1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần nhựa, bao bì vinh

48 329 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần nhựa, bao bì vinh
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Tú
Người hướng dẫn GV Lê Văn Cần
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Quản trị kinh doanh
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 804,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và đi sâu nghiên cứu các hoạt động Marketing của công ty cổphần nhựa

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa kinh tế

===  ===

nguyễn thị ngọc tú

một số giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh

tranh tại công ty cổ phần nhựa, bao bì

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, hội nhập và toàn cầu hoá

đã và đang mở ra nhiều cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệpViệt Nam Chuyển sang hình thức cổ phần hoá các doanh nghiệp phải có sựhoạch toán và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh của mình.Thực tế đòi hỏi các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ, kỹ thuật, chấtlượng nguồn nhân lực, tăng cường hoạt động Marketing cũng như quản lý vàđiều hành doanh nghiệp để từng bước đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của cơ chếthị trường

Ngày nay cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau, giữa các doanhnghiệp trong nước và ngoài nước ngày càng diễn ra gay gắt Để có thể tồn tại,đứng vững và phát triển đòi hỏi công ty phải xác định được cho mình nhữngphương thức hoạt động, những chính sách, những chiến lược cạnh tranh đúngđắn Một trong những nội dung được doanh nghiệp quan tâm và đầu tư đó lànghiên cứu hoạt động marketing nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh chodoanh nghiệp

Công ty cổ phần nhựa, bao bì Vinh là công ty cổ phần có chức năng sảnxuất, gia công chế biến các loại sản phẩm nhựa, bao bì phục vụ nhu cầu tiêudùng trong nước Hiện nay rất nhiều công ty nhựa, bao bì được thành lập và

có chất lượng sản phẩm tốt hơn đang ra sức cạnh tranh với công ty Vấn đềđặt ra là công ty phải làm thế nào để nâng cao hiệu quả cạnh tranh?

Vận dụng những kiến thức đã học, cũng như những kinh nghiệm họchỏi trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần nhựa, bao bì Vinh Vì vậy mà

em quyết định lựa chọn đề tài : “Một số giải pháp Marketing nhằm nâng cao

năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần nhựa, bao bì Vinh” làm đề tài luận

văn tốt nghiệp của mình

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu hoạt động Marketing của công ty cổ phần nhựa, bao bì Vinh

đó là các hoạt động về sản phẩm, giá, phân phối và hoạt động xúc tiến củacông ty

- Đưa ra những thực trạng, những nguyên nhân và bài học kinh nghiệm

rút ra từ thực tiến của công tác này, trên cơ sở có những giải pháp để nâng caochất lượng của công tác xây dựng và phát triển hoạt động Marketing nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về tình hình hoạt động sản

xuất kinh doanh và đi sâu nghiên cứu các hoạt động Marketing của công ty cổphần nhựa, bao bì Vinh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh với các công tycùng ngành trong và ngoài nước

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh là vấn đề phức

tạp đòi hỏi các chuyên gia kinh tế có cách nhìn tổng quát sự tác động của môitrường vĩ mô và môi trường vi mô Vì vậy trong phạm vi cho phép đề tài chủyếu đề cập đến một số giải pháp marketing nhằm khắc phục những thực trạngyếu kém của công ty cổ phần nhựa, bao bì Vinh góp phần nâng cao năng lựccạnh tranh

4 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa vào cơ sở lý luận và thực tiễn về nghiên cứu và phát triển hoạt

động Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty Nghiên cứutham khảo các tài liệu trong và ngoài nước về quản trị Marketing, quản trịchiến lược, những luận cứ khoa học của việc đánh giá hiệu quả hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Sử dụng các phương pháp suy luận, phân tích và tổng hợp, đối chiếu và

so sánh… Nghiên cứu các báo cáo, tài liệu phân tích, các số liệu thống kê và

Trang 4

kết quả hoạt động kinh doanh, về tổ chức bộ máy và nghiên cứu hoạt độngMarketing để hoàn chỉnh nội dung đề tài.

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

+ Về mặt khoa học: Đề tài nghiên cứu một số vấn đề chung về cạnhtranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và một số giải pháp Marketingnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp để thấy được tầm quantrọng của họat động Marketing trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh

+ Về mặt thực tiến: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thực trạng năng lựccạnh tranh cũng như tình hình thực hiện các hoạt động Marketing nhằm nângcao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần nhựa, bao bì Vinh Nhận thứcđược thực tiễn của hoạt động đó và từ đó đề ra một số giải pháp Marketingnhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty góp phần giúp cho công ty cónhững quyết định phù hợp với thực tiễn hoạt động kinh doanh của mình

6 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và cáchoạt động Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng các hoạt động Marketing nhằm nâng cao nănglực cạnh tranh tại công ty cổ phần nhựa, bao bì Vinh

Chương 3: Một số giải pháp Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnhtrạnh cho công ty cồ phần nhựa, bao bì Vinh

Trang 5

Chương 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH

VÀ CÁC HOẠT ĐỘNG MARKETING NHẰM NÂNG CAO NĂNG

LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1 Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.1.1 Cạnh tranh

1.1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh

Trong sự phát triển của nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay, cáckhái nệm liên quan đến cạnh trạnh còn rất khác nhau Theo C.Mác: “ Cạnhtranh TBCN là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằmgiành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá đểthu được lợi nhuận siêu ngạch”, có các quan niệm khác lại cho rằng: “ Cạnhtranh là sự phấn đấu về chất lượng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp mìnhsao cho tốt hơn các doanh nghiệp khác”(Theo nhóm tác giả cuốn “nâng caonăng lực cạnh tranh và bảo hộ sản xuất trong nước”) Theo kinh tế chính trịhọc: “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối thủ nhằm giành lấy thịtrường, khách hàng cho doanh nghiệp mình”

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữacác doanh nghiệp trên thị trường nhằm giành được ưu thế hơn về cùng mộtloại sản phẩm hàng hoá hoặc dịch vụ, về cùng một loại khách hàng so với cácđối thủ cạnh tranh

