1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tuyển chọn xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn tư duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy học phần phi kim chương trình nâng cao ở trường THPT

139 616 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn tư duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy học phần phi kim chương trình nâng cao ở trường THPT
Tác giả Hoàng Danh Hùng
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Xuân Trường
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Hóa học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 4,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thế nhưng, các công trình nghiên cứu về thựctrạng giáo dục hiện nay cho thấy chất lượng nắm vững kiến thức của học sinhkhông cao, đặc biệt việc phát huy tính tích cực của học sinh, năng

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh

  

-Hoàng danh hùng

Tuyển chọn - xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn t duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU - -

I - Lý do chọn đề tài

Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI, thế kỷ tri thức, kỹ năng của con ngườiđược xem là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội Trong xã hội tương lai, nềngiáo dục phải đào tạo ra những con người có trí tuệ phát triển thông minh và sángtạo Muốn có được điều này, ngay từ bây giờ nhà trường phổ thông phải trang bịđầy đủ cho học sinh hệ thống kiến thức cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn ViệtNam và năng lực tư duy sáng tạo Thế nhưng, các công trình nghiên cứu về thựctrạng giáo dục hiện nay cho thấy chất lượng nắm vững kiến thức của học sinhkhông cao, đặc biệt việc phát huy tính tích cực của học sinh, năng lực tư duy, nănglực giải quyết vấn đề và khả năng tự học không được chú ý rèn luyện đúng mức Từthực tế đó, nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải đổi mới phương pháp dạy học, áp dụngnhững phương pháp dạy học hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duysáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

Trong dạy học hóa học, có thể nâng cao chất lượng dạy học và phát triển nănglực nhận thức của học sinh bằng nhiều biện pháp và phương pháp khác nhau Trong

đó, giải bài tập hóa học với tư cách là một phương pháp dạy học, có tác dụng rấttích cực đến việc giáo dục, rèn luyện và phát triển học sinh Mặt khác, cũng là thước

đo thực chất sự nắm vững kiến thức và kĩ năng hóa học của học sinh

Việc nghiên cứu các vấn đề về bài tập hóa học từ trước đến nay đã có nhiềucông trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước quan tâm đến như ApkinG.L, Xereda I.P nghiên cứu về phương pháp giải toán ở trong nước có GS.TS.Nguyễn Ngọc Quang nghiên cứu lý luận về bài toán; PGS TS Nguyễn XuânTrường, PGS TS Lê Xuân Thọ, TS Cao Cự Giác, PGS TS Đào Hữu Vinh vànhiều tác giả khác đều quan tâm đến nội dung và phương pháp giải toán Tuynhiên, xu hướng hiện nay của lý luận dạy học là đặc biệt chú trọng đến hoạt động vàvai trò của học sinh trong quá trình dạy học, đòi hỏi học sinh phải làm việc tích cực,

tự lực Vì vậy, cần phải nghiên cứu bài tập hóa học trên cơ sở hoạt động tư duy của

Trang 3

học sinh, từ đó đề ra cách hướng dẫn học sinh tự lực giải bài tập, thông qua đó mà

tư duy của họ phát triển Từ những lập luận trên chúng tôi đã đi đến chọn đề tài:

"Tuyển chọn – xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn tư duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy học phần phi kim chương trình nâng cao ở trường THPT”

II Mục đích nghiên cứu

Xác định những nội dung có tính phương pháp luận và hệ thống bài tập cầnkhai thác để phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh cho học sinh thông quaquá trình tìm kiếm lời giải

III Nhiệm vụ nghiên cứu

1 Nghiên cứu hoạt động tư duy của học sinh (HS) trong quá trình giải bài tậphóa học (BTHH), từ đó hướng dẫn HS xây dựng tiến trình luận giải, làm cơ sở choviệc tìm kiếm lời giải một cách có hiệu quả

2 Điều tra cơ bản tình hình sử dụng BTHH ở phổ thông, cũng như khả năngphát huy tính tích cực, tự lực của học sinh khi giải quyết các vấn đề hóa học như thếnào

