1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm văn xuôi việt nam sau 1975 (qua những truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu)

130 2,3K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số đặc điểm văn xuôi Việt Nam sau 1975 (qua những truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu)
Tác giả Lê Thị Hằng
Người hướng dẫn PGS.TS. Trương Đăng Dũng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2002
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 375,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Yêu cầu của thời đại, tính chấtphức tạp của cuộc sống, sự đa dạng của tính cách con ngời, thị hiếu thẩm mỹcủa công chúng, đòi hỏi văn học phải tìm tòi, thể hiện một cách đầy đủ vàsinh độ

Trang 1

Bé gi¸o dôc vµ §µo t¹o Trêng §¹i häc Vinh

Vinh 2002

Trang 2

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Sau đại học, Ban chủnhiệm và các thầy cô giáo trong khoa khoa Ngữ văn, Ban chủ nhiệm khoa Giáodục tiểu học trờng Đại học Vinh

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trơng Đăng Dung

- ngời hớng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, hớng dẫn tôi trong suốt thời giannghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn GS Trần Đình Sử, GS Phong Lê, PGS.TS BùiThúc Tam, TS Phan Huy Dũng, TS Đinh Trí Dũng, TS Biện Minh Điền, TS.Nguyễn Văn Hạnh Những ngời đã gợi mở các ý kiến quan trọng trong quátrình nghiên cứu đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè vàngời thân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả

Trang 3

Mục lục

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài.……………… 1

2 Lịch sử vấn đề……………… 3

3 Nhiệm vụ, phạm vi, phơng pháp nghiên cứu…………… 8

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu………………. 8

3.2 Phạm vi nghiên cứu ……… 9

3.3 Phơng pháp nghiên cứu ……… 10

3.4 Cấu trúc luận văn ……… 10

Chơng I Một thời kỳ mới của văn học Việt Nam 12 1.1 Bối cảnh mới của nền văn học Việt Nam sau chiến tranh ……… 12

1.2 Những tiền đề đổi mới của lý luận và sáng tác văn học ……… 20

Chơng II Những cảm hứng sáng tạo mới 33 2.1 Cảm hứng phê phán……….……… 34

2.2 Cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ………. 50

2.3 Cảm hứng thân phận con ngời cá nhân… ………. 65

Chơng III Những đặc điểm của phong cách nghệ thuật 79 3.1 Sự biến đổi của ý thức nghệ thuật……… 81

3.2 Giọng điệu trần thuật………. 93

3.3 Không gian, thời gian nghệ thuật……… 102

3.4 Kết cấu tác phẩm ……… 109

Kết luận ……… 116

Tài liệu tham khảo ……… 121

Trang 4

Mở đầu

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài.

1 Trong lịch sử phát triển của văn học nhân loại, ở mỗi thời đại ng ời tathờng xuyên xem xét lại những vấn đề xuất phát từ mục đích và yêu cầu củathời đại mình, lý giải chúng theo quy luật phát triển của thời đại Do đó hầu

nh những cái là ổn định đối với thời đại trớc thì đối với thời đại này lại cónhững vấn đề để mà bàn luận hay chi ít cũng đợc nhìn nhận lại một cách sâusắc, toàn diện và đúng đắn hơn Văn xuôi Việt Nam sau 1985 cũng khôngnằm ngoài quy luật ấy Văn học giai đoạn này đợc xem là một thời kỳ mớitrong văn học Việt Nam hiện đại, là thời kỳ văn xuôi có sự chuyển mình, khởisắc Đặc biệt là từ sau 1986, khi diễn ra Đại hội VI của Đảng, đất n ớc ta chínhthức bớc sang một thời đại mới Trên tất cả các lĩnh vực hoạt động và đời sốngxã hội đều có sự chuyển biến không ngừng Yêu cầu của thời đại, tính chấtphức tạp của cuộc sống, sự đa dạng của tính cách con ngời, thị hiếu thẩm mỹcủa công chúng, đòi hỏi văn học phải tìm tòi, thể hiện một cách đầy đủ vàsinh động thực trạng của đời sống xã hội, bổ sung những gì khiếm khuyết củavăn học các giai đoạn trớc đó để đổi mới hoàn thiện hơn Nhu cầu mới củacon ngời và cuộc sống khiến cho các thể loại văn học đặc biệt là văn xuôi có

sự vận động và phát triển Cha bao giờ con ngời và đời sống hiện thực đợcphản ánh đa chiều nh thế Đề tài chiến tranh và cách mạng, lịch sử và dân tộcdần dần nhờng chỗ cho đề tài đạo đức thế sự và đời t Văn xuôi sau 1985 đãphát huy đợc khả năng tiếp cận và phản ánh đợc hiện thực con ngời trong giai

đoạn mới một cách nhanh nhạy và sắc bén Chính vì vậy khi nói tới văn họcthời kỳ sau chiến tranh ngời ta vẫn thờng nhắc đến khoảng thời gian 15 nămtrở lại nay Đây là thời kỳ văn xuôi Việt Nam gặt hái đ ợc nhiều thành tựu nhất

và cũng là đối tợng hấp dẫn đối với việc nghiên cứu khoa học

Trang 5

2 Sau chiến tranh, hoàn cảnh thời bình với yêu cầu mọi mặt của đờisống, con ngời phải hoà mình trong không khí dân chủ hoá Đặc biệt là từ khi

có nghị quyết 05 của Bộ chính trị Đảng cộng sản Việt Nam (1987) đã mở ramột cách nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ Là bộ phận nhạy cảmnhất của xã hội, văn học nghệ thuật hởng ứng kịp thời và hết sức mạnh mẽ đ-ờng lối đổi mới và thực hiện ngay t tởng đổi mới trong sáng tác của mình.Văn học sau 1985 không còn bị ràng buộc bởi thực tế chiến tranh nh trớc nữa.Mặt khác, các nhà văn giai đoạn này cũng có những tìm tòi và chính kiếnkhác các nhà văn giai đoạn trớc hoặc là khác với chính bản thân mình Sự đổimới đó mang tính phát triển phù hợp với quy luật khách quan và cần đ ợcnghiên cứu

3 Hơn thế nữa, văn xuôi giai đoạn sau 1985, đặc biệt là truyện ngắn vàtiểu thuyết có một vị trí vô cùng quan trọng trong nền văn học Việt Nam.Không thể hình dung đợc diện mạo của nền văn học chúng ta bất cứ giai đoạnnào từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay nếu không tính đến truyện ngắn vàtiểu thuyết trong giai đoạn này Cha bao giờ truyện ngắn, tiểu thuyết lại pháttriển phong phú về số lợng lẫn hiệu quả nghệ thuật nh giai đoạn này ở cáclĩnh vực khác nh thơ, ký, kịch bản, sân khấu… đã có lúc đem lại những hứngthú nghệ thuật với độc giả song cũng có lúc rơi vào sự thờ ơ lãnh đạm bởikhông đáp ứng đợc kịp thời phần đời sống tinh thần và thẩm mỹ đang biến đổi

và nâng cao trong công chúng Nh vậy, muốn hiểu văn học nói chung, đặc

điểm văn xuôi trong thời kỳ đổi mới nói riêng, chúng ta không thể khôngnghiên cứu truyện ngắn và tiểu thuyết sau 1985

4 Từ sau 1985, sự hình thành của một giai đoạn văn học mới đã đ ợc bắt

đầu Không khí ấy làm cho ngời cầm bút tự tin hơn trong những tìm tòi vàsáng tạo của mình khi viết về các vấn đề phức tạp của cuộc sống, mạnh dạn đ a

ra những ý kiến của mình trớc thực trạng đời sống, từ đó nêu ra những bàihọc, những t tởng mang tính triết lý, nhân sinh có ý nghĩa lớn lao trong thời

đại Điều đó bắt buộc các tác giả phải tìm đến thể loại văn xuôi, là thể loại cókhả năng bộc lộ những vấn đề trên một cách nhanh nhạy và hiệu quả nhất

Trang 6

5 Thời kỳ này những cây bút có tên tuổi trớc đây nh: Bùi Hiển, NguyễnKhải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Ma Văn Kháng, Lê Lựu,…ngày càng khẳng định khả năng của mình hơn nữa qua các tác phẩm Tiếp đó

sự xuất hiện rầm rộ của các cây bút trẻ Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh,Nguyễn Quang Lập, Bảo Ninh, Dơng Thu Hơng, Khuất Quang Thụy, Dơng H-ớng,… đã làm thay đổi hẳn bộ mặt và dáng vẻ của văn xuôi hôm nay Đi tìmhiểu đề tài này chúng ta sẽ hiểu sâu sắc hơn một số đặc điểm của văn xuôigiai đoạn sau 1985

Với đề tài "Một số đặc điểm của văn xuôi Việt Nam sau 1985" (qua

những truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu) Luận văn của chúng tôi hớng

đến việc tìm hiểu những đặc điểm của văn xuôi Việt Nam sau 1985 qua sựphân tích, tìm hiểu các tác phẩm đã đợc chọn lọc cùng thời Tìm hiểu đề tàinày sẽ giúp ích rất nhiều cho việc nghiên cứu văn học, nhất là diện mạo vănxuôi sau đổi mới lại nay, cũng nh việc giảng dạy văn học trong các trờng Đạihọc, các trờng Phổ thông

2 Lịch sử vấn đề.

Trang 7

Sau chiến thắng mùa xuân 1975, đất nớc ta đợc hoàn toàn giải phóng,

Tổ quốc ta đợc thống nhất, cả nớc tiến lên chủ nghĩa xã hội, mở ra một thời

kỳ mới, một viễn cảnh mới cho nền văn học nớc nhà Đặc biệt là sau 1985 vớicuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng vào năm 1986, đâychính là cơ hội thuận lợi cho sự phát triển của văn học Theo Lê Ngọc Trà thìcông cuộc đổi mới này đã "thổi một luồng gió đầy sinh khí vào đời sống xãhội Việt Nam, kích thích những cải cách kinh tế và khơi dậy những suy nghĩmới, những tìm tòi, sáng tác trong giới trí thức, văn nghệ sĩ" [38,33] Sở dĩ

đây đợc xem là một chặng đờng đổi mới trong văn học bởi vì trong giai đoạnnày văn học đã có những tác phẩm mới mang đặc điểm phong cách và nộidung khác với giai đoạn trớc đó, đáp ứng đợc nhu cầu phức tạp của cuộc sốnghiện đại Bên cạnh đó, lại xuất hiện một đội ngũ các tác giả trẻ tuổi dám càyxới hiện thực, mạnh dạn đa ra những chính kiến của mình trớc những tìnhhuống, những tính cách trong tác phẩm Sự phong phú, sôi động trong đời

sống văn học đã có sức hấp dẫn, lôi kéo tìm tòi, sáng tạo của mình " Một số

đặc điểm của văn xuôi Việt Nam sau 1985" (qua những truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu) không phải là một đề tài hoàn toàn mới, nó đã và đang

lôi cuốn đợc nhiều ngời quan tâm, chú ý, nhng đặt nó vào trong giai đoạnkhoảng 15 năm trở lại nay thì cha có một công trình nghiên cứu nào tập trungbàn đến một cách khái quát và mang tính chất tổng kết Tất cả các ý kiến đitrớc đang dừng lại ở việc đánh giá bằng những bài phê bình ngắn, những ýkiến phát biểu qua các hội thảo, trả lời phỏng vấn bó hẹp trong một bài báoviết hay báo nói về một số tác phẩm có liên quan đến vấn đề này

