1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu trong tạp văn của nguyễn khải

73 718 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Đặc Điểm Ngôn Ngữ Tiêu Biểu Trong Tạp Văn Của Nguyễn Khải
Tác giả Lã Thị Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Mậu Cảnh
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Học
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 227 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời nói đầuĐề tài khoá luận mong muốn tìm ra một số đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu trong tạp văn của Nguyễn Khải, trên cơ sở đó chỉ ra đợc phong cách riêng của nhà văn ở thế lọai văn học nà

Trang 1

Trờng Đại học Vinh khoa ngữ văn

- -Lã thị thuỷ

một số đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu trong tạp văn của

nguyễn khải

khoá luận tốt nghiệp đại học

ngành cử nhân s phạm ngữ văn

VInh - 2006

Trang 2

Trờng Đại học Vinh khoa ngữ văn

- -một số đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu trong tạp văn của

Trang 3

Mục lục

Trang

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài 02

2 Lịch sử vấn đề 02

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 04

4 Mục đích nghiên cứu 04

5 Phơng pháp nghiên cứu 05

6 Cấu trúc luận văn 05

Chơng I Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài 06

I Văn bản nghị luận và văn chính luận 06

1 Văn bản nghị luận 06

2 Văn chính luận và tạp văn 07

II Văn chính luận và tạp văn của Nguyễn Khải 13

1 Nhận xét chung 13

2 Tạp văn Nguyễn Khải 13

3 Một số nhận xét về tạp văn Nguyễn Khải 16

Chơng II Đặc điểm về từ ngữ, câu văn trong tạp văn của Nguyễn Khải 18

I Đặc điểm từ ngữ 18

1 Những ý kiến đánh giá về tạp văn của Nguyễn Khải 18

2 Đặc điểm về từ ngữ trong tạp văn của Nguyễn Khải 20

II Đặc điểm câu văn 30

1 Khái niệm câu 30

2 Đặc điểm câu văn trong tạp văn của Nguyễn Khải 32

Chơng III Cách thức tổ chức đoạn văn trong tạp văn của Nguyễn Khải 48

I Đoạn văn 48

1 Khái niệm 48

2 Phân loại đoạn văn 50

II Đoạn văn trong tác phẩm tạp văn của Nguyễn Khải 52

1 Xét về dung lợng 52

2 Các loại đoạn văn 53

3 Đặc điểm về cách ngắt đoạn văn trong tạp văn của Nguyễn Khải 59

4 Cách thức lập luận trong tạp văn của Nguyễn Khải (xét trong phạm vi đoạn văn) 73

Kết luận 79

Tài liệu tham khảo 82

Trang 4

Lời nói đầu

Đề tài khoá luận mong muốn tìm ra một số đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu trong tạp văn của Nguyễn Khải, trên cơ sở đó chỉ ra đợc phong cách riêng của nhà văn ở thế lọai văn học này Đây là một h- ớng khai thác mới trong nghiên cứu về văn xuôi của Nguyễn Khải Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi gặp không ít khó khăn trong việc su tầm tài liệu cũng nh định hớng khai thác Trong một thời gian có hạn, mặc dù có rất nhiều cố gắng song chắc chắn khoá luận còn nhiều khiếm khuyết, hạn chế Chúng tôi mong nhận đợc sự góp ý, chỉ bảo của thầy cô và các bạn.

Đề tài này hoàn thành ngoài sự cố gắng nỗ lực bản thân, còn nhờ sự hứơng dẫn tận tình, chu đáo của Thầy giáo PGS TS Phan Mậu Cảnh, sự góp ý chân tình của các Thầy, Cô giáo trong khoa

Trang 5

Ngữ Văn và sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè Nhân đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả!

đáo về nghệ thuật, về vai trò của văn học và trách nhiệm của ngời cầm bút.Với sức viết dẻo dai, bền bỉ, khả năng sáng tạo dồi dào, ông tạo nên dấu ấncho riêng mình trên từng trang viết và trong lòng độc giả Nói đến NguyễnKhải ngời ta thờng nói đến một nhà văn hiện thực với phong cách mang tínhtriết lý sắc sảo, có khả năng đi sâu khám phá những bí ẩn của đời sống vànhững khía cạnh phức tạp của tâm lý con ngời

Bên cạnh truyện ngắn, tiểu thuyết, Nguyễn Khải còn có những sáng tácthuộc thể loại bút ký, tạp văn gây đợc sự chú ý trong lòng độc giả trong nhữngnăm gần đây Tuy vậy, những ý kiến nhận xét, đánh giá cho các tác phẩm của

ông ở thể loại này vẫn cha nhiều, nhất là loại tạp văn

Với đề tài "Một số đặc điểm ngôn ngữ tiêu biểu trong tạp văn của Nguyễn Khải”, chúng tôi mong muốn góp phần làm rõ sự độc đáo trong

phong cách nghệ thuật của ông trong việc sử dụng ngôn ngữ Đồng thời gópthêm một cái nhìn, một chút hiểu biết về những tác phẩm của nhà văn ở thểloại này, thêm một lần nữa khẳng định cái độc đáo, cái đặc sắc trong lĩnh vựcvăn xuôi nói chung, tạp văn nói riêng của Nguyễn Khải

2 Lịch sử vấn đề

Những công trình bàn về thể loại tạp văn của Nguyễn Khải cha nhiều,cha thu hút đợc sự quan tâm cần thiết, đúng mức của giới nghiên cứu Nhữngnhận xét, đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Khải chủ yếu dành cho lĩnh vực

Trang 6

truyện ngắn, tiểu thuyết còn văn chính luận thì thảng hoặc chỉ có một vài bàiviết lẻ tẻ in trên báo Nhân Dân, Tạp chí Văn học…

Hớng nghiên cứu chung các sáng tác của Nguyễn Khải bao gồm: tiểu thuyết,truyện vừa, kịch, tạp văn, truyện ngắn ở hớng này có các bài viết tiêu biểu sau: "Đặc điểm ngòi bút hiện thực của Nguyễn Khải" của tác giả Chu Nga(Tạp chí văn học số 2-1974); "Vài đặc điểm phong cách nghệ thuật NguyễnKhải” (trích chơng XV sách Văn học Việt Nam 1954-1975 tập II- NXB GiáoDục 1990); "Cảm nhận về con ngời trong sáng tác của Nguyễn Khải nhữngnăm gần đây” của Nguyễn Thị Thu Huệ (Tạp chí diễn đàn Văn nghệ ViệtNam tháng 10-1999),"Thế giới nhân vật của Nguyễn Khải trong cảm hứngnghiên cứu phân tích” của Đào Thuỷ Nguyên (Tạp chí Văn học số 11-2001)

và một số bài nghiên cứu của các tác giả khác

Điểm chung của những bài viết này là thờng nghiên cứu sáng tác của

Nguyễn Khải dới góc độ lý luận văn học Chẳng hạn: "ở Nguyễn Khải nổi bật

lên khuynh hớng văn xuôi hiện thực tỉnh táo giàu yếu tố chính luận và tính thời sự Cách viết của Nguyễn Khải nói chung là linh hoạt, năng động, không

bị gò bó, phụ thuộc nhiều vào khuôn mẫu sẵn có” (Văn học Việt Nam

1945-1975, tập II.(1990) NXB Giáo Dục)

Đặc biệt ở thể loại truyện ngắn, có rất nhiều bài viết sâu sắc của giớinghiên cứu Đó là những bài"Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn NguyễnKhải’’ của Bích Thu (Tạp chí Văn học, số 10,1997),"Mùa Lạc- một thành côngmới của Nguyễn Khải" của tác giả Nguyễn Thành Duy (Tạp chí nghiên cứu Vănhọc, số 6, 1961),"Phơng pháp tìm tòi của Nguyễn Khải qua tập Mùa Lạc” của

Nh Phong (Bình luận văn học, NXB Hội nhà văn Hà Nội, 1977) và tập trung nhất

là ở công trình"Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải” của Nguyễn Tuyết Nga(NXB Hội nhà văn 2004) Đánh giá sáng tác của Nguyễn Khải, có ngời nhận xét:

"Văn Nguyễn Khải không màu mè, không thiên về tả trời mây non nớc Bắt đầu vào trang viết là gặp ngay nhân vật, biến cố, sự kiện theo đó là sự giăng mắc suy tởng, ký ức, cảnh ngộ, những lẽ đời, lòng mình và lòng ngời Văn ông vì thế thật giàu chiêm nghiệm, sự lịch lãm trải đời" (Nguyễn Hữu Sơn, (1990), Đọc truyện

ngắn và tạp văn Nguyễn Khải, báo Nhân Dân)

Mặc dù vậy, một công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về văn chínhluận của Nguyễn Khải đặc biệt là ở phơng diện ngôn ngữ, theo các tài liệu màchúng tôi khảo sát, vẫn còn rất ít ỏi Thể loại bút ký, tạp văn của ông có thể kể

đến hai bài nghiên cứu tiêu biểu, đó là:"Nguyễn Khải với bút ký, tạp văn” củaNguyễn Tuyết Nga (tạp chí Văn học số 11, 1999), "Đọc truyện ngắn và tạp

Trang 7

văn Nguyễn Khải" của Nguyễn Hữu Sơn (Báo Nhân Dân, 27-2-1999) Cả haibài viết này đều thống nhất ở luận điểm: Tạp văn của Nguyễn Khải đề cập đếnnhiều vấn đề trong xã hội: Lối sống, đạo đức xã hội, phẩm chất của con ngờihôm nay, mối quan hệ giữa đời sống chính trị đất nớc với cuộc sống của từngcá nhân, tình cảm của từng gia đình dòng họ hay những giới hạn của cuộc đờimỗi con ngời và khả năng vợt qua giới hạn đó…là những vấn đề mà Nguyễn

Khải rất quan tâm Nhng nhà văn đã từ "những đầu đề, đề tài, cốt truyện ban

đầu ngỡ nh chẳng có gì …chuyển hoá một cách dung dị trong chuyển hoá một cách dung dị trong tơng quan với

nội dung thời sự, thế sự" Chính vì vậy, tạp văn của ông mang dáng dấp của

những câu chuyện nhỏ nhặt thờng ngày song lại có sức chuyển tải những vấn

đề lớn

Những nội dung thời sự, thế sự, những vấn đề bức thiết mà toàn xã hộiquan tâm theo dõi, đòi hỏi nhà văn cùng góp sức trả lời, giải toả ấy đã đợc nhàvăn thuật lại bằng một giọng điệu vừa có tính triết lí, tranh biện, vừa cà kê,vừa sắc sảo, vừa tinh tế, vừa hóm hỉnh Đó chính là một trong những nét độc

đáo của Nguyễn Khải trong mảng sáng tác này

Có thể nói, những nghiên cứu về văn xuôi Nguyễn Khải khá nhiều,song sự nhận xét, đánh giá về mảng văn chính luận nhất là loại tạp văn của

ông lại rất ít, mặc dù ngay từ khi ra đời nó đã gây xôn xao d luận và thu hút

đ-ợc sự chú ý của độc giả Chính vì vậy, trên cơ sở những ý kiến đánh giá củanhững ngời đi trớc, chúng tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu thêm về vănchính luận của Nguyễn Khải để góp thêm một tiếng nói cụ thể khẳng định tàinăng của ông trong thể loại này