Động cơ của bất kỳ cuộc cạnh tranh nào cũng là nhằm đạt được ưu thế,lợi ích hơn về lợi nhuận, về thị trường mục tiêu Marketing, về nguồn cungứng, về kỹ thuật, về khách hàng tiềm năng Chính vì động cơ này các chủ thểkinh doanh căn cứ vào vị trí, thế lực của mình để lựa chọn phương thức, công

cụ cạnh tranh thích hợp

Trang 6

1.1.1.2 Các hình thức cạnh tranh

Cạnh tranh được phân loại theo các hình thức khác nhau:

- Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh : Cạnh tranh được chia

thành ba loại:

+ Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Là cuộc cạnh tranh diễn ratheo quy luật mua rẻ bán đắt, cả hai bên đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình.Người bán muốn bán với giá cao nhất để tối đa hoá lợi nhuận còn người muamuốn mua với giá thấp nhưng chất lượng vẫn được đảm bảo và mức giá cuốicùng vẫn là mức giá thoả thuận giữa hai bên

+ Cạnh tranh giữa người mua và người mua: Là cuộc cạnh tranh trên cơ

sở quy luật cung cầu, khi trên thị trường mức cung nhỏ hơn mức cầu Lúc nàyhàng hóa trên thị trường sẽ khan hiếm, người mua để đạt được nhu cầu mongmuốn của mình họ sẽ sẵn sàng mua với mức giá cao hơn do vậy mức độ cạnhtranh sẽ diễn ra gay gắt hơn giữa những người mua, kết quả là giá cả hàng hoá

sẽ tăng lên, những người bán sẽ thu được lợi nhuận lớn trong khi những ngườimua bị thiệt thòi cả về giá cả và chất lượng, nhưng trường hợp này chủ yếuchỉ tồn tại ở nền kinh tế bao cấp và xảy ra ở một số nơi khi diễn ra hoạt độngbán đấu giá một loại hàng hoá nào đó

+ Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Đây là cuộc cạnh tranh gay

go và quyết liệt nhất khi mà trong nền kinh tế thị trường sức cung lớn hơn sứccầu rất nhiều, khách hàng được coi là thượng đế của người bán, là nhân tố cóvai trò quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Dovậy các doanh nghiệp phải luôn ganh đua, loại trừ nhau để giành những ưu thế

và lợi thế cho mình

- Căn cứ theo tính chất và mức độ cạnh tranh: Theo tiêu thức này cạnh

tranh được chia thành hai loại:

Trang 7

+ Cạnh tranh hoàn hảo: Là cạnh tranh thuần tuý, là một hình thức đơngiản của cấu trúc thị trường trong đó người mua và người bán đều không đủlớn để tác động đến giá cả thị trường Nhóm người mua tham gia trên thịtrường này chỉ có cách thích ứng với mức giá đưa ra vì cung cầu trên thịtrường được tự do hình thành, giá cả do thị trường quyết định.

+ Thị trường cạnh tranh không hoàn hảo: Đây là hình thức cạnh tranh

phổ biến trên thị trường mà ở đó doanh nghiệp nào có đủ sức mạnh có thể chiphối được giá cả của sản phẩm thông qua hình thức quảng cáo, khuyến mạicác dịch vụ trong và sau khi bán hàng Cạnh tranh không hoàn hảo là cạnhtranh mà phần lớn các sản phẩm không đồng nhất với nhau, mỗi loại sảnphẩm mang nhãn hiệu và đặc tính khác nhau dù xem xét về chất lượng thì sựkhác biệt giữa các sản phẩm là không đáng kể nhưng mức giá mặc định caohơn rất nhiều Cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại:

+ Cạnh tranh độc quyền: Là cạnh tranh mà ở đó một hoặc một số chủ

thể có ảnh hưởng lớn, có thể ép các đối tác của mình phải bán hoặc mua sảnphẩm của mình với giá rất cao và những người này có thể làm thay đổi giá cảthị trường Có hai loại cạnh tranh độc quyền đó là độc quyền bán và độcquyền mua Độc quyền bán tức là trên thị trường có ít người bán và nhiềungười mua, lúc này người bán có thể tăng giá hoặc ép giá khách hàng nếu họmuốn lợi nhuận thu được là tối đa, còn độc quyền mua tức là trên thị trường

có ít người mua và nhiều người bán khi đó khách hàng được coi là thượng đế,được chăm sóc tận tình và chu đáo nếu không những người bán sẽ không lôikéo được khách hàng về phìa mình Trong thực tế có tình trạng độc quyền xảy

ra nếu không có sản phẩm nào thay thế , tạo ra sản phẩm độc quyền hoặc cácnhà độc quyền liên kết với nhau gây trở ngại cho quá trình phát triển sản xuất

và làm tổn hại đến người tiêu dùng Vì vậy phải có một đạo luật chống độcquyền nhằm chống lại liên minh độc quyền của một số nhà kinh doanh

Trang 8

+ Độc quyền tập đoàn: Hình thức cạnh tranh này tồn tại trong một số

ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít người sản xuất Lúc này cạnh tranh sẽxảy ra giữa một số lực lượng nhỏ các doanh nghiệp Do vậy mọi doanh nghiệpphải nhận thức rằng giá cả các sản phẩm của mình không chỉ phụ thuộc vào sốlượng mà còn phụ thuộc vào hoạt động của những đối thủ cạnh tranh kháctrên thị trường Một sự thay đổi về giá của doanh nghiệp cũng sẽ gây ra nhữngảnh hưởng đến nhu cầu cân đối với các sản phẩm của doanh nghiệp khác.Những doanh nghiệp tham gia thị trường này là những người có tiềm lực kinh

tế mạnh, vốn đầu tư lớn Do vậy việc thâm nhập vào thị trường của các đối thủcạnh tranh thường là rất khó

- Căn cứ vào phạm vi kinh tế:

