Riêng trong lĩnh vực giáo dục, khoa học về tâm lý đã khẳng định, để bảođảm cho một quá trình giáo dục đạt hiệu quả, người giáo viên GV - trongvai trò là chủ thể truyền đạt kiến thức - ph
Trang 1MAI THỊ NGỌC LAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
(Bậc Tiểu học)
Trang 3MAI THỊ NGỌC LAN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
Trang 5đã tạo mọi điều kiện và tận tình truyền đạt kiến thức trong 3 năm qua
Đặc biệt, tôi trân trọng cảm ơn PGS, TS Nguyễn Bá Minh - trong vai trò là cố vấn khoa học - đã nhiệt tâm giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn: Quí Thầy, Cô khoa Giáo dục Tiểu học, trường đại học Vinh; các Thầy, Cô là lãnh đạo Phòng Giáo dục Tiểu học (Sở Giáo dục và Đào tạo TP Hồ Chí Minh); Phòng Giáo dục và Đào tạo quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh ; đội ngũ các Thầy, Cô lãnh đạo, giáo viên, các đồng nghiệp; phụ huynh và học sinh các trường Tiểu học trên địa bàn Thành phố đã hỗ trợ, giúp đỡ về tài liệu, tư liệu; cũng như động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và triển khai thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn và đón nhận những ý kiến đóng góp quí báu của các Thầy, Cô, đồng nghiệp, bạn bè để có thể hoàn thiện công trình hơn, khi điều kiện cho phép.
Vinh, tháng 11 năm 2011
TÁC GIẢ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Trang 61.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.2 Giao tiếp sư phạm 11
1.3 GTSP của GVTH 22
1.4 Kỹ năng GTSP của GVTH 25
1.5 Bồi dưỡng KNGTSP cho GVTH 33
Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 40
2.1 Tổ chức các hoạt động nghiên cứu thực trạng 40
2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng 45
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG GIAO TIẾP SƯ PHẠM CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH67 3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 67
3.2 Một số giải pháp cụ thể 68
3.3 Khảo sát tính khả thi của các giảp pháp 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93 DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC PL1
Trang 7Bồi dưỡng giáo viên BDGV
Trang 8Bảng 2.1 - Mối quan tâm của XH về KNGT và KNGTSP 50
Bảng 2.2 - Vai trò, tầm quan trọng của KNGTSP đối với đội ngũ GVTH 51
Bảng 2.3 - Về KNGTSP của đội ngũ GVTH hiện nay 52
Bảng 2.4 - Về những hạn chế trong KNGTSP của đội ngũ GVTH 53
Bảng 2.5 - Về những yếu tố quyết định chất lượng giảng dạy của GVTH 54
Bảng 2.6 - Về việc vận dụng lý thuyết KNGTSP vào giảng dạy 55
Bảng 2.7 - Về tự bổ sung kiến thức KNGTSP của GVTH 55
Bảng 2.8 - Về các giải pháp để đội ngũ GVTH phát huy hiệu quả KNGTSP 56
Bảng 2.9 - Khảo sát số chuyên đề đã triển khai 57
Bảng 2.10 - Các đối tượng khảo sát 58
Bảng 2.11 - Khảo sát thực trạng về nội dung BDKNGTSP 58
Bảng 2.12 - Khảo sát thực trạng về phương pháp BDKNGTSP 62
Bảng 2.13- Khảo sát tính thiết thực của các nội dung BDKNGTSP 63
Bảng 3.1 - Các đối tượng khảo sát 83
Bảng 3.2 - Tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 84
Trang 9từ gia đình đến công sở, trường học và rộng lớn hơn là toàn xã hội.
Riêng trong môi trường học đường, có thể nói, KNGT là hoạt động diễn
ra một cách thường xuyên, liên tục với tần suất rất cao Đúng như GS, TSKH
Lê Ngọc Trà, khi bàn về vai trò và tầm quan trọng của kỹ năng này trong môitrường giáo dục đã nhận định: “Giao tiếp có quan hệ chặt chẽ với giáo dục.Hay nói một cách cụ thể hơn, thì ở phương diện nào đó, giáo dục chính làgiao tiếp Không có giao tiếp không có giáo dục Ngoài ra giao tiếp không chỉ
là hình thức, phương tiện của giáo dục mà còn là một nội dung quan trọng củagiáo dục” [16]
Để gặt hái được những thành công trong cuộc sống, ngoài tư chất, kinhnghiệm chuyên môn và vốn tri thức tổng hợp, đòi hỏi mỗi cá nhân con ngườiphải có kiến thức nhất định về KNGT Trong thời đại hiện nay, nếu để tâmquan sát, ta sẽ thấy một điều thú vị Đó là, trong khi đông đảo cộng đồng ngàycàng để ý và quan tâm sâu sắc hơn tới vấn đề giao tiếp; thì giới nghiên cứucũng lặng lẽ tìm hiểu vai trò, tầm quan trọng cũng như những giá trị, nhữngđóng góp trong đời sống của hoạt động cũng như kỹ năng này Trong đó,người ta đặc biệt dành nhiều công sức cho việc tìm hiểu, khám phá, thẩm địnhnhững vấn đề cơ bản và quan trọng thuộc phạm trù giao tiếp Do vậy, vấn đềgiao tiếp giữa con người với con người nói chung; giao tiếp trong lĩnh vực sưphạm nói riêng đã, đang và luôn được giới nghiên cứu càng quan tâm tìm hiểu
và khám phá như một vấn đề có tính thời sự
Trang 10Riêng trong lĩnh vực giáo dục, khoa học về tâm lý đã khẳng định, để bảođảm cho một quá trình giáo dục đạt hiệu quả, người giáo viên (GV) - trongvai trò là chủ thể truyền đạt kiến thức - phải biết phát huy khả năng giao tiếpvới đồng nghiệp, phụ huynh, nhưng trước hết và thường xuyên nhất là với đốitượng chủ yếu là học sinh (HS) của mình
Quả vậy, đối tượng hoạt động nghề nghiệp thường xuyên và chủ yếu nhấtcủa GV là con người, do đó, giao tiếp là một kỹ năng quan trọng và là mộtcông cụ lao động đặc trưng của nhà giáo Đặc biệt, đối với bậc học tiểu học làbậc học mang tính nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, càng đòi hỏicao hơn về khả năng sư phạm, nhất là năng lực giao tiếp sư phạm (GTSP) củangười GV đối với chủ nhân tương lai của quốc gia, dân tộc
Qua tham dự một số diễn đàn khoa học, tiếp nhận các thông tin từ sách,báo, tài liệu; cũng như quan sát và tìm hiểu từ thực tiễn, tác giả luận văn nhậnthấy: Những năm gần đây, KNGT trong môi trường học đường nói chungđang có những thay đổi mạnh mẽ, bao gồm cả sự tích cực lẫn tiêu cực
Nhiều ý kiến cho rằng: Nếu xuất phát từ quan điểm “gieo thói quen, gặttính cách”; và: “sự định hình tính cách sẽ tạo nên nhân cách, nhân bản”; thì cóthể nói, các hoạt động giao tiếp (HĐGT) trong môi trường học đường hiệnnay, nhiều lúc nhiều nơi đang có xu hướng bị coi nhẹ, thậm chí bị thả nổi.Ngay đối với đội ngũ GV, trong vai trò là những “máy cái” góp phần tạodựng và hình thành nên nhân cách, tạo nên “font” văn hoá chuẩn mực của hệthống “máy con” tương lai - là các em HS; thì KNGTSP của họ cũng chưathực sự được coi trọng và quan tâm đúng mức
Thực tiễn giáo dục nói chung, thực trạng trên nói riêng đang đặt hệ thốnggiáo dục từ trung ương đến cơ sở đứng trước những thách thức vừa cấp thiếtnhưng cũng hết sức nghiêm túc Đó là làm thế nào để với vai trò và thiên chứccao quí của mình, đội ngũ nhà giáo phải truyền đạt đến HS của mình một hệthống kiến thức cần thiết và cơ bản về hoạt động ứng xử nói chung, trước hết
Trang 11và bắt đầu từ những nguyên tắc, chuẩn mực trong hành vi giao tiếp Điều nàylại phải bắt đầu từ chính đội ngũ thầy, cô giáo; được thể hiện qua kỹ nănggiao tiếp sư phạm (KNGTSP) trong môi trường học đường hàng ngày Bởi vì,các thầy, cô giáo, trong vai trò là chủ thể truyền đạt và định hướng, được vínhư là những cây bút viết nên trong tâm hồn HS những ký tự và con chữtrong sáng và đẹp đẽ, góp sức làm nên những trang đời chặt chẽ về lý màcũng thấm đẫm về cảm xúc nhân văn, nhân bản
Đây vừa là mục tiêu, nhưng cũng vừa là nhiệm vụ đặt ra cho ngành Giáodục trước yêu cầu xây dựng và phát triển một nền giáo dục Việt Nam tiên tiến,mang đậm chất Việt Nam, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
Từ những nhận thức trên, tác giả quyết định chọn đề tài luận văn thạc sĩ
