Đặc biệt là, trong chiến lược giáo dục 2005 – 2015 của Thủ Tướngchính phủ chỉ ra rằng: “Phát triển giáo dục không chính quy như là hình thứchuy động tiềm năng của một cộng đồng để xây dự
Trang 1LÊ XUÂN TRƯỜNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN THỊ XÃ TỪ SƠN,
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Vinh – 2011
Trang 2NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
GDKCQ : Giáo dục không chính quy
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Những đóng góp của luận văn 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Ở một số nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á (SEAN) 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 11
1.2.1 Quản lý giáo dục 11
1.2.2 Xã hội học tập 17
1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng (TT.HTCĐ) 18
1.3 Một số vấn đề cơ bản của quản lý dạy học tại trung tâm GDTX 19
1.3.1 Quản lý trung tâm GDTX 19
1.3.2 Cơ sở pháp lý về giáo dục thường xuyên 22
1.3.3 Vai trò của trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân 23
1.4 Chất lượng dạy học tại trung tâm GDTX 25
Trang 41.4.1 Chất lượng và chất lượng dạy học 25
1.4.2 Chất lượng dạy học tại trung tâm GDTX 27
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng dạy học tại trung tâm GDTX …28
1.5.1 Các yếu tố chủ quan 28
1.5.2 Các yếu tố khách quan 29
1.6 Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục Quốc dân 31
1.7 Chủ trương của tỉnh Bắc Ninh và Thị xã Từ Sơn 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC Ở TRUNG TÂM GDTX THỊ XÃ TỪ SƠN 34
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh 34
2.2 Thực trạng giáo dục tại trung tâm GDTX thị xã Từ Sơn – Bắc Ninh 36
2.2.1 Hoàn cảnh ra đời – Quá trình hoạt động 36
2.2.2 Quy mô trường lớp, hiện trạng đơn vị 38
2.2.3 Cơ cấu tổ chức của Trung tâm GDTX thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh 38
2.2.4 Chất lượng đào tạo 39
2.3 Thực trạng công tác quản lý nâng cao chất lượng dạy học tại trung tâm GDTX Từ Sơn 41
2.3.1 Thực trạng số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên và CBQL trung tâm GDTX thị xã Từ Sơn 41
2.3.2 Thực trạng các biện pháp quản lý chất lượng dạy và học tại trung tâm GDTX Từ Sơn 45
2.3.3 Nguyên nhân thực trạng 58
Trang 5CHƯƠNG 3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GDTX THỊ XÃ TỪ SƠN - BẮC NINH 63
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 63
3.1.1 Nguyên tắc hệ thống 63
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo mục tiêu quản lý 63
3.1.3 Nguyên tắc thực tiễn 64
3.1.4 Nguyên tắc khả thi 64
3.2 Các biện pháp quản lí nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm GDTX 65
3.2.1 Nhóm biện pháp: Nâng cao nhận thức và bồi dưỡng năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên 65
3.2.2 Nhóm biện pháp: Tăng cường chỉ đạo kỷ cương nề nếp dạy học 68
3.2.3 Nhóm biện pháp: Dựa vào tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm để đổi mới phương pháp dạy học 71
3.2.4 Nhóm biện pháp: Đổi mới hoạt động kiểm tra, đánh giá hoạt động chuyên môn của giáo viên 74
3.2.5 Nhóm biện pháp: Tăng cường huy động, xây dựng và sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại để nâng cao chất lượng dạy học và quản lý chuyên môn 77
3.2.6 Nhóm biện pháp: Động lực – Cơ chế - Chính sách 80
3.3 Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 84
3.3.1 Tính khả thi 84
3.3.2 Tính hiệu quả 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
PHẦN PHỤ LỤC 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
Trang 6Đặc biệt là, trong chiến lược giáo dục 2005 – 2015 của Thủ Tướngchính phủ chỉ ra rằng: “Phát triển giáo dục không chính quy như là hình thứchuy động tiềm năng của một cộng đồng để xây dựng xã hội học tập tạo cơ hộicho mọi người, ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, ở mọi nơi có thể học tập suốtđời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng caodân trí và chất lượng nguồn lực”.[5; tr.12]
Ngày nay ở nhiều quốc gia trên thế giới, giáo dục được coi là quốc sáchhàng đầu, là chìa khoá để mở cánh cửa đưa xã hội đi vào tương lai
Thực tiễn cho thấy, các quốc gia châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc,Singapo, Thái Lan ….và một số nước trên thế giới, nhờ có sự phát triển vềgiáo dục đã đạt được sự phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội
Nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, yêu cầu pháttriển của xã hội đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải “ …chuyển dần mô hìnhgiáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạoliên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệthống học tập cho mọi người và những hình thức học tập thực hành linh hoạt,đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo khả năng cơ hội khác nhau chongưòi học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục “[10, tr 26]
Trang 7GDTX được biết đến như là hình thức giáo dục giúp mọi người vừalàm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộnghiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chấtlượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội
Ở nước ta, GDTX ngày càng có một vị trí và vai trò quan trọng GDTXđược coi là một trong hai hệ thống trong hệ thống giáo dục quốc dân “Hệthống giáo dục quốc dân gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên ” Trong những năm qua, giáo dục thường xuyên (GDTX) nước ta đã pháttriển nhanh chóng thành một hệ thống, một tổ chức đa dạng rộng khắp cảnước GDTX đã đạt những thành tựu đáng kể về mọi mặt góp phần to lớntrong công cuộc phổ cập giáo dục từng bước nâng cao mặt bằng dân trí, tỉ lệngười lao động được đào tạo ngày càng cao
Cũng như nhiều trung tâm GDTX khác, trung tâm GDTX thị xã TừSơn hiện tại có nhiều loại hình bồi dưỡng, đào tạo, như bồi dưỡng tin học,ngoại ngữ, bồi dưỡng kiến thức chuyên đề cho người lao động, tổ chức giảngdạy Trung học phổ thông, tổ chức liên kết đào tạo dạy hướng nghiệp nghề chohọc sinh THCS và THPT Mỗi loại hình đều có những đặc điểm khác nhau,đòi hỏi công tác quản lý nâng cao chất lượng dạy học phải chú ý đến từng loạihình học tập linh hoạt trong chỉ đạo điều hành
Bên cạnh những kết quả đạt được của GDTX cả nước thì một số trungtâm GDTX vẫn còn bộc lộ những hạn chế bất cập Đó là: còn nặng về sốlượng đào tạo, lúng túng trong việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu để nâng caochất lượng đào tạo Điều đó thể hiện ở chỗ quản lý trong quá trình đào tạo ởcác trung tâm GDTX còn yếu, chưa đáp ứng kịp thời nguồn đào tạo nhân lựcphục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Để khắc phục tình trạngnày, UBND tỉnh Bắc Ninh, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Ninh đã chỉ đạo
cụ thể “Các trung tâm GDTX cần tập trung nghiên cứu, cải tiến nội dung, đổi
Trang 8mới phương pháp đào tạo theo hướng phát huy tích cực, chủ động học tập củahọc sinh nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo” [19; tr.3].
