Vì vậy công tác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên đủ về sốlượng, đảm bảo cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ, đạt yêu cầu về chất lượngchuyên môn của Trường cao đẳng nghề Việt - Đức Hà
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN DUY VINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁPBỒI DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT – ĐỨC HÀ TĨNH
GIAI ĐOẠN 2008 – 2015
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.05
Trang 2Vinh tháng 12/2008
CÁC KÝ HI U VI T T TỆU VIẾT TẮT ẾT TẮT ẮT ĐCSVN : Đảng Cộng Sản Việt Nam
CBCNV : Cán bộ công nhân viên
CĐ - ĐH : Cao đẳng- Đại học
CHXHCN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
CNC Điều khiển kỷ thuật số
CNH - HĐH : Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá
CNKT : Công nhân kỹ thuật
DED Tổ chức hỗ trợ phát triển Đức
GD - ĐT : Giáo dục- Đào tạo
GD KTNN : Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp
GTZ Tổ chức Hợp tác Khoa học kỹ thuật Đức
GVDN : Giáo viên dạy nghề
HS – SV : Học sinh- Sinh viên
INWENT Tổ chức bồi dưỡng và Phát triển Quốc tế Đức KHCN : Khoa học- Công nghệ
KTV : Kỹ thuật viên
KT-XH : Kinh tế - Xã hội
LĐTB & XH : Lao động- Thương binh và Xã hội
NCKH : Nghiên cứu khoa học
QLGD : Quản lý giáo dục
SPKT : Sư phạm kỹ thuật
TCDN : Tổng cục dạy nghề
M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 4
PHẦN II NỘI DUNG 9
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài: 10
1.1.1 Khái niệm về giáo viên: 10
1.1.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên: 11
1.1.3 Khái niệm về chất lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên: 12
Trang 31.1.4 Khái niệm về QL, QL nguồn nhân lực, QL ĐNGV 20
1.1.5 Khái niêm về đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại: 22
1.1.6 Giải thích từ ngữ: dạy nghề, mô đun, chương trình khung, tiêu chuẩn kỷ năng nghề trong đào tạo nghề 24
1.2 Quan niệm về bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên: 25
1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 28
1.3.1 Vị trí vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển KT-XH 28
1.3.2 Giáo dục – Đào tạo với sự phát triển Kinh tế – Xã hội 30
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở các trường dạy nghề 35
1.3.4 Tiêu chuẩn giáo viên trường Cao đẳng nghề 39
Chương 2 THƯC TRẠNG ĐỘI NGŨ GVDN TRƯỜNG CĐN VIỆT ĐỨC HÀ TĨNH 41
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của trường CĐN Việt - Đức HT 41
2.1.1 Tình hình Kinh tế - Xã hội Tỉnh Hà Tĩnh 41
2.1.2 Thực trạng, nhu cầu nguồn nhân lực của thị trường lao động HT 43 2.1.3 Khái quát về công tác đào tạo nghề tại tỉnh Hà Tĩnh 47
2.1.4 Quá trình hình thành và phát triển của trường CĐN Việt - Đức Hà Tĩnh 48
2.2 Chức năng, NV và tổ chức bộ máy của trường CĐN Việt - Đức HT 50
2.2.1 Chức năng nhiệm vụ: 50
2.2.2 Tổ chức bộ máy của trường CĐN Việt - Đức Hà Tĩnh 52
2.2.3 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo 55
2.2.4 Chương trình đào tạo 57
2.2.5 Kết quả đào tạo từ 2006 – 2008 57
2.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên trườngCĐN Việt Đức Hà Tĩnh 58
2.3.1 Về số lượng 58
2.3.2 Cơ cấu đội ngũ giáo viên 59
2.3.3 Phẩm chất đội ngũ giáo viên 61
2.3.4 Trình độ đội ngũ giáo viên 62
2.3.5 Năng lực đội ngũ giáo viên 64
2.4 Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo viên trường CĐN Việt –Đức Hà Tĩnh 68
2.4.1 Phát triển về số lượng 68
2.4.2 Bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên 69
2.5 Đánh giá chung về thực trạng ĐNGV trường CĐN Việt Đức Hà Tĩnh 72 2.5.1 Ưu điểm và những hạn chế của đội ngũ giáo viên 72
2.5.2 Những thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên 74
Kết luận chương II 77
Trang 4Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐNGV
TRƯỜNG CĐN VIỆT ĐỨC HÀ TĨNH ĐẾN NĂM 2015 78
3.1 Định hướng và quan điểm của việc xây dựng các giải pháp 78
3.1.1 Định hướng của giải pháp 78
3.1.2 Quan điểm của việc xây dựng các giải pháp 79
3.1.3 Mục tiêu bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên trường CĐN Việt - Đức Hà Tĩnh 80
3.2 Một số giải pháp bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên trường CĐN Việt – Đức Hà Tĩnh giai đoạn 2008 – 2015 81
3.2.1 Giải pháp Quy hoạch đội ngũ giáo viên 81
3.2.2 Giải pháp có cơ chế thu hút, tuyển chọn bổ sung giáo viên 86
3.2.3 Giải pháp Rèn luyện và sử dụng hợp lý đội ngũ GV hiện có 88
3.2.4 Giải pháp Đào tạo bồi dưỡng, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ 92
3.2.5 Giải pháp Giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức về trách nhiệm của người giáo viên 97
3.2.6 Giải pháp Tăng cường công tác kiểm tra và đánh giá 99
3.2.7 Giải pháp Có chế tài phù hợp để động viên khen thưởng và xử lý đối với cán bộ giáo viên 102
3.2.8 Giải pháp Chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho đội ngũ giáo viên 103
3.3 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các giải pháp 106
Kết luận chương 3 107
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
1 Kết luận 109
2 Khuyến nghị 110
TÀI LIÊU THAM KHẢO 112
PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt nam đã
mở ra cho nước ta một bước ngoặt lịch sử, đưa nước ta sang thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vững bước đi lên CNXH Yếu
Trang 5tố cơ bản đảm bảo cho sự phát triển nhanh và bền vững sự nghiệp CNH HĐH là phát triển mạnh sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo, phát triển nguồnnhân lực Giáo dục - Đào tạo là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp cáchmạng của Đảng của Dân tộc, là động lực phát triển kinh tế - xã hội Đảng vànhà nước ta hết sức coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo Nghị quyết Đại
-hội lần thứ VIII của Đảng xác định: " Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài".
Trong quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo, chất lượng độingũ giáo viên có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục - đào tạo Vai tròcủa Thầy giáo trong sự nghiệp phát triển giáo dục được khẳng định trong nghịquyết hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành TW Đảng khóa VIII:
Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hộitôn vinh Và: Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục
là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũgiáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị tư tưởng, đạođức và năng lực chuyên môn nghiệp vụ
Chỉ thị 40/CT-TW của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa IX ngày15/06/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và quản
lý giáo dục đã chỉ đạo:
Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàndiện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa mang tínhchiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáodục giao đoạn 2001 - 2010 và chấn hưng đất nước Mục tiêu là xây dựngđội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảochất lượng đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu
Trang 6Trường cao đẳng nghề Việt - Đức Hà tĩnh được thành lập tại Quyết địnhsố: 1871/2007/BLĐTBXH của Bộ Lao động TBXH ngày 31/12/2007 trên cơ
sở Trường dạy nghề kỹ thuật Việt - Đức Hà Tĩnh Trường thuộc quy hoạchmạng lưới trường Cao đẳng nghề khu vực Bắc miền Trung và của cả nước.Trường có cơ sở vật chất tốt, với trang thiết bị dạy nghề được phía CHLBĐức trang bị đồng bộ hiện đại tiếp cận được với trình độ tiên tiến của khuvực Mục tiêu của trường là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp phục vụ choquá trình CNH - HĐH của tỉnh nhà và của cả nước, đồng thời thông qua đàotạo nghề cung cấp cho người lao động kỹ năng nghề nhằm giúp họ có khảnăng tìm kiếm việc làm có thu nhập một cách bền vững Từ năm học 2008 -
2009 trường chính thức đào tạo nghề cả 3 cấp trình độ: Cao đẳng nghề, trungcấp nghề và sơ cấp nghề đúng như quy định tại Luật Giáo dục và Luật Dạynghề
Trong những năm qua, tiền thân là Trường dạy nghề kỹ thuật Việt - Đức
Hà Tĩnh đã được đánh giá tốt không những về cơ sở vật chất mà còn đượcđánh giá tốt về đội ngũ giáo viên, chất lượng đào tạo và công tác quản lý.Trường đã được đoàn thẩm định cấp nhà nước hai Chính phủ đánh giá là dự
án có đầu tư nước ngoài thành công trong lĩnh vực dạy nghề
Tuy nhiên so với yêu cầu nhiệm vụ CNH - HĐH trong giai đoạn hiện naycủa tỉnh, do trường mới được nâng cấp lên trường Cao đẳng nghề ( Tháng12/2007) với yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và yêu cầu đào tạo, nghiêncứu khoa học, trường còn một số vấn đề cần giải quyết sau đây:
- Đội ngũ giáo viên còn thiếu nhiều so với yêu cầu nhiệm vụ
- Cơ cấu đội ngũ giáo viên về chuyên môn, về trình độ chưa đáp ứng đủcho các nghề và các cấp độ đào tạo Thiếu giáo viên có trình độ cao và chuyênsâu
Trang 7- Thực hiện kế hoạch, nội dung chương trình đào tạo bồi dưỡng nâng caonăng lực chuyên môn và sư phạm gặp khó khăn do thiếu giáo viên đứng lớp.
