1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống văn hoá cơ sở ở hà tĩnh

107 817 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống văn hóa cơ sở ở Hà Tĩnh
Tác giả Lê Thị Loan
Người hướng dẫn PGS.TS Đinh Xuân Khoa
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Quản lý giáo dục
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nổi bật trong di sản văn hóa làng Hà Tĩnh là nghĩa gia tộc, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, tinh thần đoàn kếttương thân tương ái, tính chịu thương chịu khó, biết khắc phục và c

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng đại học vinh

Một số giải phỏp nõng cao chất lượng cụng tỏc giỏo dục nếp sống văn

hoỏ cơ sở ở Hà Tĩnh là đề tài mà tụi rất tõm huyết Trờn cơ sở lý luận, vốn

kiến thức đó được tiếp thu trong quỏ trỡnh học tập và nghiờn cứu, dưới sựgiảng dạy, hướng dẫn của cỏc giảng viờn, cỏc nhà khoa học, sự cộng tỏc giỳp

đỡ của cỏc đồng nghiệp và cỏc tư liệu, tài liệu được sử dụng Luận văn tốtnghiệp của tụi đó được hoàn thành

Trang 2

Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, côgiáo, các nhà khoa học trường Đại học Vinh đã tận tình giảng dạy và giúp đỡtôi trong quá trình học tập Xin cảm Sở Văn hoá, Thể thao và du lịch, cảm ơnbạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tạo điều kiện cho tôi học tập,nghiên cứu và hoàn thành luận văn.

Đặc biệt, tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với

PGS.TS Đinh Xuân Khoa - người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận

tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luậnvăn này

Mặc dù hết sức cố gắng, nhưng luận văn là một công trình nghiên cứuvới khả năng của bản thân, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót,rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ dẫn của quí thầy, cô, các nhà khoahọc và ý kiến đóng góp chân tình của các bạn đồng nghiệp

Xin trân trọng cảm ơn !

Vinh, tháng 12 năm 2010

Lê Thị Loan

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 3

PHẦN MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA

9 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 9

1.2 Một số khái niệm cơ bản 13

1.3 Về vấn đề xây dựng và giáo dục dục nếp sống văn hóa ở cơ sở 14

1.4 Di sản hương ước làng xã truyền thống ở Hà Tĩnh: giá trị tinh hoa và những điểm hạn chế.

17 1.5 Công tác truyền thông trong việc giáo dục nếp sống văn hóa

40 Kết luận chương 1 43

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA CƠ SỞ Ở HÀ TĨNH

44 2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế XH của tỉnh Hà Tĩnh 44

2.2 Qui ước văn hóa mới trong đời sống văn hóa cơ sở ở Hà Tĩnh 48

2.3 Quá trình thực hiện cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" ở Hà Tĩnh.

56 2.4 Thực trạng ứng dụng của công tác truyền thông trong công tác giáo dục NSVH ở cơ sở

74 Kết luận chương 2 78

CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HOÁ

80 3.1.Nguyên tắc đề xuất giải pháp (hoặc quy trình, hoặc mô hình) 80

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 80

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 81

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 81

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi. 82

3.2 Hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống văn hóa tại Hà Tĩnh.

82 3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí công tác quản lý và giáo dục nếp sống văn hoá cơ sở tại Hà Tĩnh

82

Trang 4

3.2.2 Nhóm giải pháp về hoàn thiện chính sách công tác quản lý và

giáo dục nếp sống văn hoá cơ sở tại Hà Tĩnh

86 3.2.3 Nhóm giải pháp về tài chính phục vụ công tác quản lý và giáo dục nếp sống văn hoá cơ sở tại Hà Tĩnh

88 3.2.4 Nhóm giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực cho công tác quản lý và giáo dục nếp sống văn hoá cơ sở tại Hà Tĩnh.

89 3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 89

3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các giải pháp đề xuất

90 Kết luận chương 3 93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 101

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

QƯVH: Quy ước văn hóa

NSVH: Nếp sống văn hóa

UBMTTQVN: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

UBND: Ủy ban Nhân dân

Đoàn TNCSHCM: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí MinhXDLVH: Xây dựng làng văn hóa

LVH: Làng văn hóa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hà Tĩnh là một tỉnh nằm ở vùng Bắc Trung bộ, với diện tích 6.019

km2, dân số gần 1,3 triệu người, phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An; Nam giáp tỉnhQuảng Bình, Đông giáp biển Đông với 137 km bờ biển, Tây giáp nước bạnLào với 145 km đường biên giới Là vùng địa linh nhân kiệt, giàu truyềnthống cách mạng và văn hóa, nơi đây đã sinh ra những danh nhân mà tên tuổigắn liền với hành trình lịch sử dân tộc, được lưu danh muôn đời: Nguyễn Du,Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Biểu, Nguyễn Huy Tự, Đặng Dung, Đặng Tất,Bùi Cầm Hổ rồi đến Phan Đình Phùng, Trần Phú, Hà Huy Tập, Xuân Diệu,Huy Cận, Lê Văn Thiêm, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Phan Chánh

Hà Tĩnh là một vùng đất có sứ mạng đặc biệt trong bước đường đi vềphương Nam của người Việt, là ranh giới cực Nam của quốc gia Đại Việt suốtmột thời kỳ lịch sử dài lâu, trong tương quan với vương quốc Champa và saunày là trong cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn Văn hóa làng xã, trong bối cảnh

đó, chính là môi trường nuôi dưỡng bản lĩnh, bản sắc văn hóa Việt một cáchbền bỉ, mạnh mẽ ở vùng đất địa đầu, tiếp tục trở thành bàn đạp cho quá trình

đi về phương Nam của người Việt Nổi bật trong di sản văn hóa làng Hà Tĩnh

là nghĩa gia tộc, truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, tinh thần đoàn kếttương thân tương ái, tính chịu thương chịu khó, biết khắc phục và chế ngựhoàn cảnh để vươn lên không ngừng, sự chi phối của định chế dư luận xã hội

“một người làm quan cả họ được nhờ, một người làm nhơ cả họ chịu tiếng”,

“mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” v.v

Hà Tĩnh là một trong những địa phương nghèo của miền Trung và thựctrạng đó ở làng quê càng diễn ra khốc liệt hơn bởi vấn đề đô thị hóa không nổibật, rời làng lên phố tìm kiếm việc làm diễn ra phổ biến, thường xuyên

Dưới tác động của kinh tế thị trường, nhiều giá trị đạo đức, gia phongtruyền thống đã có sự vận động và biến đổi phức tạp Bên cạnh những giá trị

Trang 7

đạo đức mới, nếp sống văn hoá gắn liền với quá trình phát triển kinh tế thịtrường, đã có những giá trị đạo đức, gia phong truyền thống bị xâm hại và cónguy cơ mai một Thực tế tại nhiều nơi, nhất là ở các đô thị lớn, gia đình đã

có những dấu hiệu của sự khủng hoảng Các mối quan hệ gia đình, nếp sốnggia phong truyền thống đang bị lấn át bởi những quan hệ hàng hoá, thị trường,lợi nhuận, bởi những lối sống lai căng, xa lạ của một số bộ phận Trong bốicảnh đó, vấn đề giáo dục đạo đức và nếp sống văn hoá gia đình truyền thốngđang trở nên bức bách và hết sức cần thiết

Giáo dục đạo đức và nếp sống văn hoá gia đình truyền thống cho mọingười trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiệnnay phải biết gìn giữ và phát huy các giá trị tinh hoa trong di sản văn hóatruyền thống ở cơ sở, đặc biệt là từ di sản hương ước lệ làng, kết hợp với côngtác tuyên truyền, vận động người dân tuân thủ chính sách, pháp luật của nhànước, các điều khoản của qui ước văn hóa mới, thực hiện qui chế dân chủ ở

cơ sở là phương thức hữu hiệu cho việc thực hiện cuộc vận động "Toàn dân

đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" trên địa bàn Hà Tĩnh.

- Giáo dục nếp sống văn hóa cơ sở không phải là một vấn đề mớinhưng trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi đề cập đến giá trị của hươngước - một nét văn hóa truyền thống trong đời sống nông thôn Việt trong việcgiáo dục nếp sống văn hóa cơ sở thông qua công tác truyền thông Đây là mộtvấn đề hoàn toàn mới chưa có công trình nào đề cập đến

Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn nội dung nghiên cứu Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống văn hóa cơ sở ở

Hà Tĩnh làm đề tài luận văn tốt nghiệp.

2 Mục đích nghiên cứu:

- Phát huy giá trị di sản văn hóa làng xã truyền thống trong bối cảnhthực hiện phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa trên địabàn Hà Tĩnh hiện nay

Trang 8

- Nâng cao chất lượng của công tác giáo dục nếp sống văn hóa cơ sở ở

Hà Tĩnh, đáp ứng được với điều kiện và xu thế phát triển của quê hương HàTĩnh trong bối cảnh hội nhập, tiến tới xây dựng và phát triển nền văn hóa ViệtNam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ở trên chính quê hương Hà Tĩnh

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu:

- Khách thể nghiên cứu là công tác quản lý và giáo dục nếp sống vănhóa tại Hà Tĩnh

- Đối tượng nghiên cứu là các giải pháp nâng cao chất lượng công tácgiáo dục nếp sống văn hóa tại Hà Tĩnh

4 Phạm vi nghiên cứu:

4.1 Về nội dung nghiên cứu: Xác định giá trị bản sắc văn hóa làng truyền

thống làm nền tảng căn bản để tập trung khảo sát sự tác động của công tác giáodục nếp sống văn hóa cơ sở ở Hà Tĩnh đến cuộc vận động xây dựng đời sống vănhóa mới dưới các khía cạnh: phương thức, vai trò và tác động ảnh hưởng

4.2 Về không gian khảo sát: khảo sát trên diện rộng tổng số 247 làng

xã truyền thống, để từ đó chọn điểm khảo sát phù hợp cho từng địa bàn, đặcbiệt là xem xét mối quan hệ biện chứng giữa hương ước xưa và qui ước vănhóa mới hiện nay, với 20 làng có hương ước xưa: Xuân Viên và Đan Tràng(Nghi Xuân); Phù Lưu, Trường Lưu, Vân Chàng, Ngọc Sơn (Can Lộc); Gia

Mỹ (Thạch Hà); Vĩnh Lại, Kim Nặc, Dương Ngoại, Lai Trung, Giang Phái vàVĩnh Lộc (Cẩm Xuyên); Nhân Canh, Hiệu Thuận (Kỳ Anh); Xuân Trì(Hương Sơn); Gia Bác, Phú Phong, Trung Hà, Thượng Trạch (Hương Khê)

5 Giả thuyết khoa học:

Công tác quản lý và giáo dục nếp sống văn hóa tại Hà Tĩnh hiện nay đãđược triển khai nhưng hiệu quả chưa cao Nếu được áp dụng những giải phápquản lý của chúng tôi thì công tác trên sẽ từng bước được cải thiện, đáp ứngnhững yêu cầu đã đặt ra

Trang 9

6 Nhiệm vụ nghiên cứu:

6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài, định hướng cho nghiên cứu thực

tiễn và đề xuất giải pháp bao gồm làm rõ các khái niệm: Chất lượng, chất lượng

giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục, văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc, nếp sống văn hóa, lối sống văn hóa, di sản văn hóa, hương ước, hương lệ.