Trang 8

Trớc hết là các ý kiến quan tâm đến thời sự văn học nói chung, trong đó

ít nhiều có đề cập đến lý luận và văn xuôi thời kỳ đổi mới của các tác giả đitrớc nh: Trần Đình Sử, Phong Lê, Trơng Đăng Dung, Phan Huy Dũng, PhạmVĩnh C, Đỗ Đức Hiểu, Lê Ngọc Trà, Trần Cơng, Bích Thu… Nhìn chung cáctác giả đều thừa nhận văn xuôi sau 1985 đã có cái nhìn khác tr ớc Nếu các nhàvăn trớc 1985 đứng ở phơng diện xã hội và phong trào để nhìn nhận con ngờithì các nhà văn sau 1985 đã đứng ở góc độ con ng ời để nhìn nhận con ngời, xãhội và các vấn đề chung Thay vì cách nhìn đơn giản rạch ròi: thiện - ác, bạn -thù, cao cả - thấp hèn là cách nhìn đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phậncon ngời "Hành trình văn học ta mấy năm qua, từ cố gắng rứt ra khỏi số phậncộng đồng chung của cả khối cộng đồng đồng nhất đi đến hiện thực Xã hộingổn ngang với những tính chất tả thực vội vã, rồi tiếp tục đi sâu vào thế giớibên trong từng con ngời Cuộc hành hơng vô tận, cuộc kiếm tìm khó nhọc bêntrong thế giới riêng từng con ngời Hành trình ấy không phải là một hành trình

thu hẹp dần phạm vi quan tâm của văn học, văn học đang tiếp cận dần trở lại

với những giá trị nhân văn chung của từng thời đại" (Nguyên Ngọc) [23]

Khi nhìn lại chặng đờng đã qua của văn xuôi Tôn Phơng Lan khái quát:Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải vốn gắn bó lâu năm với đề tài chiến tranh,nay đi vào tâm lý xã hội cũng trăn trở trớc bao số phận con ngời trong đời th-ờng sau chiến tranh Ma Văn Kháng báo hiệu những bi kịch gia đình và xã hộitrớc nguy cơ sụp đổ của những giá trị đạo đức truyền thống trong sự tác độngcủa mặt trái nền kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trờng bắt đầu hình thành [19]

Trang 9

Cũng đánh giá về văn xuôi thời kỳ này Lê Ngọc Trà cho rằng trong

những tác phẩm của Nguyễn Khải bắt đầu từ Thời gian của ngời, Trong cõi nhân gian bé tí … đến những tập truyện ngắn gần đây nh Một thời gió bụi,

Ông đại tá về hu, S già núi Thắm,… giọng ngời kể chuyện vẫn thông minh lôicuốn nh trớc đây, nhng mỗi ngày một mềm mại, uyển chuyển hơn Trong cáinói đi đã có cái nói lại, bên cạnh sự tự tin đã có cái tự chế giễu mình, cuộcsống đã đợc nhìn nhận từ nhiều phía khác nhau Nhân vật của Nguyễn Khảihầu hết đều là những ngời đang sống Qua việc kể lại một cảnh ngộ, một đờingời, những đổi thay ở một phố, một làng, nhà văn muốn quan sát, nghiên cứunhững biến chuyển đang diễn ra trong xã hội, hớng đi của nó Các nhân vậtcủa Nguyễn Khải vẫn tâm huyết, giàu hoài bão nh các nhân vật thời kỳ trớc,nhng lại hầu nh ít thành công hơn, mềm yếu hơn Bản thân lời kể chuyện cũnggiàu chất suy t hơn, cái nghĩ đã thấm đợm nỗi buồn của ngời nhận ra ý nghĩacủa thời gian và qui luật của đời sống [38]

Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp lại là một tr ờng hợp khác Ngay từ

truyện ngắn đầu tiên - truyện Tớng về hu - tác giả đã làm ngời đọc sửng sốt

với cách nhìn hiện thực đa chiều, bình tĩnh đến sắc lạnh và đầy tinh thần phântích Nhà văn giới thiệu hiện thực không phải từ một quan điểm mà từ nhiều

điểm nhìn, nhiều cách tiếp cận khác nhau Ngời đọc buộc phải đối diện vớimột hiện thực không đợc tỉa gọt, sửa sang cho vừa với ý đồ giáo huấn đã đợc

định sẵn mà là một cuộc đời hết sức phức tạp đang diễn ra tr ớc mắt mọi ngời.Trong trờng hợp đó rõ ràng ngời đọc không thể rút ra những kết luận đơn giản

mà buộc phải tự nhận thức lấy với sự gợi ý của tác giả

Trang 10

Theo Trần Cơng, dờng nh lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc về conngời mà trớc kia cha có Đó là chủ đề về số phận con ngời và hạnh phúc cánhân Trong một tác phẩm cụ thể, hai chủ đề này có khi tách ra, có khi đ ợcthể hiện đồng thời, chúng "thuyết minh" lẫn nhau Điều đáng l u ý là khi thểhiện, hoặc công khai, hoặc kín đáo, các tác giả bộc lộ sự đồng tình chứ khôngcòn vẻ ít nhiều "dửng dng" nh trớc (các tác giả trớc không "dửng dng" khi

dùng cái riêng để tô đậm thêm cho cái chung) Giang Minh Sài trong Thời xa vắng nửa đời nhìn lại trong tâm thế của một ngời đã đánh mất tình yêu, hạnh

phúc của thời trai trẻ, một thời tuy cha xa cách về thời gian nhng đã có sựkhác lạ về nhận thức và tâm tởng Cái nỗi buồn có pha thêm phần chua chátcủa Sài cũng là của chính tác giả, khiến cho ngời đọc không thể không so

sánh, liên hệ, ít ra cũng là với chính bản thân mình Vạn trong Bến không chồng cả một đời không vợt qua nỗi những định kiến và nhận thức ấu trĩ, cực

đoan để rồi sau một phút "lầm lỡ" phải quyên sinh Cái giá ấy thực là quá đắt

đối với một con ngời Sự trả giá ấy nửa đáng kính trọng, vì đó là con ng ời cònbiết tự trọng, nhng lại đáng thơng hại vì những định kiến nghiệt ngã quá sứcchịu đựng của một con ngời vốn chân chất và đơn giản Cái hình ảnh cuốicùng: Hạnh bế con chạy đuổi theo chú Vạn đang chìm dần xuống dòng n ớc,

đã nói lên rất rõ chủ đề tình yêu và số phận trong tác phẩm này

Nguyễn Văn Lu thì cho rằng Lê Lựu trong Thời xa vắng khác hẳn Lê

Lựu của những tác phẩm trớc đó ở đây tác giả đã chuyển hớng rõ rệt trongphong cách nghệ thuật Nói cho đúng hơn do cách nhìn hiện thực mới, sâu sắc

và nhuần nhị hơn đã đem lại những cảm hứng mới, giọng điệu mới cho tácgiả Văn phong của Lê Lựu ở đây giản dị, hồn nhiên và sinh động, chân thực,rất lôi cuốn [21]

Trang 11

Bích Thu khi đọc Phiên chợ Giát, Cỏ lau, Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, Bớc qua lời nguyền của Tạ Duy Anh đã

thấy đợc truyện ngắn sau 1985 một đặc điểm đáng lu ý Đó là hớng tới hiệnthực về con ngời, thông qua từng số phận cá nhân, các nhà văn đã nói lênnhững vấn đề nhức nhối, bức xúc của con ngời trong hiện thực đơng đại Conngời trong truyện ngắn hôm nay không còn là "những đời ng ời rất nhạt" vì

"không có những bất ngờ, may rủi" mà là những con ngời "đầy những vết đậpxoá trên thân thể, trong tâm hồn" Nhà văn bộc lộ những kinh nghiệm sống đ -

ợc chắt lọc, vắt kiệt trên từng câu chữ, trùm lấp nhân vật mà bình đẳng, kháchquan trớc sự vận động tự thân của nhân vật [37]

Phạm Vĩnh C đã quan tâm đến sự xuất hiện "nhân vật tiểu thuyết đích

thực" trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Qua Phiên chợ Giát và Khách ở quê ra xuất hiện một con ngời đa diện, nhiều chiều, một tính cách vừa tuần

hoàn vừa mâu thuẫn, vừa cá biệt vừa tiêu biểu, vừa là sản phẩm của quá khứlịch sử tối tăm vừa toả ánh sáng của nhân cách vĩnh hằng, của những giá trị

đạo đức muôn đời Một ngời nông dân chân lấm tay bùn nhng đồng thời lại làmột "nhà t tởng" có thế giới riêng, tiếng nói ấy lan xa trong tác phẩm, hoà

điệu và nghịch điệu với tiếng nói của tác giả [2]

Theo Vân Thanh có thể xem Mùa lá rụng trong vờn là một tiếng nói của

tác giả trớc hiện thực hôm nay, một tiếng nói về quan hệ giữa cá nhân, gia

đình và xã hội, về trách nhiệm của mỗi ngời đối với cuộc sống, và cuộc sốngdành cho mỗi ngời Những nét mới cũ đan chéo nhau, những mâu thuẫn gaygắt trong quan hệ giữa ngời thân trong gia đình cụ Bằng, cũng phản ánh mộtcách rõ nét những xung đột mới cũ của xã hội cũng nh trong gia đình Có thể

có lúc mới cũ, tốt xấu, tạm thời hoà hoãn với nhau, nhng rồi tự nó sẽ phá tung

ra, làm đảo lộn những cái đã có Rồi sẽ lại dần dần ổn định, hoặc cái tốt, cáimới thắng, hoặc cái xấu, cái ác tạm thời chiếm u thế, nhng xu hớng tất yếu làhớng đi lên của cái mới, cái tốt [33]

Trang 12

Cũng là thiếu sót nếu không nhắc đến luận văn tốt nghiệp của sinh viên,luận văn thạc sĩ trong thời gian gần đây có đề cập đến văn xuôi Cao Thị KiềuVinh chú ý đến mảng truyện ký, Trần Minh Đạo trong luận văn thạc sĩ củamình lại quan tâm nhiều đến lĩnh vực tiểu thuyết Gần đây nhất là luận vănthạc sĩ của Chu Thị Điệp cũng chỉ khai thác đợc mảng "Hiện thực nông thôn

và hình tợng ngời nông dân trong truyện ngắn Việt Nam 1975 - 2000"

Nhìn chung, các tác giả đi trớc đã có những ý kiến khá sâu sắc và thú

vị, song cha có một công trình nào đánh giá toàn diện thành công của vănxuôi một cách có hệ thống Đặc biệt cha nêu đợc khái quát đặc điểm của vănxuôi trong từng giai đoạn nhất là từ sau đổi mới Đây là mốc cực kỳ quantrọng đối với văn xuôi Việt Nam Để rồi cho đến bây giờ, nó dờng nh vẫn làmột "khối tơi nguyên" chứa đựng nhiều điều mới mẻ

Luận văn này không bắt đầu từ "mảnh đất trống" Tham khảo ý kiến củanhững ngời đi trớc, giúp chúng tôi định hớng cho luận văn, từ đó tiếp thu vàtiếp tục khám phá những đặc điểm của văn xuôi sau 1985 để làm rõ hơn thànhcông của văn xuôi trong thời kỳ đổi mới và trong tiến trình văn học Việt Namnói chung

3 Nhiệm vụ, phạm vi, phơng pháp nghiên cứu.

3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1.1 Tái hiện lại bối cảnh mới của nền văn học Việt Nam sau chiếntranh Từ đó nêu ra những tiền đề đổi mới của lý luận và sáng tác văn họctrong giai đoạn sau 1985 Khẳng định rằng trong khoảng thời gian 15 năm trởlại nay trong sáng tác văn học, ở khu vực hẹp là văn xuôi đang trên đà đổi mớimang những tố chất mới so với văn học giai đoạn trớc

3.1.2 Từ hệ thống các truyện ngắn và tiểu thuyết đã chọn lựa, chúng tôiphân tích, mổ xẻ tìm ra những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật Qua đóchỉ ra những cảm hứng sáng tạo mới và một số đặc điểm trong phong cáchnghệ thuật chi phối dòng mạch chính của văn xuôi sau 1985

3.1.3 Khái quát lên những đặc điểm của văn xuôi sau 1985 Chỉ ranhững điểm mới trong đặc điểm của văn xuôi ở giai đoạn này so với giai đoạntrớc đó và những đóng góp của văn xuôi cho nền văn học của chúng ta từ ngày

có chủ trơng đổi mới

Trang 13

và tiểu thuyết đợc viết sau 1985 Bên cạnh đó chúng tôi còn tham khảo một sốtruyện ngắn, tiểu thuyết đợc giải thởng hàng năm, đợc dịch ra các thứ tiếng n-

ớc ngoài, những truyện ngắn đợc tuyển chọn của báo Văn nghệ, tạp chí Vănnghệ quân đội, và những tài liệu chọn lọc bàn về văn xuôi sau 1985 Sở dĩchúng tôi tập trung vào nghiên cứu những truyện ngắn, tiểu thuyết trên vì đây

là những tác phẩm tiêu biểu của nhiều thế hệ nhà văn khác nhau với nhữngphong cách sáng tạo nghệ thuật khác nhau Họ là những ng ời có thành công

và đóng góp lớn cho văn xuôi giai đoạn sau 1985

Trang 14

Chơng I: Một thời kỳ mới của văn học Việt Nam.

