Chính vì thế, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã hếtsức quan tâm đến công tác này, cụ thể trong những năm gần đây, nhiều văn bảnpháp quy về công tác VTLT làm cơ sở cho việc tổ c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HUỲNH THỊ THANH QUYÊN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC VĂN THƯ, LƯU TRỮ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
VINH - 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HUỲNH THỊ THANH QUYÊN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC VĂN THƯ, LƯU TRỮ
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thị Hường
Trang 3VINH - 2010
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Hường,người cô đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hànhnghiên cứu cho đến lúc đề tài được Hội đồng khoa học nghiệm thu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô Lãnh đạo trường Đại học Vinh,khoa Sau đại học đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong thời gianhọc tập và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học QuảngNam, các CB-VC của trường, đặc biệt là gia đình đã tạo mọi điều kiệnthuận lợi và động viên tôi trong quá trình học tập nghiên cứu và hoànthành tốt luận văn
Dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song khôngthể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý, trao đổicủa quý thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Vinh, tháng 10 năm 2010
Tác giả
Huỳnh Thị Thanh Quyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………1
1 Lý do chọn đề tài……….1
2 Mục đích của việc nghiên cứu……….2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu………2
4 Giả thuyết khoa học……….3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 3
6 Phương pháp nghiên cứu……….3
7 Những đóng góp của luận văn……….4
8 Cấu trúc luận văn……….4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU………… 5
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề……… 5
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài……… 9
1.2.1 Văn thư, lưu trữ……….9
1.2.1.1 Văn thư………9
1.2.1.2 Lưu trữ……… 13
1.2.2 Quản lý và quản lý giáo dục………14
1.2.2.1 Quản lý……….14
1.2.2.2 Quản lý giáo dục……… 16
1.2.2.3 Các chức năng quản lý……….17
1.2.2.4 Quản lý Nhà nước………19
Trang 51.2.2.5 Quản lý Nhà nước về công tác Văn thư……… 19
1.2.2.6 Quản lý Nhà nước về công tác Lưu trữ………20
1.2.3 Biện pháp quản lý công tác VTLT……… 21
1.3 Vị trí vai trò của công tác VTLT ở trường ĐH……… 21
1.4 Quản lý công tác VTLT ở trường ĐH………22
1.4.1 Mục tiêu quản lý công tác VTLT ở trường ĐH……… 22
1.4.2 Nội dung quản lý công tác VTLT ở trường ĐH……… 23
1.4.2.1 Quản lý công tác xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác VTLT, tập huấn, triển khai các văn bản của Trung ương và tỉnh………23
1.4.2.2 Quản lý công tác tổ chức và cán bộ……… 23
1.4.2.3 Quản lý nguồn lực tài chính và CSVC phục vụ công tác VTLT… 23
1.4.2.4 Quản lý việc chỉ đạo, kiểm tra, khen thưởng trong công tác VTLT……….24
1.4.3 Phương pháp và hình thức quản lý công tác VTLT ở trường ĐH… 24 Kết luận chương 1……….26
Chương 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU………27
2.1 Khái quát về trường ĐH Quảng Nam……….27
2.1.1 Vài nét về lịch sử trường ĐH Quảng Nam……… 27
2.1.2 Cơ cấu hiện nay của trường……….29
2.1.3 Về đội ngũ CB-VC……… 30
2.1.4 Về học sinh – sinh viên……… 30
2.2 Thực trạng về công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam……… 30
2.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác VTLT……… 30
2.2.2 Việc thực hiện công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam………… 32
Trang 62.2.2.1 Công tác Văn thư……… 33
2.2.2.2 Công tác Lưu trữ……… 46
2.3 Thực trạng quản lý công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam……… 52
2.3.1 Về công tác xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác VTLT, tập huấn, triển khai các văn bản của Trung ương và tỉnh 52
2.3.2 Về công tác tổ chức và cán bộ 53
2.3.3 Quản lý nguồn lực tài chính và CSVC phục vụ công tác VTLT 54
2.3.4 Quản lý việc chỉ đạo, kiểm tra, khen thưởng trong công tác VTLT 55
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam từ khi thành lập đến nay 56
2.4.1 Mặt mạnh 56
2.4.2 Mặt hạn chế 57
2.4.3 Những thuận lợi cơ bản 58
2.4.4 Những khó khăn chủ yếu 58
Kết luận chương 2 58
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC VTLT Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG NAM 60
3.1 Nguyên tắc xây dựng các biện pháp 60
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 60
3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 60
3.1.3 Đảm bảo tỉnh khả thi 60
3.1.4 Đảm bảo tính hiệu quả 61
3.2 Các biện pháp 61
Trang 73.2.1 Nâng cao nhận thức cho CBQL và QB-VC về tầm quan trọng của công tác
văn thư, lưu trữ 62
3.2.2 Xây dựng hoàn chỉnh các hệ thống văn bản và qui trình thực hiện về công tác VTLT trong nhà trường 63
3.2.3 Tổ chức cho cán bộ, viên chức thảo luận và nắm vững về qui chế, qui trình thực hiện công tác VTLT 66
3.2.4 Lập kế hoạch đánh giá công tác VTLT một cách thường xuyên, tự giác 67
3.2.5 Tổ chức chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, tạo nên sự thống nhất giữa các phòng, khoa, tổ chuyên môn và đoàn thể của nhà trường trong việc thực hiện công tác VTLT 69
3.2.6 Tăng cường nguồn lực tài chính và CSVC phục vụ công tác VTLT 70
3.2.7 Nâng cao năng lực tham gia công tác VTLT trong đội ngũ CB-VC và năng lực quản lý công tác VTLT cho CBQL 72
3.2.8 Tạo động lực cho công tác VTLT và quản lý công tác VTLT 72
3.2.9 Mối quan hệ giữa các biện pháp 73
3.3 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp: (lấy ý kiến của CB-VC) 74
Kết luận chương 3 76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Kiến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 87- GD-ĐT: Giáo dục và đào tạo.
8- HĐH: Hiện đại hóa
9- NSNN: Ngân sách Nhà nước
10- TC-HC: Tổ chức – Hành chính
11- UBND: Ủy ban Nhân dân
Trang 912- VTLT: Văn thư – Lưu trữ
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Công VTLT có vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệđất nước Nói đến công tác VTLT thì không một thể chế Nhà nước nào có thể xemnhẹ vai trò của nó Bất kỳ một cơ quan hay một tổ chức chính trị, tổ chức xã hộinghề nghiệp, tổ chức kinh tế…cho dù hoạt động ở lĩnh vực nào, tầm cỡ đến đâu thìhoạt động của cơ quan, tổ chức đó cũng đều liên quan đến công tác VTLT Côngtác VTLT có vị trí rất quan trọng trong hoạt động quản lý và điều hành của các cơquan, tổ chức đó Chính vì thế, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã hếtsức quan tâm đến công tác này, cụ thể trong những năm gần đây, nhiều văn bảnpháp quy về công tác VTLT làm cơ sở cho việc tổ chức và hoàn thiện hệ thốngquản lý nhà nước về công tác VTLT đã được ban hành để chấn chỉnh, chỉ đạo,hướng dẫn về công tác VTLT từ Trung ương đến địa phương, góp phần quan trọngvào việc phát triển kinh tế xã hội, nâng cao các giá trị lịch sử, văn hóa của mỗi địaphương, đất nước và bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia, nhằm đáp ứng yêu cầucông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Trong quá trình hoạt động của bộ máy quản lý nói chung, công tác VTLTgiữ vai trò rất quan trọng, đây là khâu trọng yếu đảm bảo cho sự hoạt động đồng
bộ, hiệu quả trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, tổchức Thực hiện tốt công tác VTLT không những phục vụ đắc lực cho công táclãnh đạo, chỉ đạo mà còn giúp cho việc lưu trữ, bảo quản, khai thác tốt nguồn thôngtin quý giá hình thành trong hoạt động của cơ quan, góp phần giải quyết công việccủa cơ quan được nhanh chóng, chính xác và hiệu quả
Trang 10Trường ĐH Quảng Nam từ khi thành lập đến nay rất chú trọng về công tácVTLT và xem đây là một nhiệm vụ then chốt trong việc quản lý và chỉ đạo mọihoạt động của nhà trường Vì thế, công tác VTLT của nhà trường đã đi vào nề nếp.Tuy vậy, công tác này vẫn còn một số hạn chế nhất định Cụ thể là chưa thật sựhướng tới việc quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả các thông tin tài liệu lưu trữ.Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà kho bảo quản tài liệu còn thiếu Việcứng dụng tin học trong công tác VTLT còn chậm cải tiến Công tác lưu trữ nóichung mới chỉ dừng lại ở việc bảo quản, chưa quản lý tập trung và thống nhất tàiliệu lưu trữ Công tác chỉnh lý và xây dựng công cụ tra cứu tài liệu chưa được tiếnhành đồng bộ với công tác thu thập, đội ngũ cán bộ chuyên môn ở nhiều đơn vị cơ
sở còn thiếu và chưa nắm vững về thể thức và thủ tục văn bản, lưu trữ còn bị phântán, thất lạc và không tìm thấy tài liệu khi cần tra cứu…
Nhằm sớm khắc phục tình trạng trên, từng bước chấn chỉnh, tăng cường côngtác VTLT, đồng thời tăng cường khả năng khai thác thông tin lưu trữ phục vụ chohoạt động quản lý, nghiên cứu khoa học của trường và các nhu cầu chính đáng kháccần phải nhanh chóng tìm ra các biện pháp để thay đổi cách quản lý công tác VTLTcủa nhà trường đảm bảo tính khoa học và mang lại hiệu quả cao Xuất phát từ thực
tế trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp quản lý công tác VTLT ở
trường Đại học Quảng Nam” Thông qua đề tài này, nhằm xem xét và nghiên cứu
thực trạng công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam để đề xuất một số biện phápquản lý công tác VTLT ở trường
Trang 11Công tác quản lý VTLT ở trường ĐH.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam
4 Giả thuyết khoa học.
Công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam trong thời gian qua đã đạt nhữngkết quả nhất định, song vẫn còn một số hạn chế Vì thế, nếu đề xuất được các biệnpháp quản lý phù hợp với thực tiễn, thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tácVTLT, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nhà trường
5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu.
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1.1 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về công tác VTLT nói chung và quản lýcông tác VTLT ở trường ĐH
5.1.2 Tìm hiểu thực trạng việc quản lý công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam.5.1.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam
5.2 Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu công tác quản lý hoạt động VTLT ở trường ĐH QuảngNam từ năm 2006 đến nay
6 Các phương pháp nghiên cứu.
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích và nghiên cứu tổng hợp, kháiquát hóa các tài liệu có liên quan: Tổng hợp các quan điểm đường lối giáo dục củaĐảng và Nhà nước, các phạm trù khái niệm liên quan đến công tác VTLT
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Điều tra, khảo sát thực tế: Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến: Phiếu trưng cầu
ý kiến được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
6.2.2 Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Nghiên cứu kết quả qua các cuộc hội nghị,hội thảo về công tác VTLT trong và ngoài nhà trường
Trang 126.2.3 Lấy ý kiến chuyên gia: Phỏng vấn và ghi nhận ý kiến của cán bộ quản lýngành GD-ĐT, lãnh đạo các phòng, khoa, tổ chuyên môn thuộc trường ĐH QuảngNam về công tác VTLT
6.2.4 Khảo nghiệm sư phạm
6.3 Phương pháp thống kê toán học: sử dụng một số công thức thống kê toán học
để xử lý và kiểm định kết quả nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục nghiêncứu, Luận văn có ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng công tác quản lý hoạt động VTLT ở trường ĐH
Quảng Nam
Chương 3 Một số biện pháp quản lý công tác VTLT ở trường ĐH QuảngNam
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Công tác VTLT gắn liền với hoạt động chỉ đạo, điều hành công việc của các
cơ quan, tổ chức Hiệu quả hoạt động quản lý của các cơ quan, tổ chức một phầnphụ thuộc vào công tác VTLT làm tốt hay không tốt Cũng chính vì điều đó màcông tác VTLT trong các cơ quan, tổ chức ngày càng được quan tâm nhiều hơn.Đặc biệt, trong công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước nhằm phục vụ sựnghiệp phát triển và đổi mới toàn diện của đất nước, trọng tâm là cải cách kinh tế,tăng cường quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; công tác VTLT là mộttrong những trọng tâm được tập trung đổi mới Nói đến công tác này, có rất nhiều ýkiến của các nhà nghiên cứu và các văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ đề cập
Trong bài viết “thà ít mà tốt”, Lê-Nin viết “Ở nước ta sự dũng cảm về lý luậntrong những công cuộc kiến thiết có tính chất chung đã song song tồn tại với một
sự do dự lạ lùng trước mỗi công cuộc cải cách hành chính nhỏ nhặt nhất…Nhữngnguyên lý chung về hành chính một khi được vận dụng vào thực tiễn sẽ đưa lạinhững kết quả không ngờ” [19] Ý kiến này cho ta thấy sự do dự ấy có là do trình
độ hạn chế và tự bằng lòng vốn kinh nghiệm đã có cũng như vai trò của công táchành chính
Trang 14Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, Nhà nước ta luôn coi trọngcông tác công văn giấy tờ và công tác lưu trữ (mà nay gọi chung là công tácVTLT).
Ngay từ đầu mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch HồChí Minh đã ký sắc lệnh số 49/SL ngày 12 tháng 10 năm 1945, trong đó qui địnhcác công văn, công điện, phiếu trát, đơn từ phải có tiêu ngữ “Việt Nam Dân chủCộng hòa – năm thứ nhất” Ngày 02 tháng 11 năm 1957, Thủ tướng Chính phủ đã
ký Nghị định số 527/TTg ban hành bản Điều lệ qui định chế độ chung về công táccông văn giấy tờ ở các cơ quan Ngày 28 tháng 9 năm 1963, Hội đồng Chính phủ raNghị định số 142/CP, ban hành Điều lệ về công tác Công văn giấy tờ và công tácLưu trữ (thay thế Nghị định số 527/TTg) [24, 25]
Sau một thời gian thực hiện chính sách đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng,đất nước ta đã có nhiều biến đổi quan trọng Từ cơ chế quản lý tập trung quan liêu,bao cấp đất nước chuyển sang thực hiện kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Trong bối cảnh đó, hệ thống văn bảnpháp luật của nước ta cũng dần được bổ sung và hoàn thiện Đối với công tácVTLT Nhà nước ta cũng đã ban hành thêm nhiều văn bản nhằm tiếp tục thể chếhóa các hoạt động trong lĩnh vực này
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội khóa 10 thôngqua ngày 12 tháng 11 năm 1996 là sự kiện rất quan trọng trong lĩnh vực ban hànhvăn bản Cho đến nay, đã có Nghị định số 110/2004/NĐ-CP, Nghị định số111/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 về công tác văn thư và qui định chi tiết thi hànhmột số điều của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia
Ngoài ra, các cơ quan Nhà nước như Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Nội
vụ, Văn phòng Chính phủ, Cục Lưu trữ Nhà nước cũng đã ban hành một số văn bảnmới hướng dẫn về công tác VTLT, có thể liệt kê như sau:
Trang 15Pháp lệnh số 30/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/12/2000 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội về bảo vệ bí mật Nhà nước
Pháp lệnh số 34/2001/PL-UBTVQH10 ngày 04/4/2001 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội về Lưu trữ Quốc gia
Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tácvăn thư
Nghị định số 111/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ qui định chitiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Lưu trữ Quốc gia
Thông tư số 07/2002/TTLT ngày 06/5/2002 của Bộ Công an – Ban TCCBCP
về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 58/2001/NĐ-CP của Chính phủ về quản
Quyết định số 13/2005/QĐ-BNV ngày 06/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ
về việc ban hành chế độ báo cáo thống kê cơ sở công tác VTLT
Quyết định số 14/2005/QĐ-BNV ngày 06/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ
về việc ban hành chế độ báo cáo thống kê tổng hợp công tác VTLT
Quyết định số 2500/QĐ-BGDĐT ngày 24/3/2009 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT
về ban hành Qui chế tổ chức hoạt động công tác văn thư
Công văn số 437/BGDĐT-VP ngày 26/01/2010 của Bộ GD-ĐT về việcphương hướng nhiệm vụ công tác lưu trữ năm 2010
Công văn số 260/VTLTNN-NVTW ngày 06/5/2005 của Cục VTLT Nhànước về việc hướng dẫn xây dựng quy chế công tác VTLT
Trang 16Công văn số 425/VTLTNN-NVTW ngày 18/7/2005 của Cục VTLT Nhànước về việc hướng dẫn quản lý văn bản đi, văn bản đến.