6.2 Nghiên cứu thực trạng của công tác quản lý và giáo dục nếp sốngvăn hóa tại Hà Tĩnh

6.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếpsống văn hóa tại Hà Tĩnh

7 Phương pháp nghiên cứu:

Với mục đích tìm ra những lời giải mang tính thuyết phục cho phần giảthuyết khoa học, chúng tôi chọn lựa phương pháp thực tiễn làm phương phápnghiên cứu của luận văn gồm:

7.1 Phương pháp điều tra và thống kê xã hội học: Thực hiện việc thu

thập tư liệu, xử lý thông tin tư liệu thông qua điều tra xã hội học (phiếu điềutra, trao đổi nhóm, xác suất thống kê )

7.2 Phương pháp điền dã dân tộc học: quan sát tham dự, phỏng vấn

(phỏng vấn nhanh, phỏng vấn hồi cố) thực tế tại địa bàn

7.3 Phương pháp thu thập dữ liệu cơ sở: Thu thập các nguồn tài liệu cóliên quan, xem xét vấn đề trong mối quan hệ lịch đại, đồng đại (nhất là sosánh, xem xét trong mối quan hệ với các tỉnh khác ở miền Trung)

8 Đóng góp của luận văn:

8.1 Hệ thống lại những giá trị bản sắc đặc trưng của văn hóa làng HàTĩnh thông qua hệ thống hương ước, hương lệ

8.2 Đánh giá được thực trạng của công tác quản lý và giáo dục nếpsống văn hóa tại Hà Tĩnh

Trang 10

8.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếpsống văn hóa tại Hà Tĩnh.

9 Cấu trúc của luận văn:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị luận văn được kết cấu thành

ba chương:

Chương I: Một số vấn đề lý luận về giáo dục nếp sống văn hoá

Chương II: Thực trạng giáo dục nếp sống văn hoá ở Hà Tĩnh

Chương III: Hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dụcnếp sống văn hoá cơ sở ở Hà Tĩnh

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Có thể nói giáo dục nếp sống văn hóa là một khái niệm mới về mặt hình thức ngôn ngữ, gắn liền với sự ra đời và phát triển của phong trào Toàn dân

đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa (TDĐKXDĐSVH) Tuy nhiên, nội hàm

khái niệm của nó lại rất gần gũi và phù hợp, thậm chí là ở mức độ tương

đồng với khái niệm phong hóa, thuần phong mĩ tục từ trong truyền thống,

mà ở đó, hương ước là một nội dung đặc biệt quan trọng

Trước hết, cần khẳng định rằng hương ước chưa hẳn đã là “luật làng”

mà chính là “luật nước ở làng”, có nghĩa nó biểu hiện một cách rõ nét nhất,

cụ thể và sinh động nhất, trở thành sự hiện diện mang đầy ý nghĩa biểutượng của nhà nước ở cấp độ cơ sở, chính là làng Tuy nhiên, điểm khác biệt

cơ bản và cũng chính nhờ đó, tạo nên được giá trị mang tính bản sắc đặctrưng của hương ước là từ luật nước, đã cụ thể hóa thành những điều khoản

cụ thể, phát xuất từ và phù hợp với phong tục tập quán mỗi một làng xã Chonên, nội dung hương ước của từng làng là hoàn toàn không giống nhau vàchính từ đó, nêu bật lên được những giá trị tinh hoa, đầy bản sắc của văn hóalàng xã, thông qua hương ước

Hơn nữa, nếu như luật pháp chú trọng yếu tố “lý” và “luật” thì hương

ước lại thiên về trọng tình Mọi biểu hiện cụ thể của đời sống làng quê Việtđều được cụ thể hóa với nhiều điều khoản, thành văn lẫn bất thành văn, chonên mới có khái niệm hương ước và hương lệ Trong giới hạn của lệ làng,cái tình được ưu tiên chú trọng trước tiên và trong những trường hợp căng

thẳng vượt khỏi khả năng hòa giải, giải quyết, mới “giải lên quan”

Hương ước trong mối quan hệ với cơ cấu tổ chức làng xã cổ truyền làvấn đề được các học giả Pháp quan tâm trong bối cảnh xã hội Việt Nam hồi

Trang 12

cuối thế kỷ XIX - đầu XX Điều đó được thể hiện rõ nét qua các công trình

Essair sur les moeurs et l’institution du peuple annamite (G.Bouchet, 1896), Les paysans du delta tonkinois (P.Gourou, 1936), La commune annamite

(H.Landes, 1880), La commune annamite au Tonkin (P.Ory, 1899)

Về sau, nhiều công trình ở Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đề cập đến vấn

đề này trong đối sánh cũng như nghiên cứu độc lập, như Luật và xã hội Việt

Nam thế kỷ XVII - XVIII (Insun Yo, 1994) v.v Trên cơ sở các công trình

nghiên cứu lệ làng Nhật Bản cũng như các công trình ở Nhật Bản nghiên cứu

về hương ước Việt Nam, Hương ước làng xã Việt Nam với luật làng Kanto

Nhật Bản thế kỷ XVII - XIX (Vũ Duy Mền, 2001) đã đi sâu phân tích đặc

trưng và nét tương đồng giữa luật làng Kanto Nhật Bản và hương ước ViệtNam trên nhiều phương diện

Giá trị phong hoá của hương ước được nhiều tác giả quan tâm từ đầu thế

kỷ XX Ðáng chú ý là có thể coi đây như là một công cụ hữu hiệu của nềngiáo dục dân gian và mặt khác, vẫn được xem xét dưới góc độ pháp luật

Kể từ sau năm 1975, vấn đề này càng có điều kiện được quan tâm nghiêncứu nhiều hơn, trong bối cảnh quá trình nghiên cứu về làng xã được đẩymạnh Trong bối cảnh chung như vậy, hương ước là một vấn đề lớn, rất được

quan tâm, như các công trình Thư mục hương ước Việt Nam, Hương ước cổ

Hà Tây Ðặc biệt là các công trình cấp nhà nước, các nghiên cứu chuyên sâu,

như Một số định hướng quản lý nông thôn được phản ánh trong hương ước

cải lương của các làng thuộc huyện Chương Mỹ đầu thế kỷ XX (Nguyễn

Quang Ngọc, KX 0809: Thiết chế chính trị xã hội nông thôn), Hương ước

-khoán ước trong làng xã (Vũ Duy Mền, Bùi Xuân Ðính), Nguồn gốc và điều kiện xuất hiện hương ước trong làng xã ở vùng đồng bằng trung du Bắc bộ

(Vũ Duy Mền), Lệ làng và ảnh hưởng của nó đến pháp luật hiện đại (Diệp Ðình Hoa), Hương ước, sản phẩm của văn hoá làng (xét từ một số bản hương

ước, khoán ước ở Trị - Thiên Huế) (Bùi Thị Tân) Minh hoạ rõ nét là sự đóng

Trang 13

góp đặc biệt của công trình Lệ làng phép nước, Hương ước và quản lý làng

xã (Bùi Xuân Ðính).

Trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa, tỉnh Hà Bắc tiên phong tổ

chức hội thảo Xây dựng quy ước làng văn hoá ở Hà Bắc (1993) Nhiều bài viết cũng đi sâu phân tích trên nhiều phương diện: Một vài suy nghĩ về các bản hương

ước trước Cách mạng Tháng Tám 1945 (Luật học, 3/1983), Người nông dân và pháp luật (Bùi Xuân Ðính, Luật học, 4/1984), Một vài suy nghĩ về hiện tượng tái lập hương ước ở nông thôn hiện nay (Bùi Xuân Ðính, NN & PL, 2/1993)…

Trên địa bàn các tỉnh miền Trung, vấn đề hương ước được chú trọng khơidậy, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, biên khảo địa phương, với

sự ra đời đồng loạt của nhiều công trình như Hương ước Thanh Hoá (2000),

Hương ước Nghệ An (1998), Hương ước Quảng Ngãi (1996)…

Những vấn đề trọng tâm nêu trên còn được bổ sung, xem xét một cách kỹlưỡng trên cơ sở đối sánh diện rộng với các tỉnh khác thuộc khu vực Bắc

Trung bộ, từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế thông qua hội thảo về Văn hóa

truyền thống các tỉnh Bắc Trung bộ, tháng 12/1994 (Nxb KHXH, 1997).

Trong bối cảnh thực hiện phong trào xây dựng nếp sống văn minh, giađình văn hóa, từ năm 1992, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có quyết định thành lậpBan chỉ đạo thực hiện cuộc vận động Vấn đề phát huy di sản văn hóa truyềnthống làng xã trong cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa mới ở Hà Tĩnhđược đặt ra một cách cấp thiết Nhờ đó, nhiều hội nghị, hội thảo và công trìnhkhoa học được đặt ra Từ tháng 6 năm 1995, Sở VHTT tỉnh Hà Tĩnh đã tổ

chức hội thảo Văn hóa làng và xây dựng làng văn hóa Hà Tĩnh, với mục tiêu

nghiên cứu văn hóa làng như là một hướng tìm về cội nguồn, mang đậm ýnghĩa khoa học lẫn thực tiễn trong việc xây dựng con người mới, đặc biệt làxây dựng nông thôn mới hiện nay Các tham luận đều tập trung vào các nộidung nghiên cứu chính yếu, xây dựng xây dựng làng văn hóa là mục tiêu phấn

Trang 14

đấu của nhân dân, của xã hội, trong đó phải có sự kế thừa biện chứng nhữnggiá trị tinh hoa từ trong di sản truyền thống và tiếp thu những giá trị mới mộtcách sáng tạo.

Cũng với tinh thần đó, chỉ một năm sau, công trình Hương ước Hà Tĩnh

(Võ Quang Trọng…, 1996) ra đời trên cơ sở sưu tầm, khảo sát di sản hươngước Hà Tĩnh để bước đầu công bố tập sách biên khảo về 20 bản hương ướctruyền thống còn lại của các làng quê Hà Tĩnh Mặc dù phần nghiên cứu giới

thiệu chỉ rất ngắn gọn, thuần túy mang tính chất “tổng thuật” và chủ yếu là

dịch thuật, nhưng có thể nói công trình này sẽ là nguồn tài liệu tham khảo quíbáu, thiết thực trong việc kế thừa di sản hương ước truyền thống trong quátrình soạn thảo, thực hiện qui ước văn hóa mới của cuộc vận động xây dựnglàng văn hóa, gia đình văn hóa trên địa bàn Hà Tĩnh

Đặc trưng lịch sử - văn hóa xứ Nghệ được Viện Nghiên cứu Văn hóa

Dân gian quan tâm từ lâu, tiêu biểu là công trình Địa chí văn hóa dân gian

Nghệ Tĩnh của tập thể các nhà nghiên cứu đầu ngành (Nguyễn Đổng Chi Chb,

1995) Trong đó, vấn đề phong tục tập quán, nếp sống thuần mĩ được đi sâu

nghiên cứu kỹ, đặc biệt là ở phần bảy Phong tục tập quán dân gian, với nhiều

phong tục tập quán, lễ nghi liên quan đến chu kỳ đời người, cộng đồng cư dânlàng xã, tấp quán tín ngưỡng nghề nghiệpv.v…

Cũng liên quan đến vấn đề này, cần phải kể đến các công trình khảo cứuchuyên sâu công phu của nhiều tác giả khác, đặc biệt như Ninh Viết Giao,Thái Kim Đỉnhv.v…, trên những vấn đề rất cụ thể, thiết thực liên quan đến

vấn đề hương ước trong bối cảnh xã hội hiện đại, như “Hương ước với vấn đề

xây dựng giữ gìn nếp sống trật tự, an ninh, văn hóa lành mạnh trong làng xã

xứ Nghệ” hay “Từ hương ước đến quy ước trong xã hội ngày nay”

Công trình Di tích danh thắng Hà Tĩnh của Trần Tấn Thành (1997) đã giới

thiệu tổng quan hệ thống di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và danh