1 Bối cảnh mới của nền văn học Việt Nam sau chiến tranh

2 Những tiền đề đổi mới của lý luận và sáng tác văn học

Chơng II: Những cảm hứng sáng tạo mới.

1 Cảm hứng phê phán

2 Cảm hứng chiêm nghiệm quá khứ

3 Cảm hứng thân phận con ngời cá nhân

Chơng III: Những đặc điểm của phong cách nghệ thuật.

1 Sự biến đổi của ý thức nghệ thuật

2 Giọng điệu nghệ thuật

3 Không gian, thời gian, nghệ thuật

4 Kết cấu tác phẩm

Kết luận

Trang 15

-Chơng I Một thời kỳ mới của văn học Việt Nam 1.1 Bối cảnh mới của nền văn học Việt Nam sau chiến tranh.

Cuộc chiến tranh thần thánh đã lùi vào dĩ vãng, sau một quãng lùi lịch

sử, văn học nói chung và văn xuôi nói riêng đang có sự chuyển biến mạnh mẽtheo chiều hớng tích cực Đánh giá văn học vốn là một việc khó, và càng khó

đạt tới sự thống nhất tuyệt đối Với văn xuôi sau 1985 cũng vậy Nếu đặt vănxuôi sau 1985 trong mạch cảm hứng chung của văn xuôi Việt Nam có thểthấy trên đà đổi mới, văn xuôi đang vơn tới cái nền chung cao hơn, và dờng

nh đang gắng điều chỉnh - một sự điều chỉnh tự nhiên để đạt tới sự cân bằng,gần sát cuộc sống Từ sau thời điểm 1986 khi diễn ra Đại hội VI của Đảng,

đất nớc đã chính thức bớc vào thời kỳ đổi mới, tất cả các lĩnh vực hoạt động

và đời sống xã hội đều có những chuyển biến Trong sáng tác văn học, ở khuvực hẹp là văn xuôi, đã có hàng loạt tác giả, tác phẩm có cách nhìn, cách thểhiện khác trớc, đợc xã hội quan tâm Chính thời kỳ đổi mới đã hồi sinh đất n -

ớc, hồi sinh con ngời Cuộc sống của toàn xã hội, cuộc sống của mỗi con ng ờitrở nên phong phú, đa dạng, toàn diện, phức tạp và sâu sắc hơn hẳn các giai

đoạn trớc đó Văn học (là nhân học) cũng hồi sinh với tất cả sự sâu sắc, phứctạp nh con ngời, nh xã hội Tất cả biểu hiện của đời sống văn học cho phépnói về một giai đoạn mới trong văn học Đây chính là nhu cầu tất yếu của sựphát triển nội tại văn học nói chung và văn xuôi nói riêng phù hợp với quyluật khách quan: Văn học cần đổi mới "Đổi mới, để từ quá trình nhận thức và

tự nhận thức lại mà có đợc những kiểm nghiệm lạc quan và tự tin trong tiếpcận chân lý"(Phong Lê)

Trang 16

Nhìn lại văn học Việt Nam 30 năm chiến tranh chúng ta không thểkhông tự hào Văn học 30 năm chiến tranh đã để lại những tác phẩm làm xúc

động hàng triệu ngời đang chiến đấu và tạo nên những giá trị tinh thần bềnvững cho thế hệ mai sau Cùng với các loại hình nghệ thuật khác, văn xuôicách mạng đã nguyện làm ngời lính xung kích trong hai cuộc kháng chiến, cómặt kịp thời trong các đề tài lớn của cách mạng Hớng vào đời sống xã hộirộng lớn với những biến cố trọng đại, văn học thời kỳ này đã ghi lại đ ợcnhững hình ảnh không thể phai mờ của một thời kỳ lịch sử đầy gian lao, thửthách, nhiều hi sinh nhng cũng hết sức vẻ vang của dân tộc ta Với hai cuộcchiến tranh yêu nớc vĩ đại, văn học đã sáng tạo đợc những hình tợng nghệthuật cao đẹp về Tổ quốc và nhân dân, về các tầng lớp, thế hệ con ng ời ViệtNam vừa giàu phẩm chất truyền thống vừa thấm sâu tinh thần của thời đại ởphơng diện này, văn học thực sự là một chứng nhân của một quá trình lịch sửhết sức hào hùng Về nội dung t tởng, văn học thời kỳ này đã kế thừa và pháthuy những nét cơ bản trong truyền thống của dân tộc, là chủ nghĩa yêu n ớc vàtinh thần nhân đạo Có thể nói cha có thời kỳ nào mà tình cảm dân tộc, ý thứccộng đồng, tình yêu quê hơng đất nớc, tình nghĩa đồng bào, đồng chí lại đợcthấm nhuần sâu rộng và biểu hiện phong phú, nhiều vẻ nh ở văn học giai đoạn1945-1975 Tình hình đó đã góp phần tạo ra công chúng mới cho văn học,một công chúng rộng rãi và dân chủ hơn rất nhiều so với tr ớc cách mạngtháng Tám Một đội ngũ nhà văn đông đảo, nhiều thế hệ và không hiếm tàinăng đợc đào luyện trong cách mạng và kháng chiến cũng cần đ ợc xem là mộtthành tựu to lớn của nền văn học mới Điều quan trọng nữa là đội ngũ sáng tác

đã hình thành nên kiểu nhà văn - chiến sĩ, đáp ứng những đòi hỏi của thời đạicách mạng và chiến tranh

Trang 17

Về thể loại văn học giai đoạn 1945 - 1975 cũng phát triển khá toàndiện Truyện ngắn và tiểu thuyết ngày càng phong phú và đa dạng hơn về bútpháp, phong cách Truyện ngắn có thể xem là thể loại nổi trội nhất Tuy ch a

có tên tuổi đem lại sự cách tân nghệ thuật lớn lao nh trờng hợp của Nam Caotrớc cách mạng, song đã xuất hiện nhiều cây bút truyện ngắn già dặn, có dấu

ấn riêng nh Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng,Nguyễn Thành Long, Đỗ Chu, Nguyễn Kiên… Tiểu thuyết vốn không cónhiều điều kiện thuận lợi để phát triển trong thời kỳ chiến tranh nh ng sự xuấthiện của các bộ tiểu thuyết nhiều tập với khuynh hớng tiểu thuyết sử thi cũng

là một dấu hiệu phát triển của thể loại này từ đầu những năm 60, nh các trờng

hợp Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tởng, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Bão biển của Chu Văn, bộ Cửa biển hơn hai nghìn trang của Nguyên Hồng.

Cố nhiên, trong văn học giai đoạn 1945 - 1975, cũng có không ít nhữngphần non yếu, sơ lợc, công thức, minh hoạ dễ dãi Chúng ta cha có điều kiện

để phản ánh một cách toàn diện các hiện thực phức tạp và khốc liệt của chiếntranh, cha đi sâu vào mâu thuẫn trực tiếp của xã hội, vào những vấn đề trongcuộc sống bình thờng hàng ngày của con ngời, vào số phận cá nhân, hạnhphúc cá nhân Những hạn chế của văn học giai đoạn này một phần là do sựchế định của điều kiện lịch sử, trình độ nhận thức của thời đại và cũng cóphần do các nguyên nhân chủ quan từ phía quản lý, lãnh đạo, từ công tác lýluận và phê bình và cả từ hạn chế trong tài năng và bản lĩnh của ng ời sáng tác

Trang 18

Mặc dù vậy văn xuôi Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến

1975 đã đi qua một giai đoạn 30 năm của nền văn học mới, ra đời và pháttriển gắn liền với cách mạng và hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đếquốc Mỹ Văn xuôi, bằng u thế của thể loại, và hiện thực đời sống, chủ yếutrên bình diện lịch sử - xã hội, đã kịp thời ghi lại và tạo dựng đ ợc những bứctranh chân thực về một giai đoạn lịch sử của dân tộc với nhiều biến cố trọng

đại, nhiều gian lao, hi sinh nhng cũng rất đỗi hào hùng Đặc biệt do sự chiphối mạnh mẽ của khuynh hớng sử thi tơng ứng với trạng thái xã hội thời ấy,nên các nhân vật đều có ít nhiều nét dáng của nhân vật sử thi Đó là nhữngcon ngời mang t tởng của thời đại, khát vọng và ý chí của dân tộc, của quầnchúng và tập trung sức mạnh và phẩm chất của con ngời Việt Nam thời đánh

Mỹ Chúng ta dễ dàng nhận ra một Nguyên Hồng bộn bề chất sống thực của

đời sống cần lao và một chất thơ bi tráng thấm nhuần một chủ nghĩa nhân đạo

có màu sắc Cơ đốc giáo, một Tô Hoài với nhãn quan phong tục sinh hoạt vàmột ngòi bút miêu tả, giàu tính tạo hình cùng cách kể chuyện sinh động hómhỉnh Còn Nguyên Ngọc lại đậm chất sử thi hào hùng kết hợp với chất trữ tình

đậm đà, bên cạnh một Phan Tứ tỉnh táo mực thớc bám sát hiện thực đời sốngvùng đồng bằng miền Trung Trung Bộ Nếu ngòi bút Anh Đức giàu chất lãngmạn và trữ tình say mê những vẻ đẹp lý tởng và tình huống khác thờng thìNguyễn Quang Sáng lại có cách kể chuyện hấp dẫn đậm chất dân dã vớinhững cốt truyện có yếu tố bất ngờ nhng không bị đẩy tới chỗ khác thờng

Nguyễn Khải kể từ Xung đột đã hình thành một phong cách hiện thực nghiêm

ngặt thiên về chính luận, tỉnh táo và sắc sảo trong việc phát hiện những vấn đềcủa đời sống t tởng và đời sống xã hội Ngòi bút Nguyễn Thi lại d ờng nh là sựtổng hợp, thống nhất của nhiều sắc điệu thẩm mỹ: cái gay gắt dữ đội của hiệnthực cách mạng đậm tính sử thi đi liền với chất trữ tình trong sáng, thắm thiết

và hồn nhiên trong một cái nhìn đời sống mang tính tổng hợp thống nhất giữacái lịch sử với cái hàng ngày, đời sống cộng đồng với đời sống cá nhân, gia

đình

Trang 19

Mấy chục năm trờng kỳ kháng chiến ác liệt và đau thơng của dân tộc

đ-ợc chấm dứt ở mốc son 30/04/1975, nhng trên thực tế thì tiếng súng của chiếntranh phải đến cuối năm 79 đầu 80 mới ngừng hẳn trên đất nớc Việt Nam Đềtài về chiến tranh vẫn còn là đề tài đợc các nhà văn lu tâm thể hiện Tuy rằngcái cảm giác cùng thời với những điều mình viết cũng hụt dần đi Nh ng với

Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh (1979 - 1984), Kí sự miền đất lửa của Vũ

Kỳ Lân và Nguyễn Sinh, Đất nớc (1981) của Hữu Mai Hai ngời trở lại trung

đoàn của Thái Bá Lợi là những tác phẩm viết về chiến tranh có giá trị Nhng

với độ lùi nhất định về thời gian, những gì mà các tác giả trên thể hiện đều cónhững dấu hiệu thay đổi Đó là sự thay đổi về nhận thức và cách nhìn về chiếntranh Các tác giả đã "mô tả cuộc chiến tranh một cách toàn diện và sâu sắchoá, không phải tập trung vào những thuận lợi vĩ đại mà cả những mất mát hisinh, không chỉ mô tả chiến hào và mặt trận mà cả những cuộc họp t ớng lĩnh ở

