Lời cảm ơn Tìm hiểu Một số đặc điểm thi pháp sử thi qua tác phẩm Đăm Săn ÊĐê là một đề tài không mới nhng nó cũng ít đợc các nhà nghiên cứu quan Hoàng Minh Đạo và các thầy cô trong khoa
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
- -Một số đặc điểm thi pháp sử thi
qua tác phẩm đăm săn (Êđê)
Giáo viên hớng dẫn: ThS Hoàng Minh Đạo
Sinh viên thực hiện: Hoàng long trọng Lớp: 44A2- Ngữ Văn
Trang 2
Lời cảm ơn
Tìm hiểu Một số đặc điểm thi pháp sử thi qua tác phẩm Đăm Săn
(ÊĐê) là một đề tài không mới nhng nó cũng ít đợc các nhà nghiên cứu quan
Hoàng Minh Đạo và các thầy cô trong khoa ngữ văn.
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô!
Tác giả
Trang 3Những giá trị của sử thi Đăm Săn là không thể phủ nhận Vậy mà, nó
vẫn không đợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Những công trình trực tiếpbàn đến Đăm Săn nh: Sử thi Êđê của Phan Đăng Nhật, Năm bài giảng thể loại của Hoàng Ngọc Hiến là không nhiều Còn với các khoá luận của sinh
viên thì dờng nh Đăm Săn không có duyên!
Nói nh vậy để thấy rằng: Đăm Săn vẫn là một “mảnh đất” màu mỡ
nh-ng còn "hoanh-ng hoá" cần phải đợc "khai khẩn"! Nói nh vậy cũnh-ng để khẳnh-ng
định rằng: chúng ta cần chú ý hơn nữa đến những giá trị tinh thần vô giá củadân tộc
1.2 ít đợc đề cập, nghiên cứu nhng Đăm Săn lại chứa chất trong nó
một khối mâu thuẫn lớn: Mâu thuẫn ở việc xác định chủ đề và thể loại củatác phẩm Đã có rất nhiều ý kiến bàn luận xung quanh vấn đề này song vẫncha thực sự ngã ngũ
Đến với đề tài Một số đặc điểm thi pháp sử thi qua tác phẩm Đăm Săn (Êđê) chúng tôi một mặt muốn thể hiện sự trân trọng của mình trớc
những giá trị tinh thần dân tộc (tất nhiên bao hàm trong đó cả sự hứng thú, cảkhát khao tìm tòi, sáng tạo nữa Nếu không có điều đó, có lẽ chúng tôi đãkhông thể hoàn thành khoá luận) Mặt khác, chúng tôi cũng muốn góp tiếngnói nhỏ bé của mình vào việc giải quyết những mâu thuẫn, những bất đồngcủa các nhà nghiên cứu bấy lâu về tác phẩm
Trang 41.3 Và cuối cùng là vấn đề ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Chúng ta đều biết, lâu nay Đăm Săn luôn đợc u đãi một vị trí danh dự
trong sách giá khoa Trung học phổ thông Dù đã rất nhiều lần thay đổi sáchgiáo khoa nhng Đăm Săn không bao giờ bị loại bỏ Trong sách cũ- tức sách
Trung học phổ thông cha chỉnh lí, cải cách, Đăm Săn đựơc đa vào học với
đoạn trích: Đăm Săn chặt cây thần Đến khi cải cách, chỉnh lí sách giáo khoa
năm 2000, Đăm Săn lại đợc đa vào chơng trình với đoạn trích: Đăm Săn đi bắt nữ thần mặt trời Và khi bộ sách Ngữ văn ra đời biên soạn theo quan
điểm tích hợp, Đăm Săn lại đợc học với khúc đoạn: Chiến thắng MtaoMxây.
Vì thế, đi vào tìm hiểu đề tài, chúng tôi mong muốn giúp cho đội ngũ giáoviên ở trờng trung học phổ thông có thể dạy tốt hơn các đoạn trích trong tácphẩm Đăm Săn từ góc độ thể loại.
đến một số khía cạnh thuộc về thi pháp nh: Nhân vật; cốt truyện; không gian,thời gian nghê thuật , điển hình nh: Tìm hiểu giá trị bài ca chàng Đăm Săn
của Chu Xuân Diên, Một số đặc điểm của sử thi anh hùng qua đoạn chiến
thắng MtaoMxây (Trích sử thi Đăm Săn- Êđê) của Hoàng Minh Đạo, Năm bài giảng thể loại của Hoàng Ngọc Hiến, Sử thi Êđê- chuyên luận của Phan
Đăng Nhật
Tuy không chủ đích bàn về vấn đề thi pháp sử thi song ở lời gới thiệu
Đăm Săn, Đào Tử Chí trong khi thừa nhận vấn đề phong tục luân lí- mà
L.Sabachiê trình bày khi ra mắt tác phẩm ở Pari- đã đồng thời đề cập đếnnhân vật Đăm Săn: "Trong xã hội mẫu quyền và phong tục "nối dây" ấy, cónhững ngời nh Đăm Săn, có những nguyện vọng trái với khuân khổ xã hội
Trang 5Đăm Săn không chịu "nối dây", không thích thú với công việc nhà vợ, mà lạithích sống phóng khoáng, có những nguyện vọng cao xa nh đi bắt Nữ thầnmặt trời làm vợ lẽ, và Đăm Săn cố đeo đuổi nguyện vọng ấy một cách đắm
đuối, coi thờng khuân khổ xã hội"[1, tr.16]
Nh vậy, theo Đào Tử Chí, Đăm Săn sống trong chế độ mẫu quyền
nh-ng lại chốnh-ng chế độ, chốnh-ng "nối dây" Tronh-ng chành-ng chứa chất một cái gì đấy
nh muốn bứt phá khỏi mọi luân lí xã hội để sống tự do, "phóng khoáng"
Từ điểm manh nha đó, các tác giả sau Đào Tử Chí nh: Chu Xuân Diên,Nguyễn Đình Chú- Nguyễn Lộc cũng đều khẳng định chắc chắn: Đăm Săn-hiện thân của sự chống đối luật tục
Chu Xuân Diên viết: "Toàn bộ ý chí và hành động Đăm Săn từ đầu chícuối là một loạt những phản kháng chống lại phong tục nối dây và những tàntích chế độ mẫu quyền đang còn mạnh"[3, tr.45]
Nguyễn Đình Chú- Nguyễn Lộc thì thừa nhận: "Đăm Săn đã vợt quamối ràng buộc khắc nghiệt của tục chuê nuê, mặc dù đã lấy Hơnhí, Hơbhíchàng cũng dứt áo ra đi "[1, tr.25]
Nhng có lẽ phải đến Hoàng Ngọc Hiến, Đăm Săn mới đợc nhận diệnmột cách tơng đối "hoàn tất" Trong bài Những nét loại hình của bài ca
chàng Đăm Săn nh là một tác phẩm anh hùng ca ; ông đã đa ra những nhận
xét, đánh giá có sức thuyết phục về phẩm chất của nhân vật chính: "Nhân vậttrung tâm của anh hùng ca bao giờ cũng là một con ngời "hoàn tất" ĐămSăn là con ngời của sự hoàn thiện, hoàn mĩ Phẩm chất của nó ở tất cả cácmặt, sức mạnh cũng nh tài năng, đạo đức cũng nh ngoại hình đều tơng xứngvới vị trí hiển quý của nó- một tù trởng giàu mạnh" [9, tr.53-54]
ở một đoạn khác, tác giả triển khai vấn đề: “Đăm Săn vừa là "anhhùng quân sự" vừa là "anh hùng văn hoá", có sức mạnh phi thờng, có lòngdũng cảm, có đức tính ngay thẳng, có sự hoà nhập giữa cá nhân và tập thể, là
"hiện thân của cảm hứng hoạt động cá tính tự do"[9, tr59.60] "Hiện thân củahoạt động cá tính tự do" chính là một đóng góp mới mẻ, là một phát hiện hết
Trang 6sức độc đáo của tác giả Nhờ nó, Hoàng Ngọc Hiến thoát ra khỏi cái nhìnmang tính chất chính trị- xã hội khi tìm hiểu nhân vật.
Cùng trên hớng khai thác đó, Hoàng Minh Đạo đi sâu làm rõ đặc điểmnhân vật anh hùng sử thi trong một chơng cụ thể: Chiến thắng Mtao MXây.