Trang 15

lam thắng cảnh trên địa bàn Hà Tĩnh Tương tự là kết quả của cả một quá trìnhkhảo sát, nghiên cứu dài lâu, tác giả Thái Kim Đỉnh đã biên soạn nhiều công

trình rất có giá trị như Làng cổ Hà Tĩnh (2000); Các nhà khoa bảng Hà Tĩnh (2004); Lễ hội dân gian ở Hà Tĩnh (2005) v.v

Những công trình đó là cơ sở thiết thực cho việc kế thừa và phát huy giátrị di sản hương ước trong cuộc vận động xây dựng đời sống văn hoá hiện naytrên địa bàn Hà Tĩnh

1.2 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1 Chất lượng: Chúng tôi xem xét vấn đề dưới góc độ phát triển bền

vững, chú trọng nội dung, chất lượng của công tác hơn là tính chất hình thứcnổi trội của phong trào Khái niệm chất lượng, nói cụ thể, chính là hiệu quả

1.2.2 Chất lượng giáo dục: Chất lượng giáo dục chính là sự giáo dục, quá

trình giáo dục, phương thức giáo dục có chất lượng, lấy chất lượng làm đầu

1.2.3 Nâng cao chất lượng giáo dục: Nâng cao chất lượng giáo dục là

quá trình không ngừng cải tiến phương thức giáo dục nhằm mang lại hiệu quảcủa quá trình giáo dục một cách cao nhất, thiết thực nhất, cho cả cộng đồng

1.2.4 Văn hóa: Văn hóa, hiểu một cách cô đọng nhất, chính là thế ứng xử,

phương thức ứng xử của con người trước môi trường sống (tự nhiên, xã hội)

1.2.5 Bản sắc văn hóa dân tộc: Bản sắc văn hóa là những nét đặc trưng

riêng có trong thế ứng xử trước môi trường sống của mỗi một cộng đồng, từlàng xã cho đến quốc gia, dân tộc Tất cả, trở thành dấu hiệu nhận biết, biểutượng khi xem xét vấn đề trong tương quan với các cộng đồng người khác

1.2.6 Nếp sống văn hóa, lối sống văn hóa: Trong một không gian văn

hóa, một vùng văn hóa hay một nền văn hóa, chủ thể con người thống nhấtqui định nên một hệ thống chuẩn mực ứng xử trong mối quan hệ giữa người

và người, giữa con người với môi trường tự nhiên Mọi sự tuân thủ đó sẽ

Trang 16

được cộng đồng tôn trọng, vinh danh, và ngược lại, nếu vi phạm sẽ bị lên án.

Sự thực hành qui chuẩn đó trong đời sống nhân sinh, định hình nên nếp sốngvăn hóa, lối sống văn hóa Suy cho cùng, đó chính là nếp sống, lối sống phùhợp với chuẩn mực đạo đức, luân lý và pháp lý của cả cộng đồng, gọi là nếp

sống, lối sống “có văn hóa” (cũng có thể gọi là nếp sống, lối sống văn minh).

1.2.7 Di sản văn hóa: Di sản văn hóa là thành tựu văn hóa con người

tạo dựng nên suốt chiều dài lịch sử và để lại cho hậu thế, bao gồm di sản vănhóa vật chất và di sản văn hóa phi vật chất

1.2.8 Hương ước, hương lệ: Sự hình thành nên hệ chuẩn mực ứng xử

của cộng đồng làng xã và quá trình thực hiện nó đòi hỏi phải được cụ thể hóathành những điều khoản thành văn và bất thành văn, chúng tôi thống nhất gọi

lần lượt thành “hương ước” (thành văn) và “hương lệ” (bất thành văn).

1.3 Về vấn đề xây dựng và giáo dục dục nếp sống văn hóa ở cơ sở

Là một nước nông nghiệp, đi lên chủ nghĩa xã hội từ nền tảng xã hộiphong kiến - thuộc địa nên xây dựng và giáo dục nếp sống văn hóa ở cơ sở là mộtvấn đề trọng tâm của cuộc cách mạng dân chủ nhân dân, nhằm góp phần từngbước xây dựng xã hội mới trên nền tảng con người mới Nếp sống mới, do vậy,được đặt ra một cách cấp thiết, ngay từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945

Dưới bút danh Tân Sinh, từ đầu năm 1947, Hồ Chủ tịch đã có tác phẩm

Đời sống mới với mục đích xây dựng nếp sống mới, khi xác định rằng “người là gốc của làng, nước Nếu mọi người đều cố gắng làm đời sống mới, thì nhất định dân tộc sẽ phú cường”, bởi kháng chiến phải đồng thời với kiến quốc, “thực hành đời sống mới là một điều cần kíp cho công cuộc kiến quốc và cứu quốc”

[13, tr 3, 8]

Thực hành đời sống mới, theo tinh thần đó là phải gắn liền với Cần,Kiệm, Liêm, Chính Điều đó hoàn toàn không mới và tư tưởng chủ đạo ở đâycũng được xác định rất biện chứng bởi đời sống mới không hẳn cái gì cũ cũng

Trang 17

bỏ hết và không phải cái gì cũng làm mới mà phải tiến hành mọi sự ứng xử, lễnghi sao cho có chừng mực, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đương thời:

bỏ những cái cũ mà xấu, sửa đổi lại những cái cũ phiền phức cho hợp lý, cũ màtốt thì phải phát huy, cái hay mà mới thì phải thực hành và nhân rộng Tất cả đềunhằm mục đích làm cho đời sống nhân dân được tốt đẹp hơn, đầy đủ về vật chất,vui mạnh về tinh thần Khái niệm đời sống mới được áp dụng cho mỗi một cánhân, trong môi trường gia đình, cộng đồng làng xã, mỗi một cơ quan, trườnghọc, và cả trong môi trường sản xuất

Khái niệm giáo dục nếp sống mới được chỉ ra rất rõ ràng:

"Trước hết phải tuyên truyền, giải thích và làm gương Phải chịu khó nói

rõ cho mọi người hiểu đời sống mới có ích thế nào Nói một lần họ chưa hiểu thìnói nhiều lần Nói đi, nói lại, bao giờ người ta hiểu, người ta làm mới thôi Nóithì nói một cách đơn giản, thiết thực với hoàn cảnh mỗi người; nói sao cho người

ta nghe rồi làm làm được ngay Việc dễ, việc nhỏ làm được rồi, sẽ nói đến việc

to, việc khó " [13, tr 14 - 26, 23]

Nghị quyết Đại hội VII của Đảng đã nêu rõ:

"Xây dựng gia đình văn hóa có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiệnnay, góp phần phát triển lực lượng sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống, thựchiện kế hoạch hóa gia đình, dân số, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạođức văn hóa tốt đẹp của dân tộc Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối vớimọi tầng lớp người, kết hợp và phát huy vai trò của xã hội, đoàn thể, nhà trường,tập thể lao động và tập thể dân cư trong việc chăm lo bồi dưỡng tình đồng chí,đồng đội, hình thành nhân cách cao đẹp, nếp sống có văn hóa" [51, tr 5]

Kỳ họp thứ tư BCH TW Đảng (tháng 01/1993) tập trung bàn nhiều vấn

đề về chiến lược con người, cụ thể với việc ban hành 05 nghị quyết quantrọng, trở thành định hướng cụ thể cho các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế,dân số kế hoạch hóa gia đình và công tác thanh niên Đặc biệt, nghị quyết

Trang 18

“Một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ những năm trước mắt” đã khẳng định:

“Nhiệm vụ trung tâm của văn hóa văn nghệ nước ta là góp phần xây dựng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng ngang tầm sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh” [51, tr 6] Sau đó, đến hội nghị lần thứ 5

của BCH TW Đảng, nghị quyết về xây dựng và phát triển đời sống nông thônđược ra đời, nhấn mạnh:

"Xóa nạn mù chữ, phấn đấu phổ cập cấp một, nâng cao dân trí Phát triển

hệ thống truyền thanh truyền hình, thư viện, nhà văn hóa ở nông thôn Đẩymạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, phátđộng rộng rãi phong trào TDTT, phát huy những truyền thống văn hóa tốtđẹp, thuần phong mỹ tục, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội, phát huytình làng nghĩa xóm, khuyến khích xây dựng và thực hiện các hương ước, cácqui chế và nếp sống văn minh ở các thôn xã" [51, tr 6]

Từ đó, Bộ VHTT xây dựng ba chương trình mục tiêu quốc gia, đượcChính phủ phê duyệt, thực sự đáp ứng yêu cầu cấp bách của xã hội, mang lạihiệu quả xã hội thiết thực, đặc biệt là chương trình xây dựng và phát triển đờisống VHTTcơ sở Nhờ đó, nhiều giá trị di sản văn hóa vật chất, tinh thần củanhân dân được khơi gợi, đánh thức, coi trọng giữ gìn và phát huy mạnh mẽ,nhất là phổ biến ở hầu khắp chốn làng quê

Phát huy truyền thống đạo lý Uống nước nhớ nguồn xuyên suốt trong

lịch sử văn hóa dân tộc, phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng, tâm lý - tâm thứccủa người dân và chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước…, tất cả đãdần phát triển mạnh mẽ xu hướng tìm về cội nguồn của cả dân tộc Phong tràoxây dựng làng văn hóa được định hình và phát triển ngày càng mạnh mẽ, thuhút sự quan tâm rộng khắp của toàn xã hội, trên cơ sở khẳng định, trân trọng

di sản văn hóa làng truyền thống, phát huy biện chứng giá trị di sản to lớn đóvới nếp sống văn minh trong bối cảnh xã hội ngày nay

Trang 19

Hà Tĩnh nói riêng và xứ Nghệ nói chung, từ xa xưa trong lịch sử văn hóadân tộc, dù chỉ là một vùng đất nghèo, khắc nghiệt nhưng đảm đương nhiềutrọng trách, sứ mạng đặc biệt quan trọng, định hình nên hệ giá trị mang đậmbản sắc và bản lĩnh của cộng đồng, trên một nền tảng căn bản là văn hóa làng

và đến lượt nó, lại dựa trên một nền tảng hạt nhân là văn hóa gia tộc

Làng quê có hương ước, theo phương châm nước có luật pháp, làng có lệlàng và thậm chí trong phạm vi gia tộc, vấn đề tộc ước hay gia phong, giagiáo… là tinh thần chủ đạo trong quá trình tạo lập và vận hành bản sắc vănhóa làng xã, dòng họ Tuy nhiên, mọi vấn đề đều có tính lịch sử tương ứngqua từng thời kỳ và đó chính là nền tảng căn bản cho việc kế thừa di sảnhương ước, tộc ước truyền thống có sự tham khảo hệ chuẩn mực giá trị mớiphù hợp với thời đại để định hình nên hương ước mới, qui ước văn hóa, tộcước… là vấn đề then chốt trong cuộc vận động xây dựng đời sống mới

1.4 Di sản hương ước làng xã truyền thống ở Hà Tĩnh: giá trị tinh hoa

và những điểm hạn chế

Trong quá trình nghiên cứu văn hóa làng xã truyền thống Việt trên dảiđất miền Trung, vấn đề tư liệu thành văn là một trong những khó khăn vàcũng là trở lực lớn nhất, cần phải được đặc biệt quan tâm giải quyết

Có thể sơ bộ nhận ra được một số nguyên nhân từ thiên tai, địch họa…Trên một vùng đất có sứ mạng biên viễn về mặt chính trị, quân sự, suốt mộtthời kỳ dài, trong bối cảnh tương quan giữa hai quốc gia Đại Việt và Champa,trên hành trình đi về phương nam của người Việt cùng bao diễn biến can qua,địch họa triền miên đã hủy hoại, làm tiêu tán nhiều di sản văn hóa vật thể,trong đó có các dạng tài liệu văn bản Thêm vào đó là sự tàn phá nặng nề củathiên nhiên khắc nghiệt: mưa gió bão bùng, khí hậu ẩm thấp…, càng tạo điềukiện thuận lợi cho nạn mối mọt hoành hành Tuy nhiên, từ thực tế khảo sáttrên địa bàn, từ những giá trị đặc trưng văn hóa làng xã truyền thống của vùng

