Hầu như GV tiểu học nhận thức được vai trò của trực quantrong việc nâng cao hiệu quả của dạy học, nhưng dạy học bằng trực quan mà không biếthướng dẫn, giúp đỡ HS các thao tác quan sát cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH _
NGUYỄN HỮU DŨNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG QUAN SÁT
VÀ TÌM Ý CHO HỌC SINH TRONG DẠY
HỌC TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ
Ở BẬC TIỂU HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC TIỂU HỌC
NGHỆ AN - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Chu Thị Hà Thanh
NGHỆ AN – 2012
Trang 3Mục lục
Mục lục……… 1
Lời cảm ơn ……… 3
Bảng kí hiệu các chữ viết tắt………. 4
MỞ ĐẦU 1 Lí do chọn … ……….……… 7
2 Mục đích nghiên cứu ……… ………. 7
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu ……… 7
4 Phạm vi nghiên cứu……… 7
5 Giả thuyết khoa học……… 7
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
7 PP nghiên cứu……… 11
8 Đóng góp của luận văn ……… 8
9 Cấu trúc … ……… 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8 1.1 Lịch sử nghiên cứu 9
1.2 Cơ sở lí luận……… 11
1.2.1 Văn miêu tả ……… 11
1.2.2 Đặc điểm tâm lí của HS tiểu học với việc học VMT………. 21
1.2.3 Quan sát và tìm ý trong văn miêu tả……… 22
1.3 Cơ sở thực tiễn………. 26
1.3.1 Thực trạng dạy văn miêu tả của giáo viên……… 26
1.3.2 Thực trạng học văn miêu tả của HS……… 35
1.3.3 Kết quả khảo sát ……… 36
1.3.4 Nguyên nhân của thực trạng……… 39
Kết luận chương 1……… 40
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KỸ NĂNG QUAN SÁT VÀ TÌM Ý CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN MIÊU TẢ Ở BẬC TIỂU HỌC 42 2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp …….………. 42
2.2 Các biện pháp chuẩn bị rèn luyện cho học sinh quan sát 43
2.2.1 Biện pháp tạo tình huống 43
2.2.2 Biện pháp tổ chức cho HS tiếp xúc đối tượng……… 45
2.2.3 Biện pháp tích lũy tư liệu khi quan sát……….……… 56
2.3 Các biện pháp rèn kĩ năng quan sát cho HS ……… ……… 58
2.3.1 Chia đối tượng để quan sát ……….… 58
2.3.2 Lựa chọn trình tự quan sát……… … 58
2.3.3 Sử dụng các giác quan để quan sát……… 60
2.3.4.Thu nhận các nhận xét do quan sát mang lại…….……… 61
2.4 Các biện pháp rèn kỹ năng tìm ý và sắp xếp ý cho HS……… 61
2.4.1 Thu thập tài liệu, tìm ý……… ……… 61
2.4.2 Lựa chọn ý……… ……… 72
2.4.3 Sắp xếp ý để miêu tả ……… ……… … 73
2.5.Các dạng bài tập rèn luyện kĩ năng quan sát và tìm ý cho HS ………… ….… 75
Kết luận chương 2……… ……… 83
Trang 4CHƯƠNG 3 THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 84
3.1 Khái quát về thử nghiệm sư phạm… ……… 84
3.1.1 Mục đích thử nghiệm……… 84
3.1.2 Nguyên tắc thử nghiệm ……… 84
3.1.3 Nội dung thử nghiệm……… 84
3.1.4 Đối tượng thử nghiệm……… 84
3.1.5 Kế hoạch thử nghiệm……… 85
3.2 Tổ chức thử nghiệm ……….……… 85
3.3 Phân tích và đánh giá kết quả thử nghiệm……… ……… 85
3.3.1 Phân tích kết quả thử nghiệm ……….……… 85
3.3.2 Đánh giá kết quả thử nghiệm ……… 90
Kết luận chương 3……… 95
KẾT LUẬN 96 1 Kết luận………. 96
2 Đề xuất……… 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 99
PHỤ LỤC ……… 101
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm, khích lệ, từ quý Thầy Cô, đồng nghiệp, bạn bè và người thân Tác giả xin chân thành cảm ơn :
- TS Chu Thị Hà Thanh- người Thầy, người hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ dẫn, và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thực hiện và hoàn thành luận văn;
- Ban giám hiệu Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Đồng Tháp, Khoa sau Đại học của Trường Đại học Đồng Tháp;
- Giáo viên các trường nằm trong địa bàn thị xã Sa Đéc : trường Tiểu học Kim Đồng, trường Tiểu học Phạm Hữu Lầu, trường Tiểu học Phú Long, trường Tiểu học Tân Khánh Đông 1;
Trang 5- Xin ghi nhận sự động viên, giúp đỡ, chia sẻ những khó khăn trong quá trình học tập của các bạn học viên Cao học- Chuyên ngành Giáo dục học khóa 18;
- Tất cả những bạn bè, đồng nghiệp, người thân trong gia đình đã động viên
và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, hầu giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập, nghiên cứu và làm đề tài này.
Vinh, ngày 25 tháng 10 năm 2012
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thế kỉ XXI mở ra nhiều thách thức và vận hội đối với đất nước Đại hội đảng lầnthứ VIII đã quyết định đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước nhằm mục tiêu dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng văn minh, đất nước vững bước đi lên CNXH “Giáo dục phảithực sự trở thành quốc sách hàng đầu Cải tiến chất lượng dạy và học để hoàn thành tốtviệc đào tạo bồi dưỡng nguồn lực con người cho CNH-HĐH đất nước” (Văn kiện Đại hộiĐảng lần thứ VIII) Theo định hướng đó thì bậc tiểu học là nền tảng Mục tiêu giáo dụctiểu học là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phầnhình thành và phát triển nhân cách của trẻ và cung cấp cho trẻ những trí thức cần thiết.Môn TLV ở tiểu học có nhiệm vụ rất quan trọng là rèn kĩ năng nói và viết Nhưng trênthực tế, HS còn lúng túng không biết nói gì? viết gì? Vì vậy dạy cho HS biết quan sát tìm
ý để hình thành một thói quen chuẩn bị làm tốt là một yêu cầu quan trọng khi làm văn.Muốn quan sát tốt, HS cần nắm được cách quan sát và những yêu cầu quan sát để làmvăn Đối với cả GV và HS đều chưa nhận thức được hết tầm quan trọng của giờ hướngdẫn HS quan sát, tìm ý nên chất lượng giờ dạy còn hạn chế
Sự cần thiết đảm bảo nguyên tắc trực quan trong giờ học, nhất là dạy học cho HStiểu học, đã được khẳng định trong các tài liệu dạy học trong nước và ngoài nước Cơ sởcủa việc yêu cầu này có thể tìm thấy trong luận điểm của Lênin về quá trình nhận thứccũng như sự phân tích các đặc điểm tâm lí của trẻ em “Dạy học từ trực quan sinh động
Trang 7đến tư duy trừu tượng…” Hầu như GV tiểu học nhận thức được vai trò của trực quantrong việc nâng cao hiệu quả của dạy học, nhưng dạy học bằng trực quan mà không biếthướng dẫn, giúp đỡ HS các thao tác quan sát các sự vật hiện tượng thì xem như không cótác dụng thiết thực trong dạy học Kĩ năng quan sát có vai trò cực kỳ quan trọng trongcuộc sống của con người Nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duytrừu tượng Trong đó, quan sát là cách thức đầu tiên để con người tiếp xúc đối tượng,nhận biết được các đặc điểm về hình dáng, màu sắc, cấu tạo,……của chúng Đây chính làgiai đoạn nhận thức trực quan Từ đó, kết hợp với quá trình tư duy con người có thể nắmbắt được bản chất của đối tượng cần tìm hiểu Có thể nói, kĩ năng quan sát vừa là conđường vừa là phương tiện để giúp con người có thể mở rộng vốn hiểu biết và vốn sốngcủa mình.
Trong dạy học văn MT, kĩ năng quan sát và tìm ý có vị trí gần như là quyết định
đến sự thành công của bài TLV Bởi lẽ, các em không thể tả “con trâu” trong khi các em chưa từng nhìn thấy (chưa quan sát) “con trâu” một cách cẩn thận Chính kĩ năng quan
sát giúp HS thu thập được những đặc điểm của đối tượng cần MT một cách đầy đủ vàkhoa học Đây sẽ là cơ sở để các em trình bày một bài làm văn logic và phản ánh mộtcách sinh động nhất, đặc trưng nhất về đối tượng được quan sát
Đặc điểm tâm lí của HS tiểu học là thích tìm tòi, khám phá thế giới xung quanhbằng đôi mắt trẻ thơ của mình Do vậy, kĩ năng quan sát là công cụ chủ yếu để giúp các
em tìm thấy được những điều mới lạ của những sự vật, hiện tượng mà các em muốn tìmhiểu Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần phát triển nhận thức và nângcao, mở rộng vốn sống của các em Văn MT trong chương trình tiểu học chiếm một sốlượng đáng kể, chủ yếu tập trung vào các dạng bài với những đề tài rất gần gũi với cuộcsống thường ngày của HS như: MT đồ vật, MT cây cối, MT con vật, MT con người……Tuy nhiên, trong thực tế, hầu hết HS tiểu học còn rất lúng túng trong việc quan sátđối tượng và tìm ý Các em còn chưa nắm được trình tự quan sát một đối tượng như thếnào ? chưa nắm được cách tìm ý ra sao ? Đặc điểm nào là chính, đặc điểm nào là phụ ?Cách ghi chép tư liệu khi quan sát như thế nào ? Tổng hợp tư liệu ra sao ? Sử dụng tư liệu
từ quá trình quan sát vào hành văn như thế nào ? … Đây chính là một trong những
nguyên nhân chủ yếu làm cho bài làm văn MT của HS có hiện tượng “râu ông nọ cắm cằm bà kia” hoặc bài làm văn không đầy đủ ý và thiếu sự sinh động cần có Nhiều em
Trang 8không nắm được đặc điểm đối tượng mình đang tả, dẫn đến tả không chân thực, hoặcchung chung, hay vay mượn của người khác (bài mẫu) Cũng có trường hợp HS đọc xong
đề bài không biết mình cần viết những gì và viết như thế nào, cái gì viết trước, cái gì viếtsau Nhiều HS ở nông thôn, vùng sâu xa chưa hề được ra thành phố, chưa từng được đếncông viên, vườn bách thú hay những danh lam thắng cảnh khác, … Nhiều HS ở thànhphố chưa hề được nghe nhìn thấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng, được quansát cánh đồng lúa lúc xanh mướt đương thì con gái, lúc vàng óng, trĩu bông Hay dòngsông đỏ nặng phù sa, nhiều em nắm được đối tượng, hiểu và biết đối tượng nhưng khilàm bài văn do không biết cách tìm ý như thế nào ? Sắp xếp ý ra sao ? Dẫn đến khi làmvăn không đạt hiệu quả cao …
Quan sát nhằm nhận ra những nét độc đáo đặc biệt của đối tượng chứ không phảithống kê tỉ mỉ trung thực mọi chi tiết về sự vật Trong khi quan sát còn luôn gắn với cảmxúc, với kỉ niệm, với cuộc sống cá nhân của người quan sát Từ đó, gắn chặt với các hoạtđộng liên tưởng so sánh, tưởng tượng, hồi tưởng của từng cá nhân Từ việc quan sát HStìm được từ ngữ diễn tả đúng và sinh động những điều đã quan sát được Trong văn MT,quan sát rất quan trọng Việc quan sát và vi trí quan sát tốt, góc quan sát phù hợp sẽ giúp
ta nắm được cái thần của đối tượng
Quan sát đối tượng không chỉ bằng thị giác mà phải huy động mọi giác quan : thínhgiác (nghe), khứu giác (ngửi), xúc giác (sờ, nắm), vị giác (nếm) Những đoạn văn hay vàhấp dẫn là những thành công của tác giả trong việc dùng nhiều giác quan để quan sát
Với những điều đã phân tích trên cho thấy việc rèn luyện kĩ năng quan sát, tìm ýcho HS tiểu học là rất cần thiết Và cũng từ những đặc điểm trình bày ở trên và xuất phát
từ yêu cầu của việc giảng dạy ở tiểu học chính là lí do để tôi chọn nghiên cứu đề tài:
“Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng quan sát và tìm ý cho HS trong dạy học TLV
MT ở bậc tiểu học.” để thực hiện luận văn này
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đề xuất được các biển pháp rèn kĩ năng quansát và tìm ý cho HS trong dạy văn MT, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tập làmvăn ở trường tiểu học
2 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học văn MT ở tiểu học
Trang 95.2 Đối tượng nghiên cứu: các biện pháp rèn kĩ năng quan sát và tìm ý trong dạyhọc văn MT cho HS tiểu học.
