1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của thành phố vinh, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

107 2,5K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của thành phố vinh, tỉnh nghệ an
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy
Người hướng dẫn TS. Hoàng Thị Minh Phương
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 726 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy vậy vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sựphát triển sự nghiệp giáo dục: Tỷ lệ nữ cán bộ quản lý còn thấp, chưa tươngxứng với lực lượng lao động trong ngành; đội ngũ nữ q

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

Nguyễn THỊ Thanh Thuỷ

MộT Số GIảI PHáP NÂNG CAO CHấT LƯợNG

ĐộI NGũ Nữ CáN Bộ QUảN Lý GIáO DụC CủA

THàNH PHố VINH, TỉNH NGHệ AN

luận văn thạc sĩ KHOA HọC GIáO DụC

NGHệ AN – Năm 2012

Trang 2

bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học Vinh

Nguyễn Thanh Thuỷ

MộT Số GIảI PHáP NÂNG CAO CHấT LƯợNG

ĐộI NGũ Nữ CáN Bộ QUảN Lý GIáO DụC CủA

THàNH PHố VINH, TỉNH NGHệ AN

luận văn thạc sĩ KHOA HọC GIáO DụC

Chuyên ngành: qUảN Lý GIáO DụC

Trang 3

Tác giả xin chân thành cảm ơn Sở GD&ĐT Nghệ An, các đồng chí lãnhđạo, cán bộ chuyên viên, cán bộ quản lý Phòng GD&ĐT Thành phố Vinh đãtạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc cô hướngdẫn khoa học: TS Hoàng Thị Minh Phương người đã tận tình, trực tiếp hướngdẫn, giúp đỡ tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đãđộng viên cổ vũ nhiệt tình cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu luậnvăn

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không thểtránh khỏi sai sót Tác giả rất mong được sự góp ý, chỉ dẫn của quý thầy cô vàbạn bè đồng nghiệp quan tâm đến đề tài này

Nghệ An, tháng 9 năm 2012

Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Thủy

Trang 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI

NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

5

1.5 Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục 251.5.1 Nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục 251.5.2 Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản

Chương 2 THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NỮ 30

Trang 5

CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ở THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ

2.2.2 Thực trạng chất lượng đội ngũ nữ giáo viên và cán bộ quản lý

2.3.2 Công tác đánh giá, tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân

chuyển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục

Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI

NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Ở THÀNH PHỐ VINH

Trang 6

3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 60

3.2 Một số giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ

quản lý giáo dục ở Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

61

3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và ý nghĩa của công tác

phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nữ theo mục tiêu vì sự tiến bộ của

phụ nữ

61

3.2.2 Thực hiện tốt bình đẳng giới trong công tác quy hoạch, kế hoạch

phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục

63

3.2.3 Làm tốt công tác nữ trong đề bạt, bổ nhiệm, thuyên chuyển và

miễn nhiệm cán bộ quản lý giáo dục

65

3.2.4 Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nữ cán bộ

quản lý giáo dục

73

3.2.5 Thực hiện thường xuyên công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá

việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục

75

3.2.6 Xây dựng và điều chỉnh các chính sách hỗ trợ về điều kiện vật

chất, tinh thần để phát triển đội ngũ nữ giáo viên của Thành phố

77

3.4 Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất 803.4.1 Thăm dò tính cần thiết của các giải pháp 80

PHỤ LỤC

Trang 7

NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ, BIỂU ĐỒ

TrangBảng số 2.1: Thống kê đội ngũ cán bộ và cán bộ nữ ở Thành phố Vinh, tỉnh

Bảng số 2.6: Tổng hợp kết quả đánh giá những khó khăn của những người

nữ làm công tác quản lý giáo dục

44

Bảng số 2.7: Kết quả tim hiểu mức độ ủng hộ của gia đình đối với cán bộ

quản lý nữ và cán quản lý nữ tham gia công tác xã hội

46

Bảng số 3.1: Kết quả khảo sát tính cần thiết của các giải pháp 80Bảng số 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp 83Biểu đồ 3.1: Kết quả khảo sát sự cần thiết của các giải pháp 86Biểu đồ 3.2: Kết quả khảo sát tính khả thi của các giải pháp 87

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trang 9

Ngày nay, vấn đề nâng cao vai trò vị thế của phụ nữ trong các lĩnh vựchoạt động khác nhau của xã hội không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia

mà nó trở thành vấn đề chung của toàn cầu Ở Việt Nam, ngay trong bảntuyên ngôn độc lập thành lập nhà nước đầu tiên của nhân dân lao động, Chủtịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố thực hiện nguyên tắc "nam nữ bìnhđẳng" Mấy chục năm qua vừa kháng chiến vừa kiến quốc đầy gian nan,nhưng Việt Nam đã có những bước tiến lên căn bản trong việc nâng cao vaitrò, vị thế của phụ nữ, khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới Chính phủ đãthể chế hoá bằng hệ thống chế độ, chính sách bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ.Bản Hiến pháp đầu tiên (1946) đã thừa nhận quyền bình đẳng nam nữ trongmọi lĩnh vực Hiến pháp năm 1959 lại nêu rõ "Phụ nữ Việt Nam Dân chủCộng hoà có quyển bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị,kinh tế, văn hoá xã hội và gia đình" Các Hiến pháp 1980, 1992 đều tiếp tụckhẳng định quyền bình đẳng nam nữ

Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị nhằm phát huy vaitrò của lao động nữ và cán bộ nữ như Nghị quyết 04/NQ - TƯ ngày 17/4/1994

về đổi mới vận động phụ nữ trong tình hình mới đã nêu rõ là công tác cán bộ

nữ có vị trí chiến lược trong công tác cán bộ - một khâu có tác dụng quyếtđịnh việc thực hiện đường lối chiến lược của Đảng và Nhà nước nói chung vàtrong từng ngành nói riêng Chỉ thị 37/CT-TƯ ngày 16/5/1994 của Ban Bí thưTrung ương về một số vấn đề công tác nữ trong tình hình mới đó nêu các quyđịnh, các giải pháp quản lý cụ thể mà các cơ sở cần thực hiện nhằm xây dựng

và củng cố đội ngũ cán bộ nữ và đặc biệt chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ nữlàm công tác nghiên cứu khoa học

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng ban hành Chỉ thị 15/GD-ĐT ngày19/9/1994 về việc đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trongngành giáo dục và đào tạo trong tình hình mới Chỉ thị đã đề cập đến vấn đề

Trang 10

nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của phụ nữ đối với việc thực hiện cácnhiệm vụ của ngành trong giai đoạn mới, tăng cường hiệu quả sử dụng cán bộ

nữ, đặc biệt là cán bộ có trình độ khoa học

Ngày 15/6/2004 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành chỉ thị số 40

- CT/TƯ về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục đã khẳng định: "Phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sáchhàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực conngười Đây là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, trong đó nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng" [03] Đồng

thời Chỉ thị cũng chỉ rõ: "Tuy nhiên, trước những yêu cầu mới của sự pháttriển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đội ngũ nhà giáocũng có những hạn chế bất cập, số lượng giáo viên còn thiếu nhiều, cơ cấu

giáo viên đang mất cân đối giữa các môn học, bậc học Chất lượng chuyên

môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo có mặt chưa đáp ứng yêu cầu đổi mớigiáo dục và phát triển kinh tế - xã hội Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cườngxây dựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện" [03]

Sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam có bản lĩnh, có lý tưởng, có khảnăng sáng tạo, làm chủ được tri thức hiện đại, quyết tâm đưa đất nước lêntrình độ phát triển sánh kịp các nước trong khu vực và trên thế giới gắn liềnvới sự chăm lo phát triển một nền giáo dục, đào tạo vững mạnh, trong đó xâydựng đội ngũ nhà giáo một cách toàn diện là hết sức quan trọng Luật giáodục đã khẳng định: "Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất

lượng giáo dục"[39]

Trong những năm gần đây, sau khi Luật Bình đẳng giới được thông qua

và có hiệu lực, việc thực hiện bình đẳng giới trong giáo dục nói chung vàtrong quản lý giáo dục nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tỷ