Trang 20

đất, thiết nghĩ vẫn còn có thể có một nguyên nhân đặc biệt quan trọng phátxuất từ đây Trong đời sống hương thôn, lệ làng bất thành văn và dư luận xãhội chính là hành lang pháp lý, đạo đức tinh thần, thành khung qui chiếuchuẩn mực như một dạng luật bất thành văn Chỉ trong những thời điểm có

sự chỉ đạo từ triều đình, hoặc nội tình làng xã nảy sinh vấn đề căng thẳng,nhờ các bậc văn nho, tất cả mới được cụ thể hóa thành văn bản - quá trìnhvăn bản hóa Cho nên, không phải ngẫu nhiên mà cho đến hiện nay, số lượnghương ước thành văn ở Hà Tĩnh sưu tầm được cũng chỉ dừng lại ở con số 20,

là kết quả của một chương trình nghiên cứu, sưu tầm công phu của ViệnVHDG và Sở VHTT Hà Tĩnh từ năm 1990, chủ yếu được sưu tầm từ cácviện nghiên cứu, trung tâm lưu trữ tại Hà Nội (Thư viện Viện TTKHXH,Viện Nghiên cứu Hán Nôm…), bằng cả chữ Hán Nôm lẫn Quốc ngữ [64].Xét về địa bàn phân bố, có thể thấy một số thông tin cơ bản như sau:

- Huyện Nghi Xuân có hai bản: Xuân Viên và Đan Tràng

- Ở Can Lộc có bốn bản: Phù Lưu, Trường Lưu, Vân Chàng, Ngọc Sơn

- Huyện Thạch Hà có một bản: Gia Mỹ

- Huyện Cẩm Xuyên có sáu bản: Vĩnh Lại, Kim Nặc, Dương Ngoại, LaiTrung, Giang Phái và Vĩnh Lộc

- Huyện Kỳ Anh có hai bản: Nhân Canh, Hiệu Thuận

- Huyện Hương Sơn có một bản: Xuân Trì

- Ở Hương Khê có bốn bản: Gia Bác, Phú Phong, Trung Hà, Thượng Trạch

Về thời điểm ra đời, phần lớn hương ước ở Hà Tĩnh thuộc về hương ướccải lương, có nghĩa là ra đời từ đầu thế kỷ XX, trong bối cảnh cải lươnghương chính ở Việt Nam nói chung và Trung kỳ nói riêng

Tuy nhiên, trên thực tế là ngay trong lời nói đầu của các bản hương ước,

đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích, cho thấy sự xuất hiện sớm của hương

Trang 21

ước thành văn ở làng quê Hà Tĩnh Hương ước Vĩnh Lại (Cẩm Xuyên) chobiết từ thời Lê, làng xã đã có hương ước nhưng tiêu tán bởi trải bao thời taoloạn, đặc biệt dưới thời Tây Sơn Mãi đến năm Tự Đức thứ 11 (1858), làng xãmới tập trung thu thập lại được 19 điều khoản và đến năm Khải Định thứ 3(1918), đã hoàn chỉnh thành một bản hương ước có tới 40 điều khoản.

Ngoài ra, vẫn có một số bản hương ước được ra đời trong thế kỷ XIX Đó là

hương ước Xuân Viên (Nghi Xuân) ghi rõ được soạn này 10/11/Thiệu Trị 7

(1847), sao lại ngày 1/9/Bảo Đại 17 (1942) Hương ước Phù Lưu Thượng

(Can Lộc) soạn thảo ngày 11/8/Tự Đức 7 (1854), do cố Tuần phủ Mai đạinhân, cố Ngự sử Phan đại nhân đặt ra các điều khoản, sao lại nguyên bản

ngày 10/8/Bảo Đại 17 (1942) Hương ước Vĩnh Lại (Cẩm Xuyên) có từ năm

Tự Đức thứ 11 (1588), sau đó bổ sung vào năm Khải Định thứ 3 (1918) Điều

lệ Nhân Canh (Kỳ Anh) từ năm Tự Đức thứ 14 (1861), được bổ sung năm Tự

Đức thứ 22 (1869), và sao lại năm Bảo Đại 17 (1942) Hương ước thôn Xuân

Trì (Hương Sơn) soạn năm Tự Đức thứ 20 (1867) Điều lệ Hiệu Thuận (huyện

Kỳ Anh) được soạn thảo từ năm Tự Đức thứ 32 (1879), sao lại năm 1942.Xem xét vấn đề hương ước trong bối cảnh lịch sử văn hóa làng Việt miềnTrung, có thể nhận thấy nhiều nét khác biệt Ở đây, dấu ấn địa lý Hoành Sơncòn mang thêm nhiều ý nghĩa, như là một hàng ranh phân định giữa xứ Nghệ

và dải đất Bình Trị Thiên 20 bản hương ước thành văn trên mảnh đất nhỏ hẹpnày - nếu tính luôn cả xứ Nghệ thì chí ít, cũng có tới 40 bản [24, tr 79] vàcàng có xu hướng nhiều hơn nếu tính ngược trở ra Bắc, đặc biệt là vùng châuthổ Bắc bộ, và trong đó, có nhiều bản ra đời từ thế kỷ XIX trở về trước… chothấy rất rõ tính chất làng Việt ảnh hưởng sâu sắc từ cái nôi làng Việt vùngchâu thổ Từ Hoành Sơn trở vào, số hương ước thành văn tìm thấy đến nay rấtkhiêm tốn, như trên dải đất ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa ThiênHuế, vẫn chỉ mới tìm ra được 16 bản hương ước, mà trong đó, phần nhiều lạiđược ra đời trong bối cảnh cải lương hương chính [60]

Trang 22

1.4.1 Giá trị tích cực

Mở đầu, các bản hương ước luôn có sự giới hạn quan niệm biên soạn,tình hình sao chép, chỉnh lý, nhất là luôn có sự tập trung đặc biệt nhằm nhấnmạnh đến nhu cầu bức thiết của xã hội làng trong việc định hình hương ước,với nhiều điều khoản cụ thể, rõ ràng, xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống, theo

tinh thần Quốc có quốc pháp, hương có hương đảng.

Hương ước Phù Lưu Thượng (Can Lộc) tuy ngắn gọn nhưng chứa đựng

cô đọng triết lý sống của cổ nhân, với phương châm: “Người xưa dạy rằng,

muốn hành đạo ở thiên hạ ắt khởi đầu từ hương đảng…” Hương ước nhằm

chú trọng tới việc “phân biệt trưởng ấu, định ra tôn ty rõ ràng, để phong tục

nhân luân được đầy đặn vậy” Ở đây, mối quan hệ giữa làng - nước, vai trò

của các bậc thức giả thâm Nho trong xã hội, cũng là mối quan tâm hàng đầubởi hương ước ra đời, suy cho cùng chính là

"… trên theo điển lệ hiến chương của triều đình, đã đủ lại rõ ràng; dướikhông bỏ sót qui ước riêng, quả là ngời ngời, hàng ngày không thể không lưutâm đến Nay có trưởng lão trí thức, kính lễ nghĩa, nổi tiếng tăm, nắm chắc kỷcương, dạy bảo người ta hướng về nơi sang sủa Sau đó muốn khiến cho dân tríđược mở mang, dân đức được đầy đặn, đó là lý do đặt ra lệ này" [64, tr 12].Phàm lệ và nguyên tắc định hình, vận hành hương ước là kết quả của cảmột quá trình tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng nhu cầu, khát vọng của dân làng,sao cho hương ước có tính xác thực và khả thi cao Sự đồng thuận đó mới là

cơ sở chính yếu

"Trên thì tuân theo quốc điển, dưới thì thuận lòng người, phàm điều gì cóliên quan đến nguyên nhân của phong hóa, như tế tự, khánh hạ, hôn hiếu…,nhất nhất đều đặt thành điều ước Việc xong, cùng liên danh ký tên, tuân thủ

để qui phạm được mở ra, lòng người được hiền thục, trở thành lệ tục của một

Trang 23

hương, đâu dám bừa bãi vượt lệ, làm việc riêng tư, đã có qui tắc hình luật củanhà nước Hạ bút thực dễ, thực thi mới khó" [64, tr 13].

Điều lệ xã Hiệu Thuận (Kỳ Anh) cũng chứa đựng nội dung lý luận thâm

sâu, mở đầu ghi rõ: “Trộm nói, làng có điều ước, giống như nước có điển

hiến Nước không có điển hiến không thể trị dân, làng không có điều ước, không thể thành phong tục” Truyền thống, theo hương ước, là thành quả có

được từ lâu đời, với sự tích tụ, gom góp của biết bao thế hệ bởi “các bậc anh

triết thời trước đã xây dựng nền móng truyền cho tới ngày nay, vốn không phải tiếp nối ngày một ngày hai ” Nhu cầu văn bản hóa các điều khoản là

nhu cầu thực tế phổ biến trong đời sống xã hội làng quê Việt:

"Phàm là làng có tục lệ hoặc đã có qui củ hẳn hoi nhưng không có bằngchứng rõ ràng có thể khảo cứu được Có thể chứng cớ bằng văn bản đã có nhưng

đã thất lạc rồi Muốn từ nay có việc bàn bạc, phải nhất nhất theo một chuẩn mực,nhưng tới nay điều đó chưa thể xác định Trước đây chưa từng lần nào bàn bạc

để qui định những khuôn thước để dựa vào mà thi hành, vì thế trên dưới khôngphân minh, lòng dân không cố định, sao có thể xây dựng được mỹ tục…

Cách đặt vấn đề ở đây rất biện chứng bởi không gì là bất biến mà phải

tìm hiểu, đặt định và vận dụng sao cho “tùy thời” - phù hợp không gian, bối cảnh xã hội Những điều được coi là “qui củ”, “hằng thức” vẫn khiêm tốn bởi điều đó “chưa dám nói là qui củ tốt gây rường dựng mối, có thể truyền

vạn đời nhưng sẽ tùy thời mà thi hành cho thích hợp Mong rằng sẽ trở thành một trật tự mới, cố định Điều lệ mới khởi thảo lần đầu, trong đó sợ rằng có chỗ chưa hoàn thiện, hãy đợi ở các bậc quân tử đời sau…”" [64, tr 13].