3 Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát : Đối tượng khảo sát của đề tài gồm GV và HS trường tiểu
học ở thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các biện pháp hợp lí rèn luyện kỹ năng quan sát và tìm ý cho
HS trong dạy học TLV MT ở các trường tiểu học thuộc địa bàn thị xã Sa Đéc, tỉnh ĐồngTháp thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn TLV nói chung và văn MTnói riêng trong chương trình tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài
- Khảo sát thực tế về việc rèn kĩ năng quan sát và tìm ý trong làm văn MT của HStiểu học
- Đề xuất các biển pháp rèn kĩ năng quan sát và tìm ý trong dạy học văn MT cho
HS tiểu học
- Thử nghiệm để kiểm chứng kết quả nghiên cứu
6 Phương pháp nghiên cứu
-Nhóm PP nghiên cứu lý thuyết: dùng để nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến
đề tài về mặt lí luận; xác định cơ sở lí luận cho đề tài
-Nhóm PP nghiên cứu thực tiễn (PP điều tra, khảo sát, phỏng vấn, nghiên cứu sản
phẩm của HS, ) dùng để khảo sát dạy và học văn MT; nghiên cứu bài làm văn MT của
HS Tạo cơ sở để đề ra các biện pháp hợp lí và mang tính thiết thực
- Nhóm PP phân tích, thống kê ngôn ngữ: Dùng để tổng hợp các số liệu từ quá
trình điều tra, khảo sát và rút ra nhận xét để làm cơ sở cho việc phân tích đánh giá kết quảkhảo sát
-Nhóm PP thực nghiệm: Dùng để dạy thử nghiệm một số giáo án và rút ra nhận xét,
kiểm chứng kết quả nghiên cứu
7 Đóng góp của luận văn
Hệ thống hoá một số biện pháp rèn luyện kỹ năng quan sát và tìm ý cho học sinh trongdạy Tập làm văn MT ở bậc tiểu học
Trang 10Đề xuất một số biện pháp rèn luyện kỹ năng quan sát và tìm ý cho học sinh trong dạy Tậplàm văn MT ở bậc tiểu học.
8 Cấu trúc
Ngoài phần mở đầu, kết luận - kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
có 3 chương
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn.
Chương 2 Một số biện pháp rèn luyện kỹ năng quan sát và tìm ý cho HS trong dạy học
TLV MT ở bậc tiểu học
Chương 3 Thử nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lịch sử nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu có tính chất lí luận liên quan đến đề tài:
*Văn miêu tả và kể chuyện – Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn Quang Sáng Về cấu trúc, sách gồm 2 phần:
Phần 1: Giới thiệu các bài viết của các nhà văn về suy nghĩ, kinh nghiệm của bảnthan khi viết VMT và kể chuyện
Phần 2: Là những đoạn văn tả và kể chọn lọc của nhiều cây bút khác nhau
Công trình này chỉ mới đề cập những nét chung nhất của một bài VMT,những vấn đề đưa ra vẫn còn là trừu tượng đối với GV và HS Vì thế giáo viên khó vậndụng vào quá trình dạy – học VMT ở lớp 4, 5
* Bài tập luyện viết MT ở tiểu học – Vũ Khắc Tuân.
Trong tác phẩm này, tác giả đi sâu vào giới thiệu các bài tập thuộc các loại bài củaVMT và một số kinh nghiệm của các nhà văn trong việc làm VMT, một số giai thoạitrong việc dùng câu chữ khi viết văn
* VMT trong nhà trường phổ thông – Đỗ Ngọc Thống, Phạm
Minh Diệu Cuốn sách gồm 3 chương và phần phụ lục:
Chương 1 Phân tích chỉ ra những đặc điểm và yêu cầu của văn MT.
Trang 11Chương 2 Giới thiệu một số ý kiến và một số trang VMT của các nhà văn, chủ
yếu là các nhà văn viết cho thiếu nhi, có nhiều tác phẩm được đưa và nhà trường
Chương 3 Giới thiệu văn miêu tả trong nhà trường phổ thong theo yêu cầu của
chương trình SGK mới Đặc biệt tác giả còn giới thiệu hệ thống 95 bài tập và 20 đề VMTvới yêu cầu kết hợp với các phương thức biểu đạt khác
Phần phụ lục: Gồm 50 đoạn văn, bài VMT được lấy từ các nguồn khác nhau, sau
đó bình giảng một số đoạn VMT của các nhà văn
Đây là cuốn sách giới thiệu về VMT tương đối đầy đủ song vẫn chưa phải là cuốnsách về phương pháp dạy học VMT cho HS tiểu học.
* Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Lê Phương Nga, Nguyễn Trí , Cao Đức Tiên:
“ PP dạy học Tiếng Việt”, tập 1, NXB GD, 1999.
Tài liệu này cung cấp những PP dạy Tiếng Việt nói chung và phân môn TLV nóiriêng Do vậy, tác giả chỉ đề cập nhiều đến những mảng nội dung lớn chứ chưa đi sâu vàonhững vấn đề thật cụ thể như rèn kĩ năng quan sát, tìm ý cho HS trong dạy văn MT
* Nguyễn Trí: “Dạy TLV ở trường Tiểu học”, NXB GD, 1998.
Tài liệu này có 3 chương, trong đó phần liên quan đến kĩ năng quan sát, tìm ý nằm
ở chương 3 “PP dạy TLV ở tiểu học” Trong chương này, tác giả có trình bày nội dung
“dạy HS quan sát để tìm ý cho bài văn MT’ Tuy nhiên phần trình bày của tác giả chỉ
mang tính khái quát chứ chưa cụ thể theo từng dạng bài MT Do vậy, kết quả áp dụng đểrèn kĩ năng quan sát tìm ý cho HS tiểu học còn nhiều hạn chế
* Hoàng Hoà Bình: “Dạy văn cho HS tiểu học”, NXBGD, 2002.
Nội dung tài liệu này có 4 chương, phần có liên quan đến việc rèn kĩ năng quan sát
tìm ý cho HS nằm ở phần III của chương 3 “Nội dung cụ thể của PP dạy văn theo hướng đổi mới” Trong đó, tác giả đã trình bày quy trình dạy TLV (văn MT và văn kể chuyện ở lớp 4, 5) Tác giả chú trọng đến việc hướng trẻ em vào việc “Quan sát chính xác và thể hiện chân thực” những quan sát, những suy nghĩ, tình cảm của mình Tuy nhiên, tác giả
chưa đề cập đến việc hướng dẫn các em quan sát như thế nào? Bằng cách nào ? để đạtkết quả tốt nhất
* Các sách GV môn Tiếng Việt từ lớp 2 đến lớp 5, NXB GD
Đây là những tài liệu dành cho GV tham khảo trong quá trình giảng dạy môn TiếngViệt ở Tiểu học, trong đó có phân môn TLV nói chung và TLV MT nói riêng Vấn đề rèn
Trang 12kĩ năng quan sát, tìm ý cho HS có được đề cập đến trong nội dung này nhưng còn mangtính chất riêng lẻ, rời rạc, không hệ thống.
* Tô Hoài: “ Một số kinh nghiệm viết văn MT”, NXB GD, 1999
Trong quyển sách này tác giả Tô Hoài tổng kết một số kinh nghiệm trong việc quansát và tìm ý, thu thập tư liệu để viết văn Tuy nhiên, những kinh nghiệm của tác giả chỉdành cho những người viết văn thành thạo mới có thể vận dụng được Đối với HS tiểuhọc thì những kinh nghiệm này rất khó áp dụng vào hoạt động học tập của mình
* Nguyễn Trí: “ Văn MT và PP dạy văn MT ở trường Tiểu học”, NXB GD, 1998.
Tài liệu này liên quan gần nhất đến đề tài về tính chất lý luận Trong tài liệu này,tác giả đã trình bày về nội dung và PP dạy học TLV MT ở bậc Tiểu học Trong đó,Nguyễn Trí cũng có trình bày sơ lược về vấn đề quan sát, tìm ý nói chung, những nộidung về kĩ năng quan sát, tìm ý chưa được tác giả trình bày rạch ròi, cụ thể
Tóm lại, tuy có nhiều tài liệu liên quan nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đềcập đến vấn đề về kĩ năng quan sát, tìm ý và biển pháp rèn kĩ năng quan sát, tìm ý mộtcách có hệ thống để có thể áp dụng vào quá trình dạy văn MT ở tiểu học
Hay : MT là dùng ngôn ngữ hoặc phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người
khác có thể hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người”
(Từ điển tiếng Việt, 1994).
Như vậy văn MT là bài văn nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung nhữngđặc điểm, tính chất, hoạt động,…nổi bật của sự vật, sự việc, phong cảnh của con người,
…làm cho người đọc, người nghe hình dung được các đối tượng ấy cụ thể, sinh động,hình ảnh Đặc điểm của MT là mang tính thông báo, thẩm mỹ chứa đựng tình cảm củangười viết, sinh động và tạo hình, ngôn ngữ MT giàu hình ảnh
Để có thể MT được, trước hết người làm bài phải biết cách quan sát (chọn thời điểm, góc độ, vị trí, thứ tự quan sát); biết phát hiện và chọn những chi tiết, đặc điểm tiêu
biểu, đặc sắc của đối tượng và sắp xếp chúng theo thứ tự nhất định Các chi tiết, đặc điểmtiêu biểu của đối tượng cần được người tả rung động và liên tưởng, tưởng tượng, so sánh,
Trang 13tìm từ ngữ, hình ảnh, cách diễn đạt phù hợp để người đọc dễ hình dung được đối tượng,
có những rung động, cảm nhận về đối tượng
Chúng ta hãy đọc đoạn văn dưới đây của HS tiểu học tả về con mèo nhà mình :
“Con mèo nhà em nuôi đã lâu Lông nó màu trắng Hai con mắt to tròn Cái mũi đỏ Râu dài mọc xung quanh mép Nó chạy nhảy và leo trèo cả ngày Lúc mệt nó lại nằm ngủ ở góc nhà.”
Đây không phải là đoạn văn MT Đây chỉ là sự liệt kê các đặc điểm, các tính chấtcủa một con mèo Vì thế, nếu nói một cách chặt chẽ thì đoạn văn trên mang tính chất sinhhọc chứ chưa mang tính chất văn học Để tiện đối chiếu so sánh, chúng ta cũng theo dõi
đoạn văn MT con mèo dưới đây của nhà văn Tô Hoài để hiểu rõ về điều đã nói : “Hai mắt mèo tròn và quắc như đôi hòn bị ve để dưới ánh mặt trời Hắn không có môi, song hắn có cái mũi đo đỏ đẹp như cặp môi son hồng của cô gái mười tám tuổi đương thì Đàn bà thị không ưa cái mũi đỏ ấy Người ta bảo mèo mũi đỏ là mèo hay ăn vụng….Gã mèo có cái vẻ đạo mạo như một ông đứng tuổi, đương bắt đầu để râu Hắn hiền hiền mà lại ang ác, nghĩa là trông hắn thì không đời nào đoán được trong óc hắn nghĩ ngợi gì.
Mà chừng hắn chẳng tư tưởng chi ráo! Hắn chỉ là một người rong chơi long bong Chẳng đã có bác trông mặt thì ra đâm chiêu tư lực mà thực ra trong đầu không chứa đựng một ý nhỏ nào”.
