1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhẵm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học

189 1,6K 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhẵm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh
Tác giả Lờ Thị Thanh Hà
Người hướng dẫn PGS. TS. Cao Cự Giỏc
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 189
Dung lượng 3,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tự học có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng học tập của học sinh,chỉ có tự học , tự bồi đáp tri thức bằng nhiều con đường nhiều hình thức như ôn lạibài, làm bài tập trong sách gi

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng Đại học vinh

  

-trần Thị thanh hà

XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN DẪN XUẤT HALOGEN, ANCOL, PHENOL, ANĐEHIT, AXIT CACBOXYLIC VÀ ESTE Ở TRƯỜNG THPT NHẰM HỖ TRỢ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CHO HỌC SINH

luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

vinh - 2011

Trang 2

Lêi c¶m ¬n

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

- Thầy giáo: PGS TS Cao Cự Giác đã giao đề tài, tận tình hướng dẫn khoa

học và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho việc nghiên cứu và hoàn thành luận văn

- Cô giáo: PGS TS Nguyễn Thị Sửu và thầy giáo PGS TS Lê văn Năm

cùng các thầy cô giáo tổ Phương pháp giảng dạy khoa Hoá đã đọc và đóng gópnhiều ý kiến quý báu để giúp tôi hoàn thành luận văn này

- Ban giám hiệu và giáo viên trường THPT Quảng Xương III đã giúp đỡ tôitrong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm

- Tôi cũng xin cảm ơn tới những người thân trong gia đình, các bạn bè vàđồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luậnvăn này

Vinh, tháng 1 năm 2012

LÊ THỊ THANH HÀ

Trang 3

PHỤ LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Giả thiết khoa học 4

6 Những đóng góp mới của luận văn 4

NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Vai trò của tự học 5

1.2 Hình thức tự học 6

1.3 Năng lực tự học 12

1.4 Bài tập hóa học 14

1.5 Thực trạng về khả năng tự học của học sinh ở bậc THPT hiện nay 19

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN DẪN XUẤT HALOGEN, ANCOL, PHENOL, ANĐEHIT, AXIT CACBOXYLIC VÀ ESTE NHẰM HỖ TRỢ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CHO HỌC SINH

2.1 Nguyên tắc xây dựng

2.2 HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ LÝ THUYẾT PHẦN DẪN XUẤT HALOGEN, ANCOL, PHENOL 23

2.2.1 Tóm tắt nội dung lí thuyết cơ bản phần halogen, ancol, phenol 23

2.2.1.1 Dẫn xuất halogen 23

2.2.1.2 Ancol 25

2.2.1.3 Phenol 28

2.2.2 BÀI TẬP THEO CHỦ ĐỀ 30

2.2.2.1 Bài tập về dẫn xuất halogen 30

2.2.2.2 Bài tập về ancol 38

Trang 4

2.2.2.3 Bài tập về phenol 66

2.3 HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ LÝ THUYẾT PHẦN ANĐEHIT, AXIT CACBOXYLIC, ESTE 82

2.3.1 Tóm tắt nội dung lí thuyết cơ bản phần anđehit, axit cacboxylic, este 82

2.3.1.1 Anđehit 82

2.3.1.2 Axit cacboxylic 85

2.3.1.3 Este 87

2.3.2 Bài tập theo chủ đề 88

2.3.2.1 Anđehit 88

2.3.2.2 Axit cacboxylic 105

2.3.2.3 Este 128

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 163

3.1 Mục đích thực nghiện sư phạm (TNSP) 163

3.2 Nhiệm vụ TNSP 163

3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 163

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 165

3.5 Xử lí kết quả thực nghiệm sư phạm 174

Kết luận chung và kiến nghị 174

PHỤ LỤC 176

Trang 5

BẢNG CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết đầy đủ

Công thức đơn giản nhất

Định luật bảo toàn khối lượng

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

- Con người từ khi sinh ra đến lúc trưởng thành đều diễn ra quá trình tự học,việc tự học có thể là học những kinh nghiệm sống, học những tri thức từ sách vở, tựmày mò phát minh ra những tri thức mới, hay nói đúng hơn tự học có thể diễn radưới sự tác động của thầy hoặc là không, dù thế nào thì việc tự học là rất cần thiết

và quan trọng Trong tự học bước đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chínhnhững lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy học sinh tư duy để thoát khỏi “lúngtúng” nhờ vậy mà học sinh tự tin vào bản thân, bồi dưỡng và phát triển hứng thú,duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của các em

Tự học không chỉ diễn ra ở nhà trường mà còn diễn ra trong đờì sống hàngngày để bổ sung và sáng tạo ra kiến thức mới

Trong thời đại ngày nay, xã hội không ngừng biến đổi, ngày càng phát triểncuộc sống luôn luôn đòi hỏi con người phải mở rộng hiểu biết

Để hoạt động có hiệu quả không phải lúc nào cũng chỉ có tái hiện lại nhữngkiến thức và kĩ năng có sẵn mà chúng ta còn phải có những kiến thức và kĩ năngmới, do đó chúng ta phải tự học

Quá trình sống là quá trình con người bước dần lên những bậc thang mới của sựhiểu biết, bước đi này có thể dễ hay khó, cao hay thấp là phụ thuộc vào việc tự họccủa mỗi người Vì vậy bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh ngay từ khi ngồi ghếnhà trường là cần thiết và là một công việc có vị trí cực kì quan trọng, Chỉ có tựhọc, tự bồi đắp những khuyết thiếu về tri thức khoa học về đời sống xã hội Chúng

ta phải biến quá trình dạy học thành quá trình tự học

- Việc tự học được Đảng và nhà nước ta quan tâm quán triệt sâu sắc để nhằmphát huy tính tích cực của người học Nghị quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ:

“ Tập trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạocủa học sinh Bảo đảm mọi điều kiện và thời gian tự học, phát triển mạnh mẽ phongtrào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân” Trên tinh thần

ấy, rõ ràng Đảng ta đã coi tự học, tự đào tạo là vấn đề mấu chốt có vị trí cực kì quantrong trong chiến lược giáo dục và đào tạo của đất nước

Trang 7

- Nếu các em có ý thức và chăm chỉ với trình độ nhận thức và khả năng tư duy

ở độ tuổi bậc THPT dưới sự hướng dẫn cùng với một hệ thống bài tập có chất lượngđược phân dạng của giáo viên thì việc nghiên cứu và tự nghiên cứu tài liệu sẽ đạthiệu quả cao Mặt khác trong thời đại ngày nay khi mà kinh tế phát triển hơn cùngvới sự bùng nổ về công nghệ, thông tin các em có điều kiện học ở mọi nơi, mọi lúctrên tài liệu sách giáo khoa, sách tham khảo, báo, đài , tivi, trên internet,

- Tấm gương sáng đầy thuyết phục về tự học là Bác Hồ kính yêu của chúng ta.Với Bác Hồ, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyếtđịnh tạo nên thiên tài và trí tuệ của người Bác Hồ làm rất nhiều việc, nhưng nhờ tựhọc mà Bác làm việc gì cũng giỏi Từ hành trình 30 năm bôn ba tìm đường cứunước, biết đến 14 ngoại ngữ, trong đó sử dụng thành thạo 5 ngoại ngữ Với khảnăng tự học Người đã lĩnh hội được các hệ thống trí thức đồ sộ của nhân loại và có

sự nhạy cảm sắc sảo về chính trị, đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi vẻ vang

Đó chính là thành quả của việc Người đã miệt mài học tập cả cuộc đời, nóiđúng hơn là không ngừng tự học Học đi đôi với hành Học bất cứ lúc nào, bất cứnơi đâu

Những câu chuyện trên chúng ta mong muốn cho những thành công của giáodục nước nhà, cho những thế hệ măng non đang được gieo trồng thật sự đượchưởng thụ một nền giáo dục tiên tiến, như ý nguyện của Bác lúc sinh thời Và mãimãi noi theo tấm gương sáng về Tự học của Người : "Đường đời là một chiếc thangkhông có nấc chót, học tập là một quyển vở không có trang cuối cùng"

- Để góp phần hỗ trợ hay đẩy mạnh phương pháp tự học cho học sinh thìnhiệm vụ đó đặt lên vai người giáo viên Chính người giáo viên phải có năng lựchướng dẫn học sinh tự học biết thu thập và xử lý thông tinh để tự biến đổi mình.Giáo viên cần đưa ra hệ thống bài tập có hệ thống, phân dạng tốt để giúp học sinh tựhọc tự nâng cao kiến thức của mình

Xuất phát từ những lí do trên tôi lựa chọn đề tài : “Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường THPT nhằm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh”