Công văn 879/VTLTNN-NVĐP ngày 19/12/2006 của Cục VTLT Nhà nước
về việc hướng dẫn tổ chức tiêu hủy tài liệu hết giá trị
Công văn số 2939/BNV-TL ngày 04/10/2005 của Bộ Nội vụ về việc chế độphụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với CB-VC ngành lưu trữ
Công văn số 139/VTLTNN-TTTH ngày 04/3/2009 của Cục VTLT Nhà nước
về việc hướng dẫn quản lý văn bản đi, văn bản đến và lập hồ sơ trong môi trườngmạng
Những văn bản trên là cơ sở pháp lý để điều chỉnh các hoạt động VTLTtrong các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đoàn thể nhân dân, xây dựng và banhành văn bản đúng pháp luật, đúng thẩm quyền được Nhà nước qui định
Thế kỷ 20 đã chứng kiến một sự “bùng nổ thông tin” có thể được xem nhưmột phần của cuộc cách mạng công nghiệp liên tục Từ thế kỷ 17 đã có hàng loạtcuộc cách mạng liên quan đến những lĩnh vực khác nhau của hoạt động kinh tế Sựgia tăng không thể lường trước về yêu cầu và tính sẵn có của thông tin trong thế kỷnày là khía cạnh mới nhất của những phát triển này Người ta cho rằng trong thếgiới thương mại, công nghiệp và chính quyền hiện nay, thông tin là tài nguyên quantrọng nhất hiện có Do đó, các ngành sử học đánh giá sự đóng góp của “giấy” vàomức sống ngày càng cao cùng với những tiến bộ của hoạt động kinh tế có thể đượcchứng tỏ là đúng khi liên hệ đến “cuộc cách mạng thông tin” [41]
Trong những năm gần đây do công tác hành chính còn nhiều bất cập, Đại hội
VI Đảng ta đã khẳng định “Phải đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ, đổi mớiphong cách làm việc Đổi mới phong cách làm việc là một trong những yêu cầu rấtquan trọng, rất cấp bách trong giai đoạn hiện nay Và muốn vậy phải đổi mới côngtác hành chính-văn phòng các cơ quan Nhà nước”
Trang 17Tiếp đến Nghị quyết TW VIII nêu rõ cải cách hành chính hướng tới mụctiêu: gần dân, gần cấp dưới, gần cơ sở Tập trung trách nhiệm, trật tự, kỷ cương Cơcấu bộ máy gọn nhẹ vận hành thông suốt Đội ngũ cán bộ công chức có kiến thức
kỹ năng, kỹ xảo, có phẩm chất đạo đức
Như vậy, qua mấy chục năm xây dựng và phát triển dưới chế độ mới, côngtác VTLT ở nước ta đã từng bước được thể chế hóa Những qui định pháp lý trongcác lĩnh vực này ngày càng cụ thể hơn, với những văn bản có giá trị pháp lý ngàycàng cao hơn Mặc dù còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để giải quyết tốthơn, song những gì chúng ta đã làm được trong lĩnh vực thể chế hóa công tácVTLT là rất quan trọng và khá căn bản Trong quá trình đổi mới của đất nước, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, chúng ta tin tưởng rằng các hoạt động VTLT ngày càng pháttriển mạnh hơn, đóng góp được nhiều hơn vào công cuộc xây dựng xã hội mới, giữcho được các thế hệ mai sau những di sản văn hóa quý giá của dân tộc
Từ những vấn đề đã nghiên cứu, chúng tôi chưa thấy có tác giả nào đi sâuvào nghiên cứu các giải pháp để quản lý trong lĩnh vực VTLT, đặc biệt là chưa đưa
ra được các giải pháp quản lý công tác VTLT ở một trường Đại học cụ thể
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.1 Văn thư, lưu trữ.
1.2.1.1 Văn thư
Trước đây trong các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về công tác ban hành và xử
lý văn bản đều sử dụng thuật ngữ “công văn giấy tờ” mà ngày nay ta quen gọi làcông tác VTLT, vì vậy trước khi đưa ra những khái niệm văn bản, chúng tôi đề cậpđến phương tiện ghi chép và truyền đạt thông tin này với tên đã được sử dụng:
Theo Điều 1 bản Điều lệ về công tác công văn giấy tờ và công tác lưu trữban hành theo Nghị định 142/CP ngày 28/9/1963 của Hội đồng Chính phủ: Côngvăn giấy tờ là một trong những phương tiện cần thiết trong hoạt động của Nhà
Trang 18nước Công văn, giấy tờ của cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước dùng để công bố,truyền đạt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, để báo cáo,thỉnh thị; để liên hệ giữa các cơ quan, các ngành, các cấp, để ghi chép các kinhnghiệm đã được đúc kết và ghi chép các tài liệu cần thiết [2]
Văn thư là văn bản, giấy tờ công tác của các cơ quan tổ chức
Có nhiều cách định nghĩa về văn bản khác nhau, sau đây chúng tôi xin đưa ramột số định nghĩa về văn bản:
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xuất bản năm 1992: Vănbản là bản viết hoặc bản in, mang nội dung là những gì cần được lưu lại làm bằng[42, 1078]
Văn bản là một phương tiện ghi tin trên một loại vật liệu nhất định, bằng mộtngôn ngữ cụ thể theo một phong cách ngôn ngữ nhất định để truyền đạt, trao đổithông tin
Văn bản là vật mang tin được ghi bằng ký hiệu, ngôn ngữ, có giá trị pháp lý.Theo Từ điển Lưu trữ Việt Nam, văn bản là công văn giấy tờ hình thành trong hoạtđộng của cơ quan như: Luật, Pháp lệnh, Lệnh, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định,Chỉ thị, Thông tư, Báo cáo, Thống kê, Kế hoạch [3, 87]
Vật mang tin: đối tượng vật chất dùng để ghi và lưu giữ thông tin Vật liệu
để làm ra vật mang tin có thể là gỗ, da, đất đá, lá cây, vải, giấy, các vật liệu hữu cơ
và tổng hợp để chế tạo các loại băng từ, đĩa cơ, đĩa quang hay các loại bộ nhớ khácnhau, bộ não người Vật mang tin không tách rời khỏi thông tin nó đang mang vàtruyền tải Có thể liết kê các dạng thường gặp của vật mang tin:
- Văn bản hiện hành ở các cơ quan và tài liệu lưu trữ
- Sách báo, tạp chí và các loại ấn phẩm
- Các băng nghe, nhìn
- Các bộ nhớ của các phương tiện tính toán hay xử lý thông tin
Trang 19Tài liệu là vật mang tin, trên đó ghi cố định thông tin và được xem như mộtđối tượng xử lý trong quá trình xử lý thông tin và tư liệu.