Cái hay của tác giả không chỉ ở chỗ "cắt nghĩa vì sao trong đoạn Chiến thắng Mtao Mxây mục đích giành lại nàng Hơnhí của Đăm Săn chỉ đợc nói
qua, sau chiến thắng nàng cũng không đợc nhắc tới"[6, tr.26] mà còn ở chỗchỉ ra "bức tranh cuộc sống mà con ngời hoà hợp với thiên nhiên, gợi lêncảnh tợng thanh bình, trù phú và rất hồn nhiên"[6, tr.26] ở cuối khúc đoạn
Vẫn ở hớng khai thác vấn đề nh trên, sau một loạt những thao tác cótính logic, khoa học với việc chỉ ra 3 nhiệm vụ cơ bản của nhân vật: lấy vợ,làm lụng, đánh giặc; Phan Đăng Nhật đi đến kết luận: "Nhân vật Đăm Săn làngời anh hùng chiến đấu vì sự giàu mạnh yên vui và uy danh của cộng đồng
Sử thi Đăn Săn thuộc loại đề tài chiến tranh, kiểu chiến tranh giành lại vợ
"[16, tr.100]
Cùng với phơng diện nhân vật; cốt truyện, thời gian- không gian nghệthuật cũng đợc các nhà nghiên cứu đề cập đến.
Hoàng Ngọc Hiến trong khi bàn về Những nét loại hình của bài ca
chàng Đăm San nh là một tác phẩm anh hùng ca đã khẳng định: "Bài ca mở
đầu bằng hai chị em Hơnhí, Hơbhí đi hỏi cới Đăm Săn và kết thúc cũng bằngviệc hai chị em đi hỏi cới cháu của Đăm Săn (cũng chính là Đăm Săn đầuthai làm con của chị mình) Bố cục này đồng thời khẳng định tính chất vĩnhcửu của tập tục "nối dây" Tuy nhiên, đây là sự vĩnh cửu "hạn chế"[9, tr.54]
Có lẽ, trong tất cả các công trình nghiên cứu về Đăm Săn thì Sử thi
Êđê của Phan Đăn Nhật là công trình khảo sát kỹ lỡng hơn cả
Đối lập với quan điểm của Hoàng Ngọc Hiến, Phan Đăng Nhật chorằng: "Kết thúc sử thi Đăm Săn, khẳng định sự giàu có yên vui của cả làng
buôn mình sau nhiều đợt chiến tranh và chiến thắng kẻ thù"[16, tr.47].
Trang 7Và đồng thời với việc khẳng định Khan Đăm Săn cũng nh những Khan
khác của các tộc ngời ở Tây Nguyên có một cấu trúc chung: Hành động (baogồm thao tác), khúc, tác phẩm; ông đã tìm thêm đợc 4 khúc đoạn khác của
Đăm Săn Từ đó, ông đa ra sơ đồ tóm tắt cấu trúc sử thi Khan Đăm Săn dị
bản 3 trong sự đối sánh với các sử thi khác của Tây Nguyên
Phan Đăng Nhật đi đến khái quát: “Khan (nói chung), Đăm Săn nói
riêng phát triển theo hai hớng: hút vào và tỏa ra Theo hai bình diện: Bìnhdiện thể loại và bình diện địa lí” [16, tr.65]
Đỗ Bình Trị khi bàn về tác phẩm Đăm Săn- một “viên ngọc quý của
văn học dân gian Tây Nguyên và của cả nền văn học dân gian Việt Nam”[18, tr.205] đã đụng đến vấn đề cốt truyện, kết cấu: “Đó là một truyện kể dàihơi, có dung lợng lớn, kết cấu theo chơng khúc Một chơng khúc kể về một
sự việc trọn vẹn và các chơng khúc còn lại đợc liên kết với nhau thành mộttác phẩm hoàn chỉnh, một chỉnh thể nghệ thuật xoay quanh nhân vật trungtâm có tính cách nhất quán, thể hiện qua chuỗi hành động phát triển ngàycàng dồn dập gay cấn” [18, tr.198]
so với các phơng diện khác của thi pháp thì có lẽ không gian- thờigian nghệ thuật trong Đăm Săn là ít đợc các nhà nghiên cứu quan tâm nhất
Ngay Sử thi Êđê của Phan Đăng Nhật cũng chỉ lớt qua vấn đề này Đôi
chỗ, ta bắt gặp tác giả đề cập đến mà cũng không thật rã ràng Ví nh: “Bớcvào làng một ngời anh hùng, chúng ta thấy ngay cảnh nhộn nhịp, giàu sang”[16, tr.171]; hay “Trong cái làng trù phú đó, nhà của Đăm Săn nổi lên” [16,tr.171] chỗ khác tác giả kết luận: “Thiên nhiên trong Khan thì phong phú,
đa dạng và nói chung là tơi đẹp ở đây có đầy đủ hoa cỏ, sông suối, thú rừng,chim muông, ma gió” [16, tr.228]
Còn Nguyễn Đình Chú- Nguyễn Lộc tuy không chú ý đến phạm trùkhông gian nhng qua lời dẫn “trên đờng đi tới chỗ nữ thần mặt trời, Đăm Sănchặt một sờn núi, ném xuống chân làm con đờng để vợt qua ranh giới trời và
Trang 8đất”; ta bớc đầu đã thấy không gian con đờng đa Đăm Săn đi bắt nữ thần mặttrời.
Hoàng Ngọc Hiến thì chú ý đến thời gian “quá khứ tuyệt đối” của tácphẩm Nhng theo ông, đó là một quá khứ dờng nh bất cập đối với họ, thuộcmột bình diện khác với bình diện của cuộc sống hiện tại của họ” Từ đây, ông
đi đến nhận định: Thời gian trong Bài ca chàng Đăm Săn mang tính chu kỳ
khép kín”
Rõ ràng, những công trình của các nhà nghiên cứu bàn về Đăm Săn
tuy không chủ đích hớng đến vấn đề thi pháp song tìm hiểu kĩ ta vẫn thấy sựquan tâm bớc đầu của họ ở phơng diện này Đây chính là những cơ sở ban
đầu, là cái nền để chúng tôi đi sâu tìm hiểu đề tài của mình Và ngay cảnhững ý kiến đối lập của các tác giả cũng sẽ là “mảnh đất” cho chúng tôi bày
1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời
Trang 9Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế trong khả năng, đặc biệt là khả năngtiếp xúc trên nguyên bản và trong khuân khổ một khoá luận tốt nghiệp, nênchúng tôi giới hạn phạm vi vấn đề trên 4 điểm chính:
1 Quan niệm nghệ thuật về con ngời Cụ thể là nhân vật
2 Cốt truyện
3 Thời gian nghệ thuật
4 Không gian nghệ thuật
3.2 Đăm Săn tuy là con đẻ tinh thần của ngời Việt nhng lại đợc công
bố trớc tiên ở nớc ngoài Và đến nay mới có hai bản dịch tiếng việt nh trênchúng tôi đã dẫn Các bản dịch này đều chịu sự "khúc xạ" rất lớn: Bởi tácphẩm lúc đầu là tiếng của ngời Êđê nên khi dịch ra tiếng Việt dù là từ tiếngPháp (bản dịch của Đào Tử Chí) hay từ tiếng Êđê (bản dịch của Nguyễn HữuThấu) thì tính "bản nguyên" của tác phẩm cũng không thể giữ đợc Trong sốhai bản dịch, bản ra đời sớm nhất, lu hành rộng rãi nhất chính là bản dịch của
Đào Tử Chí (1959) với tiêu đề Bài ca chàng Đăm Săn (Klei khan y Đăm
Săn) Bản dịch đợc in bằng hai thứ tiếng: tiếng Việt và tiếng Êđê Hơn thế, từtrớc đến nay, hầu hết các ý kiến của các nhà nghiên cứu về tác phẩm này đềudựa trên bản dịch của Đào Tử Chí Vì vậy, chúng tôi quyết định chọn bảndịch này làm đối tợng khảo sát chính
4 Phơng pháp nghiên cứu
4.1 Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi sử dụng
ph-ơng pháp khảo sát- phân tích làm phph-ơng pháp nghiên cứu cơ bản
4.2 ở một mức độ hạn chế, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp so
sánh-đối chiếu để làm bật nổi nét đặc sắc, độc đáo- nét riêng của sử thi Đăm Săn
so với một số thiên sử thi trên thế giới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài có nhiệm vụ giới thuyết một số vấn đề có liên quan nh: thipháp học và thi pháp; sử thi; tác phẩm Đăm Săn và tộc ngời Êđê- chủ nhân
của thiên sử thi này
Trang 10Từ đó đi vào tìm hiểu những biểu hiện và đặc điểm của thi pháp sử thitrong tác phẩm Đăm Săn- Êđê.