Trang 8

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu một số vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc tự học từ đó thiết

kế và sử dụng một hệ thống bài tập phần hóa học hữu cơ: dẫn xuất halogen, ancol,phenol, andehit, axit cacboxylic, este giúp học sinh tự học nhằm nâng cao chấtlượng và hiệu quả dạy học cho học sinh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm sáng tỏ vai trò quan trọng và cần thiết của tự học

+ Ứng dụng phương pháp tự học thiết kế các nội dung kiến thức phù hợp

- Biên soạn một số tài liệu tự học cho học sinh bao gồm vấn đề lí thuyết, bàitập phần: dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic, este giúp họcsinh có thể tự học có kết quả

- Thử nghiệm đánh giá tính khả thi và hiệu quả sử dụng tài liệu có hướng dẫncho học sinh

+ Áp dụng thực nghiệm sư phạm ở trường THPT

+ Xử lí thống kê các số liệu và rút ra kết luận

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận:

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài

+ Nghiên cứu cấu trúc nội dung chương trình SGK 11- 12 phần dẫn xuấthalogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic, este ban nâng cao, các sách bài tập,sách tham khảo, các bộ đề thi đại học, học sinh giỏi,

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

+ Điều tra cơ bản: Tìm hiểu đánh giá thực trạng tổ chức hoạt động tự học củahọc sinh hiện nay

+ Tổng kết kinh nghiệm giáo dục: Trao đổi tổng kết kinh nghiệm dạy học.+ Thực nghiệm sư phạm: Nhằm xác định tính hiệu quả của nội dung đề xuất.+ Phương pháp xử lý thông tin: Dùng phương pháp thống kê toán học trongkhoa học giáo dục để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

Trang 9

5 Giả thiết khoa học

Nếu xây dựng được một tài liệu tự học chi tiết, logic, đầy đủ đảm bảo yêu cầuchất lượng phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh Đồng thời tài liệu sẽgiúp nâng cao năng lực tự học, tự kiểm tra, tự nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Về mặt lý luận: Làm sáng tỏ một số khái niệm và nguyên tắc của phươngpháp tự học cũng như tầm quan trọng của nó trong dạy học

- Về mặt thực tiễn: Đề tài đã góp phần xây dựng một hệ thống kĩ năng và bàitập dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic, este

Trang 10

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Vai trò của tự học

Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, tự học là một hoạt động có ý nghĩa quantrọng trong việc tạo ra chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo, nó giúp chocon người không những có tri thức trong học tập mà ngay cả trong đời sống hàngngày

1.1.1 Tự học giúp học sinh có kiến thức trong học tập

Thực tế cho thấy, phần lớn kinh nghiệm và kiến thức có được ở mỗi người lànhờ tự học Tự học có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng học tập của học sinh,chỉ có tự học , tự bồi đáp tri thức bằng nhiều con đường nhiều hình thức như ôn lạibài, làm bài tập trong sách giáo khoa, sách nâng cao, hay các em đọc các tài liệukhác thì mỗi học sinh mới có thể tự bù đắp được những thiếu khuyết về kiến thứckhoa học về đời sống xã hội, chỉ cần có sự cố gắng bền bỉ tự học, thì dù điều kiệnchưa tốt, chưa đầy đủ thì giá trị của việc tự học sẽ mang lại cho người học có nhữngkiến thức chiếm lĩnh những tri thức đó và từng bước có năng lực mới, phẩm chấtmới, từ đó mang lại hiểu quả cho học tập Chính những khả năng này giúp các em

có thời gian tìm tòi, khám phá kiến thức, biến kiến thức của nhân loại thành kiếnthức của mình

1.1.2 Tự học giúp người học có kinh nghiệm sống

Con người được sinh ra và lớn lên biết bao nhiêu điều phải học hỏi để hiểubiết thế giới xung quanh, mà thế giới xung quanh là một kho tàng về kiến thức Conngười ngay từ nhỏ đã phải làm quen, phải tự học, để chiếm lĩnh nó,có như vậy thìmỗi con người mới hòa nhịp vào cuộc sống với xã hội

Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin và khoa học công nghệ phát triểncực kỳ nhanh chóng như ngày nay thì phương pháp tự học lại càng trở nên cần thiết

vì nó sẽ giúp ta có khả năng đáp ứng tốt với những thay đổi của công việc

1.1.3 Tự học phát triển tư duy học sinh

Môn Hóa học là môn học phát triển tư duy cho học sinh và nếu phát triểnđược năng lực tự học cho học sinh thì sẽ phát triển được khả năng tư duy sáng tạo

Trang 11

của các em ở mức độ ngày càng cao Tự học phát triển các thao tác tư duy: phântích, tổng hợp, so sánh và khái quát hóa…

1.1.4 Tự học giúp học sinh khả năng sáng tạo, nhận biết tìm tòi, phát hiện và giải quyết vấn đề

Quá trình tự học là quá trình bản thân học sinh tự nhận thức do đó học sinhphải một mình tìm hiểu, tìm tòi, nhận biết, sáng tạo và một mình đi giải quyết vấnđề

Ta đã biết ở lứa tuổi mẫu giáo và học sinh nhỏ, các em đã biểu lộ nhữngnăng lực sáng tạo, đến năm sáu tuổi các em đã nắm được tiếng mẹ đẻ biết đượcnhứng tri thức khác nhau cần thiết, cho hành động thực tiễn và cho việc tìm hiểu cáchiện tượng xung quanh Các em hay đặt ra những câu hỏi vì sao và tại sao lại nhưvậy

Điều đó chứng tỏ các em có lòng ham muốn được hiểu biết ngày càng nhiều

Để phát huy được khả năng đó của học sinh ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trườngtạo khả năng tự học cho học sinh giúp các em thõa mãn tính tò mò, sáng tạo , tìm tòisáng tạo ra tri thức mới Điều đó làm học sinh nắm vững kiến thức, hiểu rõ bản chất

và từ đó có thể ứng dụng những tri thức vào cuộc sống

1.2 Hình thức tự học

1.2.1 Khái niệm tự học

Đã có nhiều tác giả bàn về tự học Theo nghĩa từ điển: Tự học là quá trìnhchủ thể nhận thức tự mình họat động, lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng thựchành, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ

sở giáo dục đào tạo

Theo GS- TSKH Thái Duy Tuyên viết “ Tự học là hoạt động độc lập chiếmlĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ sử dụng các năng lựctrí tuệ ( quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng với các phẩm chất động cơ,tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinhnghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân ngườihọc”

Trong bài phát biểu tai hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vàotháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng : “ Học bao giờ và

Trang 12

lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế

hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyệncho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy

Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn

đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng củamỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quẩ thông qua các hoạtđộng tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi học sinh thì phải tự thântiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn Tự thân rèn luyện các kĩ năng, tự thân bồi dưỡngtâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc

1.2.2 Các hình thức tự học

Theo tài liệu lý luận dạy học hóa học tự học có 3 hình thức:

- Tự học không có hướng dẫn: Người học tự tìm lấy tài liệu để đọc, hiểu và vận

dụng các kiến thức trong đó

- Tự học có hướng dẫn : Có giáo viên ở xa hướng dẫn người học bằng tài kiệu

hoặc bằng các phương tiện thông tin khác

- Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Có tài liệu và có giáp mặt với GV, được giá

viên hướng dẫn giải sau đó về nhà tự học

Một cách chia khác, hoạt động tự học của học sinh như học sách giáo khoa, tàiliệu, các buổi học ngoại khóa, học qua internet, tự ôn bài, làm bài tập và tự học thếgiới xung quanh Để học sinh có thể tự học suốt đời thì ngay từ khi ngồi ghế nhà

trường THPT giáo viên cần bồi dưỡng cho học sinh các năng lực tự học đó

a- Tự học với SGK và tài liệu

Ta đã biết xã hội ngày càng phát triển, lượng thông tin ngày càng lớn Đểbản thân ngày càng nhiều kiến thức đa dạng, phong phú thì phải bổ sung kiến thứccho mình, một trong những nguồn tri thức đó là sách, sách là kho tàng tri thức củanhân loại, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Đó là nguồn tri thức vô hạn vàrất quan trọng

Nếu chúng ta có thói quen đọc sách thường xuyên có phương pháp đọc thì sẽ

mở rộng và đào sâu kiến thức mới, bồi dưỡng tư duy logic phương pháp làm việckhoa học, tạo được hứng thú, phương pháp và thói quen tự học suốt đời

Trang 13

Đặc biệt đối với học sinh, việc sử dụng sách là rất cần thiết Vì vậy chúng tacần trang bị cho học sinh những kỹ năng và thói quen đọc sách giáo khoa và tài liệutham khảo của từng môn học.