Trước tình hình đó, Giám đốc các trung tâm GDTX phảỉ tìm ra nhữngbiện pháp quản lý tốt để nâng cao chất lượng giảng dạy của trung tâm GDTXđáp ứng quyền lợi học tập của mọi người
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Một số biện pháp quản lý nâng cao
chất lượng dạy học ở trung tâm Giáo dục thường xuyên thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài cho luận văn của mình.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là: Một số biện pháp quản lý nâng cao chấtlượng dạy học ở trung tâm GDTX thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Nếu những biện pháp quản lý dạy học của Giám đốc theo hướng pháthuy tích cực, chủ động học tập của học sinh một cách đồng bộ dạy sát đốitượng phù hợp với nhu cầu học tập của đối tượng thì hoạt động giảng dạy vàhọc tập ở trung tâm GDTX sẽ từng bước nâng cao được chất lượng, đáp ứngyêu cầu ngày càng cao của xã hội
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận của những biện pháp quản lý chất lượng dạyhọc ở trung tâm GDTX
Trang 9Khảo sát thực trạng về những biện pháp quản lý hoạt động dạy học, đàotạo ở trung tâm GDTX Làm cơ sở thực tiễn trên cho đề tài
Đề xuất biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trungtâm GDTX thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích tổng hợp các tài liệu khoahọc, các văn bản, các báo cáo, các tài liệu lưu trữ liên quan của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn như: Điều tra bằng phiếu hỏi tạimột số trung tâm như trung tâm GDTX Tiên Du, trung tâm GDTX YênPhong, trung tâm GDTX Bắc Ninh
- Phương pháp chuyên gia phỏng vấn theo cấu trúc đã chuẩn bị sẵn,phương pháp sư phạm, phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phương phápthống kê toán học
7 Những đóng góp của luận văn
- Đề tài góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng và nội dung của việc tăngcường các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm giáodục thường xuyên thị xã Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh
- Trên cơ sở thực trạng việc quản lý nâng cao chất lượng dạy học ởtrung tâm giáo dục thường xuyên thị xã Từ Sơn, tác giả đề xuất một số biệnpháp nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm giáo dục thường xuyên thị xã
Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn có 3 chương:Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài; Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài;Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm giáodục thường xuyên thị xã Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Ở một số nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á
(ASEAN)
GDTX được thế giới quan tâm đến từ hội nghị giáo dục người lớn thếgiới lần thứ nhất, được tổ chức tại Elsimor – Đan mạch (1949) Từ đó đến naynhiều hội nghị thế giới về GDTX đã được tổ chức hàng năm nhằm đánh giátình hình, chỉ ra xu thế phát triển và những vấn đề đặt ra cho GDTX trênphạm vi toàn cầu
Vào thế kỷ XX, do khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, nhàtrường không thể cung cấp hết cho người học những tri thức mới của nhânloại và càng không giữ được vai trò độc tôn trong việc giáo dục thế hệ trẻ.Nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã thấy được sự khủng khoảng trong giáo dục,nên đã phân tích vai trò của nhà trường, những hạn chế mà nhà trường khôngthể khắc phục được như sự hạn chế và bó hẹp của giáo dục, sự áp đặt và trấn
áp trong dạy học, không cập nhật và chưa áp dụng được hết các kiến thức vàocuộc sống đặc biệt là không tạo cho mọi người có thể được tiếp tục học tập,học thường xuyên học suốt đời Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng giáo dụckhông chính quy (GDKCQ) sẽ là giải pháp duy nhất để thoát khỏi tình trạng
đó
Từ những năm 60 trở về trước, giáo dục chính quy (GDCQ) chiếm vịtrí độc tôn ở các nước trên thế giới Ph.Coombs trong tác phẩm “Khủng hoảnggiáo dục trên phạm vi toàn thế giới” đã nêu 4 vấn đề
Giáo dục trong nhà trường không đủ sức đáp ứng nhu cầu họctập cho mọi người
Trang 11 Học vấn trong nhà trường, thậm chí cả trong Đại học không đápứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ khoahọc – kỹ thuật – công nghệ đang có những bước tiến đột phá.
Kiến thức học trong nhà trường là quá ít, chóng lạc hậu
Giáo dục không chính quy đóng vai trò gợi ý cho giáo dục thoátkhỏi khủng hoảng đó
Đến thập kỷ 70, Edgar Faure với tác phẩm “Học để tồn tại” xuất bảnvào năm 1972 đã góp phần làm xoay chuyển nhận thức về giáo dục, đặc biệt
là giáo dục cho đối tượng giáo dục người lớn, giáo dục thường xuyên (còn gọi
là giáo dục không chính quy) phải được coi là bộ phận chủ yếu, quan trọngcùng với giáo dục chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời
Đầu những năm 90, tại Jomtien – Thái Lan, hội nghị cấp cao toàn thếgiới về giáo dục một lần nữa nhấn mạnh vai trò của giáo dục thường xuyên
Hội nghị lần thứ V giáo dục cho người lớn tại Hamburg ở Đức (1997)sau khi phân tích tình hình phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, việc làmngành nghề và nạn thất nghiệp đã khẳng định
Giáo dục người lớn là chìa khóa để bước vào thế kỷ
Giáo dục thường xuyên đã đóng góp to lớn vào việc đào tạonguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệmôi trường sinh thái và sự phát triển cá nhân mỗi người
Từ những ý tưởng và quan niệm đã được đúc kết trên đây, các nướctrên thế giới đã tiến hành chiến lược giáo dục riêng cho mình phù hợp vớiđiều kiện cụ thể của mỗi nước
Có thể nhận xét về chủ trương phát triển hệ giáo dục không chính quy
ở một số nước trên giới như sau:
Các nước phát triển và các nước đang phát triển đều xuất phát từ chiếnlược phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo trong từng nước, quan hệ
Trang 12giao lưu kinh tế, thương mại theo xu hướng toàn cầu hóa, để đẩy mạnh việcxây dựng phát triển hệ giáo dục không chính quy đa dạng ngoài hệ thống giáodục chính quy theo hướng cả xã hội học tập, góp phần đào tạo nguồn nhân lực
có trình độ học vấn, kỹ năng nghề nghiệp đi vào cuộc sống
Loại hình tổ chức theo phương thức giáo dục không chính quyphong phú, đa dạng, đơn giản và hiệu quả với sự quan tâm và tham gia củanhiều cơ quan, đơn vị từ trung ương đến địa phương
Uyển chuyển, mềm dẻo về thời điểm chỉ đạo tùy theo từng nướctrên cơ sở các điều kiện thực tiễn cho phép, song đều có thái độ và tráchnhiệm cao với nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí của hệ thống giáo dụckhông chính quy trong mọi mặt tiến bộ của đất nước
Sáng tạo trong việc xây dựng các mô hình phù hợp với điều kiệnhọc tập của mọi đối tượng người theo học, trên cơ sở các chương trình họctập sát hợp với nhu cầu không chỉ đối với người học mà cả yêu cầu đáp ứngnguồn nhân lực cho lĩnh vực phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội
Từ những nhận xét trên, chúng ta sẽ lần lượt đối chiếu để vận dụng mộtcách chủ động, sáng tạo việc tổ chức các hoạt động giáo dục không chính quyvào hoàn cảnh cụ thể của nước ta
1.1.2 Ở Việt Nam
Nhân dân ta vốn có truyền thống cách mạng và hiếu học Ngay sau khiCách mạng tháng Tám thành công, các hoạt động chống nạn thất học pháttriển mạnh mẽ đã phản ánh và đáp ứng được nguyện vọng tha thiết của nhândân ta mong muốn được học hành Ngày 03/9/1945 trong buổi họp đầu tiêncủa Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xếp việc chống nạn mùchữ là việc thứ hai sau việc chống nạn đói Người nói: “Nạn dốt là một trongnhững phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để cai trị chúng ta Hơn90% đồng bào ta còn bị mù chữ Thế mà chỉ cần học 3 tháng là có thể đọc
Trang 13được, viết được tiếng nước ta Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Tôi đề nghị
mở chiến dịch chống nạn mù chữ”
Ngay sau đó ngày 08/9/1945 Chính phủ ban hành 3 sắc lệnh
Sắc lệnh số 17: “Đặt ra một bình dân học vụ trong toàn lãnh thổViệt Nam”
Sắc lệnh số 19: “Thiết lập cho nông dân và thợ thuyền những lớphọc bình dân buổi tối”
Sắc lệnh số 20: “Việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc vàkhông mất tiền cho tất cả mọi người Hạn trong một năm toàn thểdân chúng Việt Nam trên 8 tuổi phải biết đọc, biết viết chữ quốcngữ” Chính phủ đã thành lập Nha bình dân học vụ để trông nomviệc học hành của nhân dân
Nhờ sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, đến ngày 24/11/1993 Nghịđịnh 90/CP của Chính phủ đã viết: “Giáo dục thường xuyên được thực hiệnbằng nhiều hình thức (không tập trung, không chính quy, tại chức, bổ túc từxa vv), nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọi công dân ở mọi trình độ có thểhọc tập thường xuyên, phù hợp với hoàn cảnh của từng người, đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế xã hội, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật”.Giáo dục thường xuyên là một trong năm phân hệ ngành học của hệ thốnggiáo dục quốc dân
Luật giáo dục 1998: Điều 40,41,42 đã xác định giáo dục không chính
quy là một phương thức giáo dục; xác định nội dung, phương pháp giáo dục
không chính quy đã tạo điều kiện để phát triển giáo dục không chính quy cảnước, góp phần đẩy nhanh tiến độ xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học,giáo dục trung học cơ sở và giáo dục bậc trung học Ngày 02/9/2000 cả nước
đã hoàn thành XMC, phổ cập giáo dục Tiểu học 94% người trong độ tuổi
15-35 biết chữ và hơn 15 tỉnh thành đã hoàn thành phổ cập THCS vào năm 2002
Trang 14Đến năm 2007 cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS và tiến tới phổcập THPT.
