BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN TRƯỜNG GIANG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THUỘC HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH TÓM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THUỘC HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CHUYÊN NGÀNH : QUẢN LÍ GIÁO DỤC
MÃ SỐ : 60 14 05
Vinh - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau hơn hai năm học tập, được nghiên cứu các chuyên đề của chương trình khoa học quản lí giáo dục, bản thân tôi đã nhận thức được rất nhiều kiến thức trong quản lí giáo dục đào tạo Với những kiến thức đã học, cùng với thực
tế hoạt động quản lí và công tác, tôi đã cố gắng hoàn thành luận văn này.
Xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Nhã Bản - Người hướng dẫn khoa học đã tận tâm trau dồi tư duy, bồi dưỡng kiến thức, phương pháp nghiên cứu và trực tiếp giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả chân thành cảm ơn: Hội đồng khoa học, Khoa Sau Đại học trường Đại học Vinh; Sở giáo dục và Đào tạo Hà Tĩnh; Lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục – Đào tạo Hương Sơn; các thầy giáo, cô giáo; đội ngũ cán bộ quản lí của 36 Trường Tiểu học huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; cùng đông đảo bạn đồng nghiệp, đã tận tình quản lí, giảng dạy, giúp đỡ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở thực tế, tham gia đóng góp những ý kiến quí báu cho việc nghiên cứu đề tài.
Mặc dầu đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu, trình bày song chắc vẫn còn những điểm thiếu sót, kính mong nhận được những lời chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, ý kiến đóng góp trao đổi của các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 10 tháng 10 năm 2010
Tác giả Nguyễn Trường Giang
Trang 3DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
9 THCS Trung học cơ sở 24 SKKN Sáng kiến kinh nghiệm
10 ĐDDH Đồ dùng dạy học 25 UBND Ủy ban nhân dân
11 GD-ĐT Giáo dục - Đào tạo 26 QLGD Quản lí giáo dục
13 TTQL Thông tin quản lí 28 HĐH Hiện đại hóa
14 CSVC Cơ sở vật chất 29 PPDH Phương pháp dạy học
CÁC SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
2 Sơ đồ 2: Sơ đồ vị trí của kiểm tra trong chu trình quản lí 27
4 Sơ đồ 4: Mối liên hệ thông tin trong quản lí 41
5 Sơ đồ 5: Vòng liên hệ ngược trong kiểm tra quản lí 42
6 Sơ đồ 6: Các bước (giai đoạn) cơ bản của quá trình kiểm tra
Trang 41.2 Lí do về mặt thực tiễn 10
Chương 1: Cơ sở lí luận của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học. 12
1.3 Một số vấn đề chung về hoạt động kiểm tra nội bộ trường học 271.3.1 Vị trí, vai trò của kiểm tra nội bộ trường học 27
1.3.3 Mục đích, nhiệm vụ của kiểm tra nội bộ trường học 291.3.4 Đối tượng và nội dung kiểm tra nội bộ trường học 30
1.4 Cơ sở khoa học của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học 41
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học
thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
46
Trang 52.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và giáo dục – đào tạo trênđịa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
46
2.2 Thực trạng về hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học thuộc huyệnHương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra nội bộ ở
các trường tiểu học thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
3.2.5 Giải pháp tổ chức, chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ 65
3.2.5.2 Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các thành viên kiểm tra 65
Trang 63.2.6 Giải pháp chỉ đạo triển khai thực hiện nghiêm túc các hoạt động kiểm tra 67
3.2.6.2 Kiểm tra hoạt động sư phạm của tổ, khối chuyên môn 78
3.2.6.4 Kiểm tra cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và kiểm tra công tác tài
chính
81
3.2.7.1 Đối với mỗi cá nhân, bộ phận, tổ chức trong nhà trường 84
3.2.8 Giải pháp tổng kết hoạt động thanh tra, kiểm tra, kết hợp công tác thi đuakhen thưởng
Trang 7có ba yếu tố cơ bản là: lao động, tri thức và quản lí" [11, 55] Quản lí giáo dụccũng hình thành trong sự phát triển chung của xã hội và quản lí xã hội.
Nền giáo dục Việt Nam hình thành và phát triển theo chiều dài lịch sử củadân tộc Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, nền giáo dục nước nhàgắn liền với truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, đó là nét đẹp của nền vănhiến Việt Nam, niềm tự hào của dân tộc Việt Nam Truyền thống tốt đẹp ấy càngphát huy vai trò giá trị to lớn trong thời đại Hồ Chí Minh
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang làm biến đổi nhanh chóng, sâusắc mọi lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần của con người Khoa học trởthành lực lượng sản xuất trực tiếp, là động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế xãhội Vì vậy giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ trở thành nhân tố quyết định
vị thế của mỗi quốc gia trên trường quốc tế Muốn phát triển và hội nhập thànhcông đều phải quan tâm, chăm lo đến sự nghiệp của giáo dục và đào tạo
Nói đến giáo dục là nói đến con người, con người với đầy đủ tư cách là chủthể của mọi sự sáng tạo, chủ thể xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, vănminh; con người là nguồn lực cơ bản tạo ra mọi nguồn lực khác; con người pháttriển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng vềđạo đức, là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã xác định: "Cùng vớikhoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nângcao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Coi trọng cả quy mô, chấtlượng và hiệu quả giáo dục và đào tạo" [13] Quan điểm ấy tiếp tục được khẳngđịnh trong các văn kiện Đại hội IX và X của Đảng Con người vừa là mục tiêu,vừa là động lực của sự phát triển Đào tạo con người là vấn đề quan trọng nhấttrong hạ tầng kinh tế xã hội, là tiền đề cơ bản để thực hiện công nghiệp hoá, hiệnđại hoá đất nước Con người phát triển là yếu tố quyết định của mọi sự phát triển
Vì thế nhiều quốc gia đã nhận thức và có chủ trương ưu tiên phát triển giáo dục,
đã xác định giáo dục là một bộ phận quan trọng trong "Chiến lược con người"
Cùng với những thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới đất nước, sựnghiệp giáo dục và đào tạo có bước phát triển mới Quy mô phát triển giáo dục
Trang 8tiếp tục tăng ở tất cả các bậc học, cấp học, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớncủa nhân dân, chất lượng giáo dục đào tạo có những chuyển biến tích cực, nộidung, phương pháp dạy học có những đổi mới, cải cách giáo dục theo hướng hiệnđại hoá đã được thực hiện và thu được những thắng lợi bước đầu: Tỷ lệ học sinhtrong các độ tuổi đến lớp ngày càng cao, mô hình mạng lưới trường lớp các cấphọc từ Mầm non đến Đại học ngày càng đa dạng phong phú, đầu tư cơ sở vật chất
kỹ thuật cho giáo dục ngày càng được tăng cường, đội ngũ cán bộ chuyên gia cóhọc hàm, học vị, có thực tài ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng Chấtlượng và hiệu quả giáo dục là vấn đề không chỉ riêng của ngành giáo dục đào tạo
mà cần có sự quan tâm của toàn Đảng, của Nhà nước, của các cấp uỷ Đảng, chínhquyền và mọi tầng lớp nhân dân Giáo dục và đào tạo đã góp phần nâng cao dântrí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, là đòn bẩy tạo nên những chuyển biếnmạnh mẽ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Bên cạnh những thành tựu, giáo dục nước ta còn đứng trước nhiều khókhăn, yếu kém như trong Kết luận số 242-TB/TƯ ngày 15/4/2009 của Bộ Chínhtrị Kết luận nêu rõ, so với yêu cầu của Nghị quyết và yêu cầu phát triển đất nước,giáo dục và đào tạo chưa thật sự là quốc sách hàng đầu Mặc dù được tăng đầu tưtài chính nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao; công tác tổ chức, cán bộ, chế độ,chính sách chậm đổi mới Chất lượng giáo dục còn thấp và không đồng đều giữacác vùng, miền; quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; chươngtrình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa Côngtác quản lí giáo dục vẫn còn nhiều yếu kém và là nguyên nhân chủ yếu của nhiềuyếu kém khác; định hướng liên kết đào tạo với nước ngoài để xây dựng một nềngiáo dục tiên tiến, dân tộc, xã hội chủ nghĩa còn nhiều lúng túng trong bối cảnhtoàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; một số ngành, địa phương chưa nhận thức đầy đủ
và đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục, làm hạn chế khả năng thu hút cácnguồn lực để chăm lo cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo [20]
Bộ Chính trị đã đưa ra 7 nhóm nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục đếnnăm 2020: nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách,đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên; mở rộng quy mô giáo dục hợp lí; đổi
Trang 9mới mạnh mẽ quản lí nhà nước đối với giáo dục - đào tạo; xây dựng đội ngũ nhàgiáo và cán bộ quản lí giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng;tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáodục; bảo đảm công bằng xã hội trong giáo dục; tăng cường hợp tác quốc tế vềgiáo dục và đào tạo Kết luận nhấn mạnh, để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự nghiệpgiáo dục và đào tạo nước ta phải đổi mới căn bản, toàn diện, mạnh mẽ [20].