-Tự học với SGK:

Với tư tưởng chủ đạo “ dạy học đặt người học vào vị trí trung tâm”, SGK đã

có thay đổi nhiều phù hợp với cho việc học cả về nội dung và hình thức và vớichiến lược thay đổi SGK để dạy học sinh biết tự học Với chủ đạo như vậy, quátrình dạy học giáo viên phải có biện pháp hướng dẫn học sinh tự học với SGK như:

Cần tạo cho học sinh biết cách đọc sách và biết cách sử dụng sách

Việc học sinh biết cách đọc sách và sử dụng sách là rất quan trọng nó giúphọc sinh xác định mục đích để đọc sách Do đó trong quá trình dạy học ta luôn chohọc sinh bám sát và tự đọc với SGK, chỉ ra cho các em thấy kiến thức SGK là cơbản và nền tảng để phát triển giúp các em trong các kì thi

*Đọc sách để từ đó biết cách khai thác và mở rộng kiến thức

Trong quá trình học tập, học sinh luôn phải sử dụng SGK, nhưng các em đọckhông có nghĩa một cách thụ động mà từ SGK phải biết mở rộng, đào sâu kiến thức

mà kiến thức cơ bản là từ SGK, từ kiến thức cơ bản SGK học sinh có thể tư duyphát triển suy lí những kiến thức sâu hơn hoặc những bài toán hóa học khó Từ đókiến thức SGK đến các em một cách tự nhiên không thụ động

* Quá trình học luôn lấy SGK làm cơ bản

Đối với học sinh khá giỏi, các em luôn có xu hướng tìm hiểu kiến thức vượtkhỏi SGK, nhưng chúng ta không ít gặp những trường hợp làm bài toán khó thìđược nhưng làm bài toán cơ bản thì lại không thể làm được, vì sao vậy? Vì bản thâncác em là những học sinh có tố chất thông minh nhưng do quá trình kiến thức cơbản không được coi trọng, các em không đi từ gốc tới ngọn mà chỉ hớt phần ngọn.Tình trạng như vậy ta gặp không ít, quá trình làm bài toán như cái máy nhưngkhông rõ vì sao như vậy và bắt đầu từ đâu Do đó quá trình học tập giáo viên phải

có sự hướng dẫn và chỉ cho các em thấy được kiến thức SGK là cơ bản và việc pháttriển kiến thức cũng phải từ kiến thức cơ bản là SGK Làm như vậy các em sẽ hiểumột cách cặn kẽ, sâu sắc từ gốc đến ngọn, đi theo đướng xoắn ốc

Trang 14

Trong các kì thi Đại học, cao đẳng hiện nay với hình thức thi trắc nghiệm kháchquan thì cách học bám sát SGK sau đó bằng cách suy luận sáng tạo thông minh vàcác mẹo giải nhanh, kiến thức phải toàn diện thì mới có kết quả cao.

- Tự học với tài liệu.

Kiến thức trong SGK là cơ bản, nhưng chỉ dừng lại ở kiến thức đó thì chưa

đủ , muốn học tốt môn Hóa cũng như các môn khác ngoài việc sử dụng SGK họcsinh còn phải biết sử dụng các cuốn sách tham khảo phục vụ cho quá trình học tậpcủa mình, nhưng làm thế nào để có thói quen và hứng thú đọc sách và sử dụng sáchnhư thế nào cho hiệu quả thì khi đó học sinh phải có sự hướng dẫn của giáo viên

Thực tế ta thấy, việc học sinh đọc sách tham khảo còn rất ít, các em chưa ýthức được cũng như là nhu cầu tự học với tài liệu, do đó trong quá trình học tập thầy

cô giáo luôn tạo cho các em cơ hội học với tài liệu, tạo niềm vui hứng thú khi họcvới tài liệu, do đó giáo viên cần làm những việc sau:

- Tạo lòng say mê, hứng thú đọc sách đối với học sinh

Tạo lòng say mê, hứng thú đó cách giúp học sinh có nhiều đam mê, luôn có

xu hướng tìm tòi, phát hiện chỉ cho các em thấy được sự bổ ích của việc đọc tài liệutham khảo, sách báo nó bổ sung kiến thức phong phú cho bản thân các em

Do đó để tạo được lòng mê đọc sách cho học sinh một mặt giáo viên phải chỉcho các em thấy được tầm quan trọng của việc đọc sách và mặt khác sách thamkhảo hay các tài liệu phải có cách viết gây được hứng thú đọc sách cho người họcsinh

Ngoài ra để đọc sách có hiệu quả thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh biếtcách đọc sách

+Đầu tiên xác định mục tiêu cho việc đọc sách trước khi đọc một cuốn sách

ta phải cho học sinh thấy được đọc sách để làm gì? Đọc như thế nào? kết quả saukhi đọc xong thu được gì? Rút ra những kết luận khi đọc sách, hướng dẫn học sinhxác định mục đích ngay từ đầu đọc sách, đọc để tìm hiểu nội dung toàn bộ sách haychỉ một phần của sách

+Tiếp theo chỉ ra cách đọc sách

Trang 15

Trước khi đọc nội dung sách ta phải hướng dẫn học sinh đọc khái quát củasách như tên sách, tên tác giả, nơi sản xuất, mục lục của sách…để thấy được tổngquát của sách và nội dung của sách là viết những vấn đề gì.

Sau đó ta đi đọc tài liệu : ta phải đọc kĩ tài liệu, khi đọc sách học sinh phảivừa đọc vừa suy ngẫm, suy luận và luôn đưa ra câu hỏi vì sao lại như vậy

Khi đọc sách ta cần lưu ý đánh dấu vào những phần quan trọng cần lưu tâm Cuối cùng sau khi đọc sách ta cho học sinh nhận xét và rút ra kết luận từ việcđọc sách và sách đã cho mình biết thêm những kiến thức nào và có thể liên hệ vàứng dụng vào vấn đề nào trong cuộc sống?

Như vậy để việc tự học có kết quả thì đầu tiên ta phải cho học sinh làm quenvới phương pháp tự học trong sách giáo khoa hoặc tài liệu tham khảo, muốn làmđược điều đó thì giáo viên ngoài tạo lòng say mê đọc sách còn hướng dẫn cho họcsinh đọc sách như thế nào để có hiệu quả

b Tự ôn bài và tự làm bài tập

Việc tự ôn bài và làm bài tập ở nhà là viêc làm rất cần thiết và quan trọng đốivới học sinh, tạo cho các em có khả năng cơ bản của của việc tự học

Đó là thời gian các em độc lập làm việc, tự bản thân các em ôn lại kiến thứcsau mỗi bài học ở trên lớp tìm ra mối liên hệ kiến thức giữa bài trước và bài sau,giữa các chương , giữa các phần với nhau Giúp các em có hệ thống về kiến thức.Ngoài ôn lại kiến thức các em còn phải làm bài tập, sau mỗi bài , mỗi chương và cácbài tập tham khảo việc các em làm bài tập là rất cần thiết nhằm giúp các em ghi sâukiến thức, biết vận dụng kiến thức đã học Do đó ngoài thời gian học trên lớp thầy

cô và gia đình cần dành thời gian và hướng dẫn các em tự học ở nhà, mặt khác đểhọc sinh làm bài tập có hiệu quả thì thì giáo viên phải chuẩn bị và giao bài tập mộtcách hợp lý nhằm phát huy hết khả năng của các em cũng như là khai thác hết tiềmnăng, ứng dụng của kiến thức và việc ôn lại bài nhằm giúp các em củng cố lại kiếnthức, giúp các em nâng cao trí nhớ và sắp xếp, hệ thống lại kiến thức

Để học sinh ôn lại bài và làm bài tập có hiệu quả thì khi giao bài tập cho họcsinh ta cần đảm bảo các nguyên tắc sau:

Tạo nên việc học liên tục, bài vừa đưa học ở trên lớp, tức là bài tập đưa racần có sự liên hệ mật thiết với bài học sinh đang học, bài tập có thể phát triển từ bài

Trang 16

học khác hoặc bài học đang thể hiện tính khoa học, phù hợp với hoạt động họcnhưng bài tập cũng không quá dễ để học sinh phải nhàm chán hoặc không nên quákhó làm học sinh nản lòng.