Tô Hoài
Rõ ràng đoạn văn này từ việc sử dụng từ ngữ, đến việc so sánh ví von và cáchthức thể hiện tình cảm theo một lối khác hẳn Con mèo vừa hiện lên vừa thực như mọicon mèo khác nhưng lại vừa riêng, vừa cá biệt - một con mèo của riêng nhà văn Tô Hoài
Từ hai ví dụ trên, chúng ta thấy rằng: văn MT là loại văn thể hiện sự vật, sự việc,cảnh vật… một cách sinh động, cụ thể như nó vốn có trong đời sống Đây là loại văngiàu cảm xúc, giàu trí tưởng tượng và sự đánh giá thẩm mỹ của người viết với đối tượngMT
Trong văn MT, người ta không đưa ra những lời nhận xét chung chung, những lờiđánh giá trừu tượng về sự vật như : Cái cặp này cũ, cái bàn này hỏng … Văn MT vẽ racác sự vật, sự việc, hiện tượng, con người … bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể.Văn MT giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đang tận mắt, bắt tận tay Tuynhiên, hình ảnh một cánh đồng, một dòng song, một con vật … do văn MT tạo nên khôngphải là bức tranh chụp lại, sao chép lại một cách vung về Nó là sự kết tinh của những
Trang 14nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được khi quan sátcuộc sống.
Hãy ngắm một góc trời đỏ rực hoa phượng qua ngòi bút của Xuân Diệu Ông gọiphượng là hoa học trò thật đúng Đoạn văn mà lòng người đọc cũng nao nhớ lại cảm xúcthuở cắp sách đến trường mỗi khi cuối xuân đầu hè ngắm nhìn những vừng hoa phượnglắp ló bên đường
“Phượng không phải là một đoá, không phải vài cành; phượng đây là cả một loạt,
cả một vùng, cả một góc trời đỏ rực Mỗi hoa chỉ là một phần tử của cả xã hội thắm tươi; người ta quên đoá hoa, chỉ nghĩ đến cây, đến hàng, những tán hoa lớn xoè ra như muôn ngàn con bướm thắm đậu khít nhau.
Những hoa càng đỏ, lá lại càng xanh Vừa buồn mà lại vừa vui mới thực là nỗi niềm bông phượng Hoa phượng là hoa học trò Mùa xuân, phượng ra lá Lá xanh um, mát rượi ngòn lành như lá me non Lá ban đầu xếp lại, còn e ấp, dần dần xoè ra cho gió đưa đẩy Lòng cậu học trò phơi phới làm sao! Cậu chăm lo học hành, rồi lâu cũng vô tâm quên mất màu lá phượng Một hôm, bỗng đâu trên những cành cây báo một tin thắm: Mùa hoa phượng bắt đầu Đến giờ chơi, cậu học trò ngạc nhiên trông lên : Hoa
nở lúc nào mà bất ngờ vậy ?
Bình minh của hoa phượng là màu đỏ còn non, nếu có mưa, lại càng tươi dịu Ngày xuân dần hết, số hoa tăng lên, màu cũng đậm dần Rồi hoà nhịp với mặt trời chói lọi, màu phượng mạnh mẽ kêu vang : Hè đến rồi ! Khắp thành phố bỗng rực lên nhứ đến Tết nhà nhà đều dán câu đối đỏ.”
Theo XUÂN DIỆU (SGK Tiếng Việt 4, tập hai, tr 43)
Chúng hãy nhìn xem cảnh mùa xuân bên bờ sông Lương dưới ngòi bút của Nguyễn
Đình Thị : Tuy rét vẫn kéo dài, mùa xuân đã đến bờ sông Lương Mùa xuân đã điểm các chùm hoa đỏ mọng lên những cành cây gạo chót vót giữa trời và trải màu lúa non sang diu lên khắp mặt đất mới cách ít ngày còn trần trụi đen xám Trên những bãi đất phù sa min hồng mơn mởn, các vòm cây quanh năm xanh um dần dần chuyển màu lốm đốm, như được rắc thêm một lớp bụi phấn hung vàng : các vườn nhãn, các vườn vải đang trổ hoa Và hai bên ven sông nước êm đềm trong vắt không một tấc đất nào bỏ hở Ngay dưới lòng sông, từ sát mặt nước trở lên, những luống ngô, đỗ, lạc, khoai, cà … chen nhau xanh rờn phủ kín các bãi cát mùa này phơi cạn …”
Trang 15Trong đoạn văn MT trên đây, cảnh mùa xuân hiện lên cụ thể, từ cây hoa gạo đỏmọng chót vót đến màu lúa non sang dịu, những vòm cây xanh um … Tình cảm yêu mếncảnh vật của tác giả không bộc lộ trực tiếp, lộ liễu mà kín đáo gửi gắm trong từng chi tiết
MT Các màu sắc đỏ mọng, mịn hồng, mơn mởn, màu lúa non sang dịu, xanh um, xanhrờn… màu nào cũng đậm, cũng như đập mạnh vào mắt người đọc để khoe sức sống dồidào bên trong mỗi vòm cây, tán lá để khoe cái màu mỡ, cái hớn hở, mà mùa xuân vừakhoát lên cho cỏ cây Những màu sắc tưng bừng ấy là sự phản chiếu lên cảnh vật tìnhcảm sâu lắng của tác giả
Tóm lại, biết quan sát và lựa chọn tinh tế, tác giả chỉ cần phác hoạ vài nét đã tạo rabức tranh xuân rực rỡ mà hài hoà về màu sắc, giàu cảm xúc
MT là hòn đá thử vàng đối với các tài năng văn học, tạo nên sự hấp dẫn của tácphẩm văn học Có những tác giả tốn công vô ích ghi chép rồi đưa vào tác phẩm của mình
vô vàn chi tiết khi MT, nhưng người đọc vẫn chẳng nhìn thấy gì hết ngoài những dòngchữ tẻ nhạt Ngược lại, chỉ vài nét thôi, các tài năng đích thực đã tạo nên bức tranh phongcảnh, những bức chân dung … tuyệt diệu Sự vật được MT hiện ra lồ lộ và dường nhưđang rung rinh, đang chuyển động, đang sinh sôi nảy nở … trước mắt người đọc Nhữngcành thông, lá liễu trong hai câu thơ sau đây của Hồ Xuân Hương có sức sống mạnh mẽkhiến cho bức tranh thiên nhiên trở nên cụ thể, hữu hình
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo
HỒ XUÂN HƯƠNG (Đèo Ba Dội)Trong lao động nhà văn, A Xây-tlin kể lại : Goóc-ki vốn là nhà văn yêu mến và trântrọng các người viết trẻ Ông để thời gian đọc, nhận xét, hướng dẫn cho nhiều người mớichập chững vào nghề Một lần, sau khi đọc tác phẩm của một tác giả trẻ, ông đã thẳngthắn khuyên : “ Anh ạ ! Anh bỏ viết đi Đấy không phải là việc của anh, có thể thấy rõnhư thế Anh hoàn toàn không có khả năng MT những con người cho sinh động mà đấylại là chủ yếu
Sự MT trong văn chương có ưu thế riêng so với sự MT bằng màu sắc, đường nét củahội hoạ Dùng ngôn ngữ, văn chương có thể MT bằng màu sắc, dường nét của hội hoạ.Dùng ngôn ngữ, văn chương có thể MT sự vật trong một quá trình vận động, mà đấy lại
là điểu chủ yếu
1.2.1.2 Đặc trưng cơ bản của thể loại văn MT trong sự biểu hiện của quan sát
Trang 16a) Khả năng quan sát tạo nên tính sinh động và tính tạo hình
Đặc trưng quan trọng của đặc trưng này là phẩm chất của một bài MT hay Để tạonên tính sinh động và tạo hình Đầu tiên là các chi tiết MT phải có cái mới, cái riêng Nếumất đi cái riêng trong MT, bài văn sẽ trở thành công thức sáo rỗng Hơn nữa, muốn bàiVMT thể hiện rõ được các chi tiết thì phải có khả năng quan sát Quan sát là hình thứccao nhất của tri giác, có vai trò rất quan trọng và là cửa ngõ nối liền thế giới chủ quan.Nếu không có quan sát thì vốn hiểu biết, trí tưởng tượng và nói chung là toàn bộ trí tuệtâm hồn chúng ta đều không chỉ nghèo nàn mà còn không thể hình dung được Muốn mởrộng hiểu biết, phát triển tâm hồn mình, muốn “làm văn, viết văn” cần phải hiểu biết rộngtức là phải quan sát được thật nhiều những cảnh vật, con người,… Về phương diện này,văn MT gắn chặt với tâm hồn, cũng như với óc quan sát tinh tế của con người Chínhnhững kết quả quan sát đã đem lại sự giàu có trong nhận thức và tâm hồn người viết.Chẳng hạn, nếu chúng ta chưa từng quan sát con gà, thì chẳng những chúng ta không có
gì để viết con gà mà chúng ta chẳng có một ấn tượng hay nhận thức gì về con gà Nếu chỉnhìn một cách bình thường, giản đơn, chẳng hạn như nhìn thấy một cánh đồng, đó chưaphải là quan sát Một hành động quan sát đem lại một nhận thức, một cảm xúc, một nét gìmới mang tính thẩm mĩ,…mới có thể cho ta những tư liệu quý để viết văn MT làm chobài văm thêm sinh động hơn, cũng như bồi dưỡng tâm hồn mình
Những bài văn MT hay có hồn và sống động là trang văn của những người biếtquan sát và chịu khó quan sát như nhà văn Tô Hoài làm đắm say nhiều thế hệ thiếu niênbằng những trang MT tính nết, phong tục của Dế Mèn, Dế Trũi,… là ông đã gắn bó, bầubạn và say mê với thế giới cây cỏ, loài vật trên sông nước Nhà thơ Trần Đăng Khoa chobiết, ngày nhỏ anh từng say mê ngồi quan sát đàn kiến tha mồi, tiếng gà gáy,…để rồi tảđược Ò…ó…o sinh động đến thế”
“Ò…ó…oÒ…ó…oTiếng gàGiuc quả na
Mở mắt Tròn xoe…”
Trang 17Quan sát không chỉ là hành động bên ngoài, mà nhiều khi quan sát bên trong đểthấu hiểu để thấu hiểu diễn biến tâm trạng nhân vật Trần Đăng Khoa là một trong nhữngnhân vật có biệt tài như thế Đây là tâm trạng của đứa con trong bài thơ “Mẹ”
“Những ngôi sao thức ngoài kiaChẳng bằng mạ đã thức vì chúng con
Đêm nay con ngủ giấc tròn
Mẹ là ngọn gió của con suốt đời”
Muốn quan sát tốt phải lựa chọn điểm nhìn, góc nhìn Khi MT, bao giờ người viếtcũng xuất phát từ một vị trí, đóng vai một người nào đó để quan sát VMT Một bài văn
MT thể hiện được tính sinh động ở chỗ nó nói lên cái mới, cái riêng đó chính là có mộtđiểm nhìn, góc nhìn riêng biệt làm cho người đọc có những khám phá mới mẻ về một đốitượng nhất định Ch ng h n, v i góc nhìn c a m t đ a tr th i kháng chi n Tr n ới góc nhìn của một đứa trẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ủa một đứa trẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ột đứa trẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ứa trẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ời kháng chiến Trần Đăng Khoa ến Trần Đăng Khoa ần Đăng Khoa Đăng Khoang Khoa
đ a vào th mình c m t không gian chi n tranh, m i m th y cây d a nh m t ng i lính:ột đứa trẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ến Trần Đăng Khoa ới góc nhìn của một đứa trẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ấy cây dừa như một người lính: ừa như một người lính: ột đứa trẻ thời kháng chiến Trần Đăng Khoa ời kháng chiến Trần Đăng Khoa
“Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi”
thấy bông lúa giống như “băng đạn”:
“Những năm băng đạnVàng như lúa đồngBát cơm mùa gặtThơm hào giao thông”
(Hạt gạo làng ta)
Qua đó có thể thấy khi MT cần phải biết quan sát một cách tinh tế, gắn liền với sựvật được MT và kết hợp với so sánh, liên tưởng để MT một bài văn hay thể hiện rõ tínhsinh động và hấp dẫn của bài văn MT
b) Tính thông báo thẩm mĩ chứa đựng tình cảm của người viết qua liên tưởng và tưởng tượng
Bao giờ MT cũng theo lí tưởng thẩm mĩ thể hiện một quan điểm thẩm mĩ và mangđến cho người đọc những cảm xúc thẩm mĩ Dù MT một con mèo, một con gà, một câybàng thay lá mùa thu hay một cánh đồng lúa chín,…bao giờ người viết cũng gửi vào đó íthay nhiều tình cảm, hay ý kiến đánh giá bình luận của mình Đặc điểm này làm nổi bậtlên cái hay của bài văn MT