Thực hiện định hướng chỉ đạo đổi mới toàn diện sự nghiệp giáo dục đàotạo cần có sự đổi mới đồng bộ từ triết lí, tư duy, cơ chế, hoạch định chính sách,
hệ thống quản lí, Đổi mới quản lí giáo dục là một yêu cầu của mọi cấp quản lí
từ vĩ mô đến vi mô, trong đó có yêu cầu đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao tầm quan trọng của công tác
thanh tra kiểm tra Hồ Chí Minh luôn cho rằng thanh tra kiểm tra là “tai mắt của trên, là người bạn của dưới" Vì vậy trong lãnh đạo và quản lí, có kiểm tra mới
biết được mức độ và hiệu quả triển khai thực hiện công việc đến đâu, đường lối,chủ trương, chính sách đề ra đúng đắn hay không Người xem công tác kiểm tra,kiểm soát, thanh tra không chỉ là nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước mà còn là sựnghiệp của quần chúng; lãnh đạo, quản lí phải tổ chức để khai thác sức mạnh củaquần chúng trong hoạt động kiểm tra, giám sát Qua đó, Chủ tịch Hồ Chí Minhđưa ra những phương pháp căn bản để kiểm tra, giám sát có hiệu quả nhất là
“làm từ dưới làm lên", tức là quần chúng kiểm tra người lãnh đạo quản lí, hoặc là
"làm từ trên xuống", tức là người lãnh đạo kiểm tra cấp dưới Đồng thời kiểm tra cần có mục đích và cách thực hiện phù hợp, kiểm tra cốt để “làm rõ cán bộ, nhân viên tốt hay xấu; làm rõ ưu điểm hay khuyết điểm của các cơ quan; làm rõ ưu điểm hay khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết” [37] Như vậy kiểm tra
nhằm để phát huy ưu điểm, giúp nhau rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm,phát huy ưu điểm để cùng nhau tiến bộ Muốn đạt được kết quả đó, trước hết
“cán bộ làm công tác kiểm tra phải luôn học tập thấm nhuần đường lối của Đảng, phải luôn chú ý nâng cao khả năng chuyên môn, phải cố gắng công tác, phải trau dồi đạo đức cách mạng,…đặc biệt phải nâng cao ý thức tổ chức kỷ
Trang 10luật, phải thật thà tự phê bình và phê bình để làm gương trong việc chấp hành kỷ luật Đảng, phải chí công vô tư, không thiên vị, không thành kiến như thế thì mới làm tốt được công tác kiểm tra” [37] Theo Bác, để làm tốt công tác kiểm tra phải
tiến hành kiểm tra có hệ thống, toàn diện, kịp thời, linh hoạt tỉ mỉ, thường xuyên
và đặc biệt, người kiểm tra phải là người có uy tín
Nhà trường là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục quốc dân, để đổimới quản lí giáo dục phải đổi mới quản lí nhà trường Muốn vậy cần phải đổi mớiđồng bộ cơ chế quản lí từ trung ương đến địa phương, trong đó việc đổi mới công
tác thanh tra, kiểm tra là một yêu cầu không thể thiếu được, qua đó duy trì và tạo
sự phát triển ổn định của mỗi nhà trường, góp phần đổi mới sự nghiệp giáo dục –đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục
Kiểm tra là một chức năng cơ bản, quan trọng của quá trình quản lí, đó làcông việc không thể thiếu của người quản lí ở bất kỳ cấp nào Kiểm tra là chứcnăng cuối cùng trong một chu trình quản lí, đồng thời sẽ là tiền đề cho một chutrình quản lí tiếp theo
Kiểm tra nội bộ là một chức năng của quản lí trường học, là hoạt độngthường xuyên trong chu trình quản lí nhằm đảm bảo tạo lập mối liên hệ qua lạigiữa chủ thể và khách thể quản lí, từ đó nâng cao hiệu quả quản lí nhà trường
Vấn đề kiểm tra nội bộ trường học đã được các nhà khoa học, quản lí giáodục nghiên cứu và có nhiều công trình lớn Lí luận về kiểm tra nội bộ được trìnhbày tại các văn bản của Bộ Giáo dục - Đào tạo và các tài liệu về thanh tra, kiểmtra Tuy nhiên, lí luận về kiểm tra nội bộ trong trường học còn mang tính kháiquát chung, áp dụng cho cả hệ thống giáo dục quốc dân Trong phạm vi trườnghọc ở mỗi cấp học, trên mỗi địa bàn chưa có những công trình nghiên cứu mộtcách bài bản và những tài liệu cần thiết để các nhà trường nghiên cứu vận dụngnhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
1.2 Lí do về mặt thực tiễn:
Qua đánh giá thực tiễn cơ chế quản lí nhà nước ở Việt Nam, hoạt độngthanh kiểm tra là một trong những mắt xích yếu nhất của bộ máy quản lí hànhchính nhà nước, nó bộc lộ nhiều yếu kém, chậm đổi mới và có những biểu hiện
Trang 11tiêu cực Công tác thanh tra, kiểm tra chưa làm đúng chức năng, lãng tránh hoặc
bỏ qua rất nhiều những sự việc được cho là "có vấn đề" mà dư luận quan tâm.Với ngành giáo dục, hoạt động thanh tra, kiểm tra hiệu quả chưa cao, còn nặngtính hình thức, đặc biệt trong quá trình quản lí, điều hành, trong quy chế thi cử,đào tạo tuyển sinh, cấp phát văn bằng chứng chỉ, Nhiều sai phạm ở các cơ sởgiáo dục chưa được chấn chỉnh kịp thời, chức năng tư vấn, thúc đẩy sau thanh tra,kiểm tra chưa được chú trọng đúng mức Trong đó, hoạt động kiểm tra nội bộtrường học ở các trường phổ thông nói chung còn nhiều tồn tại, hạn chế, chưathực sự là đòn bẩy, đôi lúc gây cản trở và kìm hãm sự phát triển của nhà trường,
do đó chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng giáodục Ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh cũng cónhiều hạn chế nhưng chưa có những công trình nghiên cứu nghiêm túc nhằm đề
ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra nội bộ trường
học Đặc biệt để tích cực hưởng ứng cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và chủ đề "Đổi mới quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục" thì việc đổi mới hoạt động thanh tra và kiểm tra
nội bộ trường học được xem như là một giải pháp quan trọng cần phải tập trung
Với những lý do trên, tôi chọn cho mình đề tài " Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh".
2 Mục đích nghiên cứu.
Nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểu học trênđịa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh qua việc xây dựng các giải pháp mangtính khoa học và khả thi
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động kiểm tra nội bộ trường học trong
các nhà trường
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra nội bộ ở cáctrường tiểu học trên địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Trang 124 Giả thuyết khoa học.
Nếu xây dựng được giải pháp dựa trên đặc điểm của hoạt động kiểm tranội bộ trường học và thực trạng của hoạt động này tại huyện Hương Sơn, tỉnh HàTĩnh thì sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra nội bộ, góp phần nâng cao hiệulực, hiệu quả quản lí nhà trường và nâng cao chất lượng giáo dục
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu hệ thống những vấn đề lí luận về hoạt động quản lí, quản lí giáodục, quản lí nhà trường, hoạt động kiểm tra và kiểm tra nội bộ trường học
- Tìm hiểu cơ sở thực tiễn của vấn đề hoạt động kiểm tra nội bộ trong cáctrường tiểu học ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra nội
bộ trong trường tiểu học ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
5.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi các
trường tiểu học thuộc địa bàn huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
6 Phương pháp nghiên cứu.
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết:
- Nghiên cứu qua việc phân tích, tổng hợp các văn bản liên quan đến quản
lí giáo dục như: Luật giáo dục, Điều lệ trường tiểu học, nghiệp vụ quản lí, nghiệp
vụ thanh tra, kiểm tra và các thông tư, quy chế, quy định, hướng dẫn có liên quanđến hoạt động quản lí giáo dục của các cấp có thẩm quyền
- Khái quát hóa các nhận định độc lập, các kiến thức về tâm lí học quản lí,giáo dục học, xã hội học giáo dục, kinh tế học giáo dục, khoa học quản lí giáodục, lí thuyết hệ thống, quản lí nhà trường,
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
6.3 Nhóm phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm:
Trang 13Phương pháp quan sát (quan sát, điều tra thực tế) Phương pháp trắcnghiệm test Phương pháp chuyên gia.
7 Đóng góp của luận văn:
+ Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộ phụ tráchchuyên môn, thanh tra các Phòng GD–ĐT, cán bộ quản lí ở các trường phổthông
8 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục,luận văn có nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường tiểuhọc thuộc huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tranội bộ trong các trường tiểu học ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA
NỘI BỘ TRƯỜNG HỌC.
1.1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu.
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, là nhân tố
Trang 14trên trường quốc tế Đặc biệt trong thời đại ngày nay khi toàn cầu hóa và hộinhập quốc tế trở thành xu thế không thể cưỡng lại, cùng với sự phát triển của xãhội thông tin và nền kinh tế tri thức thì vai trò của giáo dục đào tạo và khoa họccông nghệ càng trở nên quan trọng, trở thành nhu cầu thiết yếu của mọi quốc gia
Nhận thức được vấn đề này, các nước trên thế giới đã dành sự đầu tư tốtnhất cho giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ Nhờ đó mà các quốc gia này
đã nhanh chóng khẳng định được vị thế của mình, với nền kinh tế phát triểnnhanh, bền vững, trình độ khoa học kỹ thuật hiện đại, trở thành những nước cónền sản xuất tiên tiến Trong số đó có các quốc gia gần gũi, với xuất phát điểm vàcác điều kiện tương đồng với Việt Nam, điển hình trong khu vực Châu Á là NhậtBản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Xingapo, Ấn Độ, Thái Lan,
Giáo dục và đào tạo chịu sự chi phối của thể chế chính trị, sự phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia Để có một nền giáo dục phát triển, cầnphải có một hệ thống lí luận, quan điểm đúng đắn, hiện đại làm nền tảng cho địnhhướng chỉ đạo Những quan điểm ấy vừa kế thừa truyền thống dân tộc, tiếp thutinh hoa của nhân loại, đảm bảo vừa phù hợp với điều kiện của quốc gia, vừa đápứng xu thế phát triển của thời đại Trong đó có hệ thống lí luận, quan điểm vềhoạt động quản lí giáo dục, quản lí nhà trường - một trong những yếu tố quantrọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng giáo dục
Các nhà giáo dục học đã đưa ra nhiều quan điểm về giáo dục, về quản lí,quản lí giáo dục Đã có nhiều công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước về cáckhái niệm quản lí, quản lí giáo dục, quản lí nhà trường Bên cạnh những côngtrình nghiên cứu có tính chất tổng quan về quản lí giáo dục thì các công trìnhnghiên cứu về nhà trường, quản lí nhà trường có ý nghĩa thiết thực, vì nhà trường
là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năng giáo dục đào tạo thế
hệ trẻ trở thành những công dân có ích cho xã hội, những thế hệ tương lai làmchủ đất nước theo đúng quan điểm và đường lối của Đảng và Nhà nước
Quản lí nhà trường là quá trình quản lí một cách toàn diện mọi hoạt độngcủa nhà trường Để các hoạt động diễn ra một cách đúng hướng thì công tácthanh tra, kiểm tra là không thể thiếu được
Trang 15Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về quản lí nhà trường của cáctác giả: Phạm Viết Vượng, Hà Sỹ Hồ, Hà Thế Truyền, Lưu Xuân Mới, NguyễnNgọc Quang, Phạm Minh Hạc,… Các công trình đó đi sâu nghiên cứu lí luận cótính chất tổng quan về quản lí giáo dục, quản lí nhà trường và có giá trị to lớn về
lí luận và thực tiễn, được vận dụng rộng rãi và mang lại những hiệu quả cao Tuynhiên, hoạt động thanh tra kiểm tra nói chung và kiểm tra nội bộ trường học nóiriêng đối với từng bậc học, cấp học, ở mỗi địa phương còn có rất ít tài liệu
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1 Giáo dục.