3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Trên cơ sở vận dụng các kiến thức lí thuyết ngôn ngữ, lí luận văn học,chúng tôi nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ ở 60 bài tạp văn của Nguyễn Khải đ-

ợc tập trung trong cuốn:"Nguyễn Khải, tạp văn" do nhà xuất bản Hội nhà văn

ấn hành năm 2004

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Có nhiều vấn đề đặt ra cần tìm hiểu về ngôn ngữ, nhng trong khuôn khổluận văn này, chúng tôi xác định nhiệm vụ giới hạn khảo sát đặc điểm ngônngữ ở những nội dung cơ bản sau:

Trang 8

- Khảo sát, phân tích các đặc điểm về từ ngữ, câu văn trong tạp vănNguyễn Khải

- Tìm hiểu cách thức tổ chức đoạn văn trong tạp văn của Nguyễn Khải

4 Mục đích nghiên cứu

Trong giới hạn nhiệm vụ nghiên cứu của khoá luận, chúng tôi mongmuốn đạt đợc mục đích cuối cùng là chỉ ra đợc những nét độc đáo, đặc sắc củaNguyễn Khải trong việc sử dụng ngôn ngữ ở thể loại tạp văn

5 Phơng pháp nghiên cứu

- Phơng pháp thống kê, phân loại: Trên cơ sở thống kê số lợng các lớp từngữ, các kiểu câu văn, đoạn văn xuất hiện ở mỗi tác phẩm chúng tôi phân loại

và quy chúng về những dạng cụ thể

- Phơng pháp phân tích, tổng hợp: Từ kết quả đã thống kê, phân loạichúng tôi tiến hành phân tích, tổng hợp để đi đến những kết luận cụ thể

- Phơng pháp so sánh, đối chiếu: Chúng tôi tiến hành so sánh sáng táccủa Nguyễn Khải với sáng tác của các nhà văn khác ở thể loại tạp văn để tìm

ra những đặc điểm tiêu biểu về mặt sử dụng ngôn ngữ của nhà văn

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm ba chơng:

Chơng I: Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài.

Chơng II: Đặc điểm từ ngữ, câu văn trong tạp văn của Nguyễn Khải

Chơng III: Cách thức tổ chức đoạn văn trong tạp văn của Nguyễn Khải.

Trang 9

th-I Văn bản nghị luận và văn chính luận

1 Văn bản nghị luận

Nghị luận là một từ Hán Việt Tác giả Nguyễn Lân trong"Từ điển văn

học" (1991, Nxb KHXH) thì"nghị luận: bàn bạc cho ra phải trái"

Tác giả Hoàng Phê trong"Từ điển văn học” (1992, Nxb KHXH): "nghị

luận là cách đánh giá cho rõ một vấn đề gì đó".

Theo cách giải thích trên thì: nghị luận chính là bàn bạc và đánh giá cho

ra phải trái về một vấn đề gì đó.Vấn đề đợc đa ra bàn bạc có thể là một vấn đềxã hội, chính trị, kinh tế, văn hoá, hoặc văn học nghệ thuật

Từ cách giải thích trên, các tác giả đã đa ra một cách giả thích về văn

nghị luận:"văn nghị luận: thể văn dùng lí lẽ phân tích giải quyết một vấn đề":

Thể văn này bắt nguồn từ một thể trong văn chơng cổ: thể luận Đây làmột thể văn điển hình nhằm trình bày t tởng và học thuyết chính trị, triết học,văn nghệ, lịch sử, đạo đức

Theo tác giả Trần Thanh Đạm (SGK Văn 10 chỉnh lý hợp nhất,2000) thìvăn nghị luận là một thể văn trong tập làm văn nh văn miêu tả, văn tự sự, văn

cảm tởng."Nếu bài văn thiên về trình bày các ý kiến, các lí lẽ thì nó đợc gọi là

lối văn nghị luận".

Các tác giả giải thích thêm"lối văn này không loại trừ mà bao gồm lối

văn cảm tởng và lối văn miêu tả, văn tự sự, khi cần thiết Song chủ yếu nó nằm trình bày ý kiến để giải thích chứng minh, biện luận, thuyết phục một vấn đề gì

đó Nó nhằm tác động vào trí tuệ và lý trí ngời đọc nhiều hơn vào cảm xúc, tình cảm hay tởng tợng Nó là sản phẩm của t duy logic

Trang 10

Theo các tác giả Bùi Minh Toán, Lê A"Văn bản nghị luận là kiểu văn

bản dùng để trình bày, bình luận, đánh giá theo một quan điểm nhất định những sự kiện, vấn đề chính trị, xã hội, t tởng, văn hoá …chuyển hoá một cách dung dị trong”(Tiếng Việt thực (Tiếng Việt thực hành.1997 Nxb.H)

Từ các cách hiểu trên, có thể đa ra định nghĩa:"văn bản nghị luận là văn

bản thuộc phong cách văn bản chính luận, dùng lý lẽ để trình bày,bình luận,

đánh giá theo một quan điểm nào đó những sự kiện, những vấn đề chính trị,văn hoá, văn học, nghệ thuật…chuyển hoá một cách dung dị trong”(Tiếng Việt thực

2 Văn chính luận và tạp văn

Văn chính luận là"thể văn nghị luận viết về những vấn đề nóng bỏng

thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hoá…chuyển hoá một cách dung dị trong”(Tiếng Việt thực ("Từ điển thuật ngữ văn học”(in lần thứ 2),1997, Lê Bá Hán, Nguyễn

Khắc Phi, Trần Đình Sử Nxb Văn học)

Nh vậy, văn chính luận thuộc kiểu văn bản nghị luận, là sự cụ thể hoácủa phong cách văn bản chính luận Nhng ở đây cũng cần phải nói thêm rằng,một văn bản chính luận nói chung chỉ có thể trở thành một tác phẩm chínhluận - tức có đủ t cách là một thành viên của "Gia đình văn học" khi nó đã hội

tụ đợc đầy đủ những điều kiện cần yếu Một trong những điều kiện tiên quyết

đó là: trình độ thẩm mỹ Khả năng chuyển hoá từ một bài văn chính luận thànhtác phẩm văn học có thể thấy từ các mặt: Trớc hết, xét về mặt cảm hứng củachủ thể đợc biểu hiện trong bài văn chính luận Ngời viết văn chính luận dĩnhiên trớc hết phải thông tin lý lẽ, bàn bạc vấn đề, nhng với tất cả nhiệt tình đểbảo vệ chân lý mà mình theo đuổi Lý trí, lý luận, lý lẽ ở đây đã đạt đến độnhuần nhuyễn, chín muồi, gắn bó chặt chẽ hoặc chuyển hoá thành tình cảm

Và bài văn chính luận, do đó đã tiếp cận quy luật của nghệ thuật, bởi vì "Nghệthuật vận dụng quy luật riêng của tình cảm" (Lê Duẩn)

Gắn liền với trên là tính hình tợng có mức độ trong bài văn chính luận.Sáng tác chính luận chủ yếu bằng t duy lôgic, không phải bằng t duy hình t-ợng Nhng xét từ trong bản chất, hai loại t duy này không thể hoàn toàn táchrời nhau, mà bổ trợ cho nhau Nói cách khác, trong bất kỳ bài văn chính luậnnào cũng ít nhiều vận dụng t duy hình tợng ở cấp độ chi tiết, bộ phận Tínhhình tợng ở những cấp độ này, gom góp lại, cũng góp phần làm nên sức mạnhthẩm mỹ của văn chính luận

Từ những điều trình bày trên có thể thấy, không phải bất cứ văn bảnchính luận nào cũng trở thành tác phẩm văn học, thậm chí có thể nói sựchuyển hoá này khi nào cũng chiếm tỷ lệ rất ít Một thao tác phân định nh vậy

Trang 11

giúp chúng ta có căn cứ khoa học hơn khi tiếp nhận những tác phẩm thuộc loạinày.

Nhắc đến tác phẩm văn học chính luận, ngời ta không thể không nói tớicác thể loại của nó Trong văn chính luận có rất nhiều thể: Hịch, cáo, chiếu,biểu, tuyên ngôn độc lập, th, bài báo, văn bia, văn tiểu phẩm … và cả tạp văn.Chúng đã vợt quá yêu cầu các tài liệu hành chính, quan phơng, báo chí thôngtấn để trở thành những áng "thiên cổ hùng văn" và hợp thành một lĩnh vực vănhọc nghệ thuật đặc thù có sự kết hợp tài tình giữa sự thực hiển nhiên, lôgic

đanh thép với cảm xúc mãnh liệt để trở thành các hiện tợng thẩm mỹ có sức lôicuốn sâu xa đối với tình cảm và lý trí con ngời

Khi văn chính luận đã đi vào gia đình các thể loại văn học thì cần thiếtphải tiếp tục tìm hiểu những đặc trng của nó Song, điều chúng tôi muốn nhấnmạnh ở đây là: Tạp văn là một thể loại của văn chính luận, bởi vậy khi nói vềnhững đặc trng của văn chính luận thì tức là cũng nói tới những đặc trng củathể loại tạp văn

2.1 Đặc trng của văn chính luận

Mục đích của văn chính luận (trong đó có tạp văn) là văn bàn bạc, thảoluận, phê phán hay truyền bá tức thời một t tởng, một quan điển nào đó nhằmphục vụ trực tiếp lợi ích cho một tầng lớp, một giai cấp nhất định Nói cáchkhác, chức năng của văn chính luận là thông báo, chứng minh, tác động.Khithực hiện chức năng này,văn chính luận có những đặc trng sau:

a) Tính trí tuệ

ở những văn bản có khuôn hình sẵn nh văn bản hành công vụ (các loạigiấy tờ, công văn …) ngời viết ít khi phải hoạt động t duy Còn các loại vănbản khác: văn bản khoa học, văn bản nghị luận, văn bản báo chí… ngời viếtphải có đầu t cao để suy nghĩ, lựa chọn…trong quá trình tạo lập văn bản Tínhtrí tuệ biểu hiện ở chỗ: ngời viết phải am hiểu vấn đề mình đang trình bày mộtcách sâu sắc, nắm vững các mối quan hệ vấn đề đó với vấn đề xung quanh Chỉhiểu sâu sắc, nắm vững thì mới phân tích đợc vấn đề một cách thấu đáo, thuyếtphục, chiếm đợc cảm tình ngời nghe, ngời đọc

Ví dụ:"Tuyên ngôn độc lập” (Hồ Chí Minh)

"Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng

có quyền sống, quyền sung sớng và quyền tự do”

Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm

1791 cũng nói:

Trang 12

"Ngời ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn đ ợc tự do

và bình đẳng về quyền lợi”

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi đợc

Thế mà, hơn tám mơi năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do,bình đẳng, bác ái, đến cớp đất nớc ta, áp bức đồng bào ta Hành động củachúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”