Trang 18Khi quan sát MT, liên tưởng và tưởng được sử dụng như là biện pháp làm nên cáihay của bài Có thể nói “Tưởng tượng đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành vàphát triển tài năng, tâm hồn, nhân cách con người Lênin đã cho rằng “Nếu không cótưởng tượng thì chỉ không có các nhà thơ, nhà văn và tác phẩm văn học, mà thậm chí cònkhông có các bài toán vi phân và tích phân nữa…” Đối với việc viết văn nói chung vàlàm văn MT nói riêng, nhờ có tưởng tượng mà tất cả hình ảnh, màu sắc, âm thanh,…đều
có thể tái hiện trước mắt chúng ta trong điều kiện chúng không nhất thiết phải xuất hiện.Chẳng hạn, khi MT một dòng sông, không nhất thiết dòng sông ấy phải ở ngay trước mắt
ta Hơn thế nữa, tất cả các chi tiết đặc trưng của sự vật trong thực tế không phải lúc nàocũng được bộc lộ, và lại càng không phải bộc lộ tập trung, nhưng nhờ có tưởng tượng mà
sự vật hiện ra nguyên hình với tất cả những nét đặc trưng của nó Ví dụ, con đường đếntrường không phải lúc nào cũng đẹp, tuy vậy nhờ có tưởng tượng trong bài viết HS, conđường ấy hiện lên với tất cả những nét tươi đẹp của nó Hơn nữa, các em có thể sáng tạo
ra những hình ảnh lung linh, rực rỡ tuyệt vời chưa từng có trong thực tế làm nên cái haycủa bài MT như: khát vọng sống, tình yêu, giấc mơ hạnh phúc,…
VMT nhằm dựng người, dựng cảnh, dựng không khí, giúp người đọc hình dung ra
sự vật, sự việc một cách sinh động cụ thể Vì thế, khi viết VMT người ta thường liêntưởng, so sánh, ví von,…nhờ đó mà VMT kích thích óc sáng tạo của người đọc Đó lànhững hình ảnh so sánh, liên tưởng vừa gần gũi quen thuộc, bất ngờ mới lạ khiến ngườiđọc không khỏi ngẫm nghĩ ngỡ ngàng và kinh ngạc Khi MT hình ảnh của người mẹ nuôicon trên tác giả sử dụng hàng loạt so sánh thú vi:
“Lưng núi thì to mà lưng mẹ thì nhỏ
Em ngủ ngoan đừng làm mẹ mỏiMặt trời của bắp thì nằm trên đồiMặt trời của mẹ em nằm trên lưng”
(Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ)
Trong văn MT, so sánh liên tưởng là rất cần thiết, nhưng phải đúng lúc, đúng chỗthì tạo được tính thẩm mĩ của bài văn Nếu không có tưởng tượng thì trong VMT, ngườiviết sẽ không thể hiện nổi dù chỉ một sự sao chép đơn thuần và máy móc đối với sự vậtcần MT, không thể nói tới bất kì sự sáng tạo nào và ở đấy sẽ không có văn chương
c) Ngôn ngữ giàu cảm xúc và hình ảnh
Trang 19Nhà văn M Goki viết “Văn học là nghệ thuật của ngôn từ” Vì thế lao động củanhà văn, xét đến cùng, là lao động chữ nghĩa, lao động ngôn ngữ, một thứ lao độngkhông kém bất cứ một thứ lao động nào khác Vì vậy, ngôn ngữ MT mới có khả năngdiễn tả cảm xúc của người viết, thể hiện một cách sinh, tạo hình đối tượng MT Quan sátnhiều bài văn MT, người ta thấy ngôn ngữ MT giàu các tính từ, động từ, thường hay sửdụng nhân hóa, so sánh, ẩn dụ Do sự phối hợp các tính từ, của các động từ với biện pháp
tu từ, ngôn ngữ MT luôn tỏa sáng lung linh trong lòng người đọc, gợi lên trong họ nhữngcảm xúc, tình cảm, ấn tượng về hình ảnh được MT Đây là đoạn MT có ngôn ngữ giàuhình ảnh:
“Đó là một buổi chiều hạ có mây trắng xua đuổi nhau trên cao Nền trời xanh vờivợi Con chim sơn ca cất tiếng hót tự do, tha thiết đến nỗi người ta phải ao ướt giá mình
có một đôi cánh Trải khắp cánh đồng nắng chiều vàng lịm và thơm hơi đất, là gió đưathoang thoảng láu ngập đồng và hương sen”
(Đỗ Chu) d) Thái độ và tình cảm người viết trong văn MT
Văn MT cố nhiên phải có mục đích tái hiện đối tượng, song mỗi người một vẻ.Tâm hồn người viết bao giờ cũng thể hiện đằng sau “bức tranh”, cảnh, vật, con người
Trong bài thơ “Ngắm trăng” của Hồ Chí Minh ở đây không chỉ có cảnh mà còn có tất cả
sản phẩm sáng tạo trong văn MT, đều nhuốm một màu sắc cá tính, không chỉ là nỗi buồn
mà còn là tất cả tâm hồn, trí tuệ, nhân cách của người viết
Đọc một bài văn MT, dù tả cảnh hay tả người,…người đọc vẫn cảm nhận được vẻđẹp tâm hồn của người viết gửi vào bài văn
Muốn bài văn MT hay, người viết phải có tài quan sát và thể hiện bằng các từ ngữ,
hình ảnh, bằng lối so sánh,…mà phải có tình Cái tình đó có thể là tấm lòng say đắm, là
thái độ và tình cảm trân trọng mến yêu đối với các đẹp, các thiện, cái trong sáng, caothượng,…nhưng cũng có thể là sự căm ghét khinh bỉ, đối với cái ác, cái xấu Không cócái tình mọi sự MT dù ngôn ngữ có sắc sảo, phong phú và mới mẻ đến đâu cũng chỉ làlàm xiếc ngôn từ làm cho bài văn MT có cái xác không có hồn, không gây xúc động chongười đọc Nhìn chung, khi MT, thái độ và tình cảm của người viết thể hiện một cáchgián tiếp thông qua cách nhìn sự vật, cách dùng từ ngữ Phải yêu quê hương và gắn bóvới cảnh vật làng quê này lắm, nhà văn Nguyễn Phan Hách mới MT:
Trang 20“Phong cảnh ở đây thật đẹp Thoắt cái, lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu.Thoắt cái, trắng long lanh như một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận Thoắtcái, gió xuân hây hẩy, nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung quý hiếm.
Sa Pa quả là món quà tặng diệu kì mà thiên nhiên dành cho đất nước ta” Qua đó,
ta thấy được tình cảm của tác giả gửi gắm vào trong bài làm cho người đọc cảm nhậnđược cái đẹp của làng quê qua ngòi bút của tác giả
Tóm lại, với những nét đặc trưng của thể loại văn MT, khi người viết biết áp dụng
và phối hợp một cách hài hòa, bài VMT sẽ thu hút được người đọc, làm cho người đọccảm nhận giá trị và tình cảm của tác giả gửi vào trong bài
1.2.1.3 Văn MT trong nhà trường tiểu học
* Hiện nay, văn MT được dựa vào chương trình phổ thông ngay từ các lớp đầuTiểu học Từ lớp 2, khi tập quan sát tranh để trả lời câu hỏi, các em đã bắt đầu làm quenvới VMT Tại sao cần cho các em HS tiểu học trong VMT? Có thể nêu lí do: Vì VMT
phù hợp với đặc điểm tâm lí tuổi thơ (ưa quan sát, thích nhận xét, sự nhận xét thiên về cảm tính…); góp phần nuôi dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các em với
thế giới xung quanh trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáo dục tìnhcảm thẩm mĩ, lòng yêu cái đẹp, góp phần phát triển ngôn ngữ ở trẻ….Học văn MT, HS
có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và tình cảm, ngôn ngữ và cuộcsống, con người với thiên nhiên với xã hội, để khêu gợi ra những tình cảm, cảm xúc, ýnghĩ cao thượng, đẹp đẽ… Xu-khôm-lin-xki, nhà giáo dục Xô Viết cho rằng việc HS tiếpxúc với thiên nhiên, việc dạy các em MT cảnh vật nhìn thấy, nghe thấy… là con đườnghiệu qua nhất để giáo dục các em và phát triển ngôn ngữ ở trẻ Không phê phán cách tổchức học tập tách HS với thể giới xung quanh
- “Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc đời HS, chúng ta đã đóng lại cánh cửa
mở vào thế giới đẹp mê hồn của thiên nhiên xung quanh và em cũng không được nghe thấy tiếng róc rách của dòng suối nhỏ, tiếng tí tách của hạt mưa xuân, tiếng hót của chim sơn ca Em chỉ học thuộc lòng những câu khô khan, không màu sắc về tất cả những vật kì diệu đó”
Ông biểu dương cách dạy để HS hoà mình vào thiên nhiên, MT thiên nhiên : “… Hết tiết dạy này đến tiết dạy khác, tôi dắt trẻ đi vào nguồn bất tận và vĩnh cửu của tri thức thiên nhiên: vào vườn cây, vào rừng, ra bờ sông và cánh đồng Cùng đi với trẻ, tôi
Trang 21bắt đầu dạy các em dung ngôn ngữ để diễn đạt những sắc thái tinh tế của hiện tượng và
sự vật”…
* Sự phân chia thành các kiểu bài MT
Trong văn học, khi bàn đến vấn đề MT, người ta có nói đến tả người, tả cảnh, tảvật… nhưng không nâng lên thành kiểu bài với những tiêu chuẩn quy phạm Việc sửdụng đan xen MT với tường thuật, MT với kể chuyện… làm cho các đoạn MT trong tácphẩm văn học thường không dài và giữ vai trò điểm xuyết vào quá trình của các tình tiết.Những đoạn MT dài và hoàn chỉnh như một đơn vị độc lập ít thấy
Đưa vào nhà trường, MT được học thành một loại văn HS học và làm những bàitập MT hoàn chỉnh thành một văn bản Do yêu cầu giảng dạy, văn MT được chia thànhnhiều kiểu căn cứ vào đối tượng MT như văn tả đồ vật, tả người, tả vật… Cho đến gầnđây người ta còn thêm văn MT cây cối Các kiểu bài dần dần được ổn định Lí thuyết vềtừng kiểu bài tuy còn sơ lược và còn nhiều khoảng trống nhưng đã hình thành Lí thuyếtvạch ra đối tượng và yêu cầu MT, xác định nội dung MT, ngôn ngữ MT…
Lúc đầu việc phân chia thành các kiểu bài chỉ như một ước lệ Càng ngày ranhgiới phân định càng rạch ròi, chặt chẽ thì tính độc lập tương đối của các kiểu bài văn MTcàng rõ Hiện nay, HS học và làm bài MT đồ vật rồi MT cây cối, MT loài vật… nhưnhững bài ít có quan hệ với nhau Chính điều đó làm cho việc học văn MT bị ảnh hưởngkhông tốt Ngay cả việc sắp xếp trình tự các kiểu bài cần để học cũng là một vấn đề cầnphải suy nghĩ thêm Vì sao văn tả đồ vật nên học trước văn tả người? Vì đồ vật không cóhoạt động vô tri, vô giác nên dễ tả hơn chăng…
Để việc học văn MT có hiệu quả, trước mắt chúng ta cần vận dụng tốt lí thuyết vềkiểu bài, đồng thời có sự nghiên cứu để bổ sung và hoàn thiện
* Bài tập MT theo một đề bài cho trước
Ở bậc tiểu học, lần đầu tiên HS được làm bài văn MT Các em gặp nhiều khó khăn
cả về tri thức và PP, hiểu biết và cảm xúc về đối tượng MT, Các em lấy đâu ra hiểu biết
về cây hoa, ra quả, về anh công nhân đang xây nhà… Nếu không được quan sát? Hầu hếtcác em sẽ không có gì để hồi tưởng về đối tượng MT nếu liền ngay trước tiết làm bài văncác em không được đến tận nơi xem xét, nhận xét Ngoài ra, MT theo đầu bài cho sẵn dữliệu các em có cảm xúc để làm bài không ? Những khó khăn về nội dung càng được nhânlên do các em chưa nắm được PP quan sát, bố cục bài MT, sử dụng ngôn ngữ MT Vìthế, cần xem xét các bài văn MT ở bậc Tiểu học là những bài tập ban đầu luyện các kỹ
Trang 22năng MT Có như vậy việc đánh giá mới phản ánh đánh giá đúng yêu cầu của chươngtrình và có tác dụng động viên HS.
