1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương sóng cơ và sóng âm vật lý 12

137 1,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Hệ Thống Câu Hỏi Trắc Nghiệm Khách Quan Dùng Kiểm Tra Đánh Giá Kết Quả Học Tập Môn Vật Lý Của Học Sinh Trung Học Phổ Thông Trong Dạy Học Chương Sóng Cơ Và Sóng Âm Vật Lý 12
Tác giả Hoàng Thị Mai Hương
Người hướng dẫn PGS-TS Nguyễn Quang Lạc
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh hoàng thị mai hơng Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh THPT trong

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

hoàng thị mai hơng

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh

THPT trong dạy học chơng

“Sóng cơ và sóng âm” Vật lý 12

luận văn thạc sĩ giáo dục học

Vinh - 2011LỜI CẢM ƠN

Tụi xin chõn thành cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa Vật lớ trường Đại học Vinh; cỏc thầy, cụ giỏo trong khoa đó tận tỡnh giảng dạy; tạo mọi điều kiện giỳp đỡ tụi hoàn thành khoỏ học.

Trang 2

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn PGS-TS Nguyễn Quang Lạc đã giúp đỡ tôi tận tình trong quá trình nghiên cứu.

Xin cảm ơn Ban giám hiệu, tập thể giáo viên vật lí ở trường THPT Nguyễn Trãi đã giúp tôi trong đợt TNSP

Xin chân thành cảm ơn: bạn bè đồng nghiệp và những người thân trong gia đình đã quan tâm giúp đỡ nhiệt tình và tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành luận văn này.

Mặc dù đã cố gắng hết sức, song bản luận văn này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.

Tháng 12 năm 2011

CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

1 GV Giáo viên

2 HS Học sinh

Trang 4

người Việt Nam mới, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Điều này đòihỏi giáo dục phải có chiến lược phát triển đúng hướng, hợp quy luật và xứngtầm thời đại

Những đường lối và quan điểm chỉ đạo về giáo dục của nhà nước lànhững định hướng quan trọng cho việc phát triển và đổi mới giáo dục THPT.Định hướng mục tiêu giáo dục là đào tạo con người phát triển toàn diện, pháttriển những phẩm chất và năng lực đáp ứng với đòi hỏi của sự phát triển kinh

tế và xã hội Định hướng phương thức giáo dục là gắn lý thuyết với thựchành, gắn tư duy với hành động, gắn giáo dục nhà trường với xã hội và giađình Định hướng về PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của

HS Những quan điểm chỉ đạo này về giáo dục phù hợp với những quan điểmhiện đại, phổ biến và tiến bộ về khoa học giáo dục trong phạm vi quốc tếcũng như phù hợp với những yêu cầu của sự phát triển kinh tế và xã hội đốivới việc đào tạo đội ngũ lao động mới

Đổi mới PPDH gắn với sử dụng phương tiện dạy học mới và đổi mớikiểm tra-đánh giá kết quả học tập của HS

Kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh là một khâu rất quantrọng trong quá trình dạy học Do đó việc cải tiến phương pháp giảng dạy vàhọc tập của học sinh phải gắn liền việc cải tiến các phương pháp kiểm tra-đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh

Trong nhà trường việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ bao hàm mục đích tạo ra động cơ học tập và định hướng phát triển của họ mà còn góp phần cải tiến chất lượng giảng dạy của giáo viên Đây là những thông tin tốt trong phản hồi ngược của quá trình dạy học Việc kiểm tra đánh giá đòi hỏi phải chính xác, khách quan và công bằng để đánh giá và

sử dụng các sản phẩm đào tạo của nhà trường theo đúng giá trị của nó

Kiểm tra-đánh giá là một hoạt động thường xuyên giữ một vai trò quantrọng đối với việc đảm bảo chất lượng đào tạo Đó là một khâu không thể táchrời của quá trình dạy học Kiểm tra -đánh giá trong dạy học là một trongnhững công cụ của hệ thống điều khiển quá trình đào tạo Kiểm tra- đánh giá

Trang 5

làm cho quá trình học tập của người học và giảng dạy của người dạy có thể tựđiều chỉnh, để từ đó có thể nâng cao chất lượng đào tạo.

Các phương pháp kiểm tra- đánh giá kết quả học tập rất đa dạng, mỗiphương pháp có ưu điểm và nhược điểm nhất định của nó, không có phươngpháp nào là hoàn mĩ đối với mọi mục tiêu giáo dục Tuỳ vào mục tiêu cụ thể

mà lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp thì có thể đảm bảo và nâng caochất lượng giáo dục

Hiện nay trong nhà trường sử dụng hai loại hình dùng để kiểm tra-đánhgiá:trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan

Loại trắc nghiệm tự luận cho học sinh cơ hội phân tích và tổng hợp dữkiện theo lời lẽ riêng, theo cách hiểu của mình, nhưng nó thường chỉ cho phépkhảo sát một số kiến thức hạn hẹp Điểm của cùng một bài thi, do nhiều giámkhảo khác nhau chấm có thể sẽ khác nhau

Trong khi đó trắc nghiệm khách quan có thể dùng kiểm tra - đánh giákiến thức nhiều hơn tự luận và có nhiều ưu điểm :

- Số lượng câu hỏi nhiều, bao quát được kiến thức của chương trình Họcsinh trả lời ngắn gọn

- Người soạn có điều kiện tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của mìnhthông qua việc đặt câu hỏi

- Người chấm ít tốn công và kết quả chấm là khách quan vì không bị ảnhhưởng tâm lý khi chấm

Trắc nghiệm khách quan ngày càng được áp dụng rộng rãi do tính ưuviệt của nó nhất là trong giai đoạn thực hiện cuộc vận động 2 không do ngànhGiáo dục phát động hiện nay Nó là sự lựa chọn cần thiết và đang đươckhuyến khích trong các kỳ thi, kiểm tra đánh giá

Hiện tại, Bộ giáo dục và đào tạo đang áp dụng thi trắc nghiệm khách quan

4 môn: Lý - Hoá - Sinh - Ngoại ngữ vào các kỳ thi tốt nghiệp THPT thi tuyển sinhvào Cao đẳng và Đại học.Với mong muốn góp phần nghiên cứu nâng cao chấtlượng và hiệu quả trong dạy học Vật lý ở trường THPT tôi chọn đề tài :

Trang 6

Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh THPT trong dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12.

-2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu phương pháp trắc nghiệm khách quan và ứng dụng để soạn thảo

hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan ở chương " Sóng cơ và sóng âm "vật lí 12 THPT chương trình chuẩn nhằm đổi mới hình thức và nâng cao hiệuquả của việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh khi dạy họcchương " Sóng cơ và sóng âm "nói riêng, dạy học bộ môn vật lý ở trườngTHPT nói chung

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

-Đối tượng nghiên cứu

- Quá trình dạy học Vật lý ở trường THPT

- Hoạt động kiểm tra - đánh giá trong dạy học Vật lý bằng phương pháptrắc nghiệm khách quan

- Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu phương pháp trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánhgiá chất lượng kiến thức chương " Sóng cơ và sóng âm " lớp 12 THPT

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

Có thể xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quanđảm bảo các yêu cầu về vật lý học và lý luận dạy học,thuộc chương " Sóng

cơ và sóng âm " lớp 12 THPT dùng để đổi mới và nâng cao chất lượng hoạtđộng kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học vật lý ởtrường THPT

5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Nghiên cứu các cơ sở lý luận và quy trình kiểm tra- đánh giá trong dạy học

Trang 7

- Lựa chọn mô hình trắc nghiệm khách quan thích hợp cho bộ môn Vật lýchương " Sóng cơ và sóng âm " Vật lý 12 THPT để đánh giá kết quả họctập của học sinh.

- Xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm khách quan dựa theo các mục tiêu, nộidung giảng dạy nhằm nâng cao hiệu quả của việc kiểm tra- đánh giá phần: " Sóng cơ và sóng âm "

- Thực nghiệm sư phạm và đánh giá hiệu quả của phương pháp thực nghiệm

Từ đó hoàn thiện hệ thống câu hỏi và đề thi trắc nghiệm khách quan chochương " Sóng cơ và sóng âm "

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Kết hợp cả hai phương pháp:

* Nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu những tài liệu về lý luận dạy học bộ môn

- Nghiên cứu chương “Sóng cơ và sóng âm “và các tài liệu liên quan

- Nghiên cứu các tài liệu về trắc nghiệm khách quan

* Nghiên cứu thực nghiệm

- Nghiên cứu thực tiễn dạy học chương “Sóng cơ và sóng âm “ Vật lý

12 THPT

- Xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan chochương “Sóng cơ và sóng âm “ Vật lý 12 THPT

- Xử lý các số liệu bằng phương pháp toán học thống kê

- Phân tích và đánh giá kết quả TNSP rồi rút ra kết luận

7 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN.