Hương ước Xuân Viên (Nghi Xuân) cho biết làng trước có tên cổ là ĐaViên Hương ước cũng có bối cảnh, nguyên nhân ra đời đặc biệt bởi sự thay

đổi của hoàn cảnh lịch sử: Trước phong tục kiệm ước, “tục còn sơ sài, chất

phác, chi phí ít và dễ thi hành Gần đây, tục lệ lại xa xỉ, chi phí nhiều mà khó

Trang 24

noi theo”, hơn nữa, đời sống khó khăn bởi mùa màng thất bát, kế sinh nhai

ngày một suy giảm… nên phải giảm bớt những chi phí không cần thiết, đểcủa cải giàu thêm mà vẫn tôn sùng lễ nghĩa, tục đẹp cũng vì vậy mà tồn tại.Tinh thần chung nổi bật trong nội dung hương ước là vấn đề lễ nghi, tế tự

và một số khía cạnh quan trọng trong việc bảo vệ cảnh quan môi trường sống,không gian thiêng của cộng đồng (đình, chùa, miếu vũ, bảo vệ ruộng đồng, ao

hồ, sông suối…) Cuộc sống người nông dân chốn làng quê truyền thống luônbao gồm hai không gian - hai môi trường sống thiết yếu: (1) môi trường vậtchất tự nhiên, gắn liền với không gian vật lý từ nhà cửa, ruộng vườn cho tớilàng xóm, và (2) môi trường tín ngưỡng tâm linh tinh thần, đi liền đó là cả hệthống những điều khoản, lệ định cụ thể khắt khe, định hình nên hệ chuẩn mựcđạo đức, luân lý, trở thành lẽ sống của mỗi thành viên cộng đồng Môi trường

xã hội đóng vai trò tiên quyết, thiêng liêng

Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà không gian thiêng gắn liền đời sốngtín ngưỡng tâm linh của cộng đồng được đặc biệt chú trọng hàng đầu trongnội dung các bản hương ước Nhu cầu và niềm tin tâm linh trong xã hội làngtruyền thống, là một thực tế hiển nhiên, có thể giúp cho con người hòa mình

và phần nào khắc phục hoàn cảnh, chế ngự hoàn cảnh để vươn lên, làm cho

con người “hòa” hơn trước cuộc sống nhiều khó khăn, cả trong đời sống vật

chất tự nhiên lẫn nhân quần xã hội, đặc biệt là trên một vùng đất suốt một thời

kỳ dài Trong điều kiện xã hội chưa thực sự có sự hoàn bị về hệ thống văn bảnpháp luật thì chính niềm tin tâm linh sẽ trở thành rào cản khả dĩ ngăn ngừa

mọi sự vượt rào, “lấn lễ” để từng bước tạo lập thói quen tuân thủ pháp luật.

Lệ làng trong trường hợp này, cũng đồng nghĩa và đồng nhất với phép nước ởcấp độ cơ bản nhất, cả trong đời sống hành chính lẫn tế lễ tinh thần Hoàntoàn không có sự đối nghịch, đối kháng hay mâu thuẩn ở đây bởi chỉ ở mức

độ quá nghiêm trọng, vượt ra khỏi chức năng nhiệm vụ và giới hạn của hương

ước thì làng xã mới chuyển giao lên cấp cao hơn, “giải lên quan”, lúc đó mới

Trang 25

dụng “hình luật” Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ trương xã hội hóa hiện

nay trong việc kêu gọi sự đầu tư ngân sách, công sức của cộng đồng, của toàn

xã hội trong việc trùng tu tôn tạo, bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa - cảnh quannói chung và chỉ trong giới hạn làng xã nói riêng Vấn đề đặt ra là khả năng,phương thức tìm hiểu, kế thừa và phát huy giá trị di sản văn hóa hương ướctruyền thống trong bối cảnh xã hội làng hiện đại là như thế nào, hoàn toànkhông đơn giản bởi trải qua nhiều biến động của lịch sử xã hội cũng như điềukiện tự nhiên, mạch sống của hương ước nói riêng và của truyền thống vănhóa làng xã nói chung đã chịu nhiều tác động ảnh hưởng, có lúc nghiệt ngãtưởng chừng như đứt gãy

Qua hương ước, có thể dễ dàng nhận thấy sự hiện diện và vai trò, tácđộng ảnh hưởng rất rõ nét của hệ thống đình chùa miếu vũ của làng: vị trí,phương hướng, vai trò ý nghĩa, lịch lễ nghi, phương thức tiến hành, qui mô tổchức lễ hội… Vấn đề xác định ranh giới mong manh ở đây giữa đời sống tínngưỡng tâm linh tinh thần và mê tín dị đoan là một công việc vô cùng nặng nề

và không kém phần nhạy cảm mà trong thời gian qua, thái độ cực tả hoặc cựchữu của nó đã để lại nhiều di chứng, không chỉ ở làng quê Hà Tĩnh nói riêng

mà còn là bài học kinh nghiệm lịch sử quí báu cho cả đất nước

Gắn liền với đời sống tín ngưỡng tâm linh, lễ nghi tế tự là vấn đề vị thứchốn đình trung và cả trong xã hội, phân định nên một xã hội có tôn ti trật tự,

cả trong đời sống thường nhật lẫn đời sống lễ nghi chốn đình trung, tự sở Tụcphân chia cỗ bàn, cao cả và thiêng liêng, vượt lên trên nhu cầu vật chất tầmthường nhằm khẳng định sự hiện diện và vị thế xã hội của mỗi một cá nhântrong hệ thống chuẩn mực của toàn thể cộng đồng Cho nên, những định kiến

về tục hương ẩm ở đây, như thái độ hay cách nhìn cực đoan thái quá của vănphong hiện thực phê phán một thời khi nói về chế độ hương ẩm chốn làng quêBắc bộ… là rất cần được lưu ý xem xét cẩn trọng Tương tự như vậy là vấn đềgia trưởng, cùng với vấn đề hương ẩm, đều góp phần mang đến, đưa ra một

Trang 26

thông điệp cao cả là hướng đến xây dựng một xã hội có trên có dưới, có tôn titrật tự, mọi người phải biết kính trên nhường dưới, tôn trọng lẫn nhau trên cơ

sở mỗi người phải hết sức cố gắng làm tròn phận sự, chức phận của chínhmình Do vậy mà trong đời sống xã hội làng xã truyền thống người Việt ở Hà

Tĩnh, vấn đề “một miếng giữa làng bằng một sang xó bếp” cũng rất phổ biến,

trở thành phương châm, quan niệm sống quen thuộc

Cơ sở căn cứ có tính bền vững, xuyên suốt cho mọi vấn đề là định chuẩntrở thành nguyên tắc: trọng xỉ và trọng tước Trọng xỉ tức là nguyên tắc trọnglão, là vấn đề có cội nguồn sâu xa trong lịch sử nhân loại, gắn liền với xã hội

nguyên thuỷ và đặc biệt là trong đời sống xã hội nông nghiệp lúa nước, “lão

nông tri điền”, gắn liền với chủ nghĩa kinh nghiệm bởi đó là tầng lớp hội tụ

đủ các yếu tố “đức cao vọng trọng”, tinh hoa của xã hội truyền thống.

Tuy nhiên, điều đáng nói, rất cần được nhấn mạnh ở đây là sự khác biệt,tạo nên dấu ấn đặc trưng của văn hóa làng quê xứ Nghệ nói chung và Hà Tĩnhnói riêng, chính là vấn đề trọng tước Nhưng vấn đề trọng tước ở đây, đếnlượt nó, cũng lại chứa đựng nhiều giá trị đặc sắc trong tương quan so sánh vớicác vùng khác ở miền Trung: bước vào hoạn lộ (quan trường) bằng conđường học vấn (khoa bảng), xuất phát điểm chính là gia giáo

Dấu ấn Nho giáo thời phong kiến ở mô hình đại gia đình truyền thống

là tiêu biểu nhất, có cội nguồn sâu xa từ lịch sử cộng đồng đa dòng tộc buổi

đầu, định hình Tín ngưỡng Khai canh Khai khẩn đặc trưng Trong mô hình

đại gia đình truyền thống, có sự phân công một cách khá rạch ròi theo giới,

theo lứa tuổi mà nổi bật ở đó là vai trò Nội tướng - tay hòm chìa khóa; Con

hư tại mẹ, cháu hư tại bà của người phụ nữ và dành hẳn vai trò xã hội - ngoại

giao cho người đàn ông Người đàn ông ngoài việc đảm đương chức năng

hương hỏa một cách thuần túy, phải Tu thân - Tề gia - Trị quốc theo đúng

chuẩn mực đạo đức Nho giáo để làm rạng danh gia tộc, hoàn toàn yên tâm vềmột hậu phương êm ấm trong tay bà nội, bà mẹ và bà vợ

Trang 27

Bài học về vấn đề nhân lực nhân tài nổi bật trong lịch sử là "vua sáng

-tôi hiền", biểu trưng thời thịnh trị Lập thân trong bối cảnh xã hội nông nghiệp

truyền thống “dĩ nông vi bản”, làm quan là con đường tối thượng Tuy nhiên,

trong xã hội Việt Nam truyền thống, sẽ có nhiều con đường, nhiều phươngthức để bước vào hoạn lộ, như nhiệm tử 1, tiến cử, võ cử (bao gồm cả thi võ

và binh nghiệp) và khoa cử Và điều chúng tôi muốn nhấn mạnh ở đây chính

là truyền thống khoa cử của con người Hà Tĩnh, một vấn đề rất được chútrọng nhấn mạnh trong hầu hết nội dung các bản hương ước

Nếu như ở vùng Huế, người ta bước vào hoạn lộ chủ yếu bởi các conđường nhiệm tử, tiến cử và võ cử thì với con người Hà Tĩnh - xứ Nghệ, lạichính bằng con đường khoa cử Trong bối cảnh xã hội truyền thống, khi Huếđảm đương trọng trách kinh đô của đất nước thời Nguyễn thì Huế thực sự làđất học bởi nơi đây hội tụ nhân tài cả nước Tuy nhiên, phát xuất từ nhữnghoàn cảnh lịch sử xã hội đặc trưng, người Huế làm quan chủ yếu nhờ vào conđường đặc trưng như vậy thì đương nhiên, số lượng người đỗ đạt để ra làmquan sẽ không cao Người nông dân Hà Tĩnh trong bối cảnh xã hội trọng nông

“dĩ nông vi bản” thì mọi ngành nghề kinh tế phi nông nghiệp đều trở thành

“mạt nghệ”, bị cả xã hội coi thường, rẻ rúng (“con buôn”, “con hát”…) Chỉ

trong những trường hợp bình thường thì khoa cử và võ cử là con đường tiến thânchính danh, có tiềm lực kinh tế và vị thế xã hội, lại được cả xã hội trọng vọng,tôn vinh Cho nên không phải ngẫu nhiên mà thời Nguyễn, số lượng tiến sĩ khoa

cử xứ Nghệ cao nhất cả nước (với gần 70 người) và ở vùng kinh sư Thừa Thiênlại ở mức khiêm tốn (chỉ hơn 20)

Cũng từ vấn đề trọng tâm then chốt này mà Hội Tư văn và sinh hoạt của

nó, đặc biệt là liên quan đến Văn Chỉ - Văn Miếu - Văn Thánh… rất được chú

ý trong nội dung của các bản hương ước Bản hương ước xã Vĩnh Lại (huyệnCẩm Xuyên), ngay từ điều 3 đã khẳng định nguyên nhân sâu xa của vấn đề

Trang 28

ngôi thứ là phát xuất từ truyền thống giáo dục khoa bảng Thứ tự chỗ ngồi ởtrong đình làng được chia làm bốn hàng, bao gồm (1) văn thân và khoá sinh,(2) quan võ giai và binh sĩ, (3) viên mục và tổng xã và sau cùng mới đến (4)các kỳ lão do xã bầu lên và dịch mục mới cũ [64, tr 19] Rõ ràng là ở đây chothấy một điều, xã hội làng tuân thủ một hệ qui chuẩn đặc biệt, có tôn ti trật tựnhưng cũng rất phân minh, với sự tôn trọng, cổ suý cho truyền thống hiếuhọc, khoa cử của cả cộng đồng.