của mình với tên gọi: “Một số giải pháp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp sư
phạm cho giáo viên tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh”; với
mong muốn bằng sự nỗ lực trong tiếp cận, tìm hiểu và nghiên cứu; luận văn
sẽ góp một cái nhìn mới mẻ, đầy đủ và toàn diện hơn về vấn đề này, cả trên
phương diện lý luận cũng như thực tiễn
Công tác bồi dưỡng KNGTSP cho GV tiểu học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các giải pháp bồi dưỡng KNGTSP cho GV tiểu học trên địa bàn TP HồChí Minh
Trang 124 Giả thuyết khoa học của đề tài
Nếu đề xuất và áp dụng các giải pháp có cơ sở khoa học, phù hợp với điềukiện thực tiễn thì có thể nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng kỹ năng giaotiếp sư phạm cho GV tiểu học trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh
5 Phạm vi nghiên cứu
Việc khảo sát thực tiễn được giới hạn trong phạm vi một số trường tiểuhọc (bao gồm cả nội và ngoại thành) trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận
Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
6.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Khảo sát thực trạng, xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài
6.3 Đề xuất các giải pháp
Bao gồm các giải pháp chủ yếu về công tác bồi dưỡng KNGTSP cho đội
ngũ GVTH trên địa bàn TP Hồ Chí Minh
7 Phương pháp nghiên cứu
Để có thể hoàn thành đề tài trên, tác giả xác định sẽ áp dụng một sốphương pháp nghiên cứu chủ yếu, cụ thể là:
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đó là các phương pháp tổng
quát của tư duy khoa học như: phân tích, tổng hợp, khái quát, nghiên cứu tưliệu, tài liệu… nhằm hệ thống hóa lý thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: bao gồm các phương pháp:
+ Điều tra thực tiễn (điều tra xã hội học bằng hình thức phát phiếu thăm dò)+ Phỏng vấn, trò chuyện
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học: Tổng hợp, phân loại, vẽ bảng,
biểu, nhằm xử lý, mô tả các số liệu, chứng minh cho việc trình bày, lập luận,nhận định
Trang 138 Đóng góp của đề tài
8.1 Đóng góp về lý luận
Trên cơ sở kế thừa lý thuyết của những người đi trước về KNGT nóichung, KNGTSP của đội ngũ GVTH nói riêng, đặc biệt là về công tác bồidưỡng kỹ năng này, luận văn sẽ hệ thống hóa, kết hợp với phân tích, đánh giá,nhận định, nhằm cung cấp một cái nhìn tương đối hệ thống và toàn diện về đềtài chọn nghiên cứu
8.2 Đóng góp về thực tiễn
- Thông qua việc trình bày, phân tích, cung cấp một hệ thống các căn cứ
và số liệu có tính khách quan, khoa học cao để các đối tượng có nhu cầu thamkhảo về các nội dung liên quan đến đề tài chọn nghiên cứu
- Thông qua việc trình bày, phân tích trong công trình; cũng như làm tàiliệu và cứ liệu tham khảo cho các các đối tượng khác về vấn đề chọn nghiêncứu và các vấn đề có liên quan
- Qua việc bước đầu xây dựng và đề xuất một số giải pháp chủ yếu vàthiết thực, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả của KNGTSP, nhất là các giảipháp về công tác bồi dưỡng kỹ năng này cho đội ngũ GVTH nói chung, giáoviên ở các trường tiểu học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh nói riêng
- Luận văn có thể là một tài liệu tham khảo cần thiết cho việc giảng dạy,nghiên cứu về KNGT nói chung, KNGTSP và công tác BDKNGTSP đối vớinhững ai có nhu cầu nghiên cứu và tìm hiểu
9 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo vàphụ lục; phần chính văn của đề tài có 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 3: Một số giải pháp bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp sư phạm
cho giáo viên tiểu học trên địa bàn TP Hồ Chí Minh.
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Giao tiếp - với tư cách là một phạm trù triết học - càng về sau càng thu hút
sự quan tâm đặc biệt của đông đảo các nhà nghiên cứu, từ triết học, xã hộihọc, đến tâm lý học, giáo dục học… trên toàn thế giới Tuy nhiên, trongnguồn tài liệu và tư liệu có thể nói là không kém phần đồ sộ đó, có thể khái
lược tình hình nghiên cứu về vấn đề này như sau
a Ở ngoài nước:
Qua tìm hiểu, tác giả luận văn nhận thấy: Từ những năm 70 của thế kỷ
XX, đã có một số công trình nghiên cứu xoay quanh phạm trù giao tiếp củacác nhà khoa học tren thế giới Chẳng hạn, tác giả L.X.Vygốtski với tác phẩm
“Sự phát triển của những chức năng tâm lý bậc cao”; A.N Leonchiev với tác phẩm “Những vấn đề phát triển tâm lý”(1965-1972); A.V.Daparôgiét với tác phẩm “Nguyên tắc phát triển trong tâm lý học” (1978).
Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về KNHĐSP nói chung, kỹnăng dạy học nói riêng của các tác giả: G.X.Catchuc, N.A.Menchinxcaia,X.I.Kixengof, N.V.Cumina, Kenvin, Barry, Lenking v.v… Trong đó, tiêubiểu là nhà nghiên cứu A.G.Spi-rxen, ông cho rằng, giao tiếp là quá trình traođổi những ý nghĩ, tình cảm, kích thích với mục đích người này điều khiểnngười kia
Còn nhà nghiên cứu M.X.Kvét-nôi lại coi giao tiếp là hình thức xã hội đặctrưng của sự tác động lẫn nhau của hai hay nhiều người được định hướng vàonhau trong hoạt động chung và trong sự trao đổi thông tin V.N.Pa-vphe-rốplại quan niệm: giao tiếp là sự tác động qua lại của con người Nó là sự nhận
Trang 15thức qua lại và trao đổi thông tin, nhằm mục đích xây dựng mối quan hệ qualại có lợi đối với quá trình hoạt động chung Ông cũng chia quá trình giao tiếp
ra làm 4 thời điểm gồm: tiếp xúc hoặc liên hệ - tác động lẫn nhau - nhận thứclẫn nhau và quan hệ lẫn nhau
Trong khi đó, Cacgiacpe (1883-1969) nhà triết học, tâm lý học Đức đã đề
ra lý thuyết giao tiếp hiện sinh Ông cho rằng, hằng ngày con người cần phảigiao tiếp với nhau một cách sống động, liên tục qua các cuộc tranh luận vềcác vấn đề xã hội, đó là điều kiện cho sự tồn tại của con người Trong giaotiếp hiện sinh, “mọi người gắn bó với nhau nhưng mỗi người vẫn giữ cá tínhriêng” Nhà triết học nổi tiếng Mactin Bubơ (1878-1965), trong tác phẩm
“Tôi và bạn” thì khẳng định: “Tồn tại là đối thoại hay sự tiếp xúc giữa các
nhân cách”; về sau này trở thành nguyên tắc đối thoại góp phần phát triển lýthuyết giao tiếp
Đặc biệt, cũng vào thời gian trên, các nhà nghiên cứu ở Liên Xô (cũ) đãdành nhiều thời gian và công sức tìm hiểu, mổ xẻ vấn đề giao tiếp và hành vigiao tiếp dưới nhiều góc độ Trong đó, phải kể đến một số công trình tiêu biểu
của các tác giả như: B.Phlomov với công trình“Giao tiếp là vấn đề của tâm lý học đại cương” (1978); A.A Bođaliov với tác phẩm “Vấn đề giao tiếp, những đặc trưng của nó trong công việc với con người” (1972); A.A Leonchiev với tác phẩm “Tâm lý học giao tiếp” (1974)… cùng với một số
nhà khoa học khác cũng tập trung nghiên cứu về kỹ năng hoạt động sư phạmnói chung, kỹ năng dạy học nói riêng như G.X.Catchuc, N.A.Menchinxcaia,X.I.Kixengof, N.V.Cumina, Kenvin, Barry, Lenking, v.v…
Trong các công trình và tác phẩm trên, hành vi giao tiếp - dưới góc độ củatâm lý học đại cương - đã được các tác giả trình bày và phân tích khá cụ thể
và đầy đủ; tạo tiền đề cho hàng loạt các công trình nghiên cứu khác tập trungxoay quanh vấn đề giao tiếp kế tiếp nhau xuất hiện; mặc dù cách tiếp cận
Trang 16cũng như việc nghiên cứu, phân tích vấn đề lại của các tác giả lại không giốngnhau - điều này là tất yếu Nhưng nhìn một cách khái quát, các công trình vàtác phẩm đó đều tập trung chủ yếu trên các xu hướng sau.
