Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh - - - 0 0 0 -dƯƠNG MINH ÁNH MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIấN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỆ THUẬT HÀ NỘI Chuyờn ngành: Quản lý giỏ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
- - - 0 0 0
-dƯƠNG MINH ÁNH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIấN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỆ THUẬT HÀ NỘI
Chuyờn ngành: Quản lý giỏo dục
Mó số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Thỏi Văn Thành
Vinh, 2011
Luận văn được hoàn thành tại trường đại học Vinh, thành phố Vinh, tỉnh NghệAn
Trang 2Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Thái Văn Thành
Phản biện 1: PGS.TS Đỗ Văn Chấn
Phản biện 2: GS.TSKH Thái Duy Tuyên
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm thạc sĩ tại trường đại hoạc Vinh,thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
Vào hồi giờ ngày 30 tháng 12 năm 2011
LỜI CẢM ƠN
Được tham gia khóa đào tạo chuyên ngành “Quản lý giáo dục” tại TrườngĐại học Vinh là một vinh hạnh lớn cho tôi Trong thời gian học tập tôi đã tiếp
Trang 3thu những tri thức quý báu và thật sự cần thiết cho công tác của mình Cũng nhờkhóa đào tạo này, tôi đã được tiếp cận với những phương pháp dạy học mới màcác thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp áp dụng ngay trên lớp.
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đối với các thầy giáo, cô giáo, các cán
bộ quản lý đã tận tình giảng dạy và hết sức giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho bảnthân tôi nói riêng và lớp Cao học khóa 17, chuyên ngành Quản lý giáo dục nóichung
Đặc biệt, tôi chân thành cảm ơn thầy giáo, PGS TS Thái Văn Thành - PhóHiệu trưởng Trường Đại học Vinh đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi trongnghiên cứu khoa học, xây dựng đề cương và hoàn thành luận văn này
Cũng nhân dịp này, tôi chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại họcVinh, các thầy giáo, cô giáo Khoa sau đại học, Ban Giám hiệu trường Cao đẳngNghệ thuật Hà Nội, các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều kiện rất nhiều để tôihoàn thành khóa học và nghiên cứu luận văn
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn đồngnghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 42 Mục đích nghiên cứu 14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên 25
đội ngũ giảng viên
26
1.3.1 Vai trò của giáo dục đào tạo nói chung, đào tạo
cán bộ văn hoá, nghệ thuật nói riêng trong sự pháttriển KT-XH
26
1.3.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội
ngũ giảng viên ở các trường Văn hóa Nghệ thuật
29
và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nói chung và giảng viên các trường Văn Hóa Nghệ thuật nói riêng
32
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỆ THUẬT HÀ NỘI
kinh tế - xã hội, nhu cầu về Văn hóa Nghệ
37
Trang 5thuật của Thành phố Hà Nội
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm Kinh tế
- Xã hội, Văn hoá - Giáo dục của Thành phố HàNội
2.3 Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội.
49
2.3.1 Thực trạng về cơ cấu, số lượng và trình độ học
vấn của đội ngũ giảng viên
49
2.3.2 Thực trạng về cơ cấu ngành nghề của đội ngũ
giảng viên
53
2.3.3 Thực trạng về chất lượng đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
54
2.3.3.1 Thực trạng phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính
trị của đội ngũ giảng viên.
54
2.3.3.2 Thực trạng về kiến thức của đội ngũ giảng viên 57
2.3.3.3 Thực trạng về kỹ năng sư phạm của đội ngũ
giảng viên.
60
2.3.4 Thực trạng về các điều kiện đảm bảo nâng cao
chất lượng đội ngũ giảng viên
65
đội ngũ giảng viên của nhà trường
66
2.4.1 Thực hiện chế độ chính sách đối với giảng viên 66
2.4.2 Thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự
học tập nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên
68
ngũ giảng viên của nhà trường
70
Trang 63.2.1 Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng,
nâng cao nhận thức trách nhiệm người giảngviên
76
3.2.2 Xây dựng quy hoạch tổng thể về đội ngũ giảng
viên, xác định biên chế cho từng giai đoạn pháttriển của nhà trường
78
3.2.3 Sử dụng hợp lý đội ngũ giảng viên hiện có, coi
trọng việc tuyển dụng giảng viên mới
84
3.2.4 Tổ chức tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi
dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụcho giảng viên
88
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá chuyên
môn, nghiệp vụ
91
3.2.6 Trang bị đầy đủ và tăng cường sử dụng trang
thiết bị, đồ dùng dạy học, thư viện nhằm đổi mớiphương pháp dạy học
94
3.2.7 Chú trọng nâng cao đời sống vật chất và tinh
thần cho giảng viên
96
Trang 73.3.1 Kiện toàn cơ cấu tổ chức nhà trường 100
3.3.2 Chú trọng xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ,
công nhân viên của Nhà trường
Trang 8DANH MỤC VÀ CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trang 9Giáo dục là quá trình chuyển giao những kinh nghiệm lịch sử từ thế hệ nàysang thế hệ khác, là quá trình truyền đạt những kiến thức khoa học, tri thức của
xã hội cho những công dân của đất nước Ở nước ta công tác giáo dục và dạy học
đã được coi trọng từ những năm đầu của thế kỷ XI Tuy nhiên phương pháp dạyhọc xưa phần nhiều chỉ là cách “nấu sử rồi kinh” Bước sang thời kỳ hiện đại cáccấp, bậc học, các ngành học cũng được phân định rạch ròi hơn, giáo dục phổthông và giáo dục chuyên nghiệp cũng có ranh giới cụ thể Nếu giáo dục phổthông là quá trình giới thiệu và khái quát để dần dần con người hình thành nhâncách, thì giáo dục chuyên nghiệp hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghềnghiệp của mỗi công dân trong xã hội để duy trì sự sống và phát triển xã hội.Ngay vừa thoát khỏi cảnh đô hộ hơn một trăm năm dưới ách đô hộ và cai trị củathực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi 3 thứ giặc xếp vào hàng nguy hiểmnhất của một dân tộc đó là: “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” Trong cuộcchiến tranh “trường kỳ” với hàng trăm ngàn khó khăn, gian khổ, phải đương đầuvới một đế quốc có tiềm năng quân sự và kinh tế đứng đầu thế giới Đảng và Nhànước ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn chủ trương vừa chiếnđấu vừa chuẩn bị nhân lực để xây dựng
Ngày nay, thực hiện chính sách mở cửa, Đảng và Nhà nước ta chủ trương
xã hội hoá giáo dục - đào tạo, làm cho sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp chung củamỗi người dân, với quyết tâm cháy bỏng: chiến thắng nghèo nàn và lạc hậu, vớichiến lược sáng tạo đi tắt - đón đầu Thực chất quá trình phát triển giáo dục nóichung và quá trình phát triển đội ngũ giảng viên của ngành giáo dục nói riêng đó
là cách nâng cao ý thức của toàn xã hội đối với giáo dục, huy động các lựclượng, các nguồn lực của xã hội để phát triển quy mô, chất lượng của giáo dục,đồng thời biến giáo dục thành quyền và nghĩa vụ của mọi người dân, thành phúclợi của toàn dân, thành dịch vụ cho mỗi cá nhân có nhu cầu và điều kiện muốnhọc tập, phát triển Đây cũng là cách để cho nền giáo dục nước nhà có chất lượngcao, có khả năng đào tạo những người thực tài, có tầm nhìn chiến lược, có ý thức
Trang 10vươn lên hàng đầu, có năng lực sáng tạo và cạnh tranh quốc tế, có khả năng biếntri thức thành sản phẩm, lợi ích kinh tế.
