chứ không phải là sự vậtnào khác; tính quy định đó phân biệt sự vật ấy với sự vật khác” [24].
Dưới góc độ kinh tế học thì chất lượng là tập hợp những tính chất củasản phẩm, thể hiện mức độ thoả mãn những yêu cầu định trước cho nó, trongđiều kiện xác định về kỹ thuật, kinh tế, xã hội
Còn theo từ điển tiếng Việt, chất lượng là ‘cái tạo nên phẩm chất , giátrị của một con người, một sự việc”[25]
Dựa trên cơ sở khoa học nêu trên, có thể hiểu chất lượng công tác quản
lý dạy và học theo hướng tích cực chủ động của trường ĐH Kinh doanh và
Công nghệ Hà Nội là tổng thể những đặc điểm phẩm chất, năng lực, phẩm
chất tâm lý, nguồn lực, cơ chế, điều kiện cần thiết bảo đảm cho hoạt động giáo dục đào tạo của trường đúng mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, phù hợp với thực tiễn và sự phát triển của xã hội, góp phần thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
1.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy
và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo
+ Sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của các Ban giám hiệu nhà trường vớihoạt động dạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo
+ Cơ cấu đội ngũ giảng viên
+ Năng lực thực hiện công tác giảng dạy của đội ngũ giảng viên
+ Nội dung, phương pháp dạy và học
+ Khả năng đáp ứng cơ sở vật chất cho hoạt động dạy và học theo hướngtích cực, chủ động và sáng tạo
+ Sự chuyển biến về chất sau khi thực hiện công tác quản lý hoạt độngdạy và học theo hướng tích cực, chủ động và sáng tạo
Trang 31Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI – NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 2.1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
2.1.1 Khái quát bộ máy quản lý của nhà trường
Trường ĐH dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà nội (nay là Trường ĐHKinh doanh và Công nghệ Hà nội), thành lập theo Quyết định số 405/TTgngày 15 tháng 6 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ, là một đơn vị thành viêncủa Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam Hội đồng sáng lập Trường do Trungương Hội tập hợp các nhà trí thức có tâm huyết để lập nên, trong đó nòng cốt
là các cán bộ chủ chốt của Trung ương Hội
Về đào tạo
Số liệu thống kê cho thấy sự phát triển của Trường qua 15 năm, trong
đó có 2 nét nổi bật là:
Quy mô đào tạo được mở rộng liên tục trên cơ sở đa dạng hoá ngành
nghề, cấp độ đào tạo và hình thức đào tạo
Mở rộng quy mô đào tạo gắn liền với việc tăng cường đội ngũ giảng
viên, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo
Từ 850 sinh viên ĐH hệ chính quy năm học đầu tiên, qua 15 năm,
Trường đã tiếp nhận tổng số 52.794 sinh viên thuộc 4 cấp độ đào tạo: ĐH
44.439 sinh viên, chiếm 86,6%; cao đẳng 2.782 sinh viên, chiếm 5,4%; trung
Trang 32cấp chuyên nghiệp 3.672 sinh viên, chiếm 7,2%; cao học 386 học viên,chiếm 0,8%
Từ 3 ngành đào tạo ĐH trong 7 năm đầu, đã mở thêm 10 ngành, đưa
tổng số ngành đào tạo ĐH lên 13 ngành gồm: Quản lý Kinh doanh, Kế toán,
Tài chính - Ngân hàng (năm học 2010 - 2011 đã tách thành 2 ngành riêng biệt
là ngành Tài chính và ngành Ngân hàng), Thương mại, Du lịch, Cơ Điện tử,Điện - Điện tử, Kiến trúc, Xây dựng, Công nghệ Thông tin, tiếng Anh, tiếng
Trung Quốc Các ngành thu hút nhiều sinh viên là Kế toán, Tài chính, Ngân
hàng và Quản lý kinh doanh Quy mô đào tạo hằng năm không ngừng tăng
lên Năm học 2010-2011, quy mô đào tạo của toàn trường là 30.730 sinh viên.