Xu hướng thứ nhất: Tập trung nhấn mạnh khía cạnh thông tin trong giao tiếp Đại diện cho xu hướng này là các nhà tâm lý học: M.A.Acgain, K.K.
Platônov và G.G.Gôlubev, A.G.Xpirkin, A.L.Kôlominxki
+ Ia.L.Kôlôminxki thì mô tả: “Giao tiếp là sự tác động qua lại có đốitượng và thông tin giữa con người với con người trong đó những quan hệ liênnhân cách được thực hiện, bộc lộ và hình thành”
+ B.D.Parưghin nhận định: “Giao tiếp là quá trình tác dụng lẫn nhau,trao đổi thông tin, ảnh hưởng lẫn nhau, hiểu biết và nhận thức lẫn nhau”
+ Gần đây, G.M.Anđreeva trong cuốn “Tâm lý học xã hội” đã cho
rằng: giao tiếp có ba mặt quan hệ hữu cơ với nhau gồm: mặt thông tin, mặt trigiác của con người với nhau và mặt tác động qua lại của con người với nhau Tuy nhiên, các tác giả nói trên chưa chỉ ra đặc điểm giao tiếp của conngười được biểu hiện trong truyền thông, làm cho truyền thông trở nên tíchcực, trở thành nội dung cơ bản của giao tiếp
Xu hướng thứ hai: Nhìn nhận bản chất giao tiếp, xác định vị trí giao tiếp trong hệ thống các khái niệm, phạm trù tâm lý học Đại diện cho xu hướng
này là ý kiến của hai nhà tâm lý học A.A.Leonchiev và B.Phlômôv
Trang 17+ Nhà nghiên cứu A.N.Leonchiev (1965-1972), trong tác phẩm
“Những vấn đề phát triển tâm lý” đã đặc biệt đề cao vị trí, vai trò của hành vi giao tiếp trong việc hình thành và phát triển tâm lý của con người
+ Nhà nghiên cứu A.G.Xpirkin đề cập đến mục đích điều khiển của giao tiếp trong “Ý thức và tự ý thức”; tác giả cho rằng: “giao tiếp đó là một
quá trình trao đổi những ý nghĩ, tình cảm, kích thích, ý chí với mục đíchngười này điều khiển người kia” [22, tr.209]
+ G.Mít (1863-1931) - nhà tâm lý học và triết học Mỹ, đại diện củatrường phái triết học thực dụng thì tập trung khẳng định vai trò của giao tiếpđối với sự tồn tại của con người; trong đó, theo ông: “nếu mỗi người muốn cócái riêng của mình thì phải có “cái tôi” khác Đó là những khách thể xã hộikhác với những khách thể vật lý vì nó có khả năng tác động tích cực lên cáitôi của người khác mà ngày nay chúng ta thường gọi là những chủ thể”
+ Còn L.P.Buêva khẳng định: “Giao tiếp không chỉ là một quá trìnhtinh thần, mà còn là quá trình vật chất, quá trình XH, trong đó diễn ra sự traođổi hoạt động, kinh nghiệm, sản phẩm của hoạt động” v.v…
b Ở trong nước:
Tuy có chậm hơn, cụ thể là bắt đầu từ những năm tám mươi trở về sau, ởtrong nước đã lần lượt xuất hiện nhiều bài viết và công trình khoa học nghiêncứu về vấn đề giao tiếp, trong đó có một số công trình đi sâu bàn bạc về cáckhía cạnh thuộc nội hàm của khái niệm này, có thể dẫn ra đây một số tác giả
và công trình sau đây:
- Đỗ Long (1980), C Mac và phạm trù giao tiếp
- Trần Trọng Thuỷ (1981), Giao tiếp, tâm lý, nhân cách.
- Bùi Văn Huệ (1981), Bàn về phạm trù giao tiếp.
- Trần Trọng Thuỷ (1985), Đặc điểm giao tiếp của sinh viên sư phạm
Trang 18- Phạm Minh Hạc (1988), Giao lưu là điều kiện tất yếu của sự hình thành và phát triển tâm lý
- Nguyễn Thạc - Hoàng Anh (1991), Luyện giao tiếp sư phạm.
- Hoàng Anh (1991), Khái niệm giao tiếp sư phạm của sinh viên
- Nguyễn Văn Lê (1992), Vấn đề giao tiếp.
- Ngô Công Hoàn (1992), Giao tiếp sư phạm.
- Trần Tuấn Lộ, Tâm lý học giao tiếp
- Nguyễn Thanh Bình (1995), Một số trở ngại trong tâm lý giao tiếp của sinh viên với học sinh khi thực tập tốt nghiệp.
- Trần Trọng Thủy - Nguyễn Sinh Huy (1996), Nhập môn khoa học giao tiếp
- Nguyễn Quang Uẩn (1998), Giao tiếp và tâm lý.
- Lê Thị Bừng (1998), Tâm lý học ứng xử
- Nguyễn Bá Minh (2005), Tâm lý học lứa tuổi và giao tiếp sư phạm
- Nguyễn Bá Minh (2008), Giáo trình nhập môn khoa học giao tiếp v.v…
Qua các công trình trên cho thấy, sự đóng góp của các tác giả được thểhiện trên các bình diện như: khẳng định vai trò, tầm quan trọng của giao tiếp;chỉ ra bản chất tâm lý học của giao tiếp; bàn về tính chất, đặc trưng, hiệuquả… của phương tiện giao tiếp; bên cạnh đó, đi sâu phân tích khía cạnhGTSP trong tâm lý học; bàn về các dạng, các giai đoạn, các phương tiện,nguyên tắc, phong cách GTSP và KNGTSP v.v…
Tuy nhiên, qua bước đầu tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề, tác giả luậnvăn nhận thấy: cho đến nay, tuy có được đề cập đây đó rải rác qua các côngtrình, giáo trình, tài liệu… nhưng có thể nói, chưa có công trình nào đi sâu
bàn bạc, nghiên cứu về công tác BDKNGTSP cho một đối tượng cụ thể là đội
ngũ GVTH - trong tư cách là đội ngũ trực tiếp giảng dạy cho một cấp họcmang tính nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân Đặc biệt trong đó, chưa
có công trình nào tập trung tìm hiểu và nghiên cứu một cách chuyên biệt và
Trang 19có hệ thống về công tác này ở một địa bàn cụ thể và khá đặc thù là TP HồChí Minh - một trong những trung tâm giáo dục lớn của cả nước, và cũng lànơi bản thân tác giả đã và đang sinh sống và công tác, và trong tư cách là mộtngười làm công tác quản lý
Vì vậy, với việc quyết định chọn nghiên cứu đề tài này, tác giả mong
muốn, đây là một cơ hội để bản thân có thể tiếp cận vấn đề này, trên một địabàn cụ thể một cách tương đối toàn diện, đầy đủ; hầu mong gián tiếp gópphần nâng cao chất lượng bồi dưỡng và rèn luyện KNGTSP cho đội ngũ GVngành giáo dục tiểu học nói chung, mà trước hết là cho đội ngũ GV tiểu họctrên địa bàn TP Hồ Chí Minh nói riêng
1.2 Giao tiếp sư phạm
1.2.1 Khái niệm GTSP
Trước khi đi vào khái niệm này, có thể bắt đầu từ khái niệm “hoạt động
sư phạm” (HĐSP) Vào những năm tám mươi, trong các công trình nghiêncứu của mình, một số nhà nghiên cứu Liên Xô (cũ) như D.Z.Dunep,V.I.Đacvi ađenxki, A.N.AiSue v.v… đã thống nhất quan điểm: HĐSP baogồm hoạt động dạy và hoạt động học, thông qua mối hệ mật thiết của thầy và
trò Theo đó, HĐSP là quá trình dạy và học, bao gồm trong đó hoạt động của thầy (hoạt động dạy) và hoạt động của học trò (hoạt động học) HĐSP là một
quá trình, diễn ra theo cấu trúc chung và hàm chứa trong đó các yếu tố cấuthành Trong đó, một bên là mục đích, động cơ, điều kiện cụ thể nơi diễn rahoạt động; còn một bên là những thao tác, hành động, hoạt động và các mối
quan hệ giữa các thành tố ấy Trong quá trình này, hành vi giao tiếp sư phạm diễn ra như là điều kiện của HĐSP
Từ những trình bày trên, cho phép đi đến nhận định: Giao tiếp giữa conngười với con người trong HĐSP được gọi là GTSP; trong đó, GTSP là mộtthành phần, một bộ phận cơ bản của HĐSP Từ đây, có thể định nghĩa về
Trang 20GTSP như sau: Giao tiếp sư phạm là giao tiếp có tính nghề nghiệp giữa thầy
và trò trong quá trình giảng dạy (giáo dưỡng) và giáo dục có chức năng sư phạm nhất định, tạo ra những tiếp xúc tâm lí, xây dựng không khí thuận lợi, cùng các quá trình tâm lí khác (chú ý, tư duy,…) có thể tạo ra kết quả tối ưu của quan hệ thầy trò, nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy cũng như hoạt động học
Các mối quan hệ trong GTSP giữa thầy và trò được khái quát theo sơ đồ sau:
Trong đó: Sơ đồ (1), (2), (3): Xảy ra khi thầy giáo lên lớp giảng bài,