Luận văn gồm:

+Phần mở đầu

+Phần nội dung

Nội dung luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1 : Cơ sở lý luận của việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của họcsinh trong dạy học ở trường phổ thông bằng hình thức trắc nghiệm kháchquan

Trang 8

Chương 2 : Xây dựng và sử dụng hệ thống các câu hỏi trắc nghiệm kháchquan cho chương " Sóng cơ và sóng âm " ( Vật lý 12 THPT)

Chương 3 : Thực nghiệm sư phạm

+Phần kết luận

+ Phần phụ lục

8.ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.

8.1 Đóng góp về mặt khoa học

Đề tài nghiên cứu hệ thống hoá các phương pháp kiểm tra - đánh giá và

sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan để kiểm tra -đánh giá kết quảhọc tập chương " Sóng cơ và sóng âm "

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ

Trang 9

HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG PHỔTHÔNG BẰNG HÌNH THỨC TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN *****

1.1 Cơ sở lý luận về việc kiểm tra - đánh giá trong quá trình dạy học

1.1.1 Khái niệm về kiểm tra - đánh giá

Các nhà nghiên cứu giáo dục ở trong nước cũng như ngoài nước cho rằng:Kiểm tra - đánh giá là quá trình xác định mục đích, yêu cầu nội dunglựa chọn phương pháp, tiến hành kiểm tra, tập hợp số liệu, chứng cứ để giảithích và sử dụng những thông tin nhằm tăng cường việc học tập và phát triểncủa học sinh - sinh viên

T.M Deketle cho rằng: "Kiểm tra - đánh giá được hiểu là sự theo dõi,tác động của người kiểm tra đối với người học nhằm thu được những thôngtin cần thiết để đánh giá Đánh giá nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của mộttập hợp các thông tin thu thập được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp củamục tiêu đã xác định nhằm đưa ra quyết định nào đó"

Gắn liền với khái niệm kiểm tra - đánh giá, một số tác giả còn đề cậpcác khái niệm "đo", "lượng giá", khi phân tích quá trình đánh giá (bao gồmcác khâu: Đo - lượng giá - đánh giá)

Đo (Measurement), theo định nghĩa của J.P Guilford là gắn một đốitượng hoặc một biến cố theo một quy tắc chấp nhận một cách logic Trongdạy học đó là việc một giáo viên gắn các số (các điểm) cho sản phẩm của họcsinh Cũng có thể coi đó là việc ghi nhận thông tin cần thiết cho việc đánh giákiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh

- Lượng giá (assessment) là việc giải thích các thông tin thu được vềkiến thức kĩ năng của học sinh làm sáng tỏ độ tương đối của một học sinh sovới thành tích chung của tập thể hoặc trình độ của học sinh so với yêu cầuchung của chương trình học tập Do đó người ta nói đến lượng giá chuẩn vàlượng giá theo tiêu chí

+ Lượng giá chuẩn là sự so sánh tương đối giữa kết quả đạt được củamột cá nhân với chuẩn trung bình chung của tập hợp

Trang 10

+ Lượng giá theo tiêu chí là sự đối chiếu kết quả đó với những tiêu chí

đã đề ra

- Đánh giá (evaluation) là khâu trực tiếp của lượng giá: là việc đưa ranhững kết luận nhận định, phán xét về trình độ của học sinh, xét trong mốiquan hệ với quyết định cần đưa ra (theo mục đích đã định của kiểm tra đánhgiá)

- Các bài kiểm tra, bài trắc nghiệm được xem như phương tiện đểđo,lượng giá và kiểm tra - đánh giá kiến thức, kĩ năng trong dạy học Vì vậy,việc soạn thảo nội dung cụ thể của các bài kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệttrong kiểm tra - đánh giá kiến thức, kĩ năng [24]

1.1.2 Quan hệ giữa kiểm tra-đánh giá kết quả học tập với quá trình dạy học

-Đánh giá kết quả học tập là một bộ phận của quá trình dạy học :

A.Hughes cho rằng: " Kiểm tra - đánh giá có quan hệ qua lại với quátrình dạy học chặt chẽ tới mức hầu như không thể hoạt động trong lĩnh vựcnày mà lại thiếu lĩnh vực kia"

Đánh giá là khâu cuối cùng(đầu ra) của một giai đoạn dạy học,đồngthời lại là khâu khởi đầu (đầu vào) của một giai đoạn dạy học tiếp theo vớimột chất lượng cao hơn của quá trình dạy học

-Đánh giá kết quả học tập có tính độc lập tương đối với quá trình họctập:

Mặc dù là một bộ phận của quá trình dạy học nhưng đánh giá kết quảhọc tập vẫn có tính độc lập tương đối với quá trình này.Vì đánh giá kết quảhọc tập phải căn cứ vào mục tiêu của chương trình các môn học và các chuẩnkiến thức-kĩ năng cụ thể,không phụ thuộc ý muốn chủ quan của người dạyhọc cũng như của người quản lí quá trình dạy học,nên nó có tác động điềuchỉnh,định hướng quá trình này,hạn chế được tình trạng tuỳ tiện trong việcthực hiện quá trình dạy học

1.1.3 Mục đích của kiểm tra -đánh giá

- Việc kiểm tra- đánh giá có thể có các mục đích khác nhau tuỳ trườnghợp Trong dạy học kiểm tra- đánh giá gồm 3 mục đích chính:

Trang 11

+ Kiểm tra kiến thức kĩ năng để đánh giá trình độ xuất phát của ngườihọc có liên quan tới việc xác định nội dung phương pháp dạy học một mônhọc, một học phần sắp bắt đầu.

+ Kiểm tra nhằm mục đích dạy học: Bản thân việc kiểm tra- đánh giánhằm định hướng hoạt động chiếm lĩnh kiến thức cần dạy

+ Kiểm tra nhằm mục đích đánh giá thành tích kết quả học tập hoặcnhằm nghiên cứu đánh giá mục tiêu, phương pháp dạy học [11]

- Mục đích đánh giá trong đề tài này là:

+ Xác nhận kết quả nhận biết, hiểu, vận dụng theo mục tiêu đề ra

+ Xác định xem khi kết thúc một phần của dạy học, kết quả của dạy học

đã đạt đến mức độ nào so với mục tiêu mong muốn

+Tạo điều kiện cho người dạy nắm vững hơn tình hình học tập của họcsinh để điều chỉnh hoạt động dạy học, góp phần nâng cao chất lượng dạy vàhọc vật lí

1.1.4 Chức năng của kiểm tra -đánh giá.

Chức năng của kiểm tra- đánh giá được phân biệt dựa vào mục đíchkiểm tra đánh giá Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đã đưa racác chức năng khác nhau về kiểm tra- đánh giá như:

GS Trần Bá Hoành đề cập ba chức năng của kiểm tra- đánh giá trongdạy học: Chức năng sư phạm, chức năng xã hội, chức năng khoa học

Theo GS-TS Phạm Hữu Tòng, trong thực tiễn dạy học ở phổ thông thìchủ yếu quan tâm đến chức năng sư phạm, được chia nhỏ thành 3 chức năng:Chức năng chuẩn đoán; chức năng chỉ đạo, định hướng hoạt động học; chứcnăng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học

+ Chức năng chuẩn đoán:

Các bài kiểm tra, trắc nghiệm có thể sử dụng như phương tiện thu lượmthông tin cần thiết cho việc đánh giá hoặc việc cải tiến nội dung, mục tiêu vàphương pháp dạy học

Nhờ việc xem xét kết quả kiểm tra- đánh giá kiến thức, ta biết rõ trình độxuất phát của người học để điều chỉnh nội dung phương pháp dạy học cho phùhợp, cho phép đề xuất định hướng bổ khuyết những sai sót, phát huy những kết

Trang 12

quả trong cải tiến hoạt động dạy học đối với những phần kiến thức đã giảngdạy.

Dùng các bài kiểm tra- đánh giá khi bắt đầu dạy học một học phần đểthực hiện chức năng chuẩn đoán

+ Chức năng định hướng hoạt động học.

Các bài kiểm tra, các bài trắc nghiệm trong quá trình dạy học có thểđược sử dụng như phương tiện, phương pháp dạy học Đó là các câu hỏi kiểmtra từng phần, kiểm tra thường xuyên được sử dụng để chỉ đạo hoạt động học.Các bài trắc nghiệm được soạn thảo công phu, có thể coi như là một cáchdiễn đạt mục tiêu dạy học cụ thể đối với các kiến thức, kĩ năng nhất định, cótác dụng định hướng hoạt động học tập tích cực của học sinh Việc thảo luậncác câu hỏi trắc nghiệm được tổ chức tốt, đúng lúc có thể trở thành phươngpháp dạy học tích cực giúp người học chiếm lĩnh kiến thức một cách tích cực,sâu sắc và vững chắc, giúp người dạy kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoạt độngdạy có hiệu quả

+ Chức năng xác nhận thành tích học tập, hiệu quả dạy học

Các bài kiểm tra (trắc nghiệm) sau khi kết thúc dạy một phần được sửdụng để đánh giá thành tích học tập, xác nhận trình độ kiến thức, kĩ năng củangười học

Với chức năng này đòi hỏi phải soạn thảo nội dung các bài kiểm tra,trắc nghiệm và các tiêu chí đánh giá, căn cứ theo các mục đích dạy học cụ thể

đã xác định cho từng kiến thức kĩ năng Các bài kiểm tra, trắc nghiệm nhưvậy có thể được sử dụng để nghiên cứu đánh giá mục tiêu dạy học và hiệu quảcủa phương pháp dạy học [21]

1.1.5 Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh

Vấn đề kiểm tra đánh giá tri thức ,kĩ năng, kĩ xảo chỉ có tác dụng khithực hiện các yêu cầu sau:

1.1.5.1 Đảm bảo tính khách quan trong quá trình kiểm tra-đánh giá:

- Là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tậpcủa học sinh so với yêu cầu chương trình quy định

Trang 13

- Nội dung kiểm tra phải phù hợp với các yêu cầu chương trình quy định.