3 Xây dựng một hệ thống những biện pháp nhằm phát triển năng lực tư duy

và rèn trí thông minh hóa học cho HS thông qua việc giải BTHH

4 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của những nội dung mang tínhphương pháp luận và hệ thống bài tập đã khai thác để phát triển năng lực tư duy vàrèn trí thông minh cho học sinh thông qua quá trình tìm kiếm lời giải Đối chiếu kếtquả thực nghiệm với kết quả điều tra ban đầu, rút ra kết luận và khả năng ứng dụngnhững nội dung và biện pháp đã nêu ra vào quá trình dạy học hóa học

IV Giả thuyết khoa học

Trong quá trình dạy học hóa học, nếu người giáo viên có một hệ thống phươngpháp luận đúng đắn về phát triển năng lực tư duy, rèn trí thông minh cho HS và sửdụng một hệ thống những bài tập có nội dung thích hợp thì sẽ nâng cao hiệu quả

Trang 4

V Đối tượng nghiên cứu

1 Hoạt động tư duy của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải, của giáo viêntrong quá trình hướng dẫn HS giải bài tập

2 Hệ thống những phẩm chất của tư duy cần đặc biệt chú ý rèn luyện và bồidưỡng thông qua những kiến thức và hệ thống bài tập đã đề xuất

VI Phương pháp nghiên cứu

- Điều tra thực trạng, để nắm được khả năng tư duy của HS và mức độ nắmvững kiến thức của HS, xem xét thực tiễn sử dụng bài tập của giáo viên

- Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phân tích lý luận,nghiên cứu thực tiễn, thực nghiệm sư phạm, kết hợp với phương pháp điều tra viết,quan sát, trò chuyện

VII Điểm mới của luận văn

1 Nghiên cứu sự phát triển tư duy hóa học và rèn trí thông minh cho học sinhthông qua quá trình đào tạo và quan điểm tiếp cận hệ thống

2 Năng lực tư duy và rèn trí thông minh: Thực trạng - Nguyên nhân -Và hậuquả Từ đó phải nghiên cứu BTHH dưới góc độ hoạt tư duy của người học và ngườidạy

3 Đề xuất một số nội dung và biện pháp mang tính phương pháp luận nhằmphát triển năng lực tư duy, rèn trí thông minh cho HS thông qua BTHH dưới 3 góc

độ :

+ Phẩm chất tư duy

+ Người sử dụng BT

+ Nội dung hóa học

Trong đó xây dựng tiến trình luận giải làm căn bản

Trang 5

PHẦN II: NỘI DUNG

-  

-Chương I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÀI TẬP HOÁ HỌC, TƯ DUY VÀ TRÍ THÔNG

MINH 1.1 Bài tập hóa học (BTHH)

I.1.1 Khái niện BTHH

BTHH là một vấn đề không lớn mà trong trường hợp tổng quát được giảiquyết nhờ những suy luận lôgic, những phép toán và những thí nghiệm trên cơ sởcác khái niệm, định luật, học thuyết và phương pháp hóa học

I.1.2 Tác dụng của BTHH

- BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy họcsinh tập vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tậpnghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thànhkiến thức của chính mình Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyênnhư M.A Đanilôp nhận định: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thểvận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thựchành"

- Đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú Chỉ cóvận dụng kiến thức vào giải bài tập, HS mới nắm vững kiến thức một cách sâu sắc

- Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hóa kiến thức một cách tốt nhất

- Phát triển tư duy, rèn trí thông minh cho HS: Một số vấn đề lý thuyết cầnphải đào sâu mới hiểu được trọn vẹn, một số bài toán có tính chất đặc biệt, ngoàicách giải thông thường còn có cách giải độc đáo nếu HS có tầm nhìn sắc sảo Thôngthường nên yêu cầu HS giải bằng nhiều cách có thể có - tìm ra cách giải ngắn nhất,hay nhất - đó là một phương pháp rèn luyện trí thông minh cho HS Vì rằng giảimột bài toán bằng nhiều cách dưới các góc độ khác nhau thì khả năng tư duy của