Tìm hiểu, xác định những đặc điểm riêng, độc đáo của sử thi Đăm Săn
so với một số thiên sử thi trên thế giới
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm 4 chơng:
Chơng1- Những vấn đề chung
Chơng2- Nhân vật
Chơng 3- Cốt truyện
Chơng 4- Thời gian và không gian nghệ thuật
Và cuối cùng là danh mục tài liệu tham khảo
Trang 11
Như chúng ta đều biết, thi pháp là một bộ môn khoa học đã xuất hiện
từ rất lâu trong lịch sử nghiên cứu văn học, cách đây khoảng 2300 năm, với
công trình Nghệ thuật thi ca của Arixtôt- một triết gia Hy Lạp cổ đại xuất
sắc Đây là công trình nổi tiếng nhất trong các thi pháp học đương thời Nótổng kết kinh nghiệm Hy Lạp (sử thi, bi kịch, tụng ca) Nhờ hạt nhân triếthọc mà công trình của Arixtôt đã có ảnh hưởng to lớn ở phương Tây trongsuất thời cổ đại, thời Phục hưng và kÐo dài cho đến hết thế kỷ XVIII, XIX.Các tác giả Horace, Boalô, Lessing… đều có những công trình thi pháp họcnổi tiếng
Cùng với Phương Tây, ở phương §«ng, thi pháp học cũng rất phát
triển và có một nền tảng vững chắc Mở đầu với công trình Văn tâm điêu
long của Lưu Hiệp, các sách Thi thoại… Các nền văn học Ấn Độ, Nhật
Bản, Ả Rập cũng có các truyền thống thi pháp học độc đáo
Thi pháp học mà Arixtôt đề xướng và kéo dài đến cuối thế kỷ XIXđược xem lµ thi pháp học truyền thống
Nhìn chung, thi pháp học truyền thống thiên về nghiên cứu thÓ loại,ngôn ngữ để chỉ đạo sáng tác, đề xuất lời khuyên Nó khuyên người sángtác nên làm như thÕ nào để có một tác phẩm văn, thơ, kịch “đúng chuẩn”
Và vì cái “đúng chuẩn” này mà nguyên tắc thi pháp được hiểu thành quyphạm
Trang 12Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, thi pháp học hiện đại được dấy lên.Công đầu thuộc về nhà nghiên cứu văn học Nga A.N.Vêxêlôpxki, khi ông
đề xuất hướng nghiên cứu thi pháp học lịch sử; tiếp đến các trường phái thipháp học hiện đại theo nhau xuất hiện: Trường phái hình thức Nga; Phê bìnhmới Anh, Mĩ; Trường phái hiện tượng học; Thi pháp học cấu trúc, kí hiệuhọc… Các đại diện tiêu biÓu của thi pháp học hiện đại ta có thể kể đến:M.Bakhtin, D.X.Likhasôp (Nga), RooyơGruLê (Pháp), Maicơn Duychfơren(Mĩ)…
Thi pháp học hiện đại ra đời là sự kế thừa những thành tựu của thipháp học truyền thống và phát triển nó lên ở một mức cao hơn Tuy nhiên,khác với thi pháp học truyền thống chủ yếu là thi pháp học lời khuyên, thipháp học hiện đại lại chủ yếu là thi pháp học tiếp nhận văn học Đến với thipháp học hiện đại, không chỉ người sáng tác được cung cấp một phươngpháp khoa học để sản sinh tác phẩm nghệ thuật mà người tiếp nhËn văn họccũng có một cơ chế, một con mắt nghệ thuật để tiếp cận, khám phá thế giới
vô cùng phong phú, phức tạp của tác phẩm Thi pháp học hiện đại đòi hỏi
sự chích xác, khách quan nhiều khi đến từng chi tiết chứ không phải là sựước chừng, “mô phỏng” như thi pháp học truyền thống
Có thể khẳng định, trải qua những bước phát triển thăng trầm của bộmôn; đến hôm nay, thi pháp học vẫn khẳng định được vị trí không thể thiếucủa mình trong nghiên cứu văn học Bởi “Thi pháp học là khoa học nghiêncứu thi ca (văn học) với tư cách là một nghệ thuật”- Girmunxki [15, tr.5];hay nói như viện sĩ V.Vinogradop: “Thi pháp học là khoa học về các hìnhthức, các dạng thức, các phương tiện, phương thức tổ chức tác phẩm củasáng tác ngôn từ, về các kiểu cấu trúc và các thể loại tác phẩm văn học Nómuốn bao quát không chỉ là các hiện tượng ngôn từ, mà cßn là cả các khíacạnh khác nhau nhất của tác phẩm văn học và sáng tác dân gian” [15, tr.5]
1.2 Thi pháp
1.2.1 Thi pháp nói chung
Trang 13Thi pháp học là khoa học nghiên cứu thi pháp Thế nhưng, thi pháp
là gì? Đây là một vấn đề không dễ minh định Hiện nay, trong giới nghiêncứu và lí luận thế giới còn tồn tại một khối lượng rất lớn các định nghĩa,các giới thuyết về thi pháp
Theo các nhà nghiên cứu, thi pháp có thể hiểu theo hai nghĩa rộng,hẹp khác nhau Theo nghĩa hẹp, thi pháp là tổng hợp các thành tố (hoặc cấpđộ) của hình thức nghệ thuật: Cốt truyện và kết cấu, các hiện tượng ngônngữ nghệ thuật (ẩn dụ, biểu tượng, tính từ chỉ phẩm chất); nhịp, tiết tấu vàvần Như vậy, xét ở góc độ này, thi pháp là hình thức biểu hiện của một tácphẩm, là công cụ để chiếm lĩnh, giải mã một tác phẩm nghệ thuật cụ thể.Được hiểu theo nghĩa rộng, thi pháp không chỉ có những thành tố kể trên
mà còn bao gồm cả những vấn đề loại hình, thể tài, những nguyên tắc vàphương pháp phản ánh thực tại và một số phạm trù lí luận nghệ thuật,chẳng hạn: “Thời gian nghệ thuật”, “không gian nghệ thuật”….Nếu hiểunhư vậy, thi pháp là một khái niệm có phạm vi rất rộng Nó không chỉ lµhình thức mà còn là nội dung, không chỉ là công cụ của người tiếp nhận màcòn là phương pháp, cách thức của người sáng tạo
Trả lời câu hỏi: “Thi pháp là gì?”, giáo sư Krapxôp cho rằng:
“Thi pháp với tư cách là tổ hợp những đặc điểm hình thức nghệ thuậtcủa các tác phẩm ngôn từ bao gồm:
a Những đặc điểm của cấu trúc tác phẩm;
b Hệ thống những phương tiện phản ánh, nhờ những phương tiệnnày mà văn học viết và phônclo xây dựng những bức tranh về cuộc sống,những hình tượng về con người và tái tạo những hiện tượng khác nhau củahiện tại (các sự kiện lịch sử, sinh hoạt và đạo đức của con người, thiênnhiên);
c Những chức năng tư tưởng- thẩm mĩ của cấu trúc tác phẩm (sự thểhiện một cách xúc cảm trước hiÖn thực, sự đánh giá những sự kiện và hành
Trang 14vi của nhân vật, sự khám phá ý đồ sáng tạo cùng giá trị tư tưởng- nghệthuật và tay nghề sáng tạo ra tác phẩm” [12, tr.145].
Đây là một định nghĩa khá toàn diện Nó đã bao hàm tất cả các mặtcủa hình thức, cũng như mối liên hệ giữa các mặt đó thuộc tác phẩm ngôn
từ Thế nhưng, định nghĩa xác định rõ: Hình thức ở ®©y là hình thức mangtính quan niệm, hình thức trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng với nộidung
Định nghĩa cũng đã chỉ ra sự khác nhau giữa thi pháp văn học dângian và thi pháp văn học viết
Cuối cùng, định nghĩa đã xác lập đối tượng hướng đến của thi pháp:Với người sáng tạo, thi pháp là phương pháp; víi người tiếp nhận, thi pháp
là công cụ hữu ích
1.2.2 Thi pháp văn học dân gian
Văn học dân gian và văn học viết là hai bộ phËn làm nên diÖn mạocủa một nền văn học Tuy chúng đều có những đặc điểm chung về: Nộidung phản ánh, hình tượng nh©n vật, ….Song lại có những điểm khác biệtvề: Tác giả, văn bản, phương thức sáng tác,….Chính những điểm khác biệtnày làm cho thi pháp văn học dân gian khác thi pháp văn học viết
Chẳng vậy mà khi định nghĩa về thi pháp, viện sĩ V.Vinogradop đãkhẳng định: “Nó (thi pháp- tác giả) muốn bao quát không chỉ là các hiệntượng của ngôn từ thơ, mà còn là cả các khía cạnh khác nhau nhất của tácphẩm văn học và sáng tác dân gian” [17, tr.5]
Vậy là, theo viện sĩ, thi pháp văn học dân gian có tính độc lËp tươngđối với thi pháp văn học viết
Giáo sư Krapxôp cũng khẳng định sự khác nhau giữa thi pháp vănhọc dân gian và thi pháp văn học viết trong khi trả lời câu hỏi: “Thi pháp làgì?”: “b Hệ thống những phương tiện phản ánh, nhờ những phương tiệnnày mà văn học viết và phônclo xây dựng những bức tranh về cuộcsống…” [12, tr.145]
Trang 15Chính vì thi pháp văn học dân gian có những đặc thù riêng nên nó đãthu hút sự chú ý của nhiều nhà phônclo học ë Liên Xô, chúng ta có thể kểtên hàng loạt những nhà phônclo học nghiên cứu thi pháp văn học dân giannhư: Krapxôp, Likhachôp, Khraptrenco….Còn ở Việt Nam, tuy khái niệmthi pháp văn học dân gian xuất hiện khá muộn (khoảng năm 1980) song nócũng đã gây sự chú ý đặc biệt đối với nhiều nhà nghiên cứu như: Chu XuânDiên, Lê Kinh Khiên, Nguyễn Xuân Kính….