Để tồn tại và phát triển, loài người không ngừng tác động vào thế giớikhách quan, nhận thức thế giới khách quan để tích lũy vốn kinh nghiệm, đó làhoạt động nhận thức "Trong quá trình nhận thức thế giới khách quan, con ngườidần dần tích lũy được những kinh nghiệm lao động và chinh phục tự nhiên Từ đónảy sinh nhu cầu truyền thụ những kinh nghiệm đã tích lũy được cho nhau Đâychính là nguồn gốc phát sinh của hiện tượng giáo dục" [24, 5]
Có thể hiểu "giáo dục" ở nhiều cấp độ khác nhau:
- Ở cấp độ rộng nhất: Giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnhhưởng của tất cả các tác động (tự giác, tích cực, tự phát, tiêu cực, khách quan,chủ quan) Đây chính là quá trình xã hội hóa con người
- Ở cấp độ thứ hai: Giáo dục là hoạt động có mục đích của các lực lượnggiáo dục xã hội nhằm hình thành các phẩm chất nhân cách Đây chính là quá trìnhgiáo dục xã hội
- Ở cấp độ thứ ba: Giáo dục là hoạt động có kế hoạch, có nội dung và bằngphương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong các tổ chức giáo dục, trongnhà trường đến học sinh nhằm giúp họ phát triển trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thểchất, Đây chính là quá trình sư phạm tổng thể
- Ở cấp độ thứ tư: Giáo dục là quá trình hình thành ở học sinh những phẩmchất đạo đức, những thói quen hành vi Đây chính là quá trình giáo dục theonghĩa hẹp [24, 18-19]
Trang 16Giáo dục là quá trình được tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợihoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của người dạy và người họctheo hướng tích cực Nghĩa là góp phần hoàn thiện nhân cách người học bằngnhững tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầu tồn tại vàphát triển của con người trong xã hội đương đại.
Giáo dục bao gồm việc dạy và học, và đôi khi nó cũng mang ý nghĩa như
là quá trình truyền thụ, phổ biến tri thức, truyền thụ sự suy luận đúng đắn, sự hiểubiết Giáo dục là nền tảng cho việc truyền thụ, phổ biến văn hóa từ thế hệ này đếnthế hệ khác Giáo dục là phương tiện để đánh thức và nhận ra khả năng, năng lựctiềm ẩn của chính mỗi cá nhân, đánh thức trí tuệ của mỗi người Sự giáo dục củamỗi cá nhân bắt đầu từ khi sinh ra và tiếp tục trong suốt cuộc đời
Như vậy, giáo dục là quá trình truyền lại kinh nghiệm từ thế hệ trước chothế hệ sau; thế hệ sau lĩnh hội những kinh nghiệm để tham gia vào cuộc sống laođộng và các hoạt động xã hội nhằm duy trì và phát triển xã hội Tuy nhiên, thế hệsau không phải chỉ lĩnh hội toàn bộ những kinh nghiệm của thế hệ trước để lại màcòn bổ sung, làm phong phú thêm những kinh nghiệm của loài người Đó là quyluật của sự tiến bộ xã hội, là hiện tượng đặc trưng của xã hội loài người
1.2.2 Giáo dục phổ thông Giáo dục tiểu học.
Sự phát triển giáo dục phụ thuộc vào điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội,văn hóa của mỗi nước Nội dung học vấn không phải là bất biến, nó được biếnđổi dưới sự ảnh hưởng của sự phát triển khoa học kỹ thuật, sự tăng trưởng kinh
tế, văn hóa cũng như lí luận dạy học, phương pháp học
Giáo dục phổ thông là quá trình giáo dục dành cho các trẻ có độ tuổi từ 6đến 18 tuổi nhằm cung cấp những tri thức cơ bản mang tính phổ thông và bướcđầu hình thành phẩm chất, nhân cách con người mới Giáo dục phổ thông là mắtxích trong hệ thống giáo dục nhằm giúp trẻ em ở lứa tuổi này có những kiến thức
cơ bản, những kỹ năng cần thiết để sẵn sàng học tiếp lên bậc cao hơn (trung họcchuyên nghiệp, cao đẳng, đại học) hoặc học nghề, phân luồng đi vào cuộc sống
Trang 17Việc quy định các giai đoạn giáo dục ứng với các cấp học ở mỗi nước cóthể khác nhau Đối với nền giáo dục Việt Nam giáo dục phổ thông bao gồm: Giáodục tiểu học, giáo dục Trung học cơ sở và giáo dục Trung học phổ thông.
Giáo dục tiểu học là một bộ phận của giáo dục phổ thông Chương trìnhgiảng dạy cấp tiểu học là một trong chương trình bắt buộc trong hệ thống giáodục Việt Nam Đây là giai đoạn đầu tiên của con người được học chữ viết mộtcách chính qui, được học các môn học khác nhau, tiếp xúc với bạn bè, thầy cô Ở mỗi nước khác nhau thì có những qui định về lứa tuổi học tiểu học khác nhau.Ở Việt Nam, giáo dục tiểu học bắt buộc đối với trẻ em từ 6 đến 14 tuổi, đượcthực hiện trong năm năm học từ lớp 1 đến lớp 5
và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [32, 798]
Khi nhấn mạnh các chức năng của hoạt động quản lí, có ý kiến cho rằng:
“Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các chứcnăng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [12, 2]
Phân tích các đặc trưng của quản lí, tác giả Hà Sỹ Hồ cho rằng: "Quản lí làquá trình tác động có định hướng, có tổ chức, lựa chọn trong số tác động có thể
có, đựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữcho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mụcđích đã định" [23, 34]
Theo các tác giả Trần Hữu Cát, Hoàng Minh Duệ: “Quản lí là hoạt độngthiết yếu nẩy sinh khi con người lao động và sinh hoạt tập thể nhằm thực hiện cácmục tiêu chung của tập thể, tổ chức" [11, 55]
Thực chất của hoạt động quản lí là việc xử lí mối quan hệ giữa chủ thể vàkhách thể quản lí Quản lí suy cho cùng là quản lí con người, là cách thức tổ chứcnhằm thúc đẩy tính tích cực, sáng tạo lao động của con người Quản lí là xây
Trang 18dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quảmục tiêu đã định Theo Peter F.Druker: "Suy cho cùng, quản lí là thực tiễn Bảnchất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó khôngnằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích".
Những định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận
nhưng đều thống nhất ở bản chất của hoạt động quản lí: Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Ngoài ra vai trò thông tin
chiếm một vị trí quan trọng trong quản lí, nó là phương tiện không thể thiếu đượctrong quá trình hoạt động quản lí
Chúng ta có thể xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các chức năng quản lívai trò thông tin bằng sơ đồ:
Sơ đồ 1: Các chức năng quản lí
- Kế hoạch hoá: Kế hoạch hóa là xác định mục tiêu, mục đích cần đạt được
và đề ra các con đường, cách thức, biện pháp thực hiện để đạt được mục tiêu,mục đích đó
Kế hoạch là văn bản, trong đó xác định những mục tiêu và những quytrình, thể thức, thời gian để đạt được những mục tiêu đó Có thể hiểu lập kế hoạch
là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và các điều kiện đảmbảo thực hiện các mục tiêu đó Về mặt lôgic, việc lập kế hoạch sẽ đi trước việcthực hiện toàn bộ các chức năng quản lí khác
Kiểm tra, đánh giá
Kế hoạch hoá
Chỉ đạo
Trang 19- Tổ chức: Xét về chức năng quản lí thì tổ chức là quá trình hình thành nêncấu trúc, các quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận trong một cơ quan, đơn vịnhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổngthể đã đề ra.