+ Cạnh tranh nội bộ ngành: Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp

trong cùng một ngành, sản xuất và tiêu dùng cùng một chủng loại sản phẩm.Trong cuộc cạnh tranh này có sự thôn tính lẫn nhau, các doanh nghiệp phải ápdụng mọi biện pháp để thu được lợi nhuận như cải tiến kỹ thuật, nâng caonăng suất lao động, giảm chi phí cá biệt của hàng hoá nhằm thu được lợinhuận siêu ngạch Kết quả là trình độ sản xuất ngày càng phát triển, các doanhnghiệp không có khả năng sẽ bị thu hẹp, thậm chí còn có thể bị phá sản

+ Cạnh tranh giữa các ngành: Là cạnh tranh giữa các ngành kinh tế khácnhau nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất, là cạnh tranh giữa các doanh nghiệphay đồng minh các doanh nghiệp của một ngành với ngành khác Như vậygiữa các ngành kinh tế do điều kiện kỹ thuật và các điều kiện khác nhau nhưmôi trường kinh doanh, thu nhập khu vực, nhu cầu và thị hiếu có tính chấtkhác nhau nên cùng một lượng vốn đầu tư vào ngành này có thể mang lại tỷsuất lợi nhuận cao hơn các ngành khác Điều đó dẫn đến tình trạng nhiềungười sản xuất kinh doanh ở những lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận thấp có xuhướng chuyển dịch sang sản xuất tại những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao

Trang 9

hơn, đó chính là biện pháp để thực hiện cạnh tranh giữa các ngành Kết quả lànhững ngành trước kia có tỷ suất lợi nhuận cao sẽ thu hút các nguồn lực, quy

mô sản xuất tăng Do đó cung vượt quá cầu làm cho giá cả hàng hoá có xuhướng giảm xuống, làm giảm tỷ suất lợi nhuận Ngược lại những ngành trướcđây có tỷ suất lợi nhuận thấp khiến cho một số nhà đầu tư rút vốn chuyển sanglĩnh vực khác làm cho quy mô sản xuất của ngành này giảm, dẫn đến cungnhỏ hơn cầu, làm cho giá cả hàng hoá tăng và làm tăng tỷ suất lợi nhuận

1.1.2 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Trong quá trình nghiên cứu về cạnh tranh, người ta đã sử dụng khái niệmnăng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được xem xét ở nhiều góc độ khácnhau như năng lực cạnh tranh của các quốc Gia - Tỉnh - Thành phố, năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp hay năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịchvụ…“ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thếcủa doanh nghiệp so với đối thủ cạnh trạnh trong việc thỏa mãn tốt nhất cácđòi hỏi của khách hàng để thu được lợi nhuận ngày càng cao hơn”.(1,4) Nhưvậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phải được tạo ra từ thực lực củadoanh nghiệp Đây là yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ đượctính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, hoạt động marketing,

tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá so sánhvới các đối tác cạnh tranh Trên cơ sở so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnhtranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác củamình Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi củakhách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnhtranh

Đánh giá năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp, cần phải xác địnhđược các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh từ những lĩnh vực hoạt độngkhác nhau và cần thực hiện về cả định tính lẫn định lượng Các doanh nghiệp

Trang 10

hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu

tố đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau Mặc dù vậy, vẫn có thể tổng hợpđược các yếu tố đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm: Vịthế tài chính, trình độ lao động, uy tín của sản phẩm trên thì trường, cơ sở vậtchất và công nghệ, hoạt động marketing

1.2 Ý nghĩa và sự cần thiết của viêc nâng cao NLCT của Doanh Nghiệp 1.2.1 Ý nghĩa của việc nâng cao NLCT

Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây phạm trù cạnh tranh hầunhư không tồn tại giữa các doanh nghiệp, tại thời điểm này các doanh nghiệphầu như đã được nhà nước bao cấp hoàn toàn về vốn, chi phí cho mọi hoạtđộng, kể cả khi các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ trách nhiệm này cũng thuộc

về nhà nước Chính điều đó đã không tạo được động lực cho doanh nghiệpphát triển Kết thúc Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) nước ta đãchuyển sang một giai đoạn mới, một bước ngoặt lớn, nền kinh tế thị trườngđược hình thành thì vấn đề cạnh tranh xuất hiện và có vai trò đặc biệt quantrọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với người tiêu dùng cũngnhư nền kinh tế quốc dân nói chung

1.2.1.1 Đối với nền kinh tế quốc dân

- Cạnh tranh là môi trường, là động lực thúc đẩy sự phát triển bình đẳng

mọi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường

- Cạnh tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất,bảo đảm thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động

xã hội ngày càng phát triển sâu và rộng, hiện đại hoá nền kinh tế xã hội

- Cạnh tranh góp phần xoá bỏ những độc quyền bất hợp lý, xoá bỏnhững bất bình đẳng trong kinh doanh Tuy nhiên không phải tất cả các mặtcủa cạnh tranh đều mang tính tích cực mà bản thân nó cũng phải thừa nhậncác mặt tiêu cực như: cạnh tranh không lành mạnh tạo sự phân hoá giàu

Trang 11

nghèo, cạnh tranh không lành mạnh sẽ dẫn đến có những manh mối làm ăn viphạm pháp luật như trốn thuế, hàng giả, buôn bán trái phép những mặt hàng

mà Nhà nước và pháp luật nghiêm cấm Bị cuốn hút vào các mục tiêu cạnhtranh mà các doanh nghiệp đã không chú ý đến các vấn đề xung quanh như:

xử lý chất thải, ô nhiễm môi trường và hàng loạt các vấn đề xã hội khác

- Cạnh tranh có thể có xu hướng dẫn tới độc quyền, cường độ cạnhtranh mạnh sẽ làm ngành yếu đi