Để lật ngợc bản chất giả dối của bọn Thực dân Pháp, Tác giả"Tuyênngôn độc lập” đã đa ra hai dẫn chứng thuyết phục: đó là hai bản tuyên ngôn về

tự do và nhân quyền của chính kẻ xâm lợc nhằm đối lập nó với những hành

động thực tế của chúng đối với dân tộc Việt Nam Nhờ vậy mà thuyết phục

đ-ợc ngời nghe, ngời đọc

b) Văn bản chính luận có tính lập luận chặt chẽ, thuyết phục

Văn bản chính luận thờng nói, viết về một vấn đề có tính thời sự, thu hút

sự chú ý của ngời nghe, ngời đọc bằng chính nội dung t tởng của vấn đề Tuynhiên để mang lại cho ngời nghe, ngời đọc tập trung chú ý cao độ khi tiếpnhận văn bản, ngời viết phải có năng lực sử dụng ngôn ngữ thực thụ Năng lực

sử dụng ngôn ngữ cho phép ngòi ta sử dụng đợc các cách lập luận chặt chẽ,khả năng dùng từ ngữ thích hợp trong văn bản nghị luận Vấn đề đợc đa raphải đợc phân tích, giải thích bằng lí lẽ, bằng những căn cứ vững chắc dựa trêncơ sở khoa học xác đáng, rõ ràng

Biểu hiện của tính lập luận chặt chẽ ở chỗ: nội dung vấn đề đợc đa rabàn luận đợc chia thành nhiều luận điểm, mỗi luận điểm đợc tạo thành từnhiều luận cứ, các luận cứ đợc minh hoạ bằng nhiều dẫn chứng Muốn làm đợc

điều này, ngời tạo văn bản phải có kiến thức khoa học vững vàng, vốn ngônngữ phong phú để tác động vào tri thức, tình cảm của ngời nghe, ngời đọc

Điều đó buộc ngời tạo văn bản phải có một tình cảm, một thái độ nhất định đốivới vấn đề mình đang bàn Có khi, vấn đề đa ra là một vấn đề tâm huyết màngời tạo văn bản đã phải ấp ủ trong một quá trình lâu dài Nói cách khác, tácphẩm chính luận bao giờ cũng thể hiện khuynh hớng t tởng, lập trờng công dân

rõ ràng Tình cảm sôi sục, luận chiến công khai là những dấu hiệu quan trọngcủa phong cách chính luận

"Sự phản ánh chính luận bao giờ cũng đậm đà xúc cảm Biên độ cảm

xúc của nhà chính luận rất lớn Đó là sự tán thởng và niềm vui sớng, lòng căm thù và tức giận, trầm t và âu yếm Đó là sự hấp dẫn trong phân tích sự kiện và

đánh giá chính trị về các sự kiện đó" (D.M Priljuk - dẫn theo tác giả Phan Mậu

Cảnh, giáo trình"Ngôn ngữ học văn bản” ) "Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn

Trang 13

Trãi,"Hịch Tớng Sĩ" của Trần Hng Đạo là những áng"thiên cổ hùng văn" thểhiện rõ đặc điểm này.

c) Tính đại chúng.

Do nội dung của một văn bản nghị luận thờng la một vấn đề có tính thời

sự, đợc d luận quan tâm, nên phạm vi đối tợng giao tiếp của nó rất rộng Đối ợng của loại văn bản này có thể là những ngời cùng chuyên môn, cũng có thểbao gồm mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội Sự đa dạng về đối tợng, nội dungmục đích mà ngời viết muốn đa ra và đạt đợc buộc họ phải có những cách sửdụng ngôn ngữ phù hợp Vấn đề đa ra phải dễ hiểu, phải diễn đạt bằng từ ngữtrong sáng, cấu trúc câu văn đơn giản, rõ ràng mạch lạc

Nói cách khác, đặc trng của phong cách chính luận quy định việc lựa chọn

Do đối tợng tiếp nhận văn chính luận đông đảo về số lợng và đa dạng vềtrình độ Vì vậy ngôn ngữ trong thể văn này phải giản dị, chính xác, tránhnhững thể ngữ, tiếng lóng, tiếng địa phơng, khẩu ngữ, biệt ngữ…

b) Đặc điểm cú pháp.

Văn chính luận có xu hớng đi tìm những cách đặt câu mới mẻ Cónhững lối diễn đạt ngày nay đợc dùng trong nhiều phong cách nhng nó đã đợc

sử dụng lần đầu trong văn chính luận

Ví dụ:"Đảng ta là một Đảng lãnh đạo Đảng ta cần phải mạnh mẽ trong sạch” Hay đảo cấu trúc câu để làm nổi bật trạng ngữ chỉ cách thức:"Là một đảnglãnh đạo, đảng ta cần phải mạnh mẽ, trong sạch”

Cách đảo nh vậy mang lại hiệu quả tu từ nhất định

Do phạm vi của văn chính luận rất rộng cho nên thể văn này dùng cáckiểu câu khác nhau: câu đơn, câu ghép, câu tờng thuật, câu nghi vấn… Nhngvăn chính luận a dùng kiểu câu dài, có nhiều vế gắn với nhau bằng các quan hệ

từ nhằm phục vụ cho lập luận Dù sử dụng kiểu câu nào thì vẫn phải đảm bảo

sự trong sáng, khúc triết và sự cân đối, nhip nhàng, uyển chuyển cho lời văn

Trang 14

c) Các yếu tố tu từ trong văn chính luận.

Ngôn ngữ trong phong cách chính luận đứng ở hàng thứ hai sau ngônngữ nghệ thuật trong việc sử dụng các phơng tiện tu từ và biện pháp tu từ thuộccác cấp độ Tuy nhiên, nét khác biệt cơ bản giữa hai ngôn ngữ là ở chỗ trongphong cách chính luận việc sử dụng các yêu tố tu từ không nhằm mục đíchlàm cho văn bản có tính hính tợng nh trong ngôn ngữ nghệ thuật Mà chỉ nhằmtăng thêm sức mạnh bình giá phục vụ cho việc bình giá, tăng thêm tính thuyếtphục, hấp dẫn Việc sử dụng nhiều biện pháp tu từ làm cho câu văn chính luận

có âm điệu nhip nhàng, hài hoà, có tác dụng nhấn mạnh, nêu bật trung tâmthông tin

Các biện pháp tu từ cú pháp thờng gặp trong văn chính luận nh: lặp cúpháp, đối chọi, đảo đối, câu hỏi tu từ, tách biệt

d) Về mặt kết cấu

Kết cấu của một văn bản chính luận thòng có các phần liên kết chặt chẽvới nhau giữa tiền đề, luận chứng và luận điểm Có thể hình dung trình tự phổbiển của văn chính luận là:

- Lý do (luận điểm, cơ sở xuất phát )

- Phân tích, lý giải

- Thái độ, lời bình giải

- Kêu gọi, hô hào hành động đồng tình, ủng hộ

Trên đây là những đặc trng của văn chính luận về mặt nội dung, hinhthức Những đặc điểm về nội dung chi phối việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữdiễn đạt sao cho phù hợp Tuy nhiên, tìm hiểu những đặc điểm về hình thứccòn phải lệ thuộc vào từng phong cách tác giả khác nhau

II Văn chính luận và tạp văn của nguyễn Khải.

1 Nhận xét chung

Nguyễn Khải là một trong số những nhà văn có sức sáng tạo thật đặcbiệt Đó là một nhà văn có hơn nửa thế kỷ lao động không ngừng nghỉ, là ngờicầm bút thành công ở hầu khắp các thể loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút kí,kịch… Mỗi tác phẩm của Nguyễn Khải ra đời dù ở thời điểm nào cũng đềugây đợc sự chú ý của độc giả, của giới nghiên cứu phê bình và các đồngnghiệp của ông

Trong hơn 50 năm lao động nghệ thuật, Nguyễn Khải đã cho ra đời hơn

50 truyện ngắn, 8 tiểu thuyết và trên 60 tác phẩm bút ký, tạp văn Ông là nhàvăn lớn, một sức viết bền bỉ, dẻo dai vào loại bậc nhất trong nền văn xuôi hiện

đại Việt Nam Trong toàn bộ sáng tác của ông, bên cạnh tiểu thuyết, truyện

Trang 15

ngắn và kịch, có tới 1/3 tác phẩm là bút ký, tạp văn Điều đó chứng tỏ tạp vănthực sự chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Khải,góp phần làm nên phong cách văn xuôi độc đáo, hấp dẫn của ông.

2 Tạp văn của Nguyễn Khải.

Tạp văn-"những áng văn tiểu phẩm có nội dung chính trị, có tác dụng

chiến đấu mạnh mẽ Đó là một thứ văn vừa có tính chính luận sắc bén, vừa có tính nghệ thuật cô đọng, phản ánh và bình luận kịp thời các hiện tợng xã hội”

(Từ điển thuật ngữ Văn học,Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi, Trần Đình Sử, 2004 Nxb Văn học ) Nh vậy, tạp văn là một thể văn chính luận - nghị luận về những vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Nó là"dây thần kinh cảm

ứng","là chân tay tiến công và phòng thủ", là"dao găm và mũi dao có thể cùng bạn đọc mở ra một con đờng máu để sinh tồn” (Lỗ Tấn).

Thực ra, không riêng Nguyễn Khải, mà rất nhiều nhà văn bên cạnh việcsáng tác các thể loại văn xuôi chính nh: tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dàicòn viết cả bút ký, tạp văn…

Trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại, sau Nguyễn Tuân- một tên tuổigắn liền với thể loại tuỳ bút, các nhà văn Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, VũBằng, Tô Hoài, Nguyên Ngọc… cũng rất nổi tiếng với các tác phẩm đợc gọi là

ký, phóng sự, tuỳ bút, tạp bút, tạp văn… Ngời viết ít, ngời viết nhiều, nhng có

lẽ ngời thực sự quan tâm, có hứng thú theo đuổi và đạt đợc thành công tới mứcchúng trở thành một bộ phận làm nên phong cách văn chơng thì không nhiều Tạp văn của Nguyễn khải bao gồm những bài báo đề cập đến các vấn đề

đạo đức, lối sống, những tự truyện, những mẩu chuyện nghề nghiệp Mảngsáng tác này của Nguyễn Khải đề cập đến nhiều khía cạnh của đời sống hiệnthực Nhng nhìn chung Nguyễn Khải tập trung xung quanh những suy nghĩ vềcuộc đời và về nghề văn

Hàng loạt các bài báo dới dạng tạp văn của ông in trên báo Nhân Dân đãtừng gây xôn xao d luận độc giả trong những năm 70, là tiếng nói của nhà văngóp phần vào sự nghiệp xây dựng lối sống, đạo đức tinh thần của xã hội mới Chọn mối quan hệ giữa hai lực lợng trẻ và già để khai thác, nhà văn chỉ

ra chỗ ẩn nấp sâu kín cùng những biến thái tinh vi của chủ nghĩa cá nhân ích

kỉ, vụ lợi, thói kiêu căng, bảo thủ, dối trá, thái độ sống nữa vời hèn nhát ("Mộtngời ủng hộ lực lợng trẻ"," chúng tôi chăm sóc những tài năng”,"Nghĩ vềL.M…” Đặc biệt ông đã đa ra ánh sáng một lối sống, một thứ triết lí sốngthoảng nhìn nh vô thởng vô phạt nhng thực ra là một lực cản ngăn trở sự tiến

bộ của xã hội Đó là lối sống, triết lý sống"khoảng giữa”- làm ngơ trớc những

Trang 16

biểu hiện của cái xấu, cái tiêu cực, né tránh xung đột, đi tìm sự an nhàn, yên

ổn vì những lợi ích vị kỷ Họ chủ trơng"không đợc xấu quá, cũng chớ nên tốt

quá, cứ cái khoảng giữa ấy mà xử sự là sẽ làm vừa lòng đợc tất cả"("Lối sống

khoảng giữa” ) Những bài viết ở giai đoạn này nh là một lời đề nghị hành

động

Vào thời kì đất nớc tiến hành sự nghiệp đổi mới, Nguyễn Khải vẫn tiếp

tục đi và viết Có thể nói, với quan niệm"chuyện của ngày hôm nay dẫu buồn

đến đâu, dẫu bực đến đâu vẫn cứ vui, vì nó là máu thịt của ngày hôm nay, của giờ này, nó tơi rói, nó đỏ hồng" nên Nguyễn Khải luôn tìm đến những miền

