Cũng giống như các cây trồng khác, năng suất phụ thuộcnhiều yếu tố: giống, phân bón, chế độ chăm sóc, thời tiết, khí hậu,… Để sinhtrưởng , phát triển và cho năng suất, cây đậu tương cũng
Trang 1- -VÕ THỊ THU GIANG
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ YẾU TỐ DINH DƯỠNG CHÍNH HẠN CHẾ NĂNG SUẤT GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐVN6
TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC
KHOA NÔNG LÂM NGƯ THUỘC XÃ NGHI PHONG,
NGHI LỘC, NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC
VINH - 2011
Trang 2- -XÁC ĐỊNH MỘT SỐ YẾU TỐ DINH DƯỠNG CHÍNH HẠN CHẾ NĂNG SUẤT GIỐNG ĐẬU TƯƠNG ĐVN6
TẠI TRẠI THỰC NGHIỆM NÔNG HỌC
KHOA NÔNG LÂM NGƯ THUỘC XÃ NGHI PHONG,
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp là sản phẩm của quá trình lao động khoa học không biếtmệt mỏi của chúng tôi Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học dotôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo KS Nguyễn Hữu Hiền
Những kết quả đạt được đảm bảo tính chính xác và trung thực về khoahọc Số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từngđược công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác ở trong nước và ởnước ngoài
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự trích dẫn và giúp đỡ trong khóa luận này
đã được thông tin đầy đủ và trích dẫn chi tiết và chỉ rõ nguồn gốc Nếu sai, tôixin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước tổ bộ môn Nông học và Nhà trường
Tác giả
Võ Thị Thu Giang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp ngoài sự nổ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự hướng dẫn và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể.
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
KS Nguyễn Hữu Hiền đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện cũng như hoàn thành khóa luận.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ khoa Nông Lâm Ngư, trường Đại học Vinh đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện khóa luận.
Sự thành công của khóa luận còn có sự động viên khích lệ quý báu của gia đình và bạn bè.
Tất cả sự giúp đỡ trên đây là điều kiện tốt để tôi hoàn thành tốt đề tài khóa luận của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Vinh, tháng 7 năm 2011
Tác giả
Võ Thị Thu Giang
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU vii
DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và yêu cầu của nghiên cứu đề tài 3
3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 5
1.1.1 Cơ sở khoa học 5
1.1.2 Cơ sở thực tiễn 6
1.2 Yếu tố hạn chế và định luật yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây trồng 7
1.3 Tình hình sản xuất đậu tương 9
1.3.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 9
1.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 12
1.4 Tình hình nghiên cứu phân bón cho đậu tương 15
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu 18
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 18
2.2 Phương pháp nghiên cứu 18
2.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 18
2.2.2 Quy trình kĩ thuật và chăm sóc cây đậu tương 19
Trang 62.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 20
2.3.1 Xác định chiều cao thân chính 20
2.3.2 Xác định diện tích lá và chỉ số diện tích lá 21
2.3.3 Tích luỹ chất khô 21
2.3.4 Xác định số lượng nốt sần 22
2.3.5 Đánh giá mức nhiêm sâu bệnh hại của các công thức thí nghiệm 22
2.3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 23
2.4 Phương pháp xử lý số liệu 24
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
3.1 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng đến chiều cao cây 25
3.2 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng đến diện tích lá và chỉ số diện tích lá 28
3.3 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng đến khả năng tích lũy chất khô .31
3.4 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng đến khả năng hình thành nốt sần 34
3.5 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng đến khả năng chống chịu sâu bệnh 36
3.5.1 Mật độ nhiễm sâu hại 37
3.5.2 Mức độ nhiễm bệnh hại 38
3.6 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng đến các yếu tố cấu thành năng suất ở các công thức thí nghiệm 38
3.6.1 Số cành cấp 1/ cây 39
3.6.2 Số quả/ cây 40
3.6.3 Tỷ lệ quả chắc 40
3.6.4 Tỷ lệ quả 1 hạt, 3 hạt 40
3.6.5 Khối lượng 100 hạt 41
Trang 73.7 Ảnh hưởng của sự thiếu hụt dinh dưỡng đến năng suất ở các công
thức thí nghiệm 41
3.7.1 Năng suất cá thể 43
3.7.2 Năng suất lý thuyết 43
3.7.3 Năng suất thực thu 43
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
Kết luận 44
Kiến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ CÁI VIẾT TẮT
V3 : Thời kỳ cây có 4 lá thật
V5 : Thời kỳ cây có 6 lá thật
R3 (BĐHTQ) : Thời kỳ bắt đầu hình thành quả R5 (BĐHTH) : Thời kỳ bắt đầu hình thành hạtR7 (BĐC) : Thời kỳ bắt đầu chín
CT : Công thức
LA : Diện tích lá
LAI : Chỉ số diện tích lá
NSCT : Năng suất cá thể