truyền đạt tri thức cho học sinh
Sơ đồ (4), (5): Khi học sinh thắc mắc, hỏi (trao đổi) những vấn đề màcác em cho là có vấn đề Sơ đồ (5) còn nói lên quan hệ chủ động của học sinhđối với giáo viên
1.2.2 Vai trò của GTSP trong HĐSP
Giao tiếp trong HĐSP có vai trò rất quan trọng, được biểu hiện trên cácmặt chủ yếu sau đây:
1
Trang 21Thứ nhất, GTSP là điều kiện đảm bảo cho HĐSP diễn ra, không có GTSP
thì không đạt được mục đích giáo dục
Như chúng ta biết, giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, nó được tiếnhành ở mọi ngành, mọi cấp và trong tất cả các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội Trong đó, nhà trường là cơ quan chuyên trách công tác giáo dục, là tổ chức xãhội dẫn đầu với những phương pháp giảng dạy khoa học nhằm xây dựng nhâncách phát triển toàn diện cho con người Theo đó, hoạt động giáo dục chỉ diễn
ra trong nhà trường, được thể hiện chủ yếu bởi sự giao tiếp giữa GV và HS.Trong đó, GV là người tổ chức, điều khiển quá trình giáo dục; còn HS làngười lĩnh hội tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp do GV truyềnđạt Xét về mục đích, GTSP chính là nhằm truyền đạt vốn sống, kinh nghiệm,những tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen nghề nghiệp, xây dựng vàphát triển nhân cách toàn diện cho HS Còn mục đích của giáo dục là nhằmkhơi gợi hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm và thái độ của người dạy
và người học theo hướng tích cực, góp phần hoàn thiện nhân cách người họcbằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, góp phần đáp ứng các nhu cầutồn tại và phát triển của con người trong xã hội, nhằm xây dựng nguồn lựccon người trở thành động lực cho sự phát triển bền vững Muốn đạt được mụcđích của giáo dục thì trước hết phải đạt được mục đích của GTSP Từ nhữngnhận thức trên, cho phép khẳng định: GTSP là điều kiện đảm bảo cho HĐSP,hay nói cách khác, không có GTSP thì không đạt được mục đích giáo dục
Thứ hai, GTSP có một vị trí quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạm
của người GV, là phương tiện thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục vàphát triển
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Không có thầy giáo thì không có giáo dục, không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế và văn hóa” Người GV có giỏi hay không được đánh giá dựa trên
Trang 22năng lực sư phạm của họ, trong đó GTSP là một tiêu chí, một bộ phận cấuthành và là một phẩm chất rất quan trọng Bởi vì, GTSP của GV bảo đảm cho
sự tiếp xúc tâm lý với HS, từ đó mà hình thành cho các em động cơ, thái độhọc tập tích cực Mặt khác, trong việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, nhờ
có GTSP mà có thể giải quyết tốt các mối quan hệ giáo dục và sư phạm, tiếpxúc tâm lý giữa GV và HS; tạo ra các hoàn cảnh tâm lý kích thích việc hoànthiện bản thân và tự giáo dục nhân cách
Nói cách khác, GTSP giữ một vị trí hết sức quan trọng và nổi bật trongcấu trúc năng lực sự phạm, trong dạy học và giáo dục của người GV
Thứ ba, GTSP là một khâu quan trọng trong quá trình hình thành nhân
cách, phát triển tích cực nhận thức và xã hội của học sinh trong quá trình hìnhthành tập thể HS Giao tiếp sư phạm gồm những nguyên tắc, những biện pháp
và kỹ xảo tác động lẫn nhau giữa GV với tập thể HS, mà nội dung cơ bản của
nó là trao đổi thông tin, sự tác động về giáo dục và học tập, việc tổ chức cácmối quan hệ và cũng là quá trình người GV xây dựng và phát triển nhân cáchcủa HS Lý do là, người GV không chỉ giao tiếp với HS thông qua bài giảng,
họ còn là tấm gương sáng mẫu mực về nhân cách Mặt khác, trong hoạt độnggiao tiếp sư phạm (HĐGTSP), GV thường xuyên áp dụng các biện pháp giáodục tình cảm, thuyết phục, vận động đối với HS Ngoài ra, GTSP còn là mộtthành tố trong cấu trúc các nội dung giáo dưỡng mà người thầy cần phảitruyền đạt, trang bị cho HS - đó chính là kỹ năng và nghệ thuật giao tiếp Nhưvậy, hoạt động GTSP là một khâu quan trọng, không thể thiếu không chỉ đốivới HS mà ngay cả đối với GV trong việc hình thành và phát triển nhân cách
1.2.3 Những đặc trưng cơ bản của GTSP
Về các đặc trưng của GTSP, trong tác phẩm Tâm lý học tiểu học và giao tiếp sư phạm, TS Nguyễn Bá Minh đã chỉ rõ GTSP có những đặc trưng
chủ yếu sau đây:
Trang 23Thứ nhất, trong GTSP, GV (chủ thể gián tiếp) không chỉ giao tiếp với
HS qua nội dung bài giảng, tri thức khoa học, mà còn là tấm gương sáng mẫumực về nhân cách cho HS noi theo Tấm gương của thầy có ảnh hưởng rất lớnđến sự hình thành và phát triển nhân cách của HS
Thứ hai, thầy giáo cần sử dụng các biện pháp giáo dục tình cảm, thuyết
phục vận động, cảm hóa; thay vì dùng biện pháp đánh đập, hành hạ, trù dập
HS Nhà nghiên cứu A.X.Macarencô cũng cho rằng, sự khéo léo đối xử về sưphạm là sự biểu hiện chân thành của lòng nhân đạo chân chính, nhưng khôngphải của con người nói chung mà của nhà giáo dục lành nghề
Theo đó, trong hoạt động GTSP, người GV cần tạo điều kiện để gẫngũi để thấu hiểu tâm lý, tâm tư của HS Sự hiểu biết đó không chỉ là những cửchỉ bề ngoài mà phải xuất phát từ trái tim mình Bởi vì, sự chân thành của GV
sẽ kích thích tâm hồn của trẻ em mở ra trước người lớn Đây cũng là lý do vìsao nhà trường nói chung và các trường tiểu học nói riêng đều chú trọng xâydựng “Môi trường thân thiện - học sinh tích cực”; chính là muốn tạo ra bầukhông khí giao tiếp sư phạm đầy ắp sự thông cảm, cởi mở, chia sẻ, hiểu biếtlẫn nhau giữa thầy và trò Tình yêu thương của thầy cô khiến HS luôn coithầy cô là những thần tượng cao quí, từ đó các em sẽ làm theo những điềuthầy cô giáo dạy bảo, kết quả học tập, rèn luyện càng có cơ hội và điều kiện
để thăng hoa
Thứ ba, về mặt khách quan, GTSP là sự tôn trọng của nhà nước và xã hội
đối với người thầy Dân tộc ta vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo Lịch sử
đã chứng minh, dù trong chế độ xã hội hay trong bất kì hoàn cảnh nào thìngười thầy luôn được nhà nước và xã hội đề cao và coi trọng
1.2.4 Nguyên tắc GTSP
Nguyên tắc GTSP được hiểu là hệ thống những quan điểm nhận thức chỉđạo, định hướng hệ thống thái độ, hành vi ứng xử của GV đối với HS và
Trang 24ngược lại Các nguyên tắc GTSP mang tính chất bền vững, ổn định; có ýnghĩa chỉ đạo, định hướng, điều chỉnh các phản ứng, hành vi của GV và HStrong quan hệ thầy - trò
Nguyên tắc của GTSP của người thầy được hình thành từ thói quen, sựrèn luyện trong nghề nghiệp, vốn sống kinh nghiệm cá nhân (thâm niên nghề
nghiệp); trong đó, nền tảng của mọi nguyên tắc GTSP của người thầy là “Tất
cả vì học sinh thân yêu”; “Yêu thương học sinh như chính con em mình” - đó
chính là cơ sở của lòng nhân ái, khoan dung
1.2.5 Các hình thức GTSP
Hình thức GTSP vốn rất đa dạng Ở đây, tác giả chỉ đi sâu xem xét haihình thức giao tiếp cơ bản, dựa theo môi trường giáo dục, đó là GTSP trongnhà trường (GTSP TNT) và GTSP ngoài nhà trường (GTSP NT) Khi xem xétcác đặc trưng cơ bản của hai hình thức giao tiếp này, người ta thường chú ýđến mục đích, đối tượng, phương tiện, cũng như thời gian, không gian diễn racác quá trình giao tiếp