Cơ cấu tổ chức là hệ thống bố trí sắp đặt các thành phần, các bộ phận vàcác cương vị trong tổ chức, các khâu quản lí và quan hệ quyền hành trong hệthống quản lí Xây dựng tổ chức là một phần của công việc quản lí, bao gồm việcxây dựng một cơ cấu định trước về các vai trò cho người đảm đương trong một tổchức Nó là định trước, theo ý nghĩa tin chắc rằng toàn bộ các nhiệm vụ cần thiết
để hoàn thành các mục tiêu đã được phân công và hy vọng rằng chúng ta đã đượcgiao cho những người có thể thực hiện chúng tốt nhất
- Chỉ đạo (lãnh đạo): Sau khi đã xây dựng được kế hoạch, hình thành cơcấu bộ máy tổ chức thì nhà quản lí phải có sự hướng dẫn, chỉ đạo để thực hiệncác nhiệm vụ của tổ chức
Chỉ đạo là phương thức tác động của chủ thể quản lí nhằm tạo cho tổ chứcvận hành đúng kế hoạch Đó là sự tác động đến cá nhân hoặc nhóm người làmcho họ tích cực, sáng tạo làm việc theo sự phân công và kế hoạch đã định mộtcách lí tưởng Mọi người cần được khuyến khích để phát triển không chỉ sự tựnguyện làm việc mà còn tự nguyện làm việc với tất cả khả năng và nhiệt tình
- Kiểm tra, đánh giá: Là một chức năng quản lí, đó là việc một cá nhân,một nhóm hoặc một tổ chức giám sát, theo dõi quá trình thực hiện công việc củanhững cá nhân, bộ phận, tổ chức khác và tiến hành những hoạt động điều chỉnh,uốn nắn (nếu cần thiết) Công tác kiểm tra gồm 3 yếu tố cơ bản:
+ Xây dựng các tiêu chuẩn: Có nhiều loại tiêu chuẩn, nhưng tốt nhất là cácđích hoặc các mục tiêu, được phát biểu dưới dạng số lượng hoặc chất lượng,được thiết lập một cách thường xuyên trong suốt hệ thống hoạt động tốt, theocách quản lí mục tiêu
+ Đo lường việc thực hiện:Nếu các tiêu chuẩn được vạch ra một cách thích
Trang 20hợp và nếu các phương tiện có khả năng xác định một cách chính xác rằng cấpdưới đang làm gì thì việc đánh giá việc thực hiện thực tế hoặc sự thực hiện đangchờ đợi là việc tương đối dễ dàng.
Nếu có sự sai lệch thì cần điều chỉnh hoạt động, trường hợp cần thiết thìđiều chỉnh mục tiêu
+ Điều chỉnh các sai lệch: Nếu các tiêu chuẩn được đề ra để phản ánhnhững vị trí khác nhau trong một cơ cấu tổ chức và nếu việc thực hiện các nhiệm
vụ được đo theo các quan hệ này thì việc điều chỉnh các sai lệch sẽ dễ dàng hơnbởi khi đó người quản lí sẽ biết cần phải áp dụng biện pháp điều chỉnh ở đâutrong hệ thống, phân công các nhiệm vụ theo nhóm hoặc cá nhân
Điều chỉnh các sai lệch là vấn đề mà qua đó việc thanh tra được thấy rõnhư là một bộ phận của toàn bộ hệ thống quản lí và là nơi mà nó liên hệ với cácchức năng quản lí khác
1.2.4 Khoa học quản lí.
Quản lí là một loại hoạt động đặc biệt, không phải ai cũng làm được và làmtốt công tác quản lí, bởi vì quản lí tác động trực tiếp đến con người, đến nhiềungười Hoạt động quản lí vừa là một nghệ thuật, vừa là một khoa học
Nói đến nghệ thuật tức là nói đến sự linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyểntrong việc xử lí các tình huống phong phú trong thực tiễn; đó là nghệ thuật làmcho người khác (khách thể quản lí) làm việc hiệu quả hơn những điều bản thân họ
sẽ làm được nếu không có sự hiện diện của chủ thể quản lí để đạt tới mục đích.Kết quả của nghệ thuật quản lí là đưa ra quyết định quản lí hợp lí, tối ưu nhất chomột tình huống quản lí
Quản lí là một khoa học vì nó có đối tượng nghiên cứu riêng và nhiệm vụphải thực hiện riêng Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của cácmối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các chủ thể Tính khoa học có nghĩa làhoạt động quản lí trên thực tế không phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thíchcủa bất kỳ ai mà phải dựa vào các nguyên tắc, phương pháp, tức là xuất phát từcác quy luật khách quan và điều kiện cụ thể Khoa học - đó chính là cách nhàquản lí làm thế nào để thực hiện được nghệ thuật quản lí Quản lí là một khoa học
Trang 21sử dụng tri thức nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau nhưtoán học, thống kê, kinh tế, tâm lí xã hội học, Lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo vàkiểm tra giám sát là bốn chức năng cơ bản trong khoa học đó cùng với hai yếu tốkhác là thông tin và quyết định.
Khoa học quản lí là một lĩnh vực lao động trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhấtcủa con người, nhằm điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả cáclĩnh vực
Khoa học quản lí cũng như nhiều khoa học xã hội nhân văn khác gắn vớitiến trình phát triển của xã hội loài người nên luôn mang tính lịch sử, tính giai cấp
và tính dân tộc Lao động xã hội ngày càng đa dạng, phong phú thì khoa họcquản lí ngày càng phát triển theo nhu cầu phát triển của mọi quá trình lao động.Nói cách khác, nội dung, tính chất đặc thù của mỗi loại lao động tạo nên hìnhthức quản lí của hoạt động quản lí chính nó (nghĩa là lĩnh vực đời sống xã hội nàocủa con người: Chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, quân sự, quốc phòng, anninh… đều phải có hệ thống quản lí) Phương thức quản lí phù hợp với nó mới
có thể mở đường thúc đẩy nó phát triển không ngừng đạt mục đích đặt ra Khôngthể vận dụng khoa học quản lí cho một hệ thống này áp dụng nguyên xi cho mộtngành nghề khác, địa phương, lãnh thổ khác
1.2.5 Quản lí giáo dục và quản lí nhà trường.
Quản lí giáo dục là quản lí nhà nước về giáo dục Ngày nay, tuy cơ bảncác học giả trong lĩnh vực giáo dục đều có thể thống nhất được với nhau nội hàmcủa khái niệm quản lí giáo dục, tuy vậy, tuỳ từng góc độ tiếp cận và đặt trongtừng hoàn cảnh khác nhau mà nội dung khái niệm khi đưa ra có thể khác nhau
Văn kiện Hội nghị lần thứ hai BCH TW Đảng khoá VIII viết: “Quản lígiáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằmđưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằngcách hiệu quả nhất” [14, 35]
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: "Quản lí giáo dục là hệ thống tácđộng có ý thức, hợp với quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất
cả các khâu trong hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của cơ quan
Trang 22trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả
về mặt số lượng cũng như chất lượng" [25]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí giáo dục là hệ thống nhữngtác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí nhằm làmcho sự vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng thực hiện các tính chất củanhà trường XHCN mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ,đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [33, 35]
Như vậy, khái niệm quản lí giáo dục được diễn đạt dưới nhiều góc độ tiếpcận nhưng tất cả đều hội tụ ở bản chất của quản lí giáo dục Chúng ta có thể hiểu
theo nghĩa tổng quan: Quản lí giáo dục là những tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục diễn ra ở các cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội.
Chủ thể quản lí là hệ thống quản lí giáo dục các cấp Khách thể quản lí là
hệ thống giáo dục quốc dân, là sự nghiệp giáo dục của từng địa phương
Nhà trường là tổ chức giáo dục cơ sở trực tiếp làm công tác giáo dục đàotạo Luật Giáo dục 2005 đã khẳng định: “Nhà trường trong hệ thống giáo dụcquốc dân, thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch củaNhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục” [34, 16]
"Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, thực hiện chức năngtruyền thụ các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của
xã hội đó" [41]
Quá trình hoạt động của nhà trường là tạo ra các điều kiện tốt nhất tronghoàn cảnh cho phép để người học lĩnh hội, nắm bắt kinh nghiệm xã hội, thựchiện xã hội hoá nhân cách của bản thân mình Như vậy nhà trường là một thiếtchế của xã hội thực hiện chức năng truyền thụ các tri thức, các kinh nghiệm xãhội thông qua quá trình hoạt động đặc thù của mình, quá trình sư phạm
Do nhà trường có một thiết chế chuyên biệt của xã hội: có mục tiêu rõràng, có tổ chức chặt chẽ được cung ứng các nguồn cần thiết cho việc thực hiệnchức năng của mình mà không một thiết chế nào thay thế nổi Những nhiệm vụ
Trang 23của nhà trường cũng được đề cập từ nhiều khía cạnh khác nhau Việc quản lí nhàtrường cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau từ những góc độ khác nhau.
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở, là tế bào của hệ thống giáo dục,quản lí nhà trường là một nội dung quan trọng trong quản lí giáo dục Theo tácgiả Phạm Minh Hạc: “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trongphạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vào vận hành theo nguyên
lí giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệtrẻ và từng học sinh” [22, 66]
Theo Giáo sư Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lí trường học là tập hợp nhữngtác động tối ưu của chủ thể quản lí đến tập thể CB, GV và HS, nhằm tận dụng cácnguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp vào do lao động xâydựng vốn tự có Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường màđiểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và
kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới về chất” [33, 38]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lí trường học là lao động của các
cơ quan quản lí nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và cáclực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục đểnâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường” [44]
Từ các cách định nghĩa về quản lí trường học mà các nhà nghiên cứu GD
đã nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng: Quản lí nhà trường thực chất là hệ thống tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lí giáo dục, tiến đến đạt mục tiêu giáo dục, trong đó, hoạt động trọng tâm là hoạt động dạy học còn mọi hoạt động khác đều nhằm phục vụ hoạt động dạy học.