Xuất phát từ những nhận thức trên, từ năm 1990 đến nay các chính sáchcủa Nhà nước ta ngày càng quan tâm đến lĩnh vực giáo dục - đào tạo và pháttriển giảng viên
Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư ngày 15/6/2004, về việc “Xây dựng,nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” đã xác định,xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện là “nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài” Độingũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải “được chuẩn hoá, đảm bảo chấtlượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnhchính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, nghề nghiệp”
Nghị quyết của Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam số37/2004/QH11 ngày 03/12/2004 về giáo dục cũng nhấn mạnh việc cần thiết phải
“ tiếp tục xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng,đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo…Hoàn thiện cơ chế, chính sách
về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều kiện cho nhà giáo, cán bộ quản lýgiáo dục thường xuyên tự học tập để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, kỹnăng về chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng (khoá X) đã ra nghịquyết số 26-NQ/TW về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Điều 15 Luật giáo dục( 2005) cũng đã quy định “nhà giáo giữ vai tròquyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục” vì vậy, muốn đổi mới, nângcao chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn lao động thì phải xây dựngmột đội ngũ giảng viên làm nòng cốt Người giảng viên phải là người có trình độhiểu biết sâu sắc về chuyên môn và có năng lực thực tiễn vững chắc, có năng lực
Trang 11tư duy độc lập và sáng tạo, có kỹ năng phát hiện bồi dưỡng học sinh giỏi, biếtcách dìu dắt giúp đỡ học sinh yếu, có lòng yêu nghề tha thiết, biết khai thác sứcmạnh tổng hợp của gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dụcHSSV Hiện nay mục tiêu phấn đấu của đội ngũ giảng viên là không ngừng nângcao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức thực tiễn để đáp ứng nhiệm vụgiáo dục đào tạo trong giai đoạn mới Tuy nhiên, do tác động của kinh tế thịtrường đôi khi cũng làm cho một số giảng viên không giữ vững phẩm chất củangười thầy do bị cám dỗ bởi những lợi ích vật chất tầm thường hoặc do chế độchính sách có những bất cập, giải quyết chưa thoả đáng nguyện vọng của giảngviên Do vậy, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trong giai đoạn hiện naynhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện và vững chắc đối với sự nghiệpgiáo dục, thể hiện quan điểm của Đảng, coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàngđầu, phụ thuộc rất lớn vào việc đề xuất các giải pháp chính xác, khoa học, cótính lý luận và thực tiễn cao, trong đó công tác xây dựng và phát triển đội ngũgiảng viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo là đặc biệt quan trọng.
Trong “Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020” của Thủ tướng Chính phủtại Quyết định 581/QĐ- TTg ngày 06/5/2009 cũng đã chỉ rõ: “ Tăng cường đàotạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên có đủ năng lực chuyên môn, ngoại ngữ vàphẩm chất đáp ứng nhiệm vụ đào tạo Thực hiện chương trình nâng cao trình độcho giảng viên thông qua các hình thức đào tạo sau đại học ở trong và ngoàinước, liên kết đào tạo, mời chuyên gia nước ngoài vào giảng dạy tại các trườngvăn hoá, nghệ thuật, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, đổi mới phương phápdạy và học của giảng viên và học sinh, sinh viên.”
Hà Nội là Thủ đô của cả nước, là trung tâm giao thương về chính trị hành chính, kinh tế - xã hội, văn hoá, khoa học, giáo dục Trải qua bao thế hệ,những con người nơi đây đã xây đắp nên một nền văn hóa phong phú, mang đậmdấu ấn của người Tràng An
-Những năm gần đây Thành phố Hà Nội định hướng phát triển mạnh mẽ
Trang 12các khu công nghiệp tập trung với nhiều hoạt động đầu tư, hợp tác phát triểnkinh tế đang diễn ra rất sôi động, nhịp độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao và bềnvững, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.Cùng với các nhiệm vụ về phát triển kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, trongnhững năm qua, UBND thành phố Hà Nội đặc biệt quan tâm đến sự nghiệp vănhoá, bởi nền văn hiến Kinh kỳ mang những sắc thái riêng, đặc sắc và và giữ vị tríquan trọng trong tiến trình hình thành và phát triển của nền văn hóa Việt Nam.
Để văn hoá thực sự trở thành “nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội” (Nghị quyết TW 5 khóa VIII),đồng thời thực hiện Quyết định 581/QĐ- TTg ngày 06/5/2009 về việc phê duyệt
“Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020” của Thủ tướng Chính phủ, cầnphải có một đội ngũ những cán bộ văn hoá vừa hồng vừa chuyên, đáp ứng đượcyêu cầu của xã hội trong giai đoạn phát triển mới
Trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật, trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội làđơn vị được giao nhiệm vụ đào tạo những tài năng nghệ thuật, những nghệ sĩ,diễn viên tương lai, những giảng viên sư phạm Âm nhạc, Mỹ thuật cung cấpnguồn lực có trình độ cao đẳng và trung cấp cho ngành Văn hoá nghệ thuật củathành phố, đáp ứng những đòi hỏi và nhu cầu cấp thiết của ngành văn hoá, giáodục trong thời kỳ đổi mới và hội nhập Nhà trường vừa là nơi đào tạo nhữngnhững những tài năng nghệ thuật, vừa góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc vănhoá của đất Thăng Long – Hà Nội
Nhằm thực hiện và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị trên, trongnhững năm qua nhà trường đã rất quan tâm trong việc đào tạo bồi dưỡng nângcao chất lượng đội ngũ giảng viên để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp đào tạonhững tài năng nghệ thuật Đội ngũ giảng viên nhà trường đã không ngừng pháttriển cả về số lượng và chất lượng Công tác tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, việc đổi mới phương pháp dạy học, cập nhật thông tin
Trang 13mới về khoa học kỹ thuật, về văn hoá giáo dục được quan tâm Có thể nói nhữngnăm qua nhà trường đã tăng cường các biện pháp khai thác, phát huy tiềm năngđội ngũ giảng viên trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đã đạt được, đội ngũ giảng viên trườngCao đẳng Nghệ thuật Hà Nội còn bộc lộ một số tồn tại, ảnh hưởng không nhỏđến chất lượng đào tạo: một số người thiếu kinh nghiệm trong giảng dạy; nănglực về chuyên môn, kiến thức sư phạm, kiến thức về ngoại ngữ, tin học, kiếnthức về tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước và địa phương còn hạnchế, chưa theo kịp sự phát triển của xã hội; chưa thực sự nhiệt tình trong côngviệc, một số giảng viên chưa yên tâm với công tác
Trước tình hình đó đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp để nâng caochất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội đủ về sốlượng đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo chất lượng Nhận thức được vấn đề này,nên tôi chọn đề tài :
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỆ THUẬT HÀ NỘI”
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viêntrường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội , đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH,HĐH đất nước và hội nhập quốc tế
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu : Công tác nâng cao chất lượng đội ngũ giảng
viên trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
3.2 Đối tượng nghiên cứu : Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng
viên trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
4 Giả thuyết khoa học
Trang 14Nếu đề xuất được một số giải pháp đảm bảo tính khoa học, khả thi thì sẽnâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ giảng viên trườngCao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
5.2 Nghiên cứu thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳngNghệ thuật Hà Nội
5.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viêntrường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Nghiên cứu chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của thành phố, các đềtài, luận án và các tài liệu liên quan để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
6.3 Nhóm các phương pháp thống kê toán học.
Tổng kết để xử lý các số liệu và kết quả nghiên cứu
7 Những đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa các vấn đề lý luận, làm rõ thêm một số đặc
thù của đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
- Về mặt thực tiễn: Khảo sát tương đối toàn diện thực trạng đội ngũ giảng
viên và đề xuất được một số giải pháp cơ bản có cơ sở khoa học và có tính khảthi để nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà
Trang 15Nội Bên cạnh đó, xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giảng viên
Đề tài còn là tài liệu tham khảo có giá trị đối với các trường Cao đẳngNghệ thuật
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục các ký hiệu viết tắt, tài liệu tham khảo, kếtluận và khuyến nghị, nội dung luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng
Nghệ thuật
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao
đẳng Nghệ thuật Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Trang 16Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đã được các nhà nghiên cứutrong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và đều thống nhất có chung quan điểmcho rằng đội ngũ nhà giáo đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp giáo dục vàphát triển giáo dục của mỗi quốc gia.