Đối với nền kinh, tế cạnh không chỉ là môi trường và động lực của sựphát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suấtlao động mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hoá quan hệ xã hội, cạnhtranh còn là điều kiện giáo dục tính năng động của các doanh nghiệp Bêncạnh đó cạnh tranh góp phần gợi mở những nhu cầu mới của xã hội thông qua

sự xuất hiện của những sản phẩm mới Điều đó chứng tỏ đời sống của conngười ngày càng được nâng cao về chính trị, về kinh tế và văn hoá

1.2.1.2 Đối với doanh nghiệp

- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải tối ưu hoá các yếu tố đầu vào

của sản xuất kinh doanh, phải triệt để không ngừng sáng tạo, tìm tòi

- Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng đưa tiến bộ khoa

học kỹ thuật vào sản xuất, nắm bắt thông tin kịp thời

- Cạnh tranh quy định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường thông

qua những lợi thế mà doanh nghiệp đạt được nhiều hơn đối thủ cạnh tranh.Đồng thời cạnh tranh cũng là yếu tố làm tăng hoặc giảm uy tín của doanhnghiệp trên thương trường

Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng vậy, khi tham gia vào các hoạt độngkinh doanh trên thị trường thì đều muốn doanh nghiệp mình tồn tại và đứngvững Để tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp phải có những chiến lượccạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô

Trang 12

Họ cạnh tranh để giành những lợi thế về phía mình, cạnh tranh để giành giậtkhách hàng, làm cho khách hàng tự tin rằng sản phẩm của DN mình là tốtnhất, phù hợp với thị hiếu, nhu cầu người tiêu dùng nhất Doanh nghiệp nàođáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng, kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ các sảnphẩm cũng như dịch vụ kèm theo với mức giá phù hợp thì DN đó mới có khảnăng tồn tại và phát triển Do vậy cạnh tranh là rất quan trọng và cần thiết.

1.2.1.3 Đối với ngành

- Hiện nay đối với nền kinh tế nói chung và đối với ngành bao bì nói

riêng cạnh tranh đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển, nâng caochất lượng sản phẩm

- Cạnh tranh bình đẳng và lành mạnh sẽ tạo bước đà vững chắc cho mọi

ngành nghề phát triển Nhất là đối vơí ngành bao bì- là một ngành có vai tròtrong sự phát triển của nền kinh tế quốc dân

- Cạnh tranh sẽ tạo bước đà và động lực cho ngành phát triển trên cơ sở

khai thác lợi thế và điểm mạnh của ngành đó là thu hút được một nguồn laođộng dồi dào và có thể khai thác tối đa nguồn lực đó

Như vậy, trong bất cứ một hoạt động kinh doanh nào dù là có quy môhoạt động lớn hay quy mô hoạt động nhỏ, dù là hoạt động đó đứng ở tầm vĩ

mô hay vi mô thì không thể thiếu sự có mặt và vai trò của yếu tố cạnh tranh

1.2.1.4 Đối với sản phẩm

- Nhờ có cạnh tranh, mà sản phẩm sản xuất ra ngày càng được nâng cao

về chất lượng, phong phú về chủng loại, mẫu mã và kích cỡ Giúp cho lợi íchcủa người tiêu dùng và của doanh nghiệp thu được ngày càng nhiều hơn

- Ngày nay các sản phẩm được sản xuất ra không chỉ để đáp ứng nhu

cầu trong nước mà còn cung cấp và xuất khẩu ra nước ngoài

Qua những ý nghĩa trên ta thấy rằng cạnh tranh không thể thiếu sót ở bất

cứ một lĩnh vực nào của nền kinh tế Cạnh tranh lành mạnh sẽ thực sự tạo ra

Trang 13

những nhà doanh nghiệp giỏi và đồng thời là động lực thúc đẩy nền kinh tếphát triển, đảm bảo công bằng xã hội Bởi vậy cạnh tranh là một yếu tố rất cần

có sự hỗ trợ và quản lý của nhà nước để phát huy những mặt tích cực và hạnchế những mặt tiêu cực như cạnh tranh không lành mạnh dẫn đến độc quyền

và gây lũng loạn, xáo trộn thị trường

1.2.2 Sự cần thiết của việc nâng cao NLCT của doanh nghiệp

- Nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại: Xuất phát từ quy luật của

cơ chế thị trường, cạnh tranh đó là đào thải những cái lạc hậu và bình tuyểncái tiến bộ để thúc đẩy hàng hóa phát triển nhằm mục đích thỏa mãn ngườitiêu dùng một cách tốt nhất Trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh là mộtquy luật tất yếu, nó luôn luôn tồn tại cho dù con người có muốn hay không.Các doanh nghiệp muốn trụ vững trên thị trường thì đều phải cạnh tranh gaygắt với nhau, cạnh tranh để giành giật khách hàng, để bán được hàng hoá.Muốn vậy thì họ phải tạo được ra những điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhucầu của khách hàng, làm thế nào để khách hàng tin tưởng vào sản phẩm củadoanh nghiệp, ưa thích và tiều dùng nó Doanh nghiệp nào đáp ứng tốt nhucầu của khách hàng, cung cấp cho họ những dịch vụ thuận tiện và tốt nhất vớimức giá phù hợp thì doanh nghiệp đó mới tồn tại lâu dài được

- Nâng cao khả năng cạnh tranh để phát triển: Ngày nay trong nền

kinh tế thị trường, cạnh tranh là một điều kiện và yếu tố kích thích kinhdoanh Quy luật cạnh tranh là động lực phát triển sản xuất Sản xuất hàng hoángày càng phát triển, hàng hoá bán ra nhiều số lượng người cung ứng ngàycàng đông thì cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kết quả cạnh tranh là loại bỏnhững doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và sự lớn mạnh của những doanhnghiệp làm ăn tốt Do vậy muốn tồn tại và phát triển thì doanh nghiệp cầnphải cạnh tranh, phải tìm mọi cách nâng cao khả năng cạnh tranh của mìnhnhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp cần phải tìm

Trang 14

ra biện pháp như đáp ứng nhu cầu thị hiếu của khách hàng bằng cách sản xuất

và kinh doanh những sản phẩm có chất lượng cao, công dụng tốt nhưng giá cảphải phù hợp Có như thế hàng hóa bán ra của doanh DN mới ngày một nhiều