đất mới, nơi cuộc sống đang diễn ra sôi động với khát khao mong tiếp cận đợc

một thứ hiện thực còn "tơi rói" - "cái hôm nay đang ngổn ngang bề bộn, bóng

tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những bất ngờ" (Nguyễn

Khải,"Gặp gỡ cuối năm")

Nhờ khả năng đi và viết, nhờ những"cuộc kiếm tìm mãi mãi" mà tạp văncủa Nguyễn Khải đã ghi lại những đổi thay nhanh chóng của đời sống, nói lênnhững trải nghiệm của cá nhân, những suy nghĩ về thời gian, về giới hạn củacuộc đời, về khả năng vợt qua những giới hạn đó của con ngời, của thế hệ

Ông khắc hoạ chân dung một lớp ngời trẻ tuổi có học vấn, từng trải, năng

động, táo bạo nh Tuấn, Vĩnh ("Bạn mới ở Hạ Long” ), Huy ("Mùi khói rạ")…bên cạnh họ là những con ngời của một thời, buồn bã nhng thanh thản chấpnhận giới hạn khắc nghiệt không thể vợt qua của cuộc đời … Đó còn là nhữngcon ngời không cam chịu, luôn tìm cách vợt lên số phận ("Còn hơn làm kẻmày râu")

Với sự nhạy cảm chính trị sẵn có, nhà văn đặt ra nhiều vấn đề có ýnghĩa xã hội liên quan đến tính hai mặt của nền kinh tế mới - kinh tế thị tr ờng:bên cạnh việc đem lại sự thay da đổi thịt cho đất nớc, nền kinh tế thị trờng cònlàm xuất hiện tâm lý, lối sống coi trọng đồng tiền, coi trọng lợi nhuận, thựcdụng và vị kỷ Đi cùng với nó là một chút nghi ngờ, giễu cợt, thậm chí cả mộtchút tâm trạng buồn bã của một ngời nhìn thấy những giá trị một thời mình tônthờ đang bị xáo trộn

Bên cạnh những suy nghĩ về cuộc đời, về những con ngời là những suynghĩ về nghề văn, lao động khó nhọc của nhà văn, những thử thách lặng lẽ,những cam go trên con đờng sáng tác, vai trò của thời đại đối với việc hìnhthành những tài năng… là những vấn đề mà Nguyễn Khải rất quan tâm

Theo ông,"nhà văn phải say mê, phải cuồng nhiệt, phải triệt để trong

mọi niềm tin và mọi yêu ghét Có vậy, anh ta mới tạo nên những tác phẩm

Trang 17

nghệ thuật có sức truyền cảm mãnh liệt" Không những thế, nhà văn còn phải

"sống với thời cuộc nhng còn phải biết tách ra khỏi thời cuộc để nhận ra cái

sẽ còn lấp lánh lâu dài của nhiều tình tiết trong cuộc sống, với những ngời cùng thời phải lấy con mắt của đời sau để đo lờng giá trị nhiều việc là tầm th- ờng và vô nghĩa đối với đơng thời".

Tạp văn của Nguyễn Khải còn đề cập đến mối quan hệ giữa văn học

nghệ thuật và chính trị Ông viết"Ngời cầm bút chỉ chăm chú tới tính chân thật

của một tác phẩm nghệ thuật và anh ta sẵn sàng phơi bày ngay cả những thói xấu kín mật của chính bản thân để đạt tới sự chân thật đó Còn ngời cầm quyền thì họ lại quan tâm trớc hết tới lợi ích cộng đồng Có những sự thật không nên nói, không thể nói, lại có những sự thật chỉ đợc nói khi có dịp để bảo vệ sự đoàn kết và ổn định của mọi thầng lớp trong xã hội Bên nào cũng

có cái lý của mình và cái lý nào cũng đáng đợc trân trọng" Nh vậy là sự quan

tâm của nhà văn và sự quan tâm của ngời lãnh đạo tuy có những điểm khácnhau, nhng đều có cùng một mục đích cao đẹp là vì cuộc sống

Trong các tạp văn của ông, tính vấn đề nổi trội hơn tính cảm xúc Nhàvăn thờng xuất phát từ những ý nghĩ, luận điểm chủ quan của cá nhân mình đểxây dựng những mẩu chuyện, những nhân vật minh chứng cho những luận

điểm đó Cũng là sự ghi chép cuộc sống nhng t duy của nhà văn đã đi trớc mộtbớc Tác giả kín đáo dẫn dắt ngời đọc đi tới cảm nhận, suy tởng chung cùngvới mình

Giọng điệu đợc thể hiện trong những sáng tác này là giọng kể vừa cà kêhỉnh, vừa hóm hỉnh, vừa tinh tế, sắc sảo tạo nên đặc trng cho phong cách vănxuôi Nguyễn Khải

Gần trọn nửa thế kỉ lao động miệt mài không ngừng nghỉ, luôn có mặt ởnhững phía sôi động nhất lẫn phía hiu quạnh nhất của cuộc đời, dờng nh tiểu

Trang 18

thuyết, truyện ngắn, kịch vẫn cha chuyển tải hết những suy tởng của nhà vănnên ông tìm đến với tạp văn - một thể loại văn học rất năng động, để nhà văn

có thể cống hiến cho bạn đọc cái phần mạnh nhất của mình

III Tiểu kết.

Nh vậy ở chơng I, chúng tôi đã trình bày những nét cơ bản của vănchính luận nói chung và tạp văn của Nguyễn Khải nói riêng Những cơ sở lýthuyết và thực tiễn này là cơ sở quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu những đặc

điểm riêng về mặt ngôn ngữ trong tạp văn của Nguyễn Khải

Trang 19

Chơng II

Đặc điểm từ ngữ, câu văn trong tạp văn

của Nguyễn khải.

I Đặc điểm từ ngữ

Tìm hiểu một phong cách sáng tác không thể không bắt đầu từ việcphân tích đặc điểm từ ngữ, câu văn mà tác giả đã lựa chọn và sử dụng trong

quá trình sản sinh ra tác phẩm Bởi ngôn ngữ là"yếu tố thứ nhất của văn học”,

là hiện thực trực tiếp của t tởng Nó góp phần tạo nền giọng điệu, gơng mặtriêng của mỗi ngời cầm bút

1 Những ý kiến đánh giá về tạp văn của Nguyễn Khải.

1.1 Những ý kiến đánh giá chung.

Năm 2000, Nguyễn Khải đợc vinh dự nhận giải thởng Hồ Chí Minh (đợt

2 )- giải thởng cao quí nhất đối với văn nghệ sĩ Điều đó đã khẳng định, tônvinh vị trí và những kết quả sáng tạo nghệ thuật của ông trong nền văn học nớcnhà Các sáng tác của ông kể cả trớc và sau thời kì đất nớc hoà bình luôn nhận

đợc sự quan tâm chú ý từ phía bạn đọc và giới nghiên cứu Các ý kiến đánh giá

có cả khen lẫn chê, nhng dù khen hay chê thì tác phẩm của ông vẫn hấp dẫnngời đọc bởi văn của ông có một sự độc đáo không thể lẫn với bất kì ai Những

ý kiến đánh giá về tác phẩm của Nguyễn Khải xuất hiện ở các ấn phẩm khácnhau: Tạp chí Văn học, tạp chí Ngôn ngữ, báo Văn nghệ… Đặc biệt trongcuốn"Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm" đã tập hợp tơng đối đầy đủ các bàinghiên cứu, ý kiến phê bình bàn về nội dung t tởng, giá trị nghệ thuật trongsáng tác của Nguyễn Khải từ những năm 60 của thế kỉ XX cho đến nay

Trong tuyển tập này hầu hết những lời nhận xét, đánh giá của nhànghiên cứu tập trung vào các sáng tác ở thể loại truyện ngắn, tiểu thuyết,kịch… Mảng tạp văn của ông chỉ đợc nghiên cứu tập trung trong một số bàiviết, nh:

"Đọc truyện ngắn và tạp văn của Nguyễn Khải”- Tác giả Nguyễn HữuSơn, "Nguyễn Khải với bút kí, tạp văn” của Nguyễn Tuyết Nga… Và một số ýkiến khác

Điểm nổi bật của các bài viết này khi đánh giá về tạp văn Nguyễn Khải,

đó là một"cái nhìn sắc sảo, tinh tế, giọng điệu thâm trầm, hóm hỉnh, mang

đậm màu sắc triết lí" Các tác phẩm tạp văn của Nguyễn Khải lấy chất liệu

sáng tác"từ môi trờng quen thuộc của mình: gia đình, bạn bè, đồng nghiệp …chuyển hoá một cách dung dị trong Khai thác hiện thực đời sống"hẹp nhng tác phẩm của ông vẫn đạt đợc mức

Trang 20

độ khái quát cao bên cạnh vẻ chân thực, sinh động riêng" (Nguyễn Tuyết Nga

-"Nguyễn Khải với bút kí, tạp văn" ),

"Nguyễn Khải biết cách chuyển hoá một cách dung dị trong tơng quan với nội dung thời sự, thế sự - những vấn đề bức thiết mà toàn xã hội đang quan tâm theo dõi, đòi hỏi nhà văn cùng góp sức trả lời, giải tỏa" trong những câu

chuyện ban đầu ngỡ nh chẳng có gì (Nguyễn Hữu Sơn)

Tóm lại, tạp văn của Nguyễn Khải là những trang đời đầy u t, nhữngkhám phá mới mẻ trong nhận thức, những suy tởng sâu sắc đợc gửi gắm trongnhững câu chữ đầy tài hoa, cuốn hút

1.2 Những ý kiến đánh giá về từ ngữ.

Văn chính luận nói chung, tạp văn của Nguyễn Khải nói riêng hấp dẫnngời đọc không chỉ bởi t tởng sâu sắc, tính triết lí mà còn lôi cuốn ngời đọc bởimột thứ ngôn ngữ vừa uyên thâm, bác học, vừa tự nhiên, dân dã.Thứ ngôn ngữ

ấy đã góp phần tạo nên tính chất "đa thanh”trong tạp văn của ông: "Văn xuôi

của ông mang tính chất nhiều giọng điệu Giọng cà kê, dân dã khi mô tả dời sống, tái hiện lịch sử, giọng triết lí, tranh biện khi luận bàn, đối thoại về các vấn đề chính trị, xã hội, giọng ngẫm ngợi suy t khi miêu tả những số phận, tâm

lý nhân vật…chuyển hoá một cách dung dị trong" ("Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải" - Nguyễn Tuyết