Quản lí giáo dục nói chung, quản lí trường học nói riêng là hệ thốngnhững tác động có mục đích, có kế hoạch hợp với quy luật của chủ thể quản línhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lí giáo dục của Đảng, thựchiện các tính chất của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dụcthế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến tới trạng thái mới vềchất, đáp ứng với yêu cầu của nhân dân và xã hội
Trang 24Qua sự đúc kết thực tiễn điều hành công tác đào tạo của các nhà trường và
sự phát triển của khoa học quản lí đã hình thành nên lí luận quản lí giáo dục Líluận quản lí giáo dục có vai trò trọng yếu trong việc hình thành:
- Chiến lược phát triển giáo dục, sự hình thành và phát triển cơ cấu hệthống giáo dục quốc dân
- Các chủ trương, chính sách, cơ chế phát triển giáo dục
- Bộ máy quản lí giáo dục từ trung ương đến cơ sở
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục cho từng thời kì.Đây là những vấn đề có liên quan trực tiếp tới việc xây dựng nội dungquản lí hành chính nhà nước về giáo dục; liên quan tới việc đề ra chính sách, cơchế, giải pháp của hệ thống cơ quan hành pháp để thực hiện quản lí nhà nướctrong lĩnh vực giáo dục
Vấn đề cơ bản của quản lí GD là quản lí nhà trường vì nhà trường là cơ sở
GD, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu GD Khi nghiên cứu về nội dung quản lí giáodục thì khái niệm trường học hiểu là tổ chức cơ sở mang tính nhà nước - xã hộitrực tiếp làm công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước
Tóm lại: Trong phạm vi trách nhiệm của mình, quản lí nhà trường là thựchiện đường lối giáo dục tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lí giáo dục,
để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục với thế hệtrẻ ở từng cấp học, ở từng địa phương và với từng học sinh
1.2.6 Kiểm tra.
Kiểm tra là quá trình xem xét thực tế, đánh giá thực trạng so với mục tiêu
đề ra Khái niệm kiểm tra có thể được hiểu theo 2 nghĩa:
- Nghĩa rộng, để chỉ hoạt động của các tổ chức xã hội, các đoàn thể và củacông dân kiểm tra hoạt động bộ máy của nhà nước Theo nghĩa này, tính quyềnlực nhà nước trong kiểm tra bị hạn chế vì các chủ thể thực hiện kiểm tra không cóquyền áp dụng trực tiếp những biện pháp cưỡng chế nhà nước
- Theo nghĩa hẹp hơn, kiểm tra là hoạt động của chủ thể nhằm tiến hànhxem xét, xác minh một việc gì đó của đối tượng bị quản lí xem có phù hợp haykhông phù hợp với trạng thái định trước (kiểm tra mang tính nội bộ của người
Trang 25đứng đầu cơ quan, kiểm tra quy chế làm việc, kiểm tra việc thực hiện giải tỏahành lang giao thông, ) Theo nghĩa này, chủ thể kiểm tra có thể áp dụng một chếtài pháp lí nhất định như khen thưởng các mặt tích cực, phát hiện những dấu hiệusai phạm, áp dụng các hình thức kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc buộcphải thực hiện một số biện pháp ngăn chặn hành chính, có kết luận điều chỉnh.
Kiểm tra cần thực hiện các nội dung sau:
- Đánh giá: Bao gồm xác định chuẩn, thu thập thông tin, so sánh sự phùhợp của việc thực hiện so với chuẩn mực
- Phát hiện mức độ thực hiện của các đối tượng quản lí
- Điều chỉnh gồm: Tư vấn (uốn nắn, sửa chữa), thúc đẩy (phát huy thànhtích tốt) hoặc xử lí
Kiểm tra là một hoạt động thường xuyên; thực tế đã chỉ ra rằng chúng takhông thể nói là đã có một hệ thống kiểm tra hữu hiệu nếu chỉ có những ngườilãnh đạo tổ chức và những cán bộ tổ chức chuyên trách tham gia vào hoạt độngkiểm tra Điều quan trọng là phải thiết lập được hệ thống tự kiểm tra và một nềnếp kiểm tra lẫn nhau trong nội bộ tổ chức và giữa hai nhân tố chủ quan và kháchquan trong tổ chức hoặc hai nhân tố khác nhau trong cùng một công việc
1.2.7 Kiểm tra nội bộ trường học.
Kiểm tra nội bộ trường học là một dạng hoạt động nghiệp vụ quản lí củahiệu trưởng nhằm điều tra, theo dõi, xem xét, kiểm soát, phát hiện, kiểm nghiệm
sự diễn biến và kết quả các hoạt động giáo dục trong phạm vi nội bộ nhà trường
và đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục đó có phù hợp với mục tiêu, kếhoạch, chuẩn mực, quy chế đã đề ra hay không Qua đó phát hiện những ưu điểm
để động viên, kích thích hoặc những thiếu sót, lệch lạc so với yêu cầu để có biệnpháp uốn nắn, giúp đỡ và điều chỉnh thích hợp nhằm nâng cao chất lượng vàhiệu quả giáo dục và đào tạo trong nhà trường [38, 200]
Trong “Quy chế về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Giáo dục và Đàotạo”, nói về nội dung “Công tác kiểm tra nội bộ trong các trường học và các đơn
vị trong ngành” nêu rõ: "Việc kiểm tra công việc, hoạt động và các mối quan hệcủa mọi thành viên trong nhà trường là trách nhiệm và quyền hạn của hiệu
Trang 26trưởng Hiệu trưởng có thể huy động: phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyênmôn và các cán bộ, giáo viên khác giúp hiệu trưởng kiểm tra với tư cách làngười được uỷ quyền hoặc trợ lí nhưng hiệu trưởng vẫn nắm quyền quyết định
về những vấn đề quan trọng nhất của kiểm tra, người đưa ra kết luận cuối cùng
và người chịu trách nhiệm về những kết luận đó" [1]
Kiểm tra nội bộ trường học về thực chất là kiểm tra tác nghiệp trong quátrình quản lí của hiệu trưởng, là hoạt động tự kiểm tra của nhà trường bao gồmhai hoạt động:
- Hiệu trưởng tiến hành kiểm tra tất cả các thành tố cấu thành hệ thống nhàtrường (các công việc được phân công, các hoạt động, mối quan hệ của mọi thànhviên và những điều kiện, phương tiên phục vụ dạy học và GD trong nhà trường)
- Việc tự kiểm tra trong nội bộ trường học (của từng cá nhân, bộ phận, tổchức) [40]
Hiệu trưởng cần phải biết tiến hành kiểm tra thường xuyên và có kế hoạch,biết biến quá trình kiểm tra thành quá trình tự kiểm tra của các bộ phận và mọithành viên trong nhà trường mà mình quản lí Người hiệu trưởng cần biết kiểmtra đúng người, đúng việc, đúng thời điểm Xác định rõ những bộ phận nào, đốitượng nào thì cần phải kiểm tra thường xuyên hay kiểm tra theo định kỳ; xác địnhđúng đối tượng hay bộ phận nào đấy không cần phải kiểm tra, chỉ phát huy ý thức
tự kiểm tra vì họ luôn tự giác hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được phân công.Đồng thời hiệu trưởng cũng xác định rõ nên kiểm tra vào lúc nào: nếu tiến hànhsớm quá thì nội dung còn quá nghèo nàn; nhưng nếu muộn quá mới kiểm tra thìnếu có sai sót rồi, lúc đó rất khó sửa chữa và làm lại, nếu bắt buộc phải sửa chữathì hiệu quả cũng không cao, không có tác dụng tích cực
Trong thực tiễn giáo dục và đào tạo ở các cơ sở giáo dục hiện nay tồn tại 3hoạt động: kiểm tra nội bộ, kiểm tra thi đua và thanh tra Cần phân biệt ba loạihoạt động này và tìm mối liên hệ giữa chúng
- Giống nhau:
+ Mục đích: Cả ba hoạt động trên đều đi sâu kiểm tra, theo dõi các hoạtđộng giáo dục để giúp đỡ đối tượng hoàn thành tốt nhiệm vụ
Trang 27+ Chức năng: Cả ba đều là hệ thống thông tin phản hồi, thực hiện việc tạolập kênh thông tin phản hồi trong quản lí giáo dục.
+ Nội dung công việc: Về thực chất thì kiểm tra nội bộ, kiểm tra thi đua và
thanh tra đều là hoạt động kiểm tra, đánh giá
- Khác nhau: Về các mặt tính chất (là tư cách pháp nhân), tổ chức, hoạt
động, đối tượng và cách xử lí có nh ng nét khác nhau.ững nét khác nhau
- Kiểm tra, đánh giá, xếp loại phong trào lao động của tập thể và cá nhân.
- Hành chính, pháp chế nhà nước.
- Kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới.
- Các kết luận rút ra mang tính pháp lí cao.
Là hệ thống tổ chức nhà nước do pháp luật quy định, cấp trên bổ nhiệm có tính ổn định, gồm 3 cấp: Bộ, Sở và Phòng GD-ĐT.
Hoạt
động
- Thực hiện theo kế hoạch
của nhà quản lí (Kế hoạch
nội bộ).
- Hoạt động từ trong hệ.
- Mang tính tập thể.
- Hoạt động có thể từ ngoài hệ hoặc trong hệ.
- Chỉ tuân theo pháp luật, theo quy chế không ai được can thiệp trái luật vào hoạt động thanh tra.
- Hoạt động từ ngoài hệ.
Đối
tượng
- Tập thể cá nhân trong nội
bộ với những công việc,
hoạt động và mối quan hệ
giữa chúng.
- Tập thể, cá nhân thường là diện rộng, đồng loạt với những hoạt động toàn diện, từng mặt hay chủ đề.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân cấp dưới với những công việc
- Có thể chỉ ra những yếu kém, thiếu sót, tồn tại và cùng nhau rút kinh nghiệm đánh giá.
- Các kết luận mang tính hiệu lực pháp lí cao buộc đối tượng phải chấp hành
- Đề nghị biểu dương, khen thưởng hoặc kỷ luật và đình chỉ hoạt động khi cần thiết.
- Giúp đỡ, sữa chữa, uốn nắn sai lầm.