- Nâng cao khả năng cạnh tranh để thực hiện mục tiêu: Mỗi doanh

nghiệp dù lớn hay nhỏ đều đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định Tuỳthuộc vào từng giai đoạn phát triển mà DN đạt mục tiêu nào nên hàng đầu.Chính vì vậy mà DN luôn phải tìm mọi cách để bán được sản phẩm của mìnhnhiều nhất trên cơ sở tối đa hoá lợi nhuận, cạnh tranh là con đường tốt nhất để

DN có thể tự đánh giá được khả năng và năng lực của mình, từ đó đánh giáđược đối thủ cạnh tranh và tìm ra được con đường để đạt được mục tiêu đó

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.3.1 Các yếu tố chủ quan

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp ta có thể dựa vào một

số chỉ tiêu sau:

1.3.1.1 Khả năng tài chính

Vốn là tiền đề vật chất cần thiết cho mọi hoạt động sản xuất kinhdoanh Bất cứ hoạt động đầu tư, mua sắm hay phân phối nào cũng đều phảixem xét tính toán đến tiềm lực tài chính của doanh nghiệp Một doanh nghiệp

có tiềm lực lớn về tài chính sẽ rất thuận lợi trong việc huy động vốn đầu tư,trong mua sắm đổi mới công nghệ và máy móc cũng như có điều kiện để đàotạo và đãi ngộ nhân sự Những thuận lợi đó sẽ giúp doanh nghiệp nâng caođược trình độ chuyên môn tay nghề cho cán bộ, nhân viên, nâng cao chấtlượng sản phẩm, hạ thấp chi phí để nâng cao sức cạnh tranh cho doanhnghiệp Nếu doanh nghiệp nào yếu kém về tài chính sẽ không có điều kiện đểmua sắm, trang trải nợ và như vậy sẽ không tạo được uy tín về khả năng thanhtoán và khả năng đáp ứng những sản phẩm có chất lượng cao đối với kháchhàng Làm cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không tiến triển được

Trang 15

và có nguy cơ bị thụt lùi hoặc phá sản Như vậy khả năng tài chính là yếu tốquan trọng đầu tiên để doanh nghiệp hình thành và phát triển.

1.3.1.2 Máy móc kỹ thuật, cơ sở hạ tầng

Nguồn lực vật chất kỹ thuật sẽ phản ánh thực lực của doanh nghiệp đốivới thủ cạnh tranh về trang thiết bị hiện có được tận dụng và khai thác trongquá trình hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Bởi vì: Trình độ máymóc, thiết bị và công nghệ có ảnh hưởng mạnh mẽ tới khả năng cạnh tranhcủa doanh nghiệp Một doanh nghiệp có hệ thống trang thiết bị máy móc,công nghệ hiện đại thì các sản phẩm của doanh nghiệp nhất định sẽ được bảotoàn về chất lượng khi đến tay người tiêu dùng Có hệ thống máy móc hiệnđại sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hoá, tăng nhanh vòng quay vềvốn, giảm bớt được khâu kiểm tra về chất lượng hàng hoá có được bảo đảmhay không Nếu xét về công nghệ máy móc có ảnh hưởng đến giá thành củasản phẩm và như vậy sẽ ảnh hưởng đến giá bán của doanh nghiệp Ngày nay

do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cuộc chiến giữa cácdoanh nghiệp đang trở thành cuộc cạnh tranh về trí tuệ, về trình độ công nghệ.Công nghệ tiên tiến không những đảm bảo năng suất lao động, chất lượng sảnphẩm cao, giá thành hạ mà còn có thể xác lập tiêu chuẩn mới cho từng ngànhsản xuất kỹ thuật Mặt khác khi mà việc bảo vệ môi trường như hiện nay đangtrở thành một vấn đề của toàn cầu thì doanh nghiệp nào có trình độ công nghệcao thiết bị máy móc nhất định sẽ dành được ưu thế trong cạnhh tranh

1.3.1.3 Nhân sự

Con người là yếu tố quyết định mọi thành bại của hoạt động kinhdoanh Bởi vậy, doanh nghiệp phải chú ý việc sử dụng con người phát triểnnhân sự, xây dựng môi trường văn hoá và có nề nếp, tổ chức của doanhnghiệp Đồng thời doanh nghiệp phải quan tâm đến các chỉ tiêu rất cơ bản như

Trang 16

số lượng lao động, trình độ nghề nghiệp, năng suất lao động, thu nhập bìnhquân, năng lực của cán bộ quản lý.

Con người là yếu tố chủ chốt, là tài sản quan trọng và có giá trị caonhất của doanh nghiệp Bởi chỉ có con người mới có đầu óc và sáng kiến đểsáng tạo ra sản phẩm, chỉ có con người mới biết và khơi dậy được nhu cầucon người, chỉ có con người mới tạo được uy tín và hình ảnh của doanhnghiệp mà tất những yếu tố này hình thành nên khả năng cạnh tranh Vậymuốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình doanh nghiệp phải chú ý quantâm đến tất cả mọi người trong doanh nghiệp, từ những người lao động bậcthấp đến nhà quản trị cấp cao nhất, bởi mỗi người đều có một vị trí quan trọngtrong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Những người lãnh đạochính là những người đi đầu trong việc xây dựng và phát triển doanh nghiệp,

họ là những người có quyền lực cao nhất và trách nhiệm thuộc về họ cũng lànặng nề nhất Họ chính là những người xác định hướng đi và mục tiêu chodoanh nghiệp, còn thực hiện quyết định của họ là những nhân viên dướiquyền