Đến nay, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thi pháp văn học dângian Song theo chúng tôi, định nghĩa của Chu Xuân Diên là toàn vẹn hơn cả
Nó vừa khẳng định được đặc trưng thi pháp văn học dân gian, lại vừa khẳngđịnh được tầm quan trọng của việc nghiên cứu thi pháp văn học dân gian
“Thi pháp văn học dân gian là toàn bộ các đặc điểm về phương thứcnghệ thuật, về phương thức và thủ pháp miêu tả, biểu hiện, về cách cấu tạo
đề tài, cốt truyện và phương pháp xây dựng hình tượng con người…Việcnghiên cứu thi pháp văn học dân gian bao gồm từ việc khảo sát những yếu
tố thi pháp riêng lẻ như phép so sánh thơ ca, các biểu tượng và luật thơ, cácmôtip và cách cấu tạo cốt truyện, c¸ch mô tả diện mạo bên ngoài và tâm líbên trong của nhân vật… đến việc khảo sát những đặc điểm dân tộc của thipháp văn học dân gian nói chung Nghiên cứu thi pháp văn học dân giancòn bao gồm cả việc kh¶o sát những đặc điểm phong cách cá nhân củangười sáng tạo và diễn xướng trong mối quan hệ với những đặc điểm củathi pháp truyền thống” [12, tr.157]
Nhìn chung, thi pháp văn học dân gian là một vấn đề rất rộng như đãnêu ở định nghĩa trên Vì vậy, trong khi vận dụng khái niệm này vào nhữngvấn đề cụ thể; chúng ta không được máy móc mà cần bám chắc vào tìnhhình thực tế của từng vấn đề nghiên cứu Chẳng hạn, khi nghiên cứu sử thi
ta cần phải thấy tiến trình phát triển của nó; những đặc điểm thể loại: Nhânvật, cốt truyện, ngôn ngữ, đặc điểm dân tộc…để dễ dàng làm bật nổi vấn đề
2 Sử thi
Trang 16Trong loại tác phẩm tự sự, bên cạnh các thể loại: Truyện thơ, trường
ca, tiểu thuyết, truyện ngắn…có một thể loại “một đi không trở lại với loàingười” (không trở lại cái hình thức mang ý thức thần thoại gắn liền với giaiđoạn phát triển ấu thơ của loài người), đó là: Sö thi
Theo các nhà nghiên cứu, sö thi có thể chia làm hai loại: Sử thi thầnthoại và sử thi truyền thuyết
Vậy sử thi là gì?
Nếu chiết tự khái niệm: Sử- lịch sử, thi- thơ thì chúng ta có thể hiểu:
Sử thi là lịch sử được kể lại bằng thơ
Song vấn đề lại không đơn giản như vậy
Đến nay đã có hàng trăm khái niệm sử thi khác nhau :
Phương Lựu, Trần Đình Sử trong Lí luận văn học khẳng định: Sử thi
“là thể loại tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng, có ý nghĩa quyết định đốivới đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc và nhân dân” [ 15, tr.380]
Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Lộc trong sách văn học 10 , sách giáo
viên cũng định nghĩa : “Sử thi dân gian là những sáng tác tự sự dài bằngvăn vần hoÆc văn xuôi kết hợp với văn vần, nội dung kể lại những sự kiệnquan trọng có ý nghĩa lớn đối với toàn thể cộng đồng” [ 2, tr.19]
Như vậy, các khái niệm này đã chỉ cho chúng ta thấy hai mặt hìnhthức và nội dung của thể loại Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào các khái niệmnày không thôi, chúng ta sẽ không dễ dàng phân biệt các tác phẩm mangkhuynh hướng sử thi với các tác phẩm sử thi chính gốc
Vì vậy, chúng tôi xin sử dụng khái niệm sử thi trong Tõ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán,Nguyễn Khắc Phi để làm cơ sở đi vào giải
quyết đề tài : “ Sử thi là thể loại tác phẩm tự sự dài (thường là thơ) xuấthiện rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ngợi ca sự nghiệpanh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trongbuæi bình minh của lịch sử” [8 tr.233]
Trang 17Theo định nghĩa trờn, chỳng ta thấy sử thi cú những đặc điểm:
1 Thời gian xuất hiện: Sử thi xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn họccủa cỏc dõn tộc
2 Hỡnh thức: Sử thi là những tỏc phẩm cú dung lượng lớn, đồ sộ Nú
cú sự kết hợp hài hũa giữa truyện và thơ Cõu chuyện về người anh hựngnhưng lại được kể lại bằng thơ (văn vần)
3 Nội dung: Sử thi thường ca ngợi người anh hựng lý tưởng của thờiđại, nhờ vậy mà nú cú tớnh chất hào hựng, hoành trỏng
3 Tỏc phẩm Đăm Săn
Cùng với cỏc thiờn sử thi đồ sộ của thế giới như: Iliat và ễđixờ của Hy Lạp, Mahabharata và Ramayana của ấn Độ, ấnờit của La Mó, Bờụvulfh của Anh… thỡ Đăm Săn của người Việt Nam cũng gúp tiếng núi riờng vào việc
khẳng định sự khụng thể vắng mặt của thể loại này trong nền văn học thế giới
Khụng ngần ngại mà khẳng định rằng: Đăm S ăn là thiờn sử thi lớn
nhất, cú giỏ trị nhất trong kho tàng sử thi cỏc dõn tộc Tõy Nguyờn núi riờng
và Việt Nam núi chung Ai đó từng đọc tỏc phẩm một lần cú lẽ cũn ấntượng mói với người anh hùng Đăm Săn đầy khỏt vọng chiếm lĩnh nhữngđỉnh cao vinh quang, với phong vị Tõy Nguyờn lóng mạn mà oai hựng, vớitục “chuờ nuờ” độc đỏo…Thế nhưng, số phận tỏc phẩm lại khụng được
“thuận buồm xuụi giú” Nú đó phải trải qua một giai đoạn thăng trầm mớitrở về đợc với cội nguồn, với mảnh đất sản sinh ra mỡnh
Người phỏt hiện và dịch sớm nhất tỏc phẩm này ra tiếng phỏp làL.Sabachiờ (năm 1929) Đến năm 1933, tỏc phẩm mới được G.Coongdominột
cụng bố ở Việt Nam, cũng do L Sabachiờ biờn soạn Đến năm 1959, Đ ăm Săn được Đào Tử Chớ dịch ra tiếng Việt Năm 1988, Nguyễn Hữu Thấu
dịch tỏc phẩm ra tiếng Việt lần thứ 2
Trang 18Trong suốt quỏ trỡnh dịch, giới thiệu, nghiờn cứu Đăm Săn, cũn một
số ý kiến đỏnh giỏ chưa thống nhất , thậm chớ đối lập nhau, nhất là về chủ
đề và thể loại của tỏc phẩm
L.Sabachiê khẳng định: “Bài ca chàng Đăm Săn chính là bản thuyết
minh về phong tục, một bài học về xã hội và luân lí của ngời Rađê hơn làchuyện ngời anh hùng và chiến công của y” [16, tr.11]
Chu Xuân Diên thì cho rằng Đăm Săn có hai chủ đề chính: “Đấu tranh
để thoát khỏi ràng buộc của một tập tục hôn nhân theo chế độ mẫu quyền” và
“đấu tranh chống những tù trởng thù địch để bảo vệ cuộc sống và mở rộng
địa bàn c trú của dân tộc” [3, tr.86]
Vậy, Đăm Săn là “Bản thuyết minh về phong tục” hay chuyện ngời
anh hùng? Nếu là chuyện ngời anh hùng thì ngời anh hùng chống “chuê nuê”hay không chống “chuê nuê”?