Luật giáo dục 2005: Điều 44 ghi: Giáo dục thường xuyên (GDTX) giúpmọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhâncách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ
để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm, tự tạo việc làm và thích nghivới đời sống xã hội
Nhà nước có chính sách phát triển GDTX, thực hiện giáo dục cho mọi
người, xây dựng xã hội học tập [17; tr.30].
Hệ thống trung tâm Giáo dục thường xuyên phát triển quy mô và sốlượng Giáo dục không chính quy đã mở rộng hơn mạng lưới các cơ sở giáodục thường xuyên Số lượng thí sinh dự thi tốt nghiệp BT THPT hàng nămtăng từ 10-15%, chất lượng dạy và học ổn định Kết quả tốt nghiệp hàng năm
đã phản ánh được sự cố gắng trong việc tổ chức các kỳ thi
Trong giai đoạn đầu những năm 1980, đất nước gặp nhiều khó khăn,khủng hoảng kinh tế, đời sống nhân dân gặp khó khăn nên giáo dục thườngxuyên không phát triển được và bị giảm sút đáng kể về quy mô chất lượng,mất đi cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; số học sinh bổ túcvăn hóa giảm nhanh, số người mù chữ tăng lên, tư tưởng chính quy hóa giáodục thường xuyên làm cho bổ túc văn hóa bị kìm hãm lạc hậu so với các nướctrong khu vực
Các nội dung, chương trình hoạt động của giáo dục không chính quy đãtạo cơ hội cho đông đảo người lao động trực tiếp được học tập, được đào tạolại, được bồi dưỡng ngắn hạn định kỳ và thường xuyên theo các chương trìnhgiáo dục, chương trình kỹ năng nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu để tăngnăng suất lao động, tăng thu nhập hoặc chuyển đổi nghề nghiệp Các chươngtrình bồi dưỡng, tại chức nâng cao trình độ của giáo viên, cán bộ, công chức
Trang 15nhà nước Các chương trình của giáo dục không chính quy hiện nay rất phongphú, trải rộng trên các lĩnh vực văn hóa – xã hội, kinh tế - khoa học kỹ thuật,thể hiện tính mềm dẻo, linh hoạt, cập nhật, phù hợp với nhu cầu học tập củanhân dân, góp phần trong việc thực hiện chiến lược giáo dục cho mọi người.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chương trình hướng dẫn dạy BT THCS,
BT THPT cho phù hợp, có chương trình hoạt động của trung tâm học tậpcộng đồng, chương trình mở rộng hoạt động dạy ngoại ngữ, tin học đề ánxây dựng xã hội học tập
Từ sau đại hội đại biểu Đảng CSVN lần thứ VI, đường lối đổi mới vềmọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội của Đảng mở ra hướng phát triển mới
và trở thành xu thế tất yếu của đất nước Đó là thời kỳ đổi mới thực hiện theo
cơ chế thị trường định hướng XHCN cho đến nay là giai đoạn chuyển mình từthời kỳ giáo dục bổ túc (1989) sang giáo dục thường xuyên và giáo dục khôngchính quy; giai đoạn thích ứng với sự phát triển kinh tế - xã hội góp phần tạođiều kiện mọi người được học tập – xây dựng xã hội học tập
Ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khoa học quản lý giáo dục trong đó cóquản lý nâng cao chất lượng dạy học nói chung và chất lượng dạy học ở trungtâm GDTX nói riêng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu như
“Một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy học tại Trung tâm GDTX – Dạynghề huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2009-2012 và địnhhướng đến năm 2015 ” của tác giả Mai Văn Thắng hay “ Biện pháp tăngcường công tác quản lý hoạt động dạy học tại trung tâm GDTX tỉnh BắcNinh” do tác giả Nguyễn Văn Tiến
Nhìn chung các đề tài nghiên cứu đã đạt được những thành tựu ban đầuđáng khích lệ và góp phần cải tiến, hoàn thiện hơn công tác quản lý giáo dụccủa đất nước và của từng cơ sở GD cụ thể Tuy nhiên cho đến nay, vấn đềnâng cao chất lượng dạy học tại các trung tâm GDTX trên địa bàn tỉnh Bắc
Trang 16Ninh vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đầy đủ, còn có những khía cạnhchưa được nghiên cứu sâu, còn thiếu những biện pháp mang tính hiệu quảđồng bộ Vì vậy việc nghiên cứu đề tài này là vô cùng cần thiết.
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xác định
cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biện phápquản lý nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm GDTX thị xã Từ Sơn chophù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý là một trong những loại hình lao động đặc thù và quan trọngnhất trong các hoạt động của con người, là sản phẩm và là yếu tố gắn chặt vớihợp tác lao động Có thể nói rằng, hoạt động quản lý vừa là một khoa học,vừa là một nghệ thuật Vì vậy thuật ngữ quản lý được hiểu theo nhiều cáchkhác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau Có nhiều quan niệmkhác nhau về quản lý
Theo từ điển Tiếng Việt 1998: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theoyêu cầu nhất định” Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầunhất định
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của những hệ có
tổ chức Nó là hoạt động chủ quan của chủ thể quản lý vì mục tiêu, lợi ích của
tổ chức, đảm bảo cho hệ thống tồn tại và phát triển Như vậy, bản chất củahoạt động quản lý phản ánh chủ yếu lý tưởng, ý chí, nhân cách của chủ thểquản lý trong mối quan hệ với hệ bị quản lý
F.W Taylor cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốnngười khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một
cách tốt nhất và dễ nhất”
Trang 17Còn theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảmbảo những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêucủa mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó conngười có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất
và sự bất mãn cá nhân Với cách thực hành tính cách quản lý là một nghệthuật, còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học [9; tr.33]
Các nhà nghiên cứu Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì cho rằng “ Quản
lý là một quá trình có định hướng, có mục tiêu, quản lý là hệ thống là quátrình tác động đến hệ thống nhằm đạt được nhiều mục tiêu nhất định Nhữngmục tiêu này đặc trưng cho trạng thái của hệ thống và người quản lý mongmuốn ” [13; tr.37]
Quản lý là sự tác động có chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình
xã hội và hành vi con người nhằm đạt được mục đích đã đề ra
Quản lý là cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra mục tiêu và hoàn chỉnhcác mục tiêu cần đạt, lựa chọn và sử dụng các phương tiện nhằm đạt các mụctiêu đã định
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại
và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của một tổ chức, từ một nhóm nhỏhay phạm vi quốc gia, quốc tế đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó.Các Mác đã từng nói: Tất cả mọi người lao động xã hội trực tiếp hay lao độngchung nào trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉđạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận độngcủa khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ đại thì tự mình điều khiểnlấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng
Các định nghĩa về quản lý nêu trên đều cho thấy hiệu quả của công tácquản lý phụ thuộc vào các yếu tố: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục
Trang 18đích hướng đến công tác quản lý, tác động từ chủ thể đến khách thể quản lýnhờ công cụ quản lý
Hoạt động quản lý luôn tồn tại với tư cách là một hệ thống bao gồm:Chủ thể quản lý là cá nhân hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên đề ramục tiêu, dẫn dắt điều khiển đối tượng quản lý mục tiêu đã định Khách thểquản lý: vừa có thể là người, vừa có thể là sự vật, là tổ chức con người giữachủ thể quản lý và khách thể quản lý có tác động qua lại tương trợ lẫn nhau,chủ thể này làm nảy sinh các hoạt động quản lý còn khách thể thì sinh ra cácgiá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu conngười, thỏa mãn các hệ thống dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý
Từ những quan điểm chung đó có thể định nghĩa: Quản lý là một quá
trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy:
Quản lý bao giờ cũng là quá trình tác động có tổ chức, có kế hoạch, cómục tiêu cụ thể Quản lý phải có mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho tất cả cácđối tượng và chủ thể quản lý, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể và sáng tạo ratác động
Quản lý là sự thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận đó chủ thể quản lý
và đối tượng quản lý Đây là mối quan hệ không đồng cấp mà là mối quan hệ
ra lệnh – phục tùng và mang tính bắt buộc
Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người Đối tượng tác động củaquản lý là một hệ thống xã hội hoàn chỉnh như một cơ thể sống gồm nhiềuyếu tố liên kết hữu cơ theo một quy luật nhất định tồn tại trong thời gian vàkhông gian cụ thể
Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quyluật khách quan Quản lý là hoạt động mang tính trí tuệ, tính sáng tạo bằng
Trang 19những quyết định đúng quy luật và có hiệu quả nhưng cũng phải tuân theonhững nguyên tắc nhất định hướng tới mục tiêu
Quản lý xét về mặt công nghệ, chính là sự vận động của thông tin.Quản lý chính là thu thập và xử lý lưu trữ các thông tin
Tóm lại, Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường quản lý mà trong
đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm (tổ chức) để hoàn thànhnhiệm vụ và mục tiêu đề ra Quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởngbằng các công cụ và phương pháp quản lý khác nhau của chủ thể quản lý đếnđối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung Có thể thể hiện bằng môhình sau :
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục được hiểu ở nhiều nghĩa khác nhau:
Theo N.M Matchtizade: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện phápnhằm bảo đảm sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáodục, bảo đảm sự liên tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng vàchất lượng [16; tr.34]
Theo Nguyễn Gia Quý: Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức củachủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục
Trang 20tiêu đã định, trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật kháchquan của hệ thống giáo dục quốc dân.