Chuẩn bị bài học tiếp theo lúc này:

Ngoài bài tập củng cố kiến thức cho bài hôm nay bài tập còn có thể cho học sinhthông tin tổng quát và sự hiểu biết về bài học sắp được học

Cung cấp và hướng dẫn học sinh việc tự học, việc giao bài tập có thể là cungcấp trực tiếp và chủ yếu việc tự học cho học sinh khi giao bài tập ta ra lượng vừa

đủ, vừa sức, học sinh có thể làm mà không cần sự hỗ trợ của người khác tức là bàitập phải tương xứng với khả năng của học sinh

Phát huy tính tích cực của học sinh, tạo cho các em thói quen tự học tập, do

đó khi giao bài tập cho học sinh cần phải mang tính chất khuyến khích, thách thức,sáng tạo, tạo sự tò mò giúp học sinh có thái độ thích thú khi làm bài tập tạo sự tự tincho các em

Làm bài tập là biện pháp giúp các em phát triển trí tuệ ở mức độ cao hơn.Đồng thời là thời gian giúp các em phát triển khả năng sáng tạo một cách độc lậpthông qua các bài tập giúp các em:

+ Thể hiện khả năng nắm các kiến thức cơ bản

+ Thể hiện sự thông hiểu kiến thức

+ Thể hiện khả năng vận dụng kiến thức

Như vậy tạo cho học sinh khả năng và thói quen tự ôn lại bài và làm bài tập là cơ sở

là tiền đề giúp các em tự học sau này

c Học trên internet

Ngày nay khoa học phát triển, thông tin vô tuyến hiện đại, con người khôngđến trường, không đến lớp mà vẫn có đầy đủ kiến thức để bước vào đời đó làphương pháp học từ xa, học trên internet Do đó ngoài việc các em học trên lớp phảicho cho các em phương pháp tự học trên internet, làm việc hoặc làm bài tập trêninternet, tạo cho các em như tra cứu, tìm hiểu thông tin làm các bài tập trên mạng

d Tự học dưới dạng siminar

Thỉnh thoảng giáo viên cần tổ chức cho học sinh các buổi học ngoại khóadưới dạng “ siminar”

Trang 17

Trước khi tổ chức ngoại khóa phải giao cho học sinh một chủ đề nào đó vàyêu cầu các em phải đọc những nội dung, những tài liệu có liên quan và trả lời cáccâu hỏi do giáo viên đưa ra, có thể chia nhóm học sinh, từng nhóm với những nộidung khác nhau Khi tổ chức, cho các em trình bày những hiểu biết hoặc những thắcmắc trong nội dung mà các em đã đọc từ đó giáo viên chính xác hóa kiến thức đồngthời trả lời những thắc mắc các em đã đưa ra.

e Tự học thế giới xung quanh

Không phải học sinh chỉ tự học trong sách vở, báo chí máy vi tính mà cònphải tự học thế giới xung quanh, thế giới xung quanh là nơi gắn liền cuộc sống củacác em, từ giao tiếp đến những nếp sống hàng ngày, nếu các em không học thế giớixung quanhthif các em không thể tồn tại được Vì vậy việc hướng dẫn , bồi dưỡngcách thức học thế giới xung quanh là điều kiện cần thiết giúp học sinh làm quen thếgiới xung quanh, mặt khác dể các em thấy được mối liên hệ giữa kiến thức sách vởvới đời sống bên ngoài

Tự học thế giới xung quanh có thể tự học ngôn ngữ, cách giao tiếp, nếp sinhhoạt trong gia đình và bên ngoài, làm quen với thiên nhiên, tìm hiểu thế giới xungquanh như có thể tỏ chức cho các em đi tham quan tìm hiểu thực tế như thăm cácnhà máy, các công tình , cách vận dụng máy móc, cách sản xuất làm ra sản phẩm,tìm hiểu thiên nhiên

Sau những chuyến thăm quan như vậy rất bổ ích đối với các em, giúp các emtìm hiểu thế giới xung quanh, thấy được ứng dụng của kiến thức sách đối với thực

tế đời sống, ghi sâu kiến thức, tạo tính tò ham học hỏi đối với các em để từ đó cókhát vọng phấn đấu học tập trong tương lai

1.3 Năng lực tự học

1.3.1 Khả năng về năng lực tự học

Năng lực tự học là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ có khi cảnăng lực cơ bắp cùng các động cơ, tình cảm nhân sinh quan, thế giới quan để chiếmlĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại biến lĩnh vực đó thành sở hữu củamình

1.3.2 Một số năng lực tự học cần bồi dưỡng cho học sinh THPT

Trang 18

Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh

sự viện trợ trực tiếp từ bên ngoài, tự mình nhìn thấy vấn đề, phát hiện vấn đề, đặtvấn đề để giải quyết, tự mình tìm ra cách giải của bài toán, tự mình kiểm tra được,đánh giá được cách giải của bản thân, có đầu óc tự phê phán và phê phán được cáchgiải của người khác bằng sự hiểu biết tự mình trình bày suy nghĩ, lập luận cách giảimột cách chặt chẽ Chính điều đó đã rèn luyện cho các em các năng lực: Năng lựctiếp thu kiến thức Năng lực suy luận logic Năng lực năng lực sáng tạo Năng lựckiểm chứng, năng lực thực hành

Như vậy để rèn luyện được tư duy độc lập cho học sinh thì phải tạo điều kiện

để học sinh suy nghĩ độc lập Giáo viên đưa câu hỏi, nêu vấn đề để học sinh nghiêncứu đề xuất cách giải quyết, ra kết luận Giáo viên quan tâm chỉ đạo công tác độclập của học sinh, nhất là bài tập ở nhà Khuyến khích nhận xét cách giải của bạn.Giúp học sinh biết phương pháp suy luận độc lập và thực hiện hành động độc lập.Tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập vận dụng Cho giải bài tập và nâng cao dầnnội dung Hóa học của bài tập Giáo viên phải có kế hoạch kiểm tra, đánh giá đúngmức suy nghĩ và hành động độc lập của học sinh

Ngòai ra để bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh một cách toàn diệnchúng ta cần phối hợp với một số biện pháp: giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của giáoviên, dành thời gian thích đáng cho tự học, tự nghiên cứu, seminar, thảo luận , giảiđáp thắc mắc…

Tăng cường khuyến khích học sinh tư học với các tài liệu sách tham khảo vàcác nguồn thông tin tài liệu trên mạng internet… cùng với sự đổi mới phương phápdạy học nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh

Rèn luyện cho học sinh tự kiểm tra, tự đánh giá học tập

Trang 19

Vậy nếu xây dựng được phương pháp tự học, đặc biết là sự tự giác, ý chí tíchcực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh tolớn cho người học.

1.3.3 Hệ thống kĩ năng học tập

Kĩ năng là tổng hợp các thao tác, cử chỉ phối hợp hài hòa hợp lý nhằm đảmbảo cho hành động đạt kết quả cao với sự tiêu hao năng lượng tinh thần, cơ bắp ítnhất trong những điều kiện thay đổi

Các kĩ năng học tập:

- Kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề :

Là kĩ năng nắm bắt được yêu cầu của vấn đề một cách nhanh chóng Từ đó đưa rahướng giải quyết vấn đề đang nghiên cứu

- Kĩ năng sáng tạo tư duy độc lập

Là kĩ năng giải quyết vấn đề chính xác, độc lập Kĩ năng này giúp giải quyết vấn đề

đỡ tốn năng lượng và thời gian

1.4 Bài tập hóa học

1.4.1 Khái niệm về bài tập hóa học

Theo từ điển tiếng Việt, bài tập là bài giao cho HS làm để vận dụng kiến thức

đã học, còn bài toán là vấn đề cần giải quyết bằng phương pháp khoa học Một sốtài liệu lý luận dạy học thường dùng “bài toán hoá học” để chỉ những bài tập địnhlượng - đó là những bài tập có tính toán – khi giải HS cần thực hiện một số phéptính toán nhất định

Theo các nhà lý luận dạy học Liên Xô (cũ), bài tập bao gồm cả câu hỏi và bàitoán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS nắm được hay hoàn thiện một tri thứchoặc một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời vấn đáp, trả lời viết hoặc có kèm theothực nghiệm Hiện nay ở nước ta, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan niệmnày

1.4.2 Phân loại bài tập hóa học

1.4.2.1 Yêu cầu lựa chọn hệ thống.

Việc lựa chọn phân loại hệ thống các bài tập theo một chủ đề nào đó là mộtviệc khó Vậy có những tìm tòi về phương pháp nhằm xác định những mối liên hệquan trọng nhất, điển hình nhất và những biểu hiện của chúng trong các bài tập, từ

Trang 20

đó xác định loại bài tập cơ bản, số lượng của chúng và trình tự giải Kết quả rènluyện kĩ năng, kĩ xảo giải bài tập một cách tự giác phụ thuộc rất nhiều vào việc cóhay không có một hệ thống trong khi chọn lựa và sắp xếp trình tự các bài tập, làmthế nào để sau mỗi bài tập đều phát hiện ra những cái mới