Sự bất đồng này có nguyên nhân trực tiếp từ chỗ các nhà nghiên cứucòn lúng túng trong việc xác định thể loại của tác phẩm Cùng một đối tợngnhng đợc gọi bằng nhiều tên khác nhau
L.Sabachiê- Ngời phát hiện Đăm Săn cho là “truyền thuyết”.
R.Đoócgiơlét- Ngời giới thiệu tác phẩm lại cho là “sử thi”
Đào Tử Chí- Ngời dịch tác phẩm sớm nhất ra tiếng Việt lại xác định là
“bài ca”
Ngọc Anh lại cho là “trờng ca”
Phơng Lựu, Trần Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến cho là “anh hùng ca”
Và gần nhất, Phan Đăng Nhật khẳng định là “sử thi- khan”
Nhìn chung, mỗi tác giả khi đa ra tên thể loại cho tác phẩm đều có lí
do, có cơ sở nhất định Tuy nhiên, ở đây chúng tôi xin sử dụng khái niệm củaPhan Đăng Nhật- khi ông khẳng định rằng Đăm Săn thuộc thể loại “sử thi-
khan” để làm cơ sở đi vào nghiên cứu, phát hiện những đặc điểm thi pháp tácphẩm Bởi khái niệm mà Phan Đăng Nhật đa ra vừa khẳng định tính chấtchung của Đăm Săn là thuộc thể loại sử thi, vừa khẳng định nét riêng, độc
đáo phân biệt Đăm Săn với sử thi khác là hình thức Khan.
Trang 19Đến đây lại nảy sinh vấn đề cần giải quyết: “Khan” là gì? Khan là mộthình thức diễn xớng có tính chất văn nghệ nhà dài Khan có nghĩa là chuyện-câu chuyện cụ thể hoặc truyện- thể loại Cũng có thể gọi là Akhan,Klaykhan- lời kể chuyện Về ngôn ngữ, Khan đợc diễn đạt bằng lời văn vần
mà tiếng dân tộc gọi là “duê” để phân biệt với những chuyện đợc kể bằng vănxuôi (cổ tích, ngụ ngôn, truyện cời…)
Khan chính là hình thức diễn xớng có sự tổng hợp giữa 3 yếu tố: Âmnhạc, kịch, động tác Nhng khi diễn xớng, Khan thờng do một ngời đảmnhiệm Ngời đó cần có trí nhớ tốt, có giọng kể tốt, có tài diễn xuất
4 Tộc ngời ÊĐê- tác giả của sử thi Đăm Săn:
Khi đi vào tìm hiểu, nghiên cứu một tác phẩm nào đó, chúng ta khôngthể không biết đến chủ nhân của nó Tìm hiểu chủ nhân của nó, đồng nghĩavới việc chúng ta xác định cơ sở tâm lí, cơ sở xã hội nảy sinh tác phẩm Vànhờ vậy, ta sẽ có cái nhìn “đa trị”, sâu sắc, thực tế hơn về tác phẩm
Chủ nhân Khan nói chung, Đăm Săn nói riêng chính là ngời Êđê- c
dân sinh sống ở tỉnh Đăklăk
Theo t liệu của H.Becna, năm 1907, tộc ngời này có khoảng 40.000ngời; đến năm 1979, số lợng tăng lên thành 140.880 ngời; gồm trên dới 20nhóm địa phơng
Tộc ngời Êđê là c dân nông nghiệp lâu đời Trong sản xuất, Rẫy chiếm
vị trí hàng đầu, là nguồn sống chính của đồng bào Chăn nuôi cũng khá pháttriển, mỗi gia đình thờng có từ vài con đến vài chục con, có khi tới hàng trămcon trâu bò Bên cạnh sản xuất, chăn nuôi, đồng bào còn có hoạt động thunhập sản phẩm từ thiên nhiên: Hái rau rừng, lấy mật ong, săn thú, đánh bắtcá…
Ngời Êđê c trú thành từng Buôn Mỗi Buôn từ vài chục đến vài trămnóc nhà dài Nhà ở của ngời Êđê là nhà sàn dài, có khi dài vài ba chục mét,
đến trăm mét
Ngời Êđê có rất nhiều nét văn hóa độc đáo (cả văn hóa vật thể và phivật thể) nh: Cồng chiêng, Đàn đá….Nhng ở đây, chúng tôi xin giới thuyết sơ
Trang 20lợc về tục “nối dây” hay còn gọi là tục “chuê nuê” vì nó liên quan đến việcxác định chủ đề của tác phẩm “Chuê nuê” (nối dây) không phải là một hiệntợng cá biệt mà là một tục lệ quen thuộc ở nhiều tộc ngời trên thế giới vàtrong nớc ta Ngời ta gọi đó là hôn nhân chị em vợ (thuật ngữ dân tộc học làsorarat) và hôn nhân anh em chồng (levirat) Luật tục này quy định khi mộtngời chết đi thì ngời khác trong dòng họ có nhiệm vụ thay thế ngời đã chết
để làm chồng hoặc vợ Ví dụ: Một ngời đàn bà họ Êban lấy một ngời đàn ông
họ NiêKđăm Nếu nh ngời đàn bà chết, họ Êban cử một ngời đàn bà kháctrong họ lấy ngời đàn ông họ NiêKđăm Khi ngời đàn ông chết, họ NiêKđăm
có nhiệm vụ cử một ngời đàn ông trong dòng họ mình lấy ngời đàn bà họ
Êban Ngời Êđê coi sự nối dây này là thờng tình, trong “klayduê” (luật tục)nói: “khi xà gãy thì thay xà, khi ván gãy thì thay ván, ngời này chết thì ngờikhác thay vào… Cậu chết thì cháu trai thay, dì chết thì cháu gái thay: cũng
nh cây Mía, cây Chuối, cây này chết trồng cây khác…”
Nh vậy, với những hiểu biết cơ bản về các vấn đề: Thi pháp học và thipháp, sử thi, tác phẩm Đăm Săn , tộc ngời Êđê nh trên, chắc chắn sẽ giúp
chúng tôi có cơ sở vững vàng để đi vào tìm hiểu một số đặc điểm thi pháp sửthi qua tác phẩm Đăm Săn- Êđê.
Trang 21Chơng 2: Nhân Vật
1 Giới thuyết khái niệm nhân vật
1.1 Khái niệm
“Văn học là nhân học”, là nghệ thuật miêu tả, biểu hiện con ngời Mục
đích cuối cùng của văn học là vì con ngời, giúp con ngời vơn lên chiếm lĩnhcác giá trị chân - thiện- mĩ của cuộc sống Mà văn học lại là nghệ thuật lấyngôn từ làm chất liệu nên nó phải phản ánh, miêu tả thế giới một cách hình t-ợng Vì lẽ đó, nó không thể thiếu một phơng tiện cơ bản là nhân vật “ Nhânvật chính là con ngời đợc miêu tả, thể hiện trong tác phẩm bằng phơng tiệnvăn học” [15, tr.277] Thế nhng, cần chú ý rằng, nhân vật trong tác phẩm vănhọc là một hiện tợng nghệ thuật mang tính ớc lệ; nó không phải là sự saochụp, “bê nguyên” tất cả những đặc điểm của con ngời tồn tại trong thế giớikhách quan mà nó đã đợc “ thanh lọc” để truyền tải tốt nhất những t tởng ,tình cảm của tác giả Mặt khác, nhân vật trong tác phẩm văn học lại khôngchỉ là con ngời mà nó còn có thể là những sự vật, loài vật ít nhiều mang bóngdáng con ngời đợc dùng nh những phơng thức khác nhau để biểu hiện conngời
Do đó, các loại hình nhân vật rất đa dạng Ngời ta đã chia nhân vật làmnhiều kiểu loại khác nhau
Trang 22- Dựa vào tiêu chí cấu trúc, ngời ta chia ra: Nhân vật chức năng, nhânvật loại hình, nhân vật tính cách, nhân vật t tởng.
Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ là tơng đối, giữa các kiểu loại nhân vật
đều có một đờng ranh giới nhất định Nhng dễ bị phá vỡ Và tùy thuộc vàotác phẩm văn học, đặc điểm thể loại của tác phẩm, ta sẽ có các cách chianhân vật khác nhau
và nhân vật phản diện (“Tập thể chúng nó”: Mtao Mxây, Mtao Gr…)
Tuy nhiên, những cách phân chia này không giúp ta dễ dàng đi vào tìmhiểu đặc điểm của từng loại nhân vật trong tác phẩm và cũng không phù hợp lắmvới đặc điểm thể loại của tác phẩm (sử thi là thể loại thoát thai từ thần thoại vàgần với truyền thuyết) Vì vậy, chúng tôi đề xuất “tiêu chí xuất thân” để làm căn
Đăm Săn là một thiên sử thi tuy không đồ sộ nh Iliat và Ôđixê của Hy
Lạp hay Mahabharata và Ramayana của ấn Độ, chỉ vẻn vẹn 54 trang (theo
bản dịch của Đào Tử Chí) nhng nó đã thể hiện đợc cả quá trình vơn lên chế
Trang 23ngự thiên nhiên, mở rộng địa bàn, phát triển xã hội của cộng đồng ngời Êđêvới những kết cấu giai tầng khác nhau:
- Thuộc tầng lớp trên, ta có: Đăm Săn, những ngời cùng giai tầng với
Đăm Săn: Hơnhí, Hơbhí, Hơâng, Hơlí, Mtao Mxây, Mtao Gr…
- Thuộc tầng lớp trung gian (nhân dân lao động tự do): Ngời bán chiêng(y Đam), ngời thợ rèn, trẻ em, gái làng…
- Thuộc tầng lớp dới: Tôi tớ của Đăm Săn, của Mtao Mxây, của Mtao
Gr nh: ySu, yLa, yPui…
Tính chất giai tầng của xã hội ngời Êđê thể hiện trong tác phẩm chochúng ta thấy thời điểm ra đời Đăm Săn Đó chính là khi xã hội cộng sản
nguyên thủy tan rã và thay vào là sự hình thành một xã hội mới- xã hội t hữu
về t liệu sản xuất Tính chất bình đẳng dân chủ trong xã hội cũ không còn,thay vào là tính chất bóc lột, cai trị Đăm Săn, Mtao Mxây, Mtao Gr… lànhững ngời nắm t liệu sản xuất, có quyền sai bảo, bóc lột sức lao động củatôi tớ, của nhân dân lao động tự do Tất nhiên, tính chất này giữa Đăm Săn vàcác tù trởng khác là khác nhau
ở Đăm Săn, ranh giới với tôi tớ là rất ngắn, dờng nh không có khoảngcách:
Hai chị em đến làng Đăm Săn Họ thấy mấy ngời tôi tớ giã gạo, liền hỏi: Hơnhí: ơ các con! Nhà tù trởng của các con ở đâu?
Bọn tôi tớ: Làm gì có tù trởng! Suối nớc cũng nh chúng tôi (ý nói tù trởng cũng là chúng tôi- ND).
Ngay cả khi gọi tôi tớ, Đăm Săn cũng dùng giọng mật thiết: ơ các con!.
Không chỉ với tôi tớ mình, mà tôi tớ của những tù trởng đối địch đã
c-ớp vợ mình (nghĩa là lăng nhục danh dự mình), Đăm Săn cũng dùng chính
đức độ của một tù trởng đích thực để đối xử:
Nói chơi vậy, chứ ta bắt làm gông và cùm làm gì? Ta chỉ chặt gãy những cột nhà của chủ các con là đợc rồi- Đoạn Đăm Săn đánh Mtao Gr.
Trang 24Đây chính là đạo đức sáng ngời của ngời anh hùng lí tởng trong xã hộilúc bấy giờ Một ngời anh hùng nh Đăm Săn là nguyện vọng, là khát khaocủa nhân dân, của bộ tộc: Ngời anh hùng ấy có thể dẫn dắt cộng đồng chiến
đấu chống lại thiên nhiên, chống lại các thế lực thù địch xâm phạm và hếtlòng yêu thơng kẻ dới Khoảng cách đó tạo nên biểu tợng ngời anh hùng tậpthể, hòa trong cộng đồng
Với một số lợng nhân vật ngời đông đảo, có những nhân vật có tên:
Đăm Săn, Mtao Mxây, Mtao Gr…; có những nhân vật không tên nh: Trẻ em,gái làng, dân làng… Cùng những cuộc chiến tranh giữa “tập thể chúng ta”với “tập thể chúng nó” đã tạo cho tác phẩm có tính chất hào hùng, hoànhtráng, mang đậm âm hởng Tây Nguyên oai hùng
Miêu tả đoàn quân của Đăm Săn cớp lại vợ từ tay Mtao Mxây, tác giảviết:
Họ ra đi, ngời đông nh đám mây, xám nh dây khuya, đông nh mối
nh kiến.
Cuộc chiến đấu giữa ngời anh hùng Đăm Săn và Mtao Mxây đợc tácgiả đặt trong không gian rộng lớn, mênh mông (ba dãy núi, ba tổng) Đấychính là không gian chiến trận, chiến trờng với những giáo mác, cung tên;tiếng khiên của hai tù trởng kêu tok kroh nh hạt êian giữa tiếng gió thổi vù
vù và đoàn quân hò reo không ngớt Sử dụng hàng loạt những phép so sánh
mà yếu tố đem ra so sánh lại chủ yếu là cây cỏ, núi rừng Tây Nguyên; kếthợp những câu văn ngắn dài đan cài cùng cách nói ngoa dụ, phóng đại chính
là đặc trng riêng, hết sức độc đáo của thiên sử thi này
Có thể nói, với số lợng nhân vật ngời đông đảo và đa dạng nh vậy, bớc
đầu nó đã khẳng định bản chất, đặc trng của sử thi: Mặc dù thoát thai từ thầnthoại nhng không nh thần thoại chủ yếu là câu chuyện về các vị thần, thầnchiếm vị trí trung tâm, con ngời gần nh không xuất hiện, có chăng chỉ làthoáng qua; sử thi lại là những câu chuyện về ngời, những câu chuyện khẳng
định bản lĩnh ngời, khẳng định chữ nhân (λ) con ngời Mà ở đây là câuchuyện về ngời anh hùng Đăm Săn trong quá trình vơn lên thực hiện khát
Trang 25vọng của cộng đồng hay rộng hơn là câu chuyện của ngời Êđê trong thời kỳsơ khai muốn bảo vệ, phát triển bộ tộc mình.
Thực ra, trong hệ thống nhân vật ngời, còn một nhân vật hết sức đặcbiệt, đó là: Nhân vật ngời kể chuyện- chính là nghệ nhân kể Khan vì sử thitồn tại trên hình thức diễn xớng Tuy nhiên, nhân vật này nằm ngoài tácphẩm nên chúng tôi không tiện khảo sát
Do đặc trng thể loại: Thoát thai từ thần thoại nên trong tác phẩmkhông thể thiếu vắng hình ảnh thần
- Trời chống gậy hèo đến thu xếp việc cới hỏi giữa Hơnhí, Hơbhívới Đăn Săn
- Trờ lấy ống điếu gõ vào đầu Đăm Săn, buộc Đăm Săn phải lấyHơnhí, Hơbhí…
- Trời bày cho Đăm Săn cách giết chết Mtao Mxây
- Trời thả xuống một cây thang
Nữ thần mặt trời đợc miêu tả cụ thể, kĩ càng hơn Trong tác phẩm cócả một chơng Đăm Săn đi bắt nữ thần mặt trời Thế nhng, mặc dù nữ thần đ-
ợc miêu tả khá kĩ: Từ trang phục váy nàng nhấp nhánh nh chớp sáng đến
mái tóc chải bóng che xuống hai tai, dáng đi nh chim diều bay…nh nớc chảy êm đềm rồi tiếng nói: Tiếng nàng nghe rõ, cổ nàng đẹp nh cổ con Công song sự xuất hiện của nữ thần chỉ có một tác dụng duy nhất là làm nổi
Trang 26bật Đăm Săn, nổi bật tố chất anh hùng nơi ngời tù trởng Đầu đội khăn kép, vai mang túi da này Vì vậy, ấn tợng để lại trong lòng ngời đọc sau khi tìm
hiểu đoạn trích Đăm Săn đi bắt nữ thần mặt trời không phải là một hình ảnh
nữ thần đẹp chói ngời hay sự giàu có của nàng mà là hình ảnh một ngời anhhùng dám vợt qua mọi thử thách khắc nghiệt để chiếm lấy đỉnh cao vinhquang, chiếm lấy những giá trị tuyệt đích của cuộc sống Điều này khẳng
định: Thế giới quan lúc này không còn là thế giới quan thần linh nữa mà đãchuyển sang nhân sinh quan đích thực của cuộc sống trần tục
Tính chất đó còn thể hiện rất rõ ở chỗ: Trong tác phẩm, thần đợc miêutả gần nh không có sự cách biệt với con ngời; từ lời ăn tiếng nói đến hành
động Đặc biệt là cách kết cấu nơi ăn, chốn ở; cách sắp xếp, tổ chức cuộcsống: ở chỗ nữ thần mặt trời cũng có chiêng núp, chiêng bằng; cũng có cối,chày giã gạo:
Anh thấy cái nhà nữ thần mặt trời ở Thang lên nhà là một cầu vồng Cối giã gạo bằng vàng Chày cũng bằng vàng…Anh ngắm nghía nhà to, ngắm voi quanh sân nhà, trong nhà đầy chiêng núp và chiêng bằng.