Nga ),"giọng văn Nguyễn Khải là giọng văn đa thanh …chuyển hoá một cách dung dị trong trong một giọng kể bao hàm nhiều giọng kể" ("Nguyễn Khải và t duy tiểu thuyết" - Nguyễn Thị

Bình ), đó là"một giọng đa thanh, phức điệu thâu nạp nhiều tiếng nói

mang đậm chất"tiểu thuyết", chất"truyện" của ông" ("Giọng điệu trần thuật

trong truyện ngắn Nguyễn Khải những năm gần đây"- Bích Thu )… Sự phốihợp độc đáo, nhuần nhị giữa các loại giọng điệu là một trong những đặc trngcủa phong cách văn xuôi Nguyễn Khải

Giọng điệu ấy có đợc là nhờ lối sử dụng từ ngữ, kiến tạo câu văn khá lí

thú, nhờ sự"dụng công về mặt sử dụng từ ngữ, tổ chức xây dựng lời văn Cái

uyển chuyển, linh hoạt, giản dị mà quyến rũ của văn ông toát lên một phần nhờ ở từ ngữ, câu văn " (Tuyết Nga ) Từ ngữ xuất hiện trong tạp văn của ông

vừa giàu tính triết lí với lớp từ thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội, vừa tự nhiên,dung dị và rất sinh động với những từ ngữ thuộc cách nói khẩu ngữ, dân gian.Nhờ vậy, giọng văn vừa uyển chuyển, linh hoạt, vừa cô đọng, hàm súc Bêncạnh đó là những kiểu câu văn khi dài, khi ngắn làm cho nhịp văn khi nhanh,khi chậm, đầy biến hoá, làm phong phú thêm khả năng miêu tả và sức biểucảm cho ngòi bút

2 Đặc điểm về từ ngữ trong tạp văn của Nguyễn Khải

Trang 21

Từ ngữ là một trong những yếu tố góp phần tạo nên giọng điệu của tácgiả Không những thế, trong văn chính luận, sự xuất hiện thờng xuyên của mộtlớp từ vựng nào đó còn thể hiện sự quan tâm của ngời viết đối với những đề tài,những mảng hiện thực khác nhau trong đời sống.

Khảo sát các tác phẩm tạp văn của Nguyễn Khải chúng tôi thấy các lớp

từ vựng đợc ông hay sử dụng, đó là:

2.1 Lớp từ ngữ thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội.

Bao gồm các từ ngữ thờng xuất hiện trong các hoạt động chính trị của

một đất nớc, lãnh thổ, nh: học thuyết, bảo thủ, cấp trên, cơ chế quản lí, d luận,

đạo lí, xã hội, nghị định, thông t, chỉ thị … và các lớp từ ngữ chỉ các chức vụ

hành chính nhà nớc: cấp uỷ, uỷ viên thờng vụ tỉnh uỷ, bí th…

Khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu nhất, ta thấy tần xuất xuất hiện củalớp từ này nh sau:

-"Nói thêm về tính chiến đấu của ngời làm báo": 50/700 từ, chiếm tỉ lệ7,14%

- "Tính dối trá": 35/900 (= 3,38% )

-"Trách nhiệm với ngời khác, trách nhiệm với xã hội" 30/1200

-"May hơn khôn": 60/1125 (5,28% )

-"Chuyện cà kê II ": 45/1110 (= 4,05% )

Các tác phẩm khác cũng cho những số liệu gần tơng đơng nh trên Qua

tỉ lệ này ta có thể thấy: Nguyễn Khải sử dụng lớp từ ngữ này không tập trungnhất ở một tác phẩm nào mà ở văn phẩm nào của nhà văn nó cũng đợc xuấthiện Từ những câu chuyện chi tiết nhỏ nhặt trong nghề nghiệp, Nguyễn Khải

đã khéo léo đan cài vào đó nhiều vấn đề xã hội rộng lớn Chính vì vậy, mật độlớp từ ngữ này xuất hiện không nhiều trong bất kì tác phẩm nào, phải xuyênsuốt các tác phẩm tạp văn của ông ngời đọc mới có thể nhận ra điều ấy Sựxuất hiện"có chừng mực" của lớp từ thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội giàu hàmlợng trí tuệ này đã làm cho câu văn của ông không trở nên khô cứng, gợng ép

mà ngợc lại vẫn uyển chuyển, quyến rũ đợc ngời đọc Không những thế, nócòn làm nổi bật đợc những vấn đề "gai góc" nhất của xã hội mà ngòi bút hiệnthực sắc sảo của nhà văn đã"đột kích và khai phá"

Ta hãy nghe Nguyễn Khải nói về sự dũng cảm và trách nhiệm của nhàbáo tính chiến đấu của ngời làm báo:

"Nhng biết là một chuyện, còn dám viết cái sự biết của mình lại là

chuyện khác Ví nh nói dân chủ, bầu cử dân chủ nhng ngời đợc tuyển chọn một cách dân chủ vào cơng vị có trách nhiệm lại không chịu phát huy cái

Trang 22

quyền dân chủ của họ, không dám nói theo ý dân chỉ để bảo vệ sự đoàn kết

tiêu cực của một nhóm ngời đã thoái hoá biến chất thì phải viết nh thế nào ? Hoặc nói đoàn kết, đấu tranh nhng chỉ là đoàn kết, đấu tranh để che giấu và

bảo vệ cái sai, cái xấu của nhau, thẳng tay gại bỏ những ngời liêm chính, trungthực thì phải lên án ra sao ?"

("Nói thêm về tính chiến đấu của ngòi làm báo” ) Nguyễn Khải đã động chạm ngòi bút của mình đến những vấn đề nhạycảm nhất của toàn xã hội Nhờ vậy sức chiến đấu của ngòi bút càng đợc nângcao Và một ngòi bút chính luận nh Nguyễn Khải cũng không ngần ngại đa raquan điểm của riêng mình:"Theo thiển ý của tôi, đổi mới là sự tự giải phóng ra

khỏi những quan niệm cũ, cơ chế cũ, cách quản lí cũ, là một tập hợp trí tuệ và lực lợng cho sự phát triển cha từng có về kinh tế xã hội, về chính trị của đất n-

ớc”

("Ai ơi chớ có phụ nghề") Lớp từ ngữ thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội còn đựoc sử dụng để nhàvăn nói lên quan niệm một thời về mối quan hệ giữa chính trị và văn nghệ,giữa ngời cầm bút và ngời lãnh đạo

"Quan điểm văn nghệ của quân đội phải thống nhất với quan điểm văn nghệ của Đảng Quan điểm văn nghệ của Đảng phải thống nhất với đờng lối

chính trị của Đảng ta vào những năm ấy Quan điểm văn nghệ chia rẽ thì quan

điểm về chính trị cũng chia rẽ, sẽ tách ra phe phái gây tổn thất tới sự thống

nhất toàn đẳng"

("May hơn khôn") Chính sự xuất hiện của những từ ngữ giàu chất trí tuệ này đã tạo nên cáigiọng triết lí, tranh biện đặc trng trong tác phẩm của Nguyễn Khải Đối vớimột nhà văn mà tác phẩm luôn đợc là nơi trò chuyện của những ngời bạn vềcác vấn đề của đời sống nh Nguyễn Khải, thì hiện thực luôn là cái cớ khởi đầucho những ý tởng, những suy nghĩ, những luận bàn của nhà văn Giọng triết lý,luận bàn của Nguyễn Khải đợc thể hiện rõ nhất khi tác giả viết về những vấn

đề chính trị - xã hội, với lớp ngôn từ giàu hàm lợng trí tuệ Nhng điều đặc biệt

đối với Nguyễn Khải lầ lớp từ ngữ thuộc lĩnh vực chính tri - xã hội hiện lêntrong tác phẩm của ông không khô khan, mà trái lại qua giọng kể của nhân vật

nó trở nên tự nhiên, sinh động Có lẽ đó là một trong những khả năng"thoátxác" của nhà văn Nó cho thấy, dới một ngòi bút tinh tế, ngay cả đến lý thuyếtcũng có thể có đợc cái sắc màu tơi rói của cuộc sống Thật thú vị cho ngời đọc

Trang 23

một câu văn dài gần nửa trang sách, không có một từ ngữ nào thể hiện cảmxúc nhng vẫn thấy lôi cuốn và hấp dẫn:

"Trong thoáng chốc con ngời Việt Nam đã xoá bỏ đợc lớp kén dày của

sự bạc nhợc, an phận, ích kỉ, trở thành trang hảo hán dám quên thân vì đại

nghĩa, gạt bỏ mọi thiên kiến hủ lậu để đoàn kết trong một mặt trận Chủ thuyết nào, tổ chức chính trị nào đã thay đổi đợc tinh thần một dân tộc triệt để và

nhanh chóng đến vậy ?"

("Cuộc kiếm tìm mãi mãi") Hay là một lời phát biểu của nhân vật cũng mang tính tranh luận, triết lívới những từ ngữ mang màu sắc chính trị, song vẫn không gây căng thẳng đốivới ngời đọc:

"Đảng ta là Đẳng cầm quyền, đã là Đảng cầm quyền thì phải trị nớc bằng luật pháp, bằng cơ cấu hành chính của nó Công dân phải tuân thủ hiến

pháp nhà nớc Đảng viên phải tuân thủ điều lệ và các nghị quyết của Đảng"

(" Nghĩ rất mới, làm rất cũ")

Sự xuất hiện tập trung của những từ ngữ thuộc lĩnh vực chính trị - xã hộitrên làm cho đoạn văn mang nặng màu sắc chính trị, đậm chất thời sự, đem lạicho ngòi bút Nguyễn Khải một cái nhìn sâu hơn vào hiện thực cuộc sống vàthể hiện đợc tính chính luận độc đáo

Sự xuất hiện của lớp từ ngữ mang mầu sắc chính trị trong tạp văn củaNguyễn Khải giúp ngời đọc thấy đợc cái nhìn của tác giả vào những vấn đềchính trị, xã hội của đất nớc Đồng thời nó cũng góp phần tạo nên cái giọng

điệu triết lí, tranh biện trong tạp văn của ông

đặt trong tạp văn của mình

Lớp từ ngữ mang tính chất khẩu ngữ dân gian xuất hiện trong tác phẩmcủa Nguyễn Khải có thể phân loại thành:

Trang 24

- Từ ngữ đợc dùng trong đối thoại hàng ngày, giàu tính chất hội thoại, nh:

mê rồi, tào lao, hơi quê, chơi đợc, nhãi ranh, cà mèng, sĩ diện hảo, khốn nỗi…chuyển hoá một cách dung dị trong

- Thành ngữ, quán ngữ: tai bay vạ gió, to gan lớn mật, xuất đầu lộ diện,

sống để dạ chết mang đi, nhai tơi nuốt sống, nứt đất trồi lên rách trời rơi xuống…chuyển hoá một cách dung dị trong

- Những cách nói đa đẩy: Nói cho đúng, thành thử, thật tình mà nói,

chả phải, chí là, nói gì thì nói, chả biết, thấy kệ, hỡi ôi, đùng một cái…chuyển hoá một cách dung dị trong

Trong 60 bài tạp văn của Nguyễn Khải, có rất nhiều bài, nhà văn đã sửdụng những từ ngữ trên Tuy nhiên, mức độ sử dụng chúng không thờngxuyên Khảo sát các tác phẩm tạp văn của ông ta có thể thấy rõ điều đó:

ông không trở nên quá khô khan

Ví dụ:

"Không có d luận xã hội thông qua báo chí ép buộc chả có chỉ thị,

thông t, nghị định nào có thể tạo ra một trật tự mới, một luật lệ mới Viết thìkhó Viết những chuyện tiêu cực trong giới văn hoá văn nghệ thì sẽ bị anh em

trong nghề chửi liền: quân lật mặt, đánh đĩ chín phơng cũng phải dành một

phong lấy chồng chứ !"