- Tổ chức thi phải nghiêm minh

Để đảm bảo tính khách quan trong kiểm tra, đánh giá từ khâu ra đề, tổchức thi tới khâu cho điểm; xu hướng chung là tuỳ theo đặc trưng môn học

mà lựa chọn hình thức thi thích hợp

1.1.5.2 Đảm bảo tính toàn diện

Trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải chú

ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung và hình thức

1.1.5.3 Đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống

- Cần kiểm tra- đánh giá học sinh thường xuyên trong mỗi tiết học, saumỗi phần kiến thức

- Các câu hỏi kiểm tra cần có tính hệ thống

1.1.5.4 Đảm bảo tính phát triển

- Hệ thống câu hỏi từ dễ đến khó

- Trân trọng đối với sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến

bộ trong học tập của học sinh

1.1.6.Các loại hình kiểm tra - đánh giá trong dạy học

Tùy theo mục đích, nội dung và phương pháp đánh giá, người ta phânbiệt các loại hình đánh giá khác nhau Sau đây chúng ta sẽ đề cập đến bốn loạihình đánh giá thường gặp ở nhà trường phổ thông Bốn loại hình này đượcxếp thành hai cặp dựa theo các đặc điểm về mục tiêu cũng như cách thức tiếnhành

1.1.6.1.Đánh giá định hình (còn gọi là đánh giá hình thành hay đánh giá quá trình ) và đánh giá tổng kết:

- Đánh giá định hình (formative assessment) Trước đây người ta

thường chủ yếu đánh giá học sinh dựa trên các bài kiểm tra hoặc các bài thicuối mỗi giai đoạn đào tạo Việc đánh giá này chỉ cung cấp thông tin về kếtquả học tập của HS so với mục tiêu đã được xác định trong chương trình cácmôn học Nó không góp phần vào việc cung cấp các thông tin phản hồi cầnthiết về sự thành công hay chưa thành công của GV và HS trong quá trình dạy– học một nội dung nào đó, để điều chỉnh quá trình này nhằm đạt hiệu quả

Trang 14

cao hơn Đánh giá định hình được sử dụng để khắc phục nhược điểm trên củađánh giá Đánh giá định hình được tiến hành trong quá trình dạy học một nộidung nào đó, nhằm thu thập thông tin phản hồi về kết quả học tập của họcsinh ở nội dung đó, dùng làm cơ sở cho việc định hướng hoạt động dạy – họctiếp theo Việc thu thập và sử dụng thông tin để theo dõi sự tiến bộ và hỗ trợcác bước tiếp theo của việc dạy học được gọi là quá trình đánh giá định hình.

- Đánh giá tổng kết (summative assessment) Cuối mỗi giai đoạn đào

tạo, kết quả học tập của học sinh sẽ được đánh giá và tổng kết một cách chínhquy và hệ thống bằng đánh giá tổng kết (còn gọi là đánh giá kết thúc)

Đánh giá tổng kết cung cấp thông tin về kết quả học tập của HS so vớimục tiêu giáo dục của mỗi giai đoạn Nó là cơ sở để phân loại lựa chọn HS,phân phối HS vào các chương trình học tập thích hợp, cấp chứng chỉ văn bằngtốt nghiệp cho HS Tuy nhiên nó không thể góp phần vào việc cải thiện kếtquả học tập của HS trong giai đoạn học tập được đánh giá Tất nhiên, nó vẫn

có thể góp phần vào việc cung cấp thông tin, làm cơ sở cho việc cải tiến giaiđoạn học tập này trong tương lai, cho những lớp học sinh kế tiếp

Tuy có những khác biệt về mục đích và cách tiến hành, song đánh giáđịnh hình và đánh giá tổng kết không phải là hai loại hình đánh giá hoàn toàntách rời nhau mà gắn bó với nhau, hỗ trợ lẫn nhau

1.1.6.2.Đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí.

Đánh giá theo chuẩn và đánh giá theo tiêu chí là hai loại hình đánh giákhác nhau về mục tiêu, cách thức lựa chọn nội dung cũng như cách thức chođiểm

- Đánh giá theo chuẩn (norm referenced assessment) Đánh giá theo

chuẩn nhằm sắp xếp so sánh kết quả học tập của một HS với các học sinhkhác được học cùng một chương trình giáo dục Nó cho phép sắp xếp kết quảhọc tập của học sinh theo thứ tự và phân loại HS theo thứ tự

- Đánh giá theo tiêu chí (criterrion referenced assessment) Đánh giátheo tiêu chí nhằm xác định mức độ, kết quả học tập của mỗi học sinh theomục tiêu giáo dục.Trong đánh giá theo tiêu chí, kết quả học tập của mỗi HSđược so sánh với các mục tiêu học tập được xác định trong các chương trình

Trang 15

giáo dục của các môn học, trong đó nêu rõ những kiến thức, kĩ năng và thái

độ nào HS phải đạt được sau khi học tập Đánh giá này không đặt trọng tâmvào việc so sánh mức độ kết quả học tập của HS này với học sinh khác Cáctiêu chí là cơ sở đánh giá mức độ thành công trong học tập của học sinh

1.1.7 Qui trình của kiểm tra -đánh giá trong quá trình dạy học

- Thông thường quá trình đánh giá tri thức khoa học của học sinh, theoGuber và Stufflebeam được tiến hành theo các bước sau:

a Xác định mục tiêu đánh giá để xây dựng những câu hỏi cần được trảlời và các tiêu chuẩn cần phải đạt được khi đánh giá tri thức họcsinh

b Thu thập số liệu

c Tổ chức sắp xếp phân loại số liệu

d Phân tích số liệu

e Báo cáo kết quả để rút ra các kết luận cần thiết

- Đánh giá trong giáo dục là một vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn, nómang tính tổng hợp nhiều yếu tố.Vì vậy để việc đánh giá chính xác một họcsinh, một lớp hay một khóa học, đầu tiên thầy giáo phải nghiên cứu chọn lựamột phương pháp cũng như một quy trình thu thập hợp lý, quy trình này cóthể bao gồm các bước:

+ Xác định cho được các lượng thông tin cần thu thập qua các đợt thựcnghiệm sư phạm

+ Nghiên cứu chọn các mẫu thực nghiệm sư phạm thích hợp

+ Áp dụng các phương pháp và các quy trình thích hợp cho việc thuthập thông tin qua thực nghiệm sư phạm

+ Cuối cùng là phương pháp xử lý, phân tích số liệu và giải thích các sốliệu đó

- Nhận xét các kết quả thu thập được

Trên cơ sở những điểm số thu thập được qua hai đợt thực nghiệm sưphạm xem xét, kiểm tra- đánh giá các số liệu đó có phù hợp hay không phùhợp với mục tiêu đề ra; là quá khó hay quá dễ; cần điều chỉnh bổ sung vấn đềnào, phần nào? bài học nào? Dựa trên số liệu thu thập đó thầy giáo đi đến kết

Trang 16

luận là cần phải thay đổi điều chỉnh phương pháp dạy học của thầy, phươngpháp học tập của học sinh, cũng như thay đổi hệ thống câu hỏi

1.2 Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn.