Bài tập hóa học nói chung và bài tập hữu cơ nói riêng có tác dụng rất lớn về

cả ba mặt : Giáo dục, giáo dưỡng và giáo dục kĩ năng tổng hợp Tác dụng ấy càngtích cực nếu trong quá trình dạy học có sự lựa chọn thật cẩn thận các hệ thống bàitập chặt chẽ về nội dung, thích hợp về phương pháp và bám sát mục đích, nhiệm vụdạy học ở trường phỏ thông

- Yêu cầu thứ nhất : Các bài tập phải đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phứctạp về mối liên hệ giữa những đại lượng và khái niệm đặc trưng cho quá trình hoặchiện tượng, sao cho từng bước học sinh hiểu được kiến thức một cách vững chắc và

có kĩ năng, kĩ xảo vận dụng linh hoạt, sáng tạo các kiến thức đó

- Yêu cầu thứ hai: Mỗi bài tập được chọn phải là một mắt xích trong hệthống kiến thức của học sinh, giúp cho họ hiểu được mối liên hệ giữa các đại lượng,

cụ thể hóa các khái niệm và vạch ra những nét mới nào đó chưa được làm sáng tỏ

-Yêu cầu thứ ba: Hệ thống bài tập phải đảm bảo tính tích cực, chủ động, sángtạo của học sinh trong học tập

- Yêu cầu thứ tư: Hệ thống các bài tập được lựa chọn phải giúp cho học sinhnắm được phương pháp giải từng loại, dạng cụ thể

- Yêu cầu thứ năm: Nội dung bài tập phải phù hợp với các đối tượng họcsinh, thời gian học tập của học sinh ở lớp và ở nhà

Như vậy hệ thống bài tập được xây dựng vừa để thõa mãn các yêu cầu trên, vừanhằm đáp ứng được mục tiêu bồi dưỡng, phát triển năng lực tư duy sáng tạo của họcsinh thông qua việc sử dụng hợp lý hệ thống bài tập trong dạy học

1.4.2.2 Phân loại bài tập hóa học

Việc phân loại bài tập hóa học chỉ mang tính tương đối Tuy nhiên có thể căn

cứ vào các đặc điểm, dấu hiệu cơ bản để phân loại theo: nội dung, mục đích dạyhọc, phương thức cho điều kiện hay phương pháp giải, đặc điểm và phương phápnghiên cứu vấn đề , yêu cầu rèn luyện kĩ năng và phát triển tư duy học sinh, mức độkhó dễ

Trang 21

- Phân loại theo nội dung: Bài tập tài liệu hóa học ( bài tập hóa học vô cơ, bàitập hóa học hữu cơ, ) bài tập cụ thể- trừu tượng, bài tập kĩ thuật, tổng hợp,…

- Phân loại theo mục đích dạy học: Bài tập củng cố, bài tập nâng cao

- Phân loại theo phương thức cho điều kiện và phương thức giải: bài tập bằnglời, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm…

- Phân loại theo đặc điểm và phương pháp nghiên cứu vấn đề : Bài tập địnhtính, bài tập định lượng

- Phân loại theo mức độ khó, dễ: Bài tập cơ bản, bài tập phức tạp

- Phân loại theo yêu cầu luyện tập kĩ năng và phát triển tư duy học sinh.Theo cách phân loai này có hai loại bài tập: bài tập luyện tập và bài tập thí nghiệm.Trong đó bài tập luyện tập là những bài tập được dùng để rèn luyện cho học sinh ápdụng được những kiến thức xác định để giải từng loại bài tập theo những khuônmẫu nhất định Loại bài tập này không đòi hỏi tư duy sáng tạo của học sinh mà chủyếu là cho học sinh luyện tập để nắm vững cách giải đối với một loại bài tập nhấtđịnh đã được chỉ dẫn

1.4.3 Tác dụng của bài tập hóa học

Trong giảng dạy hóa học ở trường THPT, bài tập hóa học giữ vai trò quantrọng trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo: Nó vừa là mục đích, vừa là nội dung,lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm Nó cung cấp cho học sinh kiến thức,con đường dành lấy kiến thức và cả hứng thú, say mê nhận thức

Bài tập hóa học đươc sử dụng làm phương tiện nghiên cứu tài liệu mới, khi trang

bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến thức mộtcách sâu sắc và vững chắc Việc nghiên cứu một kiến thức mới thường được bắt đầubằng việc nêu vấn đề Mỗi một vấn đề xuất hiện do nghiên cứu tài liệu mới cũng làbài tập đối với học sinh Để làm một vấn đề mới trở nên hấp dẫn và xây dựng vấn

đề nghiên cứu còn có thể dùng cách giải bài tập Việc xây dựng các vấn đề dạy họcbằng bài tập không những sẽ kích thích được hứng thú cao của học sinh đối vớinhững kiến thức mới sắp được học mà còn tạo ra khả năng củng cố kiến thức đã có

và xây dựng mối liên quan giữa các kiến thức cũ và mới

Bài tập hóa học là một phương tiện có tầm quan trong đặc biệt trong việc pháttriển tư duy hóa học của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứu

Trang 22

khoa học Bởi vậy giải bài tập là một hình thức tự lực cơ bản của học sinh Trongthực tiễn dạy học, tư duy hóa học được hiểu là “ kỹ năng quan sát hiện tượng hóahọc, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận thành phần, xác lậpmối liên hệ định lượng và định tính của các hiện tượng, đoán trước các hệ quả từcác lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình” Trước khi giải bài tập học sinh phảiphân tích các dữ kiện của đề bài, tự xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán,khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm…Trong những điều kiện đó, tư duy logic,

tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nângcao

Bài tập hóa học là một phương tiện rất tốt để rèn luyện những kĩ năng, kĩ xảoliên hệ lý thuyết với thực tế, vận dụng kiến thức đã học vào đời sống, lao động sảnxuất Bởi “kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu học sinh có thể vận dụng thànhthạo chúng vào việc hoàn toàn những bài tập lý thuyết và thực hành” Từ đó có tácdụng giáo dục tổng hợp và hướng nghiệp cho học sinh

Bài tập hóa học còn có tác dụng cho học sinh về phẩm chất tư tưởng, đạođức thông qua giải các bài tập, còn rèn luyện cho học sinh phẩm chất độc lập suynghĩ, tính kiên trì dũng cảm khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, kíchthích hứng thú học tập môn hóa học nói riêng và học tập nói chung

Bài tập hóa học còn là phương tiện rất có hiệu quả để kiểm tra kiến thức, kĩnăng của học sinh một cách chính xác Trong quá trình dạy học, khâu kiểm tra đánhgiá việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh có một ý nghĩa rất quan trọng.Một trong những biện pháp để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là chohọc sinh giải các bài tập Thông qua việc giải bài tập của học sinh, giáo viên cònbiết được kết quả giảng dạy của mình, từ đó có phương pháp điều chỉnh, hoàn thiệnhoạt động dạy của mình cũng như hoạt động học của học sinh

Ngoài ra ở mức độ cao hơn mức luyện tập thông thường, học sinh phải biếtvân dụng kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong nhữngtình huống mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng của mình, biết đề xuất cácgiải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống… Thông qua đó, bài tập hóa họcgiúp phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồng thời phát huy đượctính sáng tạo cho học sinh

Trang 23

Như vậy, bài tập hóa học có một vai trò to lớn trong việc tập luyện, bồidưỡng, phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học.

1.4.4 Tiến trình giải bài tập hóa học

Kiến trình khái quát giải bài tập gồm các giai đoạn và yêu cầu khi giải bất kỳbài tập hóa học nào Trong nhiều tài liệu, người ta có thể gọi là các bước chung,phương pháp chung, kế hoạch, dàn bài giải bài tập…Mặc dù các bài tập hóa học cónội dung rất phong phú, đa dạng nhưng trên cơ sở căn cứ vào quá trình tư duy củaviệc giải bài tập, có thể đưa ra phương án khả dĩ của tiến trình khái quát giải bài tập,bao gồm bốn bước chung với các hành động cụ thể sau:

Nghiên cứu đề bài:

- Đọc kỹ đề bài

- Tìm điều kiện đầu bài cho và yêu cầu các bài còn ẩn chứa trong từ ngữ , hiệntượng, công thức, phản ứng… Tóm tắt đề bài: có thể làm nhẩm trong óc, hoặc mãhóa đầu bài bằng các kí hiệu quen dùng

- Vẽ sơ đồ

- Đổi đơn vị của các đại lượng ra cùng một hệ thống nhất

Xác lập các mối quan hệ:

- Mô tả hiện tượng, quá trình hóa học xảy ra trong tình huống nêu lên ở đầu bài

- Vạch ra các qui tắc, định luật chi phối hiện tượng, quá trình ấy Xác lập các mốiquan hệ cụ thể giưa những cái đã cho và cái phải tìm