Trang 6

HS tăng lên gấp nhiều lần so với giải bài toán bằng một cách và không phân tích,

mổ xẻ đến nơi đến chốn

- BTHH còn được sử dụng như một phương tiện để nghiên cứu tài liệu mới(hình thành khái niệm, định luật) Khi trang bị kiến thức mới, giúp HS tích cực, tựlực, lĩnh hội kiến thức một cách sâu sắc và bền vững

- BTHH còn làm chính xác hóa các khái niệm, định luật đã học

- BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp họctập hợp lý

- BTHH còn là phương tiện để kiểm tra đánh giá kiến thức, kĩ năng của HSmột cách chính xác

- Giáo dục đạo đức, tác phong như rèn tính kiên nhẫn, trung thực, chính xác,khoa học và sáng tạo, phong cách làm việc khoa học (có tổ chức, kế hoạch, …)nâng cao hứng thú học tập bộ môn, điều này thể hiện rõ khi giải bài tập thựcnghiệm

Trên đây là một số tác dụng của BTHH, nhưng cần phải khẳng định rằng: Bản

thân BTHH chưa có tác dụng gì cả; Không phải một BTHH "hay" thì luôn luôn có tác dụng tích cực ! Vấn đề phụ thuộc chủ yếu là "người sử dụng" nó, phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cách khai thác triệt để mọi khía cạnh có thể có của bài toán, để học sinh tự tìm ra lời giải Lúc đó BTHH mới thực sự có ý nghĩa, không phải chỉ dạy học để giải bài toán, mà là dạy học bằng giải bài toán.

I.1.3 Phân loại BTHH dựa vào mức độ phức tạp của hoạt động tư duy của

HS khi tìm kiếm lời giải

Với mục đích nghiên cứu quá trình tư duy hóa học nhằm phát triển năng lực trítuệ cho HS chúng tôi tạm phân ra làm hai loại sau:

a) Bài tập cơ bản (BTCB): Là loại bài tập để tìm được lời giải chỉ cần thiết lập

mối quan hệ giữa cái đã cho và cái cần tìm dựa vào một vài đơn vị kiến thức đơngiản

Trang 7

b) Bài tập phức tạp(BTPT)

Là loại BT mà quá trình giải phải thực hiện một chuỗi các lập luận lôgic, giữacái đã cho và cái cần tìm thông qua một loạt các bài toán trung gian Rõ dàng, mộtbài toán trung gian là một bài toán cơ bản Nên để giải quyết một bài toán không cơbản thì học sinh phải giải thành thạo các bài toán cơ bản và phải nhận ra quan hệlôgic, mật thiết của bài toán thông qua quan hệ lôgic sơ đẳng Trong thực tế dạyhọc, GV không làm cho HS hiểu trọn vẹn một vấn đề, một bài toán, một quá trìnhsuy luận (vì những lí do khách quan và chủ quan khác nhau) thông qua những câuhỏi "tại sao ?" Về phía mình, HS cũng không biết đặt câu hỏi này, cuối cùng là đãhạn chế một cách đáng kể quá trình nhận thức, khả năng giải quyết vấn đề và tư duyhóa học của HS

I.2 Vấn đề phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh

I.2.1 Tư duy là gì ?

L.N Tônxtôi đã viết: "Kiến thức chỉ thực sự là kiến thức khi nào nó là thànhquả những cố gắng của tư duy chứ không phải của trí nhớ" Như vậy, HS chỉ thực

sự lĩnh hội được tri thức chỉ khi họ thực sự tư duy

Theo M.N Sacđacôp: "Tư duy là sự nhận thức khái quát gián tiếp các sự vật

và hiện tượng của hiện thực trong những dấu hiệu, những thuộc tính chung và bảnchất của chúng Tư duy cũng là sự nhận thức sáng tạo những sự vật, hiện tượngmới, riêng rẽ của hiện thực trên cơ sở những kiến thức khái quát hóa đã thu nhậnđược

Hay: Tư duy là một quá trình tâm lý mà nhờ đó con người phản ánh được cáiđối tượng và hiện tượng của hiện thực thông qua những dấu hiệu bản chất củachúng, đồng thời con người vạch ra được những mối quan hệ khác nhau trong mỗiđối tượng, hiện tượng và giữa các đối tượng, hiện tượng với nhau"