Bộ chỉ huy, những cuộc đấu tranh trên trờng ngoại giao quốc tế không chỉ ởphía ta mà còn ở phía địch…" Những tác phẩm ấy theo qui luật phát triển củavăn học, vẫn là sự nối tiếp thành tựu văn xuôi giai đoạn tr ớc Nhng tìm hiểu

kỹ, chúng ta có thể thấy rằng bắt đầu từ đây, văn học đã có những dấu hiệu

đổi mới về t duy nghệ thuật, về cách nhìn nhận và thể hiện của con ngời Với

Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh ngời đọc có thể tìm thấy những suy nghĩ

mới về chiến tranh Đó là sự dữ dội trong cuộc chiến tranh giữa ta và địch,những thất bại nặng nề của ta, những vùng đất trắng hoang vu của sự chếtchóc, tàn khốc… Tất cả đợc thể hiện, phản ánh khá đậm nét và chân thật Tác

giả "không né tránh phản ánh cái đó, không thi vị hoá nó" Nhìn nhận, thể hiện hiện thực một cách chân thực nhất đó là điều mà các tác phẩm nh Cửa gió (1980) của Xuân Đức, Ký sự miền đất lửa Đọc Ký sự miền đất lửa ta cảm

thấy cuộc sống ở đây lúc nào cũng đang ở những đầu mút căng thẳng củanhững thử thách lớn lao, những ranh giới tột cùng trong cuộc đụng đầu lịch

sử Chúng ta hình dung một cách đầy đủ và sâu sắc về mảnh đất tuyến đầu ấycả cái ác liệt của cuộc chiến đấu cả cái phi thờng kì lạ của mỗi chiến công, cảniềm kiêu hãnh tuyệt với cùng nỗi thơng đau không sao tả nổi của những conngời trên mảnh đất dữ dội và nóng bỏng ấy

Trang 20

Bên cạnh những tác phẩm viết về chiến tranh thì ở thời kỳ năm năm đầucủa thập kỷ 80 hàng loạt tác phẩm viết về những vấn đề đ ơng đại của đời sống

xã hội con ngời đã xuất hiện Đó là, Cù lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn,

Ng-ời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê của Nguyễn Minh Châu, Sao

đổi ngôi của Chu Văn, Ma mùa hạ và Mùa lá rụng trong vờn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, Thời gian của ngời và Gặp gỡ cuối năm của

Nguyễn Khải… Có thể nói nhiều độc giả đã rất ngạc nhiên khi nhận thấy vănhọc lúc này đã nêu lên đợc một lúc nhiều vấn đề của đời sống Một cảm hứngmới trong văn học bắt đầu đợc định hình: Cảm hứng thế sự - đời t Đời sốngxã hội và con ngời đợc cảm nhận trên những toạ độ mới, với những cung bậc,

dạng thức mới phong phú, đa dạng hơn Mùa lá rụng trong vờn của Ma Văn Kháng đề cập tới mối quan hệ con ngời - gia đình và xã hội; Gặp gỡ cuối năm

của Nguyễn Khải là câu chuyện về tầng lớp thợng lu trí thức đại diện cho chế

độ cũ ở Sài Gòn bị sụp đổ sau 30/4/1975 Đứng trớc biển của Nguyễn Mạnh

Tuấn hớng tới cuộc đấu tranh giữa hai con đờng, cuộc đấu tranh giai cấp ởthời kỳ quá độ Vấn đề có tính chất to lớn này đã đợc diễn tả trong tác phẩmrất chân thực và sinh động nh chính cuộc đời thực, không sa vào sự đơn điệu

máy móc cứng nhắc Những bông bần ly là tập truyện đặc sắc của Dơng Thu

Hơng viết về nhiều khía cạnh của cuộc sống đời thờng Mời sáu truyện và kýcủa chị nổi bật hai chủ đề: Những vấn đề của đời sống th ờng ngày và nhữngbiến cố trọng đại giàu tính thời sự Tập truyện đã lôi cuốn ng ời đọc, trớc hết vìvấn đề đặt ra trên những trang viết của nhà văn nữ này đều gần gũi với đờisống hôm nay - vừa mới mẻ lại vừa quen thuộc đối với mỗi chúng ta

Xét từ sự chuyển đổi đề tài và cảm hứng, thì văn xuôi thời kỳ đầu nhữngnăm 80 cũng đã có những dấu hiệu vận động trong t duy nghệ thuật Từ t thế

đơn thanh một giọng chuyển sang t thế đa thanh, đa giọng điệu khiến chokhoảng cách giữa tác giả và nhân vật, giữa nhà văn và bạn đọc thu hẹp lại; d -ờng nh tất cả cũng trực tiếp luận bàn về cuộc sống Sự đa thanh, đa giọng điệunày đợc thể hiện rõ nét qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải,Dơng Thu Hơng, Ma Văn Kháng…

Trang 21

Nh vậy, vào đầu những năm 80 khi chiến tranh đã kết thúc hoàn toàntrên đất nớc chúng ta thì nhu cầu phát triển là một cơ sở cho sự đổi mới củavăn học nói chung và văn xuôi nói riêng Chúng ta có thể nhận thấy nhữngdấu hiệu cách tân, đổi mới trong văn học, trong sáng tác của các nhà văn thời

kỳ này Hầu hết những dấu hiệu đổi mới ấy, dù còn manh nha, dù còn ít ỏicũng đã đợc thể hiện trên tất cả các phơng diện: Quan niệm nghệ thuật về hiệnthực và con ngời, sự chuyển động của ngôn ngữ, giọng điệu… Chính nhữngdấu hiệu ấy là khúc dạo đầu của một giai đoạn văn học mới, một sự chuẩn bịcông phu và tích cực, một bớc khởi động và tạo đà quan trọng, cần thiết đốivới công cuộc đổi mới văn học sẽ đợc ấn định vào tháng 12 năm 1986 Sự báohiệu ấy chính là báo hiệu sự trởng thành của một nền văn học, làm nhiệm vụthăm dò các luồng lạch nông sâu, đang ớm thử số đo của một nền văn học lớn,

đang trên con đờng tìm tòi, khám phá các chân lý mới của đời sống văn nghệtrong một thời đại đang căng thẳng những kiếm tìm và đối thoại

Có thể nói, văn xuôi từ sau 1975 đến nay đợc đánh dấu bằng hai mốcthời gian Thời kỳ đầu, từ 1975 đến những năm 80, văn xuôi vẫn tr ợt theo một

"quán tính" nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một bình diệnrộng, cảm hứng sử thi vẫn chiếm một vị trí đáng kể trong t duy nghệ thuật.Một vài năm sau chiến tranh, vẫn xuất hiện các tác phẩm viết theo dấu ấn

quen thuộc của thời kỳ trớc: Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải), Năm

1975 họ đã sống nh thế (Nguyễn Trí Huân), Trong cơn gió lốc (Khuất Quang Thụy), Miền cháy (Nguyễn Minh Châu)… phải từ thời điểm những năm 80mới có một vài dấu hiệu khởi đầu của sự đổi mới ở các cây bút có tên tuổi tr ớc

đây: Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Trọng Oánh, MaVăn Kháng, Nguyễn Quang Sáng, Xuân Thiều, Lê Lựu… và thực sự chỉ từnăm 1986 trở lại đây, văn xuôi mới khởi sắc, đổi mới không chỉ ở phạm vi đềtài, chủ đề mà còn t duy nghệ thuật, cảm hứng sáng tạo, cách diễn đạt…

Trang 22

Trong vận hội mới, trớc thị hiếu công chúng mới, các nhà văn đã không

thể đi theo đờng xa, lối cũ Một số nhà văn đã tự đổi mới trên những trang giấy trớc đèn với bao chiêm nghiệm và dự cảm về sự biến đổi của xã hội, thời cuộc, của thân phận con ngời Nếu nh trớc đây ở Lê Lựu là Ngời về đồng cói,

Mở rừng thì bây giờ là Thời xa vắng Nếu Ma Văn Kháng trớc đó là Xa phủ,

Đồng bạc trắng hoa xoè thì bây giờ là Đám cới không có giấy giá thú, Côi cút giữa mảnh đời, Heo may gió lộng,… Nếu nh Nguyễn Minh Châu trớc đây là

Miền cháy thì sau này là Mảnh đất tình yêu, Cỏ lau, Phiên chợ Giát.

Tiếp đó sự xuất hiện khá rầm rộ của các cây bút trẻ Nguyễn Huy Thiệp,Phan Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Quang Lập, Bảo Ninh… làm thay đổihẳn bộ mặt và dáng vẻ của văn xuôi hôm nay

Nh vậy mặc dù cha có một cuộc thảo luận rộng rãi cũng nh cha có sựtổng kết về vấn đề này, nhng nhìn chung các nhà văn, các nhà nghiên cứu, cácnhà lý luận đều có xu hớng coi giai đoạn từ 1985 đến nay là một thời kỳ mớitrong văn học Việt Nam hiện đại Dĩ nhiên bất cứ sự thay đổi và phát triển nàocũng đều đợc chuẩn bị từ trớc đó và giai đoạn văn học nào cũng vậy, nó cónhững mầm mống, những thử nghiệm và những bài học từ nhiều năm tr ớc,trong suốt quá trình vận động của văn học cách mạng Việt Nam bắt đầu từnhững cuộc tranh luận về văn nghệ ở chiến khu Việt Bắc năm 1948 Songnhững tiền đề vẫn cứ là tiền đề nếu chúng không có cơ hội phát triển Cơ hội

ấy đối với sự phát triển của văn học Việt Nam chính là "công cuộc đổi mới do

Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xớng vào năm 1986" (tại Đại hội lần thứ VI

của Đảng Cộng sản Việt Nam) Nhng không chỉ phải đợi đến năm 1986 vănhọc mới đợc ghi nhận là có sự đổi mới Có thể nói đó là thời gian chuẩn bị âmthầm, lặng lẽ mà công phu và tích cực đến với toàn bộ quá trình đổi mới nềnvăn học Nếu nh trớc đây cảm hứng chủ đạo là cảm hứng sử thi thì bây giờcảm hứng sử thi "nhạt dần", ngời viết buộc phải đối diện với mình, với thực tế

đất nớc, cảm hứng sáng tạo chuyển từ ngợi ca, tự hào khâm phục đến chiêmnghiệm, lắng đọng, suy t Đề tài chiến tranh và cách mạng, lịch sử và dân tộcdần dần nhờng chỗ cho đề tài đạo đức thế sự và đời t

Trang 23

Trong phơng hớng khai thác cuộc sống con ngời theo mối liên hệ củathời kỳ đổi mới văn học, mối liên hệ giữa hôm qua và hôm nay có một giảipháp nghệ thuật mà một số tác phẩm - nhất là truyện ngắn và tiểu thuyết - đãtìm đến: đó là đặt nhân vật vào những chiều thời gian khác nhau, đan cài giữahiện tại và quá khứ để làm nổi bật mối quan hệ này trong đời sống tinh thần

và số phận của mỗi con ngời Việc sử dụng "thời gian đồng hiện" thờng đi liềnvới những đối thoại bên trong của nhân vật nh là những thủ pháp giúp nhà văn

đi sâu hơn vào thế giới bên trong, vào những biến diễn tâm lý vô cùng phứctạp của con ngời Cái ánh sáng rạng rỡ đã tng bừng lên trong đời mỗi con ngời

ở một thời khắc nào đó trong chiến tranh, giờ đây vẫn tiếp tục rọi vào đời sốngtâm linh của họ, dù có lúc tởng chừng nó đã bị vùi lấp đi giữa những ồn ào,lộn xộn, lo toan của cuộc sống thờng ngày

Trong suốt gần 20 năm kể từ khi có phong trào đổi mới văn học, vănxuôi Việt Nam đã vơn mình trỗi dậy với sức sống mãnh liệt của mình, vớinhững thành tựu đáng chú ý và gây xôn xao trong d luận Cha bao giờ đờisống văn học lại sôi động và phát triển, phát triển không ngừng nh thế Vănxuôi ngày càng chiếm u thế và thể hiện một cách đầy đủ, sinh động nhịp đậpcủa cuộc sống, bổ sung những gì trớc đó còn khuyết thiếu hoặc phải e dè.Trên hành trình phát triển của mình văn xuôi luôn tự khẳng định mình bằngnhững sự kiện mang tính chất dữ dội nóng bỏng của một thời kỳ, bằng nhữngbớc ngoặt ghi dấu ấn đậm nét nh hành trình của văn xuôi từ sau 1985 đến nay