Tiến sỹ Phạm Minh Hạc đã đưa ra một nội dung khái quát nhưng vẫnhợp lý và dễ hiểu của khái niệm quản lý giáo dục Tác giả viết: “Quản lý giáodục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật củachủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối vànguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trườngXHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục là quátrình giáo dục – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dựkiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [10; tr.61]
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm quản lý khác nhau, song có thể hiểubản chất của quản lý giáo dục là vận hành các hoạt động giáo dục đạt tới mụctiêu đã định Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng
xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo theo yêu cầu phát triển xã hội Đó là
hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý,
là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, các trường trong hệ thống giáodục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài”
1.2.1.3 Chức năng của quản lý
- Chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo, đáp ứng nhu cầu hiệnhành của việc phát triển kinh tế - xã hội
- Chức năng đổi mới phát triển quá trình đào tạo đón đầu của sự pháttriển kinh tế - xã hội
Do vậy, quản lý giáo dục và đào tạo là hoạt động điều hành nhà trường
để giáo dục đào tạo vừa là sức mạnh, vừa là mục tiêu của nền kinh tế xã hội
Từ các chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục đào tạo phải quántriệt và gắn bó với 4 chức năng cụ thể sau:
Trang 21* Lập kế hoạch:
Lập kế hoạch là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tươnglai của tổ chức và các con đường, biện pháp cách thức để đạt được mục tiêu,mục đích đó
Nội dung chủ yếu của kế hoạch là: Xác định và bảo đảm về các nguồnlực của tổ chức, quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt đượccác mục tiêu của tổ chức
* Tổ chức:
Tổ chức chính là quá trình biến ý tưởng của kế hoạch thành hiện thực
Về phương diện quản lý, tổ chức là quá trình hình thành cấu trúc quan hệ giữacác thành viên, các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiệnthành công kế hoạch và mục tiêu tổng thể của tổ chức
* Chỉ đạo:
Chỉ đạo thực chất là hoạt động dẫn dắt người quản lý đối với các bộphận và các thành viên của tổ chức để đạt được mục tiêu quản lý Hoạt độngchỉ đạo nảy sinh khi thai nghén mục tiêu, đến các quá trình lập kế hoạch, tổchức nhân sự và kiểm tra, đánh giá kết quả Chỉ đạo là hoạt động thườngxuyên và mang tính kế thừa, phát triển
* Kiểm tra:
Kiểm tra là một chức năng quan trọng của quản lý Theo lý thuyết điềukhiển, kiểm tra chính là thiết lập mối liên hệ ngược trong quản lý Kiểm trabao gồm các yếu tố cơ bản sau: Đánh giá việc thực hiện công việc theo chuẩn,nếu có sự sai lệch thì điều chỉnh, uốn nắn
Tóm lại: Các chức năng quản lý có mối liên hệ mật thiết với nhau,
người quản lý luôn phải nắm bắt thông tin và tiến hành việc quản lý theo 4chức năng trên thì ắt sẽ dẫn đến mục tiêu cần đạt được
Trang 221.2.2 Xã hội học tập
Năm 1970 Ủy ban quốc tế về phát triển giáo dục đã nêu hai ý tưởnggắn bó chặt chẽ nhau là học tập suốt đời (HTSĐ) và xây dựng xã hội học tập,thực hiện sự gắn kết hoàn toàn giữa giáo dục và xã hội “Một tổ chức xã hội,chấp nhận một vị trí như vậy cho giáo dục và giao cho giáo dục một thể chếnhư vậy, thì rất xứng đáng được mang một cái tên thích hợp xã hội học tập”
Trong báo cáo “Học tập – Một kho báu tiềm ẩn” do UNESCO Pariscông bố năm 1996, có 3 mệnh đề cơ bản được coi là triết lý của một nền giáodục cần thiết cho thế kỷ 21 đó là: “Giáo dục phải dựa trên 4 trụ cột: Học đểbiết; học để làm; học để cùng chung sống với cộng đồng và học để làm người;
4 trụ cột này phải đặt trên nền tảng: “Học suốt đời” và xây dựng một “Xã hộihọc tập” Quan niệm về giáo dục thường xuyên hoặc giáo dục xuyên suốtcuộc đời gắn bó với quan niệm về cơ hội học tập và phát triển những khảnăng cơ hội học tập có đặc điểm là: Chất liệu cho cả học và làm là do toàn bộcuộc sống cá nhân và xã hội cung cấp
Theo báo cáo của UNESCO, xã hội học tập bao gồm ý niệm giáo dục làmột chức năng của toàn thể các cơ quan trong xã hội chứ không riêng gì các
cơ quan giáo dục truyền thống Tất cả các tổ chức xã hội đều là người cungcấp giáo dục có chủ đích hoặc ngẫu nhiên Một xã hội học tập là một xã hội
mà toàn thể công dân đều phải học tập và có ý thức, triệt để tận dụng các cơhội học tập do xã hội học tập cung ứng
Do vậy, chúng ta có thể hiểu một XHHT là một xã hội mà ở đó ai cũngđược học tập và tự học thường xuyên, suốt đời, ai cũng có trách nhiệm đối vớiviệc học tập từ trong gia đình ra ngoài xã hội Đó là xã hội toàn dân học tập,nhà nước và toàn dân làm giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài trong xã hội
Trang 23Trong bối cảnh gia tăng toàn cầu hóa và thay đổi công nghệ nhanhchóng thì giáo dục không chính quy và giáo dục phi chính quy được xem nhưnhững hướng quan trọng góp phần tạo dựng XHHT suốt đời.
1.2.3 Trung tâm học tập cộng đồng (TT.HTCĐ)
Đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa
từ điểm xuất phát là nền nông nghiệp lạc hậu, tự cung tự cấp Từ đặc điểmtrên, ta thấy quá trình công nghiệp hóa đất nước hiện nay là quá trình chuyểnđổi dần nền sản xuất từ thủ công sang máy móc, mà các máy móc thiết yếucho nông nghiệp phải được sản xuất trong nước Có thể khẳng định rằng nềnmóng của nền công nghiệp hiện đại sản xuất lớn là trình độ dân trí và nguồnlực có khả năng vận dụng trí thức mới của thời đại và phát triển sản xuất củanước ta Như vậy, việc học tập suốt đời của mọi người dân là điều kiện tâmhuyết và cũng là lâu dài để xây dựng nền công nghiệp hiện đại ở nước ta.Nhiệm vụ của giáo dục đào tạo là: Cung cấp mọi cơ hội học tập cho nhân dân,
hệ thống giáo dục phải mềm dẻo và đa dạng đến mức bất cứ người dân nàocần học đều tìm thấy chương trình học phù hợp với yêu cầu của mình Vì vậy,trong mạng lưới giáo dục đào tạo ở xã cần có thêm trung tâm học tập cộngđồng và xác định nhiệm vụ của trung tâm là để mọi người dân được đảm bảo
sự phát triển bền vững trình độ dân trí, nghề nghiệp của cộng đồng
Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo 2005-2015, trong phần giáodục không chính quy đã ghi rõ: “Phát triển phương thức giáo dục không chínhquy để tạo thêm điều kiện thuận lợi cho mọi người, ở mọi trình độ có thể họctập suốt đời, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình, góp phần nângcao dân trí và đào tạo nhân lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước” Với kếhoạch chiến lược nêu trên, vấn đề đặt ra là làm thế nào để tổ chức và huyđộng được các đối tượng đi học Các lớp chuyên đề để nâng cao dân trí, nângcao tiến bộ KHKT chính là trung tâm học tập cộng đồng Vậy trung tâm học
Trang 24tập cộng đồng là cơ sở giáo dục tổ chức học tập theo phương thức khôngchính quy ở xã, phường để cung ứng các cơ hội học tập khác nhau, nhằmnâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và phục vụ cho việc phát triểnkinh tế xã hội của cộng đồng, của địa phương.