- Tổ chức biên chế đội ngũ giáo viên cơ hữu chưa phù hợp so với chuẩncủa trường Cao đẳng nghề
Vì vậy công tác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên đủ về sốlượng, đảm bảo cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ, đạt yêu cầu về chất lượngchuyên môn của Trường cao đẳng nghề Việt - Đức Hà tĩnh trở nên vô cùngcấp bách mới có thể đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực kỹ thuật và nghiên cứukhoa học trong giai đoạn hiện nay
Là một người tham gia quản lý nhà trường, với mong muốn ứng dụngkiến thức đã được học góp phần xây dựng nhà trường phát triển vững mạnh
hoàn thành tốt nhiệm vụ, tôi chọn nghiên cứu vấn đề: "Một số giải pháp bồi
dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức
Hà tĩnh trong giai đoạn 2008 - 2015" làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Quản lý Giáo dục Tôi hy vọng góp phần nghiên cứu, đề xuất một sốgiải pháp thiết thực có tính khả thi nhằm bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáoviên Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Hà tĩnh trong giai đoạn 2008 - 2015
từ nay đến năm 2015
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu :
Trang 83.1 Khách thể nghiên cứu: Đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng nghềViệt - Đức Hà Tĩnh.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp bồi dưỡng và phát triển độingũ giáo viên Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Hà Tĩnh giai đoạn 2008 -
5 Giả thuyết khoa học:
Nếu có được những giải pháp có tính hệ thống, đồng bộ hợp lý và khả thibồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức
Hà Tĩnh do tác giả đề xuất phù hợp với chủ trương phát triển Kinh tế - Xã hộiđịa phương thì sẽ đáp ứng tốt nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học, nângcao chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường và chất lượng đào tạo
6 Nhiệm vụ nghiên cứu:
6.1 Nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Phân tích và đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên của trường Caođẳng nghề Việt - Đức Hà Tĩnh
6.3 Đế xuất một số giải pháp bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viêntrường Cao đẳng nghề Việt - Đức Hà Tĩnh giai đoạn 2008 - 2015
7 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các văn kiện,
nghị quyết của Đảng, nhà nước, các chuyên đề đã được học và các tài liệukhoa học có liên quan làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp thực tiễn:
Trang 9Khảo sát, phân tích các số liệu thống kê; tổng kết phân tích tình hìnhthực tiễn; phỏng vấn, tọa đàm, điều tra bằng phiếu hỏi.
7.3 Nhóm các phương pháp bổ trợ
8 Cấu trúc luận văn:
Phần I Phần mở đầu
Phần II Nội dung ( gồm 3 chương):
Chương 1: Cơ sở lý luận về bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên.Chương 2: Thực trạng đội ngũ giáo viên Trường Cao đẳng nghề Việt -Đức Hà Tĩnh
Chương 3: Một số giải pháp bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viênTrường Cao đẳng nghề Việt - Đức Hà Tĩnh giai đoạn 2008- 2015
Phần III Kết luận và khuyến nghị.
Cuối luận văn có:
Danh mục Tài liệu tham khảo và phụ lục
Trang 10PHẦN II
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG VÀ
PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài:
Trang 11Để giải quyết một số vấn đề trong luận văn chúng tôi thấy cần làm rõmột số khái niệm chủ yếu liên quan và làm cơ sở lý luận của đề tài Các kháiniệm ở đây đều có tầm quan trọng và liên quan tới luận văn và được trình bàythống nhất.
1.1.1 Khái niệm về giáo viên:
Có nhiều cách tiếp cận với khái niệm giáo viên Xưa nay ông cha tathường nói “ Không thầy đố mầy làm nên”, “ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” ýnói đạo lý tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn là truyền thống của ngườiViệt Nam từ xưa, đồng thời cũng khẳng định “ thầy giáo” là người làm nghềdạy học
Trong xã hội mới của chúng ta, người thầy được xã hội tôn vinh vàđược coi là “kỹ sư tâm hồn” giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ Trong từ điểntiếng Việt, khái niệm giáo viên là người dạy học bậc phổ thông hoặc tươngđương
Luật Giáo dục của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Điều 61nêu:
Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trườnghoặc các cơ sở giáo dục khác, và Nhà giáo phải có các tiêu chuẩn sau:
a) Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
b) Đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ;
c) Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
d) Lý lịch bản thân rõ ràng.”
Tuy cách đề cập, định nghĩa về giáo viên nêu trên theo nghĩa rộng, hẹpkhác nhau nhưng đều thống nhất ở bản chất của người giáo viên Đó là ngườilàm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở đào tạokhác nhằm thực hiện mục tiêu của giáo dục là xây dựng và hình thành kỹnăng và nhân cách cho người học, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển xã hội
Trang 121.1.2 Khái niệm về đội ngũ giáo viên:
Khi nói đến đội ngũ các nhà khoa học đều cho rằng “Đội ngũ là khốiđông người cùng chức năng, nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành mộtlực lượng”
Trong các tổ chức xã hội đội ngũ được dùng như: “Đội ngũ trí thức, độingũ công nhân viên chức, đội ngũ giáo viên ” đều có gốc xuất phát từ độingũ theo thuật ngữ dùng trong quân đội Đó là một khối đông người được tổchức thành một lực lượng chiến đấu hoặc bảo vệ
Từ đó chúng ta có thể hiểu: Đội ngũ giáo viên là một tập thể người cócùng chức năng, nghề nghiệp ( nghề dạy học) cấu thành một tổ chức và lànguồn nhân lực của tổ chức đó; cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện mụctiêu giáo dục – đào tạo đã đề ra cho tập thể đó; họ làm việc theo kế hoạchđồng thời chịu sự ràng buộc của những quy tắc hành chính của ngành và theoquy định của pháp luật
1.1.3 Khái niệm về chất lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên:
Trong công tác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ nói chung và đội ngũgiáo viên nói riêng, yếu tố quan trọng nhất mà nhà quản lý phải đặc biệt quantâm, đó là vấn đề “Chất lượng đội ngũ” Trước khi bàn về vấn đề chất lượngđội ngũ giáo viên chúng ta cần làm rõ một số vấn đề cơ bản sau đây
1.1.3.1 Quan niệm về chất lượng nói chung:
Theo Từ điển tiếng Việt do nhà xuất bản văn hóa – Bộ thông tin ấnhành năm 1999 xác định:
Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chấtcủa sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt
nó với sự vật khác, chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất
Trang 13lượng biểu hiện ra bên ngoài, qua các thuộc tính Nó là cái liên kết cácthuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó sự vật như một tổng thể baoquát toàn bộ sự vật và không tách rời khỏi sự vật Sự vật khi vẫn còn làbản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượngkéo theo sự thay đổi của sự vật, về căn bản chất lượng của sự vật bao giờcũng gắn với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoàitính quy định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng có sự thống nhất giữa số lượng
và chất lượng
Qua đó ta có thể hiểu: Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên, xãhội đều có chất của nó Chất của sự vật là tổng hợp những thuộc tính quyđịnh, những đặc điểm cấu trúc khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng, chỉ
ra nó là cái gì, làm phân biệt nó khác với các sự vật hiện tượng khác
Chất lượng của sự vật, hiện tượng được biểu hiện thông qua các thuộctính của nó Mỗi sự vật, hiện tượng có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính thamgia vào quy định chất của sự vật không giống nhau Có thuộc tính bản chất, cóthuộc tính không bản chất Các thuộc tính bản chất tồn tại suốt trong quá trìnhtồn tại của sự vật, giữ vai trò quyết định của sự vật làm cho nó khác với sự vậtkhác Nếu thuộc tính cơ bản mất đi thì sự vật cũng chuyển sang hình thứctrạng thái khác Trái lại thuộc tính không cơ bản không giữ vai trò như vậy
Chất của sự vật còn được quy định bởi đặc điểm cấu trúc của sự vật, đó
là các yếu tố, các bộ phận cấu thành một hệ thống của sự vật, tức cấu trúc bêntrong Cấu trúc bên trong nếu sắp xếp theo những cách thức khác nhau cũng
sẽ tạo thành những thuộc tính khác nhau của sự vật Vì vậy khi xác định chấtcủa sự vật cần tính đến đặc điểm cấu trúc của sự vật
Như vậy ta có thể kết luận: Chất lượng phản ánh mặt vô cùng quantrọng của sự vật, hiện tượng và quá trình của thế giới khách quan Như
Trang 14Hêghen nói: “Chất lượng là ranh giới làm cho vật thể này khác với những vậtthể khác”.