PGS.TS luật học Nguyễn Đăng Dung cho rằng, văn bản là bằng chứng chứng
tỏ sự liên tục của cơ quan Nhà nước, sự liên tục của chính quyền Nhà nước; đồngthời văn bản còn là phương tiện quan trọng hợp thức các hành vi của cơ quan Nhànước Văn bản là hình thức, là phương tiện ghi nhận hay chính thức hóa mọi hành
vi của Nhà nước, từ lúc Nhà nước được khai sinh cho đến lúc nó mất đi Văn bảnluôn là phương tiện thông tin chính thức của cơ quan Nhà nước, của tổ chức xã hội
và của cá nhân [32, 13]
PGS.TSKH Nguyễn Văn Thâm đưa ra nhìn nhận: văn bản nói chung là mộtphương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin bằng một ngôn ngữ hay ký hiệu nhấtđịnh Các văn bản hình thành trong quá trình hoạt động quản lý và lãnh đạo nóichung (sau đây gọi tắt là văn bản quản lý) là phương tiện quan trọng để ghi lại vàtruyền đạt các quyết định quản lý hoặc các thông tin cần thiết hình thành trong quátrình quản lý của các cơ quan Các hệ thống cơ quan quản lý từ trung ương đến địaphương đề sử dụng các văn bản như là cơ sở pháp lý quan trọng và đều ban hànhcác văn bản với nhiều thể loại thích hợp để phục vụ cho hoạt động của cơ quanmình Nói cách khác, văn bản là phương tiện quan trọng để đảm bảo thông tin choquản lý , nó phản ánh kết quả hoạt động quản lý của cơ quan, giúp ta thấy được sảnphẩm của loại đặc thù này Văn bản là một trong những phương tiện (công cụ)không thể thiếu được trong hoạt động lãnh đạo, quản lý, điều hành của tất các các
cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội [17,17]
Theo chúng tôi, xét ở nghĩa rộng, văn bản là phương tiện ghi tin bằng một kýhiệu hay một ngôn ngữ nhất định và là phương tiện truyền đạt thông tin từ chủ thểnày sang chủ thể khác Nếu giải thích theo nghĩa của từ Hán – Việt, thì văn lànhững chữ có nghĩa, bản là tấm, là miếng, những chữ có nghĩa được viết lên một
Trang 20tấm, một miếng vật liệu gì đó thì gọi là văn bản Theo nghĩa hẹp, văn bản là nhữngcông văn giấy tờ được hình thành và sử dụng trong hoạt động của các cơ quan Nhànước, các tổ chức xã hội, các cá nhân [12]
Văn bản hành chính là loại văn bản được viết theo phong cách ngôn ngữhành chính công vụ dùng làm phương tiện giao tiếp và truyền đạt thông tin tronglĩnh vực hành chính của các cơ quan và trong giao tiếp của công dân có liên quanđến lĩnh vực hành chính nói chung
Văn bản quản lý nhà nước là văn bản do cơ quan quản lý nhà nước ban hành
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao [12]
Văn bản đi là tất cả các loại văn bản do cơ quan làm ra để quản lý, điều hànhcông việc theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình được gửi đến các đốitượng có liên quan
Văn bản đến là tất cả các văn bản từ cơ quan bên ngoài gửi đến cơ quan, tổchức, qua đường bưu điện hay những tài liệu quan trọng do cá nhân trực tiếp mang
từ hội nghị về hoặc gửi trực tiếp
Văn bản nội bộ là các văn bản do chính cơ quan hoặc đơn vị trong cơ quanban hành, gửi cho các đơn vị trong nội bộ nhằm ghi lại, truyền đạt thông tin nội bộ
và để trao đổi công việc [14]
Đăng ký văn bản là việc ghi chép hoặc cập nhật những thông tin cần thiết vềvăn bản như số, ký hiệu, ngày, tháng, năm ban hành, tên loại và trích yếu nội dung,nơi nhận.v.v.vào sổ đăng ký văn bản hoặc cơ sở dữ liệu quản lý văn bản trên máy
vi tính để quản lý và tra tìm văn bản
Công tác văn thư là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ công việc liên quan đếnsoạn thảo, ban hành văn bản, tổ chức quản lý, giải quyết văn bản, lập hồ sơ hiệnhành nhằm đảm bảo thông tin văn bản cho hoạt động quản lý của các cơ quan, tổchức [13]
Trang 21Công tác văn thư là hoạt động đảm bảo thông tin bằng văn bản phục vụ côngtác quản lý, bao gồm toàn bộ các công việc về soạn thảo, xây dựng, ban hành vănbản; quản lý, giải quyết văn bản hình thành trong hoạt động của các cơ quan nhànước, các cơ quan doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, các đơn vị lực lượng vũ trang(gọi chung là cơ quan); quản lý và sử dụng con dấu trong văn thư [6]
1.2.1.2 Lưu trữ.
Tài liệu lưu trữ
Theo cách hiểu thông thường, tài liệu lưu trữ là những tài liệu có giá trị đượclưu lại, giữ lại để đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin quá khứ, phục vụ đời sống xãhội Như vậy, tài liệu lưu trữ cũng có nhiều loại và văn bản chỉ là một dạng tài liệulưu trữ Quan điểm về tài liệu lưu trữ càng ngày càng có sự biến đổi nhất định phùhợp với sự phát triển của xã hội con người Ngày nay, theo định nghĩa chuyênngành, tài liệu lưu trữ được định nghĩa như sau:
Tài liệu lưu trữ là bản chính, bản gốc của những tài liệu có giá trị được lựachọn từ toàn bộ khối tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan,
tổ chức và cá nhân, được bảo quản trong các kho lưu trữ để phục vụ cho các mụcđích chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, nghiên cứu khoa học, phục vụ hoạt độngquản lý lãnh đạo, của toàn xã hội
Tài liệu lưu trữ là tài liệu có giá trị về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh,ngoại giao, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ được hình thành trong cácthời kỳ lịch sử của dân tộc Việt Nam, trong quá trình hoạt động của các cơ quanNhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xãhội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân (gọi chung là cơ quan,
tổ chức) và các nhân vật lịch sử, tiêu biểu được bảo quản trong các phòng, kho lưutrữ để phục vụ cho nghiên cứu lịch sử, khoa học và hoạt động thực tiễn [23]
Trang 22Công tác lưu trữ là một ngành hoạt động của Nhà nước (xã hội) bao gồm tất
cả những vấn đề lý luận, pháp chế và thực tiễn có liên quan đến việc bảo quản và tổchức sử dụng tài liệu lưu trữ [23]
Công tác lưu trữ là một lĩnh vực hoạt động bao gồm tất cả những vấn đề lýluận, thực tiễn và pháp chế liên quan tới việc tổ chức khoa học, bảo quản và tổchức khai thác, sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ phục vụ công tác quản lý, côngtác nghiên cứu khoa học lịch sử và các nhu cầu chính đáng khác của các cơ quan, tổchức, cá nhân
Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay, qua các thời kỳ khác nhau đã có nhiềuvăn bản về soạn thảo, xử lý và sử dụng văn bản trong hoạt động của các cơ quantrong bộ máy quản lý Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi chúng ta đang chuyểnsang cơ chế mới trong quản lý, thì công tác VTLT lại càng có ý nghĩa quan trọng
1.2.2 Quản lý và quản lý giáo dục.
1.2.2.1 Quản lý
Cùng với sự xuất hiện xã hội loài người, các quan hệ: con người với tựnhiên, con người với xã hội, con người với con người và con người với chính bảnthân mình đã hình thành Để duy trì và phát triển các mối quan hệ ấy, tổ chức rađời Những công việc khi hoạt động riêng lẻ không làm được, nay nhờ có tổ chức
đã làm được
“Tổ chức là cấu trúc của những người kết lại thành nhóm hoạt động theomục đích, lý tưởng xác định mà từng thành viên khi hoạt động riêng lẻ thì khôngthực hiện được mục tiêu, lý tưởng đó.” [35,tr10]
“Tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạtđộng vì mục đích chung nào đó, mà để đạt được mục đích đó, một con người riêng
lẻ không thể nào đạt đến.” [16,tr1]
Trang 23Như vậy, để đạt được mục tiêu chung phải có tổ chức Để một tổ chức vậnhành tốt, đạt được mục tiêu đề ra, cần có tác động của hoạt động quản lý và ngườiquản lý gắn liền với tổ chức, hoạt động quản lý
Tùy vào cách tiếp cận mà có các khái niệm về quản lý khác nhau Có thể nêulên một số quan niệm chủ yếu sau:
Theo Từ điển Giáo dục học, “Quản lý là hoạt động hay tác động có địnhhướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý(người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mụcđích của tổ chức Các hình thức chức năng quản lý bao gồm: kế hoạch hóa, tổchức, chỉ đạo hoặc lãnh đạo và kiểm tra.” [36,tr326]
Ở góc độ kinh tế, “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người kháclàm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻnhất.” [21,tr 8]
Dưới góc độ hoạt động, “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lýtrong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồnlực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cáchtối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.” [35,tr8]
Ngoài ra, còn có một số quan niệm khác:
- “Quản lý là nghệ thuật đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điềukhiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác.” [1,tr176]
- “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng cáchoạt động (hức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.” [9,tr1]
Từ các quan niệm nêu trên, xét cho cùng, khi bàn đến vấn đề quản lý, cầnphải nêu lên mối quan hệ giữa chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản
Trang 24lý Như vậy, khái quát nhất, có thể hiểu rằng: “Quản lý là một quá trình tác độnggây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêuchung.” [31]
Khái quát cách hiểu khái niệm quản lý qua sơ đồ 1.1.