Còn theo tác giả Nguyễn Xuân Trường (Đại học Sư Phạm Hà Nội) thì "tư duy

là hành động trí tuệ nhằm thu thập và xử lí thông tin về thế giới quanh ta và thế giớitrong ta Chúng ta tư duy để hiểu, làm chủ tự nhiên, xã hội và chính mình"

Trang 8

I.2.2 Tầm quan trọng của việc phát triển tư duy

Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt chú trọng đến việc phát triển tư duy cho HS

thông qua việc điều khiển tối ưu quá trình dạy học, còn các thao tác tư duy cơ bản

là công cụ của nhận thức, đáng tiếc rằng điều này cho đến nay vẫn chưa được thựchiện rộng rãi và có hiệu quả Vẫn biết sự tích lũy kiến thức trong quá trình dạy họcđóng vai trò không nhỏ, song không phải quyết định hoàn toàn Con người có thểquên đi nhiều sự việc cụ thể mà dựa vào đó những nét tính cách của anh ta đượchoàn thiện Nhưng nếu những nét tính cách này đạt đến mức cao thì con người cóthể giải quyết được mọi vấn đề phức tạp nhất, điều đó nghĩa là anh ta đã đạt đếnmột trình độ tư duy cao "Giáo dục - đó là cái được giữ lại khi mà tất cả những điềuhọc thuộc đã quên đi" - nhà vật lý nổi tiếng N.I.sue đã nói như vậy - Câu này khẳngđịnh vai trò quan trọng của việc phát triển tư duy cũng như mối quan hệ mật thiếtcủa nó với giảng dạy

Quá trình hoạt động nhận thức của HS chia làm hai mức độ:

- Trình độ nhận thức cảm tính: Là quá trình phản ánh thực tiễn dưới dạng cảmgiác, tri giác và biểu tượng

- Trình độ nhận thức lý tính: Còn gọi là trình độ lôgic hay đơn giản là tư duy

I.2.3 Những đặc điểm của tư duy

- Quá trình tư duy nhất thiết phải sử dụng ngôn ngữ là phương tiện: Giữa tưduy và ngôn ngữ có mối quan hệ không thể chia cắt, tư duy và ngôn ngữ phát triểntrong sự thống nhất với nhau Tư duy dựa vào ngôn ngữ nói chung và khái niệm nóiriêng Mỗi khái niệm lại được biểu thị bằng một hay một tập hợp từ Vì vậy, tư duy

là sự phản ánh nhờ vào ngôn ngữ Các khái niệm là những yếu tố của tư duy Sự kếthợp các khái niệm theo những phương thức khác nhau, cho phép con người đi từ ýnghĩ này sang ý nghĩ khác

+ Tư duy phản ánh khái quát:

Tư duy phản ánh hiện thực khách quan, những nguyên tắc hay nguyên lýchung, những khái niệm hay vật tiêu biểu Phản ánh khái quát là phản ánh tính phổ

Trang 9

biến của đối tượng Vì thế những đối tượng riêng lẻ đều được xem như một sự thểhiện cụ thể của quy luật chung nào đó Nhờ đặc điểm này, quá trình tư duy bổ sungcho nhận thức và giúp con người nhận thức hiện thực một cách toàn diện hơn.

+ Tư duy phản ánh gián tiếp:

Tư duy giúp ta hiểu biết những gì không tác động trực tiếp, không cảm giác vàquan sát được, mang lại những nhận thức thông qua các dấu hiệu gián tiếp Tư duycho ta khả năng hiểu biết những đặc điểm bên trong, những đặc điểm bản chất màcác giác quan không phản ánh được

+ Tư duy không tách rời quá trình nhận thức cảm tính:

Quá trình tư duy bắt đầu từ nhận thức cảm tính, liên hệ chặt chẽ với nó trongquá trình đó nhất thiết phải sử dụng những tư liệu của nhận thức cảm tính