1.2.5.1 GTSP trong nhà trường
+ Mục đích của GTSP TNT là giúp HS lĩnh hội tri thức và hình thành kỹnăng cũng như các phẩm chất nhân cách theo nội dung chương trình; qua đó,kích thích sự phát triển trí tuệ, phát triển tư duy sáng tạo, từng bước cung cấpphương pháp học và tự học ở trên lớp và ở nhà cho HS
+ Về đối tượng: Chính là xác định rõ đối tượng để người GV thực hiện,
thể hiện hoạt động GTSP của mình là ai (HS tiểu học, trung học cơ sở, trunghọc phổ thông v.v…)
+ Về nội dung GTSP: Chủ yếu là tri thức khoa học về các lĩnh vực tự
nhiên, xã hội và con người
+ Về phương tiện GTSP: Được thể hiện qua các phương tiện chủ yếu gồm:
Trang 25Ngôn ngữ nói (đảm bảo văn phong khoa học, dễ hiểu, đặc biệt là các khái niệm mới, là ngữ pháp chuẩn tiếng Việt, phát âm chuẩn…); ngôn ngữ viết
trên bảng (những khái niệm mới, công thức, tiền đề…) cần được trình bàychuẩn mực, rõ ràng Đi kèm theo đó là phong cách, tư thế đĩnh đạc đườnghoàng, tự tin; y phục gọn gàng, sạch sẽ, trang nhã, lịch thiệp theo quy định.Các phương tiện quan trọng khác là sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu củagiáo viên, nhất là vở ghi (của HS) cần được thầy cô giáo hướng dẫn cách học
và cách làm bài, khuyến khích HS làm bài tập, tự học ở nhà và cách ghi chép
ở lớp
+ Về không gian, thời gian của GTSP: Được tiến hành trong điều kiệnđặc biệt có trường lớp, bàn ghế, bảng đen theo những quy cách phù hợp vớiđặc điểm phát triển tâm sinh lý lứa tuổi Trường lớp đủ ánh sáng, đủ ấm vềmùa đông, thoáng mát về mùa hè Nhìn một cách tổng thể, cả về không gian
và thời gian, không khí giao tiếp… đều phải bảo đảm mang lại cho HS cảmgiác an toàn, tự tin, thoải mái, hào hứng và thú vị
Tóm lại, hình thức GTSP TNT giữ vị trí quan trọng và đóng vai trò quyếtđịnh trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện, đặc biệt là pháttriển trí tuệ, tư duy sáng tạo của HS
1.2.5.2 GTSP ngoài nhà trường
+ Về đối tượng giao tiếp của GTSP NT: Khác với GTSP TNT, ở hình thứcGTSP NT, đối tượng để tiến hành GTSP đa dạng, phong phú và cũng phứctạp hơn, bao gồm các thành viên trong các nhóm xã hội (gia đình, xóm, làng,đường phố, các đoàn thể mà GV sinh hoạt ở đó); HS khi tiếp xúc với GV (HS
ở gần nhà thầy, cô; cùng đường phố, xóm làng, láng giềng…) Ở đây, sự mẫumực nhân cách của GV vừa mang tính chất “đón đầu” làm mẫu cho HS, vừakhích lệ các bậc phụ huynh dạy dỗ con cái theo các mẫu hành vi đó
Trang 26+ Về nội dung giao tiếp: Là hệ thống các thao tác, hành vi ứng xử, các tưthế, phong cách (bao hàm cả ngôn ngữ và phi ngôn ngữ), nhận thức, biểucảm, tổ chức đời sống cá nhân, cộng đồng với môi trường tự nhiên, môitrường xã hội.
Như vậy, sự khác biệt giữa hai hình thức GTSP này được biểu hiện ở chỗ:một bên là các tri thức khoa học thuộc các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, conngười, được thể hiện trong nội dung chương trình của các bộ môn khoa họcdưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, tài liệu tham khảo… ; còn một bên là hệthống văn hóa được thể hiện không thành văn qua hệ thống các thao tác, hành
vi ứng xử, các tư thế phong cách trong tổ chức sinh hoạt vật chất, tinh thần cánhân và cộng đồng (các nhóm xã hội)
+ Về phương tiện giao tiếp: Nếu phương tiện GTSP TNT chủ yếu thuộc
về ngôn ngữ nói và viết; thì trong GTSP NT, phương tiện giao tiếp chủ yếu làcác hành vi cử chỉ, điệu bộ, tư thế, phong cách (phi ngôn ngữ), đi kèm với cácphương tiện giao tiếp khác được sử dụng tùy theo hoàn cảnh, đối tượng, điềukiện, nội dung và mục đích giao tiếp
+ Về môi trường: Do bị chi phối bởi nội dung, mục đích và đối tượng giao
tiếp nên GTSP NT được tiến hành trong điều kiện tự nhiên, rất linh hoạt và
phức tạp hơn nhiều Ngay cả đối với HS, việc tiếp xúc giữa thầy - trò ngoàinhà trường cũng sinh động, phong phú, các nghi thức giao tiếp cũng đơn giảnhơn, tự nhiên, đời thường hơn
Mặc dù có sự khác biệt trên, nhưng cả hai hình thức giao tiếp này đều
có điểm gặp gỡ chung là sự mẫu mực về hành vi ngôn ngữ, hành vi cử chỉ, cách nói năng… của GV (đúng với quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn
phận) phù hợp với vị trí, vai trò xã hội, trong các quan hệ xã hội (ông, bà, cha
Trang 27mẹ, bè bạn, đồng chí, anh em…) Tương tự như vậy, HS coi hành vi mẫu mựccủa thầy cô giáo mà ứng xử cho phù hợp trong mọi lúc, mọi nơi
1.2.6 Cấu trúc của GTSP
GTSP vốn có cấu trúc rất đa dạng và phức tạp Tuy nhiên, xét theo khíacạnh tâm lý học và theo thời gian, có thể thấy rõ hai dạng cấu trúc chủ yếu làcấu trúc tâm lý và cấu trúc giai đoạn
từ đó, các em luôn nhận thức được nhiều cái mới tốt đẹp ở thầy cô giáo củamình, tự hào về thầy cô dạy mình - đây cũng là một điều kiện cần thiết tạonên sự hấp dẫn của cá nhân đối với cá nhân
b Cảm xúc:
Từ khi bắt đầu, qua diễn biến rồi đến lúc kết thúc một quá trình GTSP,chúng đều biểu hiện một trạng thái cảm xúc nhất định của chủ thể và đốitượng giao tiếp Qua từng thời điểm giao tiếp, người ta dễ nhận ra các nộidung và xúc cảm cụ thể Dù với bất kì đối tượng nào, trước khi giao tiếp, chủthể và đối tượng giao tiếp đều có dự đoán trước về hình thể, nội dung giaotiếp và bao giờ cũng thể hiện thái độ của mình trước khi bắt đầu tiếp xúc Trong giai đoạn diễn biến của GTSP, trong tư cách là chủ thể tổ chức quátrình giao tiếp, người GV thường chú ý gợi lên cho HS những cảm xúc tích
Trang 28cực, hứng thú, hồn nhiên và hết sức thiện cảm để có sức hấp dẫn, thu hút đốivới HS
c Hành vi:
Hành vi trong GTSP được hiểu là hệ thống các vận động đầu, mình, tay,chân… đặc biệt sự biểu hiện của các bộ phận được phân bố trên khuôn mặtnhư: mắt, miệng, mũi Sự vận động của toàn bộ những bộ phận kể trên hợpthành hành vi giao tiếp; khi chúng xảy ra trong quá trình hoạt động sư phạmgọi là hành vi GTSP Hành vi GTSP là một thứ “ngôn ngữ đặc biệt” - ngônngữ của thái độ cá nhân, của thế giới nội tâm, đôi khi nó không chịu sự kiểmsoát của ý thức; vì nó hết sức tự nhiên, chân thực Đó cũng là lý do vì saothường nhìn vào hành vi, người ta hiểu nhau nhanh hơn, chính xác hơn là quangôn ngữ nói
Tóm lại, hành vi GTSP biểu lộ mối quan hệ chặt chẽ giữa những nhu cầu,động cơ, nhận thức, niềm tin thái độ của cá nhân, hòa quyện với yêu cầu đòihỏi của xã hội, tạo thành nội dung tâm lý; chúng có vai trò thúc đẩy hay kìmhãm hoạt động giao tiếp của thầy cô với HS đạt hay không đạt hiệu quả
1.2.6.2 Cấu trúc theo giai đoạn
GTSP là một quá trình gồm nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thực hiệnnhững chức năng khác nhau Nhưng thông thường, một quá trình giao tiếpdiễn ra qua ba giai đoạn:
a Mở đầu quá trình GTSP:
Giai đoạn này còn gọi là giai đoạn định hướng Với chức năng cơ bản củagiai đoạn này là nhận thức, trong đó hạt nhân là nhận thức cảm tính; nhữngthông tin về nhận thức cảm tính bắt đầu từ dáng người, nét mặt, y phục,nhưng chủ yếu là bắt đầu từ thị giác Các nhà tâm lý học cũng chỉ ra rằng:trong nhận thức cảm tính, có sự khác biệt giữa giới tính và lứa tuổi Chẳnghạn, HS nữ thường chú ý đến quần áo, y phục của thầy cô; trong khi HS nam
Trang 29lại thường chú ý đến cách trình bày, diễn đạt bài giảng của thầy cô Mở đầuquá trình giao tiếp thường có sự tham gia tích cực của trực giác - chính là cảmgiác, được hình thành bằng vốn sống kinh nghiệm lâu dài của GV khi tiếp xúcvới HS
b Diễn biến quá trình GTSP:
Mọi mục đích giao tiếp được thực hiện ở giai đoạn này và sự thành cônghay thất bại của toàn bộ quá trình giao tiếp do giai đoạn này quyết định Vềbản chất, đây là giai đoạn bộc lộ bản chất của chủ thể giao tiếp với đối tượnggiao tiếp; trong đó, bản chất đích thực của GV và HS được biểu hiện một cáchsinh động, chân thực nhất Trong đó, ngoài việc truyền đạt những tri thứckhoa học của bộ môn, bao gồm những phạm trù, khái niệm, công thức, tiền
đề, sự kiện, quy luật là khung, là điểm tựa; ngôn ngữ nói là phương tiện chủyếu để chuyển tải những nội dung bài giảng, sao cho các em dễ hiểu, dễ nhớ,ghi chép được v.v… cùng với tư thế, tác phong, hành vi, điệu bộ, cử chỉ, ánhmắt, nụ cười… thì GV cần sử dụng các phương tiện kỹ thuật khác như viếttrên bảng, sử dụng các phương tiện nghe nhìn, giáo cụ trực quan v.v… để HS
dễ tiếp nhận và thực sự bị cuốn hút
c Kết thúc quá trình GTSP:
Trong thực tế, có rất nhiều cách để kết thúc quá trình GTSP xảy ra tronghoạt động dạy và học Mỗi GV đều có những tín hiệu riêng để kết thúc bàigiảng hoặc buổi giao tiếp Mục đích kết thúc quá trình GTSP - phải được cả
GV và HS nhận thức là đã hoàn thành được nội dung, nhiệm vụ giao tiếp; cảhai bên đều đồng ý một cách có ý thức về điểm dừng tại thời điểm nào đó Ấntượng cuối cùng của một tiết giảng, buổi giảng bài, một cuộc gặp gỡ sẽ để lạinhững kỷ niệm đẹp đẽ trong HS, tạo ra nơi các em niềm khát khao, mong đợiđược gặp lại thầy cô, khi chính thầy cô đã gieo vào lòng các em sự mẫu mực
Trang 30về nhân cách, chiều sâu về năng lực chuyên môn và cả bản lĩnh vững vàng vềtrí tuệ.
Cả ba giai đoạn trên, tuy có sự tách biệt và độc lập tương đối, nhưngchúng luôn gắn bó chặt chẽ, biện chứng với nhau, tác động qua lại với nhautrong mỗi hoạt động GTSP; chúng vừa là tiền đề, vừa là hệ quả, cùng phốihợp và tương tác lẫn nhau để tạo nên hiệu quả của các quá trình GTSP
1.3 GTSP của GVTH
1.3.1 Đặc điểm lao động sư phạm của người GVTH
Do bị chi phối và qui định bởi đặc thù nghề nghiệp, lao động sư phạm nóichung, đặc biệt là lao động sư phạm của người GVTH nói riêng, ngoài nhữngđặc điểm chung, còn có những đặc điểm rất riêng biệt; được thể hiện trên cácmặt sau đây:
Thứ nhất, đối tượng lao động trực tiếp của người GVTH là trẻ em trong
độ tuổi từ 6 đến 11 - 12 tuổi Ở lứa tuổi này, các em HS có quy luật phát triểntâm - sinh lí riêng Đây là lứa tuổi đang tiềm ẩn những khả năng phát triển rấtlớn; đòi hỏi người GVTH phải thực sự có tình thương yêu, lòng tin và sự tôngtrọng đối với trẻ em; có sự đối xử công bằng, dân chủ, lạc quan, tế nhị và cáchứng xử, mềm dẻo, nhưng lại cần kiên quyết
Thứ hai, lao động của người GVTH tạo ra là sản phẩm đặc biệt Đó là
nhân cách của mỗi trẻ em ngồi trên ghế nhà trường để mai sau trở thành côngdân có ích cho xã hội Khoa học về sư phạm cũng đã khẳng định: Con ngườichỉ sinh ra con người, còn giáo dục mới sản sinh ra nhân cách
Thứ ba, công cụ lao động của người GV nói chung, GVTH nói riêng là trí
tuệ và phẩm chất của chính họ Người GVTH dùng trí tuệ của mình để tácđộng vào đối tượng, đặc biệt là trí tuệ HS, dùng nhân cách đã ổn định củamình để tác động lên nhân cách còn non trẻ của trẻ em đang cần được rènluyện Công cụ này sẽ tác động có hiệu quả khi người GVTH có uy tín cao;
Trang 31nghĩa là, phẩm chất và năng lực, đức và tài của người GVTH càng cao thì sứcthuyết phục HS càng lớn.
Thứ tư, lao động của nhà giáo cũng mang ý nghĩa chính trị và kinh tế to
lớn Bởi vì, giáo dục để tạo ra sức lao động mới trong từng con người đòi hỏiphải qua một quá trình đầy phức tạp, tinh tế và công phu Hay nói cách khác,nghề dạy học là nghề tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội
Thứ năm, khác với sản phẩm từ ngành nghề khác là có thể sử dụng ngay,
sản phẩm lao động của nhà giáo cần có thời gian mới sử dụng được và nó gắnvới tương lai của dân tộc Do đó, vai trò của nhà giáo nói chung là hết sức
quan trọng và trách nhiệm của người GVTH là rất nặng nề và lớn lao
Thứ sáu, lao động của nhà giáo đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và
tính sáng tạo cao Trong đó, tính khoa học đòi hỏi người GV và GVTH nói riêng phải nắm vững quy luật tâm lí của HS, quy luật giáo dục trẻ em để hình thànhnhân cách cho các em theo mục tiêu cấp học và đòi hỏi phải có sự kế thừa và
có chọn lọc; đồng thời có sử dụng các khoa học khác nhằm làm cho hoạt động
của mình mang tinh thần khoa học Tính nghệ thuật đòi hỏi người GV phải
khéo léo đối xử sư phạm, vận dụng các phương pháp dạy học và giáo dục vàotừng tình huống và từng con người cụ thể Tính sáng tạo xuất phát từ nhậnthức mỗi HS tiểu học là một nhân cách đang được hình thành, khả năng pháttriển còn bỏ ngỏ, nhưng sự phát triển lại diễn ra rất nhanh chóng Vì thế,không cho phép người GVTH rập khuôn, máy móc; ngược lại phải có nộidung phong phú, nhất là cách thức tiến hành sáng tạo, linh hoạt trong các tìnhhuống cũng như đối với từng HS cụ thể
Tóm lại, lao động của nhà giáo là lao động sản xuất ra những nhân cách
và những giá trị nhân loại với sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội Lao độngcủa người GVTH nói riêng là một loại hình lao động đặc thù mang tính “khởi
Trang 32đầu”, “khai sáng" cho con người; từng bước cải biến con người tự nhiên thành
con người xã hội
1.3.2 Vai trò của GTSP trong HĐSP của GVTH
GTSP có một vị trí cực kì quan trọng trong cấu trúc năng lực sư phạm củangười giáo viên Cũng như giao tiếp nói chung trong đời sống, hoạt động sưphạm (HĐSP) và GTSP nói riêng cũng có nhiều chức năng Đó có thể làphương tiện phục vụ hoạt động giảng dạy, có thể là điều kiện XH - tâm lí bảođảm cho các quá trình giáo dục, và trên một khía cạnh nào đó cũng có thể làphương thức tổ chức các mối quan hệ qua lại giữa thầy và trò
Nếu coi HĐSP hướng tới ba mục đích chủ yếu là giảng dạy, giáo dục vàphát triển; thì mục đích của GTSP - trong tư cách là một bộ phận của HĐSP -cũng chủ yếu là nhằm hướng đến các mục đích trên Đây cũng đồng thời là banội dung chủ yếu, thể hiện vai trò của GTSP trong HĐSP của người GVTH,
cụ thể như sau:
- Trong việc thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, GTSP bảo đảm cho sựtiếp xúc tâm lí giữa GV với HS Điều này thể hiện ở việc hình thành động cơtích cực học tập, tạo ra hoàn cảnh tâm lí cho cả lớp hay từng nhóm cùng tìmtòi, thảo luận, nhận thức và cùng nhau suy nghĩ