Nói đến quản lý giáo dục, người ta thường nói đến sự vận dụng khoa họcquản lý sao cho phù hợp với đặc trưng của hệ thống giáo dục và đối tượng quản lý.Dưới góc độ khoa học quản lý, quản lý giáo dục bao gồm: quản lý nhà nước vềgiáo dục và quản lý nhà trường
Có một số quan niệm về quản lý giáo dục như:
Ở cấp độ vĩ mô, “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lýnhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả cácnguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo
Công cụ quản lý
Chủ thể
quản lý
Phương pháp quản lý
Khách thể quản lý
Mục tiêu quản lý
Trang 25dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH.” [35,tr37]
Dưới cấp độ vi mô, “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động
tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thểquản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh vàcác lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng vàhiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.” [35,tr37,38]
Từ đó, có thể hiểu một cách khái quát nhất, quản lý giáo dục là hệ thốngnhững tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đếnkhách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
1.2.2.3 Các chức năng quản lý
Hoạt động quản lý là một loại lao động, lao động đặc biệt Lao động quản lýđược phân chia thành các dạng hoạt động cụ thể, có tính chuyên môn hóa cao gọi làchức năng quản lý
“Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông qua
đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêunhất định.” [18]
Có nhiều cách phân loại các chức năng quản lý Tuy nhiên, hầu hết các nhànghiên cứu về quản lý đều đề cập đến bốn chức năng cơ bản sau:
* Kế hoạch hóa:
Kế hoạch hóa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của
tổ chức và những biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó
Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa là: xác định, hình thànhmục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức; xác định và đảm bảo về các nguồn lựccủa tổ chức để đạt được các mục tiêu đã đề ra; quyết định xem những hoạt độngnào là cần thiết để đạt các mục tiêu đó
Trang 26Sản phầm của chức năng kế hoạch hóa là các văn bản kế hoạch Sự phân loại
kế hoạch gắn liền với sự phân loại các mục tiêu Có ba loại mục tiêu chính: mụctiêu chiến lược; mục tiêu chiến thuật; mục tiêu tác nghiệp, đồng thời cũng có baloại kế hoạch chính: kế hoạch chiến lược; kế hoạch chiến thuật; kế hoạch tácnghiệp
* Tổ chức:
Sau khi kế hoạch lập xong, người quản lý phải chuyển hóa các ý tưởng trong
kế hoạch thành hiện thực bằng việc tổ chức thực hiện
Tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên,các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch
và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, ngườiquản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực
Nội dung chủ yếu của chức năng tổ chức là: xây dựng cơ cấu tổ chức; xácđịnh nhiệm vụ và quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận; quản lý nhân sự và
tổ chức các hoạt động
* Chỉ đạo, lãnh đạo:
Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã đượctuyển dụng, người quản lý phải lãnh đạo tổ chức hoạt động nhằm thực hiện mụctiêu đề ra
Chỉ đạo là khả năng gây ảnh hưởng, động viên và chỉ dẫn/chỉ thị người khácnhằm đạt được mục tiêu mong muốn
Nội dung công việc của người lãnh đạo là ra các quyết định và tổ chức thựchiện các quyết định đó Để làm được điều này, người lãnh đạo phải có quyền lựcquản lý và các tri thức, kỹ năng quản lý
* Kiểm tra:
Trang 27Kiểm tra là một chức năng cơ bản và quan trọng không thể thiếu được củaquá trình quản lý
Kiểm tra – trong hoạt động quản lý – là một nỗ lực có hệ thống nhằm xácđịnh những chuẩn mực (tiêu chuẩn) thành tựu khi đối chiếu với các mục tiêu đãđược kế hoạch hóa; thiết kế một hệ thống thông tin phản hồi; so sánh thành tựuhiện thực với các chuẩn mực đã xác định; xác định những lệch lạc nếu có và đolường ý nghĩa, mức độ của chúng; tiến hành những hành động cần thiết để đảm bảorằng những nguồn lực của tổ chức được sử dụng một cách hiệu nghiệm và hiệu quả
để đạt được mục tiêu của tổ chức
Nội dung kiểm tra bao gồm: phát hiện mức độ thực hiện của các đối tượngquản lý và điều chỉnh Nhờ có kiểm tra, người quản lý theo dõi, giám sát các thànhquả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Đó làthiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý, làm nên chu trình quản lý
Có thể khái quát mối liên hệ các chức năng quản lý qua sơ đồ 1.2.
Kế hoạch
Kiểm tra Thông tin quản lý Tổ chức
Chỉ đạo
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ mối liên hệ các chức năng quản lý và chu trình quản lý
1.2.2.4 Quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước lên các quan hệ xã hội bảo
đảm cho các quan hệ xã hội phát triển theo đúng những mục đích đã định [38]
1.2.2.5 Quản lý nhà nước về công tác văn thư.
Trang 28*Khái niệm: Quản lý nhà nước về công tác văn thư là thông qua pháp luật vềvăn thư, thông qua bộ máy quản lý và chế độ nghiệp vụ văn thư để tổ chức khoahọc tài liệu văn thư nhằm đưa công tác văn thư không ngừng phát triển, phục vụ tốtnhất cho các mục tiêu của bộ máy quản lý và của toàn xã hội.
*Nội dung quản lý nhà nước về công tác văn thư
- Xây dựng, ban hành và chỉ đạo hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạmpháp luật về công tác văn thư
- Quản lý thống nhất nghiệp vụ công tác văn thư
- Quản lý nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ trong côngtác văn thư
- Quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức văn thư
- Thanh tra, kiểm tra về công tác văn thư
- Sơ kết, tổng kết công tác văn thư
- Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn thư
1.2.2.6 Quản lý nhà nước về công tác lưu trữ.
*Khái niệm: Quản lý nhà nước về công tác lưu trữ là thông qua pháp luật lưutrữ, thông qua bộ máy quản lý và các chế độ nghiệp vụ lưu trữ để tập trung những
hồ sơ tài liệu có giá trị vào bảo quản trong các kho lưu trữ và tổ chức khai thác, sửdụng có hiệu quả những hồ sơ tài liệu đó cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đấtnước
*Nội dung quản lý nhà nước về công tác lưu trữ
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển công tác lưutrữ
- Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luậtlưu trữ
- Quản lý thống nhất tài liệu lưu trữ quốc gia; thống kê nhà nước về lưu trữ
Trang 29- Quản lý thống nhất chuyên môn, nghiệp vụ lưu trữ.