Tất cả những vấn đề trên, khẳng định quá trình vơn lên làm chủ thiên nhiên,làm chủ vận mệnh mình của con ngời Con ngời không còn bị lệ thuộc vào thầnthánh “T duy thần thoại” đã chuyển sang “t duy sử thi”
2.2 Đăm Săn- Nhân vật trung tâm thể hiện chủ đề tác phẩm
2.2.1 Đặc điểm nhân vật
Cùng với Asin của Hy Lạp, Rama của ấn Độ thì Đăm Săn của ViệtNam cũng góp phần khẳng định đặc điểm của ngời anh hùng sử thi Đấy lànhững ngời anh hùng lí tởng, ngời anh hùng của sự toàn vẹn toàn mĩ mà sứcmạnh của họ gắn liền với “cuống nhau của cộng đồng”; tất cả những hành
động của họ nhằm phục vụ cộng đồng
Đăm Săn có sức mạnh phi thờng Sức mạnh đợc hun đúc nên từ khíthiêng núi rừng Tây Nguyên, từ dòng huyết gia đình, từ ngay trong lòng mẹ.
Sức mạnh đó phô ra ở ngoại hình:
Trang 27Mặt Đăm Săn đỏ nh hừng hơi men, hay vì giận dữ Lúc anh cời, miệng đỏ
nh da gang Môi mỏng nh lá tỏi Cổ trơn tru nh quả cà chín…Râu cằm anh mềm dẻo nh dây guôi pàng [….] Chân chàng to bằng xà nhà, đùi to bằng ống bệ Chàng khỏe nh con voi đực; hơi thở nh sấm vang Nằm xuống sàn nhà thì gãy cả sàn nhà Về trang phục thì chàng là ngời anh hùng mà ai cũng biết đến danh tiếng
với đầu đội khăn kép, vai mang túi da.
Sức mạnh của Đăm Săn còn thể hiện rất rõ trong hoạt động “anh hùngquân sự” (đánh thắng Mtao Mxây, Mtao Gr, những tù trởng gian hùng); cũng nhtrong hành động “anh hùng văn hóa” (dạy cho dân làng làm rẫy, đốn cây)
Đấy là sức mạnh của lòng dũng cảm, của sự kiên cờng không khuấtphục trớc những khó khăn, nguy hiểm của cuộc sống: dẫu là lùng bắt voi dữ(chơng 2) hay đốn chặt cây thần (chơng 4); dẫu là giao tranh với kẻ địch gianhùng hay sấn sổ tấn công trời Và tố chất đó đợc đẩy đến mức đỉnh điểm khi
Đăm Săn quyết tâm đi bắt nữ thần mặt trời Nếu chiến đấu với Mtao Mxây,Mtao Gr, Đăm Săn còn có dân làng bên cạnh; hơn thế những tù trởng ấy dùsao cũng là con ngời, những khó khăn trớc mắt Đăm San có thể lờng trớc đ-
ợc Còn đi bắt nữ thần mặt trời, Đăm Săn trắng tay, không có sự ủng hộ củacộng đồng, nữ thần lại là con của trời và đất; những khó khăn chàng khôngsao có thể nắm bắt hết đợc Vậy mà, Đăm Săn quyết tâm Cái quyết tâm cóphần ngông cuồng, thể hiện cá tính tự do nơi chàng: Tôi muốn đi đến nơi nào tôi muốn nhng cũng thật đáng trọng Đáng trọng ở khát khao chính
đáng của ngời anh hùng Đấy là khát vọng về sự giàu sang tột cùng, về sứcmạnh tột đỉnh và về sự vơn lên chiếm lĩnh những giá trị thẩm mĩ cao đẹp củacuộc sống:
Tôi muốn đi bắt nữ thần mặt trời Nh vậy mới trở thành tù trởng hết sức giàu mạnh, có nhiều chiêng núp, chiêng bằng, trên đời không ai bì kịp Ngời Lào cũng không hơn ngời Mnông cũng không dám sánh Lúc đó, tôi
đến đâu tre alê cũng phải cúi xuống Tôi đến đâu, tre mơô phải khô Tôi
đến đâu núi sẽ vỡ, suối tan Tại sao tôi muốn đi? Tôi nghe nói trong tất cả
Trang 28các thần linh ở núi, từ Tây sang Đông thì nữ thần mặt trời là ngời đẹp nhất, bắp chân nàng tròn, váy nàng đẹp tuyệt vời.
Bao khát khao, bao lí tởng, bao lòng dũng cảm, hùng cờng nơi ngờianh hùng Đăm San có lẽ dồn cả ở câu nói này, ở khúc đoạn này
Và Đăm Săn nhập cuộc, Đăm Săn lên đờng, đi qua rừng âm u, trèo qua núi rậm Cỏ tranh cắt nát tay anh Mây cắt nát chân anh Anh không
có một thứ gì để ăn uống Anh cứ đi, đi mãi, càng đi càng thấy rừng vắng
nh không có ai ở.
Cuối cùng chàng phải nhận lấy cái chết đau đớn trong rừng sáp đen
của bà Sun Yrit Cái chết của Đăm Săn là cái chết của sự tách khỏi cộng
đồng Mặc dù không đợc vợ ủng hộ, không đợc dân làng đồng tình, cả ngờibạn thân cũng can ngăn nhng Đăm Săn không nghe Mặt khác, đi bắt nữ thầnmặt trời, ở Đăm Săn còn có một chút gì đấy là mục đích cá nhân: tôi muốn
có hai vợ lẽ, tôi muôn có một vợ thật đẹp Mà ngời anh hùng sử thi đòi hỏi
phải hoàn toàn là con ngời của cộng đồng, không thể có một chút gì là cánhân, vụ lợi ngay cả chuyện vợ con, cới hỏi cũng vậy Hơn thế, nếu bắt đợcnữ thần mặt trời về làm vợ thì trên đất lợn gà sẽ chết Tê giác, trâu, bò, lừa, ngựa chết hết Ngời Miên, ngời Lào cũng sẽ chết hết Sẽ không còn đất để làm nơng rẫy Ngời Êđê sẽ không còn nớc uống, cây cối sẽ không còn ra trái Vì vậy, cái chết của Đăm Săn là tất yếu
Nhng Đăm Săn chết mà không chết bởi sự nghiệp hiển vinh của chàngvẫn còn và khát vọng của chàng vẫn còn đấy Vì vậy, Đăm Săn đã biến thànhcon ruồi , đầu thai vào chị mình sinh ra Đăm Săn cháu tiếp nối sự nghiệp củacậu
2.2.2 Những phơng thức biểu hiện nhân vật
Có thể nói, nhân vật Đăm Săn hiện lên một cách sinh động không phải
là một sự ngẫu nhiên mà tác giả dân gian đã sử dụng hàng loạt những biệnpháp nghệ thuật thể hiện nhân vật ở đây, chúng tôi xin khảo sát một số biệnpháp điển hình:
Trang 29- Đăm Săn cuốn vào ngời một cái khố màu sặc sỡ nh hoa kơu, chít trên
đầu một cái khăn màu ême.
- Mặt Đăm Săn đỏ nh hừng hơi men, hay vì giận dữ Lúc anh cời, miệng đỏ nh da gang…râu cằm mềm dẻo nh sợi guôi pàng.
- Dáng đi của anh thì thoăn thoắt nh con rắn prao huê.
Sử dụng hàng loạt những phép so sánh, ví von mà những vật đợc đem ra
so sánh lại hết sức Tây Nguyên chính là nét nổi bật của tác phẩm, làm tácphẩm mang đậm âm hởng Tây Nguyên, làm nhân vật cũng khoắc trên mìnhbản chất khỏe khoắn của con ngời nơi đây
Biện pháp so sánh không chỉ đợc tác giả sử dụng khi miêu tả nhân vật
Đăm Săn mà còn đợc sử dụng ở nhiều nhân vật khác Chẳng hạn nh đoạnmiêu tả Hơnhí:
Thân mình nàng óng ánh nh miếng thép trên cái khiên Một làn tóc bay phấp phới nh đuôi chim phợng…búi tóc trơn lánh to hơn núp chiêng.