1.3.1.4 Hoạt động Marketing

Theo Philip Kotler “Marketing là sự phân tích kế hoạch hoá, tổ chức và

kiểm tra những khả năng câu khách của một Công ty cũng như những chính sách và hoạt động với quan điểm thoả mãn nhu cầu, mong muốn của nhóm khách hàng mục tiêu” Nhiệm vụ cơ bản của Marketing là tạo khách hàng cho

doanh nghiệp, giống như sản xuất tạo ra sản phẩm Marketing có vai trò đặcbiệt quan trọng trong quản trị kinh doanh của doanh nghiệp Marketing làmcho khách hàng và người sản xuất xích lại gần nhau hơn Ngoài ra, nó còn cóvai trò hướng dẫn, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp một cách nhịp nhàng Nhờ Marketing mà doanh nghiệp cónhững thông tin phản hồi từ phía khách hàng, để rồi có sự thay đổi và thoả

Trang 17

mãn tối đa nhu cầu của khách hàng Ngày nay, Marketing là một trong nhữngcông cụ hữu hiệu giúp cho doanh nghiệp có được vị thế trên thương trường.Với các lợi thế trên Marketing đã mang lại những thắng lợi cho nhiều doanhnghiệp Nó đã trở thành một trong những vũ khí cạnh tranh rất hiệu quả.

- Tổ chức Marketing: Để thực hiện công việc Marketing cần xây dựng

một cơ cấu tổ chức Marketing đủ mạnh Yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp

là phải xác định được đúng mô hình cơ cấu tổ chức, phù hợp với đặc điểmnguồn lực và tình hình kinh doanh của mình, tổ chức chặt chẽ, phù hợp thìthực hiện mới đầy đủ, chính xác

- Hệ thống thông tin Marketing: Các thông tin Marketing mà doanh

nghiệp cần phải tìm kiếm và xử lý những thông tin về thị trường (khách hàng)mục tiêu, thông tin về nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, công chúng, thông tinnội bộ vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp hiện nay Không phải doanhnghiệp nào cũng có thể tìm kiếm, thu thập được thông tin về thị trường mộtcách đầy đủ, chính xác Do vậy, doanh nghiệp cần có được đội ngũ nhân viênMarketing có trình độ chuyên môn cao, có được sự quan tâm và đầu tư củaban lãnh đạo doanh nghiệp về hoạt động thu thập thông tin trên thị trường

- Các chương trình Marketing hỗn hợp: Khi đánh giá năng lực cạnh

tranh của doanh nghiệp cần đặc biệt cân nhắc đến tính hiệu lực và hiệu quảcủa các chiến lược Marketing-mix, xem xét các chính sách Marketing này đãđược phối hợp và thực hiện hiện một cách đồng bộ, nhất quán như thế nàotrong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

- Kiểm tra Marketing: Để đảm bảo các kế hoạch Marketing đã được

thành công, mỗi doanh nghiệp cần tiến hành kiểm tra, thực hiện theo dõi cácđơn vị kinh doanh của doanh nghiệp nhằm khẳng định rằng các mục tiêuMarketing sẽ được đáp ứng Kiểm tra để phát hiện hệ thống Marketing có

Trang 18

cung cấp thông tin một cách đầy đủ, kịp thời và rõ ràng hay không và từ đókịp thời điều chỉnh hoạt động cho đúng hướng.

1.3.2 Các yếu tố khách quan

Là hệ thống toàn bộ các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp, có liên quan vàảnh hưởng đến quá trình tồn tại, vận hành và phát triển của doanh nghiệp.Một số yếu tố khách quan như là:

Để giảm tính độc quyền và sức ép từ phía các nhà cung cấp, các doanhnghiệp phải biết tìm đến các nguồn lực tin cậy, ổn định và giá cả hợp lý vớiphương châm là đa dạng hoá các nguồn cung cấp, thực hiện nguyên tắc

“không bỏ tiền vào một ống” Mặt khác trong quan hệ này doanh nghiệp nêntìm cho mình một nhà cung cấp chính có đầy đủ sự tin cậy, nhưng phải luôntránh sự lệ thuộc, cần phải xây dựng kế hoạch cung ứng cho mình Như vậydoanh nghiệp cần phải thiết lập mối quan hệ lâu dài với các nhà cung cấp để

họ cung cấp đầy đủ về số lượng

Trang 19

1.3.2.2 Các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn

Doanh nghiệp luôn phải đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh.Vấn đề quan trọng ở đây là không được coi thường bất kỳ đối thủ nào, nhưngcũng không nên coi đối thủ là kẻ địch Cách xử lý khôn ngoan nhất khôngphải là hướng mũi nhọn vào đối thủ của mình mà ngược lại vừa phải xác định,điều khiển và hoà giải, lại vừa phải hướng suy nghĩ và sự quan tâm của mìnhvào khách hàng có nghĩa là mình đã thành công một phần trong cạnh tranh.Mặt khác cũng nên quan tâm tới việc dự đoán trong tương lai và định hướngtới khách hàng Trên thực tế cho thấy cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặtkhác nhau nhưng có thể nói cạnh tranh với nhau chủ yếu là khách hàng Vìthế, trong cạnh tranh người được lợi nhất là khách hàng, nhờ có cạnh tranh màkhách hàng được tôn vinh là thượng đế Để có và giữ được khách hàng, doanhnghiệp cần phải tìm cách sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng tốt hơn,đẹp hơn và rẻ hơn, không những thế còn phải chiều lòng khách hàng lôi kéokhác hàng bằng cách hoạt động quảng cáo khuyến mãi và tiếp thị

Có thể nói rằng khi doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác mớibắt đầu bước chân vào thị trường thì họ là những đồng nghiệp, những đối tác

để gây dựng thị trường, để hình thành nên một khu vực cung cấp hàng hoá vàdịch vụ cho khách hàng Nhưng khi có người khách hàng đầu tiên bước vàokhu vực thị trường này, thì họ sẽ trở thành đối thủ của nhau, họ tìm mọi cách