- Tổ chức, chỉ đạo nghiên cứu khoa học, công nghệ trong hoạt động lưu trữ
- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ văn thư, lưu trữ
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật
về lưu trữ
- Hợp tác quốc tế trong công tác lưu trữ
1.2.3 Biện pháp quản lý công tác VTLT.
Theo tự điển Tiếng Việt thông dụng: “Biện pháp là cách làm, cách thức tiếnhành” một vấn đề cụ thể nào đó.[37]
Trong quản lý, biện pháp quản lý là tổ hợp các cách thức tiến hành của chủthể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề cụthể của hệ quản lý làm cho hệ vận hành, phát triển đạt mục tiêu mà chủ thể đề ra vàphù hợp với quy luật khách quan
Như vậy, biện pháp quản lý là việc người quản lý sử dụng các chức năngquản lý, các công cụ quản lý, các phương pháp quản lý, các nguyên tắc quản lý mộtcách phù hợp cho từng tình huống vào đối tượng mà mình quản lý, vào đơn vị đượcquản lý để đưa đối tượng quản lý, đơn vị được quản lý đi đúng mục tiêu và đạtđược mục tiêu mà người quản lý xây dựng, đưa chất lượng quản lý lên một vị trí,tình trạng mới tốt hơn hiện tại
Vậy phải có kiến thức sâu rộng, có kinh nghiệm để gắn kết những biện phápvới nhau, giải quyết các mâu thuẫn giữa các biện pháp, tình huống mà đối tượngđặt ra Người quản lý phải có năng lực sáng tạo để qua việc sử dụng biện pháp đảmbảo tốn ít thời gian, nguồn lực, công sức nhưng đạt được hiểu quả tối ưu
1.3 Vị trí vai trò của công tác VTLT ở trường Đại học.
Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước hiện nay, trên mọi lĩnh vực,hầu hết các công việc từ chỉ đạo, điều hành, quyết định, thi hành đều gắn liền với
Trang 30văn bản, cũng có nghĩa là gắn liền với việc soạn thảo, ban hành và tổ chức sử dụngvăn bản nói riêng, với công tác văn thư và lưu trữ nói chung Do đó, vai trò củacông tác VTLT đối với hoạt động quản lý hành chính nhà nước là rất quan trọng,thể hiện ở bốn điểm sau:
- Góp phần quan trọng đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý; cung cấpnhững tài liệu, tư liệu, số liệu đáng tin cậy phục vụ các mục đích chính trị, kinh tế,văn hóa, xã hội Đồng thời cung cấp những thông tin quá khứ, những căn cứ, nhữngbằng chứng phục vụ cho hoạt động quản lý của cơ quan
- Giúp cho CB-VC cơ quan nâng cao hiệu suất công việc và giải quyết xử lýnhanh chóng và đáp ứng được các yêu cầu của tổ chức, cá nhân Hồ sơ tài liệu trởthành phương tiện theo dõi, kiểm tra công việc một cách có hệ thống, qua đó cán
bộ, công chức có thể kiểm tra, đúc rút kinh nghiệm góp phần thực hiện tốt các mụctiêu quản lý: năng suất, chất lượng, hiệu quả và đây cũng là những mục tiêu, yêucầu của cải cách nền hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay
- Tạo công cụ để kiểm soát việc thực thi quyền lực ở các cơ quan, tổ chức, cánhân Góp phần giữ gìn những căn cứ, bằng chứng về hoạt động của cơ quan, phục
vụ việc kiểm tra, thanh tra, giám sát
- Góp phần bảo vệ bí mật những thông tin có liên quan đến cơ quan, tổ chức,doanh nghiệp và các bí mật quốc gia
1.4 Quản lý công tác VTLT ở trường Đại học
1.4.1 Mục tiêu của quản lý công tác VTLT ở trường Đại học
Nước ta đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH nhằm đưa Việt Nam trở thànhnước công nghiệp văn minh, hiện đại Trong sự nghiệp cách mạng to lớn đó, côngtác đào tạo nhân lực luôn giữ vai trò quan trọng Báo cáo chính trị của Ban chấphành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng
Trang 31thúc đẩy sự nghiệp CNH, HĐH, là điều kiện để phát triển nguồn lực con người –yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”.
Cùng với sự phát triển của bộ máy nhà nước, mục tiêu quản lý công tácVTLT ở trường Đại học là phải nâng cao được hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản
lý, thực hiện tốt công tác cải cách hành chính trong việc giải quyết công việc của cánhân và tổ chức mình, đòi hỏi phải đổi mới, hoàn thiện công tác VTLT
1.4.2 Nội dung quản lý công tác VTLT ở trường Đại học.
1.4.2.1 Quản lý công tác xây dựng và ban hành các văn bản chỉ đạo về công tác VTLT, tập huấn, triển khai các văn bản của Trung ương và tỉnh
Các văn bản chế định về công tác VTLT chính là những thể chế và qui địnhcủa Nhà nước, của nhà trường liên quan đến công tác VTLT được chủ thể quản lý
sử dụng trong quản lý Nó bao gồm các văn bản do Nhà nước ban hành và các vănbản vận dụng, cụ thể hóa vào thực tiễn hoạt động của nhà trường Nó vừa mangtính pháp lý, vừa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn Vì thế, bên cạnh việc thực hiệnnghiêm túc các chế độ của Nhà nước, nhà trường xây dựng các văn bản qui định cụthể về công tác VTLT của nhà trường và quản lý hoạt động ở đơn vị mình Hệthống văn bản chế định này là cơ sở đảm bảo cho hoạt động VTLT và quản lý hoạtđộng này ở trường được thống nhất, đồng bộ, có chất lượng và hiệu quả
1.4.2.2 Quản lý công tác tổ chức và cán bộ
Công tác tổ chức và cán bộ được xem như là bộ máy quản lý công tác VTLT
và đây cũng được xem là tổ chức quản lý hoạt động ở nhà trường Nó thể hiện quaviệc chủ thể quản lý xây dựng cấu trúc tổ chức của bộ máy, bố trí nhân sự, xác định
cơ chế quản lý và giải quyết các mối quan hệ của tổ chức cùng với sự phân địnhquyền hạn, nhiệm vụ và chức năng của các đơn vị và cá nhân đó Có thể nói, côngtác tổ chức và cán bộ có vai trò, vị trí rất quan trọng, làm nên chất lượng, hiệu quảhoạt động VTLT ở trường
Trang 321.4.2.3 Quản lý nguồn lực tài chính và CSVC phục vụ công tác VTLT
Nguồn lực tài chính và CSVC phục vụ cho công tác VTLT chính là nguồnvốn/ngân sách, cơ sở hạ tầng và trang thiết bị được chủ thể quản lý huy động và tổchức sử dụng phục vụ cho công tác VTLT Khó có thể thành công nếu không cóđược nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất đầy đủ, đồng bộ và từng bước hiện đại
Do đó, có thể nói, nguồn lực tài chính và CSVC là điều kiện đảm bảo cho công tácVTLT thành công và đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra
1.4.2.4 Quản lý việc chỉ đạo, kiểm tra, khen thưởng trong công tác VTLT
Quản lý việc tổ chức chỉ đạo, kiểm tra, khen thưởng trong công tác VTLT cómột ý nghĩa hết sức quan trọng Đặt ý nghĩa và vai trò sự nghiệp giáo dục trongcông cuộc CNH, HĐH quan trọng bao nhiêu thì càng thấy công tác quản lý sựnghiệp giáo dục quan trọng và cấp thiết bấy nhiêu, trong đó có việc kiểm tra khenthưởng công tác VTLT Đó là sản phẩm của lao động trong giáo dục
Quản lý việc tổ chức kiểm tra công tác VTLT là động lực phát triển củangành giáo dục và là sản phẩm của giáo dục tạo ra Vì thực chất, nếu không có hoạtđộng kiểm tra, khen thưởng thì trên thực tế không có quản lý, không được lãnh đạo
Tóm lại, việc chỉ đạo, kiểm tra, khen thưởng có ý nghĩa về nhiều mặt, trong
đó quan trọng nhất là đối với bản thân của từng CB-VC
1.4.3 Phương pháp và hình thức quản lý công tác quản lý VTLT ở trường ĐH
Trang 33Quản lý là một dạng hoạt động nghệ thuật mang tính chất trí tuệ cao, do vậyphương pháp và hình thức quản lý đòi hỏi phải mang tính khoa học, phù hợp vớicác qui luật khách quan và phải đảm bảo các nguyên tắc quản lý.