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
P100 : Khối lượng 100 hạt
Trang 9cả nước 15Bảng 3.1 Chiều cao thân chính của các công thức qua các thời kỳ
sinh trưởng 26Bảng 3.2 Diện tích lá và chỉ số diện tích lá của giống đậu tương ĐVN6
qua các thời kỳ 29Bảng 3.3 Khối lượng chất khô ở các công thức thí nghiệm qua các
thời kỳ 32Bảng 3.4 Khả năng hình thành nốt sần qua các thời kỳ ở các công thức
thí nghiệm 35Bảng 3.5 Tình hình sâu bệnh hại ở các công thức thí nghiệm 37Bảng 3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và việc bón thiếu hụt một số
yếu tố dinh dưỡng chính 39Bảng 3.7 Năng suất giống đậu tương ở các công thức thí nghiệm 42
Trang 10DANH MỤC ĐỒ THỊ, BIỂU ĐỒ
Đồ thị 3.1 Chiều cao thân chính của các công thức qua các thời kỳ 26
Đồ thị 3.2 Sơ đồ biểu thị diện tích lá của các công thức qua các thời kỳ 30
Đồ thị 3.3 Số lượng nốt sần ở các công thức qua các thời kỳ sinh trưởng
35Biểu đồ 3.1 Khả năng tích lũy chất khô ở các công thức qua các thời kỳ 33Biểu đồ 3.2 Năng suất của ở các công thức thí nghiệm của giống đậu
tương ĐVN6 42
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây đậu tương (Glycine Max (L) Merrill) còn được gọi là cây đậu nành
thuộc nhóm cây ngắn ngày, là một trong số những cây trồng có từ lâu đời nhấtcủa nhân loại Đây là cây trồng có rất nhiều giá trị như giá trị dinh dưỡng, giá trịkinh tế, giá trị trong y học, giá trị cải tạo đất…
Hạt đậu tương có thành phần dinh dưỡng cao, hàm lượng Protein bìnhquân từ 35,5 - 40%, lipit từ 12 - 24%, hydrat các bon từ 10 - 16%; Trong khi đóProtein của gạo tẻ chỉ đạt 6,2 - 12%; Protein của ngô 9,8 - 13,2%; P của thịt bò21%; P thịt gà 20%; P Cá 17 - 20%; P trứng 13 - 14,8% Protein có giá trị caokhông những về hàm lượng dinh dưỡng lớn mà nó còn đầy đủ và cân đối các loạiaxit amin cần thiết, đặc biệt giàu lizin và triptophan (là hai loại axit amin khôngthay thế cần thiết cho cơ thể người và gia súc) Trong hạt đậu tương còn có khánhiều loại Vitamin: B1, B2, PP, A, E, D, C…và các loại muối khoáng Như vậy,Protein của đậu tương có phẩm chất tốt nhất trong các prôtein có nguồn gốc thựcvật, cao hơn ở cá, thịt và co hơn gấp 2 lần hàm lượng protein trong các loại đậu
đỗ khác, nó được xem là nguồn phục vụ thiết yếu đời sống con người [9]
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cây đậu tương còn có nhiềugiá trị trong y học Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ rất cao các axit béo chưa
no có hệ số động hóa cao, mùi vị thơm ngon Dùng dầu đậu tương thay mỡ độngvật có thể tránh được xơ mỡ động mạch Ngày nay người ta mới biết thêm tronghạt đậu tương có chứa thêm chất lexithin, cazein có tác dụng làm cơ thể trẻ lâu,sung sức, làm tăng thêm trí nhớ và tái sinh mô, cứng xương và tăng sức đề khángcho cơ thể Hạt đậu tương không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho con người mà
nó còn có tác dụng về mặt y học chữa các bệnh bẩm sinh ở trẻ em, bệnh đứtmạch máu não, đái đường, béo phì… Đặc biệt hạt đậu tương đen, có tác dụng rấttốt cho tim, thận, dạ dày, ruột, người mới ốm dậy hoặc lao động quá sức… [9]
Thân lá cây đậu tương có thể dùng làm thức ăn gia súc, gia cầm rất tốt.Khô dầu đậu tương làm nguyên liệu chế biến thức ăn tinh bột giàu đạm ngày
Trang 12càng được đánh giá cao trong công nghiệp chế biến thức ăn gia súc, gia cầm.Trong công nghiệp, sản phẩm của đậu tương được sử dụng để làm xi, sơn, mực
in, chế biến xà phòng, chất dẻo, cao su nhân tạo, len nhân tạo, thuốc trừ sâu, chấtlỏng bôi trơn trong nghành hàng không, [8]
Đậu tương không chỉ là cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây thức ăn giasúc mà nó còn là cây luân canh cải tạo đất có giá trị kinh tế cao Trồng đậu tương
có tác dụng rõ rệt cải thiện cấu tượng và làm giầu đạm cho đất Cây đậu tương cókhả năng tạo ra nguồn đạm liên kết mà không làm rối loạn cân bằng sinh thái nhờ
sự cộng sinh của vi khuẩn nốt sần với hệ rễ đậu tương Cây đậu tương có khảnăng cố định 50 - 70 kg N/ ha/ năm [5], mặt khác sau khi thu hoạch phần thân lá
để lại có tác dụng làm tơi xốp tăng độ phì cho đất có hiệu quả rất lớn cho câytrồng sau Bởi vậy trồng cây đậu tương có tác dụng tích cực trong việc cải tạo vàbồi dưỡng đất
Với những ưu thế như trên kết hợp thời gian sinh trưởng ngắn đáp ứngđược yêu cầu luân canh, tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trong sản xuất làm
đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo hướng bềnvững Cây đậu tương ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong nền nôngnghiệp của thế giới cũng như của Việt Nam Chính vì vậy cần tạo được nhữngđiều kiện thuận lợi nhất cho cây đậu tương sinh trưởng phát triển tốt, trong đó cóyếu tố dinh dưỡng Cũng giống như các cây trồng khác, năng suất phụ thuộcnhiều yếu tố: giống, phân bón, chế độ chăm sóc, thời tiết, khí hậu,… Để sinhtrưởng , phát triển và cho năng suất, cây đậu tương cũng đòi hỏi được bón phânmột cách cân đối và phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của cây