I.2.4 Những phẩm chất của tư duy thể hiện ở

a) Khả năng định hướng: ý thức nhanh chóng và chính xác đối tượng cần lĩnh

hội, mục đích phải đạt được và những con đường tối ưu đạt được mục đích đó

b) Bề rộng: Có khả năng vận dụng nghiên cứu các đối tượng khác.

c) Độ sâu: Nắm vững ngày càng sâu sắc hơn bản chất của sự vật, hiện tượng d) Tính linh hoạt: Nhạy bén trong việc vận dụng những tri thức và cách thức

hành động vào những tình huống khác nhau một cách sáng tạo

e) Tính mềm dẻo: Thể hiện ở hoạt động tư duy được tiến hành theo các hướng

xuôi ngược chiều

f) Tính độc lập: Thể hiện ở chỗ tự mình phát hiện ra vấn đề, đề xuất cách giải

quyết và tự giải quyết được vấn đề

g) Tính khái quát: Khi giải quyết một loại vấn đề nào đó sẽ đưa ra được mô

hình khái quát, trên cơ sở đó để có thể vận dụng để giải quyết các vấn đề tương tự,cùng loại

I.2.5 Các thao tác tư duy và phương pháp lôgic

Trang 10

Sự phát triển tư duy nói chung được đặc trưng bởi sự tích lũy các thao tác tưduy thành thạo và vững chắc của con người Một trong những hình thức quan trọngcủa tư duy hóa học là những khái niệm khoa học Việc hình thành và vận dụng cáckhái niệm, cũng như việc thiết lập các mối quan hệ giữa chúng được thực hiện trongquá trình sử dụng các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quáthóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa kết hợp với các phương pháp hình thành phán đoánmới là quy nạp, diễn dịch, suy diễn và loại suy.

- Phân tích: Là hoạt động tư duy tách các yếu tố bộ phận của sự vật, hiện

tượng nhằm mục đích nghiên cứu chúng một cách đầy đủ, trọn vẹn theo hướng nhấtđịnh

Chẳng hạn, HS không thể nắm vững tính chất hóa học của một chất hữu cơmột cách sâu sắc và bền vững nếu như không phân tích kỹ công thức cấu tạo củachất đó Hoặc phân tích mọi khía cạnh có thể có của đề bài là cơ sở để giải đúng vàđầy đủ mọi BTHH

- Tổng hợp: Là hoạt động tư duy kết hợp các bộ phận, yếu tố đã được phân

tích để nhận thức, để nắm được cái toàn bộ của sự vật, hiện tượng Để hiểu đầy đủcác nhóm nguyên tố phải dựa trên kết quả tổng hợp của việc phân tích nghiên cứuđặc điểm cấu tạo cũng như tính chất của từng nguyên tố cụ thể

Kết quả của quá trình nhận thức là hoạt động cân đối và mật thiết giữa phântích và tổng hợp Sự phân tích sâu sắc, phong phú là điều kiện quan trọng để tổnghợp được chính xác, trọn vẹn, ngược lại tổng hợp sơ bộ tạo tiền đề quan trọng cho

sự phân tích

- So sánh: Là thiết lập sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng

và giữa những khái niệm phản ánh chúng

ở đây, có hai cách phát triển tư duy so sánh:

+ So sánh liên tiếp (tuần tự): Trong giảng dạy hóa học thường dùng phương

pháp này khi HS tiếp thu kiến thức mới So sánh với kiến thức đã học để HS hiểusâu sắc hơn

Trang 11

+ So sánh đối chiếu: Nghiên cứu hai đối tượng (hai chất, hai phản ứng, hai

phương pháp ….) cùng một lúc trên cơ sở phân tích từng bộ phận để đối chiếu vớinhau

Tóm lại, trong giảng dạy hóa học so sánh là phương pháp tư duy rất hiệu

nghiệm nhất là khi hình thành khái niệm

- Cụ thể hóa

Cụ thể: Là sự vật hiện tượng trọn vẹn, đầy đủ các tính chất, các mối quan hệ

giữa các thuộc tính với nhau và với môi trường xung quanh

Cụ thể hóa: Là hoạt động tư duy tái sản sinh ra hiện tượng và đối tượng với

các thuộc tính bản chất của nó

Vận dụng định luật tuần hoàn có các chu kỳ khác nhau cho thấy sự biến thiêntuần hoàn không có nghĩa sao y nguyên xi tính chất của chu kì trước mà luôn có sựphát triển một cách cơ sở