Ba mặt hoạt động: kiểm tra nội bộ, kiểm tra thi đua và thanh tra có sựthống nhất nhưng không đồng nhất với nhau Trong thực tiễn quản lí cần nắm vàphân biệt được mối quan hệ giữa cái phổ biến và cái đặc thù Tuy nhiên kiểm tra
Trang 28nội bộ, kiểm tra thi đua và thanh tra giáo dục có mối quan hệ với nhau Đó là:Kiểm tra nội bộ, kiểm tra thi đua cung cấp thông tin tin cậy cho thanh tra giáodục, thanh tra giáo dục sử dụng số liệu, kết luận, đánh giá của kiểm tra nội bộ vàkiểm tra thi đua; đó là những cứ liệu rất quan trọng của thanh tra giáo dục Đồngthời thanh tra giáo dục lại cung cấp những nội dung và chuẩn mực đánh giá làmchỗ dựa để kiểm tra nội bộ và kiểm tra thi đua tiến hành có chất lượng và hiệuquả Thanh tra giáo dục cũng là yếu tố thúc đẩy hoạt động kiểm tra nội bộ.
1.3 Một số vấn đề chung về hoạt động kiểm tra nội bộ trường học 1.3.1 Vị trí, vai trò của kiểm tra nội bộ trường học.
Kiểm tra nội bộ trường học là một chức năng đích thực của quản lí trườnghọc, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lí, đảm bảo tạo lập mối liên
hệ ngược thường xuyên kịp thời giúp người quản lí hình thành cơ chế điều chỉnhhướng đích trong quá trình quản lí Kiểm tra nội bộ là một công cụ sắc bén gópphần tăng cường hiệu lực quản lí trường học Nếu kiểm tra, đánh giá chính xác,chân thực sự việc sẽ có tác dụng giúp hiệu trưởng xác định đúng mức độ, giá trị,các yếu tố ảnh hưởng (tác động tích cực hay tiêu cực) đến sự việc để từ đó tìm ranhững nguyên nhân và đề ra những giải pháp điều chỉnh có hiệu quả [26]
Với đối tượng kiểm tra thì kiểm tra nội bộ có tác động tới ý thức, hành vi
và hoạt động, nâng cao tinh thần trách nhiệm, động viên thúc đẩy việc thực hiệnnhiệm vụ, uốn nắn, giúp đỡ sửa chữa sai sót, khuyết điểm và tuyên truyền kinhnghiệm giáo dục tiên tiến Kiểm tra đánh giá tốt sẽ dẫn tới việc tự kiểm tra, tựđánh giá của đối tượng một cách hiệu quả Trong chu trình quản lí, hoạt độngkiểm tra được xếp vào vị trí thứ tư sau các khâu: kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo.Tuy nhiên hoạt động kiểm tra lại là tiền đề cho một chu trình quản lí mới [26]
Trang 29: Biểu thị mối liên hệ và tác động trực tiếp.
: Biểu thị mối liên hệ ngược hoặc thông tin phản hồi trong quá trình quản lí
1.3.2 Chức năng của kiểm tra nội bộ trường học.
Kiểm tra nội bộ trường học có 4 chức năng, đó là:
1.3.2.1 Tạo lập kênh thông tin phản hồi vững chắc:
Chức năng này tạo mối liên hệ nghịch trong quản lí, kiểm tra sẽ là nguồncung cấp thông tin đã được xử lí chính xác để hiệu trưởng sử dụng vào quá trìnhquản lí một cách có hiệu quả Hiệu trưởng có nhiều cách để lấy thông tin nhưngthu thập thông tin là chức năng trung tâm của kiểm tra nội bộ trường học, chỉ quakiểm tra nội bộ mới có được những thông tin đáng tin cậy nhất Việc xử lí đúngđắn các thông tin ấy giúp cho hiệu trưởng tác động kịp thời vào các tổ chức, cánhân, điều chỉnh mục tiêu và ra quyết định đúng đắn cho chu trình quản lí mới
1.3.2.2 Kiểm soát, phát hiện và phòng ngừa:
Qua kiểm tra nhằm xác định đúng thực chất tình hình về hiệu quả của côngviệc, diễn biến của các hoạt động cũng như chất lượng giảng dạy và giáo dục.Kiểm soát đúng sẽ phát hiện được các mặt ưu, khuyết điểm của từng đối tượngquản lí giúp cho hiệu trưởng làm tốt công tác điều khiển, định hướng trong chỉđạo Qua đó kịp thời ngăn chặn, phòng ngừa những biểu hiện sai lệch của đốitượng quản lí (nếu có) tránh những sai lầm có tính thường xuyên, dẫn đến nghiêmtrọng Hoạt động kiểm soát, phát hiện một khi được tiến hành thường xuyên sẽgiúp cho hiệu trưởng tránh bệnh quan liêu, máy móc, duy ý chí
1.3.2.3 Động viên, phê phán, uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ:
Động viên phê phán là những tác động tình cảm, mang thuộc tính xã hội,đến đối tượng kiểm tra Qua kiểm tra thường xuyên, nhà quản lí nắm được đầy đủnhững diễn biến về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, năng lực, trình độ của đối tượngđược kiểm tra Từ đó có tác động giáo dục, động viên, phê phán, điều chỉnh, giúp
đỡ đến các đối tượng quản lí Kết quả kiểm tra đã thể hiện tính chất động viênhay phê phán đối tượng quản lí Khi được kiểm tra, mọi tổ chức, cá nhân sẽ nỗlực làm việc, bộc lộ khả năng, năng lực và các phẩm chất của họ
1.3.2.4 Đánh giá và xử lí khi cần thiết:
Trang 30Đánh giá là hoạt động đặc biệt nhằm phân tích, xác nhận giá trị thực trạng
về mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chất lượng và hiệu quả công việc, trình độ, sựphát triển, những kinh nghiệm được hình thành ở thời điểm hiện tại so với mụctiêu, kế hoạch hay những chuẩn mực đã được xác lập Trên cơ sở đó nêu ranhững biện pháp uốn nắn, điều chỉnh và giúp đỡ đối tượng
Đánh giá liên quan chặt chẽ với kiểm tra và là kết quả của kiểm tra vì mụcđích của kiểm tra là đánh giá khách quan tình hình công việc, giúp đỡ để khắcphục những sai sót, phát hiện, uốn nắn, kích thích và giúp đỡ kịp thời Đánh giá
là một chức năng của kiểm tra, liên hệ chặt chẽ với kiểm tra, do đó kiểm tra, đánhgiá thường đi liền nhau
1.3.3 Mục đích, nhiệm vụ của kiểm tra nội bộ trường học.
1.3.3.1 Mục đích:
Mục đích của kiểm tra là nhằm xác nhận (đánh giá, xác lập) thực tiễn, pháthuy nhân tố tích cực, phòng ngừa, ngăn chặn các sai phạm, giúp đỡ đối tượnghoàn thành tốt nhiệm vụ, đồng thời giúp cho nhà quản lí tự điều khiển và điềuchỉnh hoạt động quản lí đi đúng hướng
Kiểm tra, xác định mức độ chấp hành pháp luật, chấp hành nội qui, quiđịnh của trường; mức độ thực hiện quy chế chuyên môn, thực hiện mục tiêu, kếhoạch của trường, của tổ chuyên môn; mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giaocủa các đơn vị và cá nhân trong trường Qua đó đánh giá đúng đối tượng, rútđược những bài học, kinh nghiệm, tìm ra những giải pháp để thúc đẩy, nâng hiệuquả công tác của từng cá nhân, đơn vị và hiệu quả quản lí của nhà trường
Hoạt động kiểm tra nội bộ trường học không có mục đích tự thân, mà chỉtham gia vào quá trình quản lí trường học bằng sự tác động vào đối tượng quản lítrong việc chấp hành với mục đích thể hiện sự phát huy nhân tố tích cực, phòngngừa và ngăn chặn các sai phạm, động viên giúp đỡ đối tượng nhằm thực hiện tốtcác quyết định quản lí Cụ thể là: quan sát, theo dõi, phát hiện, kiểm nghiệm vàđánh giá khách quan tình hình công việc; việc thực hiện nhiệm vụ của đối tượng;nhằm đảm bảo tốt việc chấp hành chính sách, pháp luật về giáo dục, thực hiệncác văn bản pháp quy của Bộ GD-ĐT đối với trường học; giúp đỡ phát hiện ưu
Trang 31Phối hợp với tổ chức đảng, đoàn thể trong trường tiến hành việc tự kiểmtra nội bộ nhà trường Hiệu trưởng tự kiểm tra công tác quản lí, phát huy và thựchiện dân chủ hoá trong quản lí nhà trường, thực hiện tốt quy chế chuyên môn,giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo trong nhà trường Mỗi đợt kiểm tra phải
có kết luận, ghi biên bản kiểm tra và lưu hồ sơ kiểm tra
Kết quả kiểm tra phải đánh giá đúng thực trạng nhà trường, bộ phận, cánhân; khẳng định những mặt đã làm được, phát huy ưu điểm và đề xuất giải phápkhắc phục những yếu kém (nếu có); đồng thời kiến nghị với các cấp quản lí điềuchỉnh bổ sung các chính sách, quy định cần thiết phù hợp với thực tế
1.3.4 Đối tượng và nội dung kiểm tra nội bộ trường học.
Trang 32Đối tượng kiểm tra nội bộ trường học là tất cả các thành tố cấu thành hệthống sư phạm nhà trường, sự tương tác giữa chúng tạo ra một phương thức hoạtđộng đồng bộ và thống nhất nhằm thực hiện tốt mục tiêu giáo dục và đào tạotrong nhà trường, đem lại kết quả mong muốn.