Việc bón phân hiện nay của nhiều hộ nông dân phần lớn phụ thuộc vàotrình độ thâm canh, kinh nghiêm, khả năng về vốn, nhìn chung còn mất cân đối
và chưa hợp lý Việc thừa hay thiếu các yếu tố dinh dưỡng là nguyên nhân hàngđầu hạn chế năng suất Bón phân cân đối và hợp lý là một trong những biện phápgóp phần nâng cao sản lượng cây trồng
Trang 13Xuất phát từ những thực tiễn trên đồng thời để góp phần xây dựng cơ sở
cho một quy trình phân bón cân đối, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Xác
định một số yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống đậu tương ĐVN6 tại trại thực nghiệm nông nghiệp khoa Nông Lâm Ngư thuộc xã Nghi Phong, Nghi Lộc, Nghệ An”
2 Mục đích và yêu cầu của nghiên cứu đề tài
2.1 Mục đích
Từ kết quả nghiên cứu xác định được một số yếu tố dinh dưỡng chính hạnchế năng suất của giống đậu tương ĐVN6 trong điều kiện của vùng sản xuấtnhằm sử dụng phân bón cân đối, hợp lý, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân
Đặc tính chủ yếu: Giống đậu tương ĐVN6 có thời gian sinh trưởng trungbình từ 90 - 92 ngày ở vụ xuân, 84 - 86 ngày ở vụ hè và vụ đông, có thể trồngđược cả 3 vụ xuân, hè và đông Giống sinh trưởng khỏe, cứng cây, chiều cao từ
40 - 60 cm, chống đổ và chống bệnh tốt, khối lượng 1000 hạt là 170 -180 gam.ĐVN6 nổi bật ở hàm lượng protein trong hạt rất cao, đạt khoảng 41,69 % GiốngĐVN6 được công nhận sản xuất thử theo quyết định số 1096 QĐ/ BNN-TT, ngày
Trang 1420/4/2007 Giống đã được đem ra trồng thử nghiệm ở các tỉnh phía Bắc Giống
đã được trồng khảo nghiệm tại huyện Nam Đàn - Nghệ An
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên giống đâu tương ĐVN6 trong vụ xuân 2011 tạitrại thực nghiệm nông học của khoa nông lâm ngư thuộc xã Nghi Phong - NghiLộc- Nghệ An, chỉ giới hạn nghiên cứu ở các yếu tố dinh dưỡng chính là đạm,lân, kali, phân chuồng và vôi
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển: chiều cao cây, diệntích lá, chỉ số diện tích lá, số lượng nốt sần, khả năng tích lũy chất khô
- Nghiên cứu các chỉ tiêu về yếu tố cấu thành năng suất và năng suất ở cáccông thức thí nghiệm
- Nghiên cứu về khả năng chống chịu sâu bệnh ở các công thức thí nghiệm
4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Đậu tương là cây trồng có rất nhiều giá trị đặc biệt là giá trị dinh dưỡng rấtcao Nghiên cứu đề tài có ý nghĩa khoa học rất cao trong cung cấp các dữ liệu khoahọc để có biện pháp thâm canh năng suất đậu tương đồng thời phục vụ cho cácngành công nghiệp thực phẩm và sản xuất các mặt hàng thực phẩm hàng ngày
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng trong việctìm ra yếu tố dinh dưỡng chính hạn chế năng suất giống đậu tương ĐVN6 đểnhằm bổ sung, điều chỉnh yếu tố dinh dưỡng đó hơp lý để giúp cây sinhtrưởng phát triển tốt và đem lại năng suất cao cho người trồng Kết quả đề tàilàm cơ sở khoa học cho việc khuyến cáo người dân bón phân cân đối hợp lícho cây đậu tương
Trang 15CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học
Cây trồng cũng như các loài sinh vật khác, có nhu cầu đối với các chấtdinh dưỡng thường xuyên, suốt đời Vì vậy, để cho cây có thể sử dụng tốt cácloại phân bón thì cần chia ra bón nhiều lần và bón vào lúc cây hoạt động mạnh.Bón tập trung vào một lúc cây với nồng độ và liều lượng phân bón quá cao, câykhông thể sử dụng hết được, lượng phân bị hao hụt nhiều, thậm chí phân còn cóthể gây ra những tác động xấu đối với cây
Mỗi loại phân có những tác dụng riêng Bón không đúng loại phân khôngnhững phân không phát huy hiệu quả mà còn có thể gây ra những hậu quả xấu.Bón đúng loại phân không những phải tính cho nhu cầu của cây mà còn phải tínhđến đặc điểm và tính chất của đất Ví dụ đất chua không bón các loại phân cótính axit và ngược lại, trên đất kiềm không nên bón các loại phân có tính kiềm
Đạm là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối vơí đậu tương Đạmthường được tích lũy trong giai đoạn đầu của thời kì sinh trưởng dinh dưỡng vànhu cầu cao nhất vào giai đoạn ra hoa, kết quả (Theo apromaco.vn) Đạm giúpcho quá trình hình thành các cơ quan, bộ phận của cây và thúc đẩy hoạt động củacác vi khuẩn nốt sần hoạt động sớm Thiếu đạm cây sinh trưởng chậm và cằn cỗi,
lá bé lại
Lân là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới dinh dưỡng của đậu tương, lân cótác dụng xúc tiến sự phát triển của bộ rễ, nốt sần, hoa và quả Rễ và vi khuẩn nốtsần lấy lân để tăng cường hoạt động cố định đạm Lân là thành phần cấu tạo của
tế bào, giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp Lân tham gia vào thànhphần nucleotit, axit nucleic, photpholipit, góp phần trong quá trình trao đổigluxit, thúc đẩy quá trình quang hợp và hô hấp ( theo apromaco.vn) Thiếu lânlàm thân cây nhỏ, sinh trưởng chậm, lá hẹp, đầu lá nhọn và cong lên có màu xanh
Trang 16tối, mặt lá có những chấm nâu, nếu thiếu nghiêm trọng làm thân có màu đỏ, hoaquả thưa thớt, nhưng nếu quá thừa lân sẽ gây hiên tượng thiếu kẽm.