Trang 11

lệ nữ cán bộ quản lý giáo dục ngày càng tăng, nhất là ở các cấp học cao, vị thế

và vai trò của nữ cán bộ quản lý ngày càng được khẳng định rõ nét

Ngành giáo dục và đào tạo Nghệ An nói chung, thành phố Vinh nóiriêng, thời gian qua công tác cán bộ nữ được quan tâm và đã có nhiều chuyểnbiến tích cực, nữ cán bộ quản lý đã đóng góp tích cực trong sự phát triển giáodục tỉnh nhà Tuy vậy vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sựphát triển sự nghiệp giáo dục: Tỷ lệ nữ cán bộ quản lý còn thấp, chưa tươngxứng với lực lượng lao động trong ngành; đội ngũ nữ quản lý lại chưa đồng

bộ Càng lên các bậc học cao, tỷ lệ này càng thấp: Mầm non tỷ lệ 100 %, Tiểuhọc 54,3 % trong khi đó Trung học cơ sở chỉ có 9,6% trình độ chính trị chủyếu là sơ cấp, một số cán bộ quản lý nữ ở một số trường năng lực chuyên môn

và quản lý còn hạn chế, chưa đáp ứng được với yêu cầu thời kỳ đổi mới

Cần phải xác định rằng: Nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lýgiáo dục là vấn đề cấp bách, cần thiết quan trọng không chỉ cho nữ cán bộquản lý mà còn là của các cấp lãnh đạo ngành giáo dục và đào tạo, góp phần

nâng cao chất lượng giáo dục của tỉnh nhà Vì vậy tác giả chọn: “Một số giải

pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải phápnhằm nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của thành phốVinh, tỉnh Nghệ An

Trang 12

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục thành

phố Vinh, tỉnh Nghệ An

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ

cán bộ quản lý giáo dục của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

4 Giả thuyết khoa học

Nếu đề xuất được các giải pháp khoa học, khả thi và áp dụng vào thựctiễn một cách hợp lý thì sẽ nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lýgiáo dục của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán

bộ quản lý giáo dục

5.2 Nghiên cứu thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản

lý giáo dục của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

5.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộquản lý giáo dục của thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu; phân loại, hệ thống hóa và cụthể hóa các tài liệu lý luận có liên quan

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Trang 13

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận của nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộquản lý giáo dục

- Chương 2: Thực trạng nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lýgiáo dục ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộquản lý giáo dục ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

ĐỘI NGŨ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài

Có nhiều nghiên cứu về vai trò, năng lực của phụ nữ trong các lĩnh vựckhác nhau Nghiên cứu của Stroh, Brret, Reilly, Meyers (1992) tại 500 công

ty của Mỹ cho thấy khi quá trình công tác và năng lực của phụ nữ và nam giớinhư nhau thì thu nhập của nữ giới kém hơn đồng nghiệp nam một cách rõ rệt.Một nghiên cứu khác của Lyness, Thompson (1997) đã đi đến nhận xét có sựkhác nhau trong khoản thu nhập thêm, phụ cấp giữa nam và nữ Mặc dù ở Mỹ

số lượng lao động nữ và những người quản lý là phụ nữ tăng lên, song cáchứng xử với phụ nữ rất ít thay đổi

Nghiên cứu của Jacobs (1992) cho thấy mặc dù những ứng xử mangtính định kiến với phụ nữ đã được thu hẹp và vấn đề bình đẳng giới đã tốthơn, nhưng sự khác biệt về quyền lực giữa nam và nữ thì vẫn không mấy thayđổi Phân tích một số công trình nghiên cứu ta thấy định kiến giới, mà tưtưởng trọng nam khinh nữ đã tồn tại trong quá khứ nhân loại và vẫn còn tồntại trong xã hội hiện đại Vấn đề đặt ra là: Tại sao lại tồn tại tư tưởng nàytrong đời sống xã hội?

Trong nghiên cứu của mình Eegly (1983) đã lý giải về vấn đề này nhưsau: Thứ nhất, giữa nam và nữ có vị thế khác nhau mang tính truyền thống vềnghề nghiệp, nam giới thường đảm nhiệm các công việc và vị trí quan trọnghơn trong xã hội so với nữ giới

Thứ hai, sự khác nhau giữa nam và nữ thể hiện qua vai trò của họ Sovới nam giới, nữ giới có ảnh hưởng đến người khác ít hơn song họ lại dễ bịảnh hưởng hơn

Trang 15

Sandra S.Huang trong “Nghiên cứu về Việt Nam học để dạy học trongmột xã hội tri thức” đã đề cập công tác chuẩn bị và đào tạo giáo viên, đặc biệt

là phát triển đội ngũ giáo viên đồng thời công trình có đề cập tới định hướngmới trong dạy và học “Chính phủ Việt Nam đã bổ sung nguồn lực cho ngànhgiáo dục và phân bổ lại các nguồn lực trong ngành để giúp nâng cấp cơ sở vậtchất trường lớp, đào tạo đội ngũ giáo viên mới và hỗ trợ các vùng khó khăn”

Bên cạnh đó có các dự án phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông: Dự ánđào tạo giáo viên Tiểu học năm 1994; Dự án phát triển giáo dục trung học cơ

sở năm 1997; Dự án đào tạo giáo viên Tiếng Anh năm 1998; Dự án đào tạoViệt -Bỉ năm 1999; Dự án đào tạo giáo viên THCS, các công trình và dự ánđầu tư vào hệ thống giáo dục như số lượng giáo viên và cán bộ quản lý giáodục đã được đào tạo ở các cấp học, bậc học Nhìn chung các dự án và chươngtrình phát triển đội ngũ giáo viên phổ thông đã có nhiều công trình đề cậpđến, nhưng ở bậc đại học còn ít có công trình nghiên cứu về lĩnh vực này

Đến những năm 20 của thế kỷ 20 cánh cửa nhà trường đại học mới đónnhận những giáo viên nữ nhưng vẫn chỉ là sự tuyển chọn một cách hạn chếnhững phụ nữ có trình độ cao vào làm việc Số lượng nữ giáo viên đại học nóiriêng và nữ nhân viên làm công ăn lương chỉ thực sự chuyển biến vào cuốithập kỷ 60 đầu thập kỷ 70 do làn sóng thứ hai của Phong trào phụ nữ Tỷ lệtham gia của đội ngũ nữ vào các hoạt động đã được cải thiện một cách rõ rệt

1.1.2 Những nghiên cứu trong nước

Ở nước ta định kiến xã hội đối với phụ nữ cũng vẫn còn tồn tại và nó cóảnh hưởng không nhỏ đến sự tiến bộ của họ

Nếu trong xã hội phong kiến xưa người phụ nữ không được ngồi vàomảnh chiếu giữa đình để bàn chuyện làng, không được tham gia vào các khoathi cử để ra làm quan thì nay định kiến với nữ giới đã giảm nhiều nhờ vào cácchủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vấn đề bình đẳng

Trang 16

giới, về vấn đề tiến bộ của phụ nữ Công ước Liên hợp quốc về xoá bỏ mọihình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW) được Liên hợp quốc phêchuẩn ngày 18 tháng 12 năm 1979, được chính phủ Việt Nam ký tham giangày 29 tháng 7 năm 1980 và được Quốc hội phê chuẩn ngày 19 tháng 3 năm

1982 Tuy vậy, Việt Nam là một quốc gia đã trải qua sự thống trị khá dài củachế độ phong kiến lạc hậu và bảo thủ với sự ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo,nên định kiến xã hội đối với phụ nữ là rất lớn Trong xã hội hiện nay địnhkiến này vẫn còn ảnh hưởng đáng kể, có thể kể đến một số biểu hiện như:

- Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, vai trò của các cán bộ nghiêncứu là nữ thể hiện qua việc thực hiện các đề tài nghiên cứu vẫn còn hạn chế.Nghiên cứu của Trần Thị Vân Anh năm 1999 đối với 598 nữ cán bộ khoa học

xã hội và 64 nam cán bộ về năng lực của cán bộ nữ, sự tin tưởng của cán bộlãnh đạo đối với nữ đã thu được kết quả như sau: Trong vòng khoảng 10 năm,

từ 1992 - 1999 toàn Viện khoa học xã hội Việt Nam thực hiện 125 đề tài cấp

Bộ, số nữ giới làm chủ nhiệm đề tài chiếm 10%, làm chủ nhiệm đề tài cấpNhà nước chiếm 4,4%, chủ nhiệm dự án điều tra cơ bản chiếm 4,7% Mộttrong những lý do cơ bản để lý giải cho thực trạng này là tỉ lệ cán bộ nữ cóhọc hàm, học vị còn thấp Số cán bộ nữ có học hàm giáo sư Viện Khoa học xãhội Việt Nam khi đó là Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia)năm 1999 là 4% (còn lại 96% là nam), có học hàm phó giáo sư là 13%, có học

vị Tiến sĩ là 31% Việc giao làm chủ nhiệm đề tài nghiên cứu phụ thuộc khánhiều vào học hàm, học vị của cán bộ nghiên cứu khoa học