Các nước như Hoa Kỳ, Nhật, Đức… luôn xem yếu tố nhà giáo là điều kiệnquyết định của sự nghiệp giáo dục và phát triển giáo dục Vì vậy khi quyết địnhđưa giáo dục Hoa Kỳ lên hàng đầu thế giới trong thế kỷ XXI, Chính phủ Hoa
Kỳ đã lấy giải pháp nhà giáo làm then chốt Đó là tiêu chuẩn hóa, chuyên nghiệphóa và nâng cao chất lượng nhà giáo trên các vị thế nghề nghiệp, nhân cách và
xã hội Như vậy, các nước này xem viêc đãi ngộ vật chất, điều kiện làm việc vàđịa vị xã hội cho nhà giáo là giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ nhàgiáo
Ở Việt Nam, vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên đã được sựquan tâm của Đảng, của Nhà nước, của ngành giáo dục và của toàn xã hội Nhiềucông trình khoa học nghiên cứu những góc độ khác nhau của việc nâng cao chấtlượng đội ngũ giảng viên ở các cấp học, bậc học, nhưng việc đề cập đến nângcao chất lượng đội ngũ ở các trường Văn hóa – Nghệ thuật còn quá ít, đặc biệt làgiải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuật
Hà Nội thì chưa có đề tài nào đề cập đến
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Giảng viên, đội ngũ giảng viên
1.2.1.1 Khái niệm giảng viên
Trang 17+ Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt ;
+ Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ ;
+ Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp ;
+ Lý lịch bản thân rõ ràng
Nhiệm vụ của nhà giáo :
« 1 Giáo dục, giảng dạy theo nguyên lý giáo dục, thực hiện đầy đủ có chấtlượng chương trình giáo dục
2 Gương mẫu thực hiện các nghĩa vụ công dân, các quy định của phápluật và Điều lệ của nhà trường
3 Giữ gìn phảm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; Tôn trọng nhân cáchcủa người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chínhđáng của người học
4 Không ngừng học tập rèn luyện để nâng cao phẩm chất đạo đức trình độchính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy, nêu gươngtốt cho người học
5 Các nhiệm vụ khác theo quy định của Pháp luật.”
Nhà giáo của trường đại học, cao đẳng được tuyển dụng theo phương thức
ưu tiên đối với sinh viên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi, có phẩm chất tốt và người
có trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ, có kinh nghiệm hoạt độngthực tiễn, có nguyện vọng được trở thành nhà giáo Trước khi được giao nhiệm
vụ giảng dạy, giảng viên đại học phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm
Giảng viên là những người làm công tác dạy học - giáo dục, người trựctiếp biến các chủ trương, các chương trình cải cách, đổi mới giáo dục đại họcthành hiện thực
1.2.1.2 Khái niệm về đội ngũ, đội ngũ giảng viên
+ Về đội ngũ
Từ điển Bách khoa Việt Nam đã định nghĩa: "Đội ngũ là khối đông ngườicùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng"
Trang 18[21, tr 243] hoặc "Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng,nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong hệ thống" [4,
tr 1]
+ Về đội ngũ giảng viên
"Đội ngũ giảng viên là những chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, họ nắmvững tri thức, hiểu biết dạy học và giáo dục như thế nào và có khả năng cốnghiến sức lực, toàn bộ tài năng của họ đối với giáo dục" [7 tr.10]
"Đội ngũ giảng viên trong ngành giáo dục là một tập thể người, bao gồm cán
bộ quản lý, giảng viên và nhân viên nếu chỉ để ý đến đặc điểm của ngành thì đội ngũ
đó chủ yếu là đội ngũ giảng viên và đội ngũ quản lý giáo dục" [7, tr.10]
Từ những quan niệm nêu trên của các tác giả, ta có thể hiểu đội ngũ giảngviên như sau:
Đội ngũ giảng viên là một tập hợp những người làm nghề dạy học - giáodục, được tổ chức thành một lực lượng, cùng chung một nhiệm vụ, có đầy đủ cáctiêu chuẩn của một nhà giáo cùng thực hiện các nhiệm vụ và được định hướng cácquyền lợi theo Luật Giáo dục và các Luật khác được Nhà nước quy định
1.2.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên
1.2.2.1 Chất lượng
Quan niệm về chất lượng nói chung:
Theo Từ điển Tiếng Việt (1999 - Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin): chấtlượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ
nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật, phân biệt nó với sự vật khác, chấtlượng là đặc tính khách quan của sự vật, chất lượng biểu hiện ra bên ngoài, quacác thuộc tính Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bóvới sự vật như một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật
Về căn bản chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn với tính quy định về số lượngcủa nó và không thể tồn tại ngoài tính quy định ấy Một sự vật là một thể thốngnhất giữa số lượng và chất lượng
Trang 19Không có sự vật nào lại không có tính quy định về chất lượng, không có
sự tồn tại nào lại thiếu tính quy định về chất lượng Mỗi vật thể, sự vật khác nhauđều có tính quy định chất lượng khác nhau
Chất lượng của các sự vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua các thuộctính của nó Mỗi sự vật bao gồm nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính tham gia vàoviệc quy định chất lượng của sự vật không giống nhau Các thuộc tính bản chấttồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật, giữ vai trò quyết định của sự vậtlàm cho nó khác với cái khác, nếu thuộc tính cơ bản mất đi thì sự vật không còn.Các thuộc tính không bản chất không giữ vai trò như thế, để thể hiện sự vật
Như vậy, khái niệm chất lượng phản ánh mặt vô cùng quan trọng của sựvật, hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan
1.2.2.2 Chất lượng đội ngũ giảng viên
Chất lượng đội ngũ giảng viên được bao hàm nhiều yếu tố: Trình độ đượcđào tạo của từng thành viên trong đội ngũ, thâm niên công tác trong tổ chức,nhận thức chính trị, thái độ công dân.vv…
Từ quan niệm về chất lượng đội ngũ đã nêu ở trên ta thấy chất lượng độingũ giảng viên là toàn bộ thuộc tính, những đặc điểm của đội ngũ giảng viên.Những thuộc tính, cấu trúc này gắn bó với nhau trong một tổng thể thống nhấttạo nên giá trị và sự tồn tại của đội ngũ, làm cho đội ngũ giảng viên khác với độingũ khác
Chất lượng của đội ngũ giảng viên được thể hiện qua phẩm chất đạo đức,năng lực của người giảng viên ( bao gồm kiến thức và kỹ năng sư phạm củangười giảng viên)
a Phẩm chất của người giảng viên( Phẩm chất đạo đức, tư tưởng, chính trị của người giảng viên.