Kali giúp cho quá trình quang hợp, các hoạt động của enzim, tăng hàmlượng tinh bột trong hạt sau này Kali có vai trò đặc biệt quan trọng trong quátrình trao đổi đạm, trong chuyển hóa gluxit cũng như hàng loạt các phản ứng traođổi khác trong cây, điều hòa quá trình cân bằng nước, tổng hợp protein, tăng khảnăng chống chịu sâu bệnh, chịu lạnh và chống đổ Thiếu kali sẽ làm chậm hàngloạt các quá trình hóa sinh, làm xấu đi hầu như tất cả các mặt của quá trình traođổi chất Thiếu kali thường dẫn tới mép lá bị cháy, lá chuyển màu vàng, lá bịcong lên phía trên ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng hạt thương phẩm.( theoapromaco.vn)
Phân chuồng là loại phân có thể trả lại hầu hết các nguyên tố vi lượng chođất, làm phong phú thêm tập đoàn vi sinh vật trong đất Các chất hữu cơ sau khimùn hóa làm tăng khả năng trao đổi của đất, do vậy nó làm tăng tính đệm cho đất[14] Phân chuồng làm tăng độ mùn trong đất, duy trì và tăng cường độ màu mỡcủa đất làm đất có cấu tượng tốt, giữ ẩm và thoát nước tốt, tăng độ xốp của đất,tạo điều kiện thuận lợi cho việc cung cấp dưỡng khí và hoạt động của vi khuẩncộng sinh cố định đạm Vai trò của phân hữu cơ càng thể hiện rõ trên chân đất 3vụ/năm, vì chân đất này cần hàm lượng mùn rất lớn
Canxi là yếu tố có tác dụng khống chế PH của đất đồng thời là yếu tố dinhdưỡng cần thiết đối với cây đậu tương Ở PH thích hợp, chúng ngăn ngừa sự gâyđộc của nhôm và các yếu tố gây độc khác, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngcủa vi khuẩn nốt sần và làm tăng hiệu quả của các yếu tố khác
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Nghệ An là tỉnh có khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao, mùa mưa bão kéo dài,kèm theo các quá trình khoáng hóa diễn ra mạnh mẽ làm cho đất bị xói mòn, rửatrôi dẫn đến thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng nên không đủ cung cấp cho câytrồng Do vậy việc bón phân cho đất là rất cần thiết khi muốn tăng năng suất câytrồng
Trang 17Trên thực tế ngay từ khi mới ra đời, phân bón đã tác động thúc đẩy nhanhquá trình sinh trưởng, phát triển và làm tăng năng suất các loại cây trồng Việc sửdụng phân bón giúp con người có nhiều lợi ích như tăng năng suất, tiết kiệmngày công và sức lao động… Cho đến nay tác dụng ưu việt của phân bón đối vớicây trồng cũng được con người phát huy và sử dụng rộng rãi trong trồng trọt.
Cây đậu tương là cây trồng có nhiều giá trị, đặc biệt là giá trị dinh dưỡngrất cao Việc nghiên cứu tìm ra các yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất đậutương để bổ sung, điều chỉnh các yếu tố dinh dưỡng phù hợp cho cây là vấn đề có
ỹ nghĩa thiết thực để giúp cây đạt năng suất cao
1.2 Yếu tố hạn chế và định luật yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây trồng
Định luật yếu tố dinh dưỡng hạn chế năng suất cây trồng được Liebig pháthiện năm 1840 như sau [13]: “Năng suất cây trồng tỉ lệ với yếu tố phân bón có tỉ
lệ thấp nhất so với yêu cầu cây trồng”
Khi cây trồng không phát triển hay phát triển không bình thường thì câytrồng đó không cho năng suất hay cho năng suất thấp hơn so với bình thường,hoặc không đạt chỉ tiêu về chất lượng, ta nói đất đó có yếu tố hạn chế Cónhững loại đất rất phì nhiêu, xét về độ phì nhiêu tự nhiên nhưng lại quá thiếumột chất dinh dưỡng nào đó làm cho các chất dinh dưỡng khác không phát huyđược Ví dụ trong đất phèn nói chung, hữu cơ và đạm không thiếu, bản chất đấtphèn cũng là đất phù sa nên vẫn chưa phải là khủng hoảng kali, đặc tính của đấtphèn là nghèo lân, nếu bón lân, năng suất sẽ tăng vọt Hay lâu nay nông dânthường hay dùng ure và lân nung chảy bón cho lạc và đậu, như vậy đất đã bắtđầu thiếu lưu huỳnh, nếu bón đạm sunphat hay ure, bón supe lân hay nung chảyhoặc bón kali sunphat sẽ thấy năng suất tăng lên rõ ràng Như vậy, sự thiếu hụtmột số chất dinh dưỡng này hay chất dinh dưỡng khác sớm muộn cũng dẫn tớiyếu tố hạn chế
Việt Nam là nước nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa nên đất thườngrất chua, thiếu lân hay khả năng cố định lân cao, thiếu kali, magie và lưu huỳnh ởnhững vùng đất ẩm Đất có khả năng hấp thụ và lưu trữ chất dinh dưỡng thấp,
Trang 18thiếu đạm, mặc dù các chất hữu cơ chóng bị vô cơ hóa [3] Ở Việt Nam hơn mộtnửa diện tích đất trồng trọt có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp, có những yếu tốcần khắc phục như độ chua, hàm lượng nhôm, độ mặn và kiềm cũng như khảnăng giữ chất dinh dưỡng kém Trong số các thiếu hụt về chất dinh dưỡng trongđất Việt Nam lớn nhất và quan trọng nhất là thiếu hụt về đạm, đất phèn chiêmtrũng thiếu lân trầm trọng, đất bạc màu, đất xám ngoài việc nghèo đạm, lân cònnghèo kali trầm trọng Đất đỏ bazan, đất cát biển thiếu lưu huỳnh rõ rệt [13] Đâycũng là những chất dinh dưỡng mà cây trồng hấp thụ với lượng lớn nhất và sẽ chiphối hướng sử dụng phân bón Trong các vùng đất chua, sự thiếu hụt magiê,canxi cũng trở nên quan trọng
Hầu hết đất trồng trọt của Việt Nam có cân bằng dinh dưỡng âm Việchoàn trả không đầy đủ về số lượng các chất dinh dưỡng ở dạng vô cơ và hữu cơ
đã làm cho đất triệt màu khá rõ, đây cũng là nguyên nhân xuất hiện yếu tố dinhdưỡng hạn chế
Những sự thiếu hụt đó của đất là hậu quả của quá trình xói mòn, rửa trôi
và sự hoàn trả không đầy đủ các chất dinh dưỡng mà nông sản đã lấy đi quamôt thời gian dài đó là yếu tố hạn chế thiếu Yếu tố hạn chế cũng xuất hiện khinồng độ một chất hóa học vượt quá ngưỡng cho phép đã trở thành độc tố thìcũng hạn chế sự phát triển của cây trồng, thậm chí không cho thu hoạch, trongtrường hợp này người ta gọi là yếu tố hạn chế thừa Những nguyên nhân xuấthiện yếu tố hạn chế:
-Hậu quả của quá trình thổ nhưỡng tự nhiên
- Bón quá ít hoặc không bón một yếu tố dinh dưỡng
- Các giống năng suất cao đã hút đi từ đất một lượng lớn các chất dinhdưỡng nhưng không được hoàn trả lại một cách đúng mức
- Bón cố định một loại phân
- Những quá trình hóa học và sinh học tích lũy độc tố mới xảy ra trong đất Trên cùng một địa điểm có thể xuất hiện cùng một lúc nhiều yếu tố hạnchế nhưng không thể khắc phục được triệt để nếu không tìm ra yếu tố đứng đầu
Trang 19Đối với các chất giàu mùn, giàu đạm thì yếu tố hạn chế được khắc phục theo quyluật cân đối lân - đạm, với các đất mà tỉ lệ đạm trung bình hoặc thấp thì vai tròyếu tố hạn chế được khắc phục theo quy luật tối thiểu nghĩa là lân ít thì bón lân ắtphải có bội thu cao.
