BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH NGUYỄN THÀNH TRUNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN LANG CHÁNH,... Để nâng cao chất lượng đội n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THÀNH TRUNG
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ
TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN LANG CHÁNH,
Trang 2MỤC LỤC:
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5
3 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 5
3.1 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 5
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 5
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 5
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 6
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN 6
8.1 PHẦN MỞ ĐẦU 6
8.2 PHẦN NỘI DUNG ( gồm 3 chương) 6
8.3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 7
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 8
1.2.1 Khái niệm bản chất, chức năng quản lý 8
1.2.2 Quản lý giáo dục 13
1.2.3 Quản lý nhà trường 14
1.2.4 Quản lí trường tiểu học 16
1.2.5 Cán bộ quản lí trường tiểu học 17
1.3 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 21
1.3.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý 21
1.3.2 Yêu cầu chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 24
1.4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ 25
1.5 Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 25
1.6 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC 27
1.6.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL 27
Trang 31.6.2 Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển đội ngũ CBQL 28
1.6.3 Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBQL 28
1.6.4 Chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý 28
1.6.5 Đánh giá chất lượng đội ngũ CBQL 29
Kết luận chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HOÁ 31
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI Ở HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA 31
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, văn hóa xã hội 31
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 32
2.2 KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN LANG CHÁNH 34
2.2.1 Về chất lượng giáo dục và đào tạo 34
2.2.2 Thực trạng về chất lượng giáo dục tiểu học huyện Lang Chánh 38
2.3 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HOÁ 42
2.3.1 Về số lượng và cơ cấu đội ngũ CBQL 42
2.3.2 Về phẩm chất, năng lực đội ngũ CBQL 43
2.3.3 Về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 53
2.3.4 Về công tác bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học 53
2.3.5 Về chế độ chính sách đối với đội ngũ CBQL trường tiểu học 54
2.3.6 Về sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với đội ngũ cán bộ quản lý 55
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HOÁ 56
2.4.1 Về ưu điểm 56
2.4.2 Hạn chế, yếu kém 56
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 57
Kết luận chương 2 58
Trang 4Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN LANG CHÁNH - TỈNH
THANH HÓA 59
3.1 NHỮNG CĂN CỨ VÀ NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 59
3.1.1 Những căn cứ đề xuất giải pháp 59
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 59
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA .60
3.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa 60
3.2.2 Xây dựng và thực hiện tốt công tác quy hoạch đội ngũ CBQL trường tiểu học huyện huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa 62
3.2.3 Đổi mới công tác tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học trong huyện 64
3.2.4 Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa 70
3.2.5 Thực hiện tốt chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa 73
3.2.6 Đổi mới công tác đánh giá đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa 77
3.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC GIẢI PHÁP 80
3.4 KHẢO SÁT SỰ CẦN THIẾT VÀ KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP 82
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận chung: 86
2 Kiến nghị: 87
Trang 5MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và cán bộ quản lýtrường tiểu học nói riêng là việc làm thường xuyên và là nhiệm vụ trọng tâm củacấp ủy Đảng, chính quyền và ngành giáo dục Trong thời đại ngày nay nhân loại
đã bước vào những thập niên thứ hai của thế kỷ XXI với những đặc trưng mangtính toàn cầu Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập Quốc tế tạo ra quá trình hợp tác
để phát triển, là quá trình đấu tranh gay gắt nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, bảotồn bản sắc văn hoá của các dân tộc
Đất nước ta bước vào thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhậpQuốc tế, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp Vì
vậy phải “Coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội" [8] Văn kiện Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định:
"Lấy việc phát huy nguồn lực làm yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng cường phát triển kinh tế nhanh và bền vững", "Tiếp tục đổi mới công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ có trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn, sáng tạo" [12].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học đang đứng trướcmâu thuẫn lớn giữa phát triển nhanh về quy mô, và đảm bảo nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện, trong khi đó khả năng và điều kiện đáp ứng còn hạnchế Muốn giải quyết mâu thuẫn này đòi hỏi phải triển khai thực hiện hệ thốnggiải pháp; mà giải pháp quan trọng đã được Đảng và Nhà nước khẳng định là:
"Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện" [1].
Chỉ thị 40-CT/TW ngày 15/06/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đề ra 6
nhiệm vụ chủ yếu, trong đó có nhiệm vụ: "Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục" [1].
Một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục còn hạn chếlà: trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp và đặc biệt là nghiệp vụ quản lýtrường học chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp Để khắc phục nhữnghạn chế trên cấp uỷ Đảng, chính quyền, ngành giáo dục, lãnh đạo các trường xácđịnh nhiệm vụ trọng tâm là phải nâng cao chất lượng quản lý Chính vì vậy tôi
chọn đề tài "Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
Trang 6trường tiểu học huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá" làm luận văn cao học
chuyên ngành Quản lý giáo dục
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề xuất được một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý cáctrường tiểu học ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá nói riêng, trường tiểu họctrong hệ thống giáo dục quốc dân nói chung
3 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
3.1 KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Công tác nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu họchuyện ở Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểu họchuyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu đề xuất được các giải pháp hợp lý khả thi, thì sẽ góp phần nâng caochất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học ở huyện Lang Chánh, tỉnhThanh Hóa
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận;
5.2 Nghiên cứu thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trườngtiểu học ở huyện Lang Chánh; thực trạng các giải pháp nâng cao chất lượng độingũ cán bộ quản lý các trường tiểu học đã được áp dụng ở huyện Lang Chánh;
5.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lýtrường tiểu học huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
6.1 NHÓM CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN
- Thu thập tài liệu, văn kiện
- Phân tích, khái quát hóa cơ sở luận
6.2.NHÓM CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN
- Điều tra, khảo sát
Trang 7- Lấy ý kiến chuyên gia
- Lấy ý kiến đội ngũ cán bộ, giáo viên
7 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
- Luận văn làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về nâng cao chất lượng đội ngũCBQL các trường tiểu học
- Chỉ ra được thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường tiểuhọc ở huyện Lang Chánh, tỉnh thanh hoá
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ quản lý trường tiểuhọc ở huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa theo yêu cầu đội mới giáo dục
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
8.1 PHẦN MỞ ĐẦU
8.2 PHẦN NỘI DUNG ( gồm 3 chương)
Chương 1: Cơ sở lý luận của giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ quản lý trường tiểu học
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện LangChánh, tỉnh Thanh Hoá
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lýtrường tiểu học huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá
8.3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- Cuối luận văn là tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Ngay từ khi xuất hiện con người phải thực hiện hoạt động lao động để tồntại và phát triển Trong lao động, con người đã phát huy bản năng sống và luôn
tự ý thức tích lũy kinh nghiệm, không ngừng sáng tạo Để có một xã hội đảmbảo sự phân cấp, phân chia quyền lợi, con người phải trải qua đấu tranh, xã hộihình thành trong đó thể hiện rõ vai trò của quản lý và lãnh đạo
Xã hội càng phát triển thì hoạt động quản lý càng được phân cấp rõ rệt từcấp vĩ mô đến cấp vi mô và tới từng ngành, nghề Chính vì thế quản lý trở thànhmột khoa học được nghiên cứu sâu sắc và triệt để Trải qua quá trình phát triểntrong từng thời kỳ lịch sử, đã xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu về lý luận khoahọc quản lý Các nhà triết học cổ Hy Lạp nghiên cứu về quản lý tuy còn ít ỏinhưng đã có những đóng góp đáng kể: Đó là tư tưởng của Xôcrát ( 469-399Tr.CN), Platôn ( 427-347 Tr.CN) và Arixtôt ( 384-322 Tr.CN) Thời kỳ TrungHoa cổ đại, các nhà hiền triết đã có tư tưởng quản lý toàn xã hội: Khổng Tử
(551-478 Tr.CN), Mạnh Tử ( 372 -289 Tr.CN), nêu lên tư tưởng “Đức trị, Lễ trị” lấy chữ tín làm đầu Phương Tây Kô-men-xki ( 1592-1670) với cuốn “Lý luận dạy học” vĩ đại ông viết năm 1632 đã đi vào lịch sử như một cái mốc đánh
dấu sự ra đời của lý luận giáo dục và nhà trường hiện đại; tư tưởng của ông cóảnh hưởng khá sâu sắc đến QLGD ngày nay
Việt Nam, Khoa học quản lý tuy còn trẻ, nhưng đã đạt được một số thànhtựu tương ứng với sự phát triển KT-XH của đất nước Trong lĩnh vực QLGD,Việt Nam những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận đề ra các
giải pháp quản lý như các công trình nghiên cứu của: PGS.TS Trần Kiểm “Khoa học quản lý nhà trường phổ thông”, “Khoa học tổ chức và quản lý trong giáo dục” nêu rõ được vai trò của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong nhà trường phổ
thông và công tác tổ chức trong nhà trường; GS.TS Nguyễn Ngọc Quang
“Những khái niệm cơ bản về quản lý giáo dục” đề cập đến những khái niệm cơ
Trang 9bản của quản lý, QLGD, các đối tượng của khoa học QLGD; PGS.TS Đặng Bá
Lãm – PGS.TS Phạm Thành Nghị “ Chính sách và kế hoạch phát triển trong quản lý giáo dục” phân tích khá sâu sắc về lý thuyết và mô hình hóa chính sách,
phương pháp lập kế hoạch giáo dục; GS.TS Vũ Ngọc Hải – PGS.TS Trần Khánh
Đức “Hệ thống hóa giáo dục trong những năm đầu của thế kỷ XXI” trình bày
những quan điểm, mục tiêu giải pháp phát triển giáo dục
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ QLGD tại các trường học, gópphần nâng cao hiệu quả QLGD ở địa phương trong giai đoạn hiện nay đã có một
số đề tài nghiên cứu như sau: Thực trạng, phương hướng và những giải pháp cơbản nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ QLGD trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninhcủa Nguyễn Công Duật năm 2000; một số giải pháp bồi dưỡng nâng cao nănglực quản lí quá trình dạy học của hiệu trưởng trường THCS tỉnh Quảng Ninh của
Hà Văn Cung năm 2000; một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí chuyênmôn của hiệu trưởng các trường THCS các huyện ngoại thành Hải Phòng củaNguyễn Văn Tiến năm 2000
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã làm rõ thêm cơ sở lý luận vàthực trạng về chất lượng đội ngũ CBQL trường học; đề ra được một số giải phápnâng cao chất lượng CBQL ở một số lĩnh vực cụ thể Trên địa bàn huyện LangChánh chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu việc nâng cao chất lượng độingũ CBQL trường tiểu học Việc nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng độingũ CBQL các trường tiểu học huyện Lang Chánh có một ý nghĩa lớn cả về mặt
lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểuhọc của huyện đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục và
đào tạo hiện nay Vì vậy tôi chọn đề tài "Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá".