- Người giảng viên phải có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội ; chấp hànhchủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ; có phẩm chất đạo đức
mà nghề dạy học đòi hỏi Thực hiện tốt chức trách của người giảng viên theo luậtgiáo dục, hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chính sách của Nhànước và các chủ trương chính sách của ngành
Trang 20- Ngêi gi¶ng viªn ph¶i yêu nghề, tận tụy với nghề và yêu mến trẻ
- Có quan hệ tốt với sinh viên, tôn trọng sinh viên, bảo vệ quyền lợi chínhđáng và sở thích của sinh viên, đối xử công bằng với tất cả sinh viên, có lối sốnglành mạnh, giản dị làm tấm gương tốt cho sinh viên
- Tinh thần trách nhiệm trong công tác, đoàn kết, hợp tác với đồng nghiệp
Có quan hệ tốt với đồng nghiệp trong công tác và đời sống, khiêm tốn học hỏiđồng nghiệp
- Ý thức tự học, tự bồi dưỡng
b năng lực của người giảng viên
Năng lực của người giảng viên được thể hiện qua kiến thức và kỹ năng sưphạm
- Kiến thức về ngoại ngữ, tin học
- Có kiến thức về những vấn đề kinh tế- xã hội của đất nước, của ngành vàcủa địa phương
* Kỹ năng sư phạm
- Giảng viên phải có kỹ năng dạy học như : Xác định được mục đích, yêucầu nội dung cơ bản của bài học ; Dự kiến các phương pháp, phương tiện dạyhọc sẽ sử dụng trong giờ học, quản lí lớp học và tổ chức các hoạt động học củaHSSV ở trong và ngoài nhà trường
- Kỹ năng tự học, tự bồi dưỡng
- Kỹ năng nghiên cứu khoa học giáo dục
Các yếu tố của chất lượng đội ngũ giảng viên:
- Số lượng thành viên của đội ngũ giảng viên:
Số lượng của sự vật, không nói nên sự vật đó là gì mà chỉ nói lên con sốcủa những thuộc tính cấu thành nó như về: độ lớn (to - nhỏ), quy mô ( lớn - bé),trình độ (cao- thấp) vv…Số lượng cũng là ranh giới của vật thể, vì thế nếu có sựthay đổi số lượng đến một mức độ nào đó có thể làm bản chất của sự vật thay
Trang 21Đội ngũ giảng viên là biểu hiện tổ chức xã hội vì thế số lượng của đội ngũgiảng viên là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ, nó phản ánh quy mô củađội ngũ
Số lượng đội ngũ giảng viên phụ thuộc vào sự phân chia của tổ chức Hàngnăm căn cứ kế hoạch phát triển số HSSV ta xác định số lượng giảng viên cần cócho một nhà trường Hoặc trên cơ sở số lượng giảng viên hiện có ta có kế hoạchtuyển sinh cho năm học mới Đó là cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo hàng năm
Số lượng giảng viên của một trường phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất, chứcnăng, nhiệm vụ, nhu cầu đào tạo, quy mô phát triển của nhà trường và các yếu tốkhác như: chỉ tiêu biên chế, chế độ chính sách vv
Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, người cán bộ quản lý phảiđảm bảo cân bằng về số lượng của đội ngũ với nhu cầu đào tạo, quy mô pháttriển của nhà trường Nếu phá vỡ hoặc không đảm bảo sự cân bằng sẽ có ảnhhưởng rất lớn đến chất lượng đội ngũ
- Phẩm chất của đội ngũ giảng viên:
Phẩm chất đội ngũ giảng viên là một trong những yếu tố quan trọng nhấtquyết định chất lượng đội ngũ giảng viên Bác Hồ đã dạy người cán bộ cáchmạng vừa phải có đức vừa phải có tài, có đức mà không có tài thì làm việc gìcũng khó, có tài mà không có đức thì là người vô dụng; cán bộ "vừa hồng,vừachuyên" Hồng là đức, là phẩm chất chính trị, chuyên là chuyên môn, là nănglực
Phẩm chất của đội ngũ giảng viên là cái tạo ra sức mạnh cho đội ngũ,trước hết phải thể hiện ở sự thống nhất, giác ngộ cách mạng, giác ngộ XHCN với
lý tưởng nghề nghiệp Người giảng viên phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm đường lối giáo dục cách mạng củaĐảng và của Nhà nước Phải gắn niềm tin cách mạng với niềm tin nghề nghiệp, phảiyêu nghề, gắn bó với nghề, gắn bó với sự nghiệp trồng người
Trang 22Bên cạnh đó người giảng viên phải có tâm hồn trong sáng, tình cảm caothượng, có lối sống lành mạnh, giản dị, nhân văn, yêu thương học sinh, thực hiệntốt khẩu hiệu "tất cả vì học sinh thân yêu".
Ngoài ra người giảng phải có phẩm chất đó là sự thống nhất giữa tínhmục đích và tính kế hoạch trong tổ chức các hoạt động sư phạm; giữa tính tổchức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm với tính tự chủ, tính nguyên tắc, sáng tạo,lòng vị tha
Qua đó ta nhận thấy phẩm chất của đội ngũ giảng viên là tổng hợp củanhiều yếu tố đó là thế giới quan duy vật biện chứng, nhân sinh quan CSCN;phẩm chất về tư cách đạo đức, phẩm chất về ý chí tạo nên nhân cách của đội ngũgiảng viên
- Trình độ đội ngũ giảng viên:
Trình độ được hiểu là mức độ về sự hiểu bản chất, về kỹ năng được xácđịnh hoặc đánh giá theo một tiêu chuẩn nhất định nào đó Trình độ của đội ngũgiảng viên đó là những hệ thống kiến thức liên quan đến môn học mà ngườigiảng viên đó đảm nhận giảng dạy Ngoài ra người giảng viên phải có nhữnghiểu biết về ngoại ngữ, tin học, phương pháp nghiên cứu khoa học, những hiểubiết về xã hội Ngoài kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm, sự hiểu biết về xã hội vàcác kiến thức khác bổ trợ có ảnh hưởng tích cực rất lớn đối với người giảng viên
- Năng lực của đội ngũ giảng viên:
Năng lực được hiểu bao gồm các yếu tố chuyên môn, phẩm chất, tâm lý,
kỹ năng để tiến hành hoạt động sư phạm có hiệu quả Kỹ năng được hiểu là khảnăng vận dụng những kiến thức được học được tìm hiểu trong hoạt động sưphạm và biến nó thành kỹ xảo Kỹ xảo là khả năng đạt đến mức thành thục
Hệ thống kỹ năng gồm có: kỹ năng nền tảng và kỹ năng chuyên biệt.+ Kỹ năng nền tảng bao gồm những nhóm sau:
Nhóm kỹ năng thiết kế.
Nhóm kỹ năng nhận thức
Trang 23+ Kỹ năng chuyên biệt gồm:
Nhóm kỹ năng giảng dạy.
Nhóm kỹ năng giáo dục.
Nhóm kỹ năng nghiên cứu khoa học.
Nhóm kỹ năng hoạt động xã hội.
Nhóm kỹ năng tự học, tự nghiên cứu.
Qua đó ta thấy hệ thống tri thức và kỹ năng trong mỗi một giảng viên thểhiện năng lực sư phạm của người giảng viên đó cùng với tư cách đạo đức, phẩmchất hợp thành một thể hoàn chỉnh, giúp cho từng giảng viên và đội ngũ giảngviên có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của
sự nghiệp giáo dục - đào tạo
- Cơ cấu đội ngũ giảng viên:
Cơ cấu được hiểu: Là cách tổ chức các thành viên nhằm thực hiện chứcnăng của chỉnh thể Cơ cấu của đội ngũ giảng viên là cấu trúc bên trong của độingũ, sẽ được nghiên cứu trên các tiêu chí có liên quan đến các giải pháp phát triển
và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Các tiêu chí cơ bản là:
+ Cơ cấu chuyên môn (theo môn dạy) hay còn gọi là cơ cấu bộ môn: Đó
là tình hình về tỷ lệ giảng viên của các môn hiện có ở trường, sự thừa thiếu giảngviên ở mỗi môn học Cái này phải phù hợp với định mức quy định thì ta có cơcấu chuyên môn hợp lý Ngược lại thì phải có sự điều chỉnh, nếu không sẽ ảnhhưởng tới chất lượng và hiệu quả đào tạo
+ Cơ cấu theo trình độ đào tạo: là sự phân chia giảng viên theo tỷ lệ củacác trình độ đào tạo Đó là tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sỹ, thạc sỹ, đại học ởcác bộ môn Xác định cơ cấu trình độ hợp lý cũng là một giải pháp nhằm nângcao chất lượng đội ngũ giảng viên Số giảng viên chưa đạt chuẩn phải được đàotạo để nâng chuẩn Tuỳ thuộc vào điều kiện hiện có cụ thể của từng trường, cáctrường phải lựa chọn phương án tối ưu trong công tác lựa chọn đào tạo, bồidưỡng giảng viên
Trang 24+ Cơ cấu độ tuổi:
Phân tích giảng viên theo độ tuổi, nhằm xác định cơ cấu đội ngũ theo từngnhóm tuổi, đảm bảo sự cân đối giữa các thế hệ: già, trẻ, trung niên của đội ngũ
để có thể vừa phát huy được tính năng động, sáng tạo của tuổi trẻ, kinh nghiệmnghề nghiệp của tuổi già
+ Cơ cấu giới tính:
Cơ cấu giới tính mục đích đảm bảo tỷ lệ giữa giảng viên nam và giảngviên nữ Phù hợp với từng ngành nghề đào tạo Cơ cấu giới tính liên quan đếnchất lượng và hiệu quả đào tạo của nhà trường Hiện nay chúng ta đang thực hiệnbình đẳng giới, tuy nhiên trên thực tế các trường có tỷ lệ giảng viên nữ caothường có bị ảnh hưởng đến kế hoạch đào tạo của nhà trường vì theo chế độ quyđịnh, người phụ nữ được nghỉ, ngoài ốm đau ra còn chế độ nghỉ con nhỏ; Thôngthường số ngày nghỉ của phụ nữ trong năm cao hơn nam giới
Nghiên cứu cơ cấu giới tính trong đội ngũ giảngviên là để có tác động cầnthiết thông qua quản lý nhân sự để nâng cao chất lượng, hiệu suất công tác củamỗi một cá nhân và toàn đội ngũ giảng viên
Tóm lại, chất lượng đội ngũ giảng viên phải hiểu bao gồm những yếu tốtrên, mỗi yếu tố đều có vị trí quan trọng và giữa các yếu tố đó có quan hệ khăngkhít với nhau, có tác động qua lại lẫn nhau, nương tựa nhau hợp thành một hệthống hoàn chỉnh làm cho đội ngũ giảng viên phát triển
1.2.3 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Trang 25có các giải pháp tốt cần phải xuất phát trên những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn tincậy.