Bài văn MT của HS mang tính quy phạm Trước tiên về độ dài Chương trình cóquy định rõ độ dài của bài văn MT ở từng lớp như một trong các chuẩn cần đạt Nếu bàiviết của em quá ngắn thì riêng về độ dài đã không đạt yêu cầu của nhà trường Bên cạnh
đó bài văn phải có cấu trúc đủ 3 phần (mở bài, than bài, kết luận), thiếu một phần có thể
không thể được đánh giá cao
1.2.2 Đặc điểm tâm lí của HS tiểu học với việc học văn MT
Tâm lý học hoạt động cho rằng, hoạt động là sự vận động của chủ thể, của conngười, hoạt động quy định nguồn gốc, nội dung và vận hành của tâm lý, tâm lý hoạt độngcủa con người thể hiện như sau :
Hành động - Mục đích cụ thểThao tác - Điều kiện, phương tiệnThành tựu của tâm lý học hoạt động được vận dụng vào lý thuyết hoạt động lời
nói Theo A.N Lê-ôn-chep (nhà tâm lý ngôn ngữ học người Nga), để giao tiếp được, con người cần nắm được hàng loạt các kỹ năng như : Biết định hướng giao tiếp, biết lập chương trình, lựa chọn nội dung, tìm được những phương tiện hợp lý để truyền đạt nội dung giao tiếp.
Theo ông, cấu trúc động của hành vi nói năng con người gồm 4 giai đoạn : địnhhướng, lập chương trình, biểu đạt chương trình, thực hiện hoá và kiểm tra
Những thành tựu của tâm lý học hoạt động là cơ sở để dạy các hoạt động tạo lậpvăn bản cho HS với sự cụ thể hoá các kỹ năng trong mỗi giai đoạn như sau :
- Định hướng : Bao gồm các kỹ năng tìm hiểu đề bài (Yêu cầu, giới hạn của đề bài…)
- Lập chương trình biểu đạt : Gồm các kỹ năng tìm ý, lập dàn ý
- Hiện thực hoá chương trình : Bao gồm các kỹ năng diễn đạt, kỹ năng viết đoạn,viết bài văn
- Kiểm tra : kỹ năng hoàn thiện bài viết
Từ các vấn đề trên, đối với việc dạy văn trong nhà trường tiểu học phải đạt mụcđích tạo năng lực văn cho HS Hiểu theo nghĩa rộng, năng lực này là khả năng rung động,
Trang 23cảm thụ với cái đẹp; là năng lực tạo ra cái đẹp trong cuộc sống; là cả cá tính và bản lĩnhcủa con người có ý thức về bản thân… năng lực này được tạo ra trong quá trình chuyểnnăng lực văn của dân tộc, của loài người trong mỗi trẻ theo cách : Thầy giáo không mớmkiến thức cho HS thụ động, ăn sẵn, thầy chỉ là cố vấn, là người tổ chức hướng dẫn, điềukhiển để các em tự lao động, tự nhập thân vào tác phẩm, tự làm giàu năng lực của mình
nhờ lấy được năng lực của những thế hệ đi trước Rubịnstein viết :“ Con người chỉ năm vững những cái chính đạt được bằng lao động” Chỉ bằng cách tự lao động, những gì trẻ
em chiếm lĩnh được mới thực sự vững chắc, mới thực sự là của các em
- HS lớp 4, 5 đã bước vào lứa tuổi thiếu niên, các em lớn nhanh, kích thước và tổchức cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành hành vi và đời sống nội tâm của các em
đã có những thay đổi đột biến Vốn sống của các em ở giai đoạn này, đã tương đối phongphú Ở giai đoạn này, các em ý thức mình không còn là trẻ con Tuy hành vi của các emvẫn còn là trẻ con, nhưng các em lại tỏ ra mình đã là người lớn Các em không thích bịngười lớn coi mình như là trẻ con Giai đoạn này, các em thường bướng bỉnh, khó bảonếu không được tôn trọng, không được cư xử bình đẳng ở tuổi này, được gọi là tuổichuyển tiếp, tuổi “bất tri”
Do sự cân bằng cơ thể của các em bị phá vỡ, sự cân bằng người lớn của các emcòn chưa vững chắc, các em dễ xúc động và xúc động cao L X Vugôtki cho rằng:
“Những giai đoạn khủng hoảng trong đời sống con người, những thời kì chuyển tiếp vàcấu tạo lại cơ thể luôn tràn đầy những phản ứng cảm xúc và đời sống tình cảm”? (Tưởngtượng và sáng tạo ở tuổi thiếu niên - Mat cơ- va, 1967)
Tình trạng dâng cao cảm xúc khiến trẻ ở tuổi này có một sự thay đổi đáng kể là:Các em thích quan sát, thích nhận xét đánh giá thường thì những nhận xét này mang tínhtrực quan cảm tính, các em đã thay đổi hoạt động sáng tạo yêu thích là vẽ ở giai đoạntrước tuổi đến trường và đầu tuổi tiểu học bằng hình thức sáng tạo ngôn ngữ nói và ngônngữ viết so với vẽ và đặc biệt là những nét vẽ chưa hoàn thiện, thì “lời nói cho phép diễnđạt dễ dàng hơn rất nhiều lần những quan hệ phức tạp, những tính chất bên trong, những
sự vận động logíc, sự phức tạp của sự kiện” Vì vậy, từ lớp 4, hoạt động sáng tạo yêuthích của trẻ em là viết văn nói chung và viết VMT nói riêng Bởi thông qua hoạt độngnày, các em có thể hiện hết trí tưởng tượng và khả năng cảm nhận thế giới đồ vật, câycối, cảnh vật cũng như con người xung quanh các em thích tìm hiểu và khám phá ra cáimới, cái riêng cho mình khi quan sát, nếu các em thích thú với chi tiết, hình ảnh nào các
Trang 24em sẽ chú tâm và quan sát rất kĩ chi tiết, hình ảnh đó Các em đã tương đối phát triển ngônngữ, vì vậy có thể miêu tả lại đối tượng theo cảm nhận riêng của mình HS khi học văn
MT, nếu được GV đưa ra một PP dạy đúng, hấp dẫn thì các em sẽ rất hứng thú khi học.Được viết những xúc động từ trong lòng, từ những điều chính mắt các em quan sát được,không ít HS đã viết được những đoạn văn khá hoàn chỉnh
1.2.3 Quan sát và tìm ý trong văn MT
1.2.3.1 Quan sát là gì ?
Trong cuộc sống, khi muốn tìm hiểu về một sự vật hiện tượng nào đó chúng ta phảidùng các giác quan như: thị giác để thu nhận những đặc tính về màu sắc, hình dạng; khứugiác để thu nhận các đặc tính về mùi hương; Đó chính là quá trình quan sát hay nói
ngắn gọn hơn, quan sát là sử dụng các giác quan để nhận biết sự vật Dạy cho HS quan
sát là dạy cho các em biết cách sử dụng các giác quan để tìm ra các đặc điểm của sự vật.1.2.3.2 Đặc điểm quan sát trong văn MT
a Đặc điểm nhận thức bằng trực quan của HS tiểu học
Nhận thức bằng trực quan của HS tiểu học có một số đặc điểm cơ bản sau:
Khả năng tri giác của HS tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chi tiết vàmang tính không chủ động Do đó các em phân biệt những đối tượng còn chưa chính xác,
dễ mắc sai lầm có khi còn lẫn lộn Chính vì vậy khi tri giác một sự vật, những chi tiết dễ
thu hút các em nhất là những chi tiết có màu sắc sặc sỡ hay những hình ảnh “bắt mắt”,
mới lạ trong khi đó các em bỏ qua những chi tiết quan trọng khác
Tri giác của các em gắn liền với hành động và hành động thực tiễn của trẻ Tri giác
sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật như: cầm, nắm, sờ mó, Như vậy, nhậnthức của các em là nhận thức trực quan sinh động Có nghĩa là khi muốn các em nhậnthức về một đối tượng nào đó thì việc cho các em trực tiếp tiếp xúc với đối tượng đó(được nhìn, được sờ, được ngửi, ) đúng cách, là con đường nhanh nhất, chính xác nhất
và mang lại hiệu quả cao nhất
Tính cảm xúc thể hiện rất rõ khi các em tri giác – quan sát sự vật, các em bộc lộ rất
rõ những cảm xúc của mình một cách hồn nhiên đối với đối tượng mà mình tri giác.Chính đặc điểm này tạo nên những nét riêng trong mỗi cá thể HS Tạo nên sự phong phú
và đa dạng về nhận thức cũng như tình cảm ở các em
b Sự ảnh hưởng của nhận thức bằng trực quan vào học văn MT
Trang 25Đặc điểm nhận thức của HS tiểu học là nhận thức trực quan Nó có ảnh hưởng tolớn đến việc học văn MT Khi dạy học văn MT, chúng ta cần giúp HS tri giác về các đốitượng MT bằng hoạt động có mục đích đặc biệt Quá trình tri giác này phức tạp và sâusắc hơn so với việc quan sát đơn thuần Bởi lẽ khi đó, nó trở thành hoạt động có phântích, có phân hoá hơn Quá trình tri giác này mang tính chất của sự quan sát có tổ chức.Đây sẽ là cơ sở cho việc rèn luyện kĩ năng quan sát nhằm góp phần nâng cao chất l ượngbài làm văn MT của các em
Muốn HS làm tốt bài văn MT không có cách nào hiệu quả hơn việc cho HS trựctiếp tiếp xúc, quan sát các đối tượng cần MT để nắm bắt được các tính chất cơ bản củachúng sau đó viết lại thành một bài văn sinh động, mang đậm cách nghĩ, cách cảm của
mỗi cá nhân Chính vì, đặc điểm này mà khi làm văn, một HS đã tả “một đêm trăng đẹp” như sau: em bước ra sân để thắp hương giao thừa, ánh trăng tròn vằng vặc soi rõ khu tập thể làm những chiếc lá sáng lên loang loáng, Mới đọc qua câu văn có vẻ suông sẻ
nhưng nó hoàn toàn không chính xác so với thực tế Đêm giao thừa làm gì có trăng? Ta
dễ nhận ra rằng em HS này hình như chưa một lần ngắm (quan sát) trăng thực sự mà chỉtưởng tượng ra rồi viết Thế là sai Vai trò quan trọng của kĩ năng quan sát là như vậy! TLV MT có tác dụng rèn kĩ năng quan sát có tổ chức cho HS Khi được hìnhthành, chính kĩ năng quan sát có tổ chức này sẽ giúp HS phát triển khả năng MT củamình trong học tập cũng như trong cuộc sống
Để có kĩ năng quan sát nhằm vận dụng vào làm bài văn MT các em phải có nhữnghiểu biết phong phú, rộng rãi và cụ thể, sâu sắc về thế giới hiện thực Trong khi đó, đặcđiểm nhận thức của HS tiểu học về các đối tượng khách quan còn khá nhiều hạn chế Vìvậy, GV phải giúp cho HS trau dồi vốn sống, hướng dẫn các em cách thu thập vốn sống,đồng thời phải giúp các em biết thể hiện chân thực những quan sát và những suy nghĩ,tình cảm riêng của mình khi MT
1.2.3.3 Tìm ý và sắp xếp ý trong văn MT
a Tìm ý
Điều kiện cơ bản và cũng là PP cơ bản làm tốt bài VMT là phải biết quan sát vàchọn lọc những chi tiết quan sát được Mọi kết quả quan sát được thể hiện trong bàiVMT Quan sát tinh vi thấu đáo, bài viết sẽ đặc sắc, hấp dẫn Quan sát hời hợt, phiến diệnbài viết sẽ khô khan, nông cạn Xét cho cùng, mọi loại bài thuộc thể văn sáng tác đều phụ
Trang 26thuộc vào khả năng quan sát của người viết Nhưng MT là kết quả trực tiếp, dễ thấy nhấtcủa quan sát.