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁPNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.2.1 Khái niệm bản chất, chức năng quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Trang 10"Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý), lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo
ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển đối tượng"[13].
Quản lý là một hoạt động xã hội, trong đó sự tác động của chủ thể quản lý(người quản lý, tổ chức quản lý), có sự chịu tác động và thực hiện của khách thểquản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) để đạt được mục tiêu của tổ chức.Đặc trưng cơ bản của quản lý là:
Thứ nhất: Quản lý là sự lựa chọn các tác động có chủ đích Bởi vì bộ phậnquản lý có thể có nhiều hệ thống tác động khác nhau vào đối tượng, trong sốnhững tác động đó, người quản lý tuỳ theo chủ đích, sự phán đoán và dự báo củamình mà chọn một khả năng mà mình cho là triển vọng nhất
Thứ hai: Quản lý là sự sắp xếp hợp lý của các tác động đã chọn Bởi vìmuốn cho việc lựa chọn các tác động trên đưa đến kết quả mong muốn, cần sắpxếp và thể hiện hợp lý các tác động
Thứ ba: Trong các điều kiện xác định, sự vận động và phát triển của đốitượng quản lý mang tính "bất định" mà người quản lý không thể dự đoán mộtcách chắc chắn, chính xác khả năng nào sẽ xảy ra Tác động quản lý có chủ đích,được sắp xếp hợp lý sẽ có tác dụng cho người quản lý thấy được "quỹ đạo" màđối tượng vận động và phát triển (như vậy đối với người quản lý, tính "bất định"của đối tượng giảm) vì vậy quản lý là giảm tính bất định, tăng tính tổ chức củađối tượng
Từ sự phân tích trên ta có định nghĩa khái niệm quản lý như sau: Quản lý
là một quá trình tác động có chủ đích, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động
có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường,nhằm giữ vững cho sự vận hành của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sựvận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đãđịnh
Trang 11Như vậy, theo chúng tôi, Quản lý là Sự tác động có ý thức của chủ thểquản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình của xã hội, hành vi vàhoạt động của con người nhằm đạt mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phùhợp với quy luật khách quan.
1.2.1.2 Bản chất quản lý
Quản lý là một hoạt động tất yếu khi có nhiều người làm việc với nhau đểthực hiện một công việc chung hoặc nhằm một mục tiêu chung, tạo nên sứcmạnh giúp con người đạt được mục tiêu đã định
Trong một tổ chức nhóm, cộng đồng, chủ thể quản lý tác động có địnhhướng, có chủ đích đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục đích
Hoạt động quản lý mang tính khoa học cao, bởi sự tác động giữa chủ thểquản lý đến khách thể quản lý thông qua công cụ, phương tiện, phương pháphợp với quy luật khách quan thì mới đạt được hiệu quả
Quản lý được coi là một nghề Những kỹ năng nghề nghiệp của ngườiquản lý để thực hiện công việc đòi hỏi mang tính kỹ thuật, thể hiện qua nhữngthao tác nghề nghiệp của người quản lý Hoạt động quản lý vừa mang tính khoahọc, vừa có tính nghệ thuật Tính nghệ thuật của hoạt động quản lý thể hiệnnhững tác động phù hợp quy luật, hoàn cảnh thực tiễn
1.2.1.3 Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là nội dung cơ bản của quá trình quản lý, là nhiệm vụkhông thể thiếu được của chủ thể quản lý Lao động quản lý là một dạng laođộng đặc biệt, gắn với quá trình lao động tập thể và kết quả của sự phân cônglao động xã hội Nhưng lao động quản lý lại có sự phân chia thành một hệ thốngcác khâu hay dạng hoạt động xác định nhờ đó chủ thể quản lý tác động vào đốitượng quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu xác định
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Chức năng quản lý là dạng hoạt độngquản lý, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thựchiện một mục tiêu nhất định
Trang 12Như vậy khái niệm chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện và sự tiến
bộ của phân công và hợp tác lao động Quá trình tạo ra một sản phẩm phải trảiqua nhiều công đoạn, mỗi công đoạn người lao động phải thực hiện một nhiệm
vụ hay một chức năng nhất định Từ chức năng đó của khách thể quản lý (ngườilao động) làm xuất hiện một cách khách quan dạng hoạt động quản lý chuyênbiệt nhất định, tương ứng của chủ thể quản lý, gọi là chức năng quản lý
Tất cả các chức năng quản lý gắn bó qua lại và quy định lẫn nhau Chúngphản ánh logic bên trong của sự phát triển của hệ quản lý Việc phân chia chứcnăng quản lý bắt nguồn từ sự phân công và chuyên môn hoá lao động quản lý.Khi phân tích cụ thể, ta thấy quản lý gồm bốn chức năng cơ bản đó là: kế hoạchhoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra
- Kế hoạch hoá là giai đoạn quan trọng nhất của quá trình quản lý, vớichức năng cơ bản là: Căn cứ vào quá trình phát triển của tổ chức, căn cứ vàomọi tiềm năng đã có và sẽ có, dự báo trạng thái kết thúc của tổ chức (và nhữngtrạng thái trung gian), vạch rõ hệ thống mục tiêu, nội dung hoạt động và các biệnpháp lớn, nhỏ, nhằm đưa tổ chức đạt được mục tiêu đã đề ra Kết quả của cácgiai đoạn này sẽ là bản kế hoạch được thực hiện trong khoảng thời gian đã địnhcủa tổ chức Và nội dung cơ bản của toàn bộ quá trình quản lý sẽ là thực hiệnbản kế hoạch này Như vậy, chúng ta thấy có ba nội dung chủ yếu của chức năng
kế hoạch hoá:
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức
+ Xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồnlực của tổ chức để đạt được mục tiêu này
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được nhữngmục tiêu đó
- Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thànhviên, giữa các bộ phận trong một tổ chức, nhằm làm cho họ thực hiện thànhcông các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Như vậy tổ chức
là sự sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những dạng hoạt động của tập thểngười lao động thành một hệ toàn vẹn, đồng thời bảo đảm sự phối hợp các tác
Trang 13động bộ phận lại với nhau tạo nên một tác động tích hợp mà hiệu quả của cáchoạt động tích hợp này lớn hơn tổng hiệu quả của các tác động bộ phận Tổ chứcchính là nhân tố sinh ra hệ toàn vẹn, biến một tập hợp các thành tố rời rạc thànhmột hệ toàn vẹn Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợpđiều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực Thành tựu của một tổ chức phụthuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này saocho có hiệu quả.
- Chỉ đạo là huy động lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch, là điều hànhmọi việc nhằm bảo đảm cho tổ chức vận hành thuận lợi Chỉ đạo biến mục tiêu
dự kiến thành kết quả, kế hoạch thành hiện thực Trên thực tế chỉ đạo là tổ chứcmột cách khoa học lao động của một tậpthể người cũng như từng người, chỉ đạobao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành nhữngnhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Hiển nhiên việc chỉ đạokhông chỉ bắt đầu sau khi lập kế hoạch và thiết kế bộ máy hoàn tất, mà nó thấmvào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia
- Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, mộtnhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hànhnhững hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phảiphù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương xứng thì phải tiến hànhnhững hành động điều chỉnh, uốn nắn Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh, diễn
ra có tính chu kì như sau:
+ Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động
+ Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩnmực đã đặt ra
+ Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch
+ Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần
Trên đây là những vấn đề khái quát về các chức năng cơ bản của quản lý.Các chức năng trên phát sinh như một sự tất yếu, từ sự khác nhau giữa quá trìnhvận động và phát triển của đối tượng với những vận động cá nhân của nhữngphần tử độc lập tạo nên đối tượng đó Ngoài các chức năng trên, chức năng
Trang 14thông tin có mặt trong tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý và là điều kiệncho hoạt động quản lý ở mỗi giai đoạn đó Như vậy, việc thực hiện chức năngquản lý nêu trên tuỳ thuộc vào tính chất của đối tượng quản lý và tính chất củaquá trình quản lý.