để lôi kéo khách hàng về phía mình

Trong những thời điểm và những giai đoạn khác nhau thường có nhữngđối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ yếu hơn rút rakhỏi thị trường Để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, các doanhnghiệp thường thực hiện các chiến lược như phân biệt sản phẩm, nâng caochất lượng sản phẩm, bổ sung những đặc điểm mới của sản phẩm, khôngngừng cải tiến, hoàn thiện sản phẩm của mình có những đặc điểm khác biệt

Trang 20

nổi trội hơn trên thị trường, doanh nghiệp nên đề phòng và lường trước cácđối tác làm ăn, các bạn hàng, bởi vì họ có thể trở thành những đối thủ cạnhtranh tiềm ẩn Nếu ở trong một thị trường kinh doanh nhất định, doanh nghiệpvượt trội lên các đối thủ về chất lượng sản phẩm, về giá cả và chất lượng phục

vụ thì doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh và sẽ có điều kiện để tiến xahơn so với các đối thủ

1.3.2.3 Khách hàng

Khách hàng là những người đang mua và sẽ mua hàng của doanhnghiệp Đối với doanh nghiệp khách hàng là yếu tố quan trọng nhất, quyếtđịnh nhất đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Tính chất quyếtcủa khách hàng thể hiện ở các mặt sau:

Khách hàng quyết định hàng hoá của doanh nghiệp được bán theo giánào? Trên thực tế doanh nghiệp chỉ có thể bán với giá mà khách hàng chấpnhận Khách hàng quyết định doanh nghiệp bán sản phẩm như thế nào?Phương thức bán hàng và phương thức phục vụ khách hàng do khách hànglựa chọn, vì trong nền kinh tế thị trường người mua có quyền lưạ chọn theo ýthích của mình và đồng thời quyết định phương thức phục của người bán.Điều này cho thấy tính chất quyết định của khách hàng làm cho thị trườngchuyển từ thị trường người bán sang thị trường người mua, khách hàng trởthành thượng đế Do vậy doanh nghiệp chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi yếu tốkhách hàng, khách hàng có thể yêu cầu doanh nghiệp về chất lượng sản phẩmcao hơn, hoặc ép giảm giá xuống, mặt khác khách hàng còn làm cho các đốithủ cạnh tranh chống chọi lại nhau và dẫn đến làm giảm lợi nhuận của doanhnghiệp Nhóm khách hàng thường gây áp lực với doanh nghiệp là nhữngnhóm khách hàng tập trung và mua với khối lượng lớn Nhóm khách hàngmua đúng tiêu chuẩn phổ biến và không có gì khác biệt vì họ có thể tìm đượcnhà cung cấp khác một cách dễ dàng hoặc nhóm khách có đầy dủ thông tin về

Trang 21

sản phẩm, giá cả thị trường, giá thành của nhà cung cấp Điều này đem lại chokhách một lợi thế mạnh hơn trong chiến lược giá so với trường hợp họ chỉ có

ít thông tin

Bên cạnh đó sự yêu cầu của khách hàng cũng sẽ gây áp lực làm tụtgiảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Điều này thể hiện ở chỗ nếudoanh nghiệp không theo đuổi kịp những thay đổi trong nhu cầu của kháchhàng thì họ sẽ có xu hướng chuyển dịch sang những doanh nghiệp khác màdoanh nghiệp đó có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của họ Hiện tượng này dẫnđến lượng khách hàng sẽ giảm đi và ngày một thưa dần nếu doanh nghiệpkhông kịp thời đáp ứng nhu cầu của họ Và như vậy sức cạnh tranh sẽ giảmsút Điều đó chứng tỏ yếu khách hàng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự tồn tại,vận hành và phát triển của doanh nghiệp

1.3.2.4 Sự xuất hiện sản phẩm thay thế

Những sản phẩm thay thế cũng là một trong các lực lượng tạo nên sức

ép cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp cùng ngành Sự ra đời của sảnphẩm mới là một tất yếu nhằm đáp ứng biến động của nhu cầu của thị trườngtheo hướng ngày càng đa dang, phong phú Chính nó làm giảm khả năng cạnhtranh của các sản phẩm bị thay thế Các sản phẩm thay thế nó sẽ có ưu thếhơn và sẽ dần thu hẹp thị trường của sản phẩm thay thế Để khắc phục tìnhtrạng thị trường bị thu hẹp các doanh nghiệp phải luôn hướng tới những sảnmới, nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã hay nói cách khác doanhnghiệp phải luôn hướng tới khách hàng để tìm độ thoả dụng mới

1.4 Các hoạt động Marketing nhằm nâng cao NLCT của doanh nghiệp

1.4.1 Nghiên cứu thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thị trường

- Nghiên cứu thị trường: Thị trường bao gồm tất cả những khách hàng

tiềm ẩn cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sãn sàng và có khả năng

Trang 22

tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó"(16,5) Cạnh tranhđòi hỏi doanh nghiệp phải phát triển công tác Maketing bắt đầu từ việc nghiêncứu thị trường để quyết định sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và sảnxuất cho ai? Nghiên cứu thị trường để DN xác định được nhu cầu thị trường

và chỉ sản xuất ra những gì mà thị trường cần chứ không sản xuất những gì

mà DN có Cạnh tranh buộc các DN phải đưa ra các sản phẩm có chất lượngcao hơn, tiện dụng với người tiêu dùng hơn Cạnh tranh thắng lợi sẽ tạo chodoanh nghiệp một vị trí xứng đáng trên thị trường tăng thêm uy tín cho DN.Trên cơ sở đó sẽ có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tái sản xuất xãhội, tạo đà phát triển mạnh cho nền kinh tế

Để thành công trên thương trường đòi hỏi bất kỳ một doanh nghiệp nàocũng phải thực hiện công tác nghiên cứu, thăm dò và thâm nhập thị trườngnhằm mục tiêu nhận biết và đánh giá khái quát khả năng thâm nhập vào thịtrường của doanh nghiệp mình để từ đó đưa ra định hướng cụ thể để thâmnhập thị trường, chiếm lĩnh thị trường nhanh chóng Việc nghiên cứu thịtrường tạo điều kiện cho các sản phẩm của doanh nghiệp xâm nhập và thíchứng với thị trường và làm tăng sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó

Quá trình nghiên cứu thị trường được thực hiện qua 3 bước:

+ Thu thập thông tin

+ Xử lý thông tin

+ Ra quyết định

- Lựa chọn thị trường mục tiêu: "Thị trường mục tiêu là một vài đoạn thị

trường mà DN lựa chọn và quyết định tập trung nỗ lực Marketing vào đónhằm đạt được mục tiêu kinh doanh của mình Để lựa chọn đúng thì trườngmục tiêu, doanh nghiệp phải quyết định sẽ lựa chọn loại khách hàng nào(đoạn thị trường nào) và có bao nhiêu loại khách hàng được lựa chọn?(185,5)

Để có các quyết định xác đáng về các đoạn thị trường được lựa chọn, người

Trang 23

làm Marketing cần thực hiện hai nhóm công việc chủ yếu sau: thứ nhất, đánhgiá sức hấp dẫn của đoạn thị trường, thứ hai, lựa chọn những đoạn thị trườngdoanh nghiệp sẽ phục vụ hay những thị trường mục tiêu.

- Định vị thị trường: Được gọi là " xác định vị thế trên thị truờng mục

tiêu" Marketing luôn coi định vị thị trường là chiến lược chung nhất, chi phốimột chương trình Marketing được áp dụng ở thị trường mục tiêu." Định vị thìtrường là thiết kế sản phẩm và hình ảnh của doanh nghiệp nhằm chiếm đượcmột vị trí đặc biệt và có giá trị trong tâm trí khách hàng mục tiêu"." Định vịthì trường đòi hỏi doanh nghiệp phải quyết định khuyếch trương bao nhiêuđiểm khác biệt và những điểm khác biệt nào giành cho khách hàng mụctiêu."(202,5).Lý do phải định vị thị trường: có ba lý do

+ Thứ nhất, do quá trình nhận thức của khách hàng Có thể khẳng định

rằng, khả năng nhận thức và ghi nhớ thông tin của con người là có hạn Bộnão của con người được sử dụng để làm nhiệm vụ chọn lọc các hình ảnh vềthế giới xung quanh và loại bỏ những thông tin không cần thiết Vì vậy, cầnphải có những thông điệp rõ ràng, xúc tích, gây ấn tượng cùng với việc chàobán các sản phẩm, dịch vụ có vị thế tốt mới có khả năng thâm nhập vào nhậnthức của khách hàng

+ Thứ hai, do yêu cầu tất yếu để cạnh tranh Mức độ cạnh tranh ngày

càng gay gắt vừa là một thực tế, vừa là một thách thức đối với bất kỳ mộtdoanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển Xác định vị thế là một phươngpháp được sử dụng nhằm tạo ra cho sản phẩm một hình ảnh độc đáo và khácbiệt so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh Bài học rút ra từ thực tiến củacác doanh nghiệp thành công chính là họ đã tạo ra được một vị thế có giá trịtrên thị trường mục tiêu, vừa có khả năng gia tăng sự ưa chuộng của kháchhàng với sản phẩm, vừa có khả năng cạnh tranh

Trang 24

+ Thứ ba, do dung lượng lớn của các thông điệp quảng cáo Dung

lượng quá lớn của các thông điệp quảng cáo làm cho khách hàng khó lòngtiếp nhận được tất cả những gì họ đã xem, nghe hay nhìn, đọc Để thu hútđược sự chú ý của khách hàng khi họ bị ngập trong sự hỗn loạn của nhữngquảng cáo thương mại, cách tốt nhất chỉ có thể là định vị có hiệu quả Khiđịnh vị tốt, thông điệp quảng cáo có thể sẽ gây được sự chú ý của khách hàngnhờ truyển tải được những ý tưởng rõ ràng về tính khách biệt, độc đáo của sảnphẩm phù hợp với những lợi ích mà khách hàng mong đợi

Để có được một chiến lược định vị trở nên săc bén, người làm Marketingcần tập trưng nổ lực vào một số hoạt động: Tạo ra một hình ảnh cụ thể chosản phẩm, nhãn hiệu trong tâm trí khách hàng ở thị trường mục tiêu Lựa chọn

vị thể của sản phẩm, của doanh nghiệp trên thị trường mục tiêu Tạo ra sựkhác biệt cho sản phẩm, nhãn hiệu Lựa chọn và khuyếch trương những điểmkhác biệt có ý nghĩa

1.4.2 Các chiến lược Marketing hỗn hợp

Công cụ cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu tập hợp các yếu tố, các

kế hoạch, các chiến lược, các chính sách, các hành động mà doanh nghiệp sửdụng nhằm vượt trên các đối thủ cạnh tranh và tác động vào khách hàng đểthoả mãn mọi nhu cầu của khách hàng Từ đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm,thu được lợi nhuận cao Nghiên cứu các công cụ cạnh tranh cho phép cácdoanh nghiệp lựa chọn những công cụ cạnh tranh phù hợp với tình hình thực

tế, với quy mô kinh doanh và thị trường của doanh nghiệp Từ đó phát huyđược hiệu quả sử dụng công cụ, việc lựa chọn công cụ cạnh tranh có tính chấtlinh hoạt và phù hợp không theo một khuôn mẫu cứng nhắc nào Dưới đây làmột số công cụ cạnh tranh tiêu biểu và quan trọng mà các doanh nghiệpthường phải dùng đến chúng

Ngày đăng: 19/12/2013, 13:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty - Một số giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần nhựa, bao bì vinh
2.1.3.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty (Trang 36)
Bảng 2.2. Tình hình tài chính của công ty CP nhựa, bao bì Vinh - Một số giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần nhựa, bao bì vinh
Bảng 2.2. Tình hình tài chính của công ty CP nhựa, bao bì Vinh (Trang 41)
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty - Một số giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh tại công ty cổ phần nhựa, bao bì vinh
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty (Trang 47)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w