1.1.3.2 Vấn đề chất lượng đội ngũ giáo viên:
Khái niệm chất lượng đội ngũ giáo viên:
Xuất phát từ những quan niệm về chất lượng như đã nêu ở trên ta cóthể hiểu chất lượng đội ngũ giáo viên là toàn bộ thuộc tính, những đặc điểmcấu trúc của đội ngũ giáo viên Những thuộc tính cấu trúc này gắn bó vớinhau trong một tổng thể thống nhất tạo nên giá trị và sự tồn tại của đội ngũgiáo viên và làm cho đội ngũ giáo viên khác với đội ngũ khác
Chất lượng đội ngũ giáo viên bao gồm những thuộc tính bản chất như: + Số lượng thành viên trong đội ngũ;
+ Cơ cấu của đội ngũ;
+ Phẩm chất của đội ngũ;
+ Trình độ của đội ngũ ( Chuyên môn, nghiệp vụ,…);
+ Năng lực của đội ngũ
Nó có thể biểu diễn bởi Hình 1.1:
Hình 1.1 : Sơ đồ các thuộc tính bản chất của chất lượng đội ngũ giáo viên.
Cũng có một số nhà nghiên cứu cho rằng chất lượng đội ngũ được thểhiện qua các yếu tố:
- Quy mô đội ngũ ( thể hiện số lượng đội ngũ);
- Cơ cấu đội ngũ;
Phẩm chất
Năng lựcTrình độ
Trang 15- Chất lượng đội ngũ ( bao gồm: Phẩm chất, trình độ, năng lực).
Tuy cấu trúc có hơi khác nhau nhưng các yếu tố thể hiện thuộc tính bảnchất của chất lượng đội ngũ giáo viên là cơ bản giống nhau là: Số lượng, cơcấu, phẩm chất, trình độ, năng lực
- Nội dung các thuộc tính bản chất của đội ngũ giáo viên:
Số lượng thành viên trong đội ngũ giáo viên:
Đội ngũ giáo viên là một Tổ chức xã hội, vì thế số lượng đội ngũ giáoviên là biểu thị về mặt định lượng của đội ngũ, nó phản ánh quy mô lớn, nhỏcủa đội ngũ Số lượng cũng thể hiện quy mô và ngược lại từ quy mô cũng nóilên số lượng
Số lượng giáo viên của một trường phụ thuộc vào nhu cầu đào tạo, quy
mô phát triển nhà trường và các yếu tố khách quan tác động như: Quy mô đàotạo, giáo viên cơ hữu, chỉ tiêu biên chế, chế độ chính sách đối với giáo viên…Song dù trong điều kiện có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh từng trường, từnggiai đoạn muốn đội ngũ giáo viên có chất lượng, người quản lý phải giữ vữngđược sự cân bằng động về số lượng giáo viên với nhu cầu đào tạo và quy môphát triển của nhà trường Nếu phá vỡ hoặc không đảm sự cân bằng này sẽ tácđộng đến chất lượng đội ngũ giáo viên
Phẩm chất của đội ngũ giáo viên: Phẩm chất của đội ngũ là một trong
những yếu tố quan trọng nhất quyết định chất lượng đội ngũ giáo viên
Phẩm chất của đội ngũ giáo viên là yếu tố có tính chất điều khiển mọihành vi của đội ngũ giáo viên, làm cho sức mạnh của đội ngũ giáo viên đượcphát huy hay bị kìm hãm Phẩm chất của đội ngũ giáo viên trước hết đượcquán triệt quan điểm và đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước
Người thầy giáo có phẩm chất tốt phải có lòng yêu người, yêu nghề, hếtlòng vì sự nghiệp đào tạo bồi dưỡng thế hệ trẻ
Trang 16Bên cạnh việc giác ngộ cách mạng và niềm tin yêu nghề nghiệp, ngườithày giáo cần phải có tình cảm, hànhg động trong sáng, lành mạnh gươngmẫu, có tính sư phạm cao trong các hoạt động
Cùng với những phẩm chất nêu trên người thầy giáo cũng cần phải cónhững phẩm chất khác, đó là sự thống nhất giữa tính mục đích và tính kếhoạch trong thiết kế và tổ chức hoạt động sư phạm, giữa tính tổ chức, kỷ luật
và tinh thần trách nhiệm với tính tự chủ; nguyên tắc sáng tạo, linh hoạt, chínchắn; tính nghiêm khắc, lòng vị tha, yêu thương nhẫn nại đối với học sinh vàđồng nghiệp Để hình thành nhân cách tốt đẹp ở học sinh trước hết người thầyphải có nhân cách tốt thực sự là tấm gương cho học sinh
Như vậy ta có thể kết luận: Phẩm chất của đội ngũ giáo viên là sự thốngnhất hữu cơ của nhiều yếu tố như phẩm chất chính trị, xã hội( thế giới quan,niềm tin, lý tưởng, thái độ…), phẩm chất về tư cách đạo đức( lối sống, thóiquen, tình cảm…), phẩm chất ý chí( tính kỷ luật, tự chủ, sáng tạo, biết phêphán …) cùng với các yếu tố khác là trình độ, năng lực nó tạo nên chất lượngđội ngũ giáo viên
Trình độ đội ngũ giáo viên: Trong từ điển tiếng Việt, trình độ được
hiểu là: “mức độ về sự hiểu biết, về kỹ năng được xác định hoặc được đánhgiá theo một tiêu chuẩn nhất định nào đó” [24;891]
Trình độ của đội ngũ giáo viên, trước hết phải nói tới hệ thống tri thức
mà giáo viên đạt được, là những tri thức liên quan tới môn học mà người giáoviên đảm nhiệm giảng dạy Trong điều kiện của cuộc cách mạng KH - KTđang diễn ra sôi động tạo sự giao thoa giữa các khoa học, ngoài những hiểubiết chuyên môn người giáo viên cần có những hiểu biết về các kiến thức bổtrợ như ngoại ngữ, tin học, phương pháp nghiên cứu khoa học, logic học…nhằm hình thành những kỹ năng về tri thức khoa học chuyên môn và sưphạm
Trang 17Trình độ chuẩn theo Luật Giáo dục (2005) được đào tạo của các nhà giáolà:
Có bằng tốt nghiệp trung học sư phạm đối với giáo viên mần non, giáoviên tiểu học
Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở
Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm đối với giáo viên trung học phổthông
Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm hoặc bằng tốt nghiệp cao đẳngkhác đối với giáo viên dạy văn hóa, kỹ thuật nghề nghiệp
Có bằng tốt nghiệp trường dạy nghề, nghệ nhân, kỹ thuật viên, CNKT cótay nghề cao đối với giáo viên hướng dẫn thực hành ở các trường dạy nghề
Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc bằng tốt nghiệp đại học khácđối với giáo viên trung học chuyên nghiệp
Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳnghoặc đại học Bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy, đào tạo thạc sĩ
Có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo đào tạo tiến sĩ
Theo luật Dạy nghề (2006) Điều 58 thì trình độ chuẩn được đào tạo củagiáo viên dạy nghề là:
Giáo viên dạy nghề là người dạy lý thuyết, dạy thực hành hoặc vừa dạy
lý thuyết vừa dạy thực hành trong các cơ sở dạy nghề
Trình độ chuẩn của giáo viên dạy nghề được quy định như sau:
a Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệptrung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốtnghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
b Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốtnghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; Giáo viên dạy
Trang 18thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân,người có tay nghề cao;
c Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốtnghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; Giáoviên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc lànghệ nhân, người có tay nghề cao;
d Trường hợp giáo viên dạy nghề quy định tại các điểm a, b và c củakhoản này không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học
sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ đào tạo sư phạm
Như vậy ta có thể thấy trình độ đội ngũ giáo viên được thể hiện quatrình độ được đào tạo( Tiến sỹ, thạc sỹ, Đại học SPKT, cao đẳng SPKT, đạihọc chuyên ngành được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm) hoặc người có taynghề cao hoặc nghệ nhân
Năng lực đội ngũ giáo viên :
Đối với đội ngũ giáo viên, năng lực được hiểu là hệ thống những trithức, kỹ năng mà giáo viên được trang bị để tiến hành họat động sư phạm cóhiệu quả Kỹ năng của người giáo viên là khả năng vận dụng những kiến thứcthu được vào trong các họat động sư phạm và biến nó thành kỹ xảo Kỹ xảo là
Trang 19Kỹ năng giảng dạy.