- Trừu tượng hóa

Trừu tượng: Là một bộ phận của toàn bộ, tách ra khỏi toàn bộ, nó cô lập rakhỏi các mối quan hệ của các bộ phận, mà nó chỉ giữ lại các thuộc tính cơ bản vàtước bỏ những thuộc tính không cơ bản Cụ thể có tri giác trực tiếp được Trừutượng không tri giác trực tiếp được Trong nhận thức có quy luật phát triển là từ cụthể đến trừu tượng và ngược lại Trừu tượng hóa là sự phản ánh bản chất cô lập cácdấu hiệu, thuộc tính bản chất Tìm hiểu cấu tạo nguyên tử và sự chuyển động củaelectron trong nguyên tử làm tiền đề để thông hiểu sự hình thành các liên kết hóahọc … liên kết  ,  , hiđro, những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tính chất lí hóacủa các chất

- Khái quát hóa

Là bước cần thiết của trừu tượng hóa Mỗi vật thể (chất, phản ứng …) với đầy

đủ các dấu hiệu bản chất và không bản chất, dấu hiệu chung, riêng Xác định thuộctính bản chất và chung của mọi loại đối tượng, từ đó hình thành lên một khaí niệm

Trang 12

*Những hình thức cơ bản của tư duy

-Khái niệm: Là một tư tưởng phản ánh những dấu hiệu bản chất riêng biệt của

sự vật hiện tượng

Khái niệm đóng vai trò quan trọng trong quá trình tư duy, được xây dựng trên

cơ sở các thao tác tư duy, nó làm điểm tựa cho tư duy phân tích và là cơ sở để đàosâu kiến thức, tiến tới xây dựng khái niệm mới Ngoài ra, các hoạt động suy luận,khái quát hóa, trừu tượng hóa nhờ có khái niệm mới có cơ sở để tư duy và đi sâuthêm vào bản chất của sự vật hiện tượng

- Phán đoán: Là sự tìm hiểu tri thức về mối quan hệ giữa các khái niệm, sự

phối hợp giữa các khái niệm, thực hiện theo một nguyên tắc, quy luật bên trong

- Suy lý: Hình thức suy nghĩ liên hệ các phán đoán với nhau để tạo thành phán

đoán mới gọi là suy lý Suy lý được cấu tạo bởi hai bộ phận:

+ Các phán đoán có trước gọi là tiên đề

+ Các phán đoán có sau gọi là kết luận (dựa vào tính chất của tiên đề để kếtluận)

Suy lý chia làm ba loại: Loại suy, suy lý quy nạp và suy lý diễn dịch

+ Loại suy: Là hình thức tư duy đi từ cái riêng biệt này đến cái riêng bịêt khác.

Loại suy cho ta những dự đoán chính xác sự phụ thuộc và sự hiểu biết về hai đốitượng Khi đã nắm vững các thuộc tính cơ bản của đối tượng thì loại suy sẽ chínhxác Chẳng hạn, khi nghiên cứu các loại hợp chất hữu cơ chỉ cần xét kỹ các hợpchất tiêu biểu nhất, còn các chất khác trong dãy đồng đẳng dễ dàng biết được bằngphương pháp loại suy

+ Suy lý quy nạp: Suy lý từ quy nạp đến phổ biến, từ những hoạt động tới quy

luật Do đó, quá trình tư duy, sự suy nghĩ theo quy nạp chuyển từ việc nhận thứccác hiện tượng riêng lẻ đến nhận thức cái chung Vì thế các suy lý quy nạp là yếu tốcấu trúc của tri thức khái quát của việc hình thành khái niệm và của việc nhận thứcđịnh luật