Quan sát là sự vận dụng các giác quan để xem xét, nhận biết sự vật và hiện tượngnào đó.Tuy cùng sử dụng PP quan sát nhưng nhà khoa học và người viết văn lại nhằm thulượm những tư liệu khác nhau Nhà khoa học khi quan sát một con vật, theo dõi thời tiết,nghiên cứu cơ thể người…., điều họ chú ý là đặc điểm chung của giống, loài mà cá thể đó
đại diện (con chó có đặc điểm gì chung của lớp thú, chân của mèo có đặc điểm gì tiêu biểu cho bộ ăn thịt…) tài liệu họ thu được là các nhận xét mang tính khái quát và không
chứa đựng cảm xúc hay trạng thái tình cảm Người viết VMT lại quan sát theo một yêucầu khác Họ chú ý tới các đặc điểm riêng của từng cá thể, đồng thời nhận xét các đặc
điểm này thông qua tình cảm và cảm xúc của mình (con mèo bộ lông có đặc điểm gì khác các con mèo xung quanh, khuôn mặt chi kia có đặc điểm gì riêng so với người phụ nữ khác…) Tài liệu thu được là những nhận xét mang tính chủ quan và gắn liền với cảm
xúc
Khi quan sát, hàng loạt chi tiết gây ấn tượng được người quan sát thu nhận Nhưngkhông phải toàn bộ các tài liệu đó được đưa vào bài Cần phải chọn lọc “ một bài MT tốtnhất không phải là một bài MT với nhiều sự vật nhất là phải MT dẫn đến cảm giác mãnhliệt nhất, không phải là đưa vào nhiều chi tiết mà diễn đạt các chi tiết có góc cạnh sinh
động Cường độ cảm xúc ( gây cho người đọc) nằm trong chất lượng và trong sự chọn
điều gì mình muốn nói ra Vì vậy, ta chọn các nét có tính chất tạo hình và khung cảnh.Các chi tiết này thu được do quan sát nhạy bén, độc đáo Chúng làm lộ ra những gì chân
thực nhưng ít được chú ý, những gì (người đọc) nhìn rất rõ và cố có ý tưởng”.
Về PP quan sát, cần chú ý những điểm sau :
Thứ nhất, Con người bao giờ cũng nhìn cảnh vật theo quan niệm thẩm mĩ, đạo đức
của mình, theo cảm xúc tâm trạng của mình… Cùng quan sát một con người, một cảnhvật, một hoạt động… có người thấy đẹp, có người thấy xấu, người thấy thích thú, ngườithấy thản nhiên Một người lớn chú ý đến những đặc điểm này, nhưng một em bé lại say
mê các đặc điểm khác (người lớn có thể không chú ý đến con dế, một con bọ ngựa, một con ve sầu… nhưng các em nhỏ lại say sưa nhìn, chơi với nó)
Thứ hai, Phải quan sát nhiều lần, tỉ mỉ và mài sắc các giác quan Gôgôn đã tâm sự:
“ Tôi cần quan sát xã hội một cách thực sự và đến nơi, đến chốn chứ không phải liếc nhìn
nó trong khi khiêu vũ hay đi dạo”
Trang 27Thứ ba, Vi trí người quan sát, thời tiết quan sát ảnh hưởng rõ đến kết quả quan sát.
Chỉ đứng ở trên cao mới quan sát được ánh nắng hắt lên từ dòng sông Lam như HoàiThanh và Thanh Tịnh : “ Hôm nay chúng tôi đứng trên núi Chung nhìn sang bên trái làdòng sông Lam uốn khúc theo núi Thiên Nhẫn Mặt sông hắt ánh nắng chiếu thành mộtđường quanh co trắng xoá”
Tóm lại, quan sát là PP chủ yếu để có tài liệu MT Đây là một khả năng mọi ngườiđều có thể luyện tập, trao đổi để trở thành thành thạo
b Sắp xếp ý
Từ những kết quả quan sát chuyển thành một bài VMT đòi hỏi người viết có khảnăng sắp xếp, bố cục để hấp dẫn người đọc Một bài văn MT hay nhờ chi tiết MT cụ thể,sinh động, mới mẻ nhờ các liên tưởng bất ngờ, táo bạo, nhờ lời văn gợi cảm, giàu hìnhảnh và bố cục cân đối, hợp lí, sáng sủa từ trước đến nay, nhà trường ít nói đến vẻ đẹp của
bố cục Có lẽ người ta sợ vấn đề trừu tượng hoặc quá lớn, vượt khả năng suy nghĩ của HSchăng ? Không đúng như vậy ! Cần chỉ cho HS phân biệt một bố cục hay với một bố cục
dở Một bố cục hay là một bố cục cân đối giữa các đoạn, làm nổi rõ ý chính của bài văn
và nếu được, có thể có những điểm mới mẻ
Về tả cảnh và tả cảnh sinh hoạt, cần chia cảnh vật thành nhiều cảnh nhỏ và lần
lượt các cảnh đó Có thể chia theo trình tự không gian (từ xa tới gần, từ trái sang phải, từ ngoài vào trong hay ngược lại), nhưng cũng có thể chia cảnh vật theo trình tự từng bộ
phận: Cây cỏ, chim chóc, nhà cửa…Có thể MT rất tỉ mỉ, cụ thể từng cảnh nhưng cũng cóthể điểm những chi tiết khái quát của mỗi cảnhn hỏ để tạo thành một cảnh rộng lớn Cóthể tả cảnh theo trình tự thời gian trong một ngày, một năm Có thể tả cảnh vật theo bướcchân người đi…
Dàn ý bài tả cảnh trong nhà trường thường có mục phát biểu cảm nghĩ đối với đốitượng MT Tốt nhất nên hướng dẫn HS trình bày những ý nghĩ, tình cảm của mình lồng
vào các chi tiết MT (qua cách chọn chi tiết, xây dựng hình ảnh, bố cục…) hoặc phát triển
xen kẽ trong quá trình MT Nếu cần một đoạn phát biểu cảm nghĩ thì nội dung nên là
những tình cảm (yêu ghét, quý trọng…) hoặc cảm nghĩ (sung sướng, hồi hộp, lo âu, bâng khuâng…) khi đứng trước hặc tiếp xúc với đối tượng Một số người do không hiểu yêu
cầu của phần này đã hướng dẫn HS đưa vào các nội dung : ca ngợi lợi ích, tác dụng, côngdụng… của cảnh vật, cây cối, đồ vật, con vật đang tả Họ không biết làm như vậy là biếtbài VMT thành bài khoa học thường thức
Trang 281.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Thực trạng dạy văn MT của GV
Thực trạng nhận thức của GV trong dạy TLV MT
Để tìm hiểu nhận thức của GV trong dạy Tập làn văn MT, chúng tôi đã tiến hànhđiều tra 80 GV ở 4 trường Tiểu học ( Trường Tiểu học Kim Đồng –trường Tiểu học PhúLong, trường Tiểu học Tân Khánh Đông 1, trường Tiểu học Phạm Hữu Lầu) Các GV có
sự khác nhau về trình đô Bảng thống kê sau sẽ cho thấy rõ điều nạy :
Trình độ được đào tạo Số lượng (Người) Tỷ lệ
a Nội dung khảo sát
Để khảo sát thực trạng dạy học VMT chúng tôi xây dựng phiếu thăm dò ý kiến
GV với 15 nội dung, số nội dung (trình bầy ở phần phụ lục).Nội dung này được xây dựngnhằm tìm hiểu thái độ ý kiến và thực tiễn giảng dạy của GV đối với kiểu bài VMT
b PP khảo sát
Để kết quả khảo sát đạt hiệu quả, chúng tôi đã dùng các PP sau:
- PP điều tra bằng phiếu an- két: trong quá trình soạn phiếu chúng tôi đã thamkhảo ý kiến của nhiều GV đang trực tiếp giảng dạy, một số cán bộ quản lý, các trườngtiểu học trong thị xã
- PP quan sát: thăm lớp, dự giờ để làm rõ và đối chiếu với các nội dung trongphiếu nhằm giúp cho kết quả thu được qua cuộc khảo sát mang tính chính xác và kháchquan
Kết quả khảo sát GV về kĩ năng quan sát của HS trong dạy học TLV MT
- Hệ thống câu hỏi trong phiếu khảo sát gồm 15 câu
- Tổng số phiếu khảo sát là 80 phiếu
Qua quá trình tổng hợp từ phiếu khảo sát, một số vấn đề cơ bản được rút ra nhưsau:
Các biển pháp Số lượng Tỉ lệ (%)-dùng ngôn ngữ hoặc phương tiện nào đó làm cho
người khác hình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc
thế giới nội tâm của con người
- vẽ lại những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người,
Trang 29của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung các
Bảng thống kê 1
Có 30/80 phiếu (37,5%) của GV khi được hỏi “Thế nào là văn MT” chọn đáp án
A, tức là chọn ý “MT là : Dùng ngôn ngữ hoặc phương tiện nào đó làm cho người kháchình dung được cụ thể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người.”; 50/80 phiếu(62,5%) GV chọn ý B, tức ý “MT là : Vẽ lại những đặc điểm nổi bật của cảnh, của người,của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung các đối tượng ấy.” Như vậy nhìn chungvẫn còn một bộ phận GV cảm thấy lúng túng khi nhận định thế nào là văn MT
Có rất nhiều nguyên nhân có thể là bắt nguồn từ phía GV, có thể bắt nguồn từ phía
HS và còn một nguyên nhân bắt nguồn từ chính thể loại văn MT, đó là muốn viết được
một bài văn MT đủ ý, mạch lạc, tạo được “cái hồn” cho bài không phải là việc dễ dàng.
So với các thể loại khác như văn kể chuyện, văn tường thuật, thì làm văn MT phải đòihỏi ở người viết những kĩ năng tổng hợp ở mức độ cao hơn nhiều Tuy nhiên, bất cứ vấn
đề nào, muốn thức hiện tốt nó thì người thực hiện phải hiểu rõ vấn đề đó Do đó, muốn
HS học tốt nội dung văn MT có trong chương trình, vai trò của GV rất quan trọng trongviệc rèn các kĩ năng cần thiết cho các em Người GV có rõ vấn đề, sâu sắt vấn đề cầnphải tìm hiểu và nắm vững vấn đề, từ đó mới giúp HS thực hiện tốt nội dung mà mìnhtruyền thụ cho các em
Theo sự đánh giá của GV, kĩ năng quan sát trong làm văn MT của HS :
là rất tốt và tốt, còn 28/80 (35%) GV đánh giá ở mức độ bình thường Từ đó có thể thấy,
kĩ năng quan sát trong làm văn MT của HS hiện nay còn rất nhiều bất cập Thông quaphỏng vấn, GV cho biết thêm HS còn rất lười trong công đoạn quan sát khi chuẩn bị viếtbài văn MT Khi làm bài, các em chỉ ngồi nhớ lại những gì mình đã biết rồi viết vào Cácchi tiết được MT không có sự sắp xếp, không có sự chọn lựa, không có sự biến hoá để
các đối tượng được MT trở nên sinh động và “lạ” hơn Một số HS thì có quan sát đối
Trang 30tượng nhưng chưa biết lọc ra những chi tiết được coi là điểm nhấn để MT đối tượng, các
em còn lúng túng khi quan sát
Khi làm bài văn MT, khâu HS thường gặp khó khăn nhất là:
* Một số khó khăn cơ bản mà GV thường gặp khi rèn kĩ năng quan sát cho HS quacác tiết TLV MT là:
- phân chia đối tượng để quan sát 29 36,25
- hướng dẫn HS sử dụng các giác quan để quan sát 13 16,25%
- hướng dẫn HS thu nhận các nhận xét do quan sát
Bảng thống kê 3
Từ kết quả trên có thể thấy rằng, GV còn gặp nhiều khó khăn trong việc rèn kĩ năngquan sát cho HS Tiêu biểu là khó tổ chức cho HS quan sát đối tượng cần MT, lí do củakhó khăn này có thể kể đến như: đặc điểm nhận thức của HS, điều kiện cơ sở vật chất,tính hiệu quả của các biển pháp rèn kĩ năng quan sát mà GV đã và đang sử dụng, …những lí do này nếu cố gắng thì hoàn toàn có thể khắc phục được Khó khăn xếp thứ hai
là khó hướng dẫn HS cách quan sát đối tượng theo trình tự hợp lí và xếp thứ ba là khókhăn trong việc hướng dẫn HS đưa các chi tiết quan sát được vào bài văn Muốn gópphần nâng cao kĩ năng quan sát cho HS thì việc từng bước khắc phục những khó khăntrên là con đường đúng đắn nhất
GV đặc điểm của văn MT, theo thống kê sau:
Các biển pháp Số lượng Tỉ lệ (%)-văn MT là thể văn sáng tác
-văn MT mang tính thông báo thẫm mĩ, chứa đựng
tình cảm của người viết
-văn MT mang tính khoa học, tả chính xác, tỉ mỉ đối
tượng MT
- văn MT mang tính sinh động và tạo hình
- ngôn ngữ của bài văn MT giàu cảm xúc và hình ảnh
1412
162216
17.515
2027.520
Bảng thống kê 4
Như vậy, việc xác định thể loại văn MT của GV vẫn còn hạn chế, nhìn vào bảngthống kế ta cũng xác định được GV chưa nắm chắc chắn thế nào là văn MT Muốn dạytốt thể loại văn MT người GV cần xác định đúng thể loại văn MT, hiểu được một cách
Trang 31sâu sắc về thể loại này, người GV mới có thể truyền thụ kiến thức về MT tả chính xáchơn, từ đó chất lượng dạy văn MT của GV và mức độ tiếp thu kiến thức của HS về thểloại văn MT sẽ đạt chất lượng cao hơn, hiệu quả hơn.