1.2 Những tiền đề đổi mới của lý luận và sáng tác văn học.

Trang 24

Mốc lịch sử 1975 đánh dấu sự chuyển hớng của cách mạng Việt Nam

và những xáo động trong xã hội sau giải phóng đã kéo theo sự xáo động củavăn học với t cách là một hình thái ý thức xã hội Có phần nào sự dao động,chuệch choạc của một bộ phận văn học vào những năm 80, nhng nhìn chung,

xu thế chính của văn học sau 1975 vẫn là xu thế phát triển Trong sự phát triểncủa văn học từ sau 1975 đến nay, có thể khẳng định một điều rằng: văn xuôi

đang dẫn đầu Những tác giả sung sức trớc đây nh: Nguyễn Minh Châu,Nguyễn Khải, Xuân Thiều, Lê Lựu giờ lại càng khẳng định tài năng của mìnhhơn nữa qua các sáng tác Và điều đáng nói là sự xuất hiện của nhiều cây búttrẻ, có năng lực nh Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Quang Lập,Tạ Duy Anh, Dơng Thu Hơng, Khuất Quang Thụy, đã góp phần khẳng định

sự lên ngôi của văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay

Từ sau hoà bình đến trớc đổi mới trong lý luận và sáng tác văn học đãbắt đầu có sự đổi thay Trớc hết là việc đặt vấn đề nhìn nhận lại văn học quákhứ trên cơ sở minh giải và soi sáng một số vấn đề lý luận cơ bản: mối quan

hệ giữa văn học với hiện thực, văn học với chính trị Đáng chú ý trong đờisống lý luận 10 năm sau chiến tranh là 2 bài viết của Hoàng Ngọc Hiến "Vềmột đặc điểm của văn học nghệ thuật nớc ta giai đoạn vừa qua" đã có ý xemnhẹ nền văn học đã có nhiều đóng góp to lớn cho cuộc kháng chiến kỳ diệucủa nớc nhà Bài viết của Hoàng Ngọc Hiến đã gây một "chấn động mạnh"trong đời sống văn học và trong giới nghiên cứu lý luận phê bình, làm xôn xao

d luận Các tác giả khác nh: Chính Hữu, Hà Xuân Trờng, Trần Độ, ĐôngHoài, Kiều Vân, Hoàng Trinh… đã có những bài viết phê phán quan điểm củaHoàng ngọc Hiến về lập trờng t tởng, phơng pháp t duy, khuynh hớng mỹ học

và xu hớng phủ định

Trang 25

Sau đổi mới, đời sống lý luận văn học trở nên phong phú và sôi độngbởi những cuộc tranh luận Ngời khởi xớng cho những cuộc tranh luận kéo dàixung quanh vấn đề văn học phản ánh hiện thực là Lê Ngọc Trà với bàiviết:"Về vấn đề văn học phản ánh hiện thực"(Văn nghệ, số 20, 1998) Trongbài viết này Lê Ngọc Trà khẳng định: "Phản ánh hiện thực chỉ là thuộc tínhchứ không phải là nhiệm vụ của văn học" Ông cho rằng: Xét trên bình diện lýluận phản ánh thì toàn bộ nội dung tác phẩm văn học cũng chỉ là phản ánh đờisống xã hội còn xét trên bình diện lý luận nghệ thuật thì "Văn học không phản

ánh hiện thực mà là nghiền ngẫm về hiện thực" Quan điểm của Lê ngọc Trà

đã gây nên một số phản ứng khác nhau Một số ngời tỏ ra đồng tình với quan

điểm của ông là: Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Đăng Hạnh, Nguyễn Huệ Chi,Trơng Đăng Dung… Một số khác lại không đồng ý với quan điểm này ở chỗ:Không nên đồng nhất phản ánh hiện thực với mô tả, ghi chép về hiện thựccũng không thể đối lập phản ánh hiện thực với nghiền ngẫm về hiện thực rồi

đi đến phủ nhận nhiệm vụ hàng đầu của văn học là phản ánh hiện thực Tiêubiểu cho xu hớng thứ hai này là ý kiến của: Phan Cự Đệ, Phơng Lựu, Phong

Lê, Lê Xuân Vũ…

Trang 26

Nền tảng lý luận của mọi sự đổi mới trong văn học thời kỳ này bắtnguồn từ sự tự ý thức của văn học, tức là giác ngộ của văn học về vai trò của

nó trong xã hội, quan hệ giữa văn học và chính trị, ý nghĩa của nó đối với conngời Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1987) Đây là

"Nghị quyết duy nhất của Bộ chính trị dành riêng cho văn nghệ từ tr ớc đếnnay" [38, 33] tạo điều kiện cho văn học phát triển mang những tố chất mới sovới thời kỳ trớc đó Cho đến thời điểm này văn học nghệ thuật không chỉ còn

đợc hiểu một cách đơn giản máy móc nh là công cụ chính trị, vũ khí t tởng

mà là một bộ phận quan trọng của cách mạng t tởng văn hoá, có tác dụng bồidỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xâydựng môi trờng đạo đức trong sáng lành mạnh… Mối quan hệ giữa văn nghệ

và chính trị đợc nhìn nhận lại một cách cụ thể hơn, thực tế hơn và sâu sắc hơn.Không những thế vấn đề này còn đợc đa ra thảo luận công khai trên các báochí khiến cho ngời cầm bút yên tâm và tự tin hơn trong sáng tác về các vấn đềphức tạp, tiêu cực của cuộc sống, mạnh dạn đa ra những kiến giải của mìnhcho những tình huống phức tạp cụ thể Trớc đây do yêu cầu của lịch sử, xu h-ớng văn học phục vụ chính trị trở thành nhu cầu cấp bách và hợp với qui luậtcủa cuộc sống Thậm chí có những lúc ngời ta còn đồng nhất văn nghệ vớichính trị, xem văn nghệ phục vụ chính trị một cách giản đơn, máy móc Thếnhng vào thời điểm đổi mới của đất nớc, đổi mới của văn học, cách nhìnnhận, đánh giá của giới nghiên cứu về vấn đề này đã có sự thay đổi Một số tỏ

ra hoài nghi, một số khác cực đoan rồi đi đến phủ nhận hoàn toàn mối quan hệnày Nh vậy cùng một vấn đề lý luận nhng ở vào hai thời điểm lịch sử khácnhau lại tồn tại hai hệ thống quan điểm khác nhau Theo quan điểm chung cácnhà lý luận văn học đều cho rằng giữa văn học và chính trị có mối quan hệthống nhất nhng không đồng nhất Theo Lê Ngọc Trà thì văn nghệ và chính trịlà:"Những ngời bạn đồng hành trên con đờng nhân loại đi tìm hạnh phúc" rồi

"Văn nghệ tiến bộ cách mạng thờng thống nhất với chính trị cách mạng, vănnghệ chính trị cách mạng thờng mâu thuẫn với chính trị lạc hậu, phản động."

Nh vậy giữa văn nghệ và chính trị có chỗ gặp nhau Tuy nhiên một thời lýluận văn học nớc ta quá nhấn mạnh đến sự gặp gỡ này khiến cho t duy của nó

có phần sơ cứng, giáo điều Những cuộc tranh luận này đã giúp cho mọi ng ờivợt qua cách hiểu máy móc rằng văn học phục vụ chính trị là dùng sáng táctác để tuyên truyền, minh hoạ những chủ trơng của Đảng, đảm bảo tính kịp

Trang 27

thời và phục vụ lợi ích thực tiễn Văn nghệ rõ ràng không từ chối nhiệm vụtuyên truyền nhng sẽ là sai lầm nếu xem văn học nghệ thuật chủ yếu là tuyêntruyền và hễ cứ tuyên truyền là thành nghệ thuật.

Nh chúng ta đều biết đất nớc, xã hội và con ngời Việt Nam đã vợt quanhiều khó khăn chồng chất và không ít thử thách hiểm nghèo của thời hậuchiến để đứng vững và hơn thế nữa tạo đợc những biến đổi to lớn, toàn diện vàsâu sắc, nhất là từ khi công cuộc đổi mới đợc mở ra cho đến nay Nền văn học

nh một tấm gơng tinh thần của cuộc sống đất nớc, có chung vận mệnh và đồnghành cùng dân tộc qua những thăng trầm của lịch sử, từ sau 1975 cũng đã phải

đứng trớc nhiều thách thức gay gắt và đã có những biến đổi sâu rộng trên mọimặt của quá trình văn học Nhìn trên đại thể thì 25 năm qua, con đ ờng của vănhọc Việt Nam đã đi qua hai chặng, có sự tiếp nối liền mạch: M ời năm đầu làchặng chuyển tiếp, tìm kiếm con đờng đổi mới và từ 1986 trở đi là thời kỳ vănhọc đổi mới mạnh mẽ và toàn diện Mặc dù nền văn học của thời kỳ đổi mớivẫn đang vận động và khó có thể nói trớc đợc những gì sẽ đến với nó, nhngmột phần t thế kỷ vừa đi qua cũng đã là một khoảng thời gian không quá ngắnngủi để nhìn lại, đánh giá một chặng đờng văn học dân tộc

Trang 28

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của việc tìm hiểu, đánh giá mộtgiai đoạn văn học là việc xác định những đặc điểm cơ bản của giai đoạn vănhọc ấy Văn học Việt Nam từ sau 1975 đã tồn tại và phát triển trong những

điều kiện lịch sử xã hội khác biệt rõ rệt với thời kỳ chiến tranh và trong mộtmôi trờng ý thức tinh thần có nhiều biến đổi Những điều đó đã tác động vàchi phối mạnh mẽ xu hớng vận động và đặc điểm của sự phát triển văn học

Đời sống văn học trong một phần t thế kỷ vừa qua dù rất bề bộn, đa dạng,phức tạp và bớc đi của văn học cũng không ít những quanh co, thăng trầm, nh -

ng nhìn bao quát vẫn có thể nhận ra khuynh hớng vận động bao trùm vànhững đặc điểm cơ bản chi phối một cách sâu sắc mọi mặt của nền văn học, từkhuynh hớng t tởng, cảm hứng chủ đạo đến các phơng thức nghệ thuật của nó

Đã có không ít những ý kiến của những nhà nghiên cứu, những ng ời sáng tácnêu lên đặc điểm này hay khác của văn học thời kỳ đổi mới, mà trong đó cónhững phát hiện đích đáng và cả những nhận xét độc đáo, lạ lùng Nh ng tựutrung lại vẫn cha có ai đặt vấn đề xác định có hệ thống những đặc điểm cơ bảncủa giai đoạn văn xuôi từ sau 1985 Trong "Hội thảo khoa học 50 năm vănhọc Việt Nam sau cách mạng tháng Tám" đã nhận định: "Văn học Việt Nam

từ sau tháng 4 năm 1975, nhất là từ giữa những năm 80 trở lại đây, đã đinhững bớc tiếp xa hơn trên con đờng hiện đại hoá nền văn học dân tộc ở thế

kỷ XX, để hoà nhập đầy đủ vào tiến trình văn học thế giới" Nhìn lại tiến trìnhvăn học Việt Nam thế kỷ XX, chúng ta có thể thấy ba xu h ớng vận động chính

ở ba thời kỳ phát triển của nền văn học Từ đầu thế kỷ XX đến 1945, văn họcvận động theo hớng hiện đại hoá, và đó là đặc điểm bao trùm toàn bộ nền vănhọc thời kỳ này, làm nên sự thay đổi cơ bản về phạm trù văn học từ trung đạisang hiện đại Trong 30 năm tiếp theo từ 1945 - 1975 có thể nói đại chúng hoá

và cách mạng hoá là xu hớng vận động cơ bản của nền văn học cách mạngtrong hoàn cảnh chiến tranh Còn từ sau 1975, nhất là từ sau đổi mới, dân chủhoá là xu thế lớn của xã hội và trong đời sống tinh thần của con ng ời, cũng đãtrở thành xu hớng vận động bao trùm của nền văn học Đại hội lần thứ VI của

Đảng (năm 1986) kêu gọi đổi mới t duy, nhìn thẳng vào sự thật đã tạo cơ sở ttởng cho xu hớng dân chủ hoá trong văn học đợc khơi dòng và phát triểnmạnh mẽ Dân chủ hoá đã thấm nhuần và đợc thể hiện ở nhiều cấp độ và bìnhdiện của đời sống văn học Trên bình diện ý thức nghệ thuật đã có những biến