Trang 13

+ Suy lý diễn dịch: Là cách suy nghĩ đi từ cái chung, định luật, quy tắc, khái

niệm chung đến các sự vật hiện tượng riêng lẻ

Quá trình suy lý diễn dịch có thể là:

● Từ tổng quát đến ít tổng quát hơn

● Từ phán đoán có tính chất tổng quát này đến các phán đoán có tính chất tổngquát khác

Trong quá trình tư duy quy nạp và suy diễn bao giờ cũng liên hệ mật thiết vớinhau giống như phân tích và tổng hợp Quá trình này được thực hiện trong phươngpháp xác định mối liên hệ nhân quả trong các hiện tượng Với tư cách là hình thức

tư duy gián tiếp, suy lý trong tư duy lôgic đóng vai trò quan trọng trong tất cả cáchoạt động của tư duy Việc hướng dẫn quy tắc lôgic trong suy lý tạo được hiệu quảlớn trong quá trình lĩnh hội tri thức

Rèn luyện tư duy lôgic trong dạy học hóa học là tạo cho HS có phương pháp

tư duy từ khái niệm đến phán đoán, suy lý thông thường qua mọi câu hỏi, mọi vấn

đề và phải được tiến hành thường xuyên liên tục

I.2.6 Tư duy khoa học tự nhiên

Tư duy khoa học tự nhiên được đặc trưng bằng các phương pháp nhận thứckhoa học tự nhiên, bao gồm:

- Hiểu vấn đề

- Xác định vấn đề một cách chính xác

- Xác định giới hạn giữa nó và các vấn đề khác

- Nghiên cứu tất cả các yếu tố liên quan đến vấn đề đã nêu

- Vạch kế hoạch tìm tòi cách giải quyết

- Chọn lựa những suy đoán chính xác nhất

- Tiến hành thực nghiệm kiểm tra giả thuyết

- Thực nghiệm đánh giá kết quả

- Rút ra kết luận và cơ sở khoa học của chúng

Trang 14

- Chọn lựa phương án giải quyết tối ưu.

- Mở rộng kết quả sang trường hợp tương tự

I.2.7 Tư duy hóa học

Với tư duy toán thì 1 + 2 = 3

A + B = AB

Nhưng với tư duy hóa học thì A + B không phải là phép cộng thuần túy củatoán học, mà là xảy ra sự biến đổi nội tại của các chất để tạo thành chất mới, theonhững nguyên lý, quy luật, những mối quan hệ định tính và định lượng của hóa học

- Cơ sở của tư duy hóa học là sự liên hệ quá trình phản ứng sự tương tác giữacác tiểu phân vô cùng nhỏ bé của thế giới vi mô (nguyên tử, phân tử, ion,electron, )

- Đặc điểm của quá trình tư duy hóa học là sự phối hợp chặt chẽ, thống nhấtgiữa những hiện tượng cụ thể quan sát được với những hiện tượng cụ thể khôngquan sát được, ngay cả khi dùng kính hiển vi điện tử, mà chỉ dùng kí hiệu, công

thức để biểu diễn mối liên hệ bản chất của các hiện tượng nghiên cứu.

Vậy bồi dưỡng phương pháp và năng lực tư duy hóa học là bồi dưỡng cho họcsinh biết vận dụng thành thạo các thao tác tư duy và phương pháp lôgic, dựa vàonhững dấu hiệu quan sát được mà phán đoán về tính chất và sự biến đổi nội tại củachất, của quá trình

Như vậy cũng giống như tư duy khoa học tự nhiên, toán học và vật lý, tư duyhóa học cũng sử dụng các thao tác tư duy vào quá trình nhận thức thực tiễn và tuântheo quy luật chung của quá trình nhận thức

Hóa học - bộ môn khoa học lý thuyết và thực nghiệm có lập luận, trên cơ sởnhững kỹ năng quan sát các hiện tượng hóa học, phân tích các yếu tố cấu thành vàảnh hưởng, thiết lập những sự phụ thuộc xác định để tìm ra những mối liên hệ giữa