1.2.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là hệ thống những phươngpháp, cách thức tác động nhằm làm cho đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, mạnh vềchất lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ đào tạo, đáp ứng yêu cầu đổi mới
và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục đào tạo
1.3 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
1.3.1 Vai trò của GDĐT nói chung, đào tạo cán bộ văn hóa, nghệ thuật nói riêng trong sự phát triển kinh tế xã hội.
1.3.1.1 Vai trò của giáo dục trong sự phát triển KT- XH
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, hiện tượng này được biểu hiện
ở chỗ: thế hệ đi trước truyền lại kinh nghiệm xã hội cho thế hệ đi sau; thế hệ saulĩnh hội những kinh nghiệm xã hội đó để tham gia đời sống xã hội, tham gia laođộng sản xuất và các hoạt động xã hội khác Muốn duy trì và phát triển xã hộinhất định phải thực hiện chức năng giáo dục của mình Đó là chức năng tất yếu,không thể thiếu của xã hội Sự tiến bộ của xã hội là thế hệ đi sau phải lĩnh hộiđược tất cả những kinh nghiệm của xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích luỹđược và truyền lại Nhờ giáo dục các thế hệ đi sau tiếp tục duy trì và đẩy mạnhhoạt động lao động sản xuất và các hoạt động khác, hoàn thiện và giữ vững cácmối quan hệ xã hội tiếp tục truyền lại cho thế hệ sau kế tiếp Không có hoạt động giáodục thì không có sự tái sản xuất các hoạt động khác
Các nhà xã hội học giáo dục coi giáo dục là một quá trình xã hội hoá liêntục ở tất cả các phương thức sản xuất xã hội, trong các giai đoạn lịch sử pháttriển của xã hội loài người, không hoàn toàn phụ thuộc vào tính chất, cơ cấu của
xã hội
Ngày nay, Giáo dục được coi là nền móng cho sự phát triển của khoa học
Trang 26-công nghệ, là động lực của sự phát triển kinh tế Đảng và nhà nước ta luôn đánhgiá cao vai trò của giáo dục Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã khẳng định
"giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển KT- XH của đấtnước" Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã khẳngđịnh "Muốn tiến hành công nghiệp hóa - hiện đại hoá thắng lợi phải phát triểngiáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người yếu tố cơ bản của sự pháttriển nhanh và bền vững"; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4, Ban chấp hành Trungương Đảng khoá VIII một lần nữa khẳng định vai trò của giáo dục: "giáo dục đàotạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điềukiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu KT- XH, xây dựng và bảo vệđất nước; phải coi trọng đầu tư cho giáo dục là một hướng chính của đầu tư pháttriển"
Trước đây một số quan niệm cho rằng khi xét đến các nhân tố của sự pháttriển, người ta quan tâm đến các nguồn lực như tài nguyên, vốn, thì ngày naynhân tố con người được đặt lên hàng đầu Con người là nguồn lực quan trongnhất trong các nguồn lực của sự phát triển, con người là nguồn lực cơ bản tạo ramọi nguồn lực Con người được giáo dục, có khả năng giải quyết một cách đúngđắn, sáng tạo và hiệu quả những vấn đề của sự phát triển KT- XH đặt ra
Con đường cơ bản tạo ra nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triểnKT- XH đó chính là giáo dục - đào tạo Con người được giáo dục vừa là độnglực vừa là mục tiêu của sự phát triển KT- XH
Chính vì vậy Đảng ta coi giáo dục là quốc sách hàng đầu "Đầu tư cho giáodục là đầu tư cho phát triển"
1.3.1.2 Vai trò của việc đào tạo cán bộ văn hóa, nghệ thuật trong sự phát triển KT- XH
Giáo dục nghề nghiệp, là một bộ phận quan trọng hệ thống giáo dục - đàotạo Mục tiêu của đào tạo nghề nghiệp được Luật Giáo dục năm 2005 xác định
là "Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ
Trang 27khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong côngnghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việclàm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.”( 14.tr.25)
Các trường Cao đẳng nhằm đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năngthực hành cơ bản của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và có tính sángtạo, ứng dụng công nghệ vào công việc
Đào tạo nghề nghiệp là một công việc không dễ dàng, đào tạo người làmcông tác văn hoá, nghệ thuật càng khó khăn, bởi nó mang nhiều nét đặc thù HồChí Minh coi đội ngũ những nhà văn hóa, những người làm công tác văn hóa,những văn nghệ sĩ là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp to lớn này Đối với độingũ này Người đã nói những câu bất hủ:
“ Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận
Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”
Quan điểm của Hồ Chí Minh coi Văn hóa – Nghệ thuật là một mặt trận làquan điểm rất độc đáo, đòi hỏi các chiến sĩ chiến đấu trên mặt trận này vừa phảibền bỉ, kiên cường, dũng cảm, vừa phải biết sử dụng vũ khí của mình một cáchsắc bén và có hiệu quả trong kháng chiến chống ngoại xâm trước kia cũng nhưtrong “cuộc chiến đấu khổng lồ” phục hưng và phát triển đất nước hiện nay.Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nhândân ta đã kế thừa những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu những tinh hoavăn hóa nhân loại, tạo nên sức mạnh mới cho cách mạng Việt Nam Nhiều nét mới
có trong văn hóa, đạo đức được hình thành, phát triển: tính năng động trong cáchoạt động kinh tế- xã hội; ý chí vươn lên của lớp trẻ; mặt bằng dân trí được nângcao; các phong trào lớn hướng về cội nguồn, đền ơn đáp nghĩa, xoá bỏ hủ tục mêtín, dị đoan, xây dựng nếp sống văn minh, đặc biệt là phong trào “Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hóa”… ngày càng được nhân dân hoan nghênh và tích
Trang 28cực hưởng ứng; các hoạt động báo chí, truyền hình… phát triển cả về số lượng vàchất lượng làm cho đời sống văn hóa trở nên phong phú, sôi động hơn Tuy nhiên,bên cạnh đó, văn hóa cũng đang bộc lộ nhiều nhược điểm: Tệ nạn xã hội phát triển,buôn lậu, ma túy, coi thường giá trị văn hóa dân tộc, tiếp nhận xô bồ mọi thứ vănhóa ngoại lai, không phân biệt tốt xấu; sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức ở một sốcán bộ, đảng viên có chức có quyền…
Thực trạng văn hóa hiện nay đang phản ánh một tình hình xã hội đang chuyểnbiến, có nhiều thuận lợi nhưng cũng có nhiều khó khăn Nhân dân ta phải đươngđầu với nhiều thử thách, trong đó có thử thách về văn hóa Để thực hiện tốt Nghịquyết TW 5 khóa VIII; để giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trongquá trình giao lưu, hội nhập quốc tế; đồng thời hạn chế những tiêu cực, nhượcđiểm, cảnh giác ngăn chặn âm mưu lợi dụng giao lưu văn hóa để thực hiện “diễnbiến hòa bình” của các thế lực thù địch, cần có một đội ngũ cán bộ làm công tácvăn hóa, nghệ thuật từ cơ sở được đào tạo một cách chính quy, có năng lực vềchuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức, tư tưởng, lập trường chính trịvững vàng Chính vì vậy việc đào tạo những cán bộ văn hóa, nghệ thuật tronggiai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết và nó có vai trò rất to lớn đối với sự pháttriển của ngành văn hóa nói riêng và của toàn xã hội nói chung Nghị quyết Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định con người là nguồn nội lực để pháttriển kinh tế - xã hội Phát triển văn hoá chính là phát huy nguồn lực con người -nguồn lực lớn nhất và quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
1.3.2 Tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các trường Văn hoá Nghệ thuật
Chất lượng đội ngũ giảng viên tác động trực tiếp đến chất lượng giáo dụcđào tạo Trong sự nghiệp phát triển giáo dục đào tạo của đất nước, khâu thenchốt là đội ngũ giảng viên và các nhà quản lý giáo dục Muốn đào tạo được nhiềunhân tài cho đất nước thì phải có các nhà giáo giỏi Muốn trò giỏi thì thầy phảigiỏi" "Thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu" vì vậy ngành
Trang 29giáo dục - đào tạo phải coi việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên giỏi làmột trong những nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mới và phát triển giáodục.