Ngày nay vị thế xã hội của phụ nữ đã có nhiều thay đổi theo chiềuhướng tích cực, nhưng họ vẫn phải đảm đương những công việc có tính chấtthiên chức của mình như sinh đẻ và chăm sóc con cái, gia đình Với sự tiến bộcủa khoa học, phương pháp kiểm soát sinh đẻ, quan hệ tình dục trong gia đình

đã có nhiều ưu việt, số lượng con sinh ra đã giảm nhiều Đây là điều kiện

Trang 17

thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực xã hội Tuy vậy, tất cả nhữngđiều kiện trên chưa làm thay đổi nhiều những khó khăn từ phía gia đình đốivới người phụ nữ tham gia công tác xã hội Đó là những đòi hỏi từ phía namgiới như: Đảm bảo cuộc sống hàng ngày cho gia đình, chăm lo gia đình, nuôidưỡng và giáo dục con cái, vấn đề tình dục…

Việc quan tâm đến vị thế của phụ nữ và tìm ra giải pháp phát huy sựtham gia đóng góp có hiệu quả của họ vào mọi mặt của đời sống xã hội đang

là xu hướng quan tâm của toàn cầu Trong nội dung cơ bản Tuyên bố Thế giớicủa UNESCO về giáo dục đại học đã nhấn mạnh: Phải áp dụng mọi giải phápmạnh mẽ đảm bảo cho phụ nữ tham gia giáo dục đại học, đặc biệt ở cấp raquyết định và trong mọi lĩnh vực mà họ biết cũng bớt hiện diện, phải theođuổi mọi nỗ lực để loại bỏ tất cả sự dập khuôn cứng nhắc liên quan đến giớitrong giáo dục đại học

Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu về CBQL giáo dục, nữCBQL giáo dục như: Luận văn thạc sĩ "Một số giải pháp nâng cao chất lượngđội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục ở Nghệ An giai đoạn 2003 - 2010" năm2004; luận văn thạc sĩ "Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũcán bộ quản lý các trường trung học cơ sở huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa"năm 2008; luận văn thạc sĩ "Một số biện pháp phát triển đội ngũ nữ giảng viêntrường cao đẳng Sư phạm Ngô Gia Tự Bắc Giang" năm 2009; Những luậnvăn thạc sĩ trên đã đề cập đến việc phát triển đội ngũ nữ giảng viên và nângcao chất lượng đội ngũ nữ CBQL giáo dục Các tác giả đã đề xuất được một

số biện pháp cần thiết, khả thi nâng cao chất lượng đội ngũ nữ CBQL giáodục Thành phố Vinh chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập đến việc nângcao chất lượng đội ngũ nữ CBQL giáo dục Vì vậy, tôi chọn và nghiên cứu đềtài này, mong muốn đề xuất được một số giải pháp nâng cao chất lượng độingũ nữ CBQL giáo dục, góp phần cùng thành phố xây dựng và phát triển

Trang 18

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN

1.2.1 Quản lý

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, nhu cầu quản lý xã hộicũng được hình thành, trình độ tổ chức, điều hành quản lý hội cũng ngày đượcnâng cao Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao độngchung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đếnmột sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chứcnăng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận độngcủa các khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấymình, cũng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [15]

Để kết hợp các yếu tố con người, công cụ, phương tiện, tài chính…nhằm đạt mục tiêu đã định trước, cần phải có sự tổ chức, điều hành chung, đóchính là quản lý Có nhiều định nghĩa quản lý theo các quan điểm khác nhau

- Theo quan điểm xã hội: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, cóđịnh hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượngquản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống cácluật lệ, chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và giải pháp cụ thể nhằm tạo

ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [27]

- Theo quan điểm hệ thống: Thế giới đang tồn tại, mọi sự vật hiệntượng là một chỉnh thể, thống nhất Quản lý với tư cách là những tác động vào

hệ thống, vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợpnhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Như vậy “Quản lý là sự tác động có tổchức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng

có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đề ratrong điều kiện biến đổi của môi trường” [36]

- Theo Harold Kôntz, trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quảnlý” đã được dịch ra Tiếng việt - Nxb Khoa học kỹ thuật Hà Nội 1992: “quản

Trang 19

lý là một hoạt động thiết yếu nó bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhânnhằm đạt được các mục đích của nó” “Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằmhình thành một môi trường mà trong đó có thể đạt được các mục đích củanhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [32].

Theo từ điển Tiếng Việt: "Quản lý là trông coi, giữ gìn theo những yêucầu nhất định Là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những điều kiệnnhất định" [40]

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý là tác động có mục đích, có

kế hoạch của chủ thể quản lý đến những người lao động nói chung là kháchthể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến [36]

Từ những phân tích, những cách hiểu và định nghĩa khác nhau, có thểkết luận: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có ý thức để điều khiển, hướngdẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để đạt tới mục đíchđúng với ý chí của nhà quản lý phù hợp với yêu cầu khách quan

1.2.2 Quản lý giáo dục

Giáo dục và quản lý giáo dục tồn tại song hành Nếu nói giáo dục làhiện tượng xã hội và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của xã hội loàingười thì cũng có thể nói như vậy về quản lý giáo dục Giáo dục xuất hiệnnhằm thực hiện cơ chế truyền kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, củathế hệ đi trước cho thế hệ sau và để cho thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa,phát triển các kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo, làm cho xã hội và bản thâncon người luôn phát triển không ngừng Cũng như quản lý xã hội nói chung,quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt được nhữngmục đích của mình Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hoá mụcđích, nghĩa là biến cái hình mẫu ý tưởng của đối tượng trong tương lai mà tagọi là mục đích thành trạng thái hiện thực Mục đích giáo dục nằm trong mụcđích của quản lý giáo dục

Trang 20

Khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cấp độ:

- Đối với cấp vĩ mô, như cấp Bộ GD&ĐT và các cấp trung gian dưới

Bộ, thì “quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, cómục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể qủn lý đến tất cảcác mắt xích của hệ thống từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhà trườngnhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đàotạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”[21]

Theo quan điểm lý thuyết hệ thống quản lý giáo dục là sự tác động liêntục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằmtạo ra tính “trồi” của hệ thống; sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơhội của hệ thống nhằm đưa hệ thống tới mục tiêu một cách tốt nhất trong điềukiện đảm bảo sự cân bằng với môi trường bên ngoài luôn biến động

- Đối với cấp vi mô, đó là các cơ sở giáo dục, thì “quản lý giáo dụcđược hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có

hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhânviên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng giáo dục trong vàngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục tiêu giáodục của nhà trường” [21]

Tiêu điểm của nhà trường là quá trình giáo dục nên cũng có thể hiểuquản lý giáo dục thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quátrình giáo dục được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợđắc lực của các lực lượng xã hội nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhâncách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường

Quản lý giáo dục trước hết và thực chất là quản lý con người Điều này

có nghĩa là tổ chức một cách khoa học lao động của những người tham gia vàoquá trình giáo dục Trong quản lý giáo dục, những sự tác động qua lại giữa chủthể quản lý và đối tượng quản lý mang tính chất mềm dẻo, đa chiều

Trang 21

“QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lựclượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu pháttriển xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, côngtác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người; tuy nhiêntrọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành

hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáo dục quốcdân”[36]

Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục.Vậy quản lý Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quiluật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đếncác phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng làchất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ

- Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường, QLGD nói chung là thựchiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức làđưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáodục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng họcsinh” [31]

- Theo Nguyễn Ngọc Quang: “QLGD là hệ thống những tác động cómục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vậnhành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất củanhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạyhọc, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến lên trạngthái về chất” [36]

- Nguyễn Gia Quý khái quát “QLGD là sự tác động của chủ thể quản lýđến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục đích đã định,trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệthống giáo dục quốc dân” [38]

Trang 22

Như vậy, QLGD là tập hợp những giải pháp (tổ chức, cán bộ, kế hoạchhoá…) nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệthống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt

số lượng cũng như chất lượng

Trong QLGD việc xác định các mục tiêu, mục đích giáo dục có ý nghĩarất quan trọng Nếu xác định không đúng mục tiêu, mục đích trong côngtác QLGD sẽ gây ra những tổn thất lớn lao và để lại những hậu quả nặng nề

CBQL giáo dục có thể là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng hoặc Trưởng,Phó của một tổ chức được cơ quan cấp trên bổ nhiệm bằng quyết định hànhchính nhà nước Cấp phó giúp việc cho cấp Trưởng, chịu trách nhiệm trướccấp trưởng và trước pháp luật nhà nước về việc được phân công CBQL giáođược phân ra nhiều cấp bậc khác nhau: CBQL giáo dục cấp Trung ương,CBQL giáo dục cấp địa phương, CBQL giáo dục cấp cơ sở

1.2.4 Đội ngũ và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

1.2.4.1 Đội ngũ

Theo Từ điển tiếng Việt, đội ngũ là "Khối đông người cùng chức năng

nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng" [40].