1.2.1 Khái niệm câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Theo tiến sĩ Trần Vui thì câu hỏi trắc nghiệm khách quan là loại câu hỏi màmột số phương án trả lời đã được cho sẵn, trong đó có một hoặc nhiều hơn mộtcâu trả lời đúng Nếu học sinh phải viết câu trả lời thì đó là những thông tin ngắngọn và duy nhất đúng

Theo giáo sư Trần Bá Hoành thì trắc nghiệm khách quan là dạng trắcnghiệm trong đó mỗi câu hỏi hoặc câu dẫn có kèm theo những câu trả lời hoặcphương án lựa chọn sẵn và đòi hỏi học sinh phải chọn một trong những phương

- Nhược điểm: Có thể khuyến khích sự đoán mò, khó dùng để thẩm định họcsinh yếu, có độ tin cậy thấp

- Ưu điểm: Các câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng, ít tốn giấy hơn khi in

- Nhược điểm: Muốn soạn câu hỏi để đo các mức kiến thức cao đòi hỏi nhiềucông phu

Trang 17

1.2.2.3 Trắc nghiệm điền khuyết

Có thể có hai dạng, chúng có thể là những câu hỏi với giải đáp ngắn,hay cũng có thể gồm những câu phát biểu với một hay nhiều chỗ trống màhọc sinh phải điền vào một từ hay một nhóm từ ngắn

- Ưu điểm: Thí sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, pháthuy óc sáng tạo, luyện trí nhớ

- Nhược điểm: Cách chấm không dễ dàng, thiếu yếu tố khách quan khi chấmđiểm Đặc biệt nó chỉ kiểm tra được khả năng nhớ, không có khả năng kiểmtra phát hiện sai lầm của học sinh [13]

1.2.2.4.Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Dạng trắc nghiệm khách quan hay dùng nhất là loại trắc nghiệm kháchquan nhiều lựa chọn Đây là loại câu hỏi mà chúng tôi soạn thảo ở chươngsau

Một câu hỏi dạng nhiều lựa chọn gồm 2 phần: Phần "gốc" và phần "lựa chọn"

+ Phần gốc: Là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất) Yêu cầu

phải tạo căn bản cho sự lựa chọn, bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một

ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu hỏi ấy muốn đòihỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp

+ Phần lựa chọn: (thường là 4 hay 5 lựa chọn) gồm có nhiều giải pháp có thể

lựa chọn, trong đó có một lựa chọn là đúng, hay đúng nhất, còn những phầncòn lại là những "mồi nhử" Điều quan trọng là làm sao cho những "mồi nhử"

ấy đều hấp dẫn ngang nhau với những học sinh chưa học kĩ hay chưa hiểu kĩbài học

Trong đề tài này, chúng tôi chọn trắc nghiệm khách quan 4 lựa chọn vìtheo chúng tôi nếu ít lựa chọn hơn thì không bao quát được sai lầm của họcsinh, nhiều lựa chọn hơn sẽ có những mồi thiếu căn cứ [13]

- Ưu điểm:

+ Độ tin cậy cao hơn+ Học sinh phải xét đoán và phân biệt kĩ càng khi trả lời câu hỏi

Trang 18

+ Tính chất giá trị tốt hơn+ Có thể phân tích được tính chất "mồi" của câu nhử+ Tính khách quan khi chấm.

- Nhược điểm:

+ Khó soạn câu hỏi

+ Thí sinh nào óc sáng tạo tốt có thể tìm ra câu trả lời hay hơn phương

án đã cho, nên họ có thể sẽ không thoả mãn

+ Các câu trắc nghiệm khác quan nhiều lựa chọn có thể không đo đượckhả năng phán đoán tinh vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo một cáchhiệu nghiệm bằng loại câu hỏi tự luận soạn kĩ

+ Tốn nhiều giấy để in loại câu hỏi này hơn loại câu hỏi khác

1.2.3 Một số nguyên tắc soạn thảo những câu trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Câu hỏi thuộc dạng này gồm 2 phần: Phần gốc và phần lựa chọn

- Đối với phần gốc: Dù là một câu hỏi hay câu bổ sung đều phải tạo cơ sở cho

sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra những ý tưởng rõ rànggiúp cho sự lựa chọn được dễ dàng

+ Cũng có khi phần gốc là một câu phủ định, trong trường hợp ấy phải

in đậm hoặc gạch dưới chữ diễn tả sự phủ định để học sinh khỏi nhầm

+ Phần gốc và phần lựa chọn khi kết hợp phải mang ý nghĩa trọn vẹn,tuy nhiên nên sắp xếp các ý vào phần gốc sao cho:

 Phần lựa chọn được ngắn gọn

 Người đọc thấy nội dung cần kiểm tra

- Đối với phần lựa chọn:

+ Trong 4 hay 5 phương án lựa chọn chỉ có một phương án đúng

+ Nên tránh 2 lần phủ định liên tiếp

+ Câu lựa chọn không nên quá ngây ngô

+ Độ dài các câu trả lời nên gần bằng nhau

+ Các câu trả lời nên có dạng đồng nhất

+ Không nên có câu trả lời không có ý nghĩa thực tế

Trang 19

+ Không nên có câu trả lời giống hệt sách giáo khoa

+ Tránh sự không phù hợp giữa phần gốc và phần ngọn

+ Vị trí các câu lựa chọn nên sắp xếp một cách tự nhiên

+ Không nên dùng các từ như “ tất cả các câu trên đều không đúng” “không câu nào đúng” làm phương án trả lời

+ Đề phòng trường hợp vì tiết lộ câu trả lời dự định cho là đúng qua lốihành văn, dùng từ, chiều dài của câu, cách sắp đặt câu lựa chọn

1.2.4 Qui trình soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

Cách tốt nhất để lên kế hoạch cho một bài trắc nghiệm là liệt kê cácmục tiêu giảng dạy cụ thể hay năng lực cần đo lường (trả lời câu hỏi: Cầnkhảo sát những gì ở học sinh?) hay nói cách khác là xác định rõ mục đích củabài trắc nghiệm

Một sự phân tích về nội dung sẽ cho ta một bản tóm tắt ý đồ chươngtrình giảng dạy được diễn đạt theo nội dung: Đặt tầm quan trọng vào nhữngphần nào của môn học và mục tiêu nào? Những lĩnh vực nào trong các nộidung đó nên đưa vào trong bài trắc nghiệm đại diện này?

Cần phải suy nghĩ cách trình bày các câu dưới hình thức nào cho hiệuquả nhất và mức độ khó dễ của bài trắc nghiệm đến đâu

1.2.4.1 Mục đích của bài trắc nghiệm

Một bài trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, nhưng bài trắcnghiệm ích lợi và có hiệu quả nhất khi nó được soạn thảo để nhằm phục vụcho mục đích chuyên biệt nào đó

- Nếu bài trắc nghiệm là một bài thi cuối kì nhằm xếp hạng học sinh thìcác câu soạn phải đảm bảo điểm số được phân tán rộng, như vậy mới pháthiện ra được học sinh giỏi và học sinh kém

- Nếu bài trắc nghiệm là một bài kiểm tra nhằm kiểm tra những hiểubiết tối thiểu về một phần nào đó thì ta soạn thảo những câu hỏi sao cho hầuhết học sinh đều đạt được điểm tối đa

- Nếu bài trắc nghiệm nhằm mục đích chuẩn đoán, tìm ra những chỗmạnh, chỗ yếu của học sinh, giúp cho giáo viên điều chỉnh phương pháp dạy

Trang 20

phù hợp, thì các câu trắc nghiệm được soạn thảo sao cho tạo cơ hội cho họcsinh phạm tất cả mọi sai lầm về môn học nếu chưa học kĩ.

Bên cạnh các mục đích nói trên ta có thể dùng trắc nghiệm với mụcđích tập luyện giúp cho học sinh hiểu thêm bài học và có thể làm quen với lốithi trắc nghiệm

Tóm lại, trắc nghiệm có thể phục vụ nhiều mục đích, người soạn trắcnghiệm phải biết rõ mục đích của mình thì mới soạn thảo được bài trắc nghiệmgiá trị vì mục đích chi phối nội dung, hình thức bài [13]

1.2.4.2 Phân tích nội dung môn học cần kiểm tra đánh giá

- Tìm ra những khái niệm quan trọng trong nội dung môn học để đem

ra khảo sát trong các câu trắc nghiệm

- Phân loại 2 dạng thông tin được trình bày trong môn học (haychương):

+ Một là: Những thông tin nhằm giải nghĩa hay minh hoạ

+ Hai là: Những khái niệm quan trọng của môn học, lựa chọn những gìhọc sinh cần nhớ

- Lựa chọn một số thông tin và ý tưởng đòi hỏi học sinh phải có khả năngứng dụng những điều đã biết để giải quyết vấn đề trong tình huống mới [13]

1.2.4.3 Thiết lập ma trận phân bố câu hỏi trắc nghiệm

Sau khi nắm vững mục đích của bài trắc nghiệm và phân tích nội dungmôn học ta lập được một dàn bài cho trắc nghiệm

L p m t b ng ma tr n 2 chi u, m t chi u bi u th n i dung vập một bảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ột bảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ập một bảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ều, một chiều biểu thị nội dung và ột bảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ều, một chiều biểu thị nội dung và ểu thị nội dung và ị nội dung và ột bảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và àchi u kia bi u th các quá trình t duy (m c tiêu) m b i tr c nghi mều, một chiều biểu thị nội dung và ểu thị nội dung và ị nội dung và ư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệm ục tiêu) mà bài trắc nghiệm à à ắc nghiệm ệm

mu n kh o sát S câu h i c n ảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ỏi cần được đưa vào trong mỗi loại phải được ần được đưa vào trong mỗi loại phải được đư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệmợc đưa vào trong mỗi loại phải được đư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệmc a v o trong m i lo i ph i à ỗi loại phải được ại phải được ảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và đư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệmợc đưa vào trong mỗi loại phải đượccxác đị nội dung vành rõ v ma tr n n y ph i à ập một bảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và à ảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và đư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệmợc đưa vào trong mỗi loại phải đượcc chu n b xong trẩn bị xong trước khi các câu hỏi ị nội dung và ư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệmớc khi các câu hỏic khi các câu h iỏi cần được đưa vào trong mỗi loại phải được

tr c nghi m ắc nghiệm ệm đư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệmợc đưa vào trong mỗi loại phải đượcc vi t ra ết ra ở đề tài này tôi đã lập bảng ma trận như sau: ở đề tài này tôi đã lập bảng ma trận như sau: đều, một chiều biểu thị nội dung và à à t i n y tôi ã l p b ng ma tr n nh sau:đ ập một bảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ập một bảng ma trận 2 chiều, một chiều biểu thị nội dung và ư duy (mục tiêu) mà bài trắc nghiệm