Phương pháp và hình thức quản lý tốt sẽ giúp cho hoạt động quản lý đạt chấtlượng cao, kết quả do quản lý mang lại đáp ứng được mục tiêu đề ra
Trường ĐH là cơ sở giáo dục sau trung học ở Việt Nam Hiện nay, Việt Nam
có nhiều hình thức quản lý các cơ sở giáo dục này, có thể thuộc quản lý nhà nước(công lập) hoặc bán công, dân lập hay tư thục; có thể đào tạo tuyển sinh cả nước,theo vùng hay tỉnh Ở đây, chúng tôi chỉ khảo sát đối với loại hình trường công lập,
là các trường đào tạo tổng hợp dưới sự quản lý của UBND tỉnh, thành phố Đây làloại hình trường đại học công lập, là một trường ĐH do nhà nước (trung ương hoặcđịa phương) đầu tư về kinh phí và cơ sở vật chất (đất đai, nhà cửa) và hoạt độngchủ yếu bằng kinh phí từ các nguồn tài chính công hoặc các khoản đóng góp phi vụlợi
Hình thức tổ chức quản lý công tác văn thư là cách thức tổ chức các đơn vị
bộ phận hoặc các cán bộ chuyên trách để thực hiện một số khâu của công tác vănthư mang tính nghiệp vụ thuần túy như tiếp nhận, vào sổ, chuyển giao, đánh máyvăn bản
Đối với các trường đại học thì cơ cấu tổ chức gồm có các phòng chức năng,các khoa chuyên môn, các Trung tâm, các bộ môn trực thuộc trường, các bộ môntrực thuộc khoa nên hình thức tổ chức quản lý công tác văn thư được tổ chức theohình thức văn thư hỗn hợp Với hình thức này, thì vừa có văn thư chung (hay còngọi là văn thư cơ quan) đặt tại phòng TC-HC, vừa bố trí bộ phận hoặc cán bộchuyên trách, kiêm nhiệm công tác văn thư ở các đơn vị trực thuộc, nghĩa là cónhững khâu công tác, những loại văn bản thì phân cho văn thư cơ quan xử lý, cónhững khâu công tác, những loại văn bản được giao cho văn thư các đơn vị xử lý
Trang 34Ví dụ: Văn thư cơ quan có nhiệm vụ tiếp nhận văn bản do các nơi gửi tới, chuyểngiao văn bản ra ngoài, theo dõi việc giải quyết những văn bản quan trọng; còn vănthư các đơn vị có nhiệm vụ tiếp nhận, vào sổ văn bản đến gửi riêng cho đơn vị,theo dõi việc giải quyết các văn bản có nội dung liên quan đến chức năng nhiệm vụcủa đơn vị
Kết luận chương 1.
Như vậy, có thể thấy trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập hiện nay, côngtác VTLT luôn giữ một vị trí và vai trò rất quan trọng Có thể thấy được nếu quantâm làm tốt công tác VTLT sẽ góp phần bảo đảm cho các hoạt động của nền hànhchính Nhà nước được thông suốt Nhờ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hànhchính Nhà nước và thúc đẩy nhanh chóng công cuộc cải cách hành chính hiện nay.Thiết nghĩ mỗi cơ quan hành chính Nhà nước cần phải có một nhận thức đúng đắn
về vị trí và vai trò của công tác VTLT để có thể đưa ra những biện pháp phù hợpnhằm đưa công tác VTLT tại cơ quan đơn vị mình đi vào nế nếp và góp phần tíchcực nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan, đơn vị
Trang 35Chương 2
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát về trường Đại học Quảng Nam.
2.1.1 Vài nét về lịch sử trường Đại học Quảng Nam.
Quảng Nam là một tỉnh trong khu vực Trung Trung Bộ, nằm ven biển miềnTrung, diện tích tự nhiên 10.406km2, tổng số dân khoảng 1.880.000 người, bờ biểndài 130 km, ngư trường lớn với 40.000 km Có hệ thống cảng Kỳ Hà, Dung Quất
và sân bay Chu Lai được qui hoạch thành khu Kinh tế mở Chu Lai Có khu côngnghiệp Điện Nam - Điện Ngọc và 02 di sản văn hóa thế giới: Mỹ Sơn và Hội An
Trường ĐH Quảng Nam tiền thân là trường Trung học Sư phạm Quảng Namđược thành lập tháng 6/1997, đến tháng 11/2000 được Bộ GD&ĐT nâng cấp thànhtrường CĐ Sư phạm Quảng Nam và đến tháng 6/2007 được Thủ tướng Chính phủ
ra quyết định thành lập trường ĐH Quảng Nam Trường đóng tại thành phố Tam
Kỳ, tỉnh lị của tỉnh Quảng Nam
Trường ĐH Quảng Nam có chức năng, nhiệm vụ đào tạo đa cấp, đa ngành từTrung cấp chuyên nghiệp (TCCN); CĐ cho đến bậc ĐH với các hình thức đào tạo:chính qui, liên thông và vừa làm-vừa học (VLVH)
Trường ĐH Quảng Nam cơ sở 1 tọa lạc trên diện tích 7 ha với khu Giảngđường 39 phòng học có khả năng đáp ứng 1550 học sinh, sinh viên/1 ca/1 ngày, 01khu hiệu bộ rộng 2.754m2 phục vụ cho công tác hành chính và làm việc, 04 phòngmáy thực hành vi tính với hơn 436 máy vi tính được nối mạng ASDL, 01 phòngLab gồm 32 cabin dùng cho dạy thực hành Ngoại ngữ, 01 phòng dạy học đa chứcnăng với hệ thống Multimedia đa phương tiện dùng cho dạy Ngoại ngữ và Tin học,
02 phòng học Nhạc - Hoạ, 03 phòng thực hành Lí - Hoá - Sinh với tổng diện tích là3.457m2 phục vụ cho thực hành các môn học, 01 nhà thi đấu đa năng, 02 khu kí túc
Trang 36xá sức chứa 1000 sinh viên, 01 thư viện điện tử được trang bị các thiết bị hiện đại
đủ đáp ứng nhu cầu giảng dạy-học tập và nghiên cứu của CB-GV và HS-SV Nhàtrường cũng đã được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt gần 50 ha tại xã TamPhú, thành phố Tam Kỳ để nhà trường tiến hành xây dựng vào đầu năm 2010.Trường ĐH Quảng Nam được xây dựng và phát triển theo hướng đa ngành, đa
hệ, đa cấp, trở thành trung tâm đào tạo nghiên cứu khoa học, trung tâm văn hoágiáo dục lớn của tỉnh Quảng Nam, của ngành GD-ĐT tỉnh Quảng Nam, đáp ứngnhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh Quảng Nam và các tỉnh lân cận thuộc khuvực Trung Bộ và Tây Nguyên; tạo điều kiện và cơ hội học tập cho người học trong
và ngoài Tỉnh, góp phân nâng cao dân trí, trình độ học vấn- khoa học kỹ thuật vànhân văn cho cộng đồng dân cư địa phương
Hằng năm, trường ĐH Quảng Nam đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV Mầmnon, Tiểu học và THCS, CBQL và nhân viên nghiệp vụ có phẩm chất chính trị đạođức tốt, có sức khoẻ, có kiến thức và năng lực hành nghề nghiệp tương xứng vớitrình độ đào tạo, thích ứng với việc làm trong xã hội và nhu cầu cán bộ giáo dục và
GV tỉnh nhà Trên cơ sở vật chất và đội ngũ đã có, để đáp ứng nguồn nhân lực củađịa phương, nhà trường mở các hệ đào tạo ngoài SP Ngoài ra, nhà trường liên kếtvới các trường ĐH, CĐ trong và ngoài nước đào tạo nâng cao trình độ cho nhândân, CB-VC và mở những lớp đào tạo mà trường chưa có mã ngành
Tổ chức cho CB-VC và HS-SV tham gia nghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ; kết hợp nghiên cứu khoa học với sản xuất dịch vụ khoa học và côngnghệ nhằm phục vụ tốt yêu cầu đào tạo và bồi dưỡng GV, CBQL và nhân viên giáodục