Mục đích cuối cùng của trung tâm HTCĐ là góp phần phát triển nguồnnhân lực, bằng cách cung cấp cơ hội học tập cho tất cả các đối tượng, đáp ứngtất cả nhu cầu của cá nhân nhằm giúp địa phương phát triển GDTX một cáchchủ động, góp phần xây dựng một xã hội học tập
1.3 Một số vấn đề cơ bản của quản lý dạy học tại trung tâm GDTX
1.3.1 Quản lý trung tâm GDTX
1.3.1.1 Khái niệm về GDTX
Thuật ngữ “Giáo dục thường xuyên” được hiểu là sự giáo dục dành chonhững người hoàn thành vòng giáo dục ban đầu trong thời niên thiếu Với ýnghĩa trên, thuật ngữ này được coi là đồng nghĩa với “Giáo dục người lớn”.Tuy nhiên trên đây là một khái niệm mà nội hàm nó đang phát triển và hoànthiện dần Khái niệm này được hiểu khác nhau trong từng thời gian khác nhau
và ở những nước khác nhau
Trong khuôn khổ của “Chương trình giáo dục cho con người” Châu ÁThái Bình Dương Giáo dục thường xuyên được hiểu là: “Một khái niệm rộnglớn, bao gồm tất cả các cơ hội học tập và mọi người muốn hoặc cần có sauXMC cơ bản và giáo dục tiểu học”
Định nghĩa này hàm ý như sau:
- Giáo dục thường xuyên là dành cho người lớn đã biết chữ
- Giáo dục thường xuyên đáp ứng các nhu cầu mong muốn học tập
- Giáo dục thường xuyên có thể bao gồm những hoạt động do các bộphận giáo dục chính quy, giáo dục không chính quy và giáo dục không chínhthức tiến hành
Trang 25- Giáo dục thường xuyên được định nghĩa là “Cơ hội tham gia vào quátrình học tập suốt đời sau khi học xong bậc tiểu học hoặc tương đương.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, khi sử dụng thuật ngữ “Giáo dục thườngxuyên” ta chưa phân biệt rạch ròi như thế Cho đến nay giáo dục thườngxuyên được hiểu và quan niệm dựa trên các bình diện khác nhau
Tại hội thảo về chiến lược phát triển giáo dục thường xuyên đến năm
2020, báo cáo vụ giáo dục thường xuyên – Bộ GD&ĐT đã nêu: “Giáo dụcthường xuyên được hiểu một cách khái quát là cung ứng cơ hội cho mọingười để học tập suốt đời nhằm thúc đẩy tài nguyên con người thông qua cácchương trình, chương trình tương đương, chương trình nâng cao chất lượngcuộc sống, chương trình tạo thu nhập, chương trình đáp ứng sở thích cá nhân,chương trình định hướng tương lai”
Với quan niệm này, giáo dục thường xuyên đồng nghĩa với giáo dụctiếp tục, tức là mở rộng chủ yếu và phổ cập giáo dục nhằm thúc đẩy sự pháttriển của tài nguyên con người
Do vậy, ta có thể nói giáo dục thường xuyên, học tập thường xuyên sẽ
mở rộng thành giáo dục suốt đời, học tập suốt đời, trở thành một nguyên tắcchi phối cả nền giáo dục, kết hợp hài hòa với nguyên tắc giáo dục cho mọingười Ai ai cũng được học thường xuyên suốt đời đó là lý tưởng, là nguyêntắc cơ bản của nền giáo dục thế kỷ 21 của nước ta
Từ những quan điểm về giáo dục thường xuyên trên đây, chúng ta cóthể rút ra kết luận: Giáo dục thường xuyên là một khái niệm rộng bao hàm ýniệm về sự học tập luôn đi liền với hoạt động sống là làm việc của con ngườitrong đó con người là chủ thể tích cực trong lao động, giao tiếp và nhận thức
Nó bao hàm ý nghĩa của sự phát triển nguồn lực con người trong tương lai màhọc tập suốt đời được coi là cơ chế thiết lập sự phát triển của con người trong
Trang 26xã hội học tập, một mặt thỏa mãn nhu cầu học tập của con người, mặt kháctạo ra động lực phát triển của quốc gia và giao lưu quốc tế.
1.3.1.2 Trung tâm GDTX
Trung tâm GDTX được coi là đồng nghĩa với trung tâm giáo dục ngườilớn Hai thuật ngữ này được hiểu là diễn ra những hoạt động có tổ chức choviệc giáo dục người lớn
Tại hội nghị về trung tâm GDTX được tổ chức tại Sri Lanca tháng11/1994 đã định nghĩa: “Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa phương,ngoài hệ thống giáo dục chính quy, thuộc các làng hoặc các cộng đồng thànhphố, thường được quản lý bởi nhân dân địa phương và việc học tập địnhhướng theo gia đình và cung cấp thông tin về câu hỏi: Cái gì? Làm sao? Ởđâu? Khi nào? các cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học tập khácnhau của GDTX”
Tại hội nghị giám đốc trung tâm GDTX tỉnh, được Bộ GD&ĐT tổ chứctại tỉnh Bắc Ninh tháng 1/2000 thì trung tâm GDTX là một loại hình cơ sởgiáo dục chủ yếu của giáo dục không chính quy Vì thế, trung tâm GDTX lànơi mà ai có nhu cầu học tập đều tìm thấy ở đó một tổ chức hoạt động giáodục có nội dung học, hình thức học mà mình hài lòng nhất giúp mình thêmnhững hiểu biết cần thiết để hòa nhập với cộng đồng, vươn tới mưu cầu hạnhphúc” [20; tr.4] Bởi vì:
- Là tổ chức các hoạt động đa dạng nhiều chức năng, nhiều hình thứchọc tập nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học
- Tổ chức bộ máy gọn nhẹ, có thể chuyển đổi dễ dàng để đáp ứngnhững nhiệm vụ mới trong quá trình phát triển
- Huy động được mọi nguồn lực sẵn sàng có trong xã hội (cơ sở vậtchất, đội ngũ giáo viên) tham gia vào các hoạt động trung tâm
Trang 27Hiện nay, tại Việt Nam hệ thống GDTX gồm: trung tâm GDTX tỉnh(thành phố), trung tâm GDTX quận (huyện) và mối quan hệ giữa trung tâmGDTX tỉnh và trung tâm GDTX huyện là quan hệ bình đẳng nhằm giúp nhauhoàn thành nhiệm vụ Việc đặt tên gọi trung tâm GDTX tỉnh hay huyện là đểphân biệt phạm vi cộng đồng dân cư mà các trung tâm có trách nhiệm đápứng nhu cầu học tập của họ Mặt khác, trung tâm GDTX là chiếc cầu nối giữacon người với nền văn minh nhân loại, nhân dân lao động với các nhà trường.