Trường đã sớm triển khai (từ năm 2000) liên kết đào tạo với các trường
ĐH nước ngoài Đã gửi đi du học 886 sinh viên ĐH và 81 học viên cao học.
Đã có 532 cử nhân và 81 thạc sỹ được nhận bằng tốt nghiệp của các trường
ĐH nước ngoài
Về xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
Sau khi hoàn thành xây dựng ngôi trường ở Vĩnh Tuy năm 2005, với20.000m2 sàn, đủ chỗ học cho 10 ngàn sinh viên (2 ca/ngày) đang xây dựngngôi trường thứ 2 ở Vĩnh Tuy với 20.000m2 sàn, đủ chỗ học cho 10 ngànsinh viên
Trường còn xây dựng được một số phòng máy để phục vụ công tác giảngdạy và thực hành của sinh viên Số máy tính dùng cho sinh viên là 2.015 chiếc,dùng cho quản lý là 130 chiếc Các phòng học còn được trang bị 70 máy phóng(Projector) và 130 máy lạnh
Trang 33SƠ ĐỒ TỔ CHỨC CỦA TRƯỜNG
CÁC ĐƠN VỊ ĐÀO TẠO CÁC TỔ CHỨC QUẢN Lí VÀ PHỤC VỤ
1- Khoa Quản lý kinh doanh
2- Khoa Thương mại
3- Khoa Du lịch
4- Khoa Tài chớnh
5- Khoa Ngõn hàng
6- Khoa Kế toỏn - Kiểm toỏn
7- Khoa Cụng nghệ Thụng tin
8- Khoa Điện - Điện tử
9- Khoa Cơ Điện tử
10- Khoa Xõy dựng
11- Khoa Kiến trỳc
12- Khoa Tiếng Anh I
13- Khoa Tiếng Anh II
14- Khoa Tiếng Trung- Tiếng Nhật
15- Khoa Kinh tế
16- Khoa Triết học và Khoa học xó hội
17- Khoa Luật kinh tế
18- Khoa Toỏn kinh tế
19- Khoa Giỏo dục thể chất
20- Khoa Giỏo dục quốc phũng
21- Khoa CĐ và Trung cấp chuyên nghiệp
22- Khoa Đại học tại chức
23- Khoa Sau đại học
24- Trung tâm đào tạo trực tuyến (Elearning)
25- Trung tâm Hợp tác đào tạo với nớc ngoài
26- Trung tâm bồi dỡng cán bộ Quản lý
Trờng Cao đẳng nghề
1- Văn phòng 2- Phòng Giáo vụ 3- Phòng Khoa học đào tạo và Kế hoạch chiến lợc
4- Phòng Công tác sinh viên 5- Trung tâm Tin học 6- Th viện
7- Trung tâm T vấn và Dịch vụ sinh viên 8- Viện Nghiên cứu Quản lý và Kinh doanh
9- Bản tin 10- Phòng Tổ chức cán bộ 11- Phòng Tài vụ
12- Phòng Quản trị 13- Phòng Y tế 14- Phòng Quan hệ quốc tế 15- Phòng Xây dựng 16- Ban Văn hoá - Văn nghệ - Thể thao
17- Ban Thanh tra - Pháp chế 18- Ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ
Ban Giỏm hiệu
Hội đồng Quản trị Ban
Trang 34Về kết quả đào tạo: tính đến 31/12/ 2010 Trường đã cấp bằng tốt
nghiệp cho 15.991 cử nhân và 73 thạc sỹ Trong đó, ĐH chính quy (11 khoá)
13.234 cử nhân, đạt tỷ lệ tốt nghiệp so với số sinh viên đầu khoá là 83,6 % ĐHliên thông (2 khoá) 743 cử nhân, tỷ lệ tốt nghiệp 77,5% Cao đẳng chính quy (5khoá) 845 cử nhân, tỷ lệ tốt nghiệp 83,3% Trung cấp chuyên nghiệp (cao đẳng 2năm) 1.169, tỷ lệ tốt nghiệp 78,6%
Chất lượng đào tạo từng bước được nâng lên Tỷ lệ sinh viên tốt
nghiệp đạt loại khá và giỏi ngày càng tăng Tỷ lệ này chỉ đạt 30% ở nhữngkhoá đào tạo ĐH đầu tiên, đến các khoá 5 và 6 đã được nâng lên 50 - 60%,các khoá gần đây (8, 9, 10, 11) đã đạt 80%