Mục tiêu nhận thức

Nội dung kiến thức

Nhận biết

(số câu)

Hiểu

(số câu)

Vận dụng

(số câu)

Tổng cộng

Trang 21

Tổng cộng 17 22 25 64

1.2.4.4 Lựa chọn số câu hỏi và soạn các câu hỏi cụ thể.

Số câu hỏi bao gồm trong bài trắc nghiệm phải tiêu biểu cho toàn thểkiến thức mà ta đòi hỏi ở học sinh phải có

Số câu hỏi phụ thuộc vào thời gian dành cho nó, nhiều bài trắc nghiệmđược giới hạn trong khoảng thời gian một tiết học hoặc kém hơn

Yêu cầu chính xác các điểm số, nghĩa là làm sao mẫu nghiên cứu mangtính chất đại diện cho quần thể [13]

1.3 Cách trình bày và chấm điểm một bài trắc nghiệm nhiều lựa chọn:

1.3.1.Cách trình bày

Có hai phương pháp thông dụng

* Phương pháp 1: Dùng máy chiếu thì ta có thể viết bài trắc nghiệmtrên phim ảnh rồi chiếu lên phim ảnh từng câu hay từng phần Mỗi câu haymỗi phần ấy được chiếu lên màn ảnh trong thời gian nhất định đủ cho họcsinh trung bình trả lời được Phương pháp này có ưu điểm

- Kiểm soát được thời gian

- Tránh được sự thất thoát đề thi

- Tránh được phần nào sự gian lận

* Phương pháp 2: Thông dụng hơn cả, là in bài trắc nghiệm ra thànhnhiều bảng tương ứng với số người dự thi Trong phương pháp này có haicách trả lời khác nhau

1 Bài có phần trả lời của học sinh ngay trên đề thi, ở phía bên phải haytrái

2 Bài học sinh trả lời bằng phiếu riêng theo mẫu.

Trang 22

ra, các bài trắc nghiệm cũng cần được trình bày sao cho dễ đọc Nên tránhnhững câu hỏi hay lựa chọn in sát nhau quá Những câu trắc nghiệm có nhiềulựa chọn cần phải in sao cho làm nổi bậc lên phần câu hỏi, các câu lựa chọnđược xếp sao cho dễ đọc.

Để tránh sự thông đồng và gian lận của học sinh ta có thể in thành các

đề trắc nghiệm với những câu hỏi giống nhau nhưng thứ tự các câu hỏi cũngnhư câu trả lời thì đảo lộn

1.3.2.Chấm bài

- Cách chấm bài thông dụng nhất của thầy giáo ở lớp học là sử dụngbảng đục lỗ Bảng này phải được làm bằng tấm bìa trong suốt có đục lỗ (tránhtình trạng học sinh đánh dấu vào mọi ô) ở câu trả lời đúng Khi đặt bảng đục

lỗ ấy lên trên bảng trả lời, những dấu gạch ở các câu trả lời đúng hiện ra ở cáclỗ

- Dùng máy chấm bài thi thì công việc chấm bài là nhanh nhất

1.3.3.Các loại điểm của bài trắc nghiệm

* Có hai loại điểm:

- Điểm thô: Trong bài trắc nghiệm mỗi câu đúng được tính 1 điểm vàcâu sai là 0 điểm Như vậy điểm thô là tổng điểm tất cả các câu trắc nghiệm

- Điểm chuẩn: Nhờ điểm chuẩn có thể so sánh điểm của học sinh trongnhiều nhóm hoặc giữa nhiều bài trắc nghiệm của nhiều môn khác nhau Công

thức tính điểm chuẩn Z x x

S

Trong đó: x là điểm thô nào đó

x là điểm thô trung bình của nhóm làm bài trắc nghiệm

S là độ lệch chuẩn của nhóm ấy

* Có ít nhất hai điều bất lợi khi dùng điểm chuẩn Z:

- Có nhiều trị số Z âm, gây nên nhiều phiền toái khi tính toán Tất cảcác điểm Z đều phải mang một hay nhiều số lẻ

- Để tránh các khó khăn này người ta dùng điểm chuẩn biến đổi

- Điểm chuẩn biến đổi T: T = Z x 10 + 50

Trang 23

- Điểm 11 bậc (như hiện nay ở nước ta từ 0 đến 10), đó là cách biến đổiđiểm 20 trước đây, ở đây chọn điểm trung bình là 5, độ lệch tiêu chuẩn là 2: Điểm 11 bậc = 2Z + 5

* Cách tính trung bình thực tế và trung bình lý thuyết:

+ Trung bình thực tế:

- Trung bình này tính trên tổng điểm thi toàn bài trắc nghiệm (tổng sốđiểm của tất cả mọi người làm bài trong nhóm chia cho tổng số người) Điểmnày tùy thuộc vào bài làm của từng nhóm

N i i

X X

- Trung bình lý thuyết tức là trung bình cộng của một điểm tối đa có thể

có (ví dụ một bài trắc nghiệm có 29 câu thì điểm tối đa là 29) với điểm mayrủi có thể làm đúng (chính là số câu chia cho số lựa chọn) Điểm này khôngthay đổi với một bài cố định Ví dụ một bài có 55 câu hỏi, mỗi câu có 4 lựachọn thì điểm may rủi là 55/4 = 13,75, và trung bình lý thuyết của bài là(13,75 + 55)/2 = 34,375 [16]

1.4 Phân tích câu hỏi và đánh giá bài thi trắc nghiệm khách quan theo phương pháp thống kê:

1.4.1 Mục đích của việc phân tích câu hỏi

- Thông qua kết quả của bài thi có thể giúp giáo viên đánh giá được cácmức độ thành công của việc giảng dạy và học tập Từ đó có thể kịp thời điềuchỉnh về phương pháp giảng dạy, nội dung chương trình một cách thích hợp

- Qua việc phân tích câu hỏi chúng ta có thể xem xét được học sinh đãtrả lời các câu hỏi như thế nào, để từ đó chúng ta có thể sửa chữa lại câu hỏisao cho bài trắc nghiệm có thể đo lường được kết quả học tập của học sinhmột cách sát thực tế hơn.[24]

1.4.2 Phương pháp phân tích câu hỏi

Trang 24

- Để phân tích câu hỏi của một bài trắc nghiệm, chúng ta thường phải

so sánh câu trả lời của mỗi câu hỏi của mỗi học sinh với điểm số chung chotoàn bài thi, và với mong muốn là có nhiều học sinh ở nhóm điểm cao và íthọc sinh ở nhóm điểm thấp trả lời đúng câu hỏi

- Việc phân tích thống kê để nhằm xác định các chỉ số thông kê như độkhó, độ phân biệt của mỗi câu hỏi

- Trong mỗi mẫu phân bố chuẩn người ta thường chia mẫu học sinhthành 3 nhóm sau đây:

+ Nhóm điểm cao (H) có khoảng 27% số học sinh tham gia, đó lànhững học sinh đạt điểm cao nhất

+ Nhóm điểm thấp (L) có khoảng 27% số học sinh tham gia, đó lànhững học sinh đạt điểm thấp nhất

+ Nhóm điểm trung bình (M) có khoảng 46% số học sinh tham gia,

đó là những học sinh đạt điểm trung bình

Trong phương pháp phân tích câu hỏi ta cần đếm số câu trả lời chomỗi câu trong bài Trong các câu trả lời sẵn ở mỗi câu, ta cần biết có baonhiêu học sinh chọn câu sai và bao nhiêu học sinh không trả lời Khi đếm sựphân bố các câu trả lời như thế ở nhóm điểm cao, điểm thấp và điểm trungbình chúng ta có thể suy ra:

+ Mức độ khó của câu hỏi

+ Mức độ phân biệt nhóm giỏi và nhóm yếu của mỗi câu hỏi

+ Mức độ lôi cuốn của các câu trả lời cho sẵn ở mỗi câu hỏi

Số HScủanhóm TBchọn

Số HScủanhómkémchọn

Tổng sốHSchọn

Số HS nhómgiỏi trừ đi số

HS nhóm kémchọn

B

Trang 25

Gọi: n:là tổng số học sinh dự thi trắc nghiệm;

nH:là số học sinh nhóm giỏi chọn câu đúng;

nM:là số học sinh nhóm trung bình chọn câu đúng;

số thống kê khá lớn do đó người ta có thể chọn nhóm theo con số từ 25% đến33%

Tiêu chuẩn để chọn một câu hỏi hay là:

Sau khi phân tích chúng ta có thể giữ lại các câu hỏi hay có các tínhchất sau:

Độ khó nằm từ 40% đến 65%

Độ phân biệt dương từ 0,3 trở lên

Trang 26

Các câu nhiễu hay sẽ được nhiều học sinh trong nhóm kém lựachọn.