đổi quan trọng theo hớng dân chủ hoá của các quan niệm về vai trò, vị trí và

Trang 29

chức năng của văn học, nhà văn và quan niệm về hiện thực Văn học, tronggiai đoạn trớc, chủ yếu đợc nhìn nhận nh là vũ khí t tởng của cách mạng, phục

vụ cho các mục tiêu và đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng "Vănhoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy"(Hồ Chí Minh), đó là chân lí hiển nhiên về vị trí văn học nghệ thuật và vai tròcủa ngời nghệ sĩ trong thời đại cách mạng và kháng chiến mà không một nghệ

sĩ chân chính nào không thừa nhận Văn học thời nay cũng không hề từ bỏ vaitrò vũ khí tinh thần - t tởng của nó, nhng nó đợc nhấn mạnh trớc hết ở sứcmạnh khám phá thực tại và thức tỉnh ý thức về sự thật, ở vai trò dự báo, dựcảm Thêm nữa, trong xu hớng dân chủ hoá của xã hội, văn học còn đợc xem

là một phơng tiện cần thiết để tự biểu hiện, bao gồm cả việc phát triển t tởng,quan niệm, chính kiến của mỗi ngời nghệ sĩ về xã hội và con ngời Văn họckhông chỉ là tiếng nói chung của dân tộc, thời đại, cộng đồng, mà còn có thể

là phát ngôn của mỗi cá nhân Trong một nền văn học h ớng tới tinh thần dânchủ, càng đòi hỏi và có thể thừa nhận t tởng riêng, cái nhìn riêng của mỗi ngờithì ngời viết dù rất tin và muốn bênh vực cho những quan niệm của mình cũngkhông thể biết đến những t tởng và quan niệm khác Nhà văn Nguyễn Khảikhi nhìn lại những sáng tác giai đoạn trớc của mình đã thấy ở cái thời ấy mìnhquá tự tin, hăm hở, nói ào ào, còn bây giờ thì vừa nói vừa ngẫm nghĩ và cũngkhông dám cho rằng những điều mình nói đều đã đúng

Cùng với những thay đổi trong quan niệm về nhà văn thì quan niệm vềhiện thực nh là đối tợng phản ánh, khám phá của văn học cũng đợc mở rộng

và mang tính chất toàn diện Hiện thực không chỉ là hiện thực cách mạng, cácbiến cố lịch sử và đời sống cộng đồng Mà đó còn là hiện thực của đời sốnghằng ngày, với các quan hệ thế sự vốn dĩ đa đoan đa sự, phức tạp chằng chịt,

đan dệt nên những mạch nổi và mạch ngầm của đời sống Hiện thực, đó còn là

đời sống cá nhân của mỗi con ngời với những vấn đề riêng t, số phận, nhâncách, với khát vọng mọi mặt, cả hạnh phúc và bi kịch Hiện thực đời sốngtrong tính toàn vẹn của nó đã mở ra những không gian vô tận cho văn họcthoả sức chiếm lĩnh, khám phá, khai vỡ

Trang 30

Xu hớng dân chủ hoá và đổi mới trong văn học sau 1985 không chỉ thểhiện ở các quan niệm nh đã nói trên, mà đã thâm nhập và đợc biểu hiện ra trênnhiều bình diện của sáng tác, từ hệ đề tài, các kiểu kết cấu và mô típ chủ đề,cốt truyện, nhân vật cho đến giọng điệu và ngôn ngữ Và một điều rất dễ phânbiệt nữa đó là ai cũng dễ dàng nhận ra trong nền văn học sử thi của giai đoạntrớc có giọng điệu bao trùm là ngợi ca, trang trọng với những sắc thái hoặchào hùng, tráng lệ, hoặc trữ tình ngọt ngào, thắm thiết Tính độc thoại cũng là

đặc điểm không thể tránh đợc của khuynh hớng sử thi Khi văn học hớng tớitinh thần dân chủ, thì tính chất đơn thanh sẽ dần nh ờng chỗ cho tính đa thanh,phức điệu, độc thoại sẽ chuyển sang đối thoại

Sự chuyển biến ấy có thể nhận ra rất rõ trong các thể loại và ở nhiều câybút tiêu biểu, chẳng hạn nh trong các sáng tác của Nguyễn Minh Châu,Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… tính đốithoại và nguyên tắc đa âm đã thấm sâu vào mọi bình diện của thi pháp, vàocấu trúc ngôn ngữ, từ lời trần thuật đến đối thoại và độc thoại của nhân vật, cảtrong mạch ngầm văn bản

Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài vàchủ đề mới, làm đổi thay quan niệm về con ng ời Văn học ngày càng đi tớimột quan niệm toàn vẹn và sâu sắc hơn về con ngời mà nền tảng triết học vàhạt nhân cơ bản của quan niệm ấy là t tởng nhân bản Con ngời vừa là điểmxuất phát, là đối tợng khám phá chủ yếu, vừa là cái đích cuối cùng của vănhọc, đồng thời cũng là điểm qui chiếu, là thớc đo giá trị của mọi vấn đề xãhội, mọi sự kiện và biến cố lịch sử Nguyễn Minh Châu trong một lần trả lờiphỏng vấn của báo Văn nghệ đầu năm 1986 đã phát biểu nh sau: "Văn học và

đời sống là hai vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con ng ời Ngời viếtnào cũng có tính xấu nhng tôi không thể nào tởng tợng nổi một nhà văn mà lạikhông mang nặng trong mình tình yêu cuộc sống và nhất là tình yêu th ơngcon ngời Tình yêu này của ngời nghệ sĩ vừa là một niềm hân hoan say mê,vừa là một nỗi đau đớn, khắc khoải Cầm giữ cái tình yêu lớn ấy trong mình,nhà văn mới có khả năng cảm thông sâu sắc với những nỗi đau khổ, bất hạnhcủa ngời đời, giúp họ có thể vợt qua những khủng hoảng tinh thần và đứngvững đợc trớc cuộc sống"

Trang 31

Văn xuôi trong thời kỳ sau đổi mới phát triển phong phú, sôi nổi, đadạng nhng cũng phức tạp Sự đa dạng và phong phú đợc thể hiện trên nhiềubình diện văn học: đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều tìm tòi vềthủ pháp nghệ thuật; đa dạng về phong cách và khuynh hớng thẩm mỹ Quảthực, khu vờn văn học ngày nay là một cảnh tợng rất đa sắc màu, hơng vị,nhiều dáng vẻ, thậm chí có cả những hiện tợng kỳ dị, lạ lùng Nhng sự phongphú đa dạng cũng đi liền với tính phức tạp và không ổn định nhiều khuynh h -ớng tìm tòi chỉ rộ lên trong một khoảng thời gian ngắn ngủi rồi lịm tắt, thịhiếu của công chúng không thuần nhất và cũng luôn biến động, các thể loạicũng thăng trầm khá bất thờng Sự phức tạp và ổn định này là một đặc điểmtất yếu của một giai đoạn văn học mang tính chất giao thời, nh ng cũng còn domột nguyên nhân rất cơ bản nữa, đó là sự chi phối của cơ chế thị tr ờng Vănhọc tất yếu phải thành một sản phẩm hàng hoá trong một nền kinh tế thị tr -ờng, điều đó vừa có tác động thúc đẩy sự phát triển văn học, vừa có nhiều tác

động tiêu cực khó tranh khỏi đối với cả sáng tác lẫn xuất bản, phê bình vàcông chúng

Có thể nói rằng văn xuôi sau đổi mới mà xuất hiện nhiều lối viết kháctrớc đây Trong vận hội mới, trớc thị hiếu công chúng mới, các nhà văn đãkhông thể đi theo đờng xa, lối cũ Một số nhà văn đã tự đổi mới trong t duysáng tạo với bao chiêm nghiệm và dự cảm về sự biến đổi của xã hội, thờicuộc, của thân phận con ngời Sau chiến tranh đất nớc đổi thay, đáp ứng vớihiện thực văn học phải có đổi mới Điều này mang tính phát triển và phù hợpvới qui luật khách quan: "Khi những biến động xã hội luôn luôn tác động đếncuộc sống, số phận con ngời đổi thay, những vấn đề thế sự và nhân sinh luôn

đặt ra những câu hỏi giày vò lơng tâm của mỗi ngời thì ngời viết cũng phảisuy nghĩ và có thái độ thích hợp" (Hà Minh Đức)

Trang 32

Tính từ 1985, văn học Việt Nam thực sự đã có một giai đoạn phát triển

mới Đời sống văn học sôi động và phong phú hẳn lên Số lợng sách báo in ra,

kể cả sách dịch và sáng tác trong nớc, ngoài nớc, tăng hơn trớc đây rất nhiều

Đặc biệt là xuất hiện thêm một số nhà văn có tiếng vang quốc tế với những tácphẩm đợc trao giải thởng ở nớc ngoài và đợc dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế

giới nh Nỗi buồn chiến tranh (Thân phận tình yêu) của Bảo Ninh, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài Lần đầu tiên Lâu đài của Kafka đợc dịch sang tiếng Việt Cũng là lần đầu tiên Truyện kiều đợc dịch sang tiếng Hung (Hai tác phẩm này

đều do Trơng Đăng Dung dịch) Theo chúng tôi đợc biết thì khi Truyện kiều

dịch sang tiếng Hung và xuất bản vào năm 1984 đợc bầy bán chỉ trong vòngmột tháng đã không thấy còn trong các cửa hàng sách ở Buđapest, trong khi

đó có một tập thơ của một nhà thơ hiện đại nớc ngoài đợc tuyển dịch sangtiếng Hung thì để hơn 20 năm vẫn cha có ngời mua Điều đó chứng tỏ việcchọn dịch và giới thiệu đúng những tinh hoa của các nền văn học dân tộc làyêu cầu hết sức quan trọng đối với các nhà dịch giả, nghiên cứu L ợng vănhọc dịch xuất hiện nhiều có dấu ấn rõ ràng của văn học hiện đại, ảnh h ởng

đến đời sống văn học Việt Nam, kích thích sự phát triển của văn xuôi đổi mới

Nh vậy văn học dịch không chỉ có vai trò đối với sự phát triển văn học, vănhoá nói chung mà còn có tác dụng to lớn đối với khoa học văn học Theo Tr -

ơng Đăng Dung: " Sự thâm nhập của văn học dịch vào các nền văn học khácnhau với mức độ tiếp nhận cũng khác nhau đã soi sáng và gợi mở những khíacạnh lí luận của nghiên cứu văn học so sánh"[4,81]

Trang 33

Trong quá trình phát triển của văn học, việc tiếp nhận là một phầnkhông thể thiếu của lịch sử văn học Nhng tiếp nhận nh thế nào một phầncũng do nội tại của nền văn học chịu tiếp nhận Có nghĩa là ở đây muốn nhấnmạnh sự phù hợp giữa nền văn học tiếp nhận và nền văn học chịu sự tiếp nhận.Không có một nền văn học muốn ảnh hởng ai cũng đợc và không có một nềnvăn học đễ dàng chịu sự ảnh hởng một cách thụ động Khi một nền văn họcnày đợc tiếp nhận, ảnh hởng bởi một nền văn học khác hoặc ngợc lại thìchúng sẽ dễ dàng phát hiện ra bản thân mình hơn vì chúng đợc nhìn bằng conmắt của một nền văn học khác Chỉ trong giao tiếp và đối thoại thì thế đứngcủa mỗi nền văn học mới đợc củng cố và tự khẳng định "Khi hai nền văn họcgặp gỡ, đối thoại với nhau, chúng không hoà trộn vào nhau, mỗi bên bảo vệ sựthống nhất và sự nguyên vẹn để ngỏ của mình"(Báctin) Nh vậy văn học dịch

có tầm quan trọng đặc biệt "Văn học dịch giúp cho văn học dân tộc nhận rachính mình và đến lợt nó nền văn học đợc dịch cũng hiểu rõ mình hơn trong tthế mới trớc một nền văn hoá khác Đây chính là sự bình đẳng về giá trị tronggiao tiếp và đối thoại để các nền văn học dân tộc cùng nhau làm nên diện mạocủa một nền văn học thế giới."[4,82]