Về nghiên cứu khoa học
Trường đã huy động giảng viên cơ hữu tập trung nghiên cứu các đề tài
do công tác đào tạo của Trường đặt ra: xây dựng chương trình, biên soạn giáotrình, đổi mới phương pháp dạy và học, xây dựng ngân hàng câu hỏi thi trắcnghiệm cho các học phần, thiết kế các phần mềm quản lý và giảng dạy
Đã xây dựng và nhiều lần bổ sung hoàn chỉnh 35 chương trình đào tạothuộc các trình độ khác nhau, 250 chương trình các học phần
Đã biên soạn 128 giáo trình và bài giảng Xây dựng ngân hàng câu hỏithi trắc nghiệm với hơn 70 nghìn câu hỏi
Đã nghiên cứu và ứng dụng 10 phần mềm quản lý và giảng dạy
Đã dành hơn 12 tỷ đồng cho nghiên cứu khoa học
Phong trào nghiên cứu khoa học của sinh viên đạt được một số kết
quả đáng khích lệ: 12 đề tài đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo khen, trong đó
có 1 giải Nhì, 3 giải Ba và 8 giải Khuyến khích
Các đội tuyển sinh viên của Trường liên tục tham dự Olympic tin họcsinh viên toàn quốc từ năm 2002 đến 2010 và đã đoạt các giải như sau:
Trang 35- Giải đồng đội: Giải Nhất năm 2010; Giải Ba các năm 2004, 2005 và
2006; Giải Khuyến khích năm 2003
- Giải cá nhân: 5 sinh viên đoạt giải Nhì; 3 sinh viên đoạt giải Ba; 8
sinh viên đoạt giải Khuyến khích
- Năm 2010 và 2011 tham dự Olympic Cơ học - Điện tử sinh viên toàn
quốc đã đoạt 1 giải Ba đồng đội, 4 giải Nhì cá nhân và 3 giải khuyến khích cánhân
2.1.2 Công tác quản lý hoạt động giảng dạy của trường
Tại trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, Hiệu trưởng làngười phụ trách chung; giúp việc cho Hiệu trưởng có bốn Phó Hiệu trưởng,gồm có Phó Hiệu trưởng kiêm trưởng phòng tổ chức nhân sự, Phó hiệutrưởng kiêm trưởng phòng giáo vụ, Phó Hiệu trưởng kiêm trưởng phòng liênkết đào tạo nước ngoài và Phó Hiệu trưởng phụ trách tài chính Cơ cấu BanGiám hiệu như hiện nay là gọn nhẹ và hiệu quả
Ban Giám hiệu là cơ quan cao nhất trong trường, phụ trách toàn bộhoạt động của trường, lãnh đạo, chỉ đạo các phòng, ban, khoa trong trườnghoạt động theo kế hoạch đào tạo của nhà trường Trợ giúp công tác quản lýgiảng dạy của trường cùng với Ban giám hiệu có phòng Khoa học đào tạo vàchiến lược phát triển với nhiệm vụ thực hiện việc quản lý, giám sát quá trìnhđào tạo: nội dung, chương trình, sách giáo khoa, giáo trình, Trực tiếp phụtrách hoạt động quản lý dạy học của nhà trường là phòng Giáo vụ Tráchnhiệm chủ yếu của phòng Giáo vụ là tổ chức lịch trình dạy học toàn trường,kiểm tra chế độ công tác , thực tập, kiểm tra học phần, theo quy định của
Bộ GD&ĐT và quy chế của nhà trường
Trong quá trình phát triển, trường ĐH Kinh doanh và Công nghệ Hà