Sử dụng các biển pháp rèn kĩ năng quan sát cho HS như thế nào để đạt hiệu quảtốt nhất là điều mà 100% GV được hỏi đều rất quan tâm Bởi vì, điều này sẽ có ý nghĩa
vô cùng thiết thực trong rèn luyện nâng cao kĩ năng quan sát cho HS, góp phần nâng caochất lượng dạy và học văn MT ở trường tiểu học
Khi yêu cầu GV xác định một đoạn văn (câu 4,5) tác giả quan sát bằng giác quan
nào? trình tự nào? ta có kết quả nhận định của GV như sau:
Các biển pháp Số lượng Tỉ lệ (%) + từ chi tiết đến khái quát
40601521,2512,551,25
Bảng thống kê 5
Khi xác định đoạn văn tả cảnh theo trình tự nào, có 40% (32/80 GV) xác địnhkhông đúng đoạn văn tả cảnh theo trình tự nào; 48% (60/80 GV) xác định đúng với yêucầu; còn lại 43,75% (35/80 GV) thì chỉ yêu cầu HS về nhà tự quan sát rồi lên lớp lập dàn
ý hoặc viết bài Điều này đã dẫn đến một hệ quả là một bộ phận lớn HS trở nên lười quansát các đối tượng cần MT hoặc tự quan sát không đúng cách nên khi viết bài có khi MTsai bản chất của sự vật, hiện tượng và bài văn nghèo nàn ý
Còn khi xác định : Trong câu văn : “Nước róc rách chảy, lúc trườn lên mấy tảng đátrắng, lúc luồn dưới mấy gốc cây ẩm mục”, tác giả quan sát bằng những giác quan nào?
Có 15% (12/80) GV chọn tác giả quan sát bằng thính giác; 21,25% (17/80 GV) GV chọntác giả quan sát bằng thị giác; Có 12,5% (10/80 GV) chọn đáp án tác giả quan sát bằngxúc giác; 51,25% (41/80 GV) chọn đáp án thính giác và thị giác Qua đây cũng xác địnhđược đối với vấn đề dạy văn MT ở tiểu học người GV còn “mập mờ” đối với lí thuyếtdạy học thể loại này, nói gì đến việc dạy tốt thể loại văn này
Trang 32Khi được hỏi “Trong quá trình dạy VMT ở tiểu học đồng chí gặp những khó khănnào ?” GV có những nhận định như sau :
Nội dung nhận định Số lượng Tỉ lệ (%)-Nội dung VMT ở tiểu học hiện nay quá khó 18 22.5-Cách sắp xếp chương trình của phân môn TLV không phù hợp 26 32.5-Một số đề bài văn MT trong chương trình không phù hợp 09 11.25-Đa số HS không thích học phân môn TLV 16 20
là do những vấn đề lý thuyết trong chương trình đưa ra còn xa với thực tế nhận thức của
HS Có 26/80 GV (32.5%) cho rằng : “Cách sắp xếp chương trình của phân môn TLVkhông phù hợp.” Theo chương trình SGK cũ : Nếu như dạy một thể loại VMT hay bất kìthể loại văn nào, chương trình cũng sắp xếp các tiết học liên tục nhau, làm cho các tiếthọc có tính liên tục không bị ngắt quãng ; thì chương trình SGK hiện nay lại sắp xếpchương trình xen lẫn các tiết học VMT là các thể loại văn khác làm cho các tiết họckhông có tính liên tục HS dễ quên, người GV khi dạy học tiết sau, buộc phải ôn lại thật
kĩ tiết học của nội dung kiến thức liên quan của tiết học VMT trước kĩ hơn, rồi mới dạytiếp tục bài học mới Còn vấn đề nhận định “Một số đề bài văn MT trong chương trìnhkhông phù hợp.” có 9/80GV (11.2%) cho rằng một số đề văn MT không phù hợp Có11/80 GV (5%) cho rằng “Vốn từ HS còn ít” đúng là vốn từ các em còn ít Tuy nhiên,nếu như GV biết tận dụng tốt các giờ dạy học phân môn LTVC thật tốt sẽ giúp ích cho
HS rất nhiều trong các giờ dạy TLV nói chung và VMT nói riêng Nhiều HS ở nông thôn,vùng sâu xa chưa hề được ra thành phố, chưa từng được đến công viên, vườn bách thúhay những danh lam thắng cảnh khác, … Nhiều HS ở thành phố chưa hề được nghe, nhìnthấy con gà đang gáy, con trâu đang cày ruộng, được quan sát cánh đồng lúa lúc xanhmướt đương thì con gái, lúc vàng óng, trĩu bông Hay dòng sông đỏ nặng phù sa… đó lànhưng khó khăn khi GV phải đối mặt với chương trình VMT hiện nay
Khi được hỏi : “Khi hướng dẫn học sinh quan sát đối tượng MT, đồng chí thườnghướng dẫn học sinh:
Nội dung nhận định Số lượng Tỉ lệ(%)
- quan sát hết tất cả các chi tiết, các bộ phận của đối tượng MT 24 30
Trang 33- chỉ quan sỏt một số đặc điểm chung, cơ bản của đối tượng 11 13.75
- quan sỏt một số đặc điểm chung, cơ bản của đối tượng, sau đú lựa
chọn những đặc điểm đặc sắc nhất mà chỉ cú đối tượng đú cú được để
Bảng thống kờ 7
Nhỡn vào bảng thống kờ ta nhận thấy, tỉ lệ nhận định cỏch hướng dẫn HS quan sỏtđối tượng vẫn chiếm tỉ lệ cao 43.75% (35GV), cho thấy cỏch xỏc định hướng dẫn HSquan sỏt như thế sẽ tạo cho HS thúi quen quan sỏt khụng cú định hướng, chưa cú chủđịnh từ đú dẫn đến việc cỏc em làm văn chưa tốt, thậm chớ cỏc em làm VMT mà khụnghiểu mỡnh đang làm gỡ? Thay vỡ, người GV giỳp HS quan sỏt một số đặc điểm chung cơbản của đối tượng, sau đó lựa chọn những đặc điểm đặc sắc nhất mà chỉ có đối tợng đó có
đợc để quan sát, ghi chép Cú như thế cỏc em khi quan sỏt để MT cỏc em sẽ cú chủ định
và định hướng trong đầu quan sỏt để làm gỡ ? Sau đú tỡm ra được những nột đặc sắc củađối tượng mỡnh quan sỏt, giỳp cụng đoạn tỡm ý sau khi quan sỏt dễ dàng hơn, cỏch nhậnđịnh về đối tượng quan sỏt cũng sõu sắc và đặc sắc hơn từ đú giỳp cho việc làm văn MTcủa HS hay hơn, sinh động hơn và đặc sắc hơn GV khụng nờn chỉ cho HS tự tỡm tũi,quan sỏt, ghi chộp ở nhà miễn sao viết được bài văn theo yờu cầu Mỗi cỏch làm đều cú
ưu và nhược điểm riờng của nú Việc vận dụng linh hoạt, đan xen cỏc hỡnh thức hướngdẫn HS quan sỏt ở một số GV cũn nhiều hạn chế nờn việc truyền đạt những kiến thức,những kinh nghiệm về kĩ năng quan sỏt cho HS đạt hiệu quả chưa cao
Khi yờu cầu GV xỏc định “Một em HS viết mở bài cho đề văn “Tả một người
thõn trong gia đỡnh em” như sau :
“Người cho em tất cả - đú chớnh là bố của em”.
Em HS đú viết mở bài bằng cỏch nào?
Cú 59 GV (73.75%) cho rằng : “Mở bài bằng cỏch giới thiệu trực tiếp người đượctả.” và 21GV (26,25%) cho rằng : “Mở bài bằng cỏch giới thiệu giỏn tiếp người đượctả.” Cũn khi xỏc định : “Khi tả người, người viết cú thể kết hợp việc tả với việc bộc lộ
thỏi độ tỡnh cảm của mỡnh với người được tả Đỳng hay Sai Cú 42 GV (52.5%) cho là
Đỳng và 38GV (47.5%) cho là Sai Từ hai nhận định trờn cũng nhận thấy việc xỏc định
mở bài theo cỏch giỏn tiếp hay trực tiếp trong VMT hay cỏch xỏc định cỏch kết hợp việc
tả với việc bộc lộ cảm xỳc của GV tiểu học vẫn cũn nhiều vấn đề cần khắc phục trongquỏ trỡnh giỳp HS làm tốt thể loại VMT
Trang 34Khi yêu cầu GV xác định, đoạn thân bài trong bài văn tả con vật có nhiệm
vụ, bài khảo sát của 80 GV cho kết quả như sau :
2 tả hình dáng và hoạt động của con vật 39 48,75
3 nêu cảm nghĩ của người viết về con vật được tả 26 32,5
Bảng thống kê 8
Qua bảng thống kê chúng ta lại một lần nữa nhìn nhận, việc xác định kiến thứctrong dạy VMT của GV hiện nay, khi xác định thân bài tả con vật có nhiệm vụ tả hìnhdáng và hoạt động của con vật, thì 18,75% GV lại chọn giới thiệu con vật định tả và32,5% chọn nêu cảm nghĩ của người viết về con vật định tả Qua kết quả nêu trên cho tamột nhận định rằng việc xác định kiến thức trong dạy VMT của GV cần được nghịêm túcnhìn nhận và chấn chỉnh
Còn khi yều cầu xác định câu VMT “Những vùng cây xanh bỗng oà tươi trong
nắng sớm”, cho thấy tác giả đã quan sát s v t b ng giác quan nào ? sau khi kh o sát c ngự vật bằng giác quan nào ? sau khi khảo sát cũng ật bằng giác quan nào ? sau khi khảo sát cũng ằng giác quan nào ? sau khi khảo sát cũng ũngthu đ c k t qu nh sau :ợc kết quả như sau : ến Trần Đăng Khoa
vì chọn kết quả đúng là “thị giác” lại chọn là thính giác, xúc giác và khứu giác Có thể là
do vì quá lúng túng khi chọn kết quả hoặc cũng có thể do tâm lý hồi hộp mà GV chọn sai,mức độ như thế là không cho phép đối với một người GV giáo dục đào tạo HS tiểu học, vìđây là bậc học nền tảng của các cấp học
Khi được hỏi : Đoạn mở bài của bài văn tả cảnh có thể viết theo cách nào? sau khi
kh o sát cho ta k t qu nh sau :ến Trần Đăng Khoa
Trang 35TT Nội dung khảo sát Sè lîng TØ lÖ
Còn khi khảo sát câu « Khi dạy VMT cho học sinh, việc cần thịết nhất để các em cóthể MT được đó là gì?”