Trang 23

Các khái niệm về đội ngũ dùng cho các thành phần trong xã hội nhưđội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân viên chức đều có gốc xuất phát từ đội ngũtheo thuật ngữ quân sự Đó là một khối đông người, được tổ chức thành mộtlực lượng để chiến đấu hoặc để bảo vệ

Tóm lại, đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành mộtlực lượng để thực hiện một hay nhiều chức năng, có thể cùng nghề nghiệphoặc không cùng nghề nghiệp nhưng cùng có chung một mục đích nhất định

1.2.4.2 Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

Đội ngũ CBQL giáo dục là khối đông người được tập hợp và tổ chứcthành lực lượng Đội ngũ CBQL giáo dục gồm tất cả những người có chức vụtrong nhà trường, các tổ chức, đơn vị trong hệ thống giáo dục quốc dân Độingũ CBQL giáo dục cũng được phân thành nhiều cấp: Đội ngũ CBQL giáodục cấp Trung ương, cấp địa phương (tỉnh, huyện) và cấp cơ sở

Đội ngũ CBQL giáo dục là lực lượng nòng cốt của hệ thống giáo dụcquốc dân trong việc lãnh đạo giáo dục và đào tạo…, được quan tâm đào tạo,bồi dưỡng để đủ phẩm chất, trình độ và năng lực quản lý

Với nghĩa đó cùng với các khái niệm về quản lý nêu trên, chúng ta cóthể hiểu: Đội ngũ CBQL giáo dục trường học bao gồm những người đứng đầucủa nhà trường, đứng đầu các Phòng ban trong trường, tập hợp lại thành mộtlực lượng có trách nhiệm và quyền hạn để thực hiện nhiệm vụ được giao,cùng hướng vào việc hoàn thành mục tiêu GD&ĐT đã xác định

Xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộgiữa các khâu: Phân tích tình hình đội ngũ, lựa chọn, đánh giá, đào tạo, bồidưỡng, quy hoạch, sử dụng, chính sách cán bộ quản lý Thể hiện ở việc đàotạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước, kinh nghiệm quản lý thực tiễn

Xây dựng đội ngũ CBQL giáo dục nhà trường cần đặt trọng tâm, trọngđiểm vào các tiêu chuẩn sau đây:

Trang 24

- Phẩm chất, năng lực chính trị tư tưởng:

Có bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, nắm vững chủtrương đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; các Chỉthị, Nghị Quyết của Đảng, các văn bản của Bộ, ngành để tham gia phổ biến,giáo dục mọi người biết và cùng thực hiện qua đó nâng cao phẩm chất, nănglực chính trị tư tưởng cho bản thân và đối tượng quản lý Có khả năng làm tốtcông tác chính trị tư tưởng thường xuyên, có kế hoach cụ thể, nội dung sâusắc hấp dẫn, hình thức tổ chức thực hiện đa dạng Bản chất của con người làphức tạp đa chiều, nên người quản lý phải có khả năng nhanh nhạy, linh hoạtsáng tạo vận dụng các hình thức giáo dục phù hợp với từng đối tượng

- Đạo đức lối sống:

Trung thực, giản dị, lành mạnh, hoà nhã và quan tâm đến mọi người;không bảo thủ, lạc hậu, hẹp hòi ích kỷ; không có tư tưởng phong kiến, tiểu tưsản, đạo đức giả tạo, tâm địa hiểm độc, ghen ghét đố kỵ; Không tham ô, thamnhũng; biết thực hành tiết kiệm, không lãng phí xa hoa, không cơ hội, vụ lợi,không sống thực dụng, nhiễu sách hách dịch, cửa quyền phiền hà; Mẫu mựctrong lời nói, việc làm; tích cực chống tư tưởng sống buông thả, vô chính phủ,cương quyết đấu tranh với các tệ nạn xã hội; Sống có ý thức tổ chức kỷ luật,

có ý chí phấn đấu vươn lên, có tinh thần trách nhiệm trong công tác…

- Trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ:

Trình độ chuyên môn: Có bằng đại học trở lên; Trình độ chính trị:Trung cấp lý luận chính trị trở lên; Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh trình độ Ctrở lên hoặc có bằng 2 đại học ngoại ngữ; Trình độ kiến thức quản lý: Đượchọc tập, bồi dưỡng về nghiệp vụ CBQL giáo dục; Trình độ tin học: Có chứngchỉ tin học ứng dụng trình độ A trở lên, có khả năng sử dụng thông thạo vàquản lý thiết bị công nghệ thông tin; Có kinh nghiệm thực tiễn; có khả năngđoàn kết, quy tụ, phát huy sức mạnh tập thể, có năng lực điều hành và tổ chức

Trang 25

thực hiện; Khiêm tốn học hỏi để nâng cao trình độ học vấn; thường xuyên họctập, bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước, QLGD, quản lý Nhà trường.

Đối với những người có chiều hướng và triển vọng phát triển nhưngchưa đáp ứng cơ bản tiêu chuẩn trên cần được quan tâm giáo dục rèn luyện,thử thách và lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng CBQL giáo dục kế cận để sử dụnghợp lý, trách sự thiếu hụt về CBQL giáo dục Chú trọng công tác xây dựng,

bổ sung cán bộ; đặc biệt quan tâm chính sách thu hút nhân tài Cần có cơ chế

mở, thoáng, phù hợp để nhân tài phát triển, phát huy hết năng lực trí tuệ phục

vụ tập thể, yên tâm công tác góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu quản lý

Một sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của các chất và lượng, nên cóthể nói đây là chất lượng nói chung

Trang 26

1.2.5.2 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục

Chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục được tạo bởi nhiều nhân tố baogồm: Số lượng cán bộ, trình độ đội ngũ (chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản

lý nhà nước, quản lý giáo dục), cơ cấu cán bộ, phương thức quản lý, cơ chế tổchức, trình độ quản lý, phẩm chất chính trị Tuy nhiên, chất lượng đội ngũCBQL giáo dục không phải là phép cộng đơn giản mà là sự tổng hợp chấtlượng của từng người CBQL giáo dục Chất lượng đội ngũ CBQL giáo dụctrước hết là hợp lý về số lượng, thể hiện ở sự tinh giản của bộ máy, tinh giản

bộ phận quản lý gọn nhẹ của tổ chức Có sự cân đối và hợp lý về cơ cấu trình

độ, cơ cấu chuyên môn đào tạo và cơ cấu CBQL giáo dục giữa các Phòngban, tổ chuyên môn, giữa lãnh đạo chủ chốt với các bộ phận; giữa cán bộĐảng - Chính quyền - Đoàn thể

Do đó, chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục được thể hiện: Số lượng, cơcấu đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; phẩm chất chính trị đội ngũ cán bộ quản

lý giáo dục; trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục; nănglực quản lý của người cán bộ quản lý giáo dục

Như thế, chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục được đánh giá là bảo đảmchất lượng khi đội ngũ đó đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ về

cơ cấu Vì vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục là làm thay đổi

về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ Đối với phụ nữ làm công tác quản

lý giáo dục còn gặp nhiều khó khăn do thiên chức của họ đối với gia đình.Ngoài những yêu cầu về tư chất, về tri thức và năng lực lãnh đạo quản lý, họcòn phải biết kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa trách nhiệm công việc chung vàcông việc riêng của đặc tính về giới

Những yêu cầu chung về chất lượng của đội ngũ CBQL giáo dục:

- Số lượng: Đủ theo quy định đối với từng hạng trường

- Cơ cấu: Cơ cấu đội ngũ được xem xét ở nhiều mặt

Trang 27

+ Độ tuổi và thâm niên: Hài hoà về độ tuổi và thâm niên nhằm vừa pháthuy được sức trẻ và vừa tận dụng được kinh nghiệm trong quá trình công tác

+ Chuyên môn được đào tạo: Có cơ cấu hợp lý về các chuyên ngànhchuyên môn cơ bản được đào tạo, đồng thời đảm bảo chuẩn hoá và vượtchuẩn về chuyên môn được đào tạo Cụ thể: Phải có trình độ Đại học sư phạmtrở lên và có thâm niên giảng dạy ít nhất 5 năm

- Chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục: Chất lượng được xem xét ở hai

mặt phẩm chất và năng lực chung, có nghĩa phẩm chất và năng lực của độingũ được tích hợp từ phẩm chất và năng lực của từng cá thể: Chất lượng độingũ CBQL giáo dục là sự tổng hợp chất lượng của từng cán bộ giáo dục Mỗimột cán bộ mạnh, có đủ đức, đủ tài sẽ tạo nên chất lượng và sức mạnh tổnghợp của toàn đội ngũ

1.3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ NỮ CÁN BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

1.3.1 Những yêu cầu cơ bản đối với cán bộ quản lý giáo dục

Giáo dục là một hoạt động vừa mang tính xã hội, vừa mang tính đặc thùnghề nghiệp Vì vậy, để tác động có hiệu quả tới hệ thống giáo dục, ngườiCBQL ngoài các yêu cầu chung cần phải có những yêu cầu riêng biệt sau:

Phải có phong cách lãnh đạo tốt, thích hợp với tổ chức mà mình lãnhđạo để mọi thành viên cộng tác, tự giác thực hiện các mục tiêu đã đề ra Muốnvậy, người CBQL phải có năng lực làm việc Việc rèn luyện phong cách,năng lực lãnh đạo quản lý chính là rèn luyện cách nhận biết thái độ của quầnchúng và quan trọng hơn là biết cách thay đổi tình huống khi cần thiết

Cần phải có trí tuệ và sự am hiểu cuộc sống nói chung Muốn quản lýtốt, người làm công tác cần phải có tri thức Tri thức ở đây không chỉ đơnthuần là hiểu biết chuyên môn mà còn có cả tri thức của những lĩnh vực khácnhau trong đời sống xã hội để xử lý quan hệ xã hội Phải không ngừng học

Trang 28

hỏi ở sách vở và trong cuộc sống Người lãnh đạo và quản lý cần biết rút kinhnghiệm từ thực tế công việc của mình để hoàn thiện phẩm chất cá nhân.

Để làm tốt công việc, người CBQL phải biết chấp nhận, biết đón đầu sựthay đổi tích cực, gạt bỏ tính bảo thủ thường có theo thói quen, bổ sung kiếnthức cho mình bằng kinh nghiệm tốt của người khác Người cán bộ quản lýgiáo dục tốt không chỉ là người thầy giáo giỏi mà còn phải là một nhà văn hoáuyên thâm Có như vậy, mới có thể đưa nh à trường gắn liền với xã hội được

Người lãnh đạo, quản lý phải luôn giữ cho mình có được một trạng thái

tâm lý tự tin, bình tĩnh Tâm lý nôn nóng là một tâm lý có hại cho lãnh đạo,

quản lý Người lãnh đạo, quản lý cũng cần phải dũng cảm, quyết đoán Vềphương diện này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra những lời khuyên rất thú vị.Nhiều người cho rằng: nếu thiếu tâm lý tự chủ thì không thể điều hành tốtcông việc được giao Bởi vì người thiếu tự chủ thường chần chừ, dễ dàng lùibước trước khó khăn

Để khắc phục được những tâm lý nói trên, những người tham gia côngtác quản lý cần phải có sự rèn luyện và được thử thách qua thực tế công việc.Người ta gọi đây là một nghệ thuật, bởi vì người lãnh đạo, quản lý phải bộc lộthái độ của mình đúng lúc, đúng chỗ; phải biết cách xử sự khéo léo để quầnchúng tin tưởng, sẵn sàng nghe theo mệnh lệnh điều hành của mình Không

có nghệ thuật điều hành thì không thể tạo được sức mạnh của tổ chức

Người làm công tác lãnh đạo, quản lý phải hết sức giữ gìn và nâng cao

uy tín cá nhân của mình trước tập thể Người có uy tín cao thì mệnh lệnh ban

ra sẽ được cấp dưới chấp nhận như một chân lý và sẵn sàng thực hiện Ngượclại, nếu thiếu uy tín thì khi chỉ đạo, cấp dưới sẽ không quyết tâm thực hiện cácmệnh lệnh mà họ nhận được

Trang 29

Uy tín của người CBQL giáo dục không chỉ với đồng nghiệp mà còn vớicha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội Đó là việc làm tốt công tác xã hộihoágiáo dục Tất nhiên, việc nâng cao uy tín cá nhân không thể tách rời vớiviệc nâng cao uy tín của tập thể Trên thực tế, không thể có uy tín cá nhân củangười lãnh đạo vượt qua được uy tín chung của tổ chức do người đó điều hành.

Uy tín có hai mặt: Chất lượng và số lượng, trong đó chất lượng có vaitrò quyết định Chất lượng được tạo nên bởi nhiều yếu tố như: sự hiểu biết,năng lực điều hành, lòng vị tha, sự quan tâm đến cấp dưới, năng lực học tập, ýchí quyết tâm trong công việc và nhiều yếu tố khác

Vì vậy, để nâng cao uy tín của mình, người lãnh đạo phải thườngxuyên chú ý rèn luyện các phẩm chất nêu trên, bất luận trong hoàn cảnh nào.Hơn nữa phải chú ý đến lĩnh vực mà mình đảm nhiệm để hướng sự rèn luyệntheo yêu cầu của lĩnh vực đó Uy tín nào cũng được tạo dựng bởi lòng tin củacấp dưới đối với lãnh đạo

1.3.2 Những tiêu chí đánh giá người cán bộ quản lý giáo dục

Cùng với lý luận chung của giáo dục học, nhân cách của người giáoviên nói chung và người cán bộ quản lý giáo dục nói riêng đã được các nhànghiên cứu giáo dục khái quát phát triển trên cơ sở những giải pháp cụ thể vềxây dựng đội ngũ QLGD trong giai đoạn mới mà Nghị quyết Trung ương 2Ban chấp hành trung ương Đảng khoá VIII đã đề ra

Từ thực tế công tác QLGD hiện nay, chúng tôi cho rằng: Tiêu chí đánhgiá người cán bộ quản lý giáo dục có thể chia thành 3 nhóm phẩm chất nhưbảng 1.1

Trong 3 nhóm phẩm chất quan trọng đó, người CBQL giáo dục cầnphải lưu ý đến việc nâng cao phẩm chất nghề nghiệp, nhất là trình độ chuyênmôn và nghiệp vụ quản lý

Trang 30

Bảng 1.1 Yêu cầu đối với cán bộ quản lý giáo dục

- Lập trường tư tưởng vững vàng, không dao động trước những khó khăn thử thách Trung thành tuyệt đối với Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

- Nhạy bén với tình hình, đổi mới công tác của lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

- Có trình độ chuyên môn đạt chuẩn đào tạo trở lên.

- Có trình độ, có nghiệp vụ quản lý và tổ chức thực hiện công việc khoa học

- Năng động, sáng tạo, thường xuyên cải tiến công tác quản lý, ủng

hộ cái mới, cái đúng.

- Có tính quyết đoán Biết đề ra chủ trương phù hợp và có những quyết định đúng đắn kịp thời.

- Tác phong lãnh đạo dân chủ, có năng lực tập hợp quần chúng.

1.3.3 Đặc điểm nữ cán bộ quản lý giáo dục

Sự phát triển của đội ngũ cán bộ nữ là thước đo đánh giá mức độ lớn

mạnh của phong trào phụ nữ và quá trình bình đẳng giới Trong quá trình xâydựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng và Nhànước ta đã có nhiều chủ trương, nghị quyết nhằm tăng cường sự tham gia củaphụ nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý Đây là yếu tố quan trọng để thực hiệnquyền bình đẳng, là điều kiện để phát huy tiềm năng, trí tuệ và nâng cao địa vị

xã hội của phụ nữ Thông qua việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng,chính sách của Nhà nước, phụ nữ được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ

và bình đẳng trên mọi lĩnh vực, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của cách