Trang 36Nội nhận định quản lý tốt quá trình dạy học và quán triệt mục tiêu nguyên lýgiáo dục trong thực tiễn dạy học là một vấn đề vô cùng quan trọng để nângcao chất lượng đào tạo Trong nhiều năm qua, trường ĐH Kinh doanh vàCông nghệ Hà Nội đã luôn xác định: trong vấn đề quản lý dạy học, vai tròchủ đạo thuộc về lực lượng giảng viên, cán bộ quản lý và tính tích cực, sángtạo của sinh viên Trong đó, nhà trường và các phòng ban chức năng tập trunglàm tốt công tác kế hoạch và quản lý kế hoạch Đó là kế hoạch khóa học, kếhoạch năm học, kế hoạch môn học, sơ đồ lưới lôgíc môn học và thời khóabiểu Các kế hoạch này được cụ thể hóa trong các kế hoạch riêng như: kếhoạch hoạt động phương pháp, kế hoạch kiểm tra giảng dạy, kế hoạch nghiêncứu khoa học, kế hoạch thực tập, thi, kiểm tra Trong đó nhà trường, mà cụthể là phòng Giáo vụ tập trung xây dựng thời khóa biểu theo các phần mềmmới nhất với phương châm tỷ mỉ, chính xác, đảm bảo tính khoa học và lôgíccủa từng môn học Hỗ trợ cho phòng giáo vụ có Trung tâm Công nghệ thôngtin nhà trường trong các khâu liên quan đến kỹ thuật công nghệ phần mềmsắp xếp lịch biểu.
Các khoa, bộ môn trực thuộc của trường ĐH Kinh doanh và Côngnghệ Hà Nội chịu trách nhiệm và quản lý toàn bộ quá trình học của sinh viênthuộc chuyên ngành của mình; tổ chức xây dựng chương trình, biên soạn giáotrình các môn học; nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập, tổchức bồi dưỡng và nâng cao trình độ giảng viên; cùng phối hợp với nhàtrường xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học ; kết hợp với phòngKhoa học đào tạo và chiến lược phát triển tổ chức khảo sát giáo trình, dự giờ,kiểm tra và đánh giá chất lượng giảng viên hàng năm
Trang 37Việc quản lý các hoạt động của giảng viên chủ yếu dựa vào công việcnhư: kế hoạch công tác cá nhân, khoa, nhà trường và thời khóa biểu phâncông giảng dạy; nhà trường không thực hiện quản lý giảng viên theo giờ hànhchính Cùng với các chính sách khuyến khích giảng viên trong công tác dạyhọc, nhà trường cũng quan tâm tạo điều kiện để các giảng viên nghiên cứu,học tập nâng cao trình độ chuyên môn.
Để làm tốt công tác quản lý sinh viên, nhà trường có phòng Công tácsinh viên hỗ trợ đào tạo trong tổ chức quản lý sinh viên chủ yếu về phươngdiện chính trị và đoàn thể, liên quan đến hoạt động chính sách, chế độ khenthưởng và kỷ luật Phòng Công tác sinh viên cùng với Đoàn thanh niên vàHội sinh viên quản lý, giúp sinh viên tự học, hoạt động văn nghệ, thể dục thểthao và các hoạt động khác nhằm tập hợp, quản lý và giáo dục sinh viên ngoàithời gian trên giảng đường
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH DOANH VÀ CÔNG NGHỆ HÀ NỘI
2.2.1 Đội ngũ giảng viên làm công tác giảng dạy ở các bộ môn trong trường.