1.2.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch,hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theođường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được tính chất của nhàtrường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học -giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới vềchất
Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp giáodục, kế hoạch hoá, tài chính nhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các
cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệthống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng
Theo chúng tôi: Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành phối hợp các lựclượng trong xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu pháttriển xã hội
Giáo dục là một hoạt động đặc biệt của con người, là hoạt động có mụcđích, có chương trình, có kế hoạch Chức năng QLGD ra đời cũng là một yếu
tố khách quan để thực hiện mục đích giáo dục Có thể hiểu chức năng QLGD là
sự tác động của chủ thể QLGD đến khách thể QLGD nhằm thực hiện mục tiêugiáo dục
QLGD có 2 chức năng tổng quát: Ổn định, duy trì quá trình đào tạo đápứng nhu cầu hiện hành của nền kinh tế - xã hội; Đổi mới, phát triển quá trìnhđào tạo đáp ứng nhu cầu tiến bộ kinh tế - xã hội
Phân loại các chức năng quản lý là liên kết chúng lại với nhau thành một
hệ thống trọn vẹn, đồng thời phân chia chúng thành những phân hệ dựa trênnhững dấu hiệu chung, theo những nguyên tắc nhất định Từ hai chức năng tổng
Trang 15quát trên, QLGD phải quán triệt, gắn bó bốn chức năng: Kế hoạch hóa; Chỉ đạo;
Tổ chức; Kiểm tra
Hệ thống QLGD nhà trường hoạt động trong động thái đa dạng, phức tạp.QLGD là quản lý các mục tiêu vừa tường minh vừa trong mối tương tác của cácyếu tố chủ đạo, bao gồm: Mục tiêu đào tạo; Nội dung đào tạo; Phương pháp đàotạo; Đội ngũ CBGV, nhân viên; Đội ngũ người học; Điều kiện dạy học
Các yếu tố hợp thành quá trình giáo dục vừa có tính độc lập tương đối và
có nét đặc trưng riêng của mình lại có quan hệ mật thiết với nhau, tác động qualại với nhau tạo thành một thể thống nhất Sự liên kết của các thành tố này phụthuộc rất lớn vào chủ thể quản lý, nghĩa là, người quản lý biết “liên kết” cácthành tố này lại với nhau, biết tác động vào cả quá trình giáo dục hoặc tăngthành tố làm cho quá trình vận động tới mục tiêu đã định, tạo được kết quả giáodục, đào tạo của nhà trường
1.2.3 Quản lý nhà trường
Chúng ta xét quản lý trường học theo hai mặt:
Thứ nhất là hoạt động quản lý của những chủ thể cấp trên nhà trường đốivới đối tượng quản lý là nhà trường nhằm hướng dẫn và tạo các điều kiện chomọi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trường
Thứ hai là hoạt động của chủ thể quản lý ở ngay trong nhà trường đối với
các mặt hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường “Quản lý nhà trường là quản lý vi mô, nó là hệ thống con của quản lý vĩ mô: Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có thể hiểu là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế hoạch) mang tính tổ chức - sư phạm các chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu để đạt được những mục tiêu dự kiến” [26].
Trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường là một khâu quan trọng nhất,bởi vì nhà trường là cấp cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời là một
hệ thống con của hệ thống xã hội, có mối quan hệ mật thiết với xã hội
Trang 16Vì vậy, quản lý nhà trường là thực hiện quan điểm đường lối giáo dục củaĐảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là làm cho nhà trường vận hànhtheo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo theo cấphọc, bậc học.
Như vậy quản lý nhà trường bao gồm quản lý các mối quan hệ giữa nhàtrường và xã hội và quản lý các hoạt động bên trong nhà trường
Quản lý nhà trường là quản lý một hệ thống các thành tố: Mục đích,
nhiệm vụ giáo dục; Nội dung giáo dục; Phương pháp giáo dục; Chủ thể giáodục; Đối tượng giáo dục; Kết quả giáo dục
Trường học là tổ chức giáo dục cơ sở mang tính nhà nước - xã hội là nơitrực tiếp làm công tác đào tạo và giáo dục thế hệ trẻ Nó là tế bào cơ sở, chủ chốtcủa của bất cứ hệ thống giáo dục ở cấp nào (từ trung ương đến địa phương).Trường học là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp quản lý giáo dục, vừa
là hệ thống độc lập tự quản của xã hội Do đó quản lý nhà trường phải nhất thiếtphải vừa có tính nhà nước vừa có tính xã hội (nhà nước và xã hội cộng đồng vàhợp tác trong việc quản lý nhà trường)
Về quản lý nhà trường Giáo sư Phạm Minh Hạc đã đưa ra định nghĩa:Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vitrách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục,
để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế
hệ trẻ và với từng học sinh
Trên cơ sở quan niệm quản lý trường học, ta thấy: quản lý trường phổthông là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáoviên, học sinh và các bộ phận khác Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhànước đầu tư cũng như các lực lượng xã hội đóng góp, hoặc vốn tự có của nhàtrường, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà tiêu điểmhội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ Tất cả nhằm thực hiện có chất lượng mụctiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới
Trang 17Như vậy quản lý nhà trường thực chất là quá trình quản lý sư phạm củathầy, hoạt động học tập và tự giáo dục của trò diễn ra chủ yếu trong qúa trìnhdạy học.
Như vậy theo chúng tôi: Quản lý nhà trường là những tác động có mụcđích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng,phó hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường (giáo viên, nhân viên và họcsinh) nhằm đưa các hoạt động giáo dục, dạy học của nhà trường đạt mục tiêuphát triển đã đề ra của nhà trường
1.2.4 Quản lí trường tiểu học
1.2.4.1 Mục tiêu, vị trí của trường tiểu học
Điều 2, Điều lệ trường tiểu học xác định: “Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân, có tư cách pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng” [ 2 ].
Tiểu học là bậc học nền tảng trong việc hình thành, phát triển nhân cáchcon người Đó là cơ sở, là nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn
bộ hệ thống giáo dục quốc dân Trường tiểu học nhận học sinh từ 6 đến 14 tuổi,được đào tạo, giáo dục từ lớp 1 đến lớp 5
“Trường tiểu học lần đầu tiên tác động đến trẻ em bằng phương pháp nhà trường ( bao gồm cả nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục); nơi đầu tiên tổ chức một cách tự giác hoạt động học tập với tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em, nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ em và là nơi tạo cho trẻ em có nhiều niềm hạnh phúc’’ [26].
Mục tiêu của giáo dục tiểu học theo điều 27 Luật Giáo dục: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” [ 23 ].
1.2.4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của trưởng tiểu học
Điều 3, Điều lệ trường tiểu học quy định trường tiểu học có những nhiệm
vụ và quyền hạn sau:
Trang 18Tổ chức giảng dạy, học tập và hoạt động giáo dục đạt chất lượng theomục tiêu, chương trình giáo dục tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạoban hành.
Huy động trẻ em đi học đúng độ tuổi, vận động trẻ em tàn tật, khuyết tật,trẻ em đã bỏ học đến trường, thực hiện kế hoạch phổ cập giáo dục và chống mùchữ trong cộng đồng Nhận bảo trợ và quản lý các hoạt động giáo dục của các cơ
sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học theo sự phân côngcủa cấp có thẩm quyền Tổ chức kiểm tra và công nhận hoàn thành chương trìnhtiểu học của học sinh trong nhà trường và trẻ em trong địa bàn quản lý củatrường
Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, trang thiết bị và tài chính theoquy định của pháp luật
Phối hợp với gia đình, các tổ chức và cá nhân trong cộng đồng thực hiệnhoạt động giáo dục
Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh tham gia cáchoạt động xã hội trong cộng đồng
Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [2].Tiểu học là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, một thiếtchế xã hội quản lý quá trình đào tạo, thể hiện đầy đủ tính xã hội, tính khoa học,tính kỹ thuật và tính nghệ thuật Nhiệm vụ quản lý trường tiểu học là tổ chức chỉđạo, điều hành quá trình giảng dạy của thầy, hoạt động học tập của học sinh;quản lý những điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy học, nhằm đạtđược những mục đích của giáo dục xác định
1.2.5 Cán bộ quản lí trường tiểu học
1.2.5.1 Cán bộ quản lý
Ở nước ta theo cách hiểu thông thường, cán bộ được coi là tất cả nhữngngười thoát li, làm việc trong trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, quânđội Trong quan niệm hành chính, cán bộ được coi như những người có mứclương cán sự (cũ) trở lên để phân biệt với nhân viên có mức lương thấp hơn cán sự
Trang 19Nói đến "cán bộ" từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Cán bộ là người làm công tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước" [8].