Trong quá trình phát triển giáo dục đào tạo của đất nước, đội ngũ giảngviên ở các cấp học, ngành học tuy ngày càng lớn mạnh cả về số lượng, chấtlượng, hình thức đào tạo được thay đổi theo phương thức đa dạng hoá; quy môđào tạo ngày càng được mở rộng Nhưng so với yêu cầu phát triển thì đội ngũgiảng viên ở một số ngành học còn thiếu
Lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp số lượng giảng viên có tăng nhưng khôngđáng kể, hiện nay ở các trường Cao đẳng, trường dạy nghề còn thiếu giảng viêntrình độ chuyên môn cao
Đối với giảng viên các trường Cao đẳng Nghệ thuật: Họ có tiêu chuẩn, nhiệm vụcủa một giảng viên trường Cao đẳng được quy định trong Điều lệ trường Cao đẳng(Ban hành kèm theo Quyết định 56/2003/QĐ- BGD&ĐT, ngày 10/12/2003 của Bộtrưởng Bộ giáo dục và Đào tạo) Bên cạnh đó giảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuậtlại có những nét đặc thù:
Về chuyên môn: Giảng dạy các môn thuộc các chuyên ngành Nghệ thuật nên họ
không chỉ là một giảng viên mà còn phải là một nghệ sĩ giỏi, có bản lĩnh, yêu và say
mê nghệ thuật, có khả năng thị phạm, hướng dẫn thực hành Thực tế giảng viên ở một
số trường là Hội viên Hội Mỹ thuật, Âm nhạc, Sân khấu của Trung ương và địaphương nên bên cạnh việc giảng dạy họ còn có khả năng sáng tạo các tác phẩm nghệthuật về Âm nhạc, Mỹ thuật, Sân khấu , dàn dựng các chương trình nghệ thuật
Về phương pháp giảng dạy: Họ không chỉ theo phương pháp chung mà còn có
những nét riêng mang tính đặc thù Đa số các môn chuyên ngành nghệ thuật dạy theocách dạy 1 thày- 1 trò, hoặc 1 thày- 3 đến 5 trò Người giảng viên dạy nghệ thuật phải
có khả năng truyền cho học sinh cảm xúc nghệ thuật và cái hồn của tác phẩm, của bàihọc, giúp các em tiếp thu được nội dung bài giảng một cách có hiệu quả
Hơn nữa, giảng viên phải là người định hướng, phát hiện được cái chất riêng của mỗisinh viên, giúp các em thể hiện và phát huy được cái chất riêng đó
Trang 30Đối với các trường Cao đẳng nói chung, trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội nóiriêng, tất cả giảng viên phải là những người am hiểu về những giá trị lịch sử truyềnthống và văn hoá địa phương, các danh lam thắng cảnh, các di tích lich sử đồng thờiluôn bám sát chiến lược phát triển KT- XH của thành phố Hà Nội để thực hiện mụctiêu bài giảng có hiệu quả, đáp ứng được những đòi hỏi của thành phố , của đất nướctrong giai đoạn phát triển mới.
Chính vì giảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuật có những nét đặc thù nên trongviệc quản lý, đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ này cũng cần cónhững phương pháp, biện pháp, cách thức phù hợp, tránh máy móc, cứng nhắc mà cầnkhéo léo, linh động, mềm dẻo, tinh tế và hết sức nhạy cảm
Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
là một chủ trương lớn, một chương trình lớn của Đảng và Nhà nước Đối với cáctrường văn hoá, nghệ thuật, để đào tạo được một đội ngũ những người làm côngtác văn hóa, nghệ thuật đáp ứng được những đòi hỏi và những yêu cầu của đấtnước trong giai đoạn phát triển mới thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảngviên là vô cùng quan trọng và cần thiết Quyết định 581/QĐ- TTg ngày06/5/2009 về việc phê duyệt “Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020” củaThủ tướng Chính phủ cũng đã nêu rõ:
- “ Xây dựng quy hoạch đào tạo văn hoá, nghệ thuật trong toàn quốc nhằm gắnkết chặt chẽ giữa đào tạo văn hoá, nghệ thuật với nhu cầu của người học và nhucầu của xã hội Hoàn thiện và nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống cáctrường văn hoá, nghệ thuật;”…
- “Hoàn thành hệ thống chương trình, giáo trình, tài liệu tham khảo cho cácngành học, các cấp đào tạo văn hoá, nghệ thuật ( sáng tác, nghiên cứu, lý luận,phê bình, biểu diễn, chỉ huy, đạo diễn…) tiếp cận nhanh trình độ quốc tế mà vẫngiữ gìn bản sắc văn hoá, nghệ thuật dân tộc và những đặc trưng riêng về văn hoá,nghệ thuật của các vùng miền để sử dụng thống nhất trong các trường trên phạm
vi cả nước Bổ sung một số môn học nghệ thuật truyền thống vào chương trìnhđào tạo.”
Trang 31- “Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên có đủ năng lực chuyênmôn, ngoại ngữ và phẩm chất đáp ứng nhiệm vụ đào tạo…gắn đào tạo vớinghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp dạy và học của giảng viên và họcsinh, sinh viên.”
- “Chú trọng đào tạo sư phạm Nhạc, Hoạ để đảm bảo nguồn giảng viên cho cáctrường văn hoá, nghệ thuật, trường phổ thông từ Trung ương đến địa phương,góp phần vào việc nâng cao thẩm mỹ cho học sinh phổ thông” (23.tr.35)
Để thực hiện các nhiệm vụ trên, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạocán bộ văn hoá, nghệ thuật cần phải xây dựng các giải pháp để nâng cao chấtlượng đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng Nghệ thuật để họ thực sự lànhững người có lập trường tư tưởng vững vàng, đạo đức trong sáng, lối sốnglành mạnh, giỏi về chuyên môn, vững vàng về nghiệp vụ sư phạm, có khả năngthị phạm, hướng dẫn học sinh thực hành, am hiểu về nghệ thuật, về xã hội, cókiến thức thực tiễn, yêu và say mê với nghề nghiệp, với nghệ thuật đáp ứngnhững yêu cầu của ngành, của đất nước trong thời kỳ mới
1.4 QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN NÓI CHUNG VÀ GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT NÓI RIÊNG
Tất cả các nước trên thế giới, muốn phát triển giáo dục phải đầu tư xâydựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Giảng viên phải là chuyên giatrong một hoặc nhiều lĩnh vực, đòi hỏi trình độ đào tạo giảng viên ngày càngcao Giảng viên phải thường xuyên cập nhật các kiến thức mới, phải tự học tậprèn luyện để nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận và nghiệp vụ sưphạm
Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là làm cho chất lượng đội ngũgiảng viên ngày càng hoàn thiện hơn Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viênthực chất là quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ, làm cho đội ngũ trưởng
Trang 32thành ngang tầm với đòi hỏi của sự nghiệp giáo dục - đào tạo.
Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là con đường làm giàu kiến thức,
kỹ năng, thái độ để giảng viên vững vàng về nhân cách nghề nghiệp Xây dựng
và phát triển đội ngũ có sự cân đối về lực lượng, chất lượng và cơ cấu sẽ gópphần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục-đào tạo trong giai đoạn hiện nay.Xuất phát từ quan điểm coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” Đảng và Nhà nước
ta rất quan tâm đến việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo
Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư ngày 15/6/2004, về việc “Xây dựng, nângcao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” đã xác định, xâydựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện là “ nhiệm
vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, và mang tính chiến lược lâu dài” Đội ngũnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải “được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng,
đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chínhtrị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, nghề nghiệp”
Nghị quyết Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam số 37/2004/QH11ngày 03/12/2004 về giáo dục cũng nhấn mạnh việc cần thiết phải “ tiếp tục xâydựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơcấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo…Hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo,bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều kiện cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dụcthường xuyên tự học tập để cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ, kỹ năng vềchuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục”
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khoá X) đã ra nghịquyết số 26-NQ/TW về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Luật giáo dục cũng đã quy định “ nhà giáo giữ vai trò quyết định trongviệc đảm bảo chất lượng giáo dục” vì vậy, muốn đổi mới, nâng cao chất lượnggiáo dục, nâng cao chất lượng nguồn lao động thì phải xây dựng một đội ngũgiảng viên giỏi làm nòng cốt
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển văn hoá và nâng cao chất
Trang 33lượng đội ngũ giảng viên các trường văn hoá, nghệ thuật
Từ trước đến nay, Đảng ta luôn luôn khẳng định vị trí và tầm quan trọng củavăn hoá trong cách mạng giải phóng dân tộc, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa,nhất là trong thời kỳ đổi mới từ Đại hội VI đến nay Đặc biệt trong Nghị quyếtTrung ương 5 (khoá VIII), Đảng ta đã xác định năm quan điểm chỉ đạo cơ bảncủa sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta:
+ Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lựcthúc đẩy sự phát triển KT- XH
+ Nền văn hoá chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắcdân tộc
+ Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộngđồng các dân tộc Việt Nam
+ Văn hoá là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hoá là một sự nghiệpcách mạng lâu dài đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) không những chỉ ra nhiệm vụ cấpbách trước mắt có ý nghĩa chiến lược về xây dựng và phát triển văn hoá củanước ta trong thời kỳ CNH, HĐH Năm quan điểm chỉ đạo cơ bản đó, cùng vớinhững quan điểm về sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm,xây dựng, chỉnh đốn đảng là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nềntảng tinh thần của xã hội của Kết luận Hội nghị Trung ương 10 ( khoá IX) vàNghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng là những quan điểm chỉ đạo và đượcquán triệt trong “Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020” của Thủ tướngChính phủ tại Quyết định 581/QĐ- TTg ngày 06/5/2009 Trong Chiến lược đãchỉ rõ: cần “ Hoàn thiện và nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống cáctrường văn hoá, nghệ thuật;”, “ Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảngviên có đủ năng lực chuyên môn, ngoại ngữ và phẩm chất đáp ứng nhiệm vụđào tạo Thực hiện chương trình nâng cao trình độ cho giảng viên thông quacác hình thức đào tạo sau đại học ở trong và ngoài nước, liên kết đào tạo, mờichuyên gia nước ngoài vào giảng dạy tại các trường văn hoá, nghệ thuật, gắn
Trang 34đào tạo với nghiên cứu khoa học, đổi mới phương pháp dạy và học của giảngviên và học sinh, sinh viên.” (23.tr.35)
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Trang 35Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu Giáo dục - Đào tạo có nhiệm vụnâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Giáo dục nghề nghiệp( bao gồm các trường Cao đẳng ) nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, cónhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Để đẩy mạnh phát triển giáo dục
- đào tạo nghề nghiệp nói chung, đào tạo, bồi dưỡng năng khiếu nói riêng thìmột trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định, đó là nâng cao chất lượng đội ngũgiảng viên Việc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là vấn đề then chốt, độtphá nhằm phát triển Giáo dục- Đào tạo trong giai đoạn CNH, HĐH đất nướchiện nay
Trong Chương 1, đề tài đã hệ thống cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng độingũ giảng viên nói chung Thông qua một số khái niệm về giảng viên; đội ngũ;đội ngũ giảng viên; giải pháp, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên;chất lượng; chất lượng đội ngũ giảng viên, tạo cơ sở cho việc đánh giá đúng thựctrạng đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuật Căn cứ những cơ sở lýluận được hệ thống ở chương này và các tiêu chí về trình độ năng lực chuyênmôn đối với giảng viên, đề tài đã phân tích, đánh giá vai trò, tầm quan trọng củaviệc nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên nói chung, đội ngũ giảng viêntrường Văn hoá Nghệ thuật nói riêng, từ đó đánh giá đúng thực trạng đội ngũgiảng viên trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội sẽ được trình bày ở Chương 2
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỆ THUẬT HÀ NỘI
Trang 362.1 KHÁI QUÁT MỘT SỐ NÉT CƠ BẢN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI, NHU CẦU VỀ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, đặc điểm Kinh tế- Xã hội, Văn hoá - Giáo dục của Thành phố Hà Nội.
Năm 1010, Hà Nội được vua Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô và đặt tên làThăng Long với lòng mong muốn kinh thành ngày càng phồn thịnh như Rồngbay lên Năm 1831 vua Minh Mạng triều Nguyễn đặt lại tên cho Thăng Long là
Hà Nội có nghĩa là: thành phố nằm trong vòng bao quanh của một con sông giữađồng bằng Bắc Bộ trù phú Nơi đây còn ghi biết bao dấu tích văn hiến của mảnhđất từng là kinh đô trong suốt ba thời kỳ phong kiến thịnh trị Lý, Trần, Lê vàngày nay là thủ đô của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Khởi nguồnhình thành của Thăng Long được quyết định bởi yếu tố môi trường tự nhiên, thểhiện trong "Chiếu dời đô" của vua Lý Công Uẩn
Sau 1000 năm, Hà Nội ngày nay và Thăng Long xưa khác nhau nhiều vềđịa lý, tự nhiên : Nằm giữa đồng bằng sông Hồng trù phú, , phía bắc giáp tỉnhThái Nguyên và tỉnh Vĩnh Phúc; phía Nam giáp tỉnh Hà Nam và tỉnh Hòa Bình;phía đông giáp các tỉnh Bắc Giang; Bắc Ninh và Hưng Yên; phía tây giáp TỉnhHòa Bình và Tỉnh Phú Thọ Hà Nội bây giờ bao gồm cả phần đất rộng lớn ở bênngoài hai con sông Trung tâm Thăng Long và trung tâm Hà Nội không trùngnhau Nhưng những điểm ưu việt của điều kiện địa lý và tự nhiên của ThăngLong vẫn tạo ra những thế mạnh cho Hà Nội mà hiếm đâu sánh được
Thứ nhất, thế đất bằng phẳng, cao ráo, nằm trên đồng bằng mầu mỡ, khíhậu lại ấm áp Hà Nội là vùng sinh thái tuyệt vời cho con người định cư, pháttriển
Thứ hai, vị thế trung tâm của Hà Nội, lại nằm bên con sông lớn khiến cho