Còn miêu tả phong thái của nữ thần mặt trời thì :
Váy nàng nhấp nhánh nh chớp sáng…Dáng đi nh chim diều bay, nh chim phợng hoàng liệng, nh nớc chảy êm đềm.
Vật hóa để rồi cụ thể hóa tất cả mọi thứ, từ những cái có thể nắm bắt
đợc đến những cái thuộc về xúc giác, tinh thần Đấy chính là điểm độc đáocủa sử thi Đăm Săn Ngay cả vẻ đẹp con ngời cũng có thể đem ra định lợng,
cân đong đo đếm, tính toán đợc:
Trang 30Hơbia ngồi xuống chiếu Trong lúc đó thì Đăm Săn đứng ngắm nghía
và so sánh Anh so sánh Hơlí với Hơâng và thấy Hơâng đẹp hơn chừng ba ngón tay Anh so sánh Hơbhí với Hơâng và thấy Hơâng đẹp hơn chừng ba
đốt ngón tay Anh so sánh Hơbhí với Hơnhí và thấy Hơnhí đẹp hơn chừng
ba ngón tay Anh so sánh Hơnhí với Hơbia và thấy Hơnhí đẹp hơn chừng
ba ngón tay.
Thật mộc mạc, giản dị, thẳng thắn nh chính tâm hồn ngời Tây Nguyên!Tóm lại, so sánh, ví von vốn là một biện pháp không mới và cũngkhông có gì độc đáo cả; nhng xuất hiện trong Đăm Săn với những cách thức
nh trên, ta thấy nó trở thành một biện pháp hết sức đặc biệt Nó góp phần làmnổi bật ngời anh hùng Đăm Săn, đồng thời tạo cho tác phẩm có những nét
độc đáo riêng, nét Tây Nguyên riêng
2.2.2.2 Đặt nhân vật trong cái nhìn “đa trị“
Biện pháp này thờng xuyên đợc sử dụng trong sử thi; ta có thể thấy rất
rõ trong Iliat, Ôđixê và nó cũng hết sức nổi bật trong Đăm Săn.
Nhân vật anh hùng Đăm Săn đợc soi chiếu từ nhiều góc độ, nhiềuchiều kích khác nhau khiến nhân vật hiện lên một cách rõ ràng, khách quan
ở phơng diện chủ quan tức sự tự nhận thức, ta thấy Đăm Săn luôn có
Trang 31c-thử thách của cuộc sống: Thuần phục voi dữ, làm rẫy, chiến thắng tù trởnggian hùng Mtao Gr….
Sự hùng cờng, anh dũng đấy không chỉ là sự tự nhân thức về mình của
Đăm San mà đó còn là sự đánh giá của dân làng:
Và ngời ta bàn tán không cùng, bàn rằng Đăm Săn quả thật là một tù trởng oanh liệt, dũng cảm hùng cờng, cho đến nỗi mệt ngất đi cũng không
hề chịu lùi bớc.
Đây chính là những lời ngợi ca xứng đáng cho một con ngời nh ĐămSăn- một con ngời đã vợt qua bao khó khăn của cuộc sống để đa dân làng đếnbến bờ yên vui, hạnh phúc
Một tù trởng oanh liệt, dũng cảm, hùng cờng- đấy là Đăm Săn Tiếng
tăm của chàng khiến cái chết cũng không thể nào xóa đợc:
ơ anh! Anh nh cây đa to lớn Không có chỗ nào có ngời tù trởng oanh liệt
nh anh Từ vùng ngời Bih đến vùng ngời Mnông không có ai nh anh.
Và không chỉ ngời mà đến thần thánh cũng phải công nhận, trầm trồ,thán phục chàng:
Tha bà chúng tôi không biết Ngời ấy mặc một cái áo da Lông chân mịn nh chuôi dao Giọng nói nh tiếng ve sầu So với tất cả các tù trởng không có ai giống nh thế.
Quả là sự đánh giá của Đăm Săn về mình và sự đánh giá của mọi ngời
về chàng không có gì chênh lệch Tất cả đều thống nhất: Đăm Săn là một
ng-ời anh hùng, dũng cảm, lòng đầy khát khao vơn lên, một con ngng-ời từ ngoạihình đến phẩm chất đều “tơng xứng với vị trí hiển quý của nó” [9, tr.54] Nhờbiện pháp này, nhân vật hiện lên một cách sinh động, chân thực, tạo đợc sựtin tởng tuyệt đối của độc giả, thính giả
2.2.2.3 Một số yếu tố cộng hởng
Đây cũng là một biện pháp hết sức độc đáo mà tác giả đã sử dụng.Trong tác phẩm, có nhiều yếu tố cộng hởng góp phần làm nổi bật nhân vật
Trang 32Đấy chính là âm thanh tiếng chiêng mà nh Hoàng Ngọc Hiến đã khẳng
định trong bài viết: “Trong tác phẩm, môtíp tiếng chiêng cứ lặp đi lặp lạixuyên suốt bài ca Điều này không chỉ phản ánh một đặc điểm sinh hoạt dântộc Nó còn có một chức năng nghệ thuật độc đáo Tiếng tăm của ngời anhhùng vang lừng khắp nơi cùng với tiếng chiêng” [9, tr.56]
Đấy là hình ảnh ngôi nhà Rông Ngôi nhà biểu tợng cho sự giàu sangcủa Đăm Săn:
Hiên trớc dài bằng hơi thở con ngựa chạy Gái làng giã gạo, tiếng chày cối không ngớt…Vải sợi nặng trĩu làm cong các sào phơi Vải đen vải trắng, vải đủ các màu phơi cùng sào ngời ta ăn thịt bò và thịt trâu Thịt treo tối cả chỗ ngồi Sờn nhà đều chạm trổ Cầu thang rộng bằng chiếc chiếu…thật là nhà một tù trởng giàu mạnh.
Và đấy còn là hình ảnh cái khiên của chàng Cái khiên biểu tợng chosức mạnh quân sự của ngời anh hùng:
ánh sáng của chiếc khiên chói lọi nh đèn đuốc Và khi ra trận, tiêu
diệt quân thù thì nó nh một con sao băng cắm sâu vào đùi của Mtao Gr, nó
nh mũi sao băng sáng ngời trên đùi Mtao Mxây.
Nhờ những yếu tố cộng hởng góp phần làm nổi bật hơn tố chất ngờianh hùng Đăm Săn trên cả hai phơng diện: “Anh hùng văn hóa” và “anhhùng quân sự”
Ngoài những biện pháp nghệ thuật trên, tác giả còn sử dụng nhiều
ph-ơng thức khác để làm cho nhân vật thêm sinh động nh: Phóng đại, kết hợpcác câu văn ngắn dài khác nhau…Tuy nhiên, do điều kiện khách quan và chủquan nên chúng tôi không đi vào tìm hiểu những phơng thức này
Trang 33
Chơng 3: Cốt truyện
1 Khái niệm cốt truyện
Cùng với sự ra đời của bộ môn “Thi pháp học” (từ thời Aixtôt), kháiniệm cốt truyện cũng dần đợc hình thành và đợc các nhà lí luận chủ nghĩa cổ
điển minh định rõ Theo họ, cốt truyện nào cũng có tính thống nhất, bắt đầu
từ một trạng thái ổn định, thăng bằng, sau đó xảy ra hỗn loạn, cuối cùng làtrạng thái thăng bằng Ngời ta biểu diễn cốt truyện đó bằng sơ đồ chữ “V”ngợc nh sau:
A là điểm mở đầu, manh nha truyện; B là xung đột tăng tiến, dồn dập; C làcao trào, đỉnh điểm; D là kết thúc, trở lại trạng thái thăng bằng Quan điểm này đãtổng kết mô hình cốt lõi truyện và đến này vẫn còn ý nghĩa
Tuy nhiên, nhợc điểm của nó là tính sơ lợc, cha bao quát đợc tất cả cáccốt truyện của các tác phẩm Tác phẩm văn học là một nghệ thuật nên nóluôn đòi hỏi sự sáng tạo của ngời nghệ sĩ, trong đó có sự sáng tạo cốt truyện;vậy mà quan điểm này lại không cho chúng ta thấy rõ điều đó
Vì vậy, để đi vào tìm hiểu cốt truyện của sử thi Đăm Săn- Êđê, chúng
tôi xin sử dụng khái niệm cốt truyện trong Từ điển thuật ngữ văn học của Lê
Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi làm tiền đề:
“Cốt truyện nh là toàn bộ các biến cố, sự kiện đợc nhà văn kể ra, là cái
mà ngời đọc có thể kể lại (histoire)” [8, tr.88]