Kỹ năng giáo dục
Kỹ năng nghiên cứu khoa học
Kỹ năng hoạt động xã hội
Kỹ năng tự học, tự nghiên cứu
Như vậy hệ thống các tri thức và kỹ năng thể hiện trình độ, năng lực sưphạm của giáo viên và phẩm chất tạo thành một thể hoàn chỉnh, giúp cho từnggiáo viên và đội ngũ giáo viên hoàn thành nhiệm vụ của mình, đáp ứng yêucầu ngày càng cao của sự nghiệp GD-ĐT
Cơ cấu đội ngũ giáo viên : Cơ cấu, như Từ điển tiếng Việt xác định:
“Là cách tổ chức các thành phần nhằm thực hiện chức năng của chỉnhthể”[24;752] Cơ cấu đội ngũ giáo viên có thể hiểu đó là cấu trúc bên trongcủa đội ngũ, là một thể hoàn chỉnh, thống nhất, thể hiện trên các lĩnh vực:
Cơ cấu chuyên môn: Là xác định tỉ lệ giáo viên hợp lý giữa các tổchuyên môn ( Khoa, bộ môn) với quy mô, nhiệm vụ từng chuyên ngành đàotạo, từng khoa của trường
Cơ cấu lứa tuổi: Là sự cân đối giữa các thế hệ ( Già, trung, trẻ ) của độingũ để có thể phát huy tính tích cực, năng động của tuối trẻ vừa khai thácđược vốn hiểu biết, kinh nghiệm, độ chín chắn của tuổi già
Cơ cấu giới tính: Là đảm bảo tỉ lệ giữa giáo viên nam và nữ để phù hợptừng ngành nghề đào tạo, từng công việc khác nhau
Như vậy ta có thể kết luận: Chất lượng đội ngũ giáo viên bao gồm 5yếu tố: số lượng, cơ cấu, phẩm chất, năng lực và trình độ Mỗi yếu tố đều có
vị trí tầm quan trọng khác nhau, giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lạilẫn nhau, hợp thành một hệ thống hoàn chỉnh giúp cho đội ngũ giáo viên tồntại, phát triển và có vai trò quyết định đến chất lượng đào tạo
1.1.3.3 Quan niệm về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên :
Trang 20Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên là làm cho chất lượng đội ngũgiáo viên ngày càng được hoàn thiện ở trình độ cao hơn ở tất cả các yếu tốcấu thành như là: Nâng cao về số lượng, cơ cấu, phẩm chất, trình độ…
Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thực chất là quá trình bồi dưỡng
và phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng mục tiêu yêu cầu và nhiệm vụ đào tạo
do nhà trường đề ra cũng như mục tiêu và nhiệm vụ của các ngành liên quanphù hợp với xu thế phát triển xã hội
Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên chính
là đề cập đến các giải pháp cơ bản quan trọng nhằm làm cho chất lượng độingũ giáo viên phát triển đạt tới một chất lượng mới tốt hơn
1.1.4 Khái niệm về quản lý, quản lý nguồn nhân lực, quản lý đội ngũ
giáo viên:
1.1.4.1 Khái niệm về quản lý, các chức năng quản lý:
Hoạt động quản lý được bắt nguồn từ việc phân công, hợp tác lao động.Chính sự phân công hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả, năng suất cao hơnđòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…Đây làhọat động để người lãnh đạo phối hợp nỗ lực với các thành viên trong nhóm,trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đề ra
Một số tác giả Việt Nam quan niệm rằng:
Quản lý là: “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầunhất định.” Một số tác giả khác cho rằng : “Quản lý là sự tác động có địnhhướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổchức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích”
Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song bản chất củaquản lý hiểu theo quan điểm hệ thống là: Sự tác động có định hướng, có chủđích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm cho hệ thống vận độngtheo mục tiêu đề ra và tới trạng thái chất lượng mới
Trang 21Quản lý có bốn chức năng cơ bản quan hệ khăng khít, tác động qua lạilẫn nhau và tạo thành chu trình quản lý, đó là: - Chức năng kế họach – Tổchức – Chỉ đạo và kiểm tra cùng các họat động khác là: Thông tin và ra quyếtđịnh quản lý Thông tin là mạch máu của quản lý Ra quyết định quản lý làhọat động thường xuyên của chủ thể quản lý.
1.1.4.2 Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nhân lực là một quá trình bao gồm thu nhận, sử dụng và pháttriển lực lượng lao động của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu của tổ chứcmột cách có hiệu quả
Quá trình quản lý nguồn nhân lực giữ vai trò đặc biệt quan trọng trongcác hoạt động của nhà quản lý, bao gồm các hoạt động chủ yếu: Dự báo, lập
kế hoạch nguồn nhân lực - Tuyển chọn - Sử dụng - Bồi dưỡng - Phát triểnnguồn nhân lực, kiểm tra hoạt động, điều chỉnh: Đề bạt - Luân chuyển hoặcthải hồi
Trong GD-ĐT, quản lý nguồn nhân lực xét trong phạm vi rộng là quản
lý đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên chức trong ngành
GD-ĐT Nếu xét trong phạm vi hẹp thì là quản lý đội ngũ giáo viên và cán bộquản lý giáo dục và đào tạo Việc xây dựng, phát triển, đào tạo và bồi dưỡng
về phẩm chất và trình độ, năng lực đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý để đápứng nhu cầu ngày càng cao của GD-ĐT là nhiệm vụ trọng tâm của quá trìnhquản lý nguồn nhân lực trong ngành GD-ĐT
1.1.4.3 Quản lý đội ngũ giáo viên :
Quản lý đội ngũ giáo viên là nội dung chủ yếu của quá trình quản lýnguồn nhân lực trong nhà trường nói riêng và ngành GD - ĐT nói chung.Quản lý đội ngũ giáo viên thực chất là quản lý tập thể sư phạm nhà trường,trong đó đội ngũ giáo viên là nòng cốt Quá trình quản lý đội ngũ giáo viêncũng phải thực hiện đầy đủ những nội dung chủ yếu của quá trình quản lý
Trang 22nguồn nhân lực như: Dự báo, lập kế hoạch nguồn nhân lực - Tuyển chọn - Sửdụng - Bồi dưỡng - Phát triển nguồn nhân lực, kiểm tra họat động, điều chỉnh:
Đề bạt - Luân chuyển hoặc chuyển đổi ( thải hồi)
Nhiệm vụ của quản lý đội ngũ giáo viên cũng có 3 vấn đề :
- Phát triển nguồn nhân lực sư phạm
- Sử dụng nguồn nhân lực sư phạm
- Nuôi dưỡng môi trường nguồn nhân lực sư phạm
Tuy nhiên, quản lý đội ngũ giáo viên là quản lý tập thể những conngười có học vấn, có nhân cách phát triển ở trình độ cao, vì thế trong công tácquản lý chúng ta cần phải chú ý một số yêu cầu chính sau:
Quản lý đội ngũ giáo viên, trước hết phải giúp cho đội ngũ giáo viênphát huy vai trò chủ động sáng tạo, khai thác ở mức cao nhất năng lực, trí tuệ,
để họ có thể cống hiến nhiều nhất cho việc thực hiện mục tiêu GD-ĐT đã đềra
Quản lý đội ngũ giáo viên, trước hết phải nhằm hướng giáo viên vàoviệc phục vụ lợi ích của tổ chức, cộng đồng và xã hội, đồng thời đảm bảo tốtlợi ích chính đáng về vật chất, tinh thần của các cá nhân
Quản lý đội ngũ giáo viên phải nhằm đáp ứng mục tiêu trước mắt cũngnhư sự phát triển lâu dài của tổ chức, đồng thời thực hiện theo những quyđịnh thống nhất trên cơ sở quy định của nhà nước
1.1.5 Khái niêm về đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại:
Ngày nay với xu thế học tập suốt đời của mỗi giáo viên trong hệ thốnggiáo dục quốc dân thì quá trình đào tạo, bồi dưỡng, đào tạo lại là những quátrình vừa tiếp nối, vừa xen kẽ Đặc biệt với sự phát triển của khoa học kỹthuật và công nghệ với tốc độ cao thì khó lòng phân biệt rạch ròi được ranhgiới những quá trình đó Để xác định được các giải pháp nhằm nâng cao chất
Trang 23lượng đội ngũ giáo viên, cần tìm hiểu các khái niệm này để hiểu nội hàm củachúng.