Trang 37giao thông với các địa phương khác dễ dàng, thuận tiện Từ xưa, Hà Nội đã nổitiếng là một trung tâm thương mại lớn: "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến".Thêm nữa, với cảnh sắc tươi đẹp và con người thanh lịch, Hà Nội là đề tài chothơ ca, nhạc, hoạ, tạo nên sức thu hút du khách bốn phương.Và còn rất nhiều thếmạnh nữa do tự nhiên đem lại mà Hà Nội đã và sẽ khai thác để xứng đáng là
"Nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời" như Lý Công Uẩn đã tiên đoán
Trải qua các cuộc chiến tranh, khi đã thống nhất được hai miền Nam Bắc, Hà Nội đã giữ vai trò là trung tâm Chính trị - Hành chính của quốc gia,trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế, giao dịch của nước ViệtNam hoà bình, thống nhất, có vị trí xứng đáng trong khu vực và trên thế giới
-Năm 1945, Cánh mạng tháng Tám thành công, Hà Nội trở thành Thủ Đôcủa nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, gồm 5 khu phố nội thành và 120 xãngoại thành Từ ngày 01 tháng 8 năm 2008, Hà Nội mở rộng sau khi điều chỉnhđịa giới hành chính, Thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên là 334.470,02 ha vàdân số hiện tại là 6.232.940 người, bao gồm diện tích tự nhiên và dân số hiện tạicủa 11 quận, 18 huyện và 4 xã nội ngoại thành trên toàn thành phố
Theo Đề án quy hoạch tổng thể KTXH Thủ đô đến năm 2020, tầm nhìn
2030 tại cuộc họp được UBND TP Hà Nội thông qua tháng 5/2007, đến năm
2010, tỷ trọng GDP của Hà Nội bằng 10% GDP cả nước Tỷ trọng này sẽ là 12%vào năm 2015; 14% vào năm 2020 và khoảng 15,5 – 16% vào năm 2030 Đếnnăm 2010, GDP bình quân của Hà Nội dự kiến đạt 2.450 – 2.500USD/người/năm, gấp 2,2 lần mức bình quân chung cả nước và 7.500USD/người/năm vào năm 2020 Tốc độ tăng trưởng trong thời kỳ 2006 – 2010của Hà Nội là 11 – 12% và giữ mức 11 – 11,5% trong thời kỳ 2010 – 2020…Đến năm 2020, với quy mô dân số ước tính là 5,1 triệu người (kể cả vùng phụcận), tỷ lệ đô thị hóa ước đạt mức trên 85%; lao động đã qua đào tạo lên tới 70%
Tuy nhiên kinh tế phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh và
Trang 38vị thế của Thủ đô; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của sản phẩm còn thấp;kinh tế tri thức, hàm lượng chất xám có giá trị gia tăng cao của các ngành kinh tếchủ lực chưa rõ nét; sức lan tỏa của một "trung tâm kinh tế lớn," vai trò của một
"động lực kinh tế" trong Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước chưa đượcphát huy đầy đủ
Công tác quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị còn chưa đạt hiệu quả; hệthống hạ tầng đô thị và nông thôn chưa đồng bộ, phát triển công nhân lành nghềphục vụ trong các khu công nghiệp còn một số bất cập, chưa đáp ứng được yêucầu xây dựng và phát triển Thủ đô; nhiều vấn đề tồn tại lâu nay (quản lý quyhoạch, đất đai, trật tự xây dựng, úng ngập, ô nhiễm môi trường, ùn tắc giaothông…) tuy đã tập trung giải quyết, nhưng chưa đạt được yêu cầu
Chính vì vậy trong rất nhiều mục tiêu đầu tư để phát triển của thành phốvấn đề đào tạo nghề cũng được thành phố đặc biệt quan tâm đầu tư nhằm tạonguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ trực tiếp tại các khu công nghiệp củathành phố, đây là một trong những nhân tố quan trọng, là động lực góp phần thúcđẩy xây dựng thành phố thành trung tâm kinh tế lớn của cả nước có sức lan tỏa
và ảnh hướng tốt tới các vùng lân cận Như vậy, những việc đã làm được cầnphải được phát huy một cách tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế,nhược điểm nhằm phát triển thủ đô mang tính bền vững Theo Nghị quyết XIII -Đại hội Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã đưa ra một số chủ trương phát triển Thủ
đô Hà Nội:
* Nâng cao chất lượng nguồn lực của Thủ độ phục vụ CNH, HĐH Chăm
lo đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài
* Nâng cao chất lượng GD toàn diện các cấp học Quan tâm phát triển GD
MN, trọng tâm ở ngoại thành; duy trì phổ cập tiểu học và THCS, phấn đấu tỷ lệphổ cập THPT và tương đương trên toàn thành phố đạt trên 70% Phát triển cácloại hình GDTX, thực hiện đa dạng hóa, xã hội hóa các loại hình trường lớp, gắnvới nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác khuyến học Tăng cường quản lý Nhà
Trang 39nước, đặc biệt là công tác thanh tra GD.
Xây dựng và triển khai có kết hợp chiến lược đào tạo nghề, khắc phụctình trạng mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu đào tạo, “thừa thầy, thiếu thợ” vàtâm lý chạy theo bằng cấp Khuyến khích các thành phần kinh tế, các cơ sở sảnxuất kinh doanh, tham gia đào tạo nghề, gắn với giải quyết công ăn việc làm.Thành phố đầu tư xây dựng một số trung tâm đào tạo nghề chất lượng cao phùhợp với định hướng phát triển các ngành sản phẩm chủ lực
2.1.2 Nhu cầu về Văn hóa – Nghệ thuật của thành phố Hà Nội
Hà Nội là trung tâm Chính trị- Hành chính của quốc gia, trung tâm lớn vềvăn hóa, khoa học, giáo dục Hiện nay, Tất cả các cơ quan thông tấn, báo chí,xuất bản cấp quốc gia đều đóng tại Hà Nội Tin tức của mọi vùng lãnh thổ trênđất nước cũng được phát ra từ đây trên sóng phát thanh và truyền hình Hàngtrăm tờ báo và tạp chí, hàng chục đầu sách mới của gần 40 nhà xuất bản trungương phát hành khắp nơi, ra cả nước ngoài, làm phong phú đời sống văn hóa củanhân dân và giới thiệu hình ảnh Việt Nam với bạn bè thế giới
Hà Nội có riêng một Đài phát thanh và Truyền hình Hà Nội, một tờ báohàng ngày là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô: tờ "Hà Nộimới", một tờ báo của Ủy ban nhân dân thành phố: tờ "Kinh tế đô thị Hà Nội",bảy tờ tuần báo hoặc ra tuần nhiều kỳ của các ngành, các đoàn thể, một tạp chí,hàng chục bản tin chuyên đề Nhà xuất bản Hà Nội mỗi năm ra hàng trăm đầusách, mà sách về đề tài Hà Nội chiếm tỷ trọng hàng đầu Hội liên hiệp Văn họcNghệ thuật Hà Nội với chín hội thành viên, gần 2000 hội viên
Đi trên đường phố thủ đô, ta thường bắt gặp các khuôn mặt quen thuộc củanhiều văn nghệ sĩ và nhà khoa học danh tiếng Trụ sở trung ương các hội văn học
- nghệ thuật, các hội khoa học - kỹ thuật, các xưởng phim, nhà hát quốc gia củacác bộ môn nghệ thuật đều đóng ở Thủ đô
Bên cạnh các nhà hát nghệ thuật quốc gia, riêng Hà Nội có sáu nhà hát và
Trang 40đoàn nghệ thuật Nhà hát kịch Hà Nội, Nhà hát ca múa Thăng Long là nhữngđơn vị nghệ thuật có hạng của cả nước với tuổi đời hơn 40 năm đang cần trẻ hóađội ngũ và nâng cao chất lượng đội ngũ diễn viên.
Vốn nghệ thuật dân gian truyền thống được quan tâm bảo tồn và phát huy.Đoàn múa rối nước Thăng Long luôn sáng đèn hằng đêm ở nhà hát bên Hồ HoànKiếm
Câu lạc bộ chèo truyền thống Nguyễn Đình Chiểu vẫn thường xuyên trình
diễn các trích đoạn chèo cổ của ông cha để lại Vở Kiều của Nhà hát cải lương
Hà Nội đã có hơn 2000 đêm diễn Các Câu lạc bộ ca trù là điểm dừng của các dukhách trong nước và nước ngoài muốn tìm hiểu về bộ môn nghệ thuật đặc sắcvừa được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể của thế giới”
Các hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật ở các thể loại, loại hình phongphú Nhiều cuộc triển lãm Mỹ thuật, nhiếp ảnh diễn ra thường xuyên và ngàycàng đòi hỏi cao về chất lượng
Về số lượng nhà bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, rạp hát, chiếu bóng, hiệusách, di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc và cách mạng, Hà Nội đứng hàng đầu,
521 trong số hơn 2000 di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận xếphạng đang cần có những lực lượng cán bộ Quản lý Văn hóa được đào tạo bàibản, chính quy để bảo tồn, gìn giữ những giá trị Văn hóa của ông cha để lại
Về du lịch tại Hà Nội chủ yếu là du lịch văn hóa Do đó, du lịch văn hóa làsản phẩm chủ đạo và tiếp cận khai thác thị trường khách du lịch, văn hóa làhướng ưu tiên trong phát triển du lịch Tuy có nhiều tiềm năng, nhưng hoạt động
du lịch những năm qua vẫn chưa được quan tâm đầu tư xứng đáng nên chấtlượng hoạt động chưa hiệu quả và giá trị doanh thu chưa cao , Vì vậy, rất cần cómột đội ngũ hướng dẫn viên, tiếp viên chuyên nghiệp để nâng cao chất lượngdịch vụ tại các khu di tích lịch sử, các điểm du lịch, các nhà hàng, khách sạn
Hà Nội có 29 quận, huyện , thị xã với 577 phường, xã, thị trấn và có tới