Trang 31

mạng Đội ngũ cán bộ nữ trưởng thành về số lượng và chất lượng Đội ngũnày ngày có vai trò chủ động tích cực trong việc tham gia hoạch định chínhsách và ra quyết định của các cấp, các ngành nhất là những vấn đề liên quanđến phụ nữ và trẻ em; có những đóng góp quan trọng trong công tác lãnh đạo

và quản lý Ở nước ta, trong các cấp ủy Đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ cơ sởđến Trung ương đều có cán bộ nữ tham gia Đặc biệt là trong các nhiệm kỳĐại hội toàn quốc của Đảng gần đây, chúng ta đều có nữ tham gia Bộ Chínhtrị hoặc Ban Bí thư Tỷ lệ cán bộ nữ là Đại biểu Quốc hội khoá sau tăng hơnkhoá trước, cụ thể khoá IX nữ chiếm 18,84%; Khoá X nữ chiếm 26,22%;Khoá XI nữ chiếm 27,31% Cán bộ nữ giữ cương vị chủ nhiệm, phó chủnhiệm các ủy ban của Quốc hội chiếm tỷ lệ 25/% Thành tựu này đưa ViệtNam lên vị trí đứng đầu khu vực châu á về tỷ lệ nữ trong Quốc hội Cán bộ nữtrong cơ quan quản lý Nhà nước, trong 10 năm qua chúng ta luôn có nữ PhóChủ tịch nước Nữ là bộ trưởng là 12%, thứ trưởng là 9% Cấp vụ trưởng là6% Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố chiếm 3,2% và phó chủ tịch là 16,8%.Cán bộ nữ trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học: phụ nữ chiếm 37% trong tổng

số những người có trình độ đại học, cao học; nữ tiến sỹ chiếm 19,9%, nữ giáo

sý, phó giáo sư chiếm 6,7%

Trong lĩnh vực GD&ĐT, nữ CBQL giáo dục chiếm 32,4% Tỷ lệ nữđảng viên tăng từ 19,3% (năm 2009) lên 21,7% (năm 2010) và năm 2011 là35,9% Những tiến bộ trên cũng chưa phản ánh đúng tiềm năng của phụ nữ vàđòi hỏi của thực tế Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập,phụ nữ đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Đội ngũ nữ CBQL giáodục phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, sự đóng góp của tầng lớp phụ

nữ và phong trào phụ nữ Cán bộ nữ tham gia cấp uỷ Đảng các cấp chưa đạtchỉ tiêu 15% theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị Trình độ học vấn,chuyên môn nghiệp vụ còn thấp, tỷ lệ nữ CBQL qua đào tạo chưa cao

Trang 32

Ðể thực hiện tốt chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác cán bộ

nữ, các tổ chức Đảng và Nhà nước phải đặt vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ

nữ thành nhiệm vụ có tính chiến lược trong toàn bộ công tác cán bộ của Đảng

và Nhà nước Trên cơ sở quy hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ,tạo điều kiện để phụ nữ cống hiến và trưởng thành; phấn đấu tăng tỷ lệ nữtrong các cấp uỷ, cơ quan Nhà nước, trong các lĩnh vực quản lý kinh tế, xãhội, y tế, giáo dục, khoa học nghệ thuật Đảng và Nhà nước cần quy địnhtrách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu các cấp, các ngành, các địa phương,đơn vị về xây dựng kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ nữ của ngành mình,cấp mình và xem đó như là một trong những tiêu chuẩn của cán bộ lãnh đạo,quản lý Các đơn vị cần có sự phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thểnhằm thu hút sự hỗ trợ trong suốt quá trình tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sửdụng, đề bạt cán bộ nữ

Ngoài những yêu cầu chung, nữ CBQL giáo dục cần có thêm nhữngtiêu chuẩn sau: Có năng lực tự đào tạo, tự hoàn thiện Có năng lực giao tiếp;biết sắp xếp công việc tập thể và gia đình một cách khoa học Có một cuộcsống gia đình bình đẳng, hạnh phúc Không tự ti, mặc cảm

Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống và công việc, một số vấn đề đặt rađối với một cán bộ quản lý nữ như: Thường xuyên phải tự giải quyết các mâuthuẫn trong công việc và cuộc sống gia đình; trong công tác chuyên môn vàquản lý có khi bất cập, chồng chéo; giữa áp lực công việc và sức khoẻ bảnthân của người phụ nữ hiện tại; đức tính dịu dàng, duyên dáng của người phụ

nữ và tính mạnh mẽ quyết đoán trong công việc Những vấn đề đó đòi hỏingười phụ nữ phải có sự nhạy bén và mềm mỏng, sáng tạo để xử lý nhằm đạthiệu quả như mong muốn

1.4 NỘI DUNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ NỮ CÁN

BỘ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Trang 33

1.4.1 Quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục

Công tác quy hoạch đội ngũ là một trong những hoạt động quản lý củangười quản lý Nó có tác dụng làm cho cơ quan quản lý hoặc người quản lýbiết được về số lượng, chất lượng, cơ cấu tuổi, trình độ và cơ cấu chuyênmôn, của từng nữ CBQL giáo dục và cả đội ngũ nữ CBQL giáo dục; đồngthời xây dựng được kế hoạch phát triển đội ngũ; nhằm tìm ra các biện phápnâng cao chất lượng cho từng nữ CBQL giáo dục và cả đội ngũ để họ có đượckhả năng hoàn thành nhiệm vụ Hơn nữa, kết quả quy hoạch là cơ sở chủ yếumang tính định hướng cho việc vận dụng và thực hiện các chức năng cơ bảncủa quản lý vào hoạt động quản lý bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân sự giáodục trong Thành phố Như vậy, nói đến quản lý đội ngũ nữ CBQL giáo dục lànói đến công tác quy hoạch phát triển đội ngũ và nói đến quy hoạch là nói đếnmột công việc rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ Nhưvậy, quy hoạch phát triển đội ngũ được xem là một lĩnh vực trong hoạt độngquản lý và cũng là một lĩnh vực cần đề xuất giải pháp quản lý

1.4.2 Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển cán

bộ quản lý nữ

Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ cán

bộ, công chức nói chung và CBQL nói riêng là công việc thuộc lĩnh vực côngtác tổ chức và cán bộ

- Tuyển chọn, bổ nhiệm chính xác CBQL có đủ phẩm chất, năng lực chomột tổ chức là yếu tố quan trọng để phát triển tổ chức nói chung và thực chất

là tạo điều kiện tiên quyết cho tổ chức đó đạt đến mục tiêu của nó Mặt khác,những tiêu chuẩn cho việc tuyển chọn, bổ nhiệm CBQL lại là những yêu cầutất yếu cho việc thực hiện kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL

Trang 34

- Miễn nhiệm CBQL thực chất là làm cho đội ngũ CBQL luôn đảm bảocác yêu cầu về chuẩn, không để cho đội ngũ CBQL có những thành viênkhông đủ yêu cầu Đây là một hình thức nâng cao chất lượng đội ngũ.

- Luân chuyển CBQL có tác dụng làm cho chất lượng đội ngũ được đồngđều trong các tổ chức; mặt khác tạo điều kiện thoả mãn các nhu cầu củaCBQL Hai mặt trên gián tiếp làm cho chất lượng CBQL được nâng cao.Qua phân tích trên cho thấy, các hoạt động tuyển chọn, bổ nhiệm, miễnnhiệm và luân chuyển cán bộ nói chung là các hoạt động trong lĩnh vực quản

lý cán bộ Như vậy không thể thiếu được những giải pháp quản lý khả thi đốivới lĩnh vực này

1.4.3 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nữ CBQL giáo dục nhằm hoàn thiện và nângcao chuẩn về trình độ lý luận chính trị; lý luận và thực tiễn quản lý; trình độchuyên môn cho từng nữ CBQL giáo dục và cả đội ngũ nữ CBQL giáo dục.Bản chất của công tác đào tạo, bồi dưỡng nữ CBQL giáo dục là nâng caophẩm chất và năng lực cho đội ngũ nữ CBQL giáo dục để họ có đủ các điềukiện hoàn thành nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn của họ

Quản lý đội ngũ được xem là một trong những lĩnh vực quản lý của các

tổ chức quản lý và của mọi nữ CBQL giáo dục đối với một tổ chức Như vậy,

để nâng cao chất lượng đội ngũ nữ CBQL giáo dục thì không thể thiếu đượchoạt động đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ nữ CBQL giáo dục nhằm nâng caochất lượng và hiệu quả quản lý cụ thể:

- Về phẩm chất, năng lực chính trị tư tưởng

Có bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, nắm vững chủtrương đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước; các Chỉthị, Nghị Quyết của Đảng, các văn bản của Bộ, ngành để tham gia phổ biến,giáo dục mọi người biết và cùng thực hiện qua đó nâng cao phẩm chất, năng

Trang 35

lực chính trị tư tưởng cho bản thân và đối tượng quản lý Có khả năng làm tốtcông tác chính trị tư tưởng thường xuyên, có kế hoach cụ thể, nội dung sâusắc hấp dẫn, hình thức tổ chức thực hiện đa dạng, phong phú… Bản chất củacon người là phức tạp đa chiều, nên người quản lý phải có khả năng nhanhnhạy, linh hoạt sáng tạo vận dụng các hình thức giáo dục phù hợp với từngđối tượng