Giai đoạn văn học đang diễn ra, vì vậy khó có thể nói về số phận của

nó một cách quyết đoán Tuy nhiên đã xuất hiện những dấu hiệu cho thấy nó

đang phải đợc đơng đầu với những thử thách lớn Vợt qua hay không vợt quanhững thử thách đó sẽ cho phép nói về sự phát triển hay kết thúc của nó Rõràng đã có những năm, nhất là từ 1986 - 1990, văn học trở thành trung tâmcủa d luận xã hội Hàng loạt tác phẩm ra đời trong giai đoạn này đã thu hútchú ý của đông đảo bạn đọc và gây nên những tranh luận sôi nổi Báo Vănnghệ - tờ báo của Hội nhà văn Việt Nam đợc đón đọc nồng nhiệt và rộng rãi

Đời sống văn học gắn chặt với đời sống xã hội đang đổi mới và trở nên sinh

động, hấp dẫn hẳn lên Văn học, nhiều ngời nói, phải đi vào đời thờng, phảiquay về với ngôn ngữ đời thờng Điều quan trọng đối với văn học không phải

là viết về cái gì, mà là viết nh thế nào…Và cuối cùng là sự cám dỗ và cáinghiệt ngã của kinh tế thị trờng Nhà văn không thể ngồi tỉa tót đời sống mãivới sự nghèo khổ của mình Nhiều ngời đổ đi viết sách để sống, thậm chỉchuyển sang làm các dịch vụ khác để kiếm tiền Kết quả của tất cả điều đó làsinh hoạt văn học nh lắng đọng lại, tẻ nhạt đi Ngời đọc chờ đợi Nhà văn thìcha dứt khoát trả lời

Trang 34

Thực ra để trả lời cũng không phải là đơn giản Nó liên quan đến hàngloạt vấn đề đặt ra không chỉ đối với nhà n ớc, với chính quyền mà đối với ngaycả với bản thân nghệ sĩ Nhà văn có thể khớc từ việc minh hoạ cho một khẩuhiệu, nhng lại không thể quay lng với những vấn đề rộng lớn của đời sống, vớicuộc đấu tranh cho sự nghiệp đổi mới, vì một xã hội công bằng văn minh,nhất là trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam hiện nay Sứ mạng của văn học là

đáp ứng nhu cầu của đời sống Mỗi dân tộc, mỗi xã hội trong thời điểm khácnhau sẽ đặt ra những vấn đề cấp bách khác nhau, không nớc nào giống nớcnào Nhiệm vụ của văn học là giải quyết những vấn đề đó theo cách riêng củamình, đứng trên quan điểm của chủ nghĩa nhân văn và nhu cầu phát triển củalịch sử Rồi đây trong tơng lai sẽ có những nhà t tởng phát ngôn cho nhiềutiếng nói xã hội khác nhau và dần dần làm nhẹ bớt gánh nặng cho các nhàvăn Còn bây giờ tiếng nói hình tợng kiểu văn học vẫn cần thiết và thích hợp.Rồi đây khi cuộc sống đầy đủ hơn văn học sẽ có những bận tâm khác Cònbây giờ, dù thế nào nó vẫn không thể đứng ngoài cuộc đấu tranh cho đổi mới

và dân chủ, cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc Tháchthức hiện nay đối với văn học quả là khắc nghiệt Nó vừa phải đảm đ ơng tráchnhiệm xã hội mà công cuộc đổi mới gửi gắm qua tiếng nói của nó, vừa phải

đáp ứng nhu cầu của cuộc sống bình thờng đặt ra, tức là viết về đời thờng, vềnhững mảnh vỡ của số phận, những khoảnh khắc nh vô nghĩa vụt trôi qua Nóvừa phải nghiền ngẫm về hiện thực vì hiện thực đang đặt ra những vấn đềkhông thể làm ngơ, vừa muốn mở rộng phạm vi nhận thức của văn học và do

đó hiện đại hoá văn học Việt Nam bằng cách đi vào thế giới tâm linh, vào quátrình tự ý thức của con ngời Nó vừa không thể đứng ngoài cơ chế kinh tế thịtrờng vì kinh tế thị trờng không phải lúc nào cũng bất lợi đối với văn học vànhà văn, vừa phải giữ để không bị chìm đi, bị đánh mất mình trong việc sảnxuất những đống sách ăn khách, bán chạy cho nhiều thị hiếu đơn giản, thậmchí rẻ tiền của công chúng Nó vừa phải đổi mới cách viết, tiếp thu những hìnhthức thi pháp mời từ bên ngoài, vừa làm sao tránh "lai căng", tạo ra nhữngphong cách thích hợp với tâm lý và cách cảm thụ Việt Nam, bảo vệ và làmphong phú thêm vẻ đẹp của tiếng Việt nhiều năm qua đã bị lối t duy quancách - hành chính xói mòn, trở nên khô cứng

Trang 35

Văn học Việt Nam hôm nay đang phải gánh trên vai một trọng tráchnặng nề Những công việc của nhiều năm - của cả quá khứ và t ơng lai - đangtích tụ lại, đòi hỏi phải giải quyết cùng một lúc Gánh nặng ấy có thể làm chovăn học đuối sức và trở nên mệt mỏi Sức lực của nhà văn bị phân tán đi nhiềuhớng và văn học chỉ còn cách thoả mãn mỗi thứ một tí, ở mức trung bình, nhạtnhẽo Nhng gánh nặng ấy cũng có thể là thử thách, nếu v ợt qua nó sẽ trởngthành Lựa chọn con đờng nào để trút bỏ gánh nặng và vợt qua sự thử thách

ấy, chỉ có cuộc sống mới mách bảo đợc

Song dù chọn lối đi và giải pháp nào, sứ mạng của văn học Việt Namhôm nay cũng rất rõ: nó phải thực sự trở thành một hoạt động sáng tạo độclập, tích cực tham gia vào quá trình đổi mới và dân chủ hoá xã hội bằng cáchriêng của mình, làm phong phú thêm đời sống tinh thần và nhận thức con ng ời

về thế giới và về chính mình, mang đến cho con ngời tình yêu cái đẹp, sự rung

động trớc cuộc đời, lòng quý trọng và xót thơng đồng loại Trong bối cảnh củamột thế giới mà lý trí đang lấn át tình cảm, sự phát triển của các ph ơng tiệntruyền thông lại có nguy cơ làm tê liệt ý thức sáng tạo của cá nhân, văn họcvừa phải tự mình tồn tại nh một đối tợng quan trọng, giúp con ngời có thểsống hạnh phúc trong thế giới ấy

Văn học Việt Nam hôm nay phải vơn lên đạt đến trình độ cao hơn bằngnhững tác phẩm có giá trị thẩm mỹ nghệ thuật cao Những tác phẩm nh vậy đãbắt đầu xuất hiện Và đó chính là những sợi dây nối liền văn học Việt Namvới văn học thế giới, là dấu hiệu nói lên sự đổi thay, sự tr ởng thành và bớc đầuhoà nhập của văn học Việt Nam vào văn học thế giới

Trang 36

-Chơng II Những cảm hứng sáng tạo mới

Cùng với sự ra đời của những tiền đề lý luận và sáng tác văn học thì vănxuôi Việt Nam sau 1985 đã có sự chuyển mình rõ rệt Khác hẳn với văn họccác giai đoạn trớc đó Giờ đây văn học nghệ thuật không còn đợc hiểu đơngiản chỉ nh là công cụ của chính trị, là vũ khí của công tác t tởng, là phơngtiện tuyên truyền giáo dục quần chúng, mà là "một bộ phận trọng yếu của conngời về chân, thiện, mĩ" Ngoài ra nó còn có tác dụng "bồi d ỡng tình cảm, tâmhồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi tr ờng đạo đứctrong xã hội" [22]

Mối quan hệ mật thiết giữa văn nghệ và chính trị đ ợc đặt ra và thảo luậncông khai trên báo chí tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào sáng tác Khôngkhí ấy làm cho ngời cầm bút tự tin hơn trong những tìm tòi và sáng tạo củamình khi viết về các vấn đề phức tạp của cuộc sống, mạnh dạn đa ra nhữngkiến giải của mình trớc những tình huống, những sự kiện và tính cách đợcmiêu tả trong tác phẩm ở đây vấn đề nhận thức lại mối quan hệ giữa vănnghệ và chính trị không phải là yêu cầu tách rời văn nghệ với chính trị nh một

số ngời đã nghĩ Nhận thức này chỉ giúp nhà văn hiểu rõ hơn đặc tr ng của vănhọc cũng nh vị trí và sứ mạng riêng của mình đối với cuộc sống, khuyến cáo

họ không chỉ nên minh hoạ các khẩu hiệu, cổ vũ cho các phong trào, giúp vàoviệc thực hiện các chủ trơng, chính sách của nhà nớc, mà phải miêu tả số phậncủa con ngời, mang đến cho con ngời cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũng nh sựtừng trải, làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân đồng thờiphải nghiên cứu những vấn đề của xã hội đang diễn ra hay đã lùi vào quá khứ,

từ đó rút ra những bài học, những t tởng mang tính khái quát không chỉ quantrọng về triết học, đạo đức, nhân sinh mà còn có thể mang ý nghĩa chính trịlớn lao

Với t duy nghệ thuật mới, đề tài chi phối dòng mạch chính của văn xuôi

là đề tài đạo đức thế sự đời t Ta thấy tất cả các tác phẩm mới sau 1985 nhữngcảm hứng sau:

2.1 Cảm hứng phê phán.

Trang 37

Cuộc cách mạng kỳ diệu của chúng ta đã giải phóng cho hàng triệu ng ờinông dân, đa họ vào trờng tranh đấu và trởng thành nh ngày nay trong khungcảnh lịch sử vĩ đại của dân tộc Nhng hàng triệu ngời nông dân ấy có cònmang theo những gì thuộc di sản văn hoá cũ vào cuộc sống hôm nay nữa haykhông ? Điều này cũng không thể phủ nhận đợc Trải qua hàng ngàn năm bị t-

ớc mất quyền làm chủ, bị tớc mất khả năng và chức năng tổ chức quản lý nhànớc và đời sống xã hội, thực trạng đó thấm sâu vào nhân dân Việt Nam thànhthói quen tâm lý hết sức nặng nề Cho đến hôm nay chúng ta cha khắc phục đ-

ợc hết tình trạng non yếu về khả năng tổ chức quản lý xã hội, non yếu trong tduy kinh tế, cha khắc phục đợc tâm lý và thói quen làm thuê, vẫn có có ngời

có việc thì làm, giao việc thì làm, chờ phân việc chia việc mới làm, l ơng hậuthì làm tốt, lơng ít thì làm qua loa để còn đi chạy ngoài Tình trạng đókhông chỉ do đời sống khó khăn gây ra mà còn do trình độ nhận thức yếukém, do quán tính của tâm lý làm thuê của thời đại mình Chúng ta phải nhậnthức sâu sắc để cải tạo hiện thực đó Nhận thức lại thực tại ở đây không phải

là phủ nhận, gạt bỏ những thành quả trí tuệ mà chúng ta đã đạt đ ợc Nhận thứclại thực tại ở đây là yêu cầu ở nhà văn một sự khám phá sâu hơn vào nhữngvùng hiện thực mà trớc đây do nhu cầu của lịch sử, hoặc do sự vận động củathực tại đời sống nên cha đợc chú ý đúng mức Những vùng hiện thực đó đếnnay trở nên sôi động và cấp thiết đòi hỏi phải đợc nhận thức và phản ánh sâusắc Xa nay, dân tộc vẫn có truyền thống và kinh nghiệm về đấu tranh dân tộc,

về cách mạng dân tộc Nhng nhận thức về cách mạng xã hội chủ nghĩa, vềthời kỳ quá độ ở Việt Nam là còn rất mới mẻ Chúng ta đã đạt đ ợc nhữngthành tựu lớn lao trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nhng chúng ta rõràng còn có nhiều sai sót, non nớt, ấu trĩ làm hạn chế rất nhiều b ớc tiến của xãhội Nền văn học của chúng ta đã từng trở đi trở lại những vấn đề tính cách vàphẩm chất tinh thần - đạo đức của con ngời mới chủ nghĩa xã hội nhng chúng

ta thờng mới chú trọng đến cái đang diễn ra, cái tức thời khẩn thiết, cái xung

đột gay gắt nhỡn tiền giữa thiện và ác, xấu và tốt, tích cực và tiêu cực… màcha chú trọng đến cái căn nguyên cội nguồn, cái đã đang, và sẽ ảnh h ởng, chiphối đến từng hành vi đời sống xã hội Nhng cuộc sống vẫn đi theo con đờngcủa nó, và hiện thực cách mạng của đất nớc hôm nay đã buộc con ngời phảinhìn nhận lại, phải hiểu sâu hơn, hiểu đúng hơn về nó Một không khí nh vậy