- Lựa chọn các mối liên hệ cơ bản cho thấy sự quan hệ giữa cái đã biết và cái chưabiết để rút ra cái cần tìm

Thực hiện chương trình giải:

- Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa để rút ra kết luận cần thiết

- Từ các mối quan hệ cơ bản đã xác lập được bằng phương trình, tiếp tục luận giải,tính toán, tìm ẩn số dưới dạng tổng hợp, biểu diễn các đại lượng cần tìm qua các đạilượng đã cho

- Thay giá trị bằng số của các đại lượng đã cho để tìm kết quả, thực hiện các phéptính với độ chính xác cho phép

Kiểm tra, xác nhận kết quả

Trang 24

Để có thể xác nhận kết quả vừa tìm được cần kiểm tra lại việc giải theo một hoặcmột số phương án sau:

- Kiểm tra xem đã trả lời hết các câu hỏi của đè bài yêu cầu chưa, đã xét hết cáctrường hợp chưa

- Kiểm tra lại xem tính toán có đúng không

- Kiểm tra thứ nguyên xem có phù hợp không

- Xét kêt quả về ý nghĩa thực tế xem có hợp lý không

- Kiểm tra bằng thực nghiệm xem có phù hợp không

- Thử giải bài tập theo cách khác xem có cùng kết quả

1.5 Thực trạng về khả năng tự học của học sinh ở bậc THPT hiện nay

1.5.1 Mục đích điều tra:

- Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc học tập môn hóa hiện nay của một sốtrường phổ thông: Trường THPT Quảng Xương III ( Huyện Quảng Xương), TrườngTHPT Đào Duy Từ (Thành phố Thanh Hóa), Trường THPT Lương ĐắcBằng(Huyện Hoàng Hóa) Xem phụ lục 1.Từ đó làm cơ sở để phát triển đề tài

- Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn khi dạy hoá học trong bối cảnh hiệnnay

- Tìm hiểu về tinh thần, thái độ và kết quả đạt được của học sinh khi học cáctiết dạy trong luận văn đề cập

1.5.2.Khó khăn

Thực tiễn cho thấy BTHH không chỉ có tác dụng ôn tập, củng cố kiến thức

đã học mà còn có tác dụng để phát triển kiến thức, phát triển năng lực tự học và rèntrí thông minh cho HS Tuy nhiên, việc sử dụng BTHH như là một phương phápdạy học hiệu quả thì chưa được chú ý đúng mức

-Về phía giáo viên

Nhiều GV chưa đưa ra được hệ thống những mấu chốt hay những nội dungcần chú ý cho học sinh để học sinh cảm thấy dễ hiểu, từ những nội dung nhỏ, hẹprồi phát triển thành nội dung rộng hơn mà giáo viên chủ yếu sử dụng các bài tậptrong SGK, SBT hoặc từ internet mà không biên soạn lại cho phù hợp với đối tượnghọc sinh của mình Phần lớn giáo viên chưa thay đổi phương pháp mà vẫn dạy theophương pháp thuyết trình Ít cho học sinh làm việc thảo luận theo nhóm nên chưa

Trang 25

thật sự phát triển được tư duy và năng lực độc lập suy nghĩ hay nói cách khác làchưa kích thích được năng lực tự học của học sinh.

- Về phía học sinh

+Học sinh từ việc nắm kiến thức trong khi nghiên cứu bài không vững chắc, thờigian dành cho luyện tập, củng cố kiến thức ít, không có điều kiện phân tích, làm rõ

đề bài, hay học sinh rất ít được làm việc theo nhóm, hay ít được thảo luận

+ HS tiếp thu kiến thức ở trên lớp còn thụ động, ít suy nghĩ về bài học, thuộc bài

một cách máy móc nên còn phải lúng túng khi phải độc lập vận dụng kiến thức củamình khi làm bài

- Nhiều em HS chưa chăm học, chưa có hứng thú học tập, học qua loa, đại khái,chưa có kĩ năng cần thiết để giải quyết những nhiệm vụ học tập; chưa biết phân bốthời gian học các môn một cách hợp lí Nhiều em dành thời gian học thêm quánhiều không còn thời gian thời gian để về đọc lại hay nghiền ngẫm lại những kiếnthức mà đã được thầy cô giảng dạy Các em chưa tự giác học tập, chưa có ý thức tựnghiên cứu cao, tự mình bồi đắp kiến thức của mình còn hổng Thực tế cho thấy,tình trạng học thụ động của HS không chỉ đơn thuần do PPDH của GV mà còn dotác động của nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài nhà trường Cần phải có biện phápđồng bộ nhằm khuyến khích những HS học tốt và những GV dạy giỏi

Trang 26

TIỂU KẾT CHƯƠNG I

Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận của đề tài bao gồm:

1 Vấn đề phát triển năng lực tự học: Định nghĩa, tầm quan trọng, mối quan

hệ giữa BTHH và vấn đề phát triển năng lực tự học cho học sinh

2 Tình hình sử dụng BTHH để phát triển tư duy cho HS hiện nay thông qualăng kính thực tiễn

Trang 27

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP PHẦN DẪN XUẤT HALOGEN, ANCOL, PHENOL, ANĐEHIT, AXIT CACBOXYLIC VÀ ESTE NHẰM HỖ TRỢ PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC

CHO HỌC SINH 2.1 Nguyên tắc xây dựng

SGK Hóa học được coi là một trong những nguồn cung cấp tri thức cơ bản chohọc sinh và là phương tiện để GV tổ chức dạy học nhằm nâng cao chất lượng họctập, rèn luyện khả năng tự học tự chiếm lĩnh kiến thức cho học sinh SGK Hóa họchiện nay là tài liệu được văn bản hóa có chứa đựng mục tiêu, nội dung và phươngpháp dạy học, nhưng nặng về nội dung bài hoc nên bài tập chưa được phong phú

và chưa được phân dạng cao Để có thêm tư liệu dạy học cho giáo viên và tư liệu

học tập của học sinh ngoài các bài tập ở sách giáo khoa và sách bài tập, chúng tôi đãlựa chọn - xây dựng thêm hệ thống số bài tập trên những nguyên tắc chung

2.1.1 Chính xác, khoa học

Với mục đích của việc xây dựng bài tập là giúp học sinh hiểu đúng, hiểu đầy

đủ các kiến thức hoá học phổ thông, cho nên tính chính xác, khoa học của bài tập làyếu tố quan trọng hàng đầu

2.1.2 Phong phú, đa dạng, xuyên suốt chương trình

Bài tập phải được tuyển chọn cẩn thận từ nhiều tài liệu, kết hợp với một sốphần tự xây dựng trải rộng khắp chương trình hoá học THPT, liên quan đến nhiềuvấn đề của hoá học nhưng không nằm ngoài chương trình, không mang tính đánh

đố Bài tập có thể ở hình thức tự luận hoặc trắc nghiệm, sao cho phát huy hết nănglực của học sinh

2.1.3 Khai thác được đặc trưng, bản chất hoá học

Bài tập phải đi sâu khai thác hiện tượng hoá học, bản chất hoá học chứ khôngphải tính toán nặng nề bằng các phương trình toán học phức tạp

2.1.4 Đòi hỏi cao ở người học

Bài tập không nên ra theo kiểu chỉ cần tái hiện kiến thức là có thể giải quyếtđược (nếu có cũng rất ít) mà chủ yếu buộc học sinh phải sử dụng các thao tác tư duymột cách thành thạo mới có thể giải quyết được Ngay cả bài tập lý thuyết định tính

Trang 28

cũng nên đòi hỏi cao ở người học về mặt kỹ năng và phương pháp Không chỉ đòihỏi học sinh giải chính xác mà còn đòi hỏi cả về thời gian hoàn thành.