* Chú ý:

- Sự phân tích câu hỏi chỉ có ý nghĩa khi mỗi học sinh có đủ thời gian

để làm mọi câu hỏi

- Sự phân tích câu hỏi giúp chúng ta biết khuyết điểm của câu hỏi, tìnhhình học tập của học sinh trong công việc giảng dạy [24]

Ngoài ra Dương Thiệu Tống đã đưa ra một thang đánh giá độ phân biệt dưới đây (chúng tôi sẽ theo thang đánh giá nầy để nhận xét các câu trắc nghiệm):

Chỉ số DI (độ phân biệt) Đánh giá câu

1.4.3 Phân tích đánh giá bài trắc nghiệm

1.4.3.1 Độ khó vừa phải của một câu hỏi

1.4.3.2.Độ khó của bài trắc nghiệm

- Độ khó của bài trắc nghiệm x.100

c

Với x: Điểm trung bình thực tế

c: Điểm tối đa (số câu của bài)

Trang 27

Độ khó của bài trắc nghiệm bằng điểm trung bình thực tế chia cho điểmtối đa nhân với 100%

0Độ khó của bài trắc nghiệm1

1.4.3.3.Độ lệch tiêu chuẩn (S)

Độ lệch tiêu chuẩn là số đo lường nhân tích của điểm số trong mộtphân bố Trong phần nghiên cứu ta chỉ cần tính trung bình lẫn độ lệch tiêuchuẩn phân bố đơn và đẳng loại

Độ lệch chuẩn tính trên mỗi nhóm học sinh làm thực tế nên có thể thayđổi Công thức tính S

2

1

i

d S

d i  x i x; x ilà điểm của mẫu thứ i của HS thứ i

x là trung bình cộng điểm kiểm tra mẫu của tất cả HS

* Ngoài công thức trên ta còn có công thức khác:

1.4.4.Độ tin cậy của bài thi trắc nghiệm khách quan

Được xác định theo công thức Kuder Ruchardson:

2 2

1

i

K r K

Trang 28

Có thể sử dụng công thức khác Kuder-Richardson cũng suy ra từ côngthức cơ bản trên, với các bài trắc nghiệm có độ khó của câu trắc nghiệm khácnhau:

Trong đó: K là số câu trắc nghiệm

pi là tỉ lệ giữa số học sinh trả lời đúng so với tổng số học sinh trả lờicho câu hỏi thứ i

qi là tỉ lệ giữa số học sinh trả lời sai so với tổng số học sinh trả lờicho câu hỏi thứ i

2

 là biến lượng của bài

Theo Nguyễn Phụng Hoàng, độ tin cậy của một bài trắc nghiệm có thểchấp nhận được là 0,60  r e 1,00

1.4.5.Sai số tiêu chuẩn đo lường

Sai số tiêu chuẩn đo lường là một phong cách biểu thị độ tin cậy củabài trắc nghiệm theo ý nghĩa tuyệt đối

Công thức thường dùng để tính sai số tiêu chuẩn đo lường là:

1

m x xx

SESr

Trong đó: SEm là sai số tiêu chuẩn của đo lường

Sx là độ lệch tiêu chuẩn của bài

rxx là hệ số tin cậy của bài

1.4.6.Độ giá trị của bài thi trắc nghiệm khách quan

- Thuật ngữ độ giá trị nói đến tính hiệu quả của một bài trắc nghiệmtrong việc đạt được những mục tiêu xác định Độ giá trị được phân chia thànhcác loại sau:

- Độ giá trị tương đối: độ giá trị này liên quan đến thành công củahọc sinh trong tương lai trong việc hướng nghiệp, tuyển chọn, phân loại họcsinh

- Độ giá trị đồng thời: về mặt sắc thái nào đó, độ giá trị đồng thờicũng giống như độ giá trị tiên đoán, chỉ khác chủ yếu về mặt thời gian khi rabài trắc nghiệm – đánh giá Bài trắc nghiệm trong việc xây dựng độ giá trị

Trang 29

tiên đoán thường đưa ra trước, còn bài trắc nghiệm đánh giá đưa ra sau Khi

đo độ giá trị đồng thời thì các phép đo tiên đoán và đánh giá được thực hiệngần như cùng lúc

- Độ giá trị về nội dung: khi muốn dùng một bài trắc nghiệm đểđánh giá một chương trình giảng dạy hoặc một giai đoạn học tập, chúng tacần phải tính đến chất giá trị về nội dung Các câu hỏi trắc nghiệm phải là mộtmẫu tiêu biểu, nó bao trùm toàn bộ nội dung môn học Do đó phải nêu đượcmục tiêu giảng dạy, loại khả năng hoặc kiến thức phải nắm được sau khi họctập

Một bài trắc nghiệm không thể có một hệ số giá trị nhất định để dùngcho mọi mục đích đối với mọi nhóm người Một bài trắc nghiệm hay mà độtin cậy thấp thì cũng không có ích, mặt khác một bài trắc nghiệm có độ tincậy cao mà độ giá trị thấp thì bài trắc nghiệm đó cũng có ý nghĩa không đángkể

1.5 Kết luận chương 1

Trong chương 1, chúng tôi đã hệ thống lại cơ sở lý luận về kiểm trađánh giá nói chung cũng như cơ sở lý luận và kỹ thuật xây dựng các câu hỏitrắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn Trong đó, những vấn đề chúng tôiđặc biệt quan tâm :

+ Mục đích, chức năng của việc kiểm tra- đánh giá Vì mục đích, chứcnăng của bài trắc nghiệm quyết định nội dung và hình thức của bài trắc nghiệm

+ Cách phát biểu mục tiêu dạy học và phân loại mục tiêu dạy học.Vì đểviết được một bài trắc nghiệm tốt cần định rõ được mục tiêu dạy học và viếtcác câu trắc nghiệm gắn chặt với các mục tiêu này

+ Để thấy được ưu điểm và nhược điểm của các hình thức kiểm đánh giá chúng tôi đã hệ thống lại các phương pháp kiểm tra- đánh giá; trong

tra-đó đặc biệt chú trọng tới cơ sở lý luận và kỹ thuật xây dựng câu hỏi trắcnghiệm khách quan nhiều lựa chọn là:

- Mục đích của kiểm tra -đánh giá

- Chức năng của kiểm tra-đánh giá

Trang 30

- Các yêu cầu sư phạm đối với việc kiểm tra- đánh giá kết quả học tậpcủa học sinh.

- Nguyên tắc chung cần quán triệt trong kiểm tra- đánh giá

- Phương pháp và kỹ thuật trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

- Các giai đoạn soạn thảo bài trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn

- Nguyên tắc soạn thảo những câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiềulựa chọn

- Cách trình bày và cách chấm điểm một bài trắc nghiệm khách quannhiều lựa chọn

- Phân tích đánh giá câu hỏi trắc nghiệm và bài trắc nghiệm thông quacác chỉ số thống kê

Tất cả những điều trình bày ở trên, chúng tôi vận dụng để xây dựng hệthống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn nhằm kiểm tra - đánhgiá kết quả học tập môn vật lý của học sinh THPT trong dạy học chương

“Sóng cơ và sóng âm” Vật lí 12 mà nội dung nghiên cứu cụ thể sẽ được trìnhbày ở chương sau

CHƯƠNG 2

XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

CHO CHƯƠNG " SÓNG CƠ VÀ SÓNG ÂM"

(VẬT LÍ 12 THPT)

*****

2.1.Cấu trúc nội dung chương “ Sóng cơ và sóng âm ” lớp 12 THPT

2.1.1.Đặc điểm nội dung của chương “Sóng cơ và sóng âm”

Trang 31

Trong SGK Vật lý 12 chương này đề cập tới những khái niệm và hiệntượng như:

- Khái niệm về sóng cơ , các loại sóng cơ: sóng ngang, sóng dọc

- Các đại lượng đặc trưng cho sóng: Biên độ sóng, chu kì, tần số, tốc độtruyền sóng, bước sóng, năng lượng sóng

- Phương trình sóng

- Hiện tượng giao thoa sóng,cực đại ,cực tiểu, điều kiện giao thoa,sóngkết hợp

- Hiện tượng sóng dừng,sự phản xạ của sóng

- Sóng âm :Định nghĩa sóng âm, nguồn âm, âm nghe được,hạ âm, siêu

âm, sự truyền âm

- Các đặc trưng vật lí của âm: Tần số,cường độ âm, mức cường độâm,âm cơ bản,hoạ âm