("Nói thêm về tính chiến đấu của ngời làm báo" )

Trang 25

Sự xuất hiện của câu thành ngữ trên trong đoạn văn làm cho câu văn nhlời nói hàng ngày, gần gũi, sinh động Không những thế, nó còn tạo nên cáigiọng chát chúa, cay nghiệt cho văn của Nguyễn Khải.

Sử dụng các từ ngữ của dân gian còn làm cho lời văn, khơi gợi đợc hứngthú tiếp nhận của ngời đọc:

Ví dụ:

"Mơ mộng thôi, chứ cái loại văn sĩ cà mèng nh bọn tôi, chí thì hèn, tài

thì vặt, lại nhát sợ, lại sĩ diện hảo, thì kiếm đâu ra tiền, lúc nào giận quá thì vỗ bụng tự than"Ôi, cái thuở anh hùng nay còn đâu" Là nói về cái thời một dãy

nhà xúm lại cùng đọc một lá th, để chia sớt cái buồn, cái lo của một ngời, vuibuồn theo cái chung, tính toán mọi việc theo cái chung mà vẫn ăn ngon ngủ

yên đợc là phải mặt dày mày dạn lắm"

("Những bất ngờ dễ chịu” )

Sử dụng cách nói dân dã còn làm cho giọng điệu lời văn mang tính phêphán, châm chọc, mỉa mai sâu sắc, thể hiện thái độ phản ứng gay gắt đối vớinhững vấn đề tiêu cực trong xã hội của ngời cầm bút:

Trong tạp văn của mình, Nguyễn Khải cũng hay dùng cách nói đa đẩyvừa tạo sự uyển chuyển cho lời văn, mạch văn, vừa tạo nên đợc sự liên kết chặtchẽ, đầy tính thuyết phục trong cách thức lập luận để đi tới chủ đề chung:

Chẳng hạn:

"Thằng lu manh nông thôn đập đầu ăn vạ có tên Chí Phèo, tên lu manh

thành thị, gian trá, lừa đảo có tên Xuân Tóc Đỏ đều rất xa lạ với tôi mà mỗi lần

đọc lại cứ mờng tợng nh gặp ngời quen thuộc Lạ lùng nhỉ ? Nghĩ đi nghĩ lại

mới hay cả hai kẻ lu manh ấy cũng là bà con của mình, cùng một máu mủ của mình, là bà con xa, bà con để tiếng xấu nhng vẫn cứ là bà con.

Chả lẽ còn không phải ?"

Trang 26

("Cuộc kiếm tìm mãi mãi")

Có thể nói, chính sự xuất hiện đan xen của những từ ngữ mang tính chấtdân dã này với những từ ngữ mang màu sắc chính trị, đậm chất triết lí đã khiếncho nhiều vấn đề xã hội mà Nguyễn Khải đặt ra trong tác phẩm của mìnhkhông trở nên khô cứng, gợng ép mà ngợc lại rất gần gũi với ngời đọc, tạo đợc

sự đồng thuận giữa ngời đọc và tác giả Hơn thế, nó còn làm thành cái chấtgiọng"đa thanh" trong văn chính luận của ông

2.3 Các kết hợp từ ngữ.

Từ ngữ trong văn bản luôn nằm trong sự lựa chọn và kết hợp với các từngữ khác Trục lựa chọn từ ngữ cho phép có thể thay thế nhau trong những ngữcảnh cần thiết - những trờng hợp gần nghĩa hoặc cùng nghĩa Sự lựa chọn trongtrục đứng này tạo ra những trờng liên tởng rộng lớn cho từ ngữ Trong khi đó,các kết hợp từ ngữ lại nằm trong mối quạn hệ ràng buộc với các từ ngữ kháctrên trục tuyến tính ở đây, giữa các yếu tố có quan hệ và quy định lẫn nhau, là

sự phản ánh và biểu hiện t duy một cách cụ thể sinh động

Trong tạp văn của Nguyễn Khải, các kết hợp từ ngữ cũng trở thành mộtbiện pháp tu từ cho lời văn Đọc tuyển tập tạp văn này, ngời đọc thờng xuyên

gặp những cấu trúc từ ngữ nh: những băn khoăn, những ngộ nhận, những đánh

giá, cái hay, cái dở một cách nhìn, một cách nghĩ…chuyển hoá một cách dung dị trong

Những cấu trúc trên chính là mô hình cụm danh ngữ với công thức kết hợp:

Từ chỉ lợng / cái (chỉ xuất) + danh từ + định ngữ

Mô hình này xuất hiện với tỉ lệ tơng đối trong tạp văn của Nguyễn Khải.-"Ước gì tôi đựoc trẻ lại": 6/503 =1,19 %

-"Ngày xa làm báo rất là vui": 5/498 = 1%

Trang 27

mất mát đi Có nghĩa là tự mình chấm dứt mọi sự biến hoá, trở thành một hình

ảnh chết, một hiện tợng của quá khứ, một tiếng vang đã xa xôi ".

("Chúng tôi chăm sóc những tài năng" ) Các kết hợp từ ngữ này có vai trò nh một danh từ, nó cho phép ngời viếtchính luận gọi tên một cách cụ thể đối tợng cần nói đến Không những thế,việc sử dụng liên tiếp những cấu trúc danh ngữ này trong một câu văn, một

đoạn văn còn tạo nên nhịp ngắt đều đặn nhịp nhàng, uyển chuyển cho lời vănchính luận.Chính sự ngắt nhịp đều đặn này cũng khiến cho ngời viết tạo đợccái giọng điệu riêng của mình

Đặc biệt, sự xuất hiện của những mô hình danh ngữ này làm cho câuvăn mang tính liệt kê các sự kiện, làm nổi bật những hình ảnh, đối tợng đợcnói đến Không những thế, khi cần tạo ra sự đối lập giữa hai hình ảnh hay nhấnmạnh một nhận định nào đó, Nguyễn Khải cũng sự dụng mô hình danh ngữnày

Chẳng hạn:

"Chân dụng những ngời ủng hộ và sống theo lối sống khoảng giữa có

thể phác hoạ nh sau: một dáng đi ngập ngừng, một nụ cời lấp lửng, một cách

nhìn lạnh lẽo, một cách nói mơ hồ và một tuyên ngôn: Chờ xem ! Cùng phải

chờ xem !"

Chân dung những ngời ủng hộ và sống theo lối sống xã hội chủ nghĩa

phải là: Một dáng đi dứt khoát, một cái nhìn táo bạo, một nụ cời đắm say,

những lời nói bốc lửa và một tuyên ngôn:"bắt tay làm ngay đi ! Hãy làm ngay

tức khắc !"

(“Lối sống khoảng giữa”) Với những mô hình cấu trúc danh ngữ đợc sử dụng liên tiếp trong mộtcâu văn nh trên, Nguyễn Khải đã tạo ra đợc một kiểu câu có cấu trúc lặp Sựlặp lại giống nhau của những cấu trúc này vừa tạo đợc sự cân đối, nhịp nhàngcho nhịp điệu câu văn, vừa tạo đợc sự đối lập làm nổi bật hai hình ảnh, haichân dung con ngời tiêu biểu cho hai lối sống khác nhau trong xã hội Cũng từ

đó, vấn đề mà tác giả đặt ra đợc ngời đọc nhận thức một cách rõ ràng: Phêphán"lối sống khoảng giữa"- lối sống cáo bằng, bình quân; khẳng định lốisống tích cực hành động Và điều cuối cùng mà ngời đọc tiếp nhận đợc là câuhỏi: Lựa chọn một trong hai cách sống nào cho đúng đắn và có ý nghĩa ?

Trang 28

Bên cạnh các kết hợp từ ngữ nh trên nhà văn còn sử dụng nhiều định

ngữ nghệ thuật.

Định ngữ nghệ thuật hay còn gọi là hình dung ngữ hay ẩn dụ nhận thức.

Đây là phơng thức chuyển nghĩa trong đó một từ (hay một cụm từ ) đóng vai trò bổ ngữ cho một từ (hoặc cụm từ) khác nhằm làm nổi bật một đặc điểm nào

đó của đối tợng để tạo ra ấn tợng thẩm mĩ Khác với định ngữ thông thờng chỉ

có ý nghĩa xác định đặc điểm vốn có của một sự vật, hiện tợng, không đem lạihiệu quả thẩm mĩ; định ngữ nghệ thuật mang lại ý nghĩa mới, tạo cảm xúc chongời đọc, ngời nghe Đó là một biểu hiện sáng tạo của nhà văn trong việc lựachọn và kết hợp từ ngữ

Trong văn bản nghệ thuật, các nhà văn, nhà thơ thờng sử dụng định ngữ

nghệ thuật.

Ví dụ:

Mây trắng, trời trong, đêm thuỷ tinh.

Lung linh bóng sáng bỗng rung mình

Trong tạp văn của Nguyễn Khải những định ngữ nghệ thuật này xuất

hiện thờng xuyên ở hầu hết các văn bản, nó trở thành một tín hiệu thẩm mĩ của

lời văn nghị luận.Tần số xuất xuât hiện của những định ngữ nghệ thuật này ở

Trang 29

"Một đời văn dầu thất bại nhng đã có những năm tháng sống căng

thẳng, sống náo nức, sống say mê thì có gì phải phàn nàn so với những kiếp sống phẳng lặng, nhạt nhẽo khác ".

"Thế mà giống nhau thật, giống nhau cả đến cả vẻ bên ngoài Một cái

nhìn dò xét, một nụ cời ngập ngừng, một dáng đi thận trọng Và cách nói của anh mới mơ hồ làm sao ! mới đắn đo làm sao!"

(“Chúng tôi chăm sóc những tài năng”)

Giả sử đem tách những định ngữ nghệ thuật trên ra khỏi từ trung tâm thì

bản thân nó không còn ý nghĩa nghệ thuật nữa Những câu văn chứa nó haynhững từ kết hợp với nó vẫn có thể tồn tại, tuy vậy giá trị biểu cảm, những sắc

thái tu từ mà định ngữ nghệ thuật đã mang đến cho câu văn không còn nữa.

Ngời viết văn chính luận phải đa ra những cảm nhận, đánh giá của mình

về đối tợng đợc đề cập đến trong tác phẩm Hơn nữa, cách nhìn nhận, đánh giá

ấy lại phải đợc diễn đạt trong một thứ ngôn ngữ vừa hàm súc, vừa cô đọng

nh-ng phải gần gũi, và thuyết phục đợc nh-ngời đọc, nh-ngời nh-nghe Nói cách khác, nh-ngờiviết chính luận phải cá biệt hoá,"thổi linh hồn" vào những câu chữ của mình

bằng những định ngữ nghệ thuật Đây trở thành một nét đặc sắc mà Nguyễn

Khải đã làm đợc trong văn chính luận của mình

II đặc điểm câu văn.