2.1.5 Tạo điều kiện cho học sinh tự học

Để HS tự học một cách thuận lợi thì HTBT nhằm hỗ trợ cho cho học sinh tự học cần phải:

- Trươc khi đưa HTBT cho HS, GV cần tóm tắt lý thuyết, Cách tóm tắt phải xácđịnh rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức mở rộng, để học sinh biết cách học, tránh giớihạn quá dài, để qua đó học sinh hình thành kĩ năng giải bài tập

- HTBT trong tài liệu phải được phân dạng, có bài giải mẫu, sau đó cung cấp cácbài tập tương tự để HS tự giải, nội dung phải phù hợp với các đối tượng học sinh,thời gian học tập của học sinh ở lớp và ở nhà

- Sắp xếp các bài tập từ dễ đến khó, bài trước làm nền tảng cho bài sau Có cácbài tập nhỏ đồng thời có những bài tập tổng hợp sau khi các em học xong một sốbài hoặc học hết chương Mỗi bài tập được chọn phải là một mắt xích trong hệthống kiến thức của học sinh, giúp cho họ hiểu được mối liên hệ giữa các đạilượng, cụ thể hóa các khái niệm và vạch ra những nét mới nào đó chưa được làmsáng tỏ Đối với các bài tập khó giáo viên cần gợi ý hoặc cung cấp thêm một sốkiến thức có liên quan nhằm giúp phục vụ các em có đủ kiến thức giải được bàitập khó đó

- Giáo viên cần cung cấp một HTBT (tương tự bài tập giải mẫu) không có lờigiải chỉ có đáp án để cho các em tự học luyên thêm ở nhà

2.2 HỆ THỐNG BÀI TẬP VÀ LÝ THUYẾT PHẦN HALOGEN, ANCOL, PHENOL

2.2.1 TÓM TẮT NỘI DUNG LÝ THUYẾT CƠ BẢN PHẦN DẪN XUẤT HALOGEN, ANCOL, PHENOL

Trang 29

Dựa vào bản chất halogen, số lượng nguyên tử halogen, đặc điểm cấu tạo của gốchiđrocacbon, bậc của dẫn xuất halogen.( Bậc của dẫn xuất halogen bằng bậc củanguyên tử cacbon liên kết với nguyên tử halogen).

3 Đồng phân

Đồng phân mạch cacbon và đồng phân vị trí nhóm chức

4 Danh pháp

- Tên thông thường : Ví dụ : CHCl3 : clorofom

Tên gốc – chức : tên gốc hiđrocacbon + halogenua

Ở điều kiện thường, các dẫn xuất mono halogen có phân tử khối nhỏ như CH3F,

CH3Cl,CH3Br là chất khí, dẫn xuất halogen có phân tử khối lớn hơn thường ở thểlỏng hoặc rắn

- Các dẫn xuất halogen hầu như không tan trong nước, tan trong một số dung môihữu cơ như: este, ete, hiđrocacbon,…

- Nhiều dẫn xuất có hoạt tính sinh học cao: CHCl3 : tác dụng gây mê, C6H6Cl6Tác dụng diệt sâu bọ,…

6 Tính chất hóa học

a) Phản ứng thế nguyên tử halogen bằng nhóm -OH

Dẫn xuất loại anlyl halogenua bị thủy phân ngay khi đun sôi với nước:

RCH=CHCH2-X + H2O  RCH=CHCH2-OH + HX

Trang 30

Dẫn xuất loại ankyl halogenua không phản ứng với nước ở nhiệt độ thường cũngnhư đun sôi, nhưng bị thủy phân khi đun nóng với dung dịch kiềm.

Hướng tách tuân theo quy tắc Zaixep: Khi tách HX khỏi dẫn xuất halogen, nguyên

tử halogen (X) ưu tiên tách ra cùng với H ở nguyên tử cacbon bậc cao hơn bêncạnh

Trang 31

- Tên thông thường: Ancol + tên gốc hiđrocacbon + ic

5 Bậc của ancol

-Là bậc của nguyên tử cacbon đính với nhóm OH

6 Ancol không bền

- Ancol có nhóm OH đính ở cacbon chứa nối đôi có hiện tượng chuyển vị

- Nếu nhóm –OH đính với cacbon chứa nối đôi đầu mạch sẽ chuyển vị thànhanđehit RCHO

- Nếu nhóm –OH đính với cacbon nối đôi trong mạch sẽ chuyển vị thành xeton

Chú ý: Ancol không no chỉ tồn tại khi nhóm OH gắn vào nguyên tử C mang nối

đơn, nghĩa là số nguyên tử cacbon phải 3, trừ trường hợp ở nhân thơm:

OH

phenol

-Ancol có từ 2 nhóm OH trở lên đính vào cùng một nguyên tử cacbon thì ancol đókhông bền sẽ tách 1 phân tử H2O chuyển thành sản phảm bền là anđehit, xeton hoặcaxit

- Nếu có 2 nhóm OH đính với 1 nguyên tử C đầu mạch thì ancol đó không bền sẽtách 1 phân tử H2O thành anđehit

- Nếu có 2 nhóm OH đính với 1 nguyên tử C trong mạch thì ancol đó sẽ không bềntách 1 phân tử H2O thành xeton

+ H2OR,

Trang 32

- Nếu 3 nhóm OH đính với 1 nguyên tử cacbon thì ancol đó không bền sẽ tách 1phân tử H2O thành axit cacboxylic

7 Tính chất vật lý

- Ancol no từ C1 C12 là chất lỏng, từ khoảng C13 trở lên là chất rắn

- Các ancol có từ 1 đến 3 nguyên tử cacbon trong phân tử tan vô hạn trong nước, khi

số nguyên tử C tăng thì độ tan giảm

- Do có liên kết hiđro giữa các phân tử với nhau nên ancol có nhiệt độ sôi cao hơnhiđrocacbon, dẫn xuất halogen, anđêhit, xeton có cùng số nguyên tử cacbon

8 Tính chất hoá học

- Tác dụng với kim loại kiềm tạo ra ancolat và giải phóng hiđro

R(OH)n + nNa R(ONa)n + n

t0

Trang 33

R1CHOH-R2 + CuO R1-CO-R2 + Cu + H2O

+) Ancol bậc 3 bị oxi hoá mạnh thì gãy mạch cacbon tạo ra anđehyt và xeton hoặc

CO2 vàxeton

+) Ancol cháy tạo thành CO2 và H2O

- Phản ứng este hoá:

H2SO4 đ, t0RCOOH + R'OH RCOO R' + H2O

Chú ý: Ancol có các nhóm –OH đính với những nguyên tử cacbon cạnh

nhau hoà tan được Cu(OH)2 tạo thành phức tan màu xanh da trời  Dùng để phân biệt với các ancol khác.

9 Điều chế

- Điều chế etanol trong công nghiệp

+) Hiđrat hoá etilen xúc tác axit:

Trang 34

Phenol là hợp chất hữu cơ trong phân tử có nhóm –OH liên kết trực tiếp vào nhân benzen.

Lưu ý : Cần phân biệt ancol thơm và phenol

Ancol thơm là hợp chất hữu cơ trong phân tử nhóm OH liên kết với mạch nhánh của nhân benzen

- Có mùi xốc, độc, có tính sát trùng làm bỏng da

3 Tính chất hóa học

Do cặp electron chưa chia của oxi tham gia liên hợp với các electron  của nhân benzen làm cho mật độ electron dịch chuyển về nhân benzen mật độ electron trên oxy bị giảm do đó

Trang 35

+ Do tạo được hệ liên hợp với các electron  trong nhân liên kết CO bền vững hơn

so với ancol, vì thế nhóm OH phenol không bị thế bởi gốc axit như nhóm OH ở ancol

2.2.2.1 Bài tập về dẫn xuất halogen

Chủ đề 1 Bài tập về phản ứng thế halogen vào hiđrocacbon

Ví dụ 1

Hai chất A và B có cùng công thức phân tử C5H12 tác dụng với clo theo tỷ lệ mol1: 1 thì A chỉ tạo ra một dẫn xuất duy nhất, còn B thì cho 4 dẫn xuất Viết công thứccấu tạo của A và B cùng các dẫn xuất clo của chúng

Hướng dẫn giải Nhận xét: C5H12 có 3 đồng phân Lấy lần lượt các đồng phân cho tác dụng với clo Sản phẩm cho một dẫn xuất duy nhất là A Vậy A là đồng phân đối xứng cao B cho

4 dẫn xuất, B có 4 nguyên tử C ở 4 vị trí khác nhau

Công thức chung của dẫn xuất clo theo tỉ lệ 1:1

C5H12 + Cl2  C5H11Cl + HCl

Trang 36

C5H12 có 3 đồng phân: Mỗi đồng phân tác dụng với Cl2 cho ra những đồng phân dẫnxuất halogen

B thì cho 4 dẫn xuất Vậy B là: CH3-CH2-CH-(CH3)2 2- metyl butan

Chủ đề 2 :Bài tập về phản ứng tách HX khỏi dẫn xuất halogen

Các đồng phân dẫn xuất halogen có CTPT C4H9Cl, tên gọi và bậc của chúng

CH3-CH2-CH2-CH2-Cl Dẫn xuất halogen bậc 1 Tên: 1-clo-butan

Trang 37

CH3-CH2-CHCl-CH3 Dẫn xuất halogen bậc 2 Tên: 2-clo-butan

CH3-C(CH3)Cl-CH3 Dẫn xuất halogen bậc 3 Tên: 2-clo–2-metyl-propan

CH3-CH(CH3)-CH2Cl Dẫn xuất halogen bậc 1 Tên: 1-clo–2-metyl-propan b) Khi đun nóng A với dd KOH trong ancol thu được hỗn hợp hai anken có CTPT