Không chỉ có vậy, riêng khoản 10 trong Điều lệ xã Nhân Canh (Kỳ Anh)cũng đã cô đọng gói gọn, toát lên tinh thần quí trọng sự học, truyền thốngkhoa cử khi đề cập đến Văn miếu - một thiết chế đặc biệt quan trọng:

"Văn miếu là nơi lấy văn làm chính Gian giữa (bái đường) nếu khôngphải là người khoa bảng thì không được vào dự Bên trái văn miếu là các vị caiphó tổng, hội mục, kỳ lão (trên 70 tuổi), tổng mục, sung biện, lý trưởng, thísinh cũ mới; bên phải là phó lý cũ mới (xuất thân thí sinh thì ngang hàng với lýtrưởng; xuất thân từ khóa sinh thì ngang hàng với thí sinh), hương mục, trùmtrưởng, hương lão, thủ suất, chức dịch, khóa sinh viên tử…" [64, tr 19-20] Hương ước Xuân Trì (Hương Sơn) qui định thứ bậc rõ ràng, căn cứ vàotruyền thống khoa bảng Ở chốn miếu đình ba gian, chỗ ngồi được định vịcông khai đúng thứ bậc Gian chính giữa, bệ thứ nhất dành cho các vị đỗ đạikhoa, phó bảng, hoặc quan văn võ từ tứ phẩm trở lên sẽ được ngồi trên.Trường hợp không có thì được thay thế bằng những người đỗ cử nhân, vănkhoa và những quan viên văn võ chính đồ có phẩm hàm từ ngũ lục thất bátphẩm trở lên Bệ thứ hai mới đến những viên tú tài, cống sinh, cử nhân võkhoa chính đồ, quan văn cửu phẩm và các vị trưởng lão, trùm trưởng tronglàng Bệ thứ ba là các lại tử thí sai, cai tổng, phó tổngv.v…

Tuân thủ trật tự, nề nếp truyền thống đó, tất cả lại trở thành nguồn độnglực không mệt mỏi của xã hội làng quê Hà Tĩnh ngày xưa tiếp bước đến tận

Trang 29

ngày nay phấn đấu, thi đua từ việc tôn trọng sự học và thực hành nó Xemtrong nội dung của hương ước, trật tự nông thôn truyền thống không hề thiênlệch hay bất công mà trái lại, như ở chốn đình trung, với tinh thần hoàn toànkhác với các địa phương khác, hương ước Hà Tĩnh luôn dành vị trí ưu tiênhàng đầu, trọng vọng đối với các bậc gắn liền và có cội nguồn phát xuất từtruyền thống khoa bảng, những người có học hành…, ở mức độ cao hơn hoặcchí ít cũng là tương đương với những người có quan tước hoặc bô lão caoniên Trong một xã hội mà ở không gian thiêng liêng, chính thống nhất là ởchốn đình trung hay tự miếu mà những người có truyền thống học hành, khoabảng đỗ đạt được xếp ngang hàng và có phần được trọng vọng, trọng thị hơncác vị chức sắc mũ cao áo dài, cân đai xe kiệu… là thực tế không phổ biến vàcũng là một nét đặc sắc đáng chú ý trong văn hóa làng truyền thống Hà Tĩnh,bài học kinh nghiệm lịch sử trong xã hội hiện đại, đặc biệt là với phương

châm chú trọng đến sự nghiệp giáo dục “trồng người”, “hiền tài là nguyên

khí quốc gia” luôn mang đậm ý nghĩa lý luận khoa học lẫn thực tiễn sâu sắc

trong xã hội hiện đại ngày nay

Gắn liền với tầng lớp có học, tạo lập được truyền thống giáo dục khoa cửcho xã hội, từ làng xã cho đến tầm quốc gia vĩ mô là thiết chế Văn miếu và

đặc biệt là Hội Tư văn - hội của những người chuyên tâm lo lắng “vì việc

học”, với nhiều nội dung, chương trình hoạt động phong phú, thiết thực, từ lễ

nghi tế tự cho đến chuyện thưởng phạt phân minh, khả năng hỗ trợ tinh thần

và vật chất một cách sát thực, cụ thể

Hương ước Phù Lưu Thượng qui định làng dành hẳn 4 mẫu ruộng đấtcông, đặt lệ khuyến học, giao cho các trưởng xóm chịu trách nhiệm cày cấy,

thu hoa lợi để “nuôi thầy” Đó là các vị cử nhân, tú tài ở trong ngoài làng,

được trọng vọng mời về phó thác việc dạy dỗ con em, cho mục đích giáo dụckhoa bảng Ngoài ra, làng còn có lệ cho vay lấy lãi, thu mỗi vụ 15 quan tiền

để làm lễ “thúc tu” - đó là chút quà bánh, ngày xưa ở xứ Nghệ thường được

Trang 30

hiểu là cút rượu, bó nem để kính lễ thầy Không hình thức, khoa trương, từ lễthúc tu mang đầy ý nghĩa thiêng liêng, trọng vọng này, thiết nghĩ chúng tacũng có thể liên tưởng đến những biểu hiện hình thức, thực dụng trong mốiquan hệ giữa nhà trường và xã hội ngày nay, đặc biệt là vai trò, vị trí của nhàgiáo trong bối cảnh hiện đại, như nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 v.v…Làng Xuân Viên (Nghi Xuân) có lệ định dành riêng cho người thi đỗkhoa thi Hương, thi Hội: cho đinh phu mang nghi trượng đầy đủ đi đón, theođúng thứ bậc (đỗ tiến sĩ, làng cử 100 đinh phu lên tận huyện lỵ, tổng để đónmừng; cử nhân - 80 đinh phu; 60 đối với tú tài…, không kể đến đinh phu cáclàng khác phải tham gia do huyện qui định [64, tr 18].

Lệ làng Vĩnh Lại (Cẩm Xuyên) cho biết nhiều thông tin quan trọngtương tự: đỗ đại khoa, làng tổ chức chúc mừng với bức trướng có giá trị15quan, cử nhân - câu đối 6quan và tú tài - câu đối 3quan Trong hương ướclàng Gia Mỹ (Thạch Hà), đó lại là một chuyện đương nhiên bởi làng phải

chính thức đến mừng một cách “kính cẩn không được sơ suất” Đáng chú ý là

việc đi mừng, đi biếu ở Phù Lưu Thượng (Can Lộc) được qui định chi tiết: đỗtiến sĩ, phó bảng, cử nhân, tú tài được tặng trướng, câu đối, tiền cùng nhiềunghi thức đón rước thật long trọng theo thứ bậc (thọ lão từ 80 tuổi trở lênđược mừng như tú tài, người có công với nước được mừng như cử nhân) Đặcbiệt làng có lệ nhân dịp tết Nguyên đán, phải đưa lễ mừng quan Huấn đạo củahuyện, nếu quên thì lý trưởng bị phạt 3 quan tiền

Tinh thần đó còn được kế thừa, phát huy rõ nét cả trong nội dung nhữngbản hương ước có niên đại ra đời muộn về sau Hương ước làng Đan Tràng(Nghi Xuân) định rõ các vị tiến sĩ tây học tại Pháp và văn bằng tốt nghiệp đạihọc được xếp ngang hàm chánh lục phẩm; bằng díp lôm - bát phẩm Rõ ràngtruyền thống hiếu học, lệ khuyến học ở đây đã được chính thức hoá sự côngnhận của toàn xã hội bằng chính con đường hành chính, trở thành qui phạmpháp luật Điều lệ Hiệu Thuận (Kỳ Anh) cho biết qui chế khen thưởng cho sự

Trang 31

học của làng là nếu đỗ tú tài, mừng tiền 6 quan và tăng dần, đến tiến sỹ, hoànggiáp - tặng 20 quan, kèm bức trướng Hơn nữa, cả văn lẫn võ, những ai phátkhoa, lễ mừng chiếu theo khoán ước, được tặng thưởng thêm lá cờ đỏ 10 quan

tiền, đầy ý nghĩa bởi bên trong đề Hiệu Thuận văn võ phát khoa để nêu gương

Có thể nói lệ khuyến học từ hương ước đã trở thành phương châm, lẽsống, lý tưởng sống của người Hà Tĩnh Đời sống dân gian làng xã lưu truyềnphổ biến câu ca cho thấy rõ điều đó với tình cảm chân thành, cảm động:

Một quan là sáu trăm đồng Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi

Ở đây, vấn đề gia phong, văn hóa gia tộc cũng là khía cạnh đặc biệt cầnđược nhấn mạnh, tôn vinh để khẳng định giá trị bản sắc của mảnh đất, conngười Hà Tĩnh Nghiên cứu của giáo sư Nguyễn Đình Chú đã chỉ ra hai vấn

đề quan trọng của dòng họ là huyết thống và xã hội Làng xóm khuyến khích,

xã hội tôn vinh, trọng vọng…, đều xuất phát từ chính yếu tố gia đình hạtnhân, nền tảng, cội rễ xuyên suốt mọi vấn đề Văn hóa gia tộc xứ Nghệ nóichung, Hà Tĩnh nói riêng lưu dấu yếu tố xã hội đặc biệt, nổi bật vai trò độtkhởi cá nhân để từng bước thành danh trên quan trường khoa bảng Đó là cơ

sở cho việc tuân thủ qui luật quí tộc hóa, điển hình như trường hợp dòng họNguyễn Du ở Tiên Điền (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), theo ca dao địa phương, từngđiển hình hóa, mà đến nay vẫn lưu truyền phổ biến:

Bao giờ ngàn Hống hết cây, Sông Rum hết nước họ này hết quan

Về sau, quá trình thần linh hóa, huyền thoại hóa các nhân vật có tiểu sử,hành trạng gắn liền gia tộc cũng như quốc sử, thông qua hình thức lập đềnthờ, củng cố nghi tiết, lễ nghi thờ tự, cúng bái và đặc biệt là được triều đìnhban cấp sắc phong - trở thành, thuộc về quốc lễ trên nền tảng gia lễ Từ đây,

Trang 32

việc thực hành nghi lễ đồng thời mang nhiều ý nghĩa vượt trội: hướng về cộinguồn, cũng nhằm khẳng định hơn nữa ý nghĩa giáo dục thế hệ trẻ mai sau.Khuyến khích nông tang, bảo vệ mùa màng và cảnh quan môi trườnglàng xóm cũng là một mảng nội dung rất quan trọng trong hương ước HàTĩnh Hương ước lệ làng không có sự tách bạch hay đối kháng với phép nước

mà chính là biểu hiện cụ thể nhất, ở cấp độ cơ sở nhất của phép nước Ở đó,chủ trương của nhà nước phong kiến có sự dung hòa với chính quyền làng xã

cơ sở ở đồng thời hai nhiệm vụ quan trọng là hành chính - tư pháp và lễ nghitinh thần Về mặt vĩ mô, nhà nước phong kiến chỉ tập trung để điều động binhbinh lúc cần thiết, thu thuế thân, đinh điền, thuế sản vật…; còn phương thứctiến hành cụ thể, hoàn toàn tùy thuộc khả năng, sự chủ động của chính quyềnlàng xã Do vậy không phải ngẫu nhiên, hương ước chính là luật nước ở làng,hay có thể nói là luật làng, đương nhiên, cũng phải đề cập đến mảng nội dunghành chính, tư pháp, như phân chia ruộng đất, thu thuế, điều động binh phu…Đây là điểm khác biệt căn bản giữa hương ước truyền thống và qui ước vănhóa, hương ước mới ngày nay: tính pháp qui hay chỉ tuần túy chỉ là bản quiước, thỏa thuận đồng tình thực hiện của cộng đồng

Hương ước Phù Lưu Thượng cho thấy trong địa phương có nhiều loạiruộng đất: ruộng quan viên, ruộng dưỡng lão, ruộng binh, ruộng khuyến học.Hương ước có sự phân định một cách rõ ràng các loại ruộng đất: ruộng quanviên để cấp cho những người đỗ đạt, làm quan; ruộng dưỡng lão dành cho bậccao niên (từ 70 - 100 tuổi), ruộng khuyến học dành cho thầy, trò…; ruộngbinh cấp cho gia đình các võ quan hoặc binh lính tại ngũ Ngoài ra, còn phải

kể đến các loại ruộng đất cấp cho các hương thôn, hương mục, câu đương…như một phương thức trả lương cho cấp hành chính làng xã

Việt Nam là một đất nước nông nghiệp, “dĩ nông vi bản” nên trong nội

dung hương ước, có nhiều điều khoản thuộc về lệ khuyến nông, đặc biệt làbảo vệ mùa màng, kích thích và khuyến khích sản xuất, bảo vệ môi trường

Trang 33

sống xung quanh, như sông ngòi, ao hồ, đê đập, đường sá Đây là mảng nộidung cụ thể, liên quan trực tiếp đến việc thực hiện nếp sống văn minh hiệnnay ở nông thôn, trong phong trào TDĐKXDĐSVH.