1.Khái niệm câu.

Câu là đơn vị giao tiếp cơ bản của ngôn ngữ Khác với các đơn vị khác(từ, hình vị ), câu không có sẵn mà nó đợc tạo ra bởi sự kết hợp giữa các từtrong quá trình con ngời sử dụng ngôn ngữ vào mục đích giao tiếp, t duy

Trang 30

Xung quanh khái niệm câu đã có rất nhiều định nghĩa Theo thống kêcủa Akhômanôva ("Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học”) thì có tới trên 300 địnhnghĩa về câu.

Ngay từ thời Arixtốt, ông đã cho rằng"Câu là một phức hợp có ý nghĩa

độc lập mà mỗi bộ phận riêng biệt trong đó cũng có ý nghĩa độc lập"

Học phái Alêchxanđri (Thế kỉ III - II trớc công nguyên ) nêu"Câu là sựtổng hợp của các từ biểu thị một t tởng trọn vẹn"

Tiếp sau những ý kiến trên, nhiều nhà ngôn ngữ học trên thế giới đã đa

ra nhiều định nghĩa về câu theo các khuynh hớng khác nhau: ngữ pháp duy lý,ngữ pháp logic, ngữ pháp hình thức… ở Việt Nam, từ trớc và sau cách mạngtháng 8, xung quanh đơn cị câu cũng đã tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau.Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã xem xét đơn vị này trên nhiều phơng diện

và đã lựa chọn những định nghĩa về câu của các nhà ngôn ngữ học nớc ngoài

để tỏ rõ sự đồng thuận của mình (Ví dụ: Nguyễn Kim Thản chọn định nghĩacủa Vinogradov, Trơng Văn Chình lựa chọn định nghĩa của A.Meilet…) Kếthừa và tiếp thu những định nghĩa về câu của những ngời đi trớc, Diệp QuangBan đã đa ra định nghĩa:

" Câu là đơn vị của nghiên cứu ngôn ngữ, có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài ) tự lập và có ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tơng đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của ngời nói hoặc có thể kèm theo thái độ,

sự đánh giá của ngời nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt t tởng, tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ (Ngữ pháp

Tiếng Việt.1992.tập II Nxb GD )

Định nghĩa trên đã đáp ứng nhu cầu đầy đủ cả về nội dung và hình thức

Định nghĩa của Đỗ Thị Kim Liên về câu nh sau:

"Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, đợc gắn liền với ngữ cảnh nhất định nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc” (Ngữ pháp Tiếng

Việt 1999 Đỗ Thị Kim Liên.Nxb GD)

Nh vậy, câu bao giờ cũng mang nội dung thông tin và thể hiện thái độ,tình cảm bày tỏ cảm xúc của ngời viết

Câu là đơn vị ngữ pháp cơ bản, trực tiếp để cấu thành văn bản Câu khi

đi vào văn bản có nhiệm vụ chuyển tải nội dung và thể hiện sự vận động củavăn bản cả về nội dung và hình thức Không những thế, nó còn là đơn vị cơ sởtạo nên nhịp điệu lời văn, góp phần thể hiện giọng điệu của ngời tạo lập vănbản

Trang 31

Điều này lại đặc biệt quan trọng đối với thể văn chính luận Trong vănchính luận, nhịp điệu trở thành yếu tố hàng đầu để tạo âm hởng cho lời văn, lôicuốn sự chú ý của ngời nghe, ngời đọc Nhịp điệu ấy đợc tạo ra nhờ các biệnpháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa, tu từ ngữ pháp Đó là những biện pháp nh : tơngphản, phản ngữ, sóng đôi cú pháp, lặp cú pháp… Những biện pháp này thểhiện rõ nhất trong cấu trúc câu.

2 Đặc điểm câu văn trong tạp văn của Nguyễn Khải.

Đọc các tác phẩm tạp văn của Nguyễn Khải, ta thấy các kiểu câu đợcnhà văn sử dụng có cấu tạo đa dạng, phong phú, mang những chức năngchuyển tải thông tin khác nhau Trong đó nổi bật nhất là các kiểu câu dàinhiều tầng bậc, kiểu câu có cấu trúc lặp, câu mở rộng thành phần và các câungắn có cấu tạo đặc biệt

2.1 Kiểu câu dài (trờng cú )

2.1.1 Khái niệm

"Trờng cú là cấu trúc trong đó có sự đối lập đợc nhấn mạnh giữa hai bộ phận nh: điều kiện - kết quả, nguyên nhân - kết quả, căn cứ - kết luận …chuyển hoá một cách dung dị trong Nói chung nh đề - thuyết, hơn nữa một trong hai bộ phận (thờng là bộ phận thứ nhất, sức thuyết phục lớn hơn bộ phận thứ 2)

Thông thờng trờng cú là câu ghép chính phụ (trờng cú là câu đơn phức hợp ít gặp hơn ) đợc phân chia rõ rệt về mặt tiết tấu - ngữ điệu, cấu trúc và nghĩa thành hai phần gắn bó với nhau

(“99 phơng tiện và biện pháp tu từ Tiếng Việt” Đinh Trọng Lạc 2005 Nxb GD)Trờng cú vừa thể hiện kiểu t duy của ngời viết văn bản, vừa là đơn vị cơ

sở để tạo nhịp điệu lời văn Kiểu t duy nổi bật trong văn bản nghị luận nóiriêng, văn chính luận nói chung là kiểu t duy logic Đó là những kiến thứcuyên bác và sắc bén, vững vàng đợc thể hiện ở lập luận chặt chẽ, logic trong tr-ờng cú Chẳng hạn:

"Mặc dù nớc ta nhỏ, ngời ta ít, lại bị bao vây tứ phía, quân đội ta cha thao luyện và trang bị kém, mặc dù thực dân Pháp có u thế tạm thời về quân

và kinh tế, nhng trung ơng Đảng và chính phủ đã quyết định kháng chiến và khẳng định ràng: Kháng chiến của nhân dân ta trờng kì gian khổ nhng nhất

Trang 32

định thắng lợi vì ở trong nớc chúng ta có toàn dân đoàn kết và có Đảng lãnh

đạo, ngoài nớc chúng ta có nhiều bạn đồng minh”

Nhịp điệu trong ví dụ trên đựợc tạo ra bằng các biện pháp: Dùng điệpngữ:"mặc dù" để nhấn mạnh hay tăng cấp mức độ khó khăn của nớc ta, dùngsóng đôi:"Nớc ta ít, ngời ta nhỏ" cùng với lập luận tơng phản"mặc dù… nhng",làm cho câu văn chính luận có nhiều nhịp nhỏ tạo nên nhiều nhịp lớn làm chomạch văn, lời văn, uyển chuyển, đầy thuyết phục

Có thể nói, kiểu câu dài là thế mạnh của văn chính luận Và nhà vănNguyễn Khải khi sáng tác ở thể loại này cũng sử dụng kiểu câu dài một cách

đắc địa

2.1.2 Câu dài trong tạp văn của Nguyễn Khải

Đọc những bài tạp văn của Nguyễn Khải, ngời đọc có thể rút ra một đặc

điểm nổi bật, đó là: Nguyễn Khải a dùng những câu dài, có số lợng từ ngữ lớn,nhiều thành phần Kiểu câu này chiếm tỉ lệ khá cao so với các kiểu câu kháctrong toàn văn bản

Khảo sát các văn bản ta có thể thấy rõ điều đó Chẳng hạn bài"Một láphiếu và một lá phiếu" sử dụng 15 câu dài trong tổng số 55 câu toàn văn bản,chiếm 27,2% Bài"Nói về một ngòi bạ trẻ " sử dụng 23 câu dài trong tổng số

80 câu toàn văn bản, chiếm 28,75 % Tơng tự ở bài"Một ngời ủng hộ lực lợngtrẻ " là 10/80 (12,5 % )," Tính dối trá": 115/106 (14,15 % ),"Vừa là thủ phạm,vừa là nạn nhân" là 20/78 (25,64%),"Lối sống khoảng giữa": 20/109 (18,34

% )," Tủ chè tủ sách": 24/58 (41,3%)…

Qua những tỉ lệ trên có thể nhận thấy: việc sử dụng câu dài là sở trờngcủa ngòi bút Nguyễn Khải trong thể văn này Những câu văn dài nh những âmthanh phức hợp đã làm phong phú thêm khả năng miêu tả, ý nghĩa biểu cảmcho ngòi bút

Ta hãy nghe Nguyễn Khải miêu tả về một nhân vật trong tác phẩm của ông:

"Những tham vọng nhỏ bé cộng với những trò lừa đảo vặt vãnh về chính trị đã biến hắn ta trong một khoảng thời gian mời năm thành một con ngòi thoái hoá, hủ bại về mọi phơng diện (1) Chẳng qua là cái tài của đơng sự còn

Trang 33

thấp, tham vọng lại quá cao, hắn muốn lập kín cái khoảng cách ấy bằng những thủ đoạn cũ rích của một tên cờng hào, của bọn chợ búa, càng làm càng lộ mặt, không ai bênh đợc, cuối cùng phải bỏ xã mà đi kiếm ăn xa, cũng vẫn là cái nghề đi lừa, chỉ nhờ vào cái tài biện bác và cái bộ dạng của một quan chức nhà nớc quen biết rộng, lại biết cách cầm tiền và đa tiền đúng bài bản, đúng mực mẹo luật của đám sâu bọ nhà nớc (2).”

("Mất toi một cuốn sách") Câu văn thứ (2) trong đoạn trên là một câu dài, xét về dung lợng (89 từ) Xét về cấu trúc, câu văn có nhiều vế Các vế bổ sung ý nghĩa cho nhau

Vế sau bổ sung, triển khai cho ý của vế trớc, làm rõ thêm nội dung của vế trớc.Nhờ vậy, nội dung của các câu rõ ràng, logic chặt chẽ Với kiểu cấu trúc liệt

kê sự việc:

Cái tài của đơng sự còn thấp / Những thủ đoạn …chuyển hoá một cách dung dị trong của tên c ờng hào / Của bọn chợ búa /

Càng làm …chuyển hoá một cách dung dị trong lộ mặt / Không ai bênh đợc /

Chỉ trong một câu văn, Nguyễn Khải đã dựng lên một chân dung sống

động của cuộc sống trong thời kinh tế thị trờng.Câu văn mang tính diễn giải,

dàn trải các sự việc Nhờ các từ liên kết: "chẳng qua, lại, cùng" vừa làm cho ý

của cả câu đợc thể hiện chặt chẽ, khúc triết, vừa tạo ra đợc nhịp điệu chậm rãi,trầm ngâm trong sự xét đoán

Có khi những câu dài còn đợc tạo ra từ hai kết cấu chủ vị liên tiếp trở lên.:

Ví dụ:

"Với tôi, từ ngày có đổi mới tôi // viết rất dễ dàng, viết đợc nhiều, hơi văn tự nhiên, câu chữ chân thật(nên) cáo bài báo// có hơi thở, nhịp đập của cuộc sống hàng ngày, bạn đọc// xem ra yêu mến tôi hơn, chờ đợi tôi hơn".