C4H8 là đồng phân cấu tạo của nhau Vậy A là dẫn xuất halogen bậc 2

Chủ đề 3: Bài tập về phản ứng thủy phân dẫn xuất halogen

Ví dụ 1: Có ba hợp chất: anlyl clorua, etyl bromua và clobenzen đựng trong 3 lọ

nhãn dán bị mờ đọc không rõ Hãy tìm ra cách để xác định được các hóa chất trongmỗi lọ

Hướng dẫn giải Nhận xét: 3 hợp chất trên đều là dẫn xuất halogen nhưng khả năng thủy phân xảy ra

được ở những điều kiện khác nhau

-Anlyl clorua thủy phân khi đun sôi với nước nóng

- Etyl bromua không thủy phân khi đun sôi với nước nóng nhưng thủy phân khiđun với dung dịch kiềm

- Clobenzen không bị thủy phân ở các điều kiện trên Dùng AgNO3 để nhận biếtphản ứng thủy phân xảy ra

Ta xác định anlyl clorua dẫn xuất halogen dễ bị thủy phân nhất rồi sau đó đến etylbromua, còn lại là clobenzen

Vậy ta xác định được các hóa chất trong mỗi lọ như sau:

Trang 38

Lần lượt cho các mẫu đựng dẫn xuất trên đun sôi với nước, gạn tách bỏ lớp hữu cơ,nhỏ tiếp dung dịch AgNO3 Mẫu cho kết tủa trắng là mẫu anlyl clorua, nhận biếtđược.

CH2=CHCH2-Cl + H2O  CH2=CHCH2-OH + HCl

HCl + AgNO3  AgCl + HNO3

Đun sôi 2 mẫu etyl bromua và clobenzen còn lại với dung dịch NaOH,gạn tách bỏlớp nước, axit hóa bằng HNO3, nhỏ tiếp dung dịch AgNO3 Mẫu cho kết tủa vàngnhạt là mẫu etyl bromua, nhận biết được Mẫu không cho hiện tượng gì là mẫu etylbromua

CH3-CH2Br + NaOH 0t CH3-CH2OH + NaBr

NaOH + HNO3  NaNO3 + H2O

NaBr + HNO3  NaNO3 + HBr

HBr + AgNO3  AgBr vàng + HNO3

Ví dụ 2: Khi cho chất X có CTPT C3H5Br3 tác dụng với dd NaOH dư thu được chấthữu cơ Y có phản ứng với Na và phản ứng tráng gương Xác định công thức cấutạo thu gọn của X

Hướng dẫn giải Nhận xét: Thủy phân dẫn xuất halogen no cho sản phẩm khác ancol, chứng tỏ

ancol không bền do có từ 2 nhóm OH hoặc 3 nhóm OH liên kết trực tiếp với 1nguyên tử cacbon Dựa vào sản phẩm hữu cơ X có phản ứng với Na và phản ứngtráng bạc ta suy ra CTCT của X

X : C3H5Br3 (dẫn xuất halogen no) tác dụng với dd NaOH dư, đây là phản ứngthủy phân dẫn xuất halogen Sản phẩm Y thu được có phản ứng với Na và phảnứng tráng gương chứng tỏ Y có chức rượu và có chức anđehit (Y là ancol khôngbền tách 1 phân tử H2O tạo chức anđehit,1 nhóm OH còn lại liên kết với một Ckhác)

Vậy X có 2 nguyên tử Br liên kết trực tiếp với cacbon đầu mạch, còn nguyên tử

Br còn lại liên kết với 1 trong 2 nguyên tử cacbon khác trong X

Vậy CTCT rút gọn của X là :

CHBr2- CHBr- CH3 hoặc CHBr2- CH2- CH2Br

Trang 39

Ví dụ 3: Hợp chất hữu cơ X có CTPT là C3H5Br3 Cho X tác dụng với dung dịchNaOH loãng dư, đun nóng rồi cô cạn dung dịch thu được thì còn lại chất rắn trong

đó có chứa sản phẩm hữu cơ của natri Y

Viết các phương trình phản ứng xảy ra và xác định công thức cấu tạo thu gọn củaX

Hướng dẫn giải Nhận xét: X : C3H5Br3.( dẫn xuất halogen).Cho X tác dụng với dụng dịch NaOHloãng dư Đây là phản ứng thủy phân dẫn xuất halogen Dựa vào dữ kiện sản phẩmthủy phân có chất hữu cơ của Na Ta biện luận các CTCT có CTPT C3H5Br3 có phảnứng thủy phân thõa mãn đề bài ra

- Nếu X có 3 nguyên tử Br liên kết trực tiếp với 3 nguyên tử cacbon Sản phẩmthủy phân thu được là glixerol nên không chứa Na ( loại)

- Nếu X có 2 nguyên tử Br liên kết với 1 nguyên tử cacbon, 1 nguyên tử Br liên kếtvới 1 cacbon khác Sản phẩm thủy phân thu được là hợp chất hữu cơ có 1 chứcanđehit (ancol có 2 nhóm OH liên kết trực tiép với 1 cacbon không bền tách 1 phân

tử H2O tạo ra anđehit) và 1 chức ancol nên không chứa Na (loại )

- Nếu X có 3 nguyên tử Br liên kết trực tiếp với 1 nguyên tử cacbon Sản phẩmthủy phân thu được là axit propionic ( ancol có 3 nhóm OH liên kết trực tiép với 1cacbon không bền tách 1 phân tử H2O tạo axit cacboxylic) Axit propionic tác dụngvới NaOH dư cho Natri propionat là hợp chất chứa Natri ( thõa mãn)

Vậy CTCT thu gọn của X là: CBr3-CH2-CH3

Các phương trình phản ứng hóa học xảy ra:

CBr3-CH2-CH3 + 3NaOH   3NaBr HO-C(OH)2-CH2-CH3  CH3-CH2COOH + H2O

CH3-CH2COOH + NaOH  CH3-CH2COONa + H2O

Chủ đề 4: Bài tập trắc nghiệm

Câu 1: CH2=CHCH2Cl có tên gốc chức là

A Anlyl clorua B Vinyl clorua

Câu 2 :Nhận xét nào sau đây ko đúng ?

Trang 40

A Anlyl bromua dễ tham gia pứ thế hơn phenyl bromua

B.Vinyl clorua có thể được điều chế từ 1,2-đicloetan

C Etyl clorua thuộc loại dx halogen bậc II

D Ứng với CTPT C3H5Br có 4 đồng phân cấu tạo

Câu 3: Một hợp chất hữu cơ X có CTĐGN là CH2Br và phân tử khối bằng 188đvC CTPT và số đồng phân của X là:

A.1-brom-3-clo butan B 2-brom-3-clo butan

C 2-brom-2-clo butan D 2-clo-3-brom butan

Câu 11: Một hợp chất hữu cơ Z có % khối lượng của C , H , Cl lần lượt là :

14,28% ; 1,19% ; 84,53% CTPT của Z là :

A.CHCl2 B.C2H2Cl4 C.C2H4Cl2 D một kết quả khác

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1  Các trường, lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) - Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhẵm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 3.1 Các trường, lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) (Trang 167)
Bảng 3.3: Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra - Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhẵm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 3.3 Bảng tổng hợp điểm các bài kiểm tra (Trang 168)
Bảng 3.4: Số % HS đạt điểm X i - Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhẵm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 3.4 Số % HS đạt điểm X i (Trang 171)
Bảng 3.5: Số % HS đạt điểm X i  tr  xu ng ở xuống ống Bài - Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhẵm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 3.5 Số % HS đạt điểm X i tr xu ng ở xuống ống Bài (Trang 171)
Đồ thị đường luỹ tích bài 1 - Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhẵm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
th ị đường luỹ tích bài 1 (Trang 172)
Bảng 5:  B ng th ng kê các giá tr  trung bình c ng, ph ảng 3.2: Kết quả các bài kiểm tra ống ị trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ ộng, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ ươ đồ sau: ng sai,  động, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ ện luận:   l ch  - Xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập phần dẫn xuất halogen, ancol, phenol, anđehit, axit cacboxylic và este ở trường trung học phổ thông nhẵm hỗ trợ phương pháp tự học cho học sinh luận văn thạc sỹ giáo dục học
Bảng 5 B ng th ng kê các giá tr trung bình c ng, ph ảng 3.2: Kết quả các bài kiểm tra ống ị trung bình cộng, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ ộng, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ ươ đồ sau: ng sai, động, phương sai, độ lệch chuẩn và hệ ện luận: l ch (Trang 174)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w