Để có cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất các biện pháp bồi dưỡngcho đội ngũ giảng viên, tác giả thu thập số liệu về đội ngũ giảng viên từ phòng
Tổ chức – hành chính
- Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo trình độ:
Tổng số giảng viên của Trường hiện nay là 904 người Trong đó,
giảng viên cơ hữu: 394 người, chiếm tỷ lệ 43,58%, với 62,7% có trình độ thạc
sỹ trở lên, giảng viên thỉnh giảng: 510 người, chiếm tỷ lệ 56,42%, với 59,4%
có trình độ thạc sỹ trở lên
Trang 38Biểu đồ 1
Cơ cấu đội ngũ giảng viên trường Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Giảng viên cơ hữu 43.58%
Giảng viên thỉnh giảng 56.42%
Theo thống kê, đội ngũ giảng viên của trường có trình độ tương đốicao Trong tổng số 904 giảng viên đang tham gia giảng dạy của trường có tới
550 người có trình độ từ thạc sỹ trở lên chiếm 60,85%, trong đó: giảng viên cóhọc hàm phó giáo sư, giáo sư là 60 người chiếm tỷ lệ 12%, giảng viên có học
vị tiến sỹ là 184 người chiếm tỷ lệ 33,45%
Trang 39Có một điểm đặc biệt, do trường ĐH kinh doanh và công nghệ Hà Nội
là trường tư thục nên đội ngũ giảng viên của trường phải đạt chất lượng nhấtđịnh mới được đứng lớp Khi tuyển chọn giảng viên, nhà trường ưu tiên tuyểnchọn những người có năng thực giảng dạy giỏi, có kinh nghiệm, có năng lựcsáng tạo và năng lực hoạt động thực tiễn Những đối tượng đạt tiêu chuẩntuyển dụng của trường được đãi ngộ với mức lương tương đối cao và thù laogiảng dạy thỏa đáng Có thể nói đây là điểm mạnh của trường trong tuyểndụng nhân lực mà các trường ĐH khác khó có thể có được
Những kết quả khảo sát cho thấy, giảng viên được bồi dưỡng, cậpnhật thường xuyên về chuyên môn Họ có nhiều cơ hội để tiếp xúc thực tiễn,
có kiến thức sâu trong ngành, nhưng về nghiệp vụ sư phạm thì đa phần chưađược qua đào tạo Điều này đã làm giảm chất lượng và hiệu quả của bàigiảng Vì vậy, đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao trình độchuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên là rất cần thiết và phải thựchiện thường xuyên
Tổng số giảng viên quy đổi của Trường là 700 người Trong đó, giảng
viên cơ hữu chiếm 80% (565 người) và giảng viên thỉnh giảng chiếm 20% (135người) Giảng viên cơ hữu đảm nhận trên 80% khối lượng giảng dạy Số lượngsinh viên quy đổi trên một giảng viên quy đổi của các năm 1999-2000; 2004-2005; 2009-2010 và 2010-2011 tương ứng như sau: 31; 25; 24; 24
Với tỷ lệ 80% giảng viên cơ hữu, 20% giảng viên thỉnh giảng, trong sosánh với các trường ĐH tư thục khác ở nước ta, là tỷ lệ lý tưởng Số lượng sinhviên quy đổi trên một giảng viên quy đổi hiện nay là 24, đây cũng là tỷ lệ quyđổi khá lý tưởng trong so sánh với các trường ĐH khác trên địa bàn Hà nội, kể
cả trong so sánh với các trường ĐH công lập Tuy nhiên quá trình phát triển
Trang 40giáo dục luôn đòi hỏi cơ cấu tỷ lệ giảng viên cơ hữu cao hơn nữa, đảm bảo khốilượng giảng dạy nhiều hơn nữa.
- Cơ cấu đội ngũ giảng viên theo độ tuổi và giới tính:
Theo số liệu thống kê, cơ cấu đội ngũ giảng viên chia theo giới tínhcủa trường kể từ năm 2005 đến tháng 6/2011 không thay đổi nhiều qua từngnăm Năm 2011, tổng số giảng viên của Trường hiện nay là 904 người, trong
đó nam: 675 người, nữ: 329 người Với 329 giảng viên nữ trên tổng số 904giảng viên, chiếm tỷ lệ 36,4%, cơ cấu giới tính trong đội ngũ giảng viên toàntrường được xem là khá hợp lý
Qua khảo sát, có điều đáng chú ý đó là cơ cấu độ tuổi của đội ngũ giảngviên, quản lý của trường ĐH kinh doanh và công nghệ Hà Nội có độ tuổitrung bình là 50 tuổi, đây là độ tuổi khá cao so với mặt bằng chung của nhiềutrường ĐH khác Độ tuổi từ 50 đến trên 70 chiếm tỷ lệ 48%, trong khi đó độtuổi từ 25 đến 35 chỉ chiếm tỷ lệ 8%