đang bừng lên mạnh mẽ, khẩn thiết trong đời sống của đất nớc ta những năm

Trang 38

gần đây Và cũng đáng mừng hơn là các nhà văn của chúng ta bây giờ đã chú

ý lắng nghe tiếng gọi của cuộc đời để thể hiện lại một cách sinh động hơn, tậptrung hơn trong tác phẩm của mình Chúng ta đi lên CNXH theo con đ ờng củagiai cấp công nhân, dới sự lãnh đạo của Đảng, của chủ nghĩa Mác - Lênin.Nhng ngời công nhân của chúng ta vừa thoát thai từ ngời nông dân, vẫn đangthoát thai ra từ ngời nông dân T tởng t hữu và cung cách làm ăn nhỏ của ngờinông dân vốn gắn chặt với nền sản xuất tiểu nông đang ảnh h ởng, chi phốimạnh mẽ đến mọi phơng diện đời sống của chúng ta hôm nay ở họ phản ánh,chứa đựng những mối quan hệ phức tạp của một đất n ớc nông nghiệp lạc hậutiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua thời kỳ phát triển t bản chủnghĩa - mà chỉ kinh qua cuộc chiến tranh giữ n ớc lâu dài và ác liệt Những ng-

ời nông dân mặc áo lính đó một mặt thì rất yêu n ớc, anh hùng, mặt khác lạivẫn còn mang trong mình những quan hệ phong kiến nửa thuộc địa, những t t-ởng và tình cảm của ngời nông dân gia trởng, tâm lý làm thuê nặng nề vàocông cuộc xây dựng một xã hội hoàn toàn mới Chỉ đến ngày nay khi cuộcchiến đấu đã hoàn toàn thắng lợi chúng ta phải nhìn nhận lại những quan hệ

đời sống vốn có với những nhu cầu cấp bách đòi hỏi phải nhận thức nó vớimột tinh thần biện chứng năng động

Văn học sau 1985 nói chung và văn xuôi sau đổi mới nói riêng phảigánh trên vai mình một trọng trách hết sức nặng nề Đó là việc tìm ra nhữngvấn đề trở thành nhu cầu bức bách của cuộc sống, của con ngời để giải quyết.Trong quá trình đi tìm hớng đi đúng đắn cho mình, văn học phải không ngừng

đổi mới Muốn nh vậy các nhà văn phải nhìn nhận lại mình, phải biết phêphán những vấn đề cha làm đợc của văn học các giai đoạn trớc đó, tìm cáchkhắc phục những hạn chế để phù hợp với quá trình đổi mới văn học, mang đếncho văn họ một luồng sinh khí mới Đó cũng chính là nội dung cơ bản củacảm hứng phê phán trong văn xuôi sau 1985

Trang 39

Giờ đây bên cạnh nhiệm vụ tiếp tục đề cao cái mới, ca ngợi cái tốt nhàvăn đợc phép viết nhiều hơn về những mặt trái của xã hội, đợc khuyến khíchchỉ ra những hiện tợng tiêu cực trong đời sống cản trở việc xây dựng CNXH,gây phiền nhiễu cho nhân dân Chủ trơng này của Đảng trùng hợp với tâmtrạng của quần chúng và nguyện vọng của nhà văn: nhiều năm qua, do hoàncảnh chiến tranh, các hiện tợng tiêu cực trong đời sống, trong bộ máy nhà nớc

bị gác lại, bị tạm giấu đi, nay đã đến thời kỳ hoà bình, những hiện t ợng đódồn lại, cộng thêm những tiêu cực mới, gây bất mãn trong nhân dân Văn họctất yếu trở thành ngời phát ngôn cho xã hội, nói lên tiếng nói của quần chúng.Vả lại, việc tố cáo cái ác và sự bất công, những thao thức về tội lỗi và đau khổcủa con ngời vốn rất gần với thiên chức của văn học, nh lời của nhà văn Nga

đã nói: Chừng nào trong cuộc đời còn nhiều điều ác thì chừng đó còn có cớ đểviết văn

ở Mùa lá rụng trong vờn, tác giả muốn nói với mọi ngời, sự thay đổigiữa mới cũ, tốt xấu là tự nhiên, cũng nh lá rụng là một hiện tợng tất nhiêncủa tạo vật Đừng nên ngỡ ngàng, bối rối, hoang mang Hãy nhìn thẳng vào sựthật, nhận xét, phân tích, đánh giá, rồi từ đó tìm biện pháp giải quyết

Qua các trang văn xuôi sau 1985, ngời đọc đã cảm nhận đợc những đau

đớn, xót xa của các số phận khi phải chống chọi với cái ác, cái dung tục tồntại dới mọi trạng thái khác nhau Nguyễn Khắc Trờng, Tạ Duy Anh đã viết vềcái ác, về những thói tục, những mối thù truyền kiếp giữa các dòng họ đang

ngự trị, hoành hành nơi làng xã (Mảnh đất lắm ngời nhiều ma, Vòng trầm luân trần ai, Bớc qua lời nguyền ) Các cây bút văn xuôi đã khai thác từ sự tha hoá nhân cách con ngời trong môi trờng trí thức (Đám cới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng) Là sự truy đuổi đến cùng quá khứ để tìm nguyên

nhân cái ác vì chỉ có nhìn thẳng vào quá khứ, con ngời mới tránh đợc nhữngthảm hoạ của cái ác, mới có thể trừng phạt cái ác để thanh thản sống với hiện

tại, hớng tới lẽ phải và điều thiện (Ăn mày dĩ vãng - Chu Lai) Bằng trách

nhiệm và lơng tâm của mình, những ngời cầm bút hôm nay đã không thể làmngơ với cuộc sống của đồng loại, với thực trạng xã hội, bởi "Viết về cái ác

cũng là một cách thức tỉnh nhân tính" (Lê Minh Khuê).

Trang 40

Với phơng châm "Nhìn thẳng vào sự thật" trong sáng tác văn xuôi sau

1985 cảm hứng về sự thật về đời sống có liên quan chặt chẽ đến nhân cáchcon ngời Nói đến cái ác, cái xấu suy cho cùng là để hớng đến sự khẳng địnhphẩm chất, nhân cách con ngời Văn học gần đây đã xây dựng những kiểunhân vật tự phán xét hành động của mình, tự đối thoại, lục vấn và cảnh tỉnhchính mình Với những biến động của nội tâm trớc sự dồn đẩy âm thầm màquyết liệt của lơng tâm, của bổn phận làm ngời Thể hiện "chủ đề sám hối"trong văn xuôi, các nhà văn đã nhờng cho nhân vật cái quyền tự lên án và tựbiện hộ, tự buộc tội và tự giải thoát, vừa là bị cáo, vừa là chánh án tr ớc toà ánlơng tâm Chính vì vậy các nhà văn đã thừa nhận bản ngã nh một chất liệutrọng yếu trong cảm hứng sáng tạo Sự gặp gỡ giữa chất liệu ấy với bút phát h -ớng nội đã giúp ngời đọc cảm nhận đợc bằng chiều sâu tâm hồn nhữngkhoảnh khắc tự thức tỉnh, tự hoàn thiện nhân cách, tự điều tiết sự cân bằnggiữa lơng tâm và trách nhiệm, giữa con ngời và xã hội Cuộc sống sẽ tốt hơn,con ngời sẽ tránh bớt đi những lỗi lầm, sai sót khi mỗi ng ời tự ý thức đợc hành

vi của chính mình Mô típ sám hối, tự nhận thức và tự phê phán phần đời đã

qua xuất hiện Trong Ngời đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh

Châu, Quỳ là một nhân vật có cá tính mạnh mẽ, chị hành động hoàn toàn theosuy nghĩ, sở thích, yêu ghét… của chị Giữa bối cảnh chiến trờng, chị vẫn đitìm chân trời của những giá trị tuyệt đối, những con ngời tuyệt đối hoàn mỹvới một cơn khát cháy lòng Cuộc tìm kiếm không thành, chỉ đến khi phẩmchất nữ trong chị đợc ý thức, chị mới đi đến một quyết định táo bạo: quyếttâm chinh phục và gắn bó đời mình với một ngời mà mình cha biết, khôngyêu Mục đích việc làm của chị là để cứu sống một con ng ời có khả năng thựchiện hoài bão của bao ngời khác đã ngã xuống trong đó có ngời trung đoàn tr-ởng tài ba - ngời chị từng yêu dấu và đòi hỏi anh ta phải nh một thánh nhânnhng phải có những hành động mang tính chất thánh nhân thì con ng ời mớingày một tốt đẹp hơn, cuộc sống mới ngày một tốt đẹp hơn Tr ớc đây, khi đitìm thánh nhân trong cuộc đời, chị đã vô tình mà trở thành vô tâm tr ớc baotấm lòng, bao tình cảm của đồng đội Sau này, để có thể thực hiện đ ợc mục

đích của mình, chị đã phải hành động nh một "thánh nhân" để vợt qua baonhiêu khó khăn trở ngại

Ngày đăng: 19/12/2013, 13:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13 Đỗ Đức Hiểu Đọc Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu tuần báo Văn nghệ số 8 ngày 24/2/1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phiên chợ Giát
Năm: 1990
33 Vân Thanh Mảnh đời trong cuộc sống hôm nay qua Mùa lá rụng trong vờn. Tạp chí văn học số 3, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mùalá rụng trong vờn
Năm: 1986
5 Trơng Đăng Dung (dịch) G. Lukacs, Đặc trng mỹ học, TCVHNN, số 1, 1998 Khác
6 Trơng Đăng Dung (dịch) Hanss Robert Jauss, Lịch sử văn học nh là sự khiêu khích đối với khoa học văn học, TCVHNN, sè 1, 2001 Khác
7 Trơng Đăng Dung Phơng thức tồn tại của tác phẩm văn học, TCVH, sè 7 - 8, 2002 Khác
8 Trơng Đăng Dung Những đặc điểm của hệ thống lý luận văn học Macxit thÕ kû XX, TCVH, sè 7, 2001 Khác
9 Phan Huy Dũng Kết cấu thơ trữ tình. Luận án Tiến sĩ ngữ văn, Hà Nội 1999 Khác
10 Chu Thị Điệp Hiện thực nông thôn và hình tợng ngời nông dân trong truyện ngắn Việt Nam 1975 - 2000 Khác
11 Hà Minh Đức Lý luận văn học. Nhà xuất bản Hà Nội 1993 Khác
12 Lê Bá Hán (chủ biên) Từ điển thuật ngữ văn học. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998 Khác
14 M.khrapchencô Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội 1978.15 Phong Lê Văn học trên hành trình của thế kỷ XX, NxbĐHQG, Hà Nội 1997 Khác
23 Nguyên Ngọc Văn xuôi sau 1975, thử thăm dò đôi nét về quy luật phát triển. Tạp chí văn học số 4- 1991 Khác
24 Phạm Xuân Nguyên Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp. NXB VHTT 2001 Khác
25 Vơng Trí Nhàn Sổ tay truyện ngắn. Nxb văn học 1998 Khác
26 Nhiều tác giả Văn học 1975-1985, tác phẩm là d luận. Nxb Hội nhà văn 1997 Khác
27 Nhiều tác giả 50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám. Nxb ĐHQG, Hà Nội 1999 Khác
28 Nhiều tác giả Từ điển văn học, Nxb KHXH 1994 Khác
29 Nhiều tác giả Nguyễn Minh Châu - Kỷ yếu nhân 5 năm ngày mất, Hội nhà văn Nghệ An 1995 Khác
30 Nhiều tác giả Lý luận văn học (3 tập) Nxb GD 1987 Khác
31 G.N. Pospelov Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb GD 1985 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w