Câu trên đợc tạo thành bởi 3 kết cấu chủ - vị liên tiếp Nhng các kết cấunày rất đơn giản Các kết cấu chủ vị liên tiếp đi gần nhau trong một câu tạonên nhịp điệu dồn dập cho lời văn Cứ mỗi dấu phẩy là một nhịp, cấu trúc chủ

- vị đợc lặp lại trong sự biến đổi nhỏ - tức trong nội bộ câu tạo nên cho câu vănnhịp điệu nhịp nhàng, đầy âm hởng Đọc lên ngời ta tởng nh nghe đợc hơi thở,nhịp đập của cuộc sống.Tất cả nh đang sống lại theo dòng cảm xúc tuôn tràocủa tác giả

Cũng có lúc trờng cú trong tạp văn của Nguyễn Khải đợc tạo ra bởi việc

mở rộng một thành phần nào đó của câu đơn - tức là những câu có một kết cấu

Trang 34

c-v làm nòng cốt Nó có cấu trúc độc lập và tơng đối trọn vẹn về nghĩa.Nguyễn Khải có xu hớng khai thác những cấu trúc câu có mở rộng một thànhphần nào đó ở cuối câu, ví nh: mở rộng vị ngữ, định ngữ, bổ ngữ…

Ví dụ:

"Tôi rất biết ơn tổ tiên đã giữ gìn và truyền lại cho con cháu cái cốt cách vừa cứng cỏi, vừa mềm mại, tính kiên nhẫn và cái tài ứng xử để thoát ra mọi hoàn cảnh hiểm nghèo(1) Nhng một dân tộc suốt mấy trăm năm, từ thời

Lê Mạt đến thời Pháp thuộc luôn luôn //đắm mình trong bùn máu của nội chiến, của ngoại xâm của li tán và đói nghèo, không hề đợc hởng một cải cách quan trọng nào về kinh tế, về chính trị về học thuật, đời sau cứ làm theo đời tr-

ớc còn tệ hơn đời trớc, làm sao giữ đợc nguyên vẹn những đức tính tốt(1).Võ công hiển hách của vua Quang Trung, và công cuộc thống nhất đất nớc của vua Gia Long cũng không thể làm sống lại cả một xã hội quá già nua, quá cũ

kĩ đã mất đi khả năng tự thay đổi, tự bảo vệ".

("Cuộc kiếm tìm mãi mãi")Câu (2 ) và (3) trong ví dụ trên là những câu đợc mở rộng thành phần bổngữ

Câu (2) ; vế (1) là vế phụ đợc mở đầu bằng quan hệ từ "những" - mang ý

nghĩa lập luận tơng phản đối với câu trớc đó Vế phụ đợc cấu tạo bằng một kếtcấu C - V (có hai vị ngữ liên tiếp ), đi kèm với nó là thành phần bổ ngữ bổsung ý nghĩa cho động từ làm vị ngữ ở vế phụ này, nhà văn đã đa ra những

tiền đề, những mệnh đề để cuối cùng rút ra kết luận: "Làm sao giữ đợc nguyên

vẹn những đức tính tốt" Nhịp điệu câu văn đợc ngắt đều đặn, tạo ra sự cân đối

hài hoà Câu văn kéo dài, trải ra thể hiện sự dàn trải của t duy, của dòng suy t,chiêm nghiệm

Có thể nói kiểu câu dài, đợc mở rộng thành phần đợc sử dụng rất thờngxuyên trong tạp văn của Nguyễn Khải bởi nó phù hợp với kiểu t duy logic, phùhợp với chất suy ngẫm, triết lí của giọng văn

Ví dụ:

"Nhng ngời cầm bút// không đợc phép hàm hồ nh thế,// phải công tâm //

phải gạt bỏ mọi định kiến và yêu ghét riêng t để dựng lại chân dung những thời kì lịch sử đã qua và những ngời Việt Nam của thời đại đó, cái mạnh, cái yếu, cái mới và cái đã tồn tại từ nhiều đời, thành đài tởng niệm tinh thần của dân tộc trong một thời kì lịch sử"

("Cuộc kiếm tìm mãi mãi")

Trang 35

Một câu văn đợc trải dài với ba vị ngữ liên tiếp mang tính đẳng lập, liệt

kê sự việc Thêm vào đó là thành phần bổ ngữ bổ sung ý nghĩa cho câu đợc mởrộng theo dòng suy tởng của ngời viết Kiểu câu văn này đã lôi cuốn ngời đọctheo mạch cảm xúc của tác giả

Nhà văn cũng sử dụng kiểu câu có thành phần vị ngữ đợc mở rộng đểnhấn mạnh nội dung thông tin

Ví dụ:

"Cách mạng chỉ có khuyết điểm khi nào, hãy chú ý khi nào cách mạng

và các tổ chức cách mạng không biết chú ý tới riêng họ, không cất nhắc họ, không thoả mãn những đòi hỏi hết sức vô lí của họ "

("Tính dối trá”) Đặc biệt, kiểu câu này giúp nhà văn thể hiện t tởng, suy nghĩ của mìnhmột cách đắc dụng Nó giúp ngời viết có thể nói hết những điều mình muốnnói, những suy t, trăn trở và sự chiêm nghiệm của bản thân về cuộc đời

Chẳng hạn:

"Tôi chỉ mong muốn, cái may hiếm hoi của tôi một thời đã qua sẽ là

điều tự nhiên phải thế, vốn dĩ là thế trong mọi mối quan hệ giữa ngời với ngời của hôm nay và ngày mai để những tài năng còn lớn hơn tôi nhiều không bị gạt bỏ một cách phí phạm, không bị kiềm chế hoặc phải tự kiềm chế để khỏi khác ngời, khỏi cao hơn ngời, để đợc sống yên phận trong cái nhạt của cuộc sống

("May hơn khôn”) Điều đặc biệt ở Nguyễn Khải khi tạo ra kiểu câu này đó là tác giả đã tạo

ra đợc một nhịp điệu đều đặn, hợp lí cho câu văn Nhịp điệu đợc tạo nên trongvăn chính luận của ông từ những câu dài bao giờ cũng là những nhịp ngắn.Nhịp ngắn có khi dồn dập theo mạch cảm xúc của tác giả, có khi chậm rãi,trầm ngâm trong suy t, chiêm nghiệm Lời văn vì thế không dàn trải mà cô

đọng, độ ngắn của nhịp không làm cho ngời đọc hụt hơi căng thẳng Nhờ cáchkiến tạo câu văn nh vậy mà ngời đọc luôn cảm thấy sự gần gũi, thân mật tronggiọng điệu trần thuật của ngời viết

2.2 Kiểu câu có cấu trúc lặp.

2.2.1 Khái niệm lặp (cấu trúc )

Bên cạnh việc tạo những câu dài nhiều thành phần, Nguyễn Khải đã sửdụng một kiểu câu khác khá đắc dụng, đó là cấu trúc câu có bộ phận lặp Đâychính là một biện pháp tu từ trong văn chơng - biện pháp sóng đôi cú pháp

Trang 36

Sóng đôi cú pháp (lặp cú pháp ) là một biện pháp tu từ cú pháp dựa trên sự cấu tạo giống nhau giữa hai hay nhiều bộ phận của câu Đây là một

biện pháp tu từ đợc sử dụng nhiều trong văn bản nghệ thuật và văn bản chínhluận Trong"Truyện Kiều", biện pháp sóng đôi cú pháp đợc sử dụng th-ờng xuyên để tạo nên sự đối xứng rất cân cho thơ lục bát:

"Mai cốt cách, tuyết tinh thần Mỗi ngời một vẻ mời phân vẹn mời.”

Sự đổ đầy từ vựng trong những cấu trúc câu giống nhau tạo nên nhịp

điệu đều đặn và sự cân đối hài hoà cho câu thơ Lời thơ đối nhau một cáchchặt chẽ và đầy hình ảnh

Trong tạp văn, để tạo nên những câu văn giàu nhạc điệu ngời viết cũng

sử dụng biện pháp tu từ này

2.2.2 Kiểu câu có cấu trúc lặp trong tạp văn của Nguyễn Khải

Trong tạp văn của Nguyễn Khải, nhà văn cũng thờng xuyên sử dụngkiểu cấu trúc câu này để tạo nên những đoạn văn chuẩn mực, hấp dẫn ngời

đọc

Khảo sát tác phẩm"Lối sống khoảng giữa", ta thấy tác giả sử dụng 7/109câu (6,4% ), ở văn bản "Chúng tôi chăm sóc tài năng" sử dụng 21 câu trongtổng số 330 câu chiếm tỉ lệ 6,36%,"Hãy chú ý đến trẻ con" sử dụng 4/42 câuchiếm 9,52%,"Chuyện cà kê I" sử dụng 4/43 câu toàn văn bản chiếm9,3%,"Chuyện cà kê II" sử dụng 11/51 câu toàn văn bản chiếm 21,56%… ởcác văn bản khác, tần số xuất hiện của kiểu câu này cũng dao động trongkhoảng 5 - 10 lần trong toàn văn bản Sự lặp lại những mô hình cấu trúc giốngnhau tạo nên nhạc điệu cho lời văn

Chẳng hạn:

"Chân dung những con ngời ủng hộ và sống theo lối sống khoảng giữa

có thể phác họa nh sau: một dáng đi ngập ngừng, một cái nhìn lạnh lẽo, một

nụ cời đắm say, những lời nói bốc lửa và một tuyên ngôn:"Chờ xem ! Cũng còn phải chờ xem !".

Chân dung những con ngời ủng hộ và sống theo lối sống xã hội chủ

nghĩa phải là: một dáng đi dứt khoát, một cái nhìn táo bạo, một nụ cời đắm

say, những lời nói bốc lửa và một tuyên ngôn:"bắt tay làm ngay đi ! hãy làm ngay tức khắc !"

(“Lối sống khoảng giữa”) Hai câu trên là hai câu ghép có kiến trúc một bậc, là sự tập hợp songsong của 5 kết cấu chủ vị liên tiếp ở mỗi câu Những kết cấu chủ- vị đứng liên

Ngày đăng: 19/12/2013, 13:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A, Bùi Minh Toán, Đỗ Việt Hùng (2005 ).Tiếng việt thực hành. Nxb GD Khác
2. Diệp Quang Ban (2000). Ngữ pháp tiếng việt, tập I,II - Nxb GD 3. Phan Mậu Cảnh (2000), Ngữ pháp văn bản, Đại Học Vinh 4. Đỗ Hữu Châu (2003), Ngữ dụng học (Tập II ) Nxb GD 5. Đỗ Thị Kim Liên (1999), Ngữ pháp Tiếng việt, Nxb G D Khác
8. Nguyễn tuyết Nga (2004),Phong cách văn xuôi Nguyễn Khải, Nxb Hội nhà văn Khác
9. Bích Thu (1997), Giọng điệu trần thuật trong truyện ngăn Nguyễn Khải những năm tám mơi đến nay,Tạp chí Văn học số10 Khác
10. Nhiều tác giả (2002), Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm, Nxb GD 11. Nhều tác giả (1990), Văn học Việt Nam 1945 - 1975, tập II, Nxb GD Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w