từ đó giúp các em tìm ý, trên cơ sở đó các em mới làm tốt bài VMT của chính bản thânmình
Khi được hỏi đáng giá về hứng thú học tập của HS khi học VMT hiện nay, kết quảkhảo sát của 80 GV như sau :
Trang 364 không thích 23 28.75%
Bảng thống kê 12
Kết quả khảo sát trên cho ta một sự thật đáng buồn, có trên 60% HS xem phânmôn TLV là bình thường, thậm chí là không thích học phân môn này Nguyên nhân vìsao lại có hiện tượng này, có phải vì do chương trình của phân môn TLV quá tải đối vớicác em không, hay tại do thời lượng học trên lớp của phân môn tiếng Việt còn nặng nề,hay tại cách dạy của GV chưa tạo được hứng thu học tập đối với phân môn TLV nóichung và VMT nói riêng Đó là những khẳng định từ GV trực tiếp giảng dạy đối với HS.Còn nếu ta khảo sát trực tiếp HS vấn đề này chắc có lẽ còn cho kết quả ”bị đát” hơnnhiều
Kết quả quan sát vấn đề “Khi hướng dẫn HS PP quan sát để MT, chúng ta cầnthực hiện theo hình thức nào ?” Có kết quả sau :
Bảng thống kê 13
Kết quả điều tra vào năm học 2011-2012 ở Sa Đéc- Đồng Tháp chúng tôi thấy rằng:(12 /80 GV)15 % số lượng GV được khảo sát cho rằng khi hướng dẫn HS quan sát để MT,cần thực hiện quan sát bằng các giác quan, (0780GV/) 8,75% GV được khảo sát cho rằnghướng dẫn HS quan sát bằng hình thức quan sát theo không gian, (0980GV/) 1125%.HDHS quan sát bằng hình thức quan sát theo thời gian, chứng tỏ vẫn còn 35% số lượng
GV được khảo sát chưa nắm chắc chắn được rằng khi hướng dẫn HS PP quan sát để MTcần thức hiện theo cả ba hình thức, đó là : quan sát bằng các giác quan, quan sát theokhông gian và quan sát theo cả thời gian Chính vì vậy, chỉ có (5280GV/) 65% giáo viênnắm được đặc điểm của VMT Ở GV, sự thiếu hụt các kiến thức về VMT rất lớn Đa số GVkhi được khảo sát đều cho rằng TLV là rất khó dạy Chính vì lẽ đó, mà trong tiết quan sát
và tìm ý, rất nhiều GV thường ép HS cả lớp lựa chọn một đối tượng MT theo ý của mình.Như vậy, để GV dễ dạy và khống chế được quá trình làm bài của HS
Tóm lại : Ở GV, sự thiếu hụt các kiến thức về VMT rất lớn Đa số GV khi đượchỏi đều cho rằng TLV là rất khó day Số GV còn lại tỏ ra rất lúng túng khi hướng dẫn các
Trang 37em quan sát (không biết chọn trình tự, không biết chọn chi tiết, không biết đặt câu hỏi giúp
HS thu nhận đặc điểm của đối tượng ) Thậm chí, có GV còn không tổ chức cho HS quansát Do không tổ chức cho HS quan sát tốt đối tượng MT nên GV không thể định hướng
Chính vì lẽ đó, mà trong tiết quan sát và tìm ý, rất nhiều GV thường ép HS cả lớplựa chọn một đối tượng MT theo ý của mình Như vậy, để GV dễ dạy và khống chế đượcquá trình làm bài của HS
1.3.2 Thực trạng học văn MT của HS
Trong giờ TLV, HS đã tham gia vào bài học nhưng để hiểu hơn về chất lượngdạy và học VMT ở trường tiểu học, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra, phỏng vấn
500 em HS ở 04 trường tiểu học thuộc thị xã Sa Đéc-tỉnh Đồng Tháp
Khi điều tra về vấn đề này, chúng tôi nhận thấy trong quá trình học TLV các emgặp rất nhiều khó khăn, hầu hết các em không nắm rõ được các quy trình làm bài VMTthuộc các dạng bài khác nhau và các mức độ hứng thú làm văn của HS Qua việc khảosát thực tế chúng tôi thu được kết quả sau:
1.3.3 Kết quả khảo sát HS
- Hệ thống câu hỏi trong phiếu khảo sát gồm 10 câu
- Tổng số phiếu khảo sát là 500 phiếu
Qua quá trình tổng hợp kết quả từ phiếu khảo sát HS, những kết luận cơ bản đượcrút ra như sau:
Trong số 500 phiếu khảo sát có 350 ý kiến cho biết rất thích học nội dung TLV
MT, 112 ý kiến cho là nội dung này cũng bình thường như các nội dung khác và có 38 ýkiến cho biết là không thích học VMT Như đã phân tích ở phần đầu, VMT trong chươngtrình tiểu học có nội dung phong phú, đa dạng vừa gần gũi với cuộc sống của HS, giúpcác em khám phá cuộc sống, sự vật, hiện tượng quanh mình Nội dung này rất phù hợpvới đặc điểm tâm sinh lí của các em Do vậy, hầu hết HS đều rất thích học thể loại vănnày Bên cạnh đó, vẫn còn 38 HS (17,6%) không thích học văn MT Tuy nhiên, con sốnày còn rất khiêm tốn Nguyên nhân có lẽ do học lực của các em yếu nên không nắmđược các kiến thức mà GV truyền thụ
Khi được hỏi : “MT là vẽ lại bằng lời những đặc điểm nổi bật của cảnh, củangười, của vật để giúp người nghe, người đọc hình dung được các đối tượng ấy Có 379
HS (75,8%) chọn đúng và 121 HS (24,2%) chọn sai, tức là việc HS xác định đúng về
VMT, cho thấy các em có nhìn nhận và hiểu biết về VMT là tương đối tốt Tuy nhiên vẫn
Trang 38còn 24,2% HS xác định về VMT là chưa chính xác, GV cần giúp các em xác định đúng
về VMT Việc xác định đúng về VMT sẽ tạo điều kiện và làm tiền đề rất tốt về việc họcVMT sau này là rất tốt Do đó, khi dạy về lý thuyết người GV cũng cần lưu ý vấn đề này,
từ đó giúp các em hiểu rõ hơn về VMT, để tạo tiền đề cho việc học tốt hơn về VMT
Khi được hỏi : “Để làm tốt văn MT đồ vật, điều đầu tiên, quan trọng nhất là :
3 quan sát trực tiếp và kỹ lưỡng 234 46,8%
4 viết theo cấu tạo ba phần : Mở bài; Thân bài; Kết bài 101 20,2%
Bảng thống kê 14
Với câu hỏi: “Khi làm bài TLV MT em có thấy khó không?” thì có 210 HS (42%)
trả lời là khó viết, 229 HS (45,80%) trả lời bình thường và 61 HS (12,20%) trả lời dễ viết.Tuy nội dung khó nhưng các em vẫn thích học, kết quả này chứng tỏ văn MT có ýnghĩa rất quan trọng trong cuộc sống của con người và đặc biệt hấp dẫn đối với tuổi thơ
Kĩ năng quan sát quan trọng là thế nhưng “Trong khi dạy VMT cô giáo có hướngdẫn và cho các em quan sát không ?” HS có ý ki n nh sau:ến Trần Đăng Khoa
22,6037,2040,20
Bảng thống kê 15
Tổ chức cho HS quan sát nhưng GV có hướng dẫn cho các em quan sát khôngmới là điều quan trọng Qua khảo sát có 217/500 ý kiến cho biết GV có hướng dẫn các
em thường xuyên quan sát; 108/500 HS trả lời GV không hướng dẫn cho các em quan sát
mà yêu cầu các em tự quan sát và ghi chép; 175/500 HS cho biết GV có thỉnh thoảnghướng dẫn nhưng em không hiểu Hạn chế này phụ thuộc vào kiến thức và năng lực sưphạm của người GV đứng lớp HS tiểu học còn nhỏ, cách quan sát của các em còn mônglung, khó xác định trọng tâm, sự chỉ dẫn của GV là cần thiết Ngoài ra, những hạn chếnày cũng có thể xuất phát từ nguyên nhân GV chưa nắm rõ hoặc chưa vận dụng tốt cácbiển pháp trong quá trình dạy học của mình
Trang 39 Với câu hỏi: “Các khó khăn các em gặp phải trong quát trình quan sát là gì?”
Kết quả thu được như sau:
Những khó khăn Số lượng Tỉ lệ (%)
- không biết quan sát cái nào trước cái nào sau
- không biết ghi chép như thế nào
- cả hai ý trên
8563352
17,0012,6070,4
Bảng thống kê 16
Hai khó khăn cơ bản HS gặp phải là trình tự quan sát và cách ghi chép Nếu giảiquyết được hai khó khăn này thì kĩ năng quan sát của HS đã gần hoàn thiện, 70,4% HScho biết gặp khó khăn cả hai ý trên Kết quả này chứng tỏ kĩ năng quan sát hiện thời của
HS còn rất hạn chế Cần giúp các em rèn luyên nhiều hơn nữa, các kỹ năng quan sát, đểcác em có thể tự viết nên những bài VMT hay, khi học xong chương trình VMT
Khi hỏi vấn đề có tính chất nhận định một câu văn, để tìm hiểu xem các em cónắm khi nào cần quan sát bằng cơ quan nào trong cơ thể, trong câu Trong câu văn :
“ những chiếc lá rập rình lay động như những đốm lửa vàng, lửa đỏ bập bùng cháy”, tácgiả đã sử dụng những giác quan nào ?” Các em có những nhận định như sau :
15.840.22519
Bảng thống kê 17
Qua thống kê số liệu nêu trên một lần nữa cho ta khẳng định rằng : việc hướng dẫn
HS sử dụng các giác quan để quan sát, tìm ý là chưa được GV xem trọng và phát huy mộtcách tối đa Chỉ có 201/500 HS (40,2%) HS nhận định đúng vấn đề, còn có đến 59,8%các em nhận định sai HS muốn làm tốt bài VMT khâu quan sát và tìm ý là rất quantrọng, các em có quan sát tinh tế, thì mới tìm ra được những ý hay để làm nên một bàivăn MT hay Nhưng các em muốn quan sát tốt thì các em phải biết tận dụng các giácquan để quan sát, chính vì yếu tố trên người GV cần phải biết hướng dẫn HS biết cách sửdụng các giác quan để quan sát
Để tìm hiểu xem các em nhận định, phân biệt mở bài, thân bài, kết luận ra sao ?chúng tôi tìm hiểu vấn đề này qua câu hỏi "Tìm câu mở bài cho bài văn MT cây cối”.Sau khi khảo sát thực tế chúng tôi thu được kết qua sau :
Trang 40- tả hoặc giới thiệu bao quát về cây.
- tả từng bộ phận của cây hoặc từng thời kì phát
triển của cây
- nêu ích lợi của cây, ấn tượng đặc biệt hoặc
tình cảm của người tả đối với cây
3159887
6319,617,4
Bảng thống kê 18
Từ kết quả trên, chúng tôi nhận thấy các em nhận định vấn đề này có phần khảquan hơn các vấn đề trên, vì có trên 63% (315/500HS) nhận định đúng nội dung câu hỏi.Nhưng chúng tôi vẫn còn rất lo, bởi vẫn còn 185/500 em (37%) nhận định sai vấn đề, vìđây là nội dung hỏi rất dễ, phần trả lời có phận đã lộ ra
Khi quan sát để viết văn, có người ghi chép cũng có người chỉ ghi nhớ trong đầu
mà không ghi chép Tuy nhiên với lứa tuổi của HS tiểu học thì các em dễ nhớ, mau quên,hay lẫn lộn, do vậy việc ghi chép là rất cần thiết Nó sẽ là cơ sở đảm bảo cho bài văn
đủ ý, chính xác và có hệ thống Qua khảo sát 500 HS thì có 214 HS (42,80%) cho biết cóghi chép khi quan sát, còn lại 286 em (57,2%) thì trả lời không hề ghi chép gì khi quansát Đây là vấn đề mà GV có thể lưu ý nhắc nhở để tạo cho các em thói quen ghi chép cẩnthận nhằm tạo điểm tựa khi viết văn
Kĩ năng quan sát quan trọng là thế nhưng trong quá trình giảng dạy, GV có vậndụng tốt các biển pháp rèn luyện kĩ năng quan sát cho HS hay không? Có tổ chức cho HSquan sát đối tượng cần MT hay không? HS có ý kiến như sau:
22,6037,2040,20
Nếu dạy TLV MT mà không tổ chức cho HS tiếp xúc, quan sát đối tượng thì là
“dạy chay” và kết quả khó có thể cao Con số 186 HS (37,20%) cho biết GV đứng lớp
không tổ chức cho các em quan sát đối tượng đối với bất kì bài nào là điều cần phải quantâm xem xét
1.3.4 Nguyên nhân của thực trạng