Cho đến nay, dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp, các lĩnh vực
cụ thể có khác nhau, nhưng về cơ bản từ cán bộ bao hàm ý nghĩa chính của nó là
bộ khung, là nòng cốt, là chỉ huy Như vậy, có thể quan niệm một cách chungnhất, cán bộ là chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trongmột tổ chức, có tác động ảnh hưởng đến hoạt động của một tổ chức và các quan
hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triểncủa tổ chức
Tác giả Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm cho rằng khái niệm cán bộlãnh đạo được hiểu gồm 2 phần:
Thành phần thứ nhất được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm những ai giữchức vụ và trách nhiệm cao trong một tổ chức, có ảnh hưởng lớn đến hoạt độngcủa tổ chức, của bộ máy, có vai trò tham gia định hướng, điều khiển hoạt động của
bộ máy
Thành phần thứ 2 trong khái niệm cán bộ lãnh đạo là người cầm đầu các tổchức Họ là nhóm lãnh đạo ở tầm vĩ mô Thế giới hiện đại gọi đây là nhóm lãnhđạo chính trị quốc gia Ở nước ta nhóm lãnh đạo chính trị ở tầm quốc gia nàycòn gọi là lãnh đạo cao cấp, chủ chốt
Theo cách hiểu thông thường và khá phổ biến ở nước ta, hai khái niệm cán
bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý gắn liền với nhau, đều được hiểu là những người
có chức vụ, có trách nhiệm điều hành và cầm đầu trong một tổ chức Nội hàmcủa hai khái nhiệm này có những điểm giống nhau: cả cán bộ lãnh đạo và cán bộquản lý đều có vai trò định hướng, điều khiển hoạt động của cả bộ máy và là chủthể ra quyết định điều khiển hoạt động của một tổ chức Người cán bộ quản lýcũng phải thực hiện chức năng lãnh đạo và người cán bộ lãnh đạo cũng phảithực hiện chức năng quản lý Tuy nhiên khái niệm cán bộ lãnh đạo và cán bộ
quản lý không hoàn toàn đồng nhất với nhau Trong từ điển tiếng Việt, từ "lãnh đạo" được định nghĩa là: "Đề ra chủ trương, đường lối và tổ chức, động viên thực hiện" [8] Như vậy trong quá trình lãnh đạo, hoạt động chủ yếu là định
Trang 20hướng cho khách thể thông qua hệ thống cơ chế, đường lối, chủ trương chính
sách Còn khái niệm "quản lý" từ điển tiếng Việt định nghĩa là: "Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định" [8] Như vậy, hoạt động
quản lý mang tính điều khiển, vận hành thông qua những thiết chế có tính pháplệnh được quy định từ trước
Theo tác giả Nguyễn Phú Trọng-Trần Xuân Sầm: " Cán bộ quản lý còn được hiểu với nghĩa tương đương như thuật ngữ manager trong tiếng Anh Đó
là người điều hành, nhà quản lý Họ là những người có chức trách và nhiệm vụ điều khiển, tổ chức và phối hợp thực hiện hoạt động chuyên môn trong một khâu, một công đoạn, một chương trình, một dự án" [27].
Nói đến "đội ngũ" từ điển tiếng Việt định nghĩa: "Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp, thành một lực lượng" [8].
Căn cứ vào đó đưa ra định nghĩa đội ngũ cán bộ quản lý trường học là lực lượngtập hợp những người đứng đầu nhà trường cùng chung nhiệm vụ, trách nhiệmquản lý trường học
Cán bộ quản lý trường học là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, là người chịutrách nhiệm trước nhà nước về trọng trách quản lý nhà trường và thực hiện đồng
bộ tất cả các nội dung định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạotrong sự vận hành chung của hệ thống quản lý giáo dục
1.2.5.2 Cán bộ quản lý trường tiểu học
Căn cứ vào các khái niệm trên ta có thể hiểu: Cán bộ quản lý là nhữngngười có chức vụ, có vai trò và cương vị nòng cốt trong một tổ chức thuộc hệthống giáo dục Người CBQL là người có trách nhiệm phân bố nhân lực và cácnguồn lực khác, chỉ dẫn sự vận hành của bộ phận hay toàn bộ tổ chức giáo dục
để tổ chức hoạt động có hiệu quả và đạt được mục đích
CBQL trường tiểu học là người đại diện cho nhà nước về mặt pháp lý, cótrách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính và chuyên môn, chịu trách nhiệmtrước cơ quan quản lý cấp trên về tổ chức và các hoạt động giáo dục của trườngtiểu học CBQL trường tiểu học có vai trò ra quyết định quản lý, tác động điềukhiển các thành tố trong hệ thống nhà trường tiểu học nhằm thực hiện mục tiêu,
Trang 21nhiệm vụ giáo dục và đào tạo được quy định bằng pháp luật hoặc bằng các vănbản hướng dẫn do các cấp có thẩm quyền ban hành.
- Hiệu trưởng: Hiệu trưởng là thủ trưởng đơn vị do nhà nước bổ nhiệm
bằng một văn bản pháp quy theo chế độ phân cấp hiện hành Với tư cách là thủtrưởng trường học, Hiệu trưởng là người: Đại diện cho nhà trường về mặt pháplý; là người thay mặt nhà trường chịu trách nhiệm pháp nhân trước luật pháp nhànước; có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về hành chính, chuyên môn trongtrường; chịu trách nhiệm trước nhà nước, nhân dân tổ chức và quản lý toàn bộhoạt động của nhà trường theo đường lối giáo dục của Đảng; có đầy đủ nhiệm
vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng được quy định trong Điều lệ trường tiểu học[26] Hiệu trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thựchiện kế hoạch dạy học, giáo dục từng năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thựchiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trongnhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó Đề xuất các thành viên của Hội đồngtrường trình cấp có thẩm quyền quyết định;
Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng,thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theoquy định;
Quản lý hành chính; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính,tài sản của nhà trường;
Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếpnhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỷ luật, phêduyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chứckiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhàtrường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; thamgia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp vàcác chính sách ưu đãi theo quy định;
Trang 22Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị
- xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục; Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối vớicộng đồng [2]
- Phó Hiệu trưởng: Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng và
chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng, do Chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện bổnhiệm đối với trường công lập, công nhận đối với trường tư thục theo đề nghịcủa Trưởng phòng giáo dục và đào tạo Phó Hiệu trưởng có trách nhiệm vàquyền hạn sau đây:
Chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công;
Điều hành hoạt động của nhà trường khi được Hiệu trưởng uỷ quyền;
Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; thamgia giảng dạy bình quân 4 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp vàcác chính sách ưu đãi theo quy định [2]
1.3 CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.3.1 Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý
Theo từ điển tiếng Việt: "Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật" hoặc "chất lượng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc) làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật ( sự việc) khác" [8].
Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) ISO 8402: "Chất lượng là tập hợp những đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó có khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn”.
Như vậy, vận dụng quan điểm này vào việc đánh giá chất lượng cán bộ nóichung và đội ngũ CBQL giáo dục nói riêng thì cần phải so sánh kết quả các hoạtđộng cán bộ đó với các quy định hay những mục tiêu của các hoạt động theochức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của họ
Trang 23Đội ngũ được hiểu là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năngnhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống(tổ chức).