Trong vấn đề khuyến nông, bảo vệ mùa màng, hương ước Phù LưuThượng cũng chú trọng từ việc lễ nghi như là một khâu quan trọng có tính tiênquyết của phong hóa Hằng năm, làm lễ hạ điền, lân trưởng (trưởng xóm) chiểuthu mỗi mẫu ruộng 20 văn, giao lý trưởng mua sắm lễ vật Nếu có làm lễ cầumưa, trừ sâu, cũng chiểu thu mỗi mẫu 10 văn để biện lễ Ai xâm lấn bờ ruộngngười khác, bị phạt nặng, đánh 50 roi nếu nhà nghèo, 1 quan 2 mạch tiền - nhàgiàu Ai phạm lỗi đánh bắt cá trong ruộng người khác, hoặc thả trâu bò hại lúa,hoa màu, phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, kèm mức phạt tiền có thứ bậc, phânbiệt giàu - nghèo, khen thưởng người phát hiện [64, tr 43, 54]

Hương ước Gia Bác (Hương Khê) rất chú trọng việc bảo vệ hoa lợi trồngtrọt Trong thôn có những vườn cau, đến tháng 10 mới được đem bán Ruộngdâu tằm phải phòng giữ đến tháng 10 mới được đốn Nếu trong khoảng tháng

8, tháng 9, chủ vườn cau thấy quả đã già muốn đem bán, phải trình với tuầncanh mới cho phép bán… Hương ước rất chú ý đến việc bảo vệ di tích, môitrường cảnh quan Tre xanh là nhu yếu tối quan trọng, kẻ nào chặt phá, cắtmăng đều bị phạt tiền Tương tự là hương ước thôn Phú Phong (Hương Khê):tre xanh trong thôn cần dùng, người nào bẻ măng bị phạt tiền

Không chỉ có tre măng mà còn là cả toàn bộ cây cối nói chung, nhất lànhững cổ thụ Bảo vệ cây to trong địa giới của làng được hương ước thôn KimNặc (Cẩm Xuyên) lưu ý: từ Văn Chỉ đến thôn Thổ Ngọa, hai bên có cây đạithụ, nhất thiết cấm chỉ chặt phá Ai chặt cây lớn phạt tiền mỗi cây 3 quan, câynhỏ - 2 quan; đồng thời, không được để trâu bò ngạm lá, húc đổ cây

Không chỉ có vậy, nội dung căn bản của hương ước Hà Tĩnh còn dànhnhiều điều khoản chi tiết cho vấn đề cảnh quan làng xóm, chú trọng đầu tư

Trang 34

các công trình công ích Hương ước thôn Vĩnh lộc (Cẩm Xuyên) định rõ việc

tu sửa đường sá, khai thông cống rãnh, mương nước từ vườn nào đến vườnnào, hoặc từ các nẻo đường xa gần từ đâu đến đâu… Trường hợp có kẻ đàophá làm tắc nghẽn giao thông, sẽ bị nghiêm trị Nơi cần xây cống, phải dự trù

để xin đầy đủ với làng; thậm chí, còn có sự qui định một cách chi tiết về việcthu nguồn lợi từ bến chợ, bến sông [64, tr 20 - 21] Hương ước xã Đan Tràng(Nghi Xuân) ghi rõ nhiệm vụ tu sửa cầu đường, đê điều và đề nghị phải đặtthêm một viên đốc đê trong hàng chức dịch của xã để đảm đương, coi sóccông việc này chu đáo Hương ước cũng rất chú trọng đến trách nhiệm nặng

nề của những người làm công việc thủy lợi: nếu vì lợi riêng tôm cá mà làmmất thời tiết, dẫn đến ruộng bị khô nước hay bị úng thủy, cày cấy không tiệnlợi, bắt phạt 30quan Thậm chí, hương ước thôn Gia Bác (Hương Khê) lại rấtchú trọng ưu tiên canh phòng, những việc khẩn cấp trước tiên trong nội dunghương ước, trước cả nội dung tế tự

Việc canh giữ đồng áng rất được chú trọng trong hương ước Phù Lưu:mỗi thôn phải cử một người trưởng tuần ngoài đồng và trưởng tuần đượcquyền cắt cử một số trai tráng làm nậu tuần, với tiêu chuẩn là phải khỏemạnh, thật thà, không có thành tích bất hảo Đội ngũ này được trả công đồngniên theo diện tích ruộng đất, công thu mỗi năm hai lần (vào tháng 5, tháng10) Sau ba năm, trưởng tuần được tọa thứ tại đình làng, xếp ngang hàng phó

lý và ngược lại, sẽ có nguy cơ bị bãi chức, truất tọa thứ

Tương thân tương ái là một nét đẹp truyền thống trong đời sống của cộngđồng cư dân Việt và ở Hà Tĩnh, lại mang nhiều giá trị và khía cạnh biểu hiệnđặc trưng, trong nhiều tình huống thiên tai, địch họa hay các hiện tượng rủi ronhư ốm đau, tang chế, tai nạn, hỏa hoạn Hương ước thôn Gia Mỹ (ThạchHà) có nhiều điều khoản cụ thể, đặc biệt là về qui cách xây dựng kho nghĩathương: Kho phải được xây dựng bằng gỗ tốt, phải ưu tiên đặc biệt để canhgác, dùng hoa lợi của nghĩa thương chi dùng vào những khoản gì, như trợ cấp

Trang 35

cho người nghèo đói, giúp đỡ người nghèo khó có tiền đóng thuế, chi phínhang đèn ở các miếu đền trong thôn xã… Hương ước cũng đề cập đến việccho dân vay thóc trong dịp ngày 3 tháng 8 Không chỉ có thế, hương ước còn

đi sâu đề cập đến những qui định cụ thể, chi tiết như về dụng cụ đo lường đểngăn cấm thói bòn mót, lọc lừa: đấu đong thóc phải làm bằng gỗ dài 39phân,

cao 19 phân, miệng đấu bằng cạp sắt, khắc bốn chữ Gia Mỹ công phương

(đấu đong chính thức của thôn Gia Mỹ) [64, tr 22]

Thậm chí như trong mối quan hệ nông - ngư truyền thống luôn chứađựng nhiều biểu hiện miệt thị, căng thẳng, tiềm ẩn nguy cơ bùng nổ mâuthuẩn, nhưng qua hương ước, vẫn có thể nhận ra được nhiều khía cạnh nhânvăn cao cả Trường hợp thành lập phường Giang Phái (thôn Vân Tán, CẩmXuyên) từ nguồn gốc dân chài, lời nói đầu ghi rõ: Nguyên do dân phườngtrước đây không có đất ở, bồng bềnh lang bạt bằng nghề đánh cá Gần đây, xãHóa Dục nhượng lại một khu điền thổ khoảng trên 39 mẫu, ghi vào bạ tịchcủa dân phường Từ đó, người lên bờ sinh cơ lập nghiệp ngày càng đông, đãdựng lên Thông đường phụng thờ Thánh giáo nhưng trong hương không cóđiều ước, khiến cho dân ít biết đến kỷ cương trật tự, tôn ti chưa được bảotoàn… Nay xin lập các điều lệ hương ước…

Vấn đề nghĩa thương là quĩ nhân ái nhằm giúp đỡ cuộc sống nhân sinhnhững lúc khốn khó, nhưng cao cả và ý nghĩa hơn, chính là những qui định hết

sức nhân văn, cụ thể nhưng chặt chẽ về việc hiếu, việc hỷ, theo tinh thần “tùy

gia phong kiệm”, tránh cơ hội và triệt tiêu mọi nguy cơ có thể dẫn đến những

biểu hiện của thói phô trương lãng phí, khoe khoang thiếu lành mạnh

Trong việc tang ma, cưới xin, nội dung hương ước đề cập đến, có khi rấtchặt chẽ, như ở thôn Trường Lưu (huyện Can Lộc): trong giới hạn chỉ chophép các gia đình được soạn tối đa 5 mâm, mỗi mâm chỉ có một chai rượu,gia chủ hoàn toàn không được phép làm cỗ bàn linh đình Cụ thể hơn, trongcác đám tang thì việc soạn mâm cỗ đều nghiêm cấm, vi phạm sẽ bị phạt nặng,

Trang 36

chỉ cho phép gia chủ dọn cơm mời những người phu khiêng quan tài, cầm cờnếu có điều kiện; còn nếu không thì có thể trả tiền công Không phải bởi nộidung bản hương ước này được tu chỉnh, thiết lập đầu thế kỷ XX (1923), chứađựng nhiều thông tin nội dung mang đậm dấu ấn cải lương hương chính hiệnđại mà ở nhiều bản hương ước khác cổ xưa hơn, cũng mang những nội dungtương tự Điển hình là ở bản hương ước xã Xuân Viên (Nghi Xuân, 1847) đãđịnh rõ trong các đám lễ, nếu khoản đãi xóm giềng trong xã thì dùng trầurượu, xôi thịt hoặc bánh dầy mà thôi, không được bày đặt cỗ bàn Tất cả đềunhằm thể hiện một lối sống thanh bạch, văn minh, thấm đẫm tinh thần kiệm

ước, đả kích thói khoe trương, phô phang hình thức “trọc phú” Ngoài ra,

nhiều biểu hiện phức tạp, đa dạng nhưng không kém phần sống động, ý nghĩathời sự sâu sắc cho đến giai đoạn hiện nay, là những vấn đề thuộc về lĩnh vực

an ninh trật tự, trị an xóm làng như trộm cắp, gian lận, cờ bạc v.v…

Hương ước Xuân Viên qui định nếu thôn giáp nào trong xã có người sayrượu nói năng huyên thuyên, thì không chỉ họ bị trừng trị mà thậm chí cònnặng nề hơn, nghiêm khắc hơn, danh nghĩa cả thôn xã ấy bị phạt 3 quan tiền.Điều lệ xã Hiệu Thuận (Kỳ Anh) cũng phạt nặng những ai say rượu ngay tạicác đám cưới, đám tang Trong không gian tế lễ, hội hè đình đám, các hoạtđộng ca xướng, trò chơi là một nội dung chính yếu, rất được hương ước chútrọng với nhiều điều khoản chi tiết Hương ước Phù Lưu Thượng có nhữngđiều khoản rất chặt chẽ, khắt khe, như nếu có xướng ca, chỉ được hát trongvòng một ngày đêm Trong các cuộc tạp hý, không chỉ tốn kém tiền của, thậm

chí dẫn đến chỗ hại người, được xác định là “mối họa ấy rất lớn Từ nay trở

đi, đầu xuân, phàm đánh đu, đánh vật, đá cầu, đánh cờ người, đánh bài điếm, các trò chơi ấy vĩnh viễn cấm chỉ”.