Ngoài trung tâm GDTX tỉnh, huyện, thì trung tâm HTCĐ là cơ sở giáodục tổ chức học tập không chính quy ở xã, phường để cung ứng các cơ hộihọc tập khác nhau nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và phục
vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng, của địa phương mà luậtgiáo dục 2005 khẳng định
Giáo dục đào tạo cơ sở của sự phát triển nguồn nhân lực, phải đáp ứngyêu cầu nhân lực của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa về cơ cấungành nghề, cơ cấu trình độ, về năng lực, về phẩm chất, phải giúp cho ngườihọc có tính động cơ, dễ thích nghi với những chuyển biến nhanh chóng củakinh tế thị trường, của thị trường làm việc, thị trường sức lao động
Theo hướng này, giáo dục đào tạo nói chung và ngành giáo dục thườngxuyên nói riêng, đặc biệt vị trí, vai trò của các trung tâm GDTX là hết sức cần
thiết, quan trọng
1.3.2 Cơ sở pháp lý về giáo dục thường xuyên
Nghị quyết TW 2 khóa VIII chủ trương nhằm thực hiện công bằng xãhội “Tạo điều kiện để ai cũng được học hành” Tạo cơ hội cho mọi người cóthể lựa chọn cách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình” Nghịquyết cũng đã khẳng định mục tiêu: “Mở rộng các hình thức học tập thườngxuyên, đặc biệt là hình thức đào tạo từ xa Quan tâm đào tạo và đào tạo lại các
bộ phận quản lý, kỹ thuật nghiệp vụ và công nhân các doanh nghiệp Tăng
Trang 28cường đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, các bộ phận quản lý các cấp, cácngành”, “Có hình thức, lớp thích hợp nhằm đào tạo cán bộ chủ chốt xuất thân
từ công nông và lao động ưu tú, con em các gia đình thuộc diện chính sách”
Nghị quyết 90/CP ngày 24/11/1993 của Chính phủ quy định: “Giáo dụcthường xuyên là một trong 5 phân hệ của hệ thống giáo dục chính quy, đượcthực hiện bằng nhiều hình thức như: không tập trung, không chính quy, tạichức, bổ túc, giáo dục từ xa, đại học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho mọicông dân ở mọi trình độ có thể học tập thường xuyên, phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể của từng người, đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, khoahọc và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật”
1.3.3 Vai trò của trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân
Chúng ta đang đứng trước thềm của thế kỷ mới, thế kỷ mà “Giáo dục làcon chủ bài thiết yếu để đưa nhân loại tiến lên”, giáo dục là kim chỉ nam chophát triển xã hội Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế phát triển chung đócủa nhân loại Cũng do thấy rõ vị trí, tầm quan trọng của giáo dục trong sựnghiệp phát triển đất nước mà Đảng ta luôn khẳng định “GD&ĐT là quốcsách hàng đầu” Song làm thế nào để giáo dục thực sự là quốc sách hàng đầukhi nền giáo dục Việt Nam đang đứng trước bài toán cực kỳ khó khăn là phảilàm sao đáp ứng nhu cầu học ngày càng tăng của đông đảo quần chúng laođộng với một nguồn lực kinh tế hạn hẹp
Trong sự nghiệp đổi mới ngành giáo dục, cùng với một số vấn đề cấpthiết khác, vấn đề đa dạng hóa các loại hình GD&ĐT được coi là trong nhữngvấn đề trọng tâm, trong đó phương thức GDKCQ tức GDTX được đặc biệtcoi trọng
Từ xưa, phương thức giáo dục truyền thống mà ta quen dùng bằng thuậtngữ “GDCQ” với những quy định nghiêm ngặt về trình độ đầu vào, về độ
Trang 29tuổi, về thời gian đào tạo, về địa điểm học, về sự hiện diện ở lớp học Luônđược coi trọng và ăn sâu vào tiềm thức của mọi người Bằng chứng là nếu cóvăn bằng ghi chữ “Chính quy” thì cơ hội xin việc làm sẽ dễ hơn, dễ có điềukiện thăng tiến trong công tác Song trước sự phát triển ngày càng cao của xãhội, nhu cầu được học của các tầng lớp nhân dân lao động ngày càng tăng thìphương thức “GDCQ” trở thành con đường vương giả chỉ dành riêng cho một
số ít người đáp ứng đủ các yêu cầu tham gia Để thực hiện công bằng tronggiáo dục “Ai ai cũng được học hành”, đáp ứng nguyên lý “Giáo dục cho conngười, mọi người cho giáo dục” cũng như “học suốt đời” thì phương thứcgiáo dục truyền thống không đủ điều kiện về mọi nguồn lực để đáp ứng, màbên cạnh nó phải có một phương thức giáo dục với các hình thức đào tạo đadạng, với cách thức tổ chức linh hoạt, mềm dẻo, với một cơ chế đào tạo “mở”với đủ khả năng đáp ứng nhu cầu đó của xã hội, đó là giáo dục thường xuyên
Trước hết, GDTX thực hiện đường lối của Đảng trong giáo dục, đó là
đa dạng hóa loại hình GD&ĐT, tạo cơ hội cho mọi người có thể lựa chọncách học phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mình
Tiếp nữa GDTX còn mang ý nghĩa nhân văn và xã hội, nó giúp cho conngười lao động thoát khỏi “định mệnh” ràng buộc “con vua thì được làm vua,con sãi ở chùa thì quét lá đa” Phương thức GDTX đã là cơ may, là con đường
để người lao động có thể học tập, có thể nâng cao kỹ năng nghề nghiệp và cóthể vươn lên học tập thành đạt GDTX là phương thức cho mọi trong thời đạimới, nó đã trở thành con đường và cách thức đào tạo không trùng lập vớinhững quy định của GDCQ, nhằm tạo cơ hội cho phần dân số còn lại không
có điều kiện học chính quy khi còn trong độ tuổi trẻ hoặc đã ra khỏi GDCQ
mà còn muốn tiếp tục học tập [3; tr.73]
Tuy không thể tránh khỏi những mặt còn non yếu, song GDTX đãkhẳng định vị thế của mình trong hệ thống giáo dục quốc dân, nó cũng là một
Trang 30bộ phận hợp thành cùng với phương thức GDCQ, tiến tới tích hợp hai phươngthức giáo dục này mới có thể đạt tới mục đích lớn của giáo dục [3; tr.74].
Chính vì lẽ đó, GDTX phải là phương thức tồn tại đồng hành không thểthiếu bên cạnh phương thức GDCQ, nó phải được thể chế hóa, đa dạng hóa vàphải được thiết lập như một hệ thống mở và năng động
Để kết luận, có thể nói GDTX, học tập thường xuyên sẽ mở rộng giáodục suốt đời, trở thành một nguyên tắc chi phối cả nền giáo dục, kết hợp hàihòa với nguyên tắc giáo dục cho mọi người Ai ai cũng được học hành thườngxuyên suốt đời là lý tưởng, là nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục thế kỷ 21của nước ta [3; tr.75]
1.4 Chất lượng dạy học tại trung tâm GDTX
1.4.1 Chất lượng và chất lượng dạy học
* Chất lượng
Theo tri thức triết học: “Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thịnhững thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tươngđối của sự vật phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là thuộc tính kháchquan của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính Nó làcái liên kết các thuộc tính của sự vật hai làm một, gắn bó với sự vật như mộttổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật” [22; tr.419]
Theo đại Từ điển tiếng Việt: “Chất lượng là cái làm nên phẩm chất, giátrị của con người, sự vật” [26; tr.331]
Có nhiều quan điểm nhận diện chất lượng Khi nói về chất lượng giáodục, Jones, GA, (1996) Conceptions of Quality and the Challenges of QualityImprovement in Higher Education: Ontario Instisute for studies in Education
of the University of Toronta, Toronto, Canada; có 6 quan điểm về đánh giáchất lượng mà có thể vận dụng vào nhận diện chất lượng (nói chung) như:Chất lượng đánh giá bằng đầu vào, chất lượng được đánh giá bằng đầu ra,
Trang 31chất lượng được đánh giá bằng giá trị gia tăng, chất lượng được đánh giá bằnggiá trị học thuật, chất lượng được đánh giá bằng văn hóa tổ chức riêng và chấtlượng được đánh giá bằng kiểm toán [5; tr.23-26].