Chất lượng đội ngũ được hiểu là những phẩm chất và năng lực cần có củatừng cá nhân và cả đội ngũ để có một lực lượng lao động người đủ về số lượng,phù hợp về cơ cấu và tạo ra những phẩm chất và năng lực chung cho đội ngũnhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của tổ chức
Chất lượng của CBQL giáo dục nói chung và CBQL trường tiểu học nóiriêng được cấu thành bởi những yếu tố phẩm chất và năng lực (đức và tài ) Xuấtphát từ đặc điểm và mục tiêu đào tạo của cấp học, CBQL trường tiểu học phải
có nhân cách tổng hoà của người giáo viên, là nhà tổ chức CBQL trường tiểuhọc là điểm tập chung chú ý của học sinh, phụ huynh, giáo viên Chính vì vậy,người quản lý phải gương mẫu, phải là “tấm gương sáng” trong nhà trường vềmọi mặt Người CBQL trường tiểu học trong thời đại mới cần có những phẩmchất và năng lực sau:
- Phẩm chất chính trị: Hiểu biết đường lối chủ trương chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước; nắm vững mục tiêu và nhiệm vụ của ngành, củanhà trường mà mình phụ trách; có khả năng thuyết phục cán bộ giáo viên, nhânviên chấp hành chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và quy định của cấptrên Có khả năng tự hoàn thiện, tự đánh giá kết quả công việc của bản thân,đánh giá cán bộ giáo viên, nhân viên theo tiêu chuẩn chính trị; biết biến nhậnthức chính trị của mình thành nhận thức của mọi người, tạo được lòng tin và lôicuốn mọi người tham gia
- Phẩm chất đạo đức, tác phong: Phải tuân thủ theo các chuẩn mực đạo
đức quy định, có ý thức rèn luyện đạo đức tác phong trong sinh hoạt cũng nhưtrong công tác; luôn tôn trọng và đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích cá nhân;
công bằng, dân chủ trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ tại đơn vị Có tác
phong làm việc khoa học, nói đi đôi với làm, sống hoà đồng với cán bộ giáoviên, có ý thức lắng nghe, biết thuyết phục và tin yêu cán bộ giáo viên trong đơn
vị Thực sự là nhà giáo dục, có uy tín với tập thể sư phạm, được cán bộ giáo
Trang 24viên, nhân viên và học sinh tôn trọng Biết quý trọng con người, quan tâm đến
đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ giáo viên, nhân viên và học sinh
Trung thực và thẳng thắn trong báo cáo với cấp trên và đánh giá cấp dưới Có ý
thức tiết kiệm chống lãng phí, tận tụy, có trách nhiệm đối với công việc, gươngmẫu trong lối sống và sinh hoạt
- Về kiến thức và năng lực chuyên môn: Nắm vững nội dung, chương trình,
phương pháp đặc trưng của các môn học ở bậc tiểu học Hiểu biết sâu sắcchuyên môn của bậc học, có khả năng giảng dạy tốt các bộ môn học bắt buộc ởtiểu học Có khả năng quản lý, chỉ đạo về chuyên môn Am hiểu tình hình pháttriển kinh tế xã hội ở địa phương Có ý thức tự học, tự bồi dưỡng để nâng caotrình độ Có kiến thức cơ bản về ngoại ngữ và Tin học Tích cực đổi mới phươngpháp dạy học, quan tâm đến các điều kiện phục vụ để nâng cao chất lượng giáodục và đào tạo Nắm vững các nguyên tắc, điều lệ về quản lý nhà trường, quản
lý giáo dục bậc tiểu học Có khả năng tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao tay nghềgiáo viên
CBQL là người đề ra mục tiêu và tổ chức thực hiện mục tiêu thông qua cán
bộ giáo viên trong trường Do đó đòi hỏi CBQL phải là người có bản lĩnh, cókhả năng nhạy cảm, linh hoạt, có khả năng quan sát, nắm được các nhiệm vụ từtổng thể đến chi tiết trong nhà trường để tổ chức cho nhà trường hoạt động mộtcách đồng bộ, có hiệu quả; biết sử dụng đúng tài năng của từng người, đánh giáđúng con người; biết xử lý các mối quan hệ ở trong và ngoài nhà trường Thểhiện qua các mặt cụ thể sau:
Có khả năng phân tích và dự báo, có tầm nhìn chiến lược và có năng lực tổchức thực hiện các giải pháp để thực hiện các nhiệm vụ của đơn vị; Có năng lựcquản lý hành chính, quản lý tài chính; Có năng lực quản lý đội ngũ, xây dựng tậpthể sư phạm đoàn kết, thống nhất; Có năng lực giao tiếp và làm việc khoa học; Cókhả năng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học; Có khả năng phân tích cáchoạt động giáo dục, thể hiện tính sư phạm trong việc tổ chức hoạt động; Có khảnăng vận động, phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia
sự nghiệp giáo dục; Có năng lực chỉ đạo, kiểm tra các hoạt động dạy học và các
Trang 25hoạt động khác trong trường; Quyết đoán và dám chịu trách nhiệm trong côngviệc; Có thái độ tích cực với cái mới, có tầm nhìn rộng, nắm bắt, xử lý thông tinchính xác, kịp thời.
Từ những yêu cầu vể phẩm chất năng lực của CBQL ở trên, từ thực tiễncho thấy: Trong giai đoạn nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đạihoá đất nước, mở cửa hội nhập quốc tế, người CBQL phải là người có phẩmchất và năng lực ngang tầm nhiệm vụ; có trình độ tư duy tổng hợp, có khả năngnhìn xa trông rộng, biết quy tụ được quần chúng Đó là điều kiện tiên quyết đểphát huy tốt hiệu suất, hiệu lực của tổ chức
CBQL không đủ đức độ, tài năng sẽ khó sử dụng được những người có trítuệ và phẩm chất cao hơn mình, sẽ không đủ hiểu biết để giao việc có hàmlượng trí tuệ cao tương xứng với trình độ của người dưới quyền, sẽ phát sinhnhững mâu thuẫn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, gây tâm lý chán nản, thiếuhứng thú trong công việc
CBQL trong nhiều trường hợp còn là mẫu hình của những người dướiquyền, là người có vị trí quan trọng đặc biệt trong tổ chức
1.3.2 Yêu cầu chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học
Chất lượng của đội ngũ CBQL phụ thuộc vào những thành tố có tính cấutrúc của đội ngũ nhân lực thể hiện qua mặt cơ cấu, số lượng, chất lượng, trình độđào tạo, thâm niên công tác, giới tính, dân tộc, như vậy yêu cầu chung đối vớiđội ngũ CBQL thể hiện ở các mặt chủ yếu sau:
- Về số lượng: Đủ theo quy định đối với từng hạng trường tiểu học ( theo
quy định trường hạng 1, hạng 2, hạng 3)
- Về cơ cấu: Cơ cấu đội ngũ được xem xét ở nhiều mặt Trong luận văn
này chúng tôi chỉ tập trung vào các mặt chủ yếu sau:
+ Độ tuổi và thâm niên: Hài hoà về độ tuổi và thâm niên nhằm phát huyđược sức trẻ, vừa tận dụng được kinh nghiệm trong quá trình công tác
+ Giới: Cần phát huy được các ưu thế của nữ trong quản lý để phù hợp vớiđặc điểm của tiểu học ( có nhiều nữ )
Trang 26+ Chuyên môn được đào tạo: Có cơ cấu hợp lý về mặt chuyên môn cơ bảnđược đào tạo, về trình độ lý luận chính trị; đồng thời đảm bảo được chuẩn hoátrên chuẩn về chuyên môn được đào tạo.
Chất lượng được xem xét ở hai mặt phẩm chất và năng lực chung, có nghĩa
là phẩm chất và năng lực của đội ngũ CBQL được tích hợp từ phẩm chất vànăng lực của từng cá nhân
1.4 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘQUẢN LÝ
Theo từ điển tiếng Việt, giải pháp là: “ Phương pháp giải quyết một vấn đề
cụ thể nào đó” [8 ] Như vậy, nói đến giải pháp là nói đến những cách thức tác
động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một trạng tháinhất định , tựu trung lại nhằm đạt được mục đích hoạt động Giải pháp càngthích hợp, càng tối ưu, càng giúp con người nhanh chóng giải quyết những vấn
đề đặt ra Tuy nhiên để có được những giải pháp như vậy, chúng ta cần phải dựatrên những cơ sở thực tiễn đáng tin cậy
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học là nhữngcách thức tác động hướng vào việc tạo ra những biến đổi về chất lượng trong độingũ CBQL trường tiểu học
1.5 Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nêu rõ:
“Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của Đất nước, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [10]; “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực là yếu tố quyết định chất lượng bộ máy” [10] Và “Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ phải được ưu tiên Đầu tư cho một chất lượng mới của đội ngũ cán bộ chắc chắn là đầu tư có hiệu quả nhất cho tương lai của đất nước”
[29]
Trang 27Quan điểm đó nói lên vai trò rất quan trọng và then chốt của đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức đối với việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước trongsạch vững mạnh, vừa đặt ra yêu cầu trách nhiệm cao cho đội ngũ cán bộ, côngchức, viên chức phải phấn đấu vươn lên hơn nữa để đáp ứng đòi hỏi của sựnghiệp cách mạng
CBQL giáo dục là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ cán bộ của Đảng