- Các đặc trưng sinh lí của âm: Độ cao, độ to, âm sắc

Nội dung kiến thức cơ bản của chương có thể chia làm bốn nhóm:Nhóm kiến thức về các đại lượng đặc trưng cho sóng cơ và sự truyền sóng cơ;nhóm kiến thức về hiện tượng giao thoa sóng; nhóm kiến thức về sóng dừng

và nhóm kiến thức về sóng âm.Việc nắm vững các khái niệm, hiện tượng vàcác đại lượng đặc trưng trong chương này giúp học sinh hiểu được sóng cơ ,sóng âm để chuẩn bị cho việc lĩnh hội các kiến thức liên quan đến tính chấtsóng: Sóng điện từ, sóng ánh sáng ở các chương tiếp theo từ đó thấy đượcnhững đặc trưng cơ bản của quá trình truyền sóng mà biểu hiện là hiện tượnggiao thoa

2.1.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương " Sóng cơ và sóng âm "

Lôgíc kiến thức của chương có thể biểu diễn bằng sơ đồ như sau:

SÓNG CƠ - SÓNG ÂM

Các đặc trưng

Tần số, cường độ âm, đồ thị dao động của âmĐặc trưng vật lý

Nguồn kết hợpSóng kết hợpCực đại giao thoa, Cực tiểu giao thoaHiện tượng giao thoa

Trang 32

2.2 Mục tiêu dạy học về mặt kiến thức ,kĩ năng chương “ Sóng cơ và sóng âm ”

 Nêu được sóng âm, âm thanh, hạ âm, siêu âm là gì

 Nêu được cường độ âm và mức cường độ âm là gì và đơn vị đo mức cường độâm

Trang 33

 Nêu được ví dụ để minh hoạ cho khái niệm âm sắc Trình bày được sơ lược

về âm cơ bản, các hoạ âm

 Nêu được các đặc trưng sinh lí (độ cao, độ to và âm sắc) và các đặc trưngvật lí (tần số, mức cường độ âm và các hoạ âm) của âm

 Mô tả được hiện tượng giao thoa của hai sóng mặt nước và nêu được cácđiều kiện để có sự giao thoa của hai sóng

 Mô tả được hiện tượng sóng dừng trên một sợi dây và nêu được điều kiện

để khi đó có sóng dừng khi đó

 Nêu được tác dụng của hộp cộng hưởng âm

2.2.2.Mục tiêu về mặt kỹ năng

 Viết được phương trình sóng

 Giải được các bài toán đơn giản về giao thoa và sóng dừng

 Giải thích được sơ lược hiện tượng sóng dừng trên một sợi dây

 Xác định được bước sóng hoặc tốc độ truyền âm bằng phương pháp sóngdừng

2.3 Những khó khăn và sai lầm phổ biến của học sinh khi học chương “ Sóng cơ và sóng âm ” vật lý 12 THPT

2.3.1 Những khó khăn

Khái niệm sóng cơ học là một trong những khái niệm trừu tượng khidạy cho HS Khi một sóng cơ học lan truyền trong một môi trường đàn hồi,các phần tử vật chất của môi trường không dịch chuyển, không bị truyền đi,chúng chỉ dao động tại chỗ Đó là trường hợp sóng lan truyền trên mặt nướckhi ta thả nhẹ hòn đó xuống nước Nhưng người ta cũng nói "sóng đẩy thuyềnđi", "sóng xô bờ" đó là trường hợp khi có gió to, những khối nước lớn trênmặt nước bị đẩy theo chiều gió Khi đó các phần tử vật chất của môi trường bịdịch chuyển Thực ra ở đây có hai hiện tượng cùng xảy ra Một mặt, các phần

tử nước dao động theo chiều thẳng đứng và dao động đó lan truyền theo chiềugió đúng như định nghĩa của sóng Mặt khác, các phần tử nước ở các đỉnhsóng bị gió lớn tách ra khỏi khối nước và hất về phía trước, theo chiều gió Đó

là một quá trình khác, diễn ra đồng thời với quá trình truyền sóng

Trang 34

Hiện tượng sóng dừng là hiện tượng rất khó hình dung vì tần số daođộng của các phần tử môi trường tạo được trong thí nghiệm là rất lớn.

Một số khó khăn trên đây mà theo chúng tôi là GV và HS thường gặp,tuy nhiên trong giảng dạy GV có thể gặp những khó khăn khác nhau tuỳ vàonăng lực bản thân và môi trường dạy học Việc tìm ra các khó khăn để có giảipháp khắc phục, hạn chế khó khăn là điều cần thiết trong dạy học

2.3.2 Sai lầm phổ biến của học sinh

Để nắm được những sai lầm phổ biến của học sinh thường mắc phảichúng tôi đã thực hiện điều tra bằng cách: Trao đổi với những giáo viên cónhiều kinh nghiệm đã có nhiều năm giảng dạy Vật lí 12 ở các trường phổthông trung học, những giáo viên có kinh nghiệm trong việc bồi dưỡng họcsinh giỏi, ôn luyện thi tốt nghiệp và luyện thi đại học, kết hợp với việc chohọc sinh ở một số trường ( năm học 2010 - 2011) làm bài kiểm tra kiến thức

cơ bản của chương " Sóng cơ và sóng âm ".Qua đó chúng tôi nhận thấy họcsinh phổ thông khi làm bài thường mắc phải những sai lầm như sau:

* Về các đại lượng đặc trưng cho sóng:

- Nhầm lẫn khi sử dụng công thức tính bước sóng, tốc độ truyền sóng, chu kì,tần số

- Nhầm lẫn giữa tốc độ sóng ( tốc độ truyền pha dao động ) với tốc độ daođộng của phần tử môi trường khi có sóng truyền qua

- Nhầm lẫn về phương truyền pha dao động với phương dao động của cácphần tử của môi trường do không hiểu bản chất về sự truyền pha dao động

- Nhầm lẫn khi áp dụng công thức (độ lệch pha, khoảng cách hai điểm) về daođộng cùng pha, ngược pha, vuông pha

- Nhầm lẫn khi viết phương trình sóng tại một điểm khi biết chiều truyền của sóng

- Nhầm lẫn khi phân tích số liệu trên đồ thị sóng để xác định : chiều truyềnsóng, bước sóng, vận tốc sóng, chu kì sóng, chiều chuyền động của phần tửmôi trường tại một thời điểm

- Nhầm lẫn khi xác định các điểm dao động cùng pha, ngược pha, vuông pha trên đồ thị

Trang 35

- Chưa hiểu ý nghĩa “ k” trong công thức xác định vị trí điểm cực đại (hoặcđường cực đại), điểm đứng yên (đường đứng yên), vị trí bụng, nút nên khi xácđịnh bậc (hoặc thứ) đường cực đại (cực tiểu) thường sai Hoặc nhầm lẫn với “k” trong công thức tính độ lệch pha.

- Do việc dạy học không sử dụng thí nghiệm nên học sinh không quan sátđược hiện tượng giao thoa, sóng dừng, nên học sinh chỉ học thuộc lòng, ghinhớ máy móc mà không hiểu bản chất hiện tượng

*Về sóng âm :

- Học sinh đôi khi còn nhầm lẫn biên miền tần số của dao động âm ( từ

16 HZ đến 20.000 HZ) Đôi khi còn cho rằng tai con người không nghe được

hạ âm do năng lượng âm quá nhỏ

- Nhầm lẫn giữa khái niệm cường độ âm và mức cường độ âm; khôngnhớ hoặc không hiểu định nghĩa nên hay nhầm đơn vị của cường độ âm

- Nhầm lẫn giữa độ cao và độ to của âm do không hiểu bản chất nêncòn hiểu rằng âm càng cao thì nghe càng to

- Chưa hiểu rõ bản chất của âm sắc phụ thuộc vào tần số, biên độ vàcác thành phần cấu tạo âm nên còn nhầm lẫn cho rằng chỉ phụ thuộc vào tầnsố; hoặc nhớ định nghĩa âm sắc nhưng khi áp dụng vào giải thích hiện tượngthực tế thì không giải thích được, còn nhầm lẫn

- Nhầm lẫn giữa ngưỡng nghe và ngưỡng đau; không hiểu tại saongưỡng nghe và ngưỡng đau phụ thuộc vào tần số

- Khi tính cường độ âm, mức cường độ âm còn nhầm lẫn khi tính toán,nhầm đơn vị do chưa nắm chắc định nghĩa, hoặc hiểu không chính xác

2.4 Soạn thảo hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn chương “ Sóng cơ và sóng âm ” vật lý 12 THPT

Trang 36

Ở đây chúng tôi soạn thảo một hệ thống câu hỏi theo phương pháp trắcnghiệm khách quan nhiều lựa chọn cho chương “Sóng cơ và sóng âm”, mỗicâu hỏi có 4 lựa chọn trong đó chỉ có một lựa chọn đúng Các mồi được xâydựng trên sự phân tích những sai lầm của học sinh khi học chương này.