Ngoài 6 quan điểm về đánh giá chất lượng nêu trên, còn có các quanđiểm về chất lượng như:
- Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn quy định
- Chất lượng là sự phù hợp với mục đích
- Chất lượng với tư cách là hiệu quả của việc đạt mục đích
- Chất lượng là sự đáp ứng của nhu cầu khách hàng [5; tr.28-31]
* Chất lượng dạy học
Theo PGS Lê Đức Phúc: “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trịcủa một con người, một sự vật, sự việc Đó là tổng thể những thuộc tính cơbản khẳng định sự tồn tại của một sự vật và phân biệt nó với các sự vật khác.Chất lượng giáo dục là trình độ khả năng thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứngngày càng cao của người học và sự phát triển ngày càng cao của xã hội” [5;tr.10]
Chất lượng dạy học được đánh giá chủ yếu qua giờ dạy học (hay mộtquá trình dạy học, tùy thuộc vào những yêu cầu khác nhau) Hiệu quả và chấtlượng dạy học luôn phụ thuộc vào chất lượng công tác của mỗi giáo viên,công tác phối hợp của tập thể sư phạm ở mỗi nhà trường và đương nhiên cònphụ thuộc vào nội dung, phương pháp lãnh đạo và phong cách sáng tạo, hiệuquả của người lãnh đạo nhà trường
Vận dụng các quan niệm trên về chất lượng và chất lượng giáo dục vàoviệc đánh giá chất lượng hoạt động dạy học thì cần phải so sánh chất lượngdạy học với chuẩn quy định hay những mục tiêu của hoạt động dạy học
Trang 32Hiện nay chúng ta quan niệm chất lượng dạy học được biểu hiện quachất lượng học tập của học sinh bởi các tiêu chí chủ yếu: kiến thức, kỹ năng
và thái độ
- Đánh giá kiến thức
Đánh giá theo cấp độ: Biết – hiểu - ứng dụng – phân tích – tổng hợpđánh giá các nội dung kiến thức tổng hợp được thể hiện trong chương trìnhdạy học so với mục tiêu dạy học đã đề ra thông qua khả năng diễn đạt tưtưởng, nội dung tri thức, trình tự logic lý luận của việc hình thành các tri thứcđó
- Đánh giá kỹ năng
Đánh giá khả năng ứng dụng và thực hiện có kết quả của hoạt động họctập trên cơ sở kiến thức đã được trang bị thông qua các kỹ năng chung và kỹnăng cụ thể như: Vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn,nhận biết (quan sát, nghe, nhìn, mô tả hoặc giải thích các hiện tượng, thựchành có nề nếp, có phương pháp biết tự kiểm tra – đánh giá kết quả học tậpcủa mình)
- Đánh giá thái độ
Đánh giá theo cấp độ của thái độ, theo các mức độ tiếp thu, hưởng ứng,đánh giá, tổ chức lại hệ thống giá trị và chuẩn mực mới – hành động theo giátrị mới thông qua các biểu hiện ham hiểu biết, tự giác học tập, tin vào nhữngtri thức đã được trang bị và không đồng tình với những vi phạm chuẩn mực
1.4.2 Chất lượng dạy học tại trung tâm GDTX
Đối với các hoạt động của trung tâm GDTX, nói tới chất lượng tức lànói tới mức độ tăng tiến một cách bền vững về kiến thức, kỹ năng và thái độcủa người học sau một quá trình học tập Chất lượng chỉ có được khi mọi hoạtđộng của giáo dục được quản lý chặt chẽ với những định chuẩn ở khâu côngviệc nhằm hướng mọi hoạt động của người dạy và học vào mục tiêu giáo dục
Trang 33Một điều nan giải nhất đối với công tác quản lý của trung tâm GDTX làviệc đảm bảo và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục không phải bằngcách áp dụng máy móc các biện pháp của nhà trường chính quy mà phải cónhững biện pháp mềm dẻo, linh hoạt, thích hợp với từng đối tượng đang theohọc tại trung tâm GDTX.
Với ý nghĩa về chất lượng dạy học như đã trình bày và biện pháp quản
lý nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trung tâm GDTX trong thời gian qualà:
- Quản lý việc giáo viên thực hiện chương trình
- Quản lý việc soạn bài, chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên
- Quản lý giờ lên lớp của giáo viên
- Quản lý việc dự giờ, phân tích sư phạm tiết dạy
- Quản lý hoạt động kiểm tra vở ghi chép của học viên, đánh giá kếtquả học tập của học viên
- Quản lý giáo viên chủ nhiệm lớp thông qua thực hiện kế hoạch và xâydựng nề nếp lớp
- Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt” và xây dựng tập thể
sư phạm đoàn kết thống nhất cao
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng dạy học tại trung tâm GDTX
1.5.1 Các yếu tố chủ quan
* Phẩm chất, năng lực, trình độ quản lý của người giám đốc
Giám đốc muốn quản lý tốt chất lượng dạy học là phải có phẩm chấtchính trị vững vàng, biết hy sinh các riêng để cống hiến cho sự nghiệp giáodục, có đạo đức tác phong mẫu mực, đi đầu trong mọi lĩnh vực hoạt động củatrung tâm, phải quản lý thuyết phục cán bộ, giáo viên trong trung tâm bằngchính năng lực của mình, phải nắm vững đường lối chủ trương chính sách của
Trang 34Đảng và Nhà nước, chỉ đạo đúng hướng, đúng mục tiêu giáo dục của ngànhhọc, cấp học.
Giám đốc phải là người có trình độ nghiệp vụ quản lý vững vàng, chắcchắn
Giám đốc luôn không ngừng học hỏi để nâng cao trình độ quản lý
* Trình độ chuyên môn của giám đốc
Để quản lý tốt hoạt động dạy học, nâng cao chất lượng dạy học trongđội ngũ giáo viên đòi hỏi người giám đốc phải có kiến thức sâu, toàn diện vềcác môn học, phải nắm vững các phương pháp giảng dạy, phải có kỹ năngphân tích, đánh giá chuyên môn của giáo viên
Giám đốc phải tham dự đầy đủ các chuyên đề giảng dạy dành cho giáoviên, để nắm bắt và chỉ đạo sát, đúng yêu cầu giảng dạy trong cùng giai đoạnđổi mới nhất là đổi mới về phương pháp giảng dạy theo hướng lấy học viênlàm trung tâm
Quản lý hoạt động dạy tốt, học tốt của giáo viên của người giám đốcsuy cho cùng là nhằm nâng cao chất lượng dạy của thầy và học của trò Mụctiêu này có thể đạt được ở mức độ như thế nào là cơ bản là phụ thuộc vào chấtlượng của đội ngũ giáo viên và chất lượng của học viên trong trung tâm
* Sự phối hợp chặt chẽ của các thành viên và các tổ chức đoàn thể trong trung tâm
Trang 35Để quản lý tốt hoạt động giảng dạy của giáo viên đòi hỏi phải có sựhợp tác, sự phối hợp chặt chẽ giữa các cá nhân, giữa các tổ chức đoàn thểtrong trung tâm để tạo nên sự thống nhất chung và tạo sức mạnh đoàn kết.
Giám đốc cần phải sử dụng tốt đội ngũ cốt cán như phó giám đốc phụtrách dạy và học, tổ trưởng, nhóm trưởng và các thành viên trong trung tâmtạo thành một bộ máy quản lý hoàn chỉnh hoạt động có hiệu quả, coi trọng vaitrò của tổ chuyên môn và hội đồng sư phạm nhằm tạo sự chuyển biến tích cực
về chất lượng trong giảng dạy
* Điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ dạy và học
Cơ sở vật chất kỹ thuật trung tâm là các phương tiện phục vụ cho việcgiảng dạy như: bàn ghế, phòng học, phòng thư viện, phòng thí nghiệm, cáctrang thiết bị khác
Các điều kiện cơ sở vật chất được coi là vai trò của nhân vật thứ 3ngoài thầy và trò, do vậy nó ảnh hưởng to lớn đến chất lượng của một giờ dạyhọc và việc phục vụ mục tiêu giáo dục con người
Quản lý hoạt động dạy học của giáo viên, giám đốc phải quan tâm chỉđạo tăng cường cơ sở vật chất, đảm bảo những điều kiện vật chất tốt nhất chohoạt động giảng dạy của giáo viên
* Điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội của địa phương
Trong việc phối hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội, cácđiều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội ở địa phương có ảnh hưởng trực tiếp tớichất lượng dạy học của trung tâm
Giám đốc luôn quan tâm đến các vấn đề như chủ trương đường lối củaĐảng, các chính sách của địa phương, phải khai thác được các thế mạnh, hạnchế những khó khăn của địa phương nhằm tranh thủ sự ủng hộ của chínhquyền, sự tham gia giáo dục của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa
Trang 36phương, sự phối hợp tích cực, chặt chẽ có hiệu quả công tác giáo dục giữatrung tâm và gia đình.