Hiện tại trong thực tế sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, sau khi yếu tốhạn chế năng suất chính là đạm đã được giải quyết thì lân nổi lên là yếu hạn chếnăng suất trong suốt 3 thập kỉ và hiện tại vẫn còn là yếu tố hạn chế trên nhiều loạiđất Riêng kali tuy mới được coi là yếu tố hạn chế năng suất trên một số loại đất,một vài loại cây trồng song do lượng hút canxi ngày càng lớn và tốc độ ngàycàng cao, thậm chí cao hơn đạm thì kali cũng sẽ sớm trở thành yếu tố hạn chếnăng suất cây trồng ở Việt Nam.[12]
Tuy nhiên định luật yếu tố hạn chế năng suất cây trồng có thể mở rộngđối với các yếu tố ngoại cảnh khác như nhiệt độ, ánh sáng vì mặc dù các yếu tốphân bón đầy đủ nhưng thiếu nước thì việc cung cấp nước sẽ quyết định mứcnăng suất cây trồng Nhiệm vụ của nhà trồng trọt là phải tìm ra được yếu tố hạnchế, yếu tố hạn chế này được giải quyết thì lại phát sinh yếu tố hạn chế mới.Muốn đầy đủ và cung cấp cho việc bón phân có hiệu quả thì định luật này phảiđược mở rộng như sau: “Năng suất cây trồng phụ thuộc vào chất dinh dưỡng nào
có hàm lượng dễ tiêu thấp nhất so với yêu cầu cây trồng”[13]
1.3 Tình hình sản xuất đậu tương
1.3.1.Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Do khả năng thích ứng rộng và nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, hiệnnay cây đậu tương đã được trồng ở 78 nước trên thế giới của các châu lục Đậutương được trồng tập trung nhiều nhất ở châu Mỹ tiếp đến là châu Á
Về vị trí gieo trồng trên thế giới, đậu tương đứng vị trí hàng đầu trong cáccây họ đậu: 52 triệu ha ( Ngô Thị Đào, 1997) [2]
Sản lượng đậu tương của thế giới tính đến năm 2009 là 259,7 triệu tấntăng 53,7 triệu tấn so với năm 2008 Trong đó lượng đậu tương dùng để ép lấy
Trang 20dầu là 205,61 triệu tấn, lượng còn lại dùng để làm thực phẩm cho con người vàchế biến thức ăn cho gia súc (nguồn agro.vn)
Cây đậu tương đã trở thành một trong 4 cây trồng chính đứng sau lúa mì,lúa nước và ngô Trong những năm gần đây cây đậu tương có tốc độ tăng trưởngnhanh cả về diện tích, năng suất và sản lượng
Theo tài liệu thống kê của tổ chức Nông lương thế giới FAO (2008) tìnhhình sản xuất đậu tương trong những năm gần đây trên thế giới ngày càng được
Sản lượng(triệu tấn)
Các nước sản xuất đậu tương lớn trên thế giới là: Mỹ, Achentina, Brazin
và Trung Quốc Nước có nhiều diện tích đậu tương nhất là Mỹ Nhờ các phương pháp chọn lọc và nhập nội, gây đột biến và lai tạo, họ đã tạo ra được những giốngđậu tương mới
Theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ năm 2008 diện tíchtrồng cây đậu tương chuyển gen tại Hoa Kỳ chiếm 92% trong tổng diện tích
Trang 21trồng đậu tương trên cả nước Đậu tương chuyển gen được người dân Mỹ sửdụng nhiều Hàng năm khoảng 70 triệu tấn bột đậu tương là có nguồn gốc từ đậutương chuyển gen được dùng làm thức ăn chăn nuôi (Báo nông nghiệp 2009).Bảng 1.2 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của một số quốc gia
sản xuất đậu tương lớn trên thế giới
Nước
Diện tích(triệu ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(triệu tấn)
2005 2006 2007 2005 2006 2007 2005 2006 2007Thế giới 91,39 92,98 94,90 22,93 23,82 22,78 209,53 221,50 216,14
Mỹ 28,84 30,20 30,56 28,76 28,70 23,14 82,82 86,12 70,71Braxin 22,89 20,70 20,64 21,92 28,50 28,20 50,19 59,00 58,20Acghentina 14,04 15,22 16,10 27,28 26,60 28,26 38,30 40,50 45,50Trung Quốc 9,50 9,26 8,90 17,79 17,05 17,53 16,90 16,20 15,60
(Nguồn: FAOSTAT, 2008)
Qua bảng trên ta thấy, Mỹ là nước có diện tích và sản lượng đậu tương lớnnhất thế giới Năm 2007 diện tích trồng đậu tương của Mỹ đạt 30,56 triệu hachiếm 32% diện tích đậu tương thế giới Sản lượng đậu tương của Mỹ năm 2007
là 70,71 triệu tấn chiếm 33% tổng sản lượng đậu tương của thế giới