Các đối tượng của hoạt động kiểm tra nội bộ trường học là: Mục tiêu, nộidung, phương pháp, cán bộ - giáo viên, học sinh, hành chính – tài chính, cơ sở vậtchất - thiết bị dạy học, kết quả, mối quan hệ và tác động qua lại giữa chúng
1 Mục tiêu
- Đào tạo con người toàn diện (đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm
mỹ, nghề nghiệp)
- Trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và CNXH
- Nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân (Tính tự lập, tínhtrung thực, vấn đề kỹ năng sống)
2 Nội dung
- Thực hiện đúng và đủ phân phối chương trình
- Giáo án soạn đúng chuẩn kiến thức
- Đề kiểm tra sát hợp trình độ học sinh và phù hợp với kiểu đề tựluận hay trắc nghiệm
- Chấm trả bài chu đáo, chính xác, công bằng, đúng hạn
3 Phương
pháp
- Phương pháp giảng dạy có phù hợp với đặc trưng bộ môn
- Có coi HS là trung tâm – Có ứng dụng CNTT
- Tự làm ĐDDH, phát huy sáng kiến kinh nghiệm
- Bảo đảm nguyên lí = Học + hành (Luyện tập, thực hành), GD +lao động sản xuất, Lí luận + Thực tiễn
- Tham gia bồi dưỡng, phụ đạo, dạy thêm
- Động cơ và thái độ học tập, phong trào thi đua học tốt
- Kiểm định chất lượng hạnh kiểm và văn hóa
- Tham gia các lớp bồi dưỡng, phụ đạo, học thêm
- Đóng góp các khoản phí và quỹ
Trang 33đi, đến; sổ quản lí tài chính, tài sản; thư viện, thiết bị thí nghiệm,
y tế học đường
- Nội dung, sử dụng, bảo quản sổ sách hành chính
- Hồ sơ sổ sách tài chính: Sổ quĩ tiền mặt (tất cả các loại quĩ), sổchi tiết các khoản thu, sổ chi tiết chi hoạt động, sổ theo dõi tài sản
cố định, sổ cái, sổ chi tiết các tài khoản, sổ đăng kí chứng từ ghi
sổ, sổ chi tiết công nợ
- Nội dung,sử dụng, bảo quản sổ sách tài chính, tài sản
- Khu sân chơi bãi tập (25% tổng diện tích khuôn viên)
- Khu vệ sinh và hệ thống cấp thoát nước, phòng cháy chữa cháy
và trình độ tiếp thu, thực hành khoa học kỹ thuật (Văn hóa)
- Kết quả đào tạo
- GV – NV với HS và cha mẹ học sinh, nhân dân địa phương
- Nhà trường gắn liền với xã hội
- GD, phát huy truyền thống và phát triển thương hiệu nhà trườngTrong đó đối tượng chủ yếu là: giáo viên, học sinh, CSVC - TBDH, kết
Trang 341.3.4.2 Nội dung.
Hoạt động giáo dục và dạy học trong nhà trường và những tác động qua lạigiữa chúng hết sức phong phú, đa dạng và diễn biến phức tạp; do đó Hiệu trưởngphải có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ công việc, mọi hoạt động, mối quan hệ, kếtquả của toàn bộ quá trình dạy học, giáo dục và những điều kiện phương tiện đểthực hiện Song để có trọng tâm, trong quá trình kiểm tra cần tập trung vào nhữngnội dung chính và trong mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đó là:
1.3.4.2.1 Việc thực hiện kế hoạch phát triển giáo dục và phổ cập giáo dục.
- Thực hiên chỉ tiêu về số lượng học sinh từng khối lớp và toàn trường:Duy trì sĩ số, tỷ lệ học sinh bỏ học, lên lớp, lưu ban, huy động giáo dục trẻ khuyếttật học hòa nhập,…
- Thực hiện chỉ tiêu kế hoạch về số lượng, chất lượng phổ cập giáo dục tiểuhọc chống mù chữ và đúng độ tuổi ở từng khối lớp, toàn trường và trên địa bàn
xã, phường, thị trấn
1.3.4.2.2 Thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch đào tạo.
- Thực hiện nội dung, chương trình dạy học và giáo dục
- Chất lượng dạy học và giáo dục
+ Chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống thông qua:
Việc thực hiện chương trình giáo dục đạo đức ở các khối lớp, thông quacác giờ lên lớp, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, công tác chủ nhiệm lớp,… Việc kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội
Kết quả việc đánh giá đạo đức, hạnh kiểm học sinh
+ Chất lượng giáo dục văn hoá, thể hiện qua:
Việc thực hiện kế hoạch dạy học theo chương trình, sách giáo khoa mới
Trang 35Kết quả học tập của học sinh (kiến thức, kỹ năng, thái độ) so với chấtlượng đầu vào và so với mục tiêu đề ra.
+ Chất lượng giáo dục lao động kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp, dạynghề; thực hiện kế hoạch giảng dạy, GD, trình độ học sinh và kết quả đạt được
+ Chất lượng giáo dục sức khỏe, thể dục, vệ sinh và quốc phòng, trong đó
có ý thức giữ gìn vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân, kỹ năng giữ gìn sức khỏe, kỹnăng sống, thể lực của học sinh
+ Chất lượng giáo dục thẩm mỹ, cảm nhận cái đúng, cái hay, cái đẹp trongnghệ thuật và trong cuộc sống
1.3.4.2.3 Việc xây dựng đội ngũ:
- Kiểm tra hoạt động của các tổ, khối chuyên môn như:
+ Công tác quản lí của tổ trưởng
+ Hồ sơ tổ: kế hoạch của tổ, các loại sổ sách, sổ biên bản, SKKN
+ Nề nếp sinh hoạt tổ, chế độ dự giờ, thăm lớp, hội giảng
+ Sử dụng, phân công giáo viên, nhân viên, công tác bồi dưỡng về chuyênmôn nghiệp vụ và tự bồi dưỡng của các thành viên trong tổ, nhóm chuyên môn
+ Việc thực hiện quy chế chuyên môn
+ Vấn đề thực hiện chế độ chính sách, cải thiện đời sống giáo viên
- Kiểm tra hoạt động của giáo viên:
+ Về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống với những nội dung:
Nhận thức tư tưởng, chính trị
Chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việc chấp hành quy chế của ngành, quy định của cơ quan, đơn vị, đảmbảo số lượng ngày, giờ công lao động
Đạo đức, nhân cách, lối sống, ý thức đấu tranh chống các biểu hiện tiêucực, sự tín nhiệm của đồng nghiệp, học sinh, nhân dân
Tinh thần đoàn kết, tính trung thực trong công tác, quan hệ đồng nghiệp,thái độ phục vụ nhân dân và học sinh
Tinh thần học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề, ýthức trách nhiệm thực hiện quy chế chuyên môn
Trang 36+ Về kết quả giảng dạy: Điểm kiểm tra hoặc kết quả đánh giá môn học củahọc sinh từ đầu năm đến thời điểm kiểm tra; khảo sát của cán bộ kiểm tra.
+ Kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ khác được giao như công tác chủnhiệm và các công tác kiêm nhiệm khác (công đoàn, Đoàn, phụ trách Đội Sao)
1.3.4.2.4 Việc xây dựng, sử dụng và bảo quản CSVC – TBDH.
- Đảm bảo các tiêu chuẩn về lớp học như chất lượng công trình, đủ diệntích, trang trí, bàn ghế, bảng, ánh sáng, vệ sinh
- Sử dụng và bảo quản hợp lí cơ sở vật chất, thiết bị dạy học: đồ dùng dạyhọc, phòng thí nghiệm, dụng cụ thể thao, thư viện, vườn trường, sân bãi tập,phòng chức năng, phòng nghe nhìn, nhà để xe
- Cảnh quan sư phạm của trường: Cổng trường, tường rào, đường đi, vườnhoa, cây xanh, công trình vệ sinh, hệ thống cấp thoát nước, lớp học sạch đẹp, đảmbảo vệ sinh môi trường, đảm bảo môi trường sư phạm
1.3.4.2.5 Công tác tự kiểm tra của hiệu trưởng:
- Công tác kế hoạch (kế hoạch hoá): Xây dựng, chỉ đạo và thực hiện kế
hoạch chung và từng bộ phận (gồm các loại kế hoạch: kế hoạch dạy học và giáodục trên lớp, kế hoạch giáo dục ngoài giờ lên lớp, kế hoạch giáo dục lao động,hướng nghiệp, dạy nghề; kế hoạch phổ cập giáo dục; kế hoạch thực hiện các cuộcvận động và phong trào thi đua) cho cả năm, học kỳ, từng tháng, từng tuần
Hiệu trưởng tự kiểm tra - đánh giá công tác kế hoạch của mình bao gồm:Thu thập, xử lí thông tin (từ chủ quan và khách quan), xác định mục tiêu, phânhạng ưu tiên, tìm phương án, giải pháp thực hiện mục tiêu, soạn thảo, thông qua
và truyền đạt kế hoạch
- Công tác tổ chức – nhân sự: Hiệu trưởng tự kiểm tra, đánh giá về các nội
dung: việc xây dựng, sử dụng bộ máy, quy định chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ
và sự phối hợp, quan hệ từng bộ phận, cá nhân, lựa chọn, phân công cán bộ, giáoviên, cung cấp kịp thời những điều kiện, phương tiện cần thiết, khai thác tiềmnăng của tập thể sư phạm và cá nhân cho việc thực hiện kế hoạch đã đề ra
- Công tác chỉ đạo: Hiệu trưởng tự kiểm tra, đánh giá về các mặt: nắm
quyền chỉ huy, hướng dẫn cách làm, điều hoà phối hợp (sẽ can thiệp khi cần
Trang 37thiết), kích thích động viên, bồi dưỡng CB, GV trong hoạt động chỉ đạo các côngtác cụ thể trong trường như:
+ Chỉ đạo dạy học và giáo dục trong và ngoài lớp, công tác lao độnghướng nghiệp, dạy nghề, công tác phổ cập giáo dục,…
+ Chỉ đạo công tác hành chính, quản trị trong trường:
Công tác văn thư, hành chính, giáo vụ
Hồ sơ, sổ sách của nhà trường, của lớp, giáo viên và học sinh
Các chế độ công tác, sinh hoạt định kỳ của hiệu trưởng, hiệu phó, các tổ,khối chuyên môn, hội đồng giáo dục, hội cha mẹ học sinh
Thời khoá biểu, lịch công tác hàng tuần, hàng tháng
+ Chỉ đạo thi đua điểm và chỉ đạo xây dựng điển hình
+ Chỉ đạo việc thực hiện dân chủ hoá quản lí trường học: Thực hiện quychế dân chủ trong nhà trường với “ba công khai”: Chất lượng GD; điều kiện đảmbảo chất lượng GD; thu chi tài chính, ngân sách Đảm bảo dân chủ trong tuyểnsinh, xét lên lớp, tốt nghiệp, khen thưởng, kỷ luật, nâng lương, bổ nhiệm, …
+ Chỉ đạo và thực hiện việc phối hợp với tổ chức đảng, đoàn thể và huyđộng cộng đồng tham gia xây dựng và quản lí nhà trường
- Công tác kiểm tra: Thực hiện kiểm tra nội bộ trường học và tự kiểm tra
một cách thường xuyên, định kỳ theo kế hoạch để phát hiện, theo dõi, kiểm soát,động viên, uốn nắn, giúp đỡ kịp thời Mỗi năm học hiệu trưởng phải kiểm tratoàn diện ít nhất 1/3 tổng số giáo viên và tất cả giáo viên còn lại được kiểm tratheo chuyên đề
- Ngoài ra hiệu trưởng còn cần tự kiểm tra, đánh giá: Về lề lối làm việc,
phong cách tổ chức và quản lí của chính mình, tự đánh giá khách quan phẩmchất, năng lực và uy tín của mình để tự điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu,chuẩn mực của người quản lí trường học