Trong hệ thống các câu hỏi có thể dùng để làm bài kiểm tra 15 phút,một tiết hoặc các bài kiểm tra đầu giờ, cuối giờ để đánh giá chất lượng kiếnthức học sinh trong khi học hoặc sau khi học chương " Sóng cơ và sóng âm ".Tuỳ mục đích kiểm tra và đối tượng kiểm tra mà giáo viên chọn số lượng vàcâu hỏi cụ thể nào Có thể dùng hệ thống câu hỏi như là các bài tập giao chohọc sinh để họ tự kiểm tra, đánh giá kết quả học của bản thân

Nghiên cứu về cách phân loại các hoạt động nhận thức vận dụng vàophạm vi nghiên cứu đề tài chúng tôi chỉ quan tâm đến 3 trình độ nhận thức:Nhận biết,thông hiểu, vận dụng

2.4.1 Bảng ma trận nội dung và tiêu chí dạy học ở chương " Sóng cơ và sóng âm " (Xem phụ lục 1)

2.4.2 Bảng phân bố câu hỏi theo mục tiêu dạy học

Trang 37

I.Sóng cơ và sự truyền sóng cơ

A Nhận biết:

Câu1 Chọn định nghĩa đúng cho sóng cơ :

A.Sóng cơ là sự truyền chuyển động của các phần tử trong một môi trường B.Sóng cơ học là sự dao động của môi trường vật chất

C.Sóng cơ là dao động lan truyền trong một môi trường

D.Sóng cơ là sóng trên mặt nước

*Mục đích: Kiểm tra định nghĩa về sóng cơ học.

*Hướng dẫn: Học sinh cần thuộc được định nghĩa của sóng cơ học là có thể chọn phương án đúng là C

Câu 2 Xét 2 điểm A và B nằm trên cùng phương truyền sóng do một nguồn

sóng gây ra có AB = d và k là một số nguyên thì:

A Hai điểm A, B dao động ngược pha khi d = ( 2k + 1) ở

B Hai điểm A, B dao động cùng pha khi: d  k2

C Hai điểm A, B dao động vuông pha khi d  k4

D Hai điểm A, B dao động vuông pha khi

4 ) 1 2

*Hướng dẫn: Học sinh chỉ cần nhớ trên phương truyền sóng:

+Hai điểm cách nhau khoảng d = kở thì dao động cùng pha.

+ Hai điểm cách nhau khoảng d =(2k + 1)ở/2 thì dao động ngược pha.

+ Hai điểm cách nhau khoảng d = (2k + 1)ở/4 thì dao động vuông pha.

Do đó phương án đúng là D.

Câu 3 Chọn phát biểu đúng:

Trang 38

A.Chu kỳ sóng tại một điểm trong môi trường có sóng truyền qua là T = 2

với ự là tần số góc của dao động tại điểm đó

B Đại lượng nghịch đảo của tần số góc gọi là chu kỳ của sóng

C Chu kỳ sóng được tính bằng công thức T = v

D Chu kì của các phần tử có sóng truyền qua gọi là chu kì của sóng

* Mục đích: Kiểm tra kiến thức về đại lượng chu kỳ sóng cơ học

*Hướng dẫn: Học sinh chỉ cần nhớ được công thức tính chu kì sóng sẽ chọn

phương án đúng là A.

Câu 4 Chọn câu đúng:

A Sóng dọc là sóng truyền dọc theo một sợi dây

B Sóng dọc là sóng truyền theo phương thẳng đứng,còn sóng ngang là sóngtruyền theo phương nằm ngang

C Sóng dọc là sóng truyền theo trục tung,còn sóng ngang là sóng truyền theotrục hoành

D Sóng dọc là sóng trong đó phương dao động của các phần tử môi trườngtrùng với phương truyền sóng

*Mục đích: Kiểm tra kiến thức về sóng dọc.

*Hướng dẫn: Học sinh chỉ cần nhớ được định nghĩa về sóng dọc sẽ chọn phương án đúng là D.

Câu 5 Sóng truyền theo một phương từ M đến N với MN = d Độ lệch pha

Trang 39

trễ pha hơn M nên độ lệch pha giữa N và M là 2 d

C Không chuyển dời theo sóng chỉ dao động quanh vị trí cân bằng của nó

D Dao động vuông góc với phương truyền sóng

* Mục đích: Kiểm tra trình độ hiểu về bản chất của quá trình truyền sóng.

*Hướng dẫn: Học sinh cần nắm vững quá trình truyền sóng là quá trình truyền pha dao động, bản thân các phần tử của môi trường chỉ dao động tại chỗ quanh vị trí cân bằng thì sẽ chọn phương án đúng là C.

Câu 8 Một sóng truyền trên mặt nước có bước sóng  4m Khoảng cáchgiữa hai điểm gần nhau nhất trên phương dao động ngược pha nhau là:

*Mục đích: Kiểm tra trình độ hiểu của học sinh về sóng dao động ngược pha.

*Hướng dẫn: Học sinh chỉ cần nhớ rằng hai điểm cách nhau khoảng

d =(2k + 1)ở/2 thì dao động ngược pha sẽ chọn được đáp án đúng là D.

Câu 9 Ném hòn sỏi xuống mặt nước yên lặng, trên mặt nước có sóng lan

truyền vì:

Trang 40

A Các phần tử nước hút nhau

B Các phần tử nước đẩy nhau

C Giữa các phần tử nước có lực liên kết

D Các phần tử nước chạy trên mặt nước

*Mục đích : Kiểm tra trình độ hiểu về nguyên nhân gây ra sự truyền từ phần

tử này sang phần khác.

*Hướng dẫn: Học sinh hiểu được bản chất của sự truyền sóng là sự truyền pha dao động từ phần tử này sang phần tử khác Nguyên nhân của sự truyền pha dao động từ phần tử này sang phần tử khác trong môi trường có sóng truyền qua là do giữa các phần tử của môi trường có lực liên kết, chọn phương án đúng là C.

Câu 10 Xét sóng cơ học truyền trong một môi trường vật chất Nếu tần số

của nguồn phát sóng tăng gấp đôi thì bước sóng :

A Tăng gấp đôi B Giảm 2 lần C Không đổi D Giảm 4lần

*Mục đích: Kiểm tra trình độ hiểu của học sinh về sự phụ thuộc của bước sóng vào tần số của nguồn phát sóng.

*Hướng dẫn: Học sinh chỉ cần nhớ được công thức v = ở.f, mà trong một môi trường thì v = const nên khi tần số tăng hai lần thì bước sóng giảm hai lần Đáp án đúng là B.

Câu 11 Hình ảnh của sợi dây khi có sóng truyền qua ở một

thời điểm nào đó có dạng như hình vẽ Sóng truyền:

A Từ A đến B B Từ B đến A

C Từ O đến C D Thẳng đứng từ dưới lên

*Mục đích: Kiểm tra trình độ hiểu của học sinh về chiều

truyền của sóng trong trường hợp cụ thể sóng truyền theo một phương.

*Hướng dẫn: Học sinh cần nắm được sự truyền pha dao động: Phần tử M đi lên ở vị trí cao nhất sẽ làm cho các phần tử lân cận cũng đi lên theo nhưng

AB

v

M

Hình 1

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương " Sóng cơ và sóng âm " - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
2.1.2. Sơ đồ cấu trúc nội dung của chương " Sóng cơ và sóng âm " (Trang 31)
2.4.1. Bảng ma trận nội dung và tiêu chí dạy học ở chương " Sóng cơ và   sóng âm " (Xem phụ lục 1) - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
2.4.1. Bảng ma trận nội dung và tiêu chí dạy học ở chương " Sóng cơ và sóng âm " (Xem phụ lục 1) (Trang 35)
Câu 14. Hình ảnh dưới đây là dạng sóng mặt nước nhìn theo phương vuông - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
u 14. Hình ảnh dưới đây là dạng sóng mặt nước nhìn theo phương vuông (Trang 41)
Bảng 3.1. Điểm thô và điểm chuẩn (qui tròn- QT) 11 bậc của học sinh - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
Bảng 3.1. Điểm thô và điểm chuẩn (qui tròn- QT) 11 bậc của học sinh (Trang 70)
Bảng 3.2. Tần số, tần suất điểm chuẩn bài làm của học sinh Các loại - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
Bảng 3.2. Tần số, tần suất điểm chuẩn bài làm của học sinh Các loại (Trang 72)
Bảng 3.3. Phân bố các loại điểm - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
Bảng 3.3. Phân bố các loại điểm (Trang 73)
Bảng 3.4. Đánh giá mức độ đạt được kiến thức và kỹ năng học sinh theo  mục - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
Bảng 3.4. Đánh giá mức độ đạt được kiến thức và kỹ năng học sinh theo mục (Trang 74)
Bảng 3.5. Đánh giá câu trắc nghiệm qua chỉ số độ khó, độ phân biệt của 64 - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
Bảng 3.5. Đánh giá câu trắc nghiệm qua chỉ số độ khó, độ phân biệt của 64 (Trang 76)
Phụ lục 1: Bảng ma trận nội dung và tiêu chí dạy học chơng " Sóng cơ và - Xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng kiểm tra   đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh trung học phổ thông trong dạy học chương  sóng cơ và sóng âm vật lý 12
h ụ lục 1: Bảng ma trận nội dung và tiêu chí dạy học chơng " Sóng cơ và (Trang 95)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w