và Nhà nước ta Việc nâng cao chất lượng CBQL nói chung và CBQL giáo dụcnói riêng trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng của các cấp các ngành
Trong thời gian qua công tác giáo dục và đào tạo của nước ta đã thu đượcnhững thành tựu to lớn Sự nghiệp giáo dục và đào tạo hiện nay đang đứng trướcmâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh, quy mô lớn với việc gấp rút nâng caochất lượng trong khả năng điều kiện còn hạn chế Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2,
Ban chấp hành Trung ương Đảng ( khoá VIII) đã nêu: “Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ, sắp xếp chấn chỉnh và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý giáo dục – đào tạo” [9] là một trong những giải pháp chủ yếu cho phát triển giáo
dục và đào tạo
Trường tiểu học nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học nền tảngcho giáo dục phổ thông Vì vậy, việc nâng cao chất lượng CBQL là một vấn đềlớn để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, nhằm phát triển giáo dục và đàotạo
Nhận thức rõ vai trò của đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và CBQL
trường học nói riêng, tại một hội thảo lớn của ngành đã thống nhất: “Quản lý giáo dục là một nghề, cán bộ quản lý có tay nghề giỏi là nguồn tài sản vô giá của ngành, quý hơn các nguồn tài sản về tài lực, vật lực, nhân lực đại trà mà ngành đang có” [3] Lao động của CBQL giáo dục có các thuộc tính sau đây:
Lao động phức tạp đa dạng, phải huy động trí tuệ, sự mẫn cảm đối với công việc.Trách nhiệm cá nhân cao trong tiến trình đào tạo hiện hành và bước pháttriển tương lai của nhà trường, có ảnh hưởng đến nhiều thế hệ Sản phẩm củaCBQL giáo dục có tác động rất lớn đến xã hội, kinh tế, chính trị, văn hoá
Trang 28Quá trình xây dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã cho tanhận thức: Có nhân tố vật lực, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nhàtrường; có đội ngũ giáo viên đông đảo Quản lý hội tụ cả ba nhân tố trên, quản
lý có trách nhiệm điều phối, sử dụng sao cho có hiệu quả nhất
Quản lý yếu kém là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạngyếu kém của giáo dục trong những năm qua Việc tạo dựng nâng cao chất lượngđội ngũ CBQL mới, giỏi, đa năng là trách nhiệm lâu dài của toàn ngành và mọicấp Nâng cao chất lượng CBQL trường học nói chung và trường tiểu học nóiriêng nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà trường của chúng ta trong thế kỉ XXI
là việc làm cần thiết Đội ngũ CBQL cần đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu, cóphẩm chất và năng lực ngang tầm nhiệm vụ, CBQL cần được chuẩn hoá CBQLgiỏi phải được coi là một trong những tiêu chí hàng đầu để xây dựng một nhàtrường phát triển đáp ứng được yêu cầu của xã hội
1.6 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC NÂNG CAO CHẤTLƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.6.1 Quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL
Một trong những nhiệm vụ của quản lý là thực hiện công tác quy hoạch,
nó có tác dụng làm cho người quản lý và cơ quan quản lý biết được về số lượng,chất lượng, độ tuổi, trình độ và cơ cấu chuyên môn, giới tính, của từng CBQL và
cả đội ngũ CBQL; đồng thời xây dựng được kế hoạch phát triển đội ngũ; nhằmtìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng (phẩm chất và năng lực) cho từngCBQL và cả đội ngũ để họ có được khả năng hoàn thành và hoàn thành tốtnhiệm vụ Quan trọng hơn kết quả quy hoạch là cơ sở chủ yếu mang tính địnhhướng cho việc vận dụng và thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý vàohoạt động quản lý bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân sự giáo dục trong các trườngtiểu học Như vậy quản lý đội ngũ CBQL là phải thực hiện công tác quy hoạchphát triển đội ngũ Đây là nhiệm vụ rất quan trọng để nâng cao chất lượng độingũ Quy hoạch phát triển đội ngũ là một lĩnh vực cần đề xuất giải pháp quản lý
để nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học
Trang 291.6.2 Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển đội ngũ CBQL
Tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, sử dụng và luân chuyển đội ngũ cán
bộ công chức nói chung và CBQL nói riêng là công việc thuộc lĩnh vực công tác
tổ chức cán bộ Tuyển chọn, bổ nhiệm chính xác các CBQL có đủ phẩm chất vànăng lực cho một tổ chức là yếu tố quan trọng để phát triển tổ chức nói chung vàthực chất là điều kiện tiên quyết cho tổ chức đó đạt đến mục tiêu của nó Mặtkhác, những tiêu chuẩn cho việc tuyển chọn, bổ nhiệm CBQL lại là những yêucầu tất yếu cho việc thực hiện nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
Miễn nhiệm CBQL là đưa ra khỏi đội ngũ CBQL những cá nhân không đápứng được các điều kiện về năng lực phẩm chất hay một điều kiện khách quankhác thực chất là làm cho đội ngũ CBQL luôn đảm bảo các yêu cầu về chuẩnđội ngũ, không để cho đội ngũ CBQL có những thành viên không đủ yêu cầu.Điều đó cũng đồng nghĩa là nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
Luân chuyển (bao hàm cả điều động) CBQL có tác dụng làm cho chấtlượng đội ngũ được đồng đều trong các tổ chức, mặt khác lại tạo điều kiện thoảmãn các nhu cầu của CBQL Hai mặt tác dụng trên gián tiếp làm cho chất lượngđội ngũ CBQL được nâng lên
1.6.3 Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CBQL
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL nhằm hoàn thiện và nâng caocác tiêu chuẩn và trình độ lý luận chính trị, lý luận và thực tiễn quản lý, trình độchuyên môn nghiệp vụ cho từng CBQL và các đội ngũ CBQL chính từ đó màđội ngũ CBQL có đủ các điều kiện mang tính tự thân trong việc hoàn thànhnhiệm vụ và thực thi chức năng, quyền hạn quản lý
Như vậy để nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL thì không thể thiếu đượchoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và đây cũng chính là giải pháp khảthi để nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường tiểu học nói riêng
1.6.4 Chế độ chính sách đối với cán bộ quản lý
Để đảm bảo cho hoạt động bình thường của con người thì con người phảiđược đáp ứng các yêu cầu vật chất, tinh thần thiết yếu nhất Nếu hoạt động có
Trang 30hiệu quả cao hơn thì con người phải được đáp ứng các yêu cầu cao hơn kể cả vậtchất lẫn tinh thần Đối với cán bộ quản lý do đặc thù công việc phức tạp nên nhucầu để đạt được hiệu quả công việc cao cần hơn những cán bộ bình thường khác.Chính vì vậy mà việc có chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với đội ngũ CBQL thìchất lượng đội ngũ CBQL được nâng lên Như vậy để nâng cao chất lượng độingũ CBQL thì phải có chế độ chính sách đãi ngộ thoả đáng với đội ngũ CBQL
và đây là một giải pháp khả thi tiếp theo
1.6.5 Đánh giá chất lượng đội ngũ CBQL
Đánh giá là một trong những chức năng của công tác quản lý Đánh giáchất lượng đội ngũ CBQL là một trong những công việc không thể thiếu đượctrong công tác quản lý của các cơ quan quản lý và các chủ thể quản lý nói chung
và công tác tổ chức cán bộ nói riêng
Đánh giá đội ngũ không những để biết thực trạng mọi mặt của đội ngũ màcòn qua đó nhận biết được các dự báo về tình hình chất lượng đội ngũ cũng nhưvạch ra những kế hoạch khả thi đối với hoạt động nâng cao chất lượng đội ngũ.Mặt khác kết quả đánh giá CBQL nếu chính xác lại chính là cơ sở cho việc mỗi
cá nhân có sự tự điều chỉnh bản thân nhằm thích ứng với tiêu chuẩn đội ngũ.Như vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung và CBQL nói riêngkhông thể không nhận biết chính xác về chất lượng đội ngũ thông qua hoạt độngđánh giá đội ngũ, từ đó mà việc đánh giá chất lượng đội ngũ CBQL là một giảipháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL
Trang 31Kết luận chương 1.
Tổng quan của vấn đề nghiên cứu, một số khái niệm về chất lượng đội ngũCBQL trường tiểu học, những yêu cầu chủ yếu về chất lượng đội ngũ CBQLtrường tiểu học; những yếu tố tác động đến việc nâng cao chất lượng đội ngũCBQL trường tiểu học
- Để nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL trường tiểu học phải quan tâm đếnnhững yếu tố tác động tích cực đồng nghĩa với nó có thể là những giải pháp khảthi gồm: Lĩnh vực quy hoạch phát triển đội ngũ CBQL; Lĩnh vực tuyển chọn, bổnhiệm, miễn nhiệm sử dụng và luân chuyển đội ngũ CBQL; Lĩnh vực đào tạo,bồi dưỡng đội ngũ CBQL; Chế độ chính sách đối với đội ngũ CBQL; Lĩnh vựcđánh giá chất lượng đội ngũ CBQL;
- Việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL các trường tiểu học gắn liền với
sự nhận biết chính xác thực trạng về các lĩnh vực quản lý nêu trên để từ đó đềxuất những giải pháp khả thi cho mỗi lĩnh vực Những nhiệm vụ này chúng tôi
sẽ trình bày ở chương 2 và chương 3
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TIỂU HỌC Ở HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HOÁ
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI ỞHUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, văn hóa xã hội
Lang Chánh là một huyện vùng cao trong 11 huyện miền núi của tỉnhThanh Hóa Toàn huyện có 10 xã và 1 Thị Trấn, chia thành 99 làng bản, khuphố Tổng số dân toàn huyện 48.716 người gồm 3 dân tộc sinh sống: Kinh13,7%, Thái 54%, Mường 32,3% Cả 8 xã vùng cao có nhiều sông suối chia cắt,giao thông đi lại khó khăn, xã xa nhất cách trung tâm huyện gần 60 km, có khu
lẻ cách trung tâm xã từ 15-20 km Do đó ảnh hưởng lớn đến việc phát triển kinh
tế - văn hóa - xã hội nói chung và công tác giáo dục - đào tạo nói riêng
Tổng diện tích tự nhiên của huyện 61.658 ha, cơ cấu kinh tế của huyệnđược xác định là " Lâm - nông - tiểu thủ công nghiệp và du lịch" (Nghị quyết đạihội huyện Đảng bộ lần thứ 21) 10/11 xã, Thị trấn chủ yếu là trồng, khai tháclâm sản và nông nghiệp Tập quán lao động sản xuất còn mang nặng tính tự túc,
tự cấp, năng suất lao động còn thấp bình quân đạt 28 tạ/ha Qua điều tra quý IInăm 2011 toàn huyện có 6.122 hộ nghèo trong tổng số 10.705 hộ, tỷ lệ đóinghèo 57,07% Đến năm 2010 mức thu nhập bình quân đầu người 350USD/năm
Nghị quyết đại hội Đảng bộ lần thứ 21 của huyện đặt ra chỉ tiêu phấn đấugiảm tỷ lệ đói nghèo xuống 15% vào năm 2015 Các hộ đói nghèo hầu hết vẫntập trung ở các xã vùng sâu, vùng cao, sự phân hóa giàu nghèo đang có xuhướng tăng lên giữa các tầng lớp dân cư và các vùng trong huyện Trước thựctrạng đó các cấp ủy, chính quyền từ huyện đến xã đang tích cực chỉ đạo bằngnhiều biện pháp trên cơ sở phát huy nội lực và tranh thủ sự giúp đỡ của Nhànước nhằm đạt mục tiêu đề ra đến năm 2015 Vốn văn hóa truyền thống cổtruyền của các dân tộc được tôn trọng, kế thừa và phát huy, phong trào xây dựnglàng bản văn hóa, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư đang được các cấp, cácngành quan tâm chỉ đạo
Các làng bản, các xã được tổ chức lễ hội truyền thống thường xuyên nhằmgiáo dục thế hệ trẻ, tưởng nhớ tới cội nguồn, nâng cao tinh thần trách nhiệm đốivới quê hương và góp phần giao lưu văn hóa của cộng đồng các dân tộc trong huyện
Trang 33Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục, thể thao được tổ chức và duy trì ởhầu hết các làng, xã, góp phần nâng cao sức khỏe và đời sống tinh thần cho nhân dân.Bên cạnh những tiến bộ còn những hạn chế:
Trình độ dân trí chưa cao, thiếu nguồn cán bộ kỹ thuật Số cán bộ trình độCao đẳng, Đại học ít
Ở các xã vùng cao đồng bào còn nhiều lạc hậu: Ma chay, bói toán, tảo hôn.Nhìn chung tình hình văn hóa - xã hội ở miền núi còn nhiều vấn đề phức tạp vànặng nề, đòi hỏi sự nỗ lực và cố gắng của các cấp, các ngành, trong đó ngànhgiáo dục đóng vai trò quan trọng
Trong những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là
sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Lang Chánh cùng với sự quan tâm giúp đỡ củacấp trên, nhân dân trong huyện đã luôn đoàn kết cùng nhau khắc phục khó khăngian khổ, phát huy ý chí tự lực tự cường, thực hiện tốt các chủ trương chính sáchcủa Đảng và Nhà nước, từng bước vươn lên đạt nhiều kết quả trong các lĩnh vựckinh tế - xã hội, An ninh - Quốc phòng, đời sống nhân dân có phần được cảithiện Đây là điều kiện cơ bản góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạocủa huyện phát triển và đạt những kết quả cao hơn
Thực hiện Nghị quyết huyện Đảng bộ Lang Chánh khóa 19, 20, 21 và Nghịquyết TW2 khóa 8 sự nghiệp giáo dục và đào tạo huyện Lang Chánh đã có bướcphát triển, tạo đà cho sự phát triển những năm sau
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Các xã trên địa bàn huyện có vị trí quan trọng trong chiến lược bảo vệ Quốcphòng - an ninh của huyện Lang Chánh và tỉnh Thanh Hoá Kinh tế các xã trênđịa bàn huyện đã có nhiều chuyển biến đáng kể, kết cấu hạ tầng các xã có nhiềuđổi mới, đồng bào các dân tộc được cải thiện Tuy nhiên, sự phát triển kinh tếcác xã trên địa bàn huyện vẫn còn chưa theo kịp các địa phương khác trongvùng, kết cầu hạ tầng còn rất nhiều khó khăn, cụ thể như sau:
Trong những năm qua kinh tế của huyện tăng trưởng liên tục, bình quângiai đoạn 2006 – 2010 đạt 7,3 %, nhưng vẫn thấp hơn so với bình quân chungcủa cả tỉnh (10,5%/năm)
Trong đó: nông, lâm nghiệp: 6,57 %; công nghiệp - xây dựng: 8,64 %; dịch
vụ là: 6,69%
Thu nhập bình quân đầu người năm 2010: 3,5 triệu/người/năm (180 USD),bằng 1/3 thu nhập bình quân của tỉnh (575 USD)
Trang 34Cơ cấu kinh tế: Lang Chánh là huyện miền núi đặc biệt khó khăn, có nềnkinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp; Công nghiệp - Tiểu thủcông nghiệp - Xây dựng và dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp
Trình độ sản xuất của người dân: còn nhiều lạc hậu, thiếu thông tin về khoahọc kỹ thuật, thị trường, giá cả
Trong những năm qua kinh tế lâm nghiệp được khôi phục và phát triển,từng bước hình thành và phát triển các trang trại đồi rừng, vườn rừng Công táctrồng rừng tập trung, chăm sóc rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh và rừngđầu nguồn đạt kết quả, góp phần vào tăng trưởng kinh tế của huyện; cải thiệnmôi trường sinh thái, hạn chế chống xói mòn, rửa trôi đất, tạo cảnh quan thiênnhiên phát triển bền vững Đến năm 2011 toàn huyện đã xây dựng được 7 môhình vườn rừng, trại rừng, sản xuất nông – lâm kết hợp với quy mô trêm 20 ha.Công tác khám chữa bệnh có những bước tiến bộ Các mục tiêu chươngtrình y tế quốc gia, khám chữa bệnh miễn phí theo chính sách ưu đãi của Nhànước đối với người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số đãđược quan tâm thực hiện Công tác y tế dự phòng được quan tâm, nhiều nămkhông có dịch lớn xảy ra trên địa bàn huyện Công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ
và trẻ em ngày càng được coi trọng
Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng có giảm nhưng chậm (năm 2005:3,49%; năm 2011: 2,1%)
Tồn tại lớn nhất trong công tác y tế là đội ngũ cán bộ y bác sỹ vừa thiếu cả
về số lượng và chuyên môn
Đến nay toàn huyện có 11/11 xã, thị trấn có trạm Y tế; 4/11 xã, thị trấn(36,4%) đạt chuẩn quốc gia về Y tế, 99 thôn bản đều có cán bộ y tế thôn, bản; có
7 trạm y tế xã có bác sỹ (63,6 %); bình quân toàn huyện có 31 bác sỹ (6,4 bácsỹ/vạn dân); số giường bệnh/vạn dân là 27,17 giường
Toàn huyện khai trương 106 cơ quan, đơn vị văn hoá, có 61 đơn vị đượccông nhận là đơn vị văn hoá (trong đó có 52/99 làng văn hoá, 10 làng văn hoácấp tỉnh)
Công tác TDTT được duy trì, tổ chức tốt các đợt Hội thao tại huyện vàtham gia thi đấu các giải cấp tỉnh
Công tác truyền thanh - Truyền hình: có 4 trạm tiếp sóng truyền hình củađài truyền hình Việt Nam, với thời lượng thu - phát từ 5 giờ 30 phút đến 23 giờ
30 phút/ngày/ trạm và phát song song 2 kênh VTV1 và VTV3
Trang 35Tỷ lệ hộ được nghe Đài tiếng nói Việt Nam là 90,0%
Tỷ lệ hộ được xem truyền hình của đài truyền hình Việt nam đến nay là75,6% (Kể cả được xem bằng các hệ thống thu chảo vệ tinh loại nhỏ của các hộgia đình tự đầu tư)
Số xã xây dựng được nhà văn hoá: 03 xã
Số nhà văn hoá thôn, bản được xây dựng: 31 nhà
Tỷ lệ dân số huyện tập thể dục, thể thao thường xuyên: 16%
Trong hoạt động văn hoá ở vùng dân tộc thiểu số vẫn còn tình trạng mê tín
dị đoan, thủ tục cưới hỏi, ma chay còn nhiều nghị lễ kéo dài và tốn kém làm ảnhhưởng lớn đến đời sống nhân dân Bản sắc văn hoá dân tộc ít được lớp thanhthiếu niên quan tâm giữ gìn và phát huy Chưa có chính sách đặc thù cho cácnghệ nhân, già làng thực hiện công việc truyền thụ, phổ biến các giá trị văn hoá.2.2 KHÁI QUÁT VỀ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOHUYỆN LANG CHÁNH