1.1.5.1 Đào tạo:
GS.TS Nguyễn Minh Đường đã đưa ra định nghĩa về đào tạo: "Đào tạo
là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển
có hệ thống các tri thức, kỹ năng , kỹ xảo, thái độ để hoàn thành nhân cáchcho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năngsuất và hiệu quả”
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam 1999- NXB Đà Nẵng:
Đào tạo là quá trình tác động đến con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội duy trì và phát triển nền văn minh của loài người Về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục đạo đức nhân cách
Như vậy có thể hiểu đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỷxảo nghề nghiệp từ đầu, đồng thời giáo dục phẩm chất đạo đức, thái độ chohọc sinh và thanh niên để họ có thể trở thành người lao động có kỹ thuật, có
kỷ luật, có năng suất và hiệu quả Quá trình này nó diễn ra trong các cơ sởđào tạo như các nhà trường, các trung tâm dạy nghề, các lớp dạy nghề theomột kế hoạch, có nội dung, chương trình và thời gian quy định cụ thể, nhằmgiúp người học đạt được một trình độ nhất định trong hoạt động nghề nghiệp
1.1.5.2 Bồi dưỡng:
Là quá trình bổ sung kiến thức, kỹ năng để nâng cao trình độ trong mộtlĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có trình độ chuyên môn nhất địnhqua một hình thức đào tạo nào đó
Trang 24Theo định nghĩa của UNESCO: Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghềnghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng caokiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứngnhu cầu lao động nghề nghiệp.
Theo GS.TS Nguyễn Minh Đường thì “ Bồi dưỡng có thể coi là quátrình cập nhật kiến thức hoặc kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấphọc, bậc học và thường được xác định bằng một chứng chỉ “.
Như vậy bồi dưỡng với mục đích là nhằm nâng cao năng lực và phẩmchất chuyên môn, tạo điều kiện cho người lao động có cơ hội để tiếp thu côngnghệ mới, củng cố hoặc nâng cao một cách có hệ thống những tri thức, kỹnăng chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để làm việc có hiệu quả cao hơn
1.1.5.3 Đào tạo lại:
Là quá trình hình thành và phát triển hệ thống tri thức kỹ năng, kỹ xảo,thái độ mới làm cho người lao động có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyênmôn mới nhằm mục đích thay đổi công việc phù hợp với nhu cầu công việcmới
1.1.6 Giải thích một số từ ngữ: dạy nghề, mô đun, chương trình khung, tiêu chuẩn kỷ năng nghề trong đào tạo nghề.
Theo Luật Dạy nghề năm 2006 một số từ ngữ: Dạy nghề, mô đun,chương trình khung, tiêu chuẩn kỷ năng nghề trong đào tạo nghề được hiểunhư sau:
Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và
thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làmhoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học
Mô-đun là đơn vị học tập được tích hợp giữa kiến thức chuyên môn, kỹ
năng thực hành và thái độ nghề nghiệp một cách hoàn chỉnh nhằm giúp cho
người học nghề có năng lực thực hành trọn vẹn một công việc của một nghề
Trang 25Chương trình khung quy định về cơ cấu nội dung, số lượng, thời lượng
các mô-đun, môn học, tỷ lệ thời gian giữa lý thuyết và thực hành, bảo đảmmục tiêu cho từng ngành nghề đào tạo
Tiêu chuẩn kỹ năng nghề quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến
thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghề [18;2]
1.2 Quan niệm về bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên:
1.2.1 Một số nội dung yêu cầu về đội ngũ giáo viên trong các nghị quyết của Đảng.
Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCH – TW Đảng khóa VIII nói về côngtác đào tạo đội ngũ giáo viên ghi rõ: “ Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡngđội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục Sử dụng giáo viên đúng nănglực, đãi ngộ đúng công sức và tài năng với tinh thần ưu đãi và tôn vinh nghềdạy học”[8;109]
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX ghi:
Phát triển đội ngũ giáo viên, coi trọng chất lượng và đạo đức sưphạm, cải thiện chế độ đãi ngộ Bảo đảm về cơ bản đội ngũ giáo viên đạtchuẩn quốc gia và tỉ lệ giáo viên so với học sinh theo yêu cầu từng cấphọc Có cơ chế, chính sách đảm bảo đủ giáo viên cho các vùng miền núicao, hải đảo[6;204]
Kết luận của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành TW khóa IX về tiếp tụcthực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII về phương hướng phát triểnGD-ĐT, khoa học và công nghệ đến năm 2005 và đến năm 2010 ghi rõ:
Nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục tạo chuyển biến cơ bản vềchất lượng giáo dục, trước hết nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo,thực hiện giáo dục toàn diện, đặc biệt chú trọng giáo dục tư tưởng, lốisống cho người học[10;128]
Trang 26Chỉ thị 40/CT-TƯ của Ban bí thư Trung ương Đảng khóa IX ngày15/06/2004 về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộquản lý giáo dục, đã chỉ đạo:
Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cáchtoàn diện Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt vừa mang tính lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 và chấn hưng đất nước Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu [11;57]
Tại Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần thứ X nói về Hợp tác Quốc tế
về đào tạo và xây dựng chiến lược GD – ĐT đến năm 2020:
Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo Tiếp cận
chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới Có
cơ chế quản lý phù hợp đối với các trường do nước ngoài đầu tư hoặc liên kết đào tạo Xây dựng chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo đến năm 2020 Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài [7;34].Trên đây là một số nội dung văn kiện của của Đảng liên quan đến côngtác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ nhà giáo nóiriêng nhằm đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH của đất nước và hội nhập kinh tếQuốc tế Những định hướng đó sẽ là cơ sở giúp cho việc tìm ra các biện pháp
để bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Quan niệm về bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên.
Bồi dưỡng có thể nói vắn tắt là: Bồi dưỡng với mục đích là nhằm nângcao năng lực và phẩm chất chuyên môn, tạo điều kiện cho người lao động có
cơ hội để củng cố và mở mang hoặc nâng cao một cách có hệ thống những trithức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để làm việc có hiệu quả cao hơn
Trang 27Phát triển theo Từ điển tiếng Việt là: “ Biến đổi hoặc làm cho biến đổi
từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” Phát triển
là làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng đi lên trong mối hỗtrợ, bổ sung cho nhau tạo nên sự đổi mới về số lượng và chất lượng
Như vậy việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên trước hết phảitạo ra một đội ngũ các nhà giáo, từ đó phát triển đội ngũ cả về số lượng, cơcấu, phẩm chất, trình độ, năng lực
Việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên thực chất là phát triểnnguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục Theo GS TS Nguyễn Minh Đường,phát triển nguồn nhân lực có thể hiểu như sau:
Với nghĩa hẹp nhất, đó là quá trình đào tạo và đào tạo lại, trang bị hoặc bổ sung thêm những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để người lao động có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ mà họ đang làm hoặc đểtìm một việc làm mới.Phát triển nguồn nhân lực được hiểu với một khái niệm rộng hơn bao gồm 3 mặt: Phát triển sinh thể, phát triển nhân cách đồng thời tạo ra một môi trường xã hội thuận lợi cho cho nguồn lực phát triển [16;27]
Phát triển nguồn nhân lực là một phần trong quản lý nguồn nhân lựcđược hiểu là: gia tăng giá trị vật chất, giá trị tinh thần, đạo đức và giá trị thểchất cho con người
Phát triển đội ngũ giáo viên trong GD – ĐT chính là phát triển nguồnnhân lực gắn bó với lý tưởng dân tộc và Chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất đạođức trong sáng lành mạnh, biết giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộcđồng thời có khả năng tiếp thu nền văn hóa tiến bộ của nhân loại Phát huytiềm năng của con người Việt nam và của dân tộc, có ý thức cộng đồng vàphát huy tính tích cực sáng tạo của cá nhân nhằm làm chủ tri thức khoa học
Trang 28và công nghệ Có kỹ năng nghề nghiệp giỏi, có tác phong công nghiệp, cótính kỷ luật cao, sức khỏe tốt
Công tác bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên gồm các nội dung: Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và côngnghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã dẫn đến xu hướng toàn cầu hóa và xuhướng này đòi hỏi phải có sự thay đổi trong nhiều lĩnh vực Đối với giáo dục
và đào tạo, đổi mới và phát triển đội ngũ giáo viên là một trong những yếu tốcần thiết cho việc đảm bảo chất lượng giáo dục trong thời gian tới Điều này
đã được tổ chức Văn hóa Khoa học của Liên Hợp quốc UNESCO khẳng định:
“ Chỉ có đổi mới và phát triển mạnh mẽ đội ngũ giáo viên mới đảm bảo chấtlượng và sự phù hợp của giáo dục trong một thế giới đang thay đổi này”.Nói đến phát triển đội ngũ giáo viên là nói đến phát triển đồng thời cả 5yếu tố thuộc tính bản chất của đội ngũ giáo viên:
+ Số lượng thành viên trong đội ngũ;
+ Cơ cấu của đội ngũ;
+ Phẩm chất của đội ngũ;
+ Trình độ của đội ngũ ( Chuyên môn, nghiệp vụ,…);
+ Năng lực của đội ngũ
1.3 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên ở trường Cao đẳng nghề.