- Đối với việc thực hiện các nhiệm vụ giáo dục, thông qua HĐGTSP, cóthể giải quyết êm thấm các mối quan hệ giáo dục và sư phạm, xác lập sự tiếpxúc tâm lí giữa GV và HS, từ đó mà hình thành xu hướng nhận thức trongnhân cách của HS, vượt qua các rào cản về tâm lý, hình thành các mối quan
hệ trong tập thể HS
- Trong việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển, GTSP tạo ra các hoàncảnh tâm lý, kích thích việc hoàn thiện bản thân và tự giáo dục nhân cách của
cả thầy và trò
Trang 33Mặt khác, với những nội dung cơ bản là trao đổi thông tin, là sự tác động
về giáo dục và học tập, tổ chức mối quan hệ lẫn nhau và cũng là quá trìnhngười GV xây dựng và phát triển nhân cách cho HS; GTSP là một hệ thốngphức tạp, là quá trình sáng tạo để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục, học tập vàtạo sự hiểu biết lẫn nhau giữa người dạy và người học
1.3.3 Các dạng GTSP của GVTH
Có nhiều cách để phân loại các hình thức và các dạng GTSP, dựa trênnhiều tiêu chí khác nhau; tùy theo đối tượng, mục đích, môi trường, phươngpháp, phương tiện giao tiếp v.v… Chẳng hạn, nếu dựa trên tiêu chí môitrường giao tiếp và xét riêng trong môi trường sư phạm, có thể phân biệt badạng GTSP chủ yếu của người GV nói chung, GVTH nói riêng là:
- Giao tiếp giữa GV và HS (chủ thể và đối tượng);
- Giao tiếp giữa các đồng nghiệp với nhau (chủ thể và chủ thể);
- Giao tiếp giữa GV và PH HS (chủ thể và khách thể)
Ở đây, cần chú ý một điểm khác biệt: Đó là, nếu như trong các giao tiếpthông thường, mỗi cá nhân giao tiếp vừa là chủ thể vừa là đối tượng, thì trong
HĐ GTSP, người GV thường đóng vai trò chủ thể Theo đó, trong bất kì mộtdạng giao tiếp nào, người GV thường phải thực hiện các công việc gồm: xácđịnh mục đích giao tiếp; xác định rõ những thuận lợi và khó khăn của môitrường giao tiếp để chủ động về nội dung giao tiếp; lựa chọn phương phápgiao tiếp; sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ thích hợp;nhằm đạt tới hiệu quả giao tiếp
1.4 Kỹ năng GTSP của GVTH
1.4.1 Khái niệm chung về kỹ năng
Kỹ năng là một phạm trù triết học và là một khái niệm thường được đề
cập trong lĩnh vực giáo dục, từ lâu được nhiều nhà tâm lí học, giáo dục họctrong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu và có những quan niệm
Trang 34tuy có những điểm gặp gỡ chung nhưng không hoàn toàn giống nhau Trong
đó, các quan niệm khác nhau được thể hiện trên hai xu hướng chủ yếu:
Khuynh hướng thứ nhất, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kĩ thuật củahành động; khuynh hướng thứ hai, nhìn nhận kỹ năng như một biểu hiện nănglực của con người
Ở khuynh hướng thứ nhất, người ta cho rằng, muốn thực hiện hành
động con người phải có những tri thức về hành động Cụ thể là phải hiểu đượcmục đích, cách thức và phương tiện, điều kiện hành động Khi con người nắmđược các tri thức về hành động và thực hiện hành động theo các yêu cầu khácnhau của thực tiễn, tức là con người đã có kỹ năng hành động Mức độ thànhthạo của kỹ năng phụ thuộc vào mức độ nắm vững tri thức về hành động và
sử dụng chúng vào hoạt động thực tiễn nhiều hay ít, đúng hay không
Người có kỹ năng hành động trong một lĩnh vực hoạt động nào đó đượcbiểu hiện trên các mặt cụ thể Đó là có tri thức về hành động (nắm được mụcđích hành động, nắm được cách thức thực hiện hành động và các điều kiệnthực hiện hành động); thực hiện hành động đúng với các yêu cầu của nó; đạtđược kết quả của hành động theo mục đích đề ra; cuối cùng là có thể thựchiện hành động có kết quả trong những điều kiện đã thay đổi
Ở khuynh hướng thứ hai, người ta đề cao vai trò về khả năng của con
người, có được nhờ trải qua quá trình rèn luyện, tích lũy mà thành Đó lànhững phẩm chất, tư chất riêng có thuộc về năng lực, khả năng của từng cánhân hay nhóm người, cộng đồng nào đó Những phẩm chất, tư chất, năng lực
đó được thể hiện qua những hành động, hoạt động, việc làm cụ thể; thể hiện ởkhả năng xử lý, giải quyết công việc hay vấn đề để đạt được kết quả hay hiệuquả ở mức độ nào
Nhìn chung trên cả hai xu hướng, có thể nói, kỹ năng chính là khả năngthực hiện để đạt đến một kết quả hay mục đích nào đó, thông qua việc huy
Trang 35động và vận dụng sáng tạo tài trí, sức lực và kinh nghiệm của bản thân vàoứng xử và giải quyết các vấn đề đang đặt ra từ thực tiễn
Như vậy, có thể hiểu định nghĩa khái niệm kỹ năng như sau: Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm và những cách thức hành động đúng đắn vào thực tiễn.
Các nhà tâm lý học cũng cho rằng, khi xem xét kỹ năng, cần phải lưu ýnhững điểm sau đây:
+ Kỹ năng trước hết phải được hiểu là mặt kỹ thuật của hành động; kỹnăng bao giờ cũng gắn với những hành động cụ thể
+ Tính đúng đắn, sự thành thạo, linh hoạt, mềm dẻo là tiêu chuẩn quantrọng để xác định sự hình thành và phát triển của kỹ năng Theo đó, một hànhđộng chưa thể gọi là có kỹ năng nếu còn mắc nhiều lỗi và vụng về trong cácthao tác và diễn ra theo một khuôn mẫu máy móc, cứng nhắc
+ Kỹ năng không phải là yếu tố bẩm sinh của mỗi cá nhân, mà là sảnphẩm của hoạt động thực tiễn Đó là quá trình con người vận dụng những trithức và kinh nghiệm vào hoạt động thực tiễn để đạt được mục đích đề ra
1.4.2 Khái niệm KNGTSP
KNGTSP, thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa những chuẩn mựchành vi xã hội (con người, nghề nghiệp) nhưng lại thể hiện rất rõ tính cá nhân,thể hiện ở sự vận động của cơ mặt, ánh mắt, nụ cười (vận động môi, miệng),của ngón tay, bàn tay, cổ tay…) đi kèm với ngôn ngữ nói, viết của GV Sựphối hợp hài hòa, hợp lý giữa các vận động đó đều hàm chứa một nội dungtâm lý nhất định, phù hợp với những mục đích và nhiệm vụ giao tiếp cần đạtđược mà GV, trong vai trò là là chủ thể của KNGTSP
Như vậy, có thể hiểu: KNGTSP là hệ thống những thao tác, cử chỉ, điệu
bộ hành vi (kể cả hành vi ngôn ngữ) phối hợp hài hoà hợp lý của giáo viên,
Trang 36nhằm bảo đảm cho sự tiếp xúc với học sinh đạt kết quả cao trong hoạt động dạy học và giáo dục, với sự tiêu hao năng lượng tinh thần và cơ bắp ít nhất,
trong những điều kiện thay đổi
KNGTSP được hình thành và rèn luyện qua các con đường:
- Những thói quen ứng xử được xây dựng từ gia đình, từ các quan hệ xã hội
- Những kiến thức được học lúc còn là sinh viên ở trường sư phạm
- Do vốn sống kinh nghiệm cá nhân qua tiếp xúc với mọi người được tíchlũy mà thành
- Được rèn luyện trong nhà trường đang công tác qua các lần thực hành,thực tập giảng dạy, làm công tác chủ nhiệm, thông qua việc tiếp xúc với họcsinh (thâm niên nghề càng cao thì KNGTSP càng dày dạn, nhuần nhuyễn)
1.4.3 Các nhóm KNGTSP của GVTH
KNGTSP bao gồm nhiều nhóm kỹ năng Hiện có nhiều cách phân chiacác nhóm kỹ năng theo các tiêu chí (dựa trên các cơ sở khoa học) khác nhau Trong quá trình nghiên cứu về GTSP, các nhà tâm lý, giáo dục trongnước, đặc biệt là ở nước ngoài đã thống nhất phân chia các loại KNGTSPtheo các tiêu chuẩn sau:
Tác giả V.P.Dakharov dựa vào trật tự các bước tiến hành của một “pha”giao tiếp cho rằng, để có năng lực giao tiếp cần có các kỹ năng sau đây:
- Kỹ năng thiết lập mối quan hệ trong giao tiếp;
- Kỹ năng biết cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp;
- Kỹ năng nghe và biết lắng nghe;
- Kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi;
- Kỹ năng tự kiềm chế và kiểm tra đối tượng giao tiếp;
- Kỹ năng diễn đạt dễ hiểu, gọn, mạch lạc;
- Kỹ năng linh hoạt, mềm dẻo trong giao tiếp;
- Kỹ năng thuyết phục trong giao tiếp;
Trang 37- Kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp
Ông cũng đã xây dựng trắc nghiệm thăm dò những kỹ năng giáo dụcnhằm phát hiện những khả năng tiềm tàng trong giao tiếp của mỗi người.Trong phần rèn luyện KNGTSP, mỗi sinh viên đều được tiến hành trắcnghiệm này để biết được điểm mạnh, yếu của bản thân mình trong quan hệgiao tiếp
Còn theo nhà nghiên cứu A.T.Kyrbanova Ph.M.Rakhmatylina, mộtquá trình GTSP bao gồm ba nhóm lớn và chủ yếu Đó là nhóm các kỹ năngđịnh hướng trước khi GTSP; nhóm các kỹ năng tiếp xúc xẩy ra trong quátrình GTSP; nhóm các kỹ năng độc đáo hướng quá trình GTSP đến các địnhhướng giá trị khác nhau mà người GV cần hướng đến
Cũng theo hai tác giả trên, các kỹ năng trong các thành phần trên baogồm: nhìn thấy, nghe được các trạng thái của HS, kỹ năng tiếp xúc, hiểu biếtlẫn nhau, tổ chức, điều khiển quá trình giao tiếp
Trong khi đó, các nhà tâm lý học Xô Viết (cũ) như A.A.Bôđalov,V.A.Cancalích, N.V.Cudơmina, A.N.Leonchiev… thì KNGTSP có thể đượcchia thành hai giai đoạn chính gồm: giai đoạn điều khiển, điều chỉnh và pháttriển quá trình giao tiếp; và giai đoạn cuối cùng là phân tích hệ thống giao tiếp
đã được thực hiện, đồng thời xây dựng mô hình giao tiếp cho hoạt động tiếptheo Trên cơ sở đó, người ta chia KNGTSP thành ba nhóm kỹ năng chính: kỹnăng định hướng, kỹ năng định vị và kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp Những trình bày và lập luận ở trên về các nhóm KNGTSP chung đối vớiđội ngũ nhà giáo nói chung, cũng chính là sự nhìn nhận đối với đội ngũGVTH nói riêng
Trang 381.4.4 Cấu trúc KNGTSP của GVTH
Theo Từ điển tiếng Việt, “Cấu trúc là toàn bộ nói chung những quan
hệ bên trong giữa các thành phần tạo nên một chỉnh thể” [18, tr.128] Như
vậy, khi nói đến một cấu trúc bất kì, là nói đến các yếu tố cấu thành bên trong,
có sự liên kết với nhau để tạo nên cấu trúc đó Theo đó, cấu trúc củaKNGTSP chính là các yếu tố cụ thể liên kết với nhau tạo nên kỹ năng này.Dựa trên nhiều tiêu chí, có thể xây dựng và thống kê ra hàng loạt các cấu trúckhác nhau về KNGTSP Tuy nhiên, ở đây, có thể dựa trên hai tiêu chí chủ yếu
để xem xét cấu trúc của KNGTSP, là cấu trúc theo hành động và cấu trúc theogiai đoạn
a Cấu trúc theo hành động:
Theo TS Phạm Minh Hùng, cấu trúc của KNGTSP là tập hợp các hànhđộng nhất định mà người giáo viên cần thực hiện thành thạo trong quá trìnhgiao tiếp Các hành động này được sắp sếp theo một hệ thống phù hợp với nộidung cũng như tiến trình giao tiếp; bao gồm các hành động sau đây:
- Hành động xác định mục đích, yêu cầu của cuộc giao tiếp
- Hành động xác định nội dung cuộc giao tiếp
- Hành động lựa chọn phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức cuộcgiao tiếp
- Hành động thiết kế và tổ chức các HĐGT giữa đối tượng giao tiếp và đốitượng tiếp nhận được những thông tin cần thiết
- Hành động tổ chức được các mối liên hệ, quan hệ giữa: GV - đối tượnggiao tiếp; các đối tượng giao tiếp với nhau; các đối tượng giao tiếp - phươngtiện giao tiếp
- Hành động tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả GTSP
Các hành động trên đây có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Khimột giao tiếp của một GV cụ thể được thực hiện thành thạo bởi tất cả các
Trang 39hành động này, chúng ta có thể nói, người GV đó đã hình thành đượcKNGTSP.
b Cấu trúc theo giai đoạn:
Theo các nhà tâm lý - giáo dục học, thì cấu trúc của KNGTSP được chialàm 4 giai đoạn :
- Giai đoạn 1: Xác định mục đích, yêu cần của việc rèn luyện.
- Giai đoạn 2: Thiết kế nội dung rèn luyện
- Giai đoạn 3: Tổ chức rèn luyện
- Giai đoạn 4: Đánh giá kết quả rèn luyện KNGTSP
1.4.5 Hình thành KNGTSP cho GVTH
Trong hệ thống giáo dục, giáo dục tiểu học có một vị trí đặc biệt quan
trọng trong việc đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Điều II
Luật Phổ cập giáo dục đã nêu: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân…” Đây là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục,
đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậchọc trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những đường nét cơ bảncủa nhân cách
Do vậy, giáo dục ở bậc tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, vớitính chất sư phạm đặc trưng Chính vì vậy, việc hình thành KNGTSP cho độingũ GVTH càng được đặc biệt coi trọng; trong đó, việc chú trọng đào tạonhững kỹ năng nghề nghiệp nói chung, KNGTSP nói chung phù hợp với đặcthù cũng như yêu cầu khắt khe ở bậc tiểu học là hết sức cần thiết
Kỹ năng không thể tự có Kỹ năng sư phạm và GTSP càng không thể tự
có, mà chúng được hình thành nhờ quá trình học tập, tự học, tự rèn luyện vàqua thực tiễn hoạt động Việc hình thành KNGTSP là trang bị cho người GV
hệ thống phức tạp các thao tác, các hành động, nhằm bảo đảm cho họ thựchiện có hiệu quả hoạt động dạy học Đối với GVTH lại càng cần phải tiến
Trang 40hành và thử nghiệm cũng như ứng dụng nhiều dạng, nhiều hình thức giao tiếp
và KNGTSP khác nhau Mỗi dạng, mỗi hình thức giao tiếp, KNGTSP cónhững đặc trưng nhất định, từ nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức; đếnviệc kiểm tra, đánh giá kết quả giao tiếp
Vấn đề hình thành KNGTSP đối với nhà giáo nói chung, trong đó cóđội ngũ GVTH đã và đang ngày càng được nhiều nhà tâm lí học trong vàngoài nước quan tâm nghiên cứu Tuy có nhiều điểm chưa thực sự đồng nhất,
nhưng các các tác giả đều gặp gỡ nhau ở một quan điểm: Kỹ năng được hình thành trong hoạt động Nhà nghiên cứu A.N Leonchiev đã mô tả mô hình
cấu trúc của hoạt động như sau:
Hoạt động hành động thao tác và tương ứng với chúng là cácyếu tố khách quan : đối tượng (động cơ) mục đích phương tiện (điềukiện) Ông nhấn mạnh, hành động là đơn vị của hoạt động, và muốn hìnhthành hoạt động, trước hết phải hình thành được hành động Muốn hình thànhđược hành động, trước hết phải phân biệt được các phạm trù: hành động -thao tác và tương ứng với nó là mục đích - phương tiện Cũng theo ông, mộthành động muốn thực hiện được, một mặt bị chi phối, phụ thuộc vào mụcđích được ý thức - hành động nhằm đạt được cái gì; mặt khác, nó phải đượctiến hành như thế nào để đạt được mục đích đó
Theo đó, để thực hiện thành công nhiệm vụ dạy học và giáo dục HS, người
GV nói chung, GVTH nói riêng cần được trang bị hoặc tự trang bị cho mìnhnhững KNGTSP sau đây:
- Kỹ năng xác định mục đích, yêu cầu của mỗi cuộc giao tiếp;
- Kỹ năng lựa chọn hình thức phù hợp với nội dung giao tiếp cho từng dạnggiao tiếp; có khả năng tích hợp các nội dung giáo dục khác vào cùng cuộcgiao tiếp;