Đảm bảo an ninh chính trị và không ngừng tăng cường đời sống tinh thần vàvật chất cho CB-VC và SV
Trang 37Thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các chính sách, chế độ, các quy định đối với
SV theo đúng Quy chế SV trong các trường ĐH, CĐ và THCN hệ chính quy
Thực hiện các nhiệm vụ khác quy định tại Điều lệ trường ĐH và phân côngcủa UBND tỉnh Quảng Nam
Từ ngày thành lập đến nay, trường đã thực hiện việc đa dạng hoá các loạihình đào tạo, mở rộng các đối tượng đào tạo nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của ngườihọc và tăng qui mô phát triển của nhà trường Các hình thức đào tạo chính qui,không chính qui phát triển đồng bộ; với sự quan tâm sâu sát của lãnh đạo các cấp
uỷ Đảng, chính quyền địa phương tỉnh nhà, bằng sự nổ lực, phấn đấu xây dựng mộttrường Đại học Quảng Nam để đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân trongtỉnh của lãnh đạo nhà trường, cộng với sự quyết tâm không ngừng phấn đấu vươnlên trong giảng dạy và học tập của đội ngũ thầy và trò, nhà trường cũng đã đạt đượcnhững thành tích đáng kể Năm 2007, nhân kỷ niệm 10 năm thành lập, Trường ĐHQuảng Nam đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động Hạng III do Nhà nướctrao tặng và nhiều bằng khen của Tỉnh, của Bộ
2.1.2 Cơ cấu hiện nay của trường
Về cơ cấu tổ chức, trường có 1 Đảng bộ có trên 70 đảng viên, Ban Lãnh đạogồm 3 người (01 Hiệu trưởng và 02 Phó Hiệu trưởng), có 05 phòng chức năng là:TC-HC, Đào tạo-Công tác học sinh – sinh viên, Quản lý khoa học-Đối ngoại, Quảntrị và Kế hoạch - Tài chính; có 09 Khoa - Tổ chuyên môn là: Sư phạm, Ngoại ngữ,
Tự nhiên, Xã hội, Văn hóa-Du lịch, Toán-Tin, Kinh tế-Kỹ thuật, Tổ Lý luận chínhtrị và Tổ Giáo dục Quốc phòng, và 04 Trung tâm là: Đào tạo - Bồi dưỡng, Tin học -
Ngoại ngữ, Hỗ trợ - Sinh viên, Học liệu Hiện có 31 cán bộ chủ chốt cấp phòng,
khoa, tổ, trung tâm (18 trưởng, 13 phó) Số lượng cán bộ chủ chốt của trường ĐHQuảng Nam hiện có 34 người Trong số 34 cán bộ lãnh đạo cấp trường và các
Trang 38phòng, khoa, tổ, trung tâm của trường, thì số lượng đảng viên là 23 người, tỉ lệ67,7%; cán bộ chưa phải là đảng viên có 7 người, tỉ lệ 20,5%
Về tổ chức, ngoài Hiệu trưởng phụ trách chung còn có 01 Phó Hiệu trưởngphụ trách công tác Hành chính - Quản trị và 01 Phó Hiệu trưởng phụ trách công tácĐào tạo và Nghiên cứu khoa học Phòng Đào tạo – Công tác HS-SV và Nghiên cứukhoa học và Khoa chuyên môn là cơ quan chuyên trách, giúp Hiệu trưởng quản lí
và giám sát nội dung, chương trình, kế hoạch tuyển sinh và đào tạo; quản lí côngtác giảng dạy của đội ngũ giảng viên và quản lí quá trình và kết quả học tập củasinh viên
Các nhiệm vụ của phòng, khoa chuyên môn thực hiện theo Điều lệ trường ĐH
và qui chế tổ chức, hoạt động trường ĐH
2.1.3 Về đội ngũ CB-VC
Tổng số CB-VC trong nhà trường: có 256 người
Giáo viên tham gia giảng dạy: 185 người (kể cả số làm công tác ở các Phòng,Trung tâm)
Trình độ: Tiến sĩ: 03, NCS: 12, GVC: 22, Thạc sĩ: 77, Đang học cao học: 58,Đại học: 105, đi học tập bồi dưỡng ở nước ngoài: 05, CBNV hành chính: 54 - đượcphân bổ ở 18 đơn vị trực thuộc gồm: 5 phòng, 7 khoa, 2 tổ trực thuộc, 4 trung tâm
2.1.4 Về Học sinh – Sinh viên (năm học 2009 - 2010)
* Hệ chính quy: 4515 - Trung cấp: 1726, CĐ: 1652, ĐH: 1134 (Riêng ngành
mầm non: Trung cấp: 486, Cao đẳng: 124, Đại học: không có).
* Hệ vừa làm vừa học: 3071 - Trung cấp: 631, CĐ: 1054, ĐH: 1386 (Riêng
ngành mầm non: Trung cấp: 150, CĐ: 320, ĐH: 310).
2.2 Thực trạng công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam.
2.2.1 Nhận thức về tầm quan trọng của công tác VTLT.
Trang 39Trước hết, để tìm hiểu thực trạng công tác VTLT và quản lý hoạt động này ởtrường ĐH Quảng Nam, chúng tôi đã tiến hành lấy ý kiến của CBQL và CB-VC vềnhận thức của họ đối với công tác VTLT tại trường.
Qua điều tra tìm hiểu, hầu hết CBQL và CB-VC nhà trường có nhận thức cao
về tầm quan trọng đối với công tác VTLT
Nhận xét về sự cần thiết đối với công tác VTLT của đội ngũ CBQL và
CB-VC được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1: Sự cần thiết đối với công tác VTLT của đội ngũ CBQL và CB-VC:
Rất cần thiết Cần thiết Không cần thiết
Số ý kiến
Gắn liền với các mức độ cần thiết đó, có các lý do tương ứng Lý giải về mức
độ cần thiết đối với công tác VTLT của đội ngũ CBQL và CBVC được thống kêtrong bảng 2.2
Bảng 2.2: Lý do về sự cần thiết đối với công tác VTLT của đội ngũ CBQL vàCBVC:
Nâng cao nhận thức cho đội ngũ CB-VC về tầm
quan trọng của công tác VTLT
20 66% 15 50,00% Phục vụ đắc lực cho công tác giảng dạy và học 25 90,00% 18 58%
Trang 40tập; nâng cao hiệu suất và chất lượng công tác
của nhà trường
Gắn nhà trường với sự phát triển của xã hội;
chống tệ quan liêu giấy tờ, giữ gìn bí mật cơ quan
Đảm bảo thông tin cho hoạt động quản lý; tăng
cường cập nhật thông tin, tri thức
Kết quả điều tra trên cho thấy, đội ngũ CBQL và CBVC có nhận thức thốngnhất cao về sự cần thiết đối với công tác VTLT Tuy nhiên lý giải về sự cần thiết,giữa những đối tượng có những ý kiến khác nhau Phần lớn ý kiến của đội ngũCBVC cho rằng công tác VTLT là nhằm đảm bảo hoạt động thông tin Các lý dokhác cần thiết nhưng chưa chủ yếu Trong khi đó, ý kiến của CBQL đa số cho rằng
cơ bản là phục vụ hoạt động giảng dạy, đảm bảo thông tin và nâng cao nhận thứccho đội ngũ Các lý do còn lại nhìn chung là tương đương nhau Rõ ràng, nhận thức
về mục đích của công tác VTLT giữa CBQL và CBVC chưa thật sự thống nhất Đểđẩy mạnh công tác VTLT ở trường, nhất thiết phải bắt đầu từ việc nâng cao nhậnthức, tạo sự thống nhất về nhận thức giữa CBQL và CBVC về mục đích của côngtác này
Điều đó, cũng phản ánh nhận thức về sự cần thiết đối với công tác VTLT củaCB-VC chưa đi đôi với thực trạng công tác VTLT ở nhà trường trong thời gianqua
2.2.2 Việc thực hiện công tác VTLT ở trường ĐH Quảng Nam
Những năm qua, công tác VTLT trong các cơ quan Nhà nước nói chung và ởcác trường ĐH nói riêng đã có nhiều tiến bộ, đáp ứng phần lớn yêu cầu quản lý củacác ngành, các cấp, các địa phương, góp phần rất quan trọng trong sự nghiệp xâydựng và bảo vệ đất nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trước yêu cầu của công cuộcđổi mới đất nước, nhiều vấn đề mới được hình thành, đòi hỏi công tác VTLT của