1.3.1 Vị trí vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển KT-XH.
1.3.1.1 Khái niệm về nguồn nhân lực.
Nhân lực là một tổ chức bao gồm mọi cá nhân tham gia trong tổ chứcbất kể vai trò, công việc của họ là gì Tổ chức ở đây có thể là một xí nghiệp,một công ty, một bệnh viện, một trường học, một tổ chức chính trị- xã hội…
Trong mọi chế độ xã hội muốn phát triển nền kinh KT-XH đều phảidựa vào các nguồn lực: Nhân lực ( con người), vật lực ( cơ sở vật chất, tài
Trang 29nguyên thiên nhiên, môi trường ), tài lực( tài chính ) Trong đó nguồn nhânlực là yếu tố quan trọng, quyết định.
Với bất kỳ nền KT-XH nào thì yếu tố con người là tiên quyết vì conngười sản xuất ra công cụ lao động, cải tiến công cụ lao động, và con ngườithông qua lao động, biến tài nguyên thiên nhiên thành của cải vật vật chất,tinh thần cho xã hội Phát triển, quản lý nguồn nhân lực là yếu tố quyết địnhđến phát triển KT-XH của mỗi quốc gia
Trong sự phát triển KT-XH ngày nay của các quốc gia trên thế giới,nguồn lực có tính chất quyết định là nguồn lực con người ( nguồn nhân lực).Phát triển nguồn nhân lực được hiểu về cơ bản là làm tăng giá trị con ngườitrên mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực… làm cho con nguời trở thành ngườilao động có năng lực và phẩm chất đạo đức cao hơn
Phát triển con người làm tăng giá trị con người, còn phát triển nguồnnhân lực làm tăng giá trị sử dụng của con người Vì thế phát triển nguồn nhânlực chính là phát triển mặt công cụ của con người ( Như một tài nguyên, vốn,nguồn lực cho sự phát triển )
Để tạo ra sự tăng trưởng của một nền kinh tế, yêu cầu đặt ra là tăngnăng suất, chất lượng lao động, tăng hàm lượng tri thức ( chất xám) được cấuthành trong sản phẩm hàng hóa – dịch vụ thông qua sức lao động của conngười
1.3.1.2 Vị trí, vai trò của nguồn nhân lực đối với sự nghiệp CNH HĐH ớ nước ta
-Báo cáo chính trị tại đại hội IX của Đảng và Chiến lược phát triển Kinh
tế – Xã hội 2001-2010 đã chỉ rõ :
Phát triển giáo dục là nền tảng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượngcao là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa,
Trang 30hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội tăng trưởng kinh tếnhanh, và bền vững.
Mục tiêu phát triển giáo dục đến năm 2010 là ưu tiên nâng cao chấtlượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú ý nhân lực khoa học - công nghệtrình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và công nhân kỹ thuật lànhnghề trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
Như vậy để phát triển KT – XH thì vai trò, vị trí của phát triển nguồnnhân lực, đặc biệt là nhân lực Khoa học – Công nghệ, nhân lực kỹ thuật đượcĐảng ta hết sức quan tâm và được xem là một trong các nhiệm vụ trọng tâmcủa nền giáo dục
1.3.2 Giáo dục – Đào tạo với sự phát triển Kinh tế – Xã hội.
1.3.2.1 Mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với GD-ĐT
Khi xã hội loài người phát triển từ hình thái KT-XH thấp sang hình tháiKT-XH cao hơn thì nhu cầu tiêu thụ cũng như sản xuất của cải vật chất ngàycàng cao, đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực luôn phát triển, và công tác GD-
ĐT đã ra đời đồng thời ngày càng mang tính xã hội hóa cao
Tuy nhiên, vấn đề bức xúc hiện nay mà xã hội quan tâm đó là: Nhânlực được đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của các đơn vị sử dụng, không
có việc làm hoặc có việc làm không phù hợp với trình độ đào tạo, gây lãngphí tiền của đầu tư cho đào tạo, gây mất ổn định xã hội do thất nghiệp tạo nên
Vì vậy nhà nước cần giải quyết tốt các mối quan hệ : “Phát triển nguồn nhânlực”, “ GD-ĐT” và “Việc làm” thì mới tạo sự ổn định, phát triển xã hội và sựphát triển của cá nhân người lao động Phát triển nguồn nhân lực là tráchnhiệm chung của Nhà nước, xã hội và GD-ĐT, tạo điều kiện cho người laođộng có việc làm, được sử dụng đúng trình độ, phát huy tốt khả năng củamình, góp phần vào sự nghiệp phát triển KT-XH của đất nước
1.3.2.2 Giáo dục đào tạo với sự nghiệp phát triển Kinh tế – Xã hội.
Trang 31Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, là bộ phận cấu thành củađời sống xã hội và ngày nay được xem như cơ sở hạ tầng của KT-XH, là nềnmóng cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, là động lực phát triển KT-XH vàđảm sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia
Nhận thức được vấn đề này, ngay từ Đại hội biểu toàn quốc lần thứ VI
Đảng ta đã khẳng định: “Giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển KT-XH.”
Đại hội biểu toàn quốc lần thứ lần thứ VIII và XI xác định đẩy mạnhCNH-HĐH đất nước, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành mộtnước công nghiệp theo hướng hiện đại
Cùng với quyết tâm đẩy mạnh CNH-HĐH, Đảng ta cũng xác định yếu
tố quyết định thành công của sự nghiệp CNH-HĐH là yếu tố con người.Trước đây khi xét đến nhân tố của sự phát triển người ta chủ yếu quan tâmđến yếu tố nguồn lực tài nguyên, tài chính, thì ngày nay yếu tố con ngườiđược đặt lên hàng đầu Con người ở đây là con người đã được qua giáo dục,
có khả năng giải quyết một cách sáng tạo và hiệu quả những vấn đề do sựphát triển đất nước đặt ra
Con đường cơ bản để làm tăng giá trị con người phù hợp với yêu cầuphát triển xã hội chính là công tác giáo dục – đào tạo Trong các chính sáchchiến lược Đảng ta đã thực sự coi: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”
1.3.2.3 Vai trò của giáo dục nghề nghiệp trong sự nghiệp phát triển KT-XH:
Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề là một bộ phận nằm trong hệ thống giáodục – đào tạo quốc dân và giữ một vị trí hết sức quan trọng Mục tiêu củaGiáo dục kỹ thuật và dạy nghề được Luật Giáo dục (2005) xác định là:
Đào tạo người lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp ở cáctrình độ khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật,
Trang 32tác phong lao động công nghiệp, có sức khỏe nhằm tạo điều kiện chongười lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-
XH, củng cố quốc phòng, an ninh
Luật Dạy nghề năm (2006) cũng xác định:
Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình
độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong ba nhiệm vụ lớn của GD-ĐT nước ta là : Nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, thì giáo dục nghề nghiệp có nhiệm vụ đàotạo nguồn nhân lực trực tiếp phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH đất nước Đểthực hiện nhiệm vụ CNH - HĐH đòi hỏi phải có nguồn nhân lực đã qua đàotạo Mục tiêu đến năm 2010 lao động qua đào tạo phải đạt là 40% như “Chiếnlược phát triển giáo dục 2001-2010” đã đề ra
Để đáp ứng được nguồn nhân lực đã qua đào tạo thì nhiệm vụ đặt racho ngành giáo dục nghề nghiệp, dạy nghề rất lớn và hết sức nặng nề Vì thếgiáo dục nghề nghiệp có vị trí, vai trò quyết định trong việc đào tạo, cung cấpnguồn nhân lực trực tiếp cho sự nghiệp CNH-HĐH ở nước ta trong giai đoạnhiện nay
Vai trò của giáo viên trong sự nghiệp phát triển giáo dục:
Đối với ngành GD-ĐT, nhân tố quan trọng chiếm ưu thế chính là độingũ giáo viên và cán bộ quản lý Đội ngũ giáo viên là người trực tiếp thựchiện các mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục, là nhân tố quyết địnhchất lượng đào tạo
Trang 33Đảng và Nhà nước ta luôn coi đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáodục là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp GD-ĐT, là chiến sĩ trên mặt trận tưtưởng văn hóa Họ có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng và đạođức cách mạng của giai cấp công nhân, tinh hoa văn hóa của dân tộc và củaloài người, rèn luyện người học hình thành những phẩm chất cao quý vànhững năng lực sáng tạo để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH,nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh màĐảng và Bác Hồ thường mong ước.
Sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh thường nói: “ nhiệm vụ giáo dục rất quan trọng và vẻ vang vì nếu không có thầy giáo thì không không có giáo dục”.
Đánh giá vai trò của giáo viên trong sự nghiệp GD-ĐT hiện nay, Đảng
ta khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được
xã hội tôn vinh Giáo viên phải có đủ đức, tài” Vì vậy phải đặc biệt chăm lo,đào tạo, bồi dưỡng, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lýgiáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lực chuyên môn, nghiệp
vụ, cụ thể hóa chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Luật Giáo dục(2005) Điều 14, chương 1 cũng khẳng định vai trò của người giáo viên là:
Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáodục Nhà giáo phải không ngừng học tập rèn luyện và nêu gương tốt chongười học, nhà nước tổ chức bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách đảm bảocác điều kiện cần thiết về vật chất tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm
vụ của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tônvinh nghề dạy học
Nói tóm lại, vị trí vai trò của người giáo viên bất kể ở thời kỳ nào cũngđược đánh giá cao, được xã hội tôn vinh Nhất là trong giai đoạn hiện nay khinền kinh tế của nước ta cần một đội ngũ lao động có tay nghề để thực hiện
Trang 34nhiệm vụ CNH-HĐH thì vai trò của người thày giáo lại càng quan trọng hơnlúc nào hết.
1.3.2.4 Quan niệm về Giáo dục –Đào tạo nói chung và giáo dục kỹ thuật và dạy nghề nói riêng với sự phát triển Kinh tế-Xã hội:
Trước đây khi sản xuất chưa phát triển, sản phẩm xã hội tạo ra chủ yếudựa vào lao động chân tay, người ta quan niệm GD-ĐT chỉ là phương tiệntruyền thụ tri thức và làm tăng thêm khối tri thức cho xã hội, coi chức năngchủ yếu của GD-ĐT chỉ mang tính chất văn hóa - xã hội, liệt GD-ĐT vào lĩnhvực phi sản xuất, là lĩnh vực tiêu thụ Xếp GD-ĐT là một bộ phận của kiếntrúc thượng tầng xã hội, coi đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư cho phúc lợi xã hội
Vào giữa thế kỷ 20, do sự phát triển mạnh mẽ của KH-KT và côngnghệ, con người sử dụng ngày càng nhiều sức mạnh của thiên nhiên để phục
vụ cho sản xuất và đời sống xã hội Giữa Khoa học – Giáo dục và đào tạo –Sản xuất trực tiếp là những thành tố cấu thành trong hệ thống gắn bó và thúcđẩy nhau phát triển và sản xuất ngày càng dựa vào các thành tựu của KH –
CN thông qua GD-ĐT GD-ĐT ngày nay không chỉ thực hiện các nhiệm vụ
VH - XH như quan niệm trước đây mà nó còn tác động mạnh mẽ đến pháttriển sản xuất, đến tiềm lực kinh tế của đất nước thông qua đào tạo đội ngũnhân lực có văn hóa, có trình độ tay nghề chuyên môn cao Đây chính là yếu
tố quyết định đến sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội Vì vậy GD-ĐTgiữ vai trò tái sản xuất sức lao động và làm thay đổi chất lượng lao động xãhội, làm tăng hiệu quả lao động, tăng trưởng kinh tế
Khi Kinh tế – Xã hội phát triển, nó tạo môi trường cho sự phát triển GD
- ĐT, vì vậy GD-ĐT vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển KT –
XH Cho nên quá trình phát triển KT-XH và quá trình phát triển GD-ĐT cómối quan hệ biện chứng, tác động qua lại với nhau, thúc đẩy nhau cùng pháttriển
Trang 35Ngày nay, khi nhân loại đã bước vào thế kỷ 21, thế kỷ của nền kinh tếtri thức, khi mà hàm lượng “chất xám” chiếm tỉ lệ ngày càng cao trong sảnphẩm sản xuất ra thì GD-ĐT ngày càng chiếm vị thế quan trọng vì GD- ĐTluôn phải đi trước GD-ĐT ngày nay trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp làđộng lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển KT-XH của mỗi quốc gia Người takhông còn coi GD-ĐT là phúc lợi xã hội và là bộ phận thượng tầng kiến trúc
xã hội nữa mà coi nó như hạ tầng cơ sở, coi đầu tư cho GD-ĐT là đầu tư chophát triển
1.3.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở các trường dạy nghề.
1.3.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo ở các trường dạy nghề.
Xuất phát từ mục tiêu phát triển giáo dục tới năm 2010 là “Ưu tiênnâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú ý nhân lực khoa học -công nghệ trình độ cao ” đã đặt ra cho nhiệm vụ trước mắt của các trườngdạy nghề trong cả nước là đào tạo đội ngũ lao động lành nghề, cung cấp nhânlực kỹ thuật trực tiếp đáp ứng nhu cầu cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước
Ngày nay khi KH – CN phát triển, trình độ của nhân lực kỹ thuật trựctiếp trong một số lĩnh vực có trình độ cao như: lập chương trình cho máy điềukhiển kỹ thuật số, lập chương trình trong điều khiển tự động hóa Trình độcủa người thợ trong một số lĩnh vực có trình độ tương đương kỹ sư hoặc thợbậc cao Vì vậy yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường dạynghề là là đòi hỏi tất yếu của xã hội
Trong lĩnh vực giáo dục kỹ thuật dạy nghề vừa mang đặc tính chungcủa GD – ĐT vừa mang tính đặc thù của lĩnh vực dạy nghề
Quá trình đào tạo trong các trường dạy nghề là hoạt động dạy học –hoạt động của giáo viên và học sinh, do giáo viên hướng dẫn nhằm giúp học
Trang 36sinh nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trong quá trình đó phát triểnđược năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành những cơ sở của thếgiới quan khoa học Nói một cách khái quát, quá trình dạy học bao gồm hoạtđộng dạy của thầy và hoạt động học của trò.
Quá trình dạy học với tư cách là một hệ thống bao gồm nhiều thành tốcấu trúc như : Mục đích và nhiệm vụ dạy học, nội dung dạy học, thầy với họatđộng dạy, trò với họat động học, phương pháp và phương tiện dạy học, kếtquả dạy học Tất cả các thành tố của quá trình dạy học tồn tại trong mối quan
hệ tác động qua lại và thống nhất với nhau, quyết định chất lượng của dạyhọc Toàn bộ quá trình này diễn ra trong môi trường KT-XH và mội trườngKH-CN được mô hình hóa như sơ đồ 1.2
Sơ đồ 1.2 Mô hình quá trình dạy học
MĐ,NV : Mục đích, nhiệm vụ dạy học
N,P,Pt : Nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
LHNN : Liên hệ ngược ngoài
LHNT : Liên hệ ngược trong
MTKT-XH
LHX
Trang 37KQ: Kết quả.