* Vấn đề chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá của lãnh đạo cấp trên đối với trung tâm
Đối với ngành học GDTX chịu sự chỉ đạo, kiểm tra đánh giá trực tiếp
từ Sở GD&ĐT Trong công tác quản lý chất lượng dạy học dưới sự chỉ đạocủa cấp trên chính là những định hướng, là kim chỉ nam giúp trung tâm xácđịnh đúng mục tiêu về phương hướng hoạt động dạy học, đồng thời việc kiểmtra, đánh giá của cấp trên còn giúp trung tâm kịp thời điều chỉnh, bổ sung,khắc phục những tồn tại để có những giải pháp thực thi và hiệu quả nhằmnâng cao chất lượng dạy học của trung tâm đạt được những mục tiêu đề ra
1.6 Trung tâm GDTX trong hệ thống giáo dục Quốc dân
- Theo quy định của luật giáo dục năm 2005, giáo dục thường xuyên làmột hệ thống giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân Trung tâm GDTX
có tư cách pháp nhân và có con dấu riêng
Các hình thức thực hiện giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệthống giáo dục quốc dân bao gồm: Vừa học vừa làm; Học từ xa, Tự học cóhướng dẫn
1.7 Chủ trương của tỉnh Bắc Ninh và Thị xã Từ Sơn
* Chủ trương của tỉnh Bắc Ninh
Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVI nhiệm kỳ 2010-2015 đề racông tác Giáo dục – Đào tạo, khoa học và công nghệ có nêu rõ: “Tạo bướcchuyển căn bản về nâng cao chất lượng toàn diện Giáo dục – Đào tạo, chútrọng kết hợp dạy chữ, dạy nghề, dạy làm người phù hợp với từng cấp học.Hoàn thiện quy hoạch phát triển theo hướng đa dạng hóa các hệ thống loạihình giáo dục, cân đối phù hợp giữa trường công, trường tư; phát triển đồng
bộ hệ phổ thông, giáo dục thường xuyên, dạy nghề Phát triển mô hình giáo
Trang 37dục mở với những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầuhọc tập thường xuyên của người dân Đẩy mạnh xã hội hóa gắn chặt vớichuẩn hóa, hiện đại hóa, thu hút nguồn lực trong và ngoài nước để phát triểntrường học, đặc biệt trường dạy nghề, đảm bảo đến năm 2015 tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo nghề đạt 70%; đẩy mạnh khuyến học, khuyến tài đi đôi vớinâng cao vai trò quản lý Nhà nước về Giáo dục – Đào tạo Hoàn thành phổcập bậc trung học phổ thông vào năm 2016, phổ cập tin học, ngoại ngữ chohọc sinh phổ thông ” [7; tr.55-56]
Để tiếp tục xây dựng hệ thống và nâng cao chất lượng hoạt động củatrung tâm GDTX, phát triển trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm học tậpcộng đồng đô thị, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập của người dân, xâydựng mạng lưới và các loại hình học tập không chính quy, góp phần tạo nềntảng cho việc giáo dục mọi người và xã hội học tập thì ngành GDTX ở tỉnhBắc Ninh cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước các cơ sở GDTX,đưa hoạt động của cơ sở vào nề nếp kỷ cương Đẩy mạnh các hoạt động đadạng hóa của GDTX, tăng cường và nâng cao chất lượng giáo dục cho từngloại hình, từng đối tượng và đảm bảo quyền lợi cho người học
Hai là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viênngành học dần ổn định, đạt chuẩn đủ sức làm nhiệm vụ được giao, bồi dưỡngnghiệp vụ quản lý cho từng loại chức danh, từng loại hình hoạt động củaGDTX
Xây dựng mạng lưới, loại hình học tập phù hợp với GDTX, đápứng nhu cầu học tập của nhân dân
* Chủ trương của Thị xã Từ Sơn
Trong báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ thị xã Từ Sơn khóa IXnhiệm kỳ 2010-2015 đã nêu: “Về giáo dục, phấn đấu đến năm 2012 xây dựng
Trang 38100% trường học đạt chuẩn quốc gia Giữ vững kết quả đạt được về xóa mùchữ, phổ cập tiểu học, trung học cơ sở đúng độ tuổi, phấn đấu hoàn thành phổcập trung học phổ thông vào năm 2016 Tập trung huy động 100% trẻ trong
độ tuổi vào mẫu giáo và lớp 1, hạn chế thấp nhất số trẻ em nghỉ, bỏ học Chútrọng việc định hướng phân luồng học sinh ngay từ THCS, đồng thời đẩymạnh việc đào tạo nghề cho thanh niên cả số lượng và chất lượng để đáp ứngyêu cầu tuyển dụng của nhà doanh nghiệp và xuất khẩu lao động ” [8; tr.12]
Bên cạnh đó, thị xã Từ Sơn chủ trương tiếp tục đẩy mạnh việc xã hộihóa giáo dục tăng cường công tác kiểm tra dạy và học theo quy định Đối vớitrung tâm GDTX tích cực góp phần bồi dưỡng và nâng cao trình độ học vấn,mặt bằng dân trí, chống mù chữ, phổ cập THPT cho các tầng lớp nhân dân, tổchức tốt các lớp phổ cập bậc trung học phổ thông cho học sinh trong độ tuổiphổ thông, CB-CNVC, người lao động, công nhân các xí nghiệp đóng trên địabàn thị xã
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC Ở
TRUNG TÂM GDTX THỊ XÃ TỪ SƠN 2.1 Khái quát về tình hình kinh tế xã hội của thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Từ Sơn là một thị xã cửa ngõ phía nam thuộc Tỉnh Bắc Ninh cửa ngõphía bắc Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập ngày 24tháng 8 năm 2008 trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện
Từ Sơn cũ Thị xã Từ Sơn, phía bắc tiếp giáp với huyện Yên Phong (BắcNinh), phía đông tiếp giáp huyện Tiên Du (Bắc Ninh ), phía nam và tây namtiếp giáp với Hà Nội; Là thị xã nằm giữa 2 thành phố Hà Nội và Bắc Ninh, và
là trung tâm của trấn kinh bắc xưa
Thị xã Từ Sơn có 7 phường và 5 xã các phường: Châu Khê, Đình Bảng,Đông Ngàn, Đồng Nguyên, Đồng Kỵ, Tân Hồng và Trang Hạ Các xã: PhùChẩn, Phù Khê, Tam Sơn, Tương Giang, Hương Mạc
Diện tích 61,33Km2, dân số tính đến 31 tháng 12 năm 2010 là: 15315người
Thị xã Từ Sơn là một trong những thị xã đông dân nhất Việt Nam; gấp1,8 lần mật độ dân số của Hải Phòng và 1,2 lần mật độ dân số Hà Nội
Tên huyện Từ Sơn có từ đời Trần Thời Hậu Lê đại danh Từ Sơn đượcđặt cho một phủ thuộc trấn kinh bắc … Ba năm sau khi tái lập tỉnh Bắc Ninh,huyện Từ Sơn cũng được tái lập Năm 2008, huyện Từ Sơn được nâng cấpthành thị xã Từ Sơn
Từ Sơn là cửa ngõ của tỉnh Bắc Ninh, là đô thị vệ tinh của thủ đô HàNội và là một trong hai trung tâm kinh tế - văn hóa Giáo dục của tỉnh BắcNinh Từ Sơn là một đô thị công nghiệp với nhiều khu công nghiệp, nhiều
Trang 40làng nghề truyền thống nổi tiếng như : Đa Hội, Đồng Kỵ, Phù Khê, MaiĐộng; có nhiều trường đại học cao đẳng: Đại học Thể dục thể thao TWI, Caođẳng công nghệ Bắc Hà, Cao đẳng Thủy sản, Cao đẳng Quản lý côngnghiệp….
Toàn thị xã có bốn trường THPT, có 48 trường từ Mầm non đến THCS
tỷ lệ kiên cố hóa trường đạt 100% các trường tiểu học và THCS đều đạt chuẩnquốc gia 100% 01 trung tâm giáo dục thường xuyên, 01 trung tâm dạy nghề.Hầu hết các chỉ tiêu về giáo dục đào tạo đều đạt và được duy trì trong từngnăm học, cơ sở vật chất trường lớp được đầu tư hoàn chỉnh, chất lượng đàotạo không ngừng nâng cao, đội ngũ giáo viên được chuẩn hóa và đào tạo nângcao Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra mẫu giáo, 6 tuổi vào lớp 1, trẻ tốt nghiệp tiểuhọc vào lớp 6 đạt 100% Chất lượng giáo dục đại trà ổn định và ngày càngvững chắc: số học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 99,9% , học sinhđạt tốt nghiệp THCS đạt 98,75%, học sinh tốt nghiệp THPT đạt 99,43 % Tỷ
lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn ngày càng cao Hoạt động của trung tâmhọc tập cộng đồng đã đi vào nề nếp, các hoạt động khuyến học tiếp tục đượcquan tâm góp phần khích lệ động viên tinh thần học tập của học sinh Hàngnăm, huyện đều tổ chức tuyên dương học sinh giỏi, học sinh trúng tuyển vàocác trường đại học công lập
Ngành GDTX cũng đã tích cực góp phần bồi dưỡng và nâng cao trình
độ học vấn, mặt bằng dân trí cho các tầng lớp nhân dân Hàng năm thu nhậnhàng trăm học sinh từ bậc trung học phổ thông và hàng ngàn học sinh họchướng nghiệp nghề cùng với đó là liên kết đào tạo cho khoảng 500 học viêncác lớp đại học, cao đẳng và trung cấp trên toàn quốc
* Điều kiện của trung tâm GDTX thị xã Từ Sơn
- Thuận lợi:
Được sự quan tâm chỉ đạo của Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Bắc Ninh, thị
ủy – Hội đồng nhân dân – UBND thị xã Từ Sơn và sự hỗ trợ tích cực của