- Về đạo đức lối sống

Trung thực, giản dị, lành mạnh, hoà nhã và quan tâm đến mọi người;không bảo thủ, lạc hậu, hẹp hòi ích kỷ; không có tư tưởng phong kiến, tiểu tưsản, đạo đức giả tạo, tâm địa hiểm độc, ghen ghét đố kỵ; Không tham ô, thamnhũng; biết thực hành tiết kiệm, không lãng phí xa hoa, không cơ hội, vụ lợi,không sống thực dụng, nhiễu sách hách dịch, cửa quyền phiền hà; Mẫu mựctrong lời nói, việc làm; tích cực chống tư tưởng sống buông thả, vô chính phủ,cương quyết đấu tranh với các tệ nạn xã hội; Sống có ý thức tổ chức kỷ luật,

có ý chí phấn đấu vươn lên, có tinh thần trách nhiệm trong công tác…

- Về trình độ, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ

Trình độ chuyên môn: Có bằng đại học trở lên; Trình độ chính trị:Trung cấp lý luận chính trị trở lên; Trình độ ngoại ngữ: Tiếng Anh trình độ Ctrở lên hoặc có bằng 2 đại học ngoại ngữ; Trình độ kiến thức quản lý: Đượchọc tập, bồi dưỡng về nghiệp vụ CBQL; Trình độ tin học: Có chứng chỉ tinhọc ứng dụng trình độ A trở lên, có khả năng sử dụng thông thạo và quản lýthiết bị công nghệ thông tin; Có kinh nghiệm thực tiễn; có khả năng đoàn kết,quy tụ, phát huy sức mạnh tập thể, có năng lực điều hành và tổ chức thựchiện; Khiêm tốn học hỏi để nâng cao trình độ học vấn; thường xuyên học tập,bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý giáo dục, quản lý Nhà tường

Đối với những người có chiều hướng và triển vọng phát triển nhưngchưa đáp ứng cơ bản tiêu chuẩn trên cần được quan tâm giáo dục rèn luyện,

Trang 36

thử thách và lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng CBQL kế cận để sử dụng hợp lý,trách sự thiếu hụt về CBQL Chú trọng công tác xây dựng, bổ sung cán bộ;đặc biệt quan tâm chính sách thu hút nhân tài Cần có cơ chế mở, thoáng, phùhợp để nhân tài phát triển, phát huy hết năng lực trí tuệ phục vụ tập thể, yêntâm công tác góp phần vào việc hoàn thành mục tiêu quản lý đề ra.

1.4.4 Đánh giá, sàng lọc đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục

Đánh giá là một trong những chức năng của công tác quản lý Đánh giáchất lượng đội ngũ nữ CBQL giáo dục là một trong những công việc khôngthể thiếu được trong công tác quản lý của các cơ quan quản lý và của các chủthể quản lý nói chung và của công tác tổ chức cán bộ nói riêng

Đánh giá đội ngũ không những để biết thực trạng mọi mặt của đội ngũ,

mà qua đó dự báo về tình hình chất lượng đội ngũ cũng như việc vạch ranhững kế hoạch khả thi đối với hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ Mặtkhác, kết quả đánh giá nữ CBQL giáo dục nếu chính xác lại là cơ sở cho việcmỗi cá nhân có sự tự điều chỉnh bản thân nhằm thích ứng với tiêu chuẩn độingũ Nói như vậy, đánh giá đội ngũ nữ CBQL giáo dục có liên quan mật thiếtđối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ nữ CBQL giáo dục Như vậy, đểnâng cao chất lượng đội ngũ CBQL nói chung và nữ CBQL giáo dục nóiriêng không thể không nhận biết chính xác về chất lượng đội ngũ thông quahoạt động đánh giá đội ngũ; để từ đó thiết lập các giải pháp quản lý khả thi vềlĩnh vực này

1.4.5 Chế độ, chính sách đối với đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục

Kết quả một hoạt động của con người nói chung và chất lượng một hoạtđộng của con người nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố mang tính động lựcthúc đẩy hoạt động của con người Chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ

nữ CBQL giáo dục còn chứa đựng trong đó những vấn đề mang tính đầu tư chonhân lực theo dạng tương tự như “tái sản xuất” trong quản lý kinh tế Chính từ vấn

Trang 37

đề có chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ mà chất lượng đội ngũ đượcnâng lên Nhìn chung, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ nói chung và đối với nữCBQL giáo dục nói riêng là một trong những hoạt động quản lý cán bộ, côngchức của cơ quan quản lý và của người quản lý đối với một tổ chức

Kết luận chương 1

Đối với QLGD thì CBQL giáo dục là khâu then chốt quyết định sựthành bại của hệ thống này Họ là những người không chỉ hoạch định chínhsách và chiến lược phát triển mà còn là lực lượng chỉ đạo thực hiện các chủtrương đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước Đặc biệt trong giai đoạnkhi đất nước đang tiến hành CNH-HĐH, GD&ĐT được xem là quốc sáchhàng đầu thì đội ngũ nữ CBQL giáo dục phải là hàng đầu của hàng đầu

Đội ngũ nữ CBQL giáo dục có vị trí quan trọng trong sự phát triển củangành giáo dục, họ là những người tri thức, là người mẹ, người vợ có vai trò

to lớn trong lĩnh vực giáo dục, chiếm tỷ lệ lao động lớn Do vậy phải có quyhoạch và nâng cao chất lượng và phát triển đội ngũ nữ CBQL giáo dục để đápứng yêu cầu của ngành và của đất nước hiện nay

Nâng cao chất lượng và phát triển đội ngũ nữ CBQL giáo dục là ưu tiênrất cơ bản mà xã hội dành cho ngành GD&ĐT Cần có cơ hội, chính sách cho

nữ CBQL giáo dục được học tập, bồi dưỡng và phát triển về phẩm chất, nhâncách trình độ nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu công tác, tăng nguồn nữ CBQL giáodục cho ngành

Trang 38

2.1.1 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Vinh

Thành phố Vinh là trung tâm chính trị kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnhNghệ An, một tỉnh lớn nằm ở vùng Bắc Trung bộ, có vị trí ở phía Đông -Nam của tỉnh, phía Bắc và Đông giáp huyện Nghi Lộc, phía Nam giáp huyệnNghi Xuân của tỉnh Hà Tĩnh, phía Tây giáp huyện Hưng Nguyên Vinh cáchthủ đô Hà Nội 300km về phía Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.400 km

về phía Bắc, tổng diện tích tự nhiên là 104,96 km2, quy mô dân số là 435.208người, gồm 16 phường và 9 xã

Trong lịch sử phát triển, trải qua nhiều triều đại trị vì đất nước, nhiềugiai đoạn lịch sử thăng trầm, Vinh luôn được xác định là một thành phố trungtâm không những đối với tỉnh Nghệ An, mà cả khu vực Bắc Trung bộ và cótầm quốc gia trên nhiều lĩnh vực, có thể nêu một vài dấu mốc quan trọng: Vịtrí đắc địa mà Vua Quang Trung đã chọn làm kinh đô từ 220 năm về trướcchính là thành Phượng Hoàng Trung Đô thuộc thành phố Vinh; đầu thế kỷXIX, vua Gia Long cũng đã chọn Vinh để cho xây trấn thủ Nghệ An (nay gọi

là Thành cổ Nghệ An); rồi khi thực dân Pháp đô hộ đất nước ta, người Phápcũng đã cho xây dựng nơi đây nhiều cơ sở công nghiệp, hệ thống giao thông,các hãng buôn nổi tiếng, Vinh trở thành một đô thị công nghiệp tầm quốcgia; Định hướng Quy hoạch tổng thể đô thị Việt Nam đến năm 2020 theoQuyết định số 10/1998/QĐ-TTg đã xác định Vinh là trung tâm đô thị hóavùng Bắc Trung bộ, một trong mười trung tâm của cả nước; đặc biệt Quyết

Trang 39

định số 239/2005/QĐ-TTg ngày 30/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ đã đưaVinh tiến thêm một tầm cao mới, với vai trò, vị trí tương xứng với vị thế màVinh có được: trung tâm kinh tế - văn hóa vùng Bắc Trung bộ Đó là niềmvinh dự, tự hào nhưng cũng đặt ra trách nhiệm mới cho Đảng bộ, chính quyền

và nhân thành phố Vinh Để có thể xây dựng Vinh đạt vị trí trung tâm vùng,phải thấy rằng: tuy vẫn còn những khó khăn và hạn chế, nhưng Vinh có nhiềutiểm năng và lợi thế để xây dựng và phát triển