2.2.1 Về chất lượng giáo dục và đào tạo
Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, giáo dục Lang Chánh phát triểncùng với nền giáo dục cách mạng của toàn tỉnh và của cả nước
Những ngày đầu cách mạng tập trung vào thanh toán nạn mù chữ Đến 30
-12 - 1959 huyện Lang Chánh đã được Chính phủ công nhận hoàn thành thanhtoán nạn mù chữ Đến năm 1989 trong điều tra dân số, tỷ lệ người mù chữ chỉcòn 22,4% 5 năm sau, 1994 số người mù chữ còn lại ở huyện là 4.678 người (sốngười trong độ tuổi xóa mù chữ, từ 15 - 35 tuổi)
Sự quan tâm phát triển giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông cũng luônluôn được đặt thành một trọng tâm công tác lớn Từ năm 1951 ngành đã mở mộtlớp sư phạm để đào tạo giáo viên cho miền núi Cùng với phong trào “xungthượng” (xung phong lên miền núi) của giáo viên các huyện miền xuôi, bản đồgiáo dục Lang Chánh đã lấp được khá nhiều chỗ trống ở cấp I Những năm hòabình lập lại trên miền Bắc, việc đào tạo cán bộ cho miền núi triển khai đồng bộ
cơ cấu Giáo dục 3 ngành học là một trọng tâm công tác của toàn ngành Năm
1963 tỉnh Thanh Hoá thành lập trường sư phạm cấp I, 1964 thành lập trường sưphạm cấp II miền núi Năm 1969 mở thêm 2 trường sư phạm cấp I nữa và mộttrường sư phạm 4+3 cho vùng cao Trong khoảng thời gian 1960 cho đến nay sựxuất hiện của các trường Văn hóa tập trung, Thanh niên dân tộc, Dân tộc nội trú
ở miền núi chính là để giáo dục của huyện phát triển ngày càng tốt hơn
Trang 36Nếu như kết thúc kháng chiến chống Pháp, huyện Lang Chánh chưa có cấp
II, 1 trường cấp I thì ngay trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, gần như tất cả các
xã đều có trường lớp từ mẫu giáo đến cấp I , cấp II (gọi chung là trường phổthông cơ sở), chưa có trường tiểu học Sau khi sáp nhập với huyện Ngọc Lặcnăm 1978 và được chia tách năm 1982 tất cả các xã trong huyện đều có trườngphổ thông (từ mầm non, đến cấp 1, cấp 2), toàn huyện có 1 trường cấp 2, 3 nộitrú và Trung tâm Bồi dưỡng giáo viên vừa làm công tác bồi dưỡng đội ngũ giáoviên vừa làm công tác Bổ túc văn hoá cho học viên và xoá mù chữ Đến nămhọc 1994 - 1995 các trường phổ thông được tách ra thành 8 trường mẫu giáo, 3trường mầm non, 15 trường tiểu học, 11 trường THCS, vẫn còn tồn tại trườngcấp 2, 3 Lang Chánh nhưng chủ yếu là công tác đào tạo học sinh nội trú và tiểuhọc Năm 2000 các trường mẫu giáo được đầu tư nâng cấp chuyển thành trườngmầm non, trường cấp 2, 3 Lang Chánh được chia tách thành trường THCS Dântộc Nội trú Lang Chánh nâng tổng số trường THCS lên 12 trường và 1 trườngTHPT Lang Chánh
Từ 1990 đến nay, tiếp nhận chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước,ngành giáo dục huyện Lang Chánh đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân huyện vàtrực tiếp chỉ đạo thực hiện nhiều hoạt động nhằm phát triển sự nghiệp giáo dụccủa huyện có chiều sâu và hiệu quả hơn nữa Đó là:
Các chính sách đối với giáo viên công tác miền núi, từ chế độ phụ cấplương, cấp phát trang bị đến chế độ nghỉ hè hàng năm
Thực hiện phân tán, chia nhỏ đến tận các chòm bản xa xôi để thuận tiện chocon em đi học Cấp sách giáo khoa cho học sinh vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh.Đầu tư cơ sở vật chất, ưu tiên xây dựng trường lớp trang thiết bị Xây dựnghoàn chỉnh trường THCS Dân tộc Nội trú huyện
Đến năm học 2010-2011, huyện Lang Chánh có 1 trường THPT, 12 trườngTHCS, 15 trường tiểu học, 11 trường mầm non 100% các trường từ bậc mầmnon đến tiểu học đều là các trường công lập Có 10 trường đạt chuẩn Quốc gia(25,6%) 100% các xã có Trung tâm học tập cộng đồng
Qua đó, thấy rõ đặc thù của sự phát triển giáo dục tại đây mang tính chấtcông lập, chủ yếu là đầu tư của Nhà nước; các trường công lập với mức thu họcphí thấp và miễn hoàn toàn đối với học sinh dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu.Công tác xã hội hoá giáo dục tại đây mang đặc thù rất riêng, có nhiều khó khăntrong quá trình thực hiện, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của
Trang 37giáo dục Do đó, cần phải xác định vai trò của ngành giáo dục trong công tácđịnh hướng, tổ chức, phát triển giáo dục, nhất là vai trò chủ đạo trong việc thựchiện công tác xã hội hóa giáo dục tại huyện, một khu vực mà sự phát triển pháttriển giáo dục còn chậm so với các khu vực khác trong tỉnh.
2.2.1.1 Quy mô trường lớp
Bảng 2.1: Thống kê trường lớp, học sinh mầm non, tiểu học, trung học cơ sở
Bậc học
Năm học
Sốtrường
Sốlớp
SốHS
Sốtrường
Sốlớp
SốHS
Sốtrường
Sốlớp
SốHS
( Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá)
Nhìn chung mạng lưới trường lớp được sắp xếp hợp lý, đảm bảo yêu cầucho việc học tập của học sinh Giữ vững và ổn định quy mô phát triển cả ba bậchọc, làm tốt công tác huy động và duy trì sĩ số học sinh trong từng năm học ở cáccấp học
Bảng 2.2: Tỉ lệ huy động học sinh qua các năm
( Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá)
2.2.1.2 Chất lượng giáo dục và đào tạo
Giáo dục mầm non: Trong 5 năm trở lại đây, số trẻ được huy động đến lớpđạt tỷ lệ ngày càng cao Đến nay, tỷ lệ huy động trẻ đến lớp nhà trẻ đạt 30,4%;
tỷ lệ trẻ đến lớp mẫu giáo đạt 89% Số trẻ 5 tuổi đến lớp đạt 100%
Trang 38Giáo dục phổ thông: Chất lượng giáo dục năm sau cao hơn năm trước.Trong 5 năm qua số học sinh giỏi cấp tỉnh có 270 em, cấp huyện 2 865 em.Huyện Lang Chánh đã có 100% số xã, thị trấn đạt phổ cập giáo dục tiểu họcđúng độ tuổi và đạt phổ cập giáo dục trung học cơ sở vững chắc.
Mầm non: Đạt chuẩn: 98,2%; trong đó trên chuẩn 57%
Tiểu học: Đạt chuẩn: 100%; trong đó trên chuẩn 59,8%
Trung học cơ sở: Đạt chuẩn: 98,6%; trong đó trên chuẩn 49%
2.2.1.3 Cơ sở vật chất
Trong những năm gần đây, Huyện uỷ, Uỷ ban nhân dân huyện LangChánh đã có nhiều chủ trương và biện pháp tích cực trong việc tăng cường cơ sởvật chất cho các trường học trong huyện Với phương châm nhà nước và nhândân cùng làm đến nay cơ sở vật chất của các trường đã cơ bản đáp ứng được vớiyêu cầu giáo dục
Bảng 2.4: Thống kê cơ sở vật chất mầm non, tiểu học, trung học cơ sở huyện Lang Chánh năm học 2010 – 2011.
Trang 39( Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá)
2.2.2 Thực trạng về chất lượng giáo dục tiểu học huyện Lang Chánh
2.2.2.1 Quy mô giáo dục tiểu học
Cùng với quá trình hình thành và phát triển của huyện Lang Chánh, đếnnay huyện Lang Chánh có 15 trường tiểu học Trong đó có 5 trường hạng I, 9trường hạng II và 1 trường hạng III Như vậy, quy mô các trường chủ yếu là quy
Số giáo viên
Tỉ lệ GV / lớp
Tỉ lệ học sinh HTCTTH
( Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá)
Hệ thống trường tiểu học huyện Lang Chánh được phân bố hợp lý ở cácđịa phương, theo mật độ dân số, phù hợp với quy hoạch Số lượng học sinh, sốlớp từ năm học 2006 – 2007 đến năm học 2010 – 2011 giảm dần
2.2.2.2 Đội ngũ cán bộ giáo viên tiểu học
Bảng 2.6: Đội ngũ cán bộ giáo viên các trường tiểu học huyện Lang Chánh
Trang 40Năm học Tổng
số
Nữ Đảng viên Trình độ chuyên môn
Đạt chuẩn Trên chuẩn Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
( Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hoá)
Đội ngũ cán bộ giáo viên trong những năm qua đạt chuẩn về trình độ ngàycàng cao Tỷ lệ Đảng viên ngày càng phát triển
Các cuộc vận động: “ Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”; “ Mỗi thầy côgiáo là một tấm gương tự học và sáng tạo” đã thực sự đi vào chiều sâu trong mỗinhà trường, mỗi cán bộ giáo viên Ý thức tự học, tự nghiên cứu, tích luỹ sángkiến kinh nghiệm được đông đảo giáo viên quan tâm Nhiều sáng kiến kinhnghiệm của cán bộ giáo viên được áp dụng rộng rãi trong huyện, trong tỉnh đạthiệu quả cao Hàng năm có nhiều chiến sĩ thi đua và giáo viên giỏi các cấp
Tuy vậy, xét về mặt chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên vẫn còn bất cập
ở một số phương diện Một bộ phận cán bộ giáo viên kiến thức chưa vững vàng,phương pháp giảng dạy chậm đổi mới, hiệu quả giáo dục đạt thấp Tỷ lệ giáoviên đứng lớp đến nay tính theo Thông tư 35 chưa đủ và còn bất cập về số giáoviên các môn học đặc thù, các trường chưa có giáo viên Tin học và cán bộ Y tếhọc đường; một số cán bộ thư viện và thiết bị trường học còn kiêm nhiệm,không được đào tạo đúng chuyên môn
2.2.2.3 Về chất lượng giáo dục tiểu học