Sau Mỹ hai nước sản xuất đậu tương lớn là Brazin và Argentina Diện tíchtrồng đậu tương của Argentina năm 2007 đạt 16,1 triệu ha, tăng 880 nghìn ha so vớinăm 2006 (15,22 triệu ha) Trong khi đó diện tích của Brazin có giảm nhẹ: năm
2006 là 20,70 triệu ha đến 2007 còn 20,64 triệu ha Năng suất đậu tương của Brazin
và Argentina khá cao đạt 28,5 tạ/ha (Brazin) và 26,60 tạ/ha (Argentina)
Nhìn chung, sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây có nhiềubiến động do tác động của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật…Hiện nay đậu tươngbiến đổi gen, kháng thuốc diệt cỏ, kháng sâu bệnh đang được mở rộng diện tích,đặc biệt ở Mỹ, Argentina, Úc, Braxin, Canada, Anh, Trung Quốc, Nhật Bản,…
Ở châu Á, các nước có diện tích sản xuất đậu tương chỉ tương đương vớidiện tích sản xuất đậu tương của Brazin nhưng sản lượng mới chỉ đạt xấp xỉ
Trang 2250% của Brazin, có sự chênh lệch này là do năng suất của các nước trong khuvực còn rất thấp Ấn Độ 9 - 10 tạ/ha, Việt Nam 13 - 15 tạ/ha, Indonexia 10 - 11tạ/ha Hiện nay sản lượng đậu tương ở châu Á mới đáp ứng được 1/2 nhu cầuđậu tương làm thực phẩm và thức ăn cho chăn nuôi Những nước nhập khẩuđậu tương nhiều là: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Triều Tiên, Indonexia,Malaixia, Philippines [12].
1.3.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Ở Việt Nam đậu tương là cây trồng chính sau cây lúa và ngô Hiện naycây đậu tương được quan tâm và đưa vào vị trí xứng đáng trong cơ cấu cây trồng
ở các địa phương trong cả nước
Cây đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày lại không kén đất, có khảnăng trồng luân canh, xen canh, gối vụ ở các mùa trong năm nên ở nước ta diệntích trồng đậu tương ngày một mở rộng và được trồng phổ biến trên khắp cácvùng, miền của cả nước
Là cây trồng đang được quan tâm trong phát triển nông nghiệp, hiện nayViệt Nam đứng thứ 6 ở châu Á về sản xuất đậu tương sau các nước Trung Quốc,
Ấn Độ, Indonexia, Triều Tiên và Thái Lan
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng đậu tương ở Việt Nam
Năm Diện tích (nghìn ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (nghìn tấn)
Trang 23dầu đậu tương (tương đương 2 triệu tấn đậu tương hạt) để chế biến làm thức ănchăn nuôi, ngoài ra còn chưa kể các nguồn nhập khác Đánh giá về tình hình sảnxuất và phát triển cây đậu tương trong nước thời gian qua, theo Niên giám thống
kê 2008 cho thấy: năm 2000 diện tích trồng đậu tương là 124,1 nghìn ha, năngsuất bình quân đạt 12,0 tạ/ha và sản lượng đạt được là 149,3 nghìn tấn đậu tương,đến năm 2005 diện tích tăng lên 204,1 nghìn ha và năng suất bình quân đạt được
là 14,3 tạ/ha (năng suất cao nhất trong khối ASEAN và bằng 66,5% so với năngsuất bình quân của thế giới), sản lượng đạt được là 292,7 nghìn tấn Như vậy sau
5 năm, diện tích đậu tương cả nước đã tăng 80,0 nghìn ha (tăng 64,5%), năngsuất bình quân tăng 2,3 tạ/ha (tăng 19,2%) và sản lượng tăng 143,4 nghìn tấn(gần gấp 2 lần) Từ năm 2006 đến 2008 diện tích có biến động giảm so với cácnăm trước do điều kiện thiên tai ảnh hưởng (bão, úng…), sau đó có xu hướng lạităng dần, nhưng sản lượng đậu tương của cả nước vẫn tương đối ổn định Điều
đó cho thấy khoa học công nghệ mới về giống và kỹ thuật canh tác đối với câyđậu tương của nước ta đã có ảnh hưởng lớn đến sản xuất Tuy vậy, sản lượng đậutương trong nước cũng mới chỉ đáp ứng đủ cho khoảng 15% nhu cầu tại chỗ [14]
Ở nước ta với 7 vùng sinh thái khác nhau, thì vùng ĐBSH có điều kiệnthuận lợi hơn cả cho việc phát triển kinh tế nói chung, nhất là sản xuất nôngnghiệp ĐBSH là vùng có điều kiện thời tiết khí hậu, địa hình, đất đai màu mỡ, thích hợp cho nhiều loại cây, con và gieo trồng được nhiều vụ trong năm, đặcbiệt có mùa đông lạnh càng làm tăng thêm sự phong phú và đa dạng về chủngloại giống Nhiều cây trồng vụ đông đang hình thành các vùng sản xuất hàng hóatập trung với quy mô lớn đem lại nguồn thu nhập cao nhất trong năm, trong đó cócây đậu tương