Mục đích và nhiệm vụ dạy học phản ánh những yêu cầu của xã hội đốivới quá trình dạy học Cụ thể quá trình dạy học phải hướng tới mục tiêu: Đàotạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe,thẩm mỹ và kỷ năng kỷ xảo nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất
và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Mục tiêunày được cụ thể hóa qua các nhiệm vụ dạy học Vì thế mục đích và nhiệm vụdạy học có chức năng định hướng toàn bộ quá trình dạy học
Nội dung dạy học là toàn bộ hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà họcsinh cần nắm vững trong quá trình dạy học Nội dung dạy học là thành tố cơbản của quá trình dạy học
Các phương pháp, phương tiện dạy học là con đường, cách thức vàphương tiện hoạt động của giáo viên và học sinh
Trong quá trình dạy học, người thầy giáo với hoạt động dạy có chứcnăng tổ chức hoạt động học của học sinh Kết quả của quá trình dạy học chính
là sự chiếm lĩnh tri thức của học sinh Chính vì vậy thầy với hoạt động dạy,trò với hoạt động học được xem là hai yếu tố trung tâm của quá trình dạy học
Từ cơ sở lý luận như đã trình bày chúng ta có thể rút ra những yếu tố
cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công nhân kỷ thuật được đào tạo ởcác trường dạy nghề là:
Quy mô và chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề: Anh hưởng trực tiếpđến chất lượng dạy và học nghề, đến quá trình lãnh đạo, điều khiển hoạt độnghọc của học sinh
Người học ( Học sinh): Ở đây muốn nói đến chất lượng đầu vào củahọc sinh các trường dạy nghề Nó ảnh hưởng đến quá trình chiếm lĩnh tri thứccủa bản thân học sinh
Trang 38Môi trường Kinh tế – Xã hội: ảnh hưởng đến tất cả các thành tố trong
hệ thống Nó quyết định đến mục đích và nhiệm vụ quá trình dạy học, chiphối đến nội dung, chương trình đào tạo
1.3.3.2 Chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo ở các trường Cao đẳng nghề, trung cấp nghề.
Như trên đã trình bày, quá trình dạy nghề là một hệ thống gồm nhiềunhân tố, trong đó các nhân tố mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiệndạy học, nếu không thông qua thầy và trò thì sẽ không phát huy được tácdụng Chính vì vậy thầy với hoạt động dạy và trò với hoạt động học là hainhân tố trung tâm của quá trình đào tạo
Hệ thống đào tạo nghề nằm trong hệ thống GD-ĐT chịu ảnh hưởng trựctiếp của môi trường KT-XH Trong khi đó môi trường KT-XH luôn vận động
và phát triển ( Cụ thể là KH - CN luôn phát triển, nhu cầu về chất lượngnguồn nhân lực ngày càng tăng…) dẫn đến phát sinh những mâu thuẫn tươngđối giữa nhu cầu chất lượng nguồn nhân lực ngày càng cao với hệ thống đàotạo nghề Những mâu thuẫn đó là :
- Mâu thuẫn giữa sự tiến bộ của KH-CN và nội dung, chương trình dạynghề còn lạc hậu
- Mâu thuẫn giữa nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của nền kinh
tế với chất lượng thấp của đào tạo nghề
- Mâu thuẫn giữa sự tiến bộ của KH-CN, đổi mới mục đích, nhiệm vụ
và nội dung đào tạo nghề với trình độ đội ngũ giáo viên dạy nghề còn thấp
- Mâu thuẫn giữa trang thiết bị dạy nghề( Cơ sở vật chất) thiếu và yếuvới nhu cầu cao về thiết bị giảng dạy…
Việc giải quyết được những mâu thuẫn này sẽ là động lực thúc đẩy, đápứng điều kiện nhân lực kỹ thuật trực tiếp cho sự phát triển KT-XH, đảm bảođáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho sự nghiệpCNH – HĐH
Trang 39Chính vì vậy, chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định đếnchất lượng đào tạo nguồn nhân lực ở các trường nói chung trong đó có trườngdạy nghề.
Để đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH –HĐH yêu cầu đặt ra đối với các trường dạy nghề là: Đào tạo, bồi dưỡng vàphát triển đội ngũ giáo viên dạy nghề có đủ phẩm chất trình độ năng lực, đủ
về số lượng, hợp lý về cơ cấu Đó chính là một trong những nội dung củaQuản lý đội ngũ giáo viên
1.3.4 Tiêu chuẩn giáo viên trường Cao đẳng nghề, trung cấp nghề.
Luật Giáo dục và Luật dạy nghề đã quy định chuẩn tiêu chuẩn của giáoviên dạy nghề trường Cao đẳng nghề như đã trình bày tại chương 1 mục1.1.3 Trong xu thế Hội nhập và mục tiêu về chất lượng đào tạo tiếp cận trình
độ khu vực và thế giới đòi hỏi trình độ đội ngũ giáo viên phải đạt chuẩnQuốc gia và tương đương của khu vục Đối với giáo viên trường cao đẳngnghề Việt - Đức Hà Tĩnh phải đạt được các yêu cầu sau đây:
Giáo viên dạy khoa cơ bản: Bao gồm các môn Chính trị, Pháp luật, Anninh quốc phòng, Tin học, Ngoại ngữ, Giáo dục dục thể chất yêu cầu trình độchuẩn là tốt nghiệp đại học và sau đại học
Giáo viên dạy các môn lý thuyết cơ sở có trình độ chuẩn là tốt nghiệpđại học chính quy các ngành sư phạm kỹ thuật hoặc kỹ thuật Số giáo viênnày trường có kế hoạch đào tạo tiếp sau đại học nhằm giảng dạy các môn lýthuyết cơ sở tại các khoa
Giáo viên dạy thực hành: Trước hết phải đạt trình độ chuẩn của giáoviên dạy thực hành theo quy định, chuẩn trình độ là đại học Sư phạm kỹ thuật,cao đẳng Sư phạm kỹ thuật, cao đẳng kỹ thuật, thợ bậc cao hoặc nghệ nhân.Thợ bậc cao được hiểu là thợ có trình độ tay nghề cao hơn bậc đào tạo 2 bậctrở lên, đào tạo bậc cao đẳng khi tốt nghiệp đạt tay nghề bậc 4/7 Thợ bậc cao
Trang 40đủ điều kiện làm giáo viên dạy thực hành có tay nghề tay nghề đạt bậc 6/7 trởlên Những giáo viên chưa được đào tạo về NVSP phải học về nghiệp vụ sưphạm Điều kiện không thể thiếu là giáo viên thực hành phải giỏi về tay nghề
và phương pháp giảng dạy nhằm truyền thụ và hình thành các kỹ năng, kỹ xảonghề nghiệp cho học sinh Đối với các trường Cao đẳng nghề, trung cấp nghề
đã áp dụng chương trình đào tạo theo mô đun, dạy tích hợp cả lý thuyết vàthực hành thì trình độ giáo viên dạy thực hành phải đủ chuẩn như giáo viêndạy lý thuyết Vấn đề đặt ra là phải đào tạo chuẩn hóa phổ cập trình độ đạihọc và sau đại học cho giáo viên dạy thực hành Như vậy giáo viên dạy thựchành không chỉ giỏi về thực hành mà lý thuyết họ cũng nắm vững đáp ứngviệc dạy theo mô đun Điều này là hết sức cần thiết vì sẽ có sự gắn kết thốngnhất giữa dạy lý thuyết và thực hành hiệu quả giảng dạy sẽ cao hơn Cơ cấuchuyên môn phải đủ giáo viên cho tất cả các môn học, mô đun trường đào tạo
Ngoài yêu cầu chuẩn hóa về bằng cấp trình độ, giáo viên cần được bồidưỡng thường xuyên về kiến thức chuyên môn, công nghệ mới, tin học ngoạingữ kể cả trong nước và nước ngoài
Giáo viên đạt chuẩn trình độ mới chỉ là yêu cầu tối thiểu, trên thực tếkhông những giáo viên chỉ đạt chuẩn mà còn cần có đội ngũ giáo viên cóchuyên môn cao, chuyên sâu từng nhóm ngành nghề hoàn toàn làm chủ đượccác lĩnh vực chuyên môn, công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, nghiêncứu ứng dụng khoa học vào sản xuất Vì vậy đã là giáo viên thì phải xác định
là tham gia đào tạo bồi dưỡng, tự bồi dưỡng và học tập suốt đời
Kết luận chương I
Sự nghiệp CNH- HĐH ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải có những conngười rất mực trung thành với lí tưởng XHCN, giàu lòng yêu nước, có trình