Thuần phong tục mỹ là chủ trương, trở thành mục đích hướng tới cao cảcủa cộng đồng Những nội dung cụ thể nhưng chặt chẽ, thiết thực, phát xuất

từ chính nhu cầu cuộc sống vật chất cũng như tinh thần của người dân, không

Trang 37

đi ngược với đạo lý dân tộc và tính chất pháp lý của luật nước Quá trình thựcthi hương ước luôn có sự đồng hành của hai quá trình, hai động thái: thưởng

và phạt, một cách cụ thể, công bằng, phân minh và nghiêm ngặt Do vậy, tìmhiểu sơ bộ nội dung hương ước, có thể dễ dàng nhận thấy tinh thần chung là

lệ làng chú trọng đến sự thưởng phạt rất nặng nề, cả vật chất lẫn tinh thần.Khen thưởng nhằm động viên, khích lệ và nhất là khuyến thiện, khuyến lành,răn ác, ngăn chặn những suy nghĩ, hành động, lời nói xấu xa, đi ngược lạithuần phong mỹ tục Ở đây, nhiều biểu hiện thường thấy là khen thưởngnhững người có công, người làm việc tốt bằng tiền, hoặc hiện vật và đáng quíhơn, bằng cả sự tôn vinh qua vấn đề tọa thứ chốn đình trung, biểu dươngtrước toàn thể cộng đồng Đồng thời, lệ phạt vạ cũng rất khắt khe với nhiềubiểu hiện sinh động, có tác dụng trước mắt cũng như giáo dục, răn đe lâu dài,cho cá nhân lẫn toàn thể cộng đồng: phạt bằng tiền, bằng roi, và có tác dụngnhất, trực tiếp vào lòng tự trọng của cá nhân, danh dự của toàn thể gia tộc,làng xóm là việc hạ chức, hạ vị trí hoặc nặng nề hơn, khốc liệt hơn, loại trừ rangoài cộng đồng Đuổi ra khỏi nhà, khỏi làng là án phạt khủng khiếp nhất,đồng nghĩa với án tử hình trong xã hội nông thôn truyền thống Lệ làng thểhiện tính nghiêm minh, rất khắt khe với những ngôn từ sử dụng có tính chấthành chính, tư pháp đầy rẫy trong các bản hương ước, mọi sự vi phạm đều bị

xem xét cẩn thận, “không tha” và đây cũng là một khía cạnh rất quan trọng

trong việc xem xét mối quan hệ giữa vấn đề lệ làng và phép nước

Hương ước Xuân Viên (Nghi Xuân) có khoản “cấm chỉ” với những kẻ say rượu thì phạt tiền; tái phạm bị truất ngôi thứ, xuống cuối bạ tịch “để làm

nhục” Thậm chí một số trường hợp, làng có thể phạt cá nhân và cả thôn giáp.

Hương ước thôn Gia Bác cho biết tinh thần chủ đạo là “hương ước có quan

hệ đến việc làm cho phong tục của dân được tốt đẹp Nếu người nào không tuân theo, chiểu lệ phạt tiền, hoặc trình lên, viết họ tên lên bảng treo ở minh đình Còn nếu là hạng hào mục, trình lên không cho dự việc làng”.

Trang 38

Hương ước thôn Phú Phong (Hương Khê), mục 23 ghi rõ các giáp, nếu

có hai người cãi vã, mạt sát hay chửi mắng nhau thì không kể đúng sai, đều bịphạt nặng theo một hình thức rất đặc biệt: nếu là nam, bị phạt đứng canh mộtngày đêm, và nữ - quét rác ở đình làng, hoặc đánh chuông Ngoài ra, còn có

hình thức đặc biệt khác :“hương ước là phong tục dân chính, nếu có kẻ ngoan

cố, ngạo mạn không tuân theo, với dân đinh thì phạt tiền hoặc viết rõ họ tên ở trong giáp, đình; còn các nhà hào mục thì trình lên trên».

Như vậy, có thể thấy trong đời sống nông thôn truyền thống Hà Tĩnh, hệchuẩn mực đạo đức luân lý, đồng nghĩa với chuẩn mực pháp lý, là rất phongphú và đa dạng, thiết thực, từ nội dung đến khả năng thực thi bởi phát xuất từchính nhu cầu trực tiếp của cộng đồng và luật pháp mạnh Từ đó định hìnhnên nhiều tục lệ quan trọng đến thế giới quan, nhân sinh quan cộng đồng,nhưng tất cả, nổi bật lên vẫn là tục trọng xỉ, trọng tước và có tính chi phốitrọng tâm xuyên suốt là trọng giáo dục khoa cử Làng xã truyền thống HàTĩnh - xứ Nghệ đúng nghĩa là một xã hội học tập Văn hóa làng xã vượt trội ýthức cộng đồng hơn hẳn tính biệt lập, có thể có ý thức cội nguồn từ vùngchiến trường Hoan Diễn xưa Ở vùng đất nghèo dân đông, vấn đề dân trí làchìa khóa mang lại dấu ấn bản sắc văn hóa và bản lĩnh của vùng đất, conngười nơi đây Tất cả được nuôi dưỡng trong môi trường văn hóa làng xã, trởthành thành trì chống lại mọi sự can thiệp, ảnh hưởng thiếu lành mạnh, tiêucực, lai căng và ngược lại, càng cổ súy, củng cố cho xu hướng và nguồn lựcbảo lưu văn hóa Từ đây, lại tiếp tục đặt ra vấn đề nguồn nhân lực, đặc biệt làvai trò của giới trí thức làng xã trong bối cảnh xã hội mới, nhất là trong việcsoạn thảo, thực thi các điều khoản hương ước mới với vấn đề làng văn hóa

1.4.2 Vấn đề tồn tại Điểm đầu tiên có thể nhận thấy là hương ước phản

ánh sâu sắc tính tự trị của làng xã, trong chừng mực mà dân gian thường quan

niệm là “phép vua thua lệ làng”, lại càng được nhấn mạnh bởi chủ trương

Trang 39

“khai sáng văn minh” của người Pháp cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX như là

một sách lược thiết yếu phù hợp với chính sách “chia để trị” ở Đông Dương Làng xã luôn có giới hạn quyền lực nhất định, thông qua “lệ làng” trong tương quan so sánh với “phép nước”, mà điều dễ nhận thấy là mọi

sự vi phạm trong giới hạn làng xã, phải tuân theo hương ước, ưu tiên xem

xét “cái tình”, đến lúc căng thẳng, lệ làng không đủ sức giải quyết, mới

“giải lên quan trên” để “nghiêm theo phép nước” Tự trị ở đây, có thể

hiểu là những văn bản dưới luật, bổ sung cho luật pháp một cách thiếtthực; tuy nhiên, có những tội danh mà có lẽ, luật pháp cũng không đề cập,không can thiệp, như đuổi ra khỏi làng, phạt nặng bằng tiền…

Điều đáng quan tâm ở đây không phải là mức độ giao thoa ảnh hưởng

giữa lệ làng và phép nước mà quan trọng hơn, là tâm lý “cố thủ”, bám víu, lệ thuộc máy móc vào “lệ làng” trước khi dùng “phép nước” Hệ quả

tất yếu là trong quá trình tiếp nhận mọi sự phổ biến pháp luật đến với dân

làng thì ngay chính trong lòng họ, với tư cách là “con dân” của làng, đã

có một rào cản vô hình, hay là tiếp cận pháp luật qua lăng kính của lệlàng Để rồi hiểu, vận dụng pháp luật vào thực tiễn cuộc sống hiện đạitrong tầm nhận thức và nhãn quan cộng đồng mang tính đa sắc thái của lệlàng Trong xã hội công dân pháp trị, đây là một trong những trở ngại tậntiềm thức, mà công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Hà Tĩnh cần tìm hiểumột cách sâu sắc, đối diện và khắc phục, chế ngự nó

Một vấn đề không kém phần quan trọng nữa là sức nặng của phong tục,

mà trong ngôn ngữ đời thường, dễ được ví von như một sức ỳ của những giátrị cổ truyền Trong sự chi phối nghiệt ngã của tâm lý tiểu nông lúa nước, cụthể là với khẩu phần công điền, người nông dân khó lòng, khó có điều kiện đểbước ra khỏi ranh giới làng xã Lệ làng bao quát hết mọi ngõ ngách của cuộcsống, từ đời sống kinh tế cho đến tinh thần lễ nghi, từ chuyện gia đình, đếngia tộc, vào chốn đình trung Ở đó, chỉ những vấn đề đặc biệt quan trọng,

Trang 40

nhạy cảm, căng thẳng, mới dễ có cơ hội được thể chế hóa thành văn bản, buộccộng đồng tuân thủ Điều quan trọng là nội dung hương ước lại phát xuất từchính điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của làng, nên không hoàn toàn giốngvới làng nào, dù là cận cư láng giềng Từ những giá trị bản sắc, cũng cần nhấnmạnh đến động lực và sự biểu hiện cho sức ỳ truyền thống đó ở mỗi một ngôilàng trên địa bàn Hà Tĩnh là hoàn toàn không giống nhau.

Con người từ khi sinh ra, lớn lên, học tập những lề thói ấy để rồi qua thờigian, cũng vinh dự gánh vác, đảm đương nhiều trọng trách con dân của làng.Định chuẩn đạo đức lối sống căn cứ trên cương thường thông qua nhãn quancủa bao thế hệ dân làng được hình thành bền vững, để rồi mọi người phải cótrách nhiệm thực thi, hướng dẫn, giáo dục, nhắc nhở nhau, nhất là trong giađình để đồng thuận thực hiện Đồng thời, những hình phạt, là sự cụ thể hóa rõràng nhất của mọi vi phạm định chuẩn ấy, để giáo dục, nhắc nhở mọi thành

viên không được “vượt rào”, “lấn lễ” Trong “lễ”, trật tự là vấn đề chặt chẽ

đến nghiệt ngã, trên nguyên tắc trọng tước, trọng xỉ, và cả sự trọng vọngtruyền thống giáo dục khoa cử Tước và xỉ, về mặt đạo lý và thực tế xã hội, làhai tiêu chí cơ bản được xã hội thời phong kiến trọng vọng; nhưng tước lại làmột chuyện đáng bàn Những lệ khuyến học, khuyến hoạn lộ là rất ý nghĩa, cả

“danh” lẫn “thực”, nhưng mặt trái của nó mà ít nhiều, đã di duệ đến nay, là

bệnh hình thức Bên cạnh đó, một đối tượng được trọng vọng nữa là nhữngngười có của làm công đức với làng, sau khi mất, được làng đưa vào chúc văn

để phụ tế Ở chốn đình trung, lớp trẻ hầu như không được xuất hiện, cả trongchỗ ngồi lẫn lời nói, trừ một ít trong hội Tư Văn, nhưng cũng chỉ trong vai tròvăn lễ là chính Bệnh hình thức và thái độ - lắm lúc được coi như mặc nhiên -

coi thường lớp trẻ, người già “lão nông tri điền” không bao giờ chịu thừa

nhận và đối thoại với lớp trẻ một cách bình đẳng, cởi mở là những sức ỳ tậntiềm thức, trở thành rào cản rất lớn trong bối cảnh xã hội tri thức, dân chủ vàvăn minh hiện nay

Ngày đăng: 19/12/2013, 13:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.5: Văn hóa ứng xử - Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống văn hoá cơ sở ở hà tĩnh
Bảng 2.5 Văn hóa ứng xử (Trang 64)
Bảng 2.4: Vấn đề cảnh quan môi trường v¨n hãa (%) - Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống văn hoá cơ sở ở hà tĩnh
Bảng 2.4 Vấn đề cảnh quan môi trường v¨n hãa (%) (Trang 64)
Bảng 2.6: Nhận xét của người dân về tổ chức các phong trào (%) - Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp sống văn hoá cơ sở ở hà tĩnh
Bảng 2.6 Nhận xét của người dân về tổ chức các phong trào (%) (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w