Về tình hình sản xuất đậu tương của vùng ĐBSH, Niên giám thống kê
2008 cho thấy năm 2006 diện tích là 66,5 nghìn ha, sản lượng đạt 103,0 nghìntấn, đến năm 2007 tăng lên là 66,7 nghìn ha, sản lượng tăng là 106,3 nghìn tấn
và đang được mở rộng, phát triển Đây cũng là vùng đã đạt được năng suất đậutương bình quân cao nhất so với cả nước
Trang 24Về cơ cấu mùa vụ và hệ thống luân canh: Cây đậu tương xuân được gieotrồng chủ yếu trên đất bãi ven sông, trên đất chuyên màu; Vụ hè thường đượcđưa vào tham gia trong hệ thống luân canh cho vùng có lợi thế phát triển cây vụđông sớm, với loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao như: cây rau, hoa, ngô, theo công thức luân canh: Lúa xuân + đậu tương hè (hè thu) + cây vụ đông sớm
và ngô xuân hè + đậu tương hè thu + ngô thu đông; Cây đậu tương được gieotrồng chủ yếu trên đất 2 lúa, theo công thức: Lúa xuân + lúa mùa sớm + đậutương đông Song, cây đậu tương trong hệ thống cây trồng của vùng vẫn chỉmang tính chất là cây trồng phụ, cây để cải tạo đất Cho nên, diện tích đậutương có xu hướng giảm để nhường chỗ cho các cây trồng có giá trị kinh tế caonhư: Cây rau, cây dưa các loại
Cây đậu tương là cây công nghiệp ngắn ngày có thời gian sinh trưởngngắn có khả năng trồng luân canh, xen canh, gối vụ nên ở nước ta diện tích trồngđậu tương ngày một mở rộng và được trồng ở các thời vụ khác nhau trên khắpcác vùng, miền của cả nước tuy nhiên năng suất đậu tương hàng năm của nước tađang còn thấp Nguyên nhân chính do nước ta gặp không ít khó khăn từ nhữngbiến động của thời tiết, sự phá hại của sâu bệnh, bộ giống sản xuất và kỹ thuậtcanh tác
Trang 25Bảng 1.4 Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương một số tỉnh trong cả nước
Tỉnh
Diện tích(nghìn ha)
Năng suất(tạ/ha)
Sản lượng(nghìn tấn)
2005 2006 2007 2005 2006 2007 2005 2006 2007
Cả nước 204,1 185,8 190,1 14,3 13,9 14.6 292,7 258,2 275,1
Hà Tây 27,5 31,8 33,6 15,5 15,0 15,4 42,5 47,7 51, 7
Hà Giang 15,7 15,9 18,2 09,4 08,9 09,5 14,7 14,1 17,3Đắk Nông 15,1 13,7 14,8 19,2 19,5 19,8 29,0 26,7 29,3Đắk Lắk 11,5 9,6 9,9 11,3 10,8 10,3 13,0 10,4 10,2Sơn La 12,1 9,2 9,2 11,2 12,1 12,4 13,6 11,1 11,4Đồng Tháp 11,5 6,7 7,3 20,9 20,9 22,7 24,1 14,0 16,0
(Nguồn: Niên giám thống kê, 2008)
Qua bảng 1.4 cho ta thấy năng suất đậu tương ở các vùng trên cả nướcnhìn chung đang còn thấp Việc sử dụng giống có ảnh hưởng rất lớn đến năngsuất do đó các địa phương chưa sử dụng nhiều về các giống đậu mới và các giốngbiến đổi gen cũng là nguyên nhân trực tiếp làm hạn chế năng suất đậu tương
1.4 Tình hình nghiên cứu phân bón cho đậu tương
Trước đây do kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, khả năng đầu tư để thâmcanh cây trồng còn thấp nên việc bón phân cho cây đậu tương chưa được chú
ý đúng mức Nhưng càng ngày việc cung cấp phân bón cho cây càng đượcchú trọng hơn, chính vì vậy cũng có nhiều nghiên cứu về chế độ bón phâncho đậu tương
Đậu tương là cây họ đậu có khả năng cố định đạm từ khí trời để cung cấpcho cây Do vậy người ta thường bón ít đạm cho đậu tương, khả năng cố địnhđạm của vi khuẩn nốt sần phụ thuộc vào nhiều yếu tố Harper, 1974 thấy rằngviệc cố định đạm (N2) và sử dụng nitrat (NO3) có tầm quan trọng để thu đượcnăng suất tối đa (Ngô Thế Dân và CS, 1999) Tuy nhiên, nếu dư thừa đạm có hạitới năng suất, vì lúc đó sự cố định đạm bị ức chế hoàn toàn Nhiều tác giả chothấy, bón đạm không hợp lý, bón quá nhiều hoặc bón không đúng thời kỳ sẽ ảnh
Trang 26hưởng đến sinh trưởng phát triển và sự hình thành nốt sần Trên thực tế tuỳ theođất đai, điều kiện đầu tư khác nhau, đất giầu dinh dưỡng hay nghèo dinh dưỡng,đất kém thoát nước, đất chua thì bón phân đạm với lượng 50 - 60 N kg/ha.