Tiềm năng và lợi thế Trước hết, về vị trí đô thị: Vinh được xác định làtrung đô thị hoá vùng Bắc Trung bộ trong Quy hoạch tổng thể phát triển đôthị Việt Nam đến năm 2020, Vinh được quy hoạch khoa học, có thể tiếp cậnmột thành phố hiện đại, là đầu mối giao thông Quốc gia với đầy đủ các loạihình: đường bộ, đường sắt, đường thuỷ và đường hàng không; Vinh có vai trò

là cửa ngâ giao thương quốc tế ở tầm quốc gia do nằm trong hành lang kinh tếĐông - Tây và vành đai kinh tế ven biển, nằm giữa hai trung tâm công nghiệplớn: Nam Thanh - Bắc Nghệ và Thạch Khê - Vũng áng, nằm liền kề Khu kinh

tế mới Đông Nam - Nghệ An, có nhiều thuận lợi trong hoạt động thương mại,dịch vụ và cung ứng hàng hoá, đào tạo nguồn nhân lực

Những năm gần đây tốc độ đô thị hóa ở Vinh diễn ra nhanh chóng: địagiới hành chính được mở mang, từ 13 phường nay tăng lên đến 16 phường, 5

xã tăng lên thành 9 xã; diện tích tự nhiên toàn thành phố từ 67.53 km2 tănglên đến 104,96 km2 (tăng 1,6 lần) trong đó diện tích đô thị đạt gần 36 km2 Quỹ đất cho phát triển đô thị Vinh đã được định hướng theo Quyết định 239của Thủ tướng Chính phủ: đến năm 2020, quy mô diện tích toàn thành phố sẽlên trên 250 km2, theo đó thành phố và tỉnh đang trình Thủ tướng Chính phủ,

Bộ Xây dựng phê duyệt Quy hoạch điều chỉnh xây dựng thành phố đến năm

2025 Như vậy quá trình đô thị hóa ở thành phố Vinh sẽ tiếp tục diễn ra nhanhchóng, khu vực đô thị sẽ bao gồm: đô thị Vinh hiện có, thị xã cửa lò, thị trấn

Trang 40

Quán Hành (thuộc huyện Nghi Lộc hiện nay) và các khu vực đô thị mới theoquy hoạch Vinh vừa được công nhận đô thị loại 1 tại Quyết định số 1210ngày 5/9/2008 của Thủ tướng Chính phủ, đánh giá sự vượt trội trong pháttriển đô thị, đạt cơ bản các chỉ tiêu theo Nghị định 72 của Chính phủ về phânloại đô thị và cấp quản lý đô thị.

Việc mở rộng quy mô thành phố Vinh không phải chỉ dựa vào các khuvực “đất dự phòng” phát triển bình thường, mà vùng mở rộng phát triển ở đây

là các khu vực đã có các đô thị trung tâm: thị trấn Quán Hành, thị trấn HưngNguyên, thị xã Cửa Lò, nên tiến trình đô thị hóa được “cộng hưởng”, liên kếtcác đô thị hiện có tạo thành các “trục phố” trung tâm lớn, các khu vực đô thịhóa được phân bổ hợp lý, không bị dồn nén Mặt khác việc mở rộng thànhphố với đường biên phía đông giáp biển sẽ tạo cho Vinh một diện mạo mới,phát huy thế mạnh kinh tế vùng biển và ven biển, một khu vực giàu tiềmnăng

Thứ hai, trong những năm qua, Vinh đã có bước phát triển nổi bật, thayđổi toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế - văn hoá: tổng đầu tư toàn xã hội tăngđáng kể theo thời gian, năm 2006: 3.065 tỷ đồng, năm 2008: trên 4.500 tỷđồng Tổng thu ngân sách Năm 2007 trên địa bàn: 1.355 tỷ đồng, GDP bìnhquân đầu người đạt 1.264 USD (20,2 triệu đồng), tăng trưởng kinh tế 16,4%,nhịp độ tăng trưởng kinh tế 5 năm: 2003-2007: 13,7 %, tỷ lệ hộ nghèo giảmcòn 4,6 %, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cao 97,3% Đến nay, cơ sở hạtầng đô thị Vinh đã được cải thiện rõ nét, hệ thống giao thông đô thị được tổchức tương đối tốt, cơ cấu đất đai đô thị phân bổ hợp lý theo quy chuẩn xâydựng, hạ tầng kỹ thuật tuy chưa được hoàn chỉnh, nhiều mặt chưa đồng bộnhưng được đánh giá cao, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các ngànhkinh tế như công nghiệp, thương mại dịch vụ - du lịch và hỗ trợ tích cực chokinh tế nông - ngư; một số lĩnh vực phát triển mạnh, đã khẳng định vị trí trung

Ngày đăng: 19/12/2013, 13:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Ngọc Anh và đồng nghiệp (2002), Về đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo quản lý, Tạp chí Khoa học về phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đội ngũ cán bộ nữ lãnh đạo quản lý
Tác giả: Phạm Ngọc Anh và đồng nghiệp
Năm: 2002
2. Trần Thị Vân Anh (2002), Tình hình nữ làm chủ nhiệm đề tài - Vấn đề giới trong khoa học xã hội, Tạp chí Khoa học về phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nữ làm chủ nhiệm đề tài - Vấn đề giới trong khoa học xã hội
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 2002
9. Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý nhà trường: Từ một số góc nhìn tổ chức sư phạm và kinh tế - xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà trường: Từ một số góc nhìn tổ chức sư phạm và kinh tế - xã hội
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 2006
10. Đặng Quốc Bảo (1997), Một số khái niệm về Quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý GD&ĐT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khái niệm về Quản lý giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Năm: 1997
11. Nguyễn Thị Bình (1994), Bài giảng lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục, Trường cán bộ quản lý giáo dục Trung ương 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lớp bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1994
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Chơng trình hành động "Vì sự tiến bộ phụ nữ" ngành giáo dục và đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sự tiến bộ phụ nữ
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2001
15. C.Mác - Ph.Ăng ghen (1993),C.Mác - Ph.Ăng ghen toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác - Ph.Ăng ghen toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
16. Chính phủ (2005), Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2005-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2005-2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
17. Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/NQ- CP về “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nan giai đoạn 2006 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 14/2005/NQ- CP về “Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nan giai đoạn 2006 - 2020
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
18. Chính phủ (2001), Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010”, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010”
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
20. Chính phủ (2011), Chơng trình hoạt động quốc gia "Vì sự tiến bộ phụ nữ" Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vì sự tiến bộ phụ nữ
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
21. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
26. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Nghị quyết đại hội X của Đảng, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội X của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 2006
27. Nguyễn Minh Đạo (1997), Cơ sở của khoa học quản lý, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của khoa học quản lý
Tác giả: Nguyễn Minh Đạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
28. Vũ Ngọc Hải (2006), Quản lý nhà nước về giáo dục, Đề cương bài giảng cho học viên Cao học 2007, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục
Tác giả: Vũ Ngọc Hải
Năm: 2006
29. Nguyễn Vũ Bích Hiền (2008), Xây dựng, phát triển và quản lý chương trình đào tạo, bài giảng cao học quản lý ĐHSP Hà Nội khóa 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng, phát triển và quản lý chương trình đào tạo
Tác giả: Nguyễn Vũ Bích Hiền
Năm: 2008
30. Bùi Minh Hiền (chủ biên),Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục, Nxb đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý giáo dục, Nxb đại học sư phạm
Tác giả: Bùi Minh Hiền (chủ biên),Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb đại học sư phạm"
Năm: 2006
31. Phạm Minh Hạc (1986): Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Yêu cầu đối với cán bộ quản lý giáo dục - Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của thành phố vinh, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 1.1. Yêu cầu đối với cán bộ quản lý giáo dục (Trang 31)
Bảng số 2.3: Thống kê trình độ chuyên môn đội ngũ giáo viên nữ  Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An - Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của thành phố vinh, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng s ố 2.3: Thống kê trình độ chuyên môn đội ngũ giáo viên nữ Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Trang 48)
Bảng số 2.4: Bảng thống kê chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục  Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Tính đến tháng 5/2012) - Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của thành phố vinh, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng s ố 2.4: Bảng thống kê chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An (Tính đến tháng 5/2012) (Trang 50)
Bảng số 2.5: Kết quả đánh giá thực trạng những vấn đề cần quan tâm  đối với nữ cán bộ quản lý giáo dục - Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của thành phố vinh, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng s ố 2.5: Kết quả đánh giá thực trạng những vấn đề cần quan tâm đối với nữ cán bộ quản lý giáo dục (Trang 52)
Bảng số 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp - Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ nữ cán bộ quản lý giáo dục của thành phố vinh, tỉnh nghệ an luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng s ố 3.2: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các giải pháp (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w