1.3.5 Nguyên tắc kiểm tra nội bộ trường học.
Nguyên tắc chỉ đạo hoạt động kiểm tra nội bộ trường học là những tưtưởng chỉ đạo, phương hướng cơ bản quy định việc lựa chọn nội dung, phươngpháp, phương tiện và hình thức tổ chức kiểm tra
Trang 38Hoạt động kiểm tra nội bộ trường học rất đa dạng, phức tạp, đối tượngkiểm tra là con người, mục đích kiểm tra là vì sự tiến bộ của con người, do đókhông thể tiến hành tuỳ tiện mà cần phải tuân theo các nguyên tắc chỉ đạo hoạtđộng kiểm tra Đó là:
1.3.5.1 Nguyên tắc tính pháp chế:
Hiệu trưởng là người đại diện của nhà nước Quyết định của hiệu trưởngphải được coi là “tiếng nói” của pháp luật Người chống lại quyết định kiểm tra làchống lại pháp luật Hiệu trưởng lợi dụng kiểm tra để thực hiện ý đồ cá nhân thìchính hiệu trưởng vi phạm nguyên tắc này
1.3.5.2 Nguyên tắc tính kế hoạch:
Cơ sở khoa học của tính kế hoạch là bảo đảm sự ổn định của các hoạt động
sư phạm Tính kế hoạch là đưa công việc kiểm tra vào nội dung hoạt động dạy vàhọc một cách hợp lí và thống nhất với các hoạt động khác, không gây xáo trộn
1.3.5.3 Nguyên tác tính khách quan:
Cơ sở khoa học của nguyên tắc tính khách quan là thái độ trung thực trongkiểm tra Người kiểm tra phải tôn trọng sự thật, khách quan trong kiểm soát, đánhgiá và xử lí Phải thực sự dân chủ, công khai và công bằng trong kiểm tra
1.3.5.4 Nguyên tắc tính giáo dục:
Cơ sở khoa học của nguyên tắc giáo dục là lòng nhân ái, kiểm tra là đểhiểu biết công việc, hiểu biết và giúp đỡ con người, kiểm tra phải mang tính thiệnchí, tính giáo dục bộc lộ ở mục đích, nội dung, phương pháp kiểm tra Bảo đảmtốt nguyên tắc giáo dục sẽ biến quá trình kiểm tra thành quá trình tự kiểm tra
1.3.5.5 Nguyên tắc tính hiệu quả:
Cơ sở khoa học của nguyên tắc này là hiệu suất lao động và lợi ích kinh tếtrong kiểm tra Kiểm tra không dẫn đến tốn kém, kiểm tra để giải quyết thoả đángcác mâu thuẩn, kiểm tra để thúc đẩy các mặt tốt, hạn chế các mặt tiêu cực
Các nguyên tắc trên có liên quan, bổ sung, hỗ trợ cho nhau Tuỳ từng mụcđích, đối tượng, nội dung và tình huống kiểm tra cụ thể mà hiệu trưởng sử dụngcác nguyên tắc hoặc có sự phối hợp giữa chúng một cách linh hoạt và sáng tạo đểđạt hiệu quả tối ưu
Trang 391.3.6 Hình thức kiểm tra nội bộ trường học.
Có nhiều hình thức kiểm tra, người hiệu trưởng có thể lựa chọn để kiểm trađúng với mục đích quản lí của mình Hình thức kiểm tra phải gọn nhẹ, không gâytâm lí nặng nề cho đối tượng, ảnh hưởng tới tiến độ bình thường của việc thựchiện chương trình, nhiệm vụ chung Thông thường có các hình thức kiểm tra sau:
- Kiểm tra toàn diện: Kiểm tra toàn diện một tổ chuyên môn, một giáoviên, một lớp học, học sinh,…
- Kiểm tra từng mặt: Có thể chỉ kiểm tra hồ sơ giáo viên, kiểm tra sổ đầubài, kiểm tra vở học tập của học sinh, kiểm tra giờ dạy trên lớp,…
- Kiểm tra theo chuyên đề; kiểm tra thường kỳ theo kế hoạch
- Kiểm tra đột xuất
- Kiểm tra việc thực hiện kiến nghị của kiểm tra lần trước
Ngoài ra còn có các hình thức kiểm tra thường xuyên, hàng ngày
1.3.7 Phương pháp kiểm tra nội bộ trường học.
Để thu thập những thông tin tin cậy, khách quan về các hoạt động sư phạmtrong nhà trường, hiệu trưởng thường phải sử dụng nhiều phương pháp kiểm tra.Nhưng lựa chọn và sử dụng phương pháp nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm đốitượng, mục đích, nhiệm vụ, thời gian kiểm tra và tình huống cụ thể
Có nhiều cách phân loại các phương pháp kiểm tra:
1.3.7.1 Cách thứ nhất gồm 3 phương pháp phổ biến:
- Phương pháp kiểm tra kết quả (chất lượng và hiệu quả dạy học và GD)
- Phương pháp kiểm tra phòng ngừa (dự đoán sai lệch,uốn nắn, điều chỉnh)
- Phương pháp tự kiểm tra (tự xem xét đánh giá so với chuẩn mực)
Để kiểm tra nội bộ trường học theo các phương pháp trên, người hiệutrưởng cần sử dụng các phương pháp bổ trợ sau làm điều kiện, phương tiện thựchiện Đó là các phương pháp: Quan sát, đàm thoại, phiếu điều tra; chất lượngkiến thức học sinh (nói, viết, thực hành); phân tích, tổng hợp tài liệu, hồ sơ và đốichiếu với thực tế; tham gia các hoạt động giáo dục cụ thể,…
1.3.7.2 Cách thứ hai gồm các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp kiểm tra hoạt động giảng dạy của giáo viên:
Trang 40+ Dự giờ (có lựa chọn, theo đề tài, song song nghiên cứu phối hợp một sốlớp, dự có mục đích và mời các chuyên gia cùng dự …).
+ Xem xét, kiểm tra các tài liệu khác nhau: sổ sách, hồ sơ cá nhân (giáo
án, kế hoạch cá nhân, lịch báo giảng, sổ điểm…)
+ Đàm thoại với giáo viên (về thực hiện chương trình, phương pháp giảngdạy, sự chuyên cần và tiến bộ của học sinh…)
- Phương pháp kiểm tra chất lượng kiến thức, kỹ năng của học sinh
+ Kiểm tra nói, viết, thực hành
+ Nghiên cứu và phân tích vở học sinh
+ Kiểm tra kỹ năng học sinh trong việc đọc, viết, tính toán, làm bài tập, thínghiệm, thực hành, lao động, kỹ năng giao tiếp, ứng xử,
- Phương pháp kiểm tra quá trình giáo dục học sinh trong các giờ lên lớp.Khi dự giờ hiệu trưởng cần định hướng nhận xét về:
+ Phương hướng tư tưởng của bài giảng, các biện pháp hình thành thế giớiquan khoa học, tình cảm, lí tưởng, đạo đức, ý thức lao động… cho học sinh
+ Phân tích các câu trả lời, các bài văn, lời phát biểu, báo cáo trong họctập và hoạt động ngoại khoá, các đợt thi học sinh giỏi …
+ Cách thức tổ chức lớp học nhằm tạo điều kiện để học sinh được suy nghĩnhiều hơn, được hoạt động nhiều hơn, được hợp tác trong học tập nhiều hơn,được phát biểu ý kiến nhiều hơn… Tạo điều kiện để học sinh tích cực, tự giác,chủ động, sáng tạo trong giờ học
- Phương pháp kiểm tra và đánh giá công tác chủ nhiệm lớp:
+ Kiểm tra đánh giá giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục học sinh
Việc lập kế hoạch và thực hiện công tác giáo dục học sinh.
Tiến hành tổ chức công tác với tập thể học sinh, từng học sinh (làm côngtác cá biệt)
Tham gia công tác cố vấn đoàn, đội của lớp
Liên hệ với các giáo viên bộ môn
Phối hợp với cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội khác ở địa phương + Kiểm tra đánh giá mức độ được giáo dục của học sinh