Về mặt dinh dưỡng, cây đậu tương có nhu cầu không cao lắm, cứ 1 tấn hạtđậu tương cùng với thân lá đã lấy đi lượng dinh dưỡng từ đất: 81kgN/ ha,17kgP2O5, 36kg/ha K2O, tuy đậu tương cần đạm nhiều song lại có khả năngđồng hóa đạm từ không khí thông qua vi khuẩn nốt sần (40 - 50 kg N/ha) nên nhucầu không [1]
Nhiều kết luận đã cho thấy nếu bón đạm không hợp lý, bón quá nhiềuđạm, bón không đúng lúc sẽ làm ức chế sự hình thành và hoạt động của vi khuẩnnốt sần Trên chân đất giàu dinh dưỡng, đáp ứng đủ nhu cầu đạm cho cây, đãtrồng đậu tương vụ trước thì việc bón thêm đạm ít có tác dụng, tuy nhiên trênchân đất mới trồng đậu tương lần đầu và khi trồng không áp dụng biện phápnhiễm khuẩn thì cần bón 50-150kg đạm/ha
Bón lân cho đậu tương là giảm tỷ lệ rụng hoa, rụng quả, tăng tỷ lệ hạtchắc, năng suất rõ rệt (Trần Điền, 2001), làm tăng khả năng cố định đạm của vikhuẩn nốt sần Tuỳ theo điều kiện đất đai người ta có thể bón phân lân cho 1 ha
từ 30 - 100kg P2O5, bón lót cùng với phân chuồng Bón vôi, cho đất chua để đạt
PH = 6 - 6,5 là yếu tố rất quan trọng để sản xuất đậu tương Đất có độ kiềm cao,
PH > 7,5 có ảnh hưởng không tốt đến sản lượng đậu tương, trên các loại đất khácnhau nên bón lượng lân, vôi khác nhau
Cũng như các cây họ đậu khác, đậu tương cần được cung cấp đầy đủ vềlượng và đúng tỷ lệ các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu Việc cung cấp một lượngphân đạm và lân nhất định cho cây đậu tương ngay từ đầu rất có ý nghĩa, vì đây
là những điều kiện cần để giúp vi khuẩn nốt sần hoạt động hiệu quả Tùy từngvùng mà lượng lân và kali có thể khác nhau, song đây là những nguyên tố khôngthể thiếu trong cân đối dinh dưỡng cho đậu tương Về tổng thể đậu tương cần bón
ít đạm hơn lân và kali
Trang 27Theo kết quả nghiên cứu của Tô Văn Thống (1994), Bón kali cho đậutương trên đất bạc màu có hiệu lực cao rõ rệt Bón đơn thuần kali làm tăng năngsuất 45% so với không bón và 31% so với bón NP Hiệu suất kali từ 5,8 đến 15
kg đậu/ kg K2O
Trên những vùng đất từ trung bình đến nghèo dinh dưỡng nên bón từ 5-10tấn/ha Cách bón tốt nhất là bón lót kết hợp làm đất hoặc bón rải theo hàng trướckhi gieo hạt (kết hợp với bón lót lân) Cũng có thể trộn một ít phân chuồng hoaimục với tro để lấp hạt khi gieo
Kết quả nghiên cứu của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa về vai trò của kaliđối với cây đậu tương cho thấy rằng kali làm tăng năng suất đậu tương khoảng45% so với không bón, hiệu suất kali đạt từ 5,8 -15 kg đậu/kg K2O
Đạm và kali là 2 yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến năng suất đậu tương
và cho bội thu 2,6- 4,3 tạ/ ha (với kali) và 1,4 - 5,4 tạ/ha (với dạm) Đạm và kalicòn có tác dụng tương hỗ khá lớn trong dinh dưỡng đậu tương Nếu bón riêng rẽ,đạm chỉ cho bội thu 1,4 tạ/ ha, trong khi đó cũng bón lượng đạm như vậy lại chobội thu 2,3 tạ/ ha trên nền có bón lân, 3,1 tạ/ ha trên nền có bón kali và 5,4 tạ/ hatrên nền có bón lân và kali
Một quy luật tương tự cũng thấy với kali, bón riêng rẽ kali chỉ cho bội thu1,4 tạ/ ha, trên nền đạm cho bội thu 4,3tạ/ ha.Tương hỗ đạm - lân thấp hơn so vớiđạm - kali Tuy N và K có hiệu lực cao với đậu tương song việc bón phân vớiliều lượng cao đều làm giảm hiệu quả bón Nhìn chung mức bón tối đa cho đậutương là 40kg N (tương đương 87 kg ure/ ha) và 60 kg K2O ( 100kg Kali clorua/ha).Công thức bón phân cân đối cho đậu tương thay đổi theo vùng: trên đất bazan
là 30kg N, 60kg P2O5, 60kg K2O Trên đất bac màu bón 20kg N, 60kg P2O5,60kg K2O và 30kg N, 90kg P2O5, 60kg K2O cho vùng đất xám [1]
Canxi trong dinh dưỡng của đậu tương giữ vai trò không lớn lắm song lại
vô cùng quan trọng trong việc cải thiện môi trường đất thích hợp cho vi khuẩnnốt sần phất triển và hoạt động [1]
Trang 28CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
- Trại thực nghiệm nông học khoa Nông Lâm Ngư thuộc Xã Nghi Phong
- Nghi Lộc - Nghệ An
- Phòng thí nghiệm Nông học, khoa Nông Lâm Ngư, Đại học Vinh
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
- Ngoài đồng ruộng, từ ngày tháng 2 đến tháng 5
- Tổng diện tích: 10 x 6 x 3 = 180 m2 (chưa kể dải bảo vệ)
- Khoảng cách giữa các ô trong cùng lần nhắc lại là 30 cm và giữa các lầnnhắc lại là 40 cm, xung quanh có 4 hàng bảo vệ, diện tích dải bảo vệ: 20 m2
- Tổng diện tích thí nghiệm: 200m2 (kể cả dải bảo vệ)
Trang 29Sơ đồ thí nghiệm như sau:
Dải bảo vệ
IIIa VIa Va Ia IIa IVa
Ib IIb VIb IIIb Vb IVb
Vc IIIc VIc IVc IIc Ic
Dải bảo vệ
a, b, c tương ứng là các lần lặp 1,2,3
2.2.2 Quy trình kĩ thuật và chăm sóc cây đậu tương
- Thời vụ: Vụ xuân, gieo từ ngày 20/2/2011
- Kĩ thuật gieo:
+ Đất được cày sâu, bừa kĩ cho đất nhỏ, nhặt sạch cỏ dại, san phẳng
+ Lên luống rộng 10m2, rãnh rộng 20 cm, sâu 25 - 30cm
+ Sau đó rạch hàng dọc sâu 4 - 6cm, hàng cách nhau 35cm
Cây cách cây 7 - 8 cm Mật độ là 35 cây/ m2
Công thứcVI: Đ /C - vôi
+ Bón lót: 100% phân chuồng + 100% phân lân + 100% vôi
Bón phân chuồng cho tất cả các công thức trừ công thức II