Trực quan

sinh động

Tư duytrừu tượng

Thực tiễn

Trang 15

các mặt định tính và định lượng, quan hệ nhân quả của các hiện tượng và quá trìnhhóa học, xây dựng nên các nguyên lý, quy luật, định luật, rồi trở lại vận dụng đểnghiên cứu những vấn đề của thực tiễn

I.2.8 Vấn đề phát triển năng lực tư duy

- Việc phát triển tư duy cho học sinh trước hết là giúp HS thông hiểu kiến thứcmột cách sâu sắc, không máy móc, biết cách vận dụng kiến thức vào bài tập và thựchành, từ đó mà kiến thức HS thu nhận được trở nên vững chắc và sinh động Chỉthực sự lĩnh hội được tri thức khi tư duy tích cực của bản thân học sinh được pháttriển và nhờ sự hướng dẫn của giáo viên các em biết phân tích, khái quát tài liệu cónội dung sự kiện cụ thể và rút ra những kết luận cần thiết

- Tư duy càng phát triển thì càng có nhiều khả năng lĩnh hội tri thức nhanh vàsâu sắc, khả năng vận dụng tri thức linh hoạt và có hiệu quả hơn Như vậy, sự pháttriển tư duy diễn ra trong quá trình tiếp thu kiến và vận dụng tri thức, khi tư duyphát triển sẽ tạo ra một kĩ năng và thói quen làm việc có suy nghĩ, có phương pháp,chuẩn bị tiềm lực lâu dài cho HS trong hoạt động sáng tạo sau này

- Muốn phát triển năng lực tư duy, phải xây dựng nội dung dạy học sao cho nókhông phải "thích nghi" với trình độ phát triển có sẵn của HS mà đòi hỏi phải cótrình độ phát triển cao hơn, có phương thức hoạt động trí tuệ phức tạp hơn Nếu HSthực sự nắm được nội dung đó, thì đây là chỉ tiêu rõ nhất về trình độ phát triển nănglực tư duy của HS

I.2.9 Dấu hiệu đánh giá tư duy phát triển

a) Có khả năng tự lực chuyển tải tri thức và kĩ năng sang một tình huống mới.Trong quá trình học tập, học sinh đều phải giải quyết những vấn đề đòi hỏiphải liên tưởng đến những kiến thức đã học trước đó Nếu học sinh độc lập chuyểntải tri thức vào tình huống mới thì chứng tỏ đã có biểu hiện tư duy phát triển

b) Tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanhchóng

Trang 16

c) Có khả năng phát hiện cái chung và cái đặc biệt giữa các hiện tượng, bàitoán.

d) Có năng lực áp dụng kiến thức để giải quyết tốt bài toán thực tế: Địnhhướng nhanh, biết phân tích suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm cáchtối ưu và tổ chức thực hiện có hiệu quả

I.3 Quan hệ giữa BTHH và việc phát triển tư duy cho HS

Theo thuyết hoạt động có đối tượng thì năng lực chỉ có thể hình thành và pháttriển trong hoạt động Để giúp HS phát triển năng lực tư duy, mà đỉnh cao là tư duysáng tạo, thì cần phải tập luyện cho HS hoạt động tư duy sáng tạo, mà đặc trưng cơbản nhất là tạo ra những phẩm chất tư duy mang tính mới mẻ Trong học tập hóahọc, một trong những hoạt động chủ yếu để phát triển tư duy cho HS là hoạt độnggiải bài tập Vì vậy, giáo viên cần phải tạo điều kiện để thông qua hoạt động này cácnăng lực trí tuệ được phát triển, học sinh sẽ có những sản phẩm tư duy mới, thể hiệnở:

- Năng lực phát hiện vấn đề mới

- Tìm ra hướng đi mới

- Tạo ra kết quả mới

Để làm được điều đó, trước hết người giáo viên cần chú ý hoạt động giải

BTHH để tìm ra đáp số không phải chỉ là mục đích mà chính là phương tiện hiệu

nghiệm để phát triền tư duy cho HS BTHH phải đa dạng phong phú về thể loại và

được sử dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học như nghiên cứu tài liệumới, ôn tập, luyện tập, kiểm tra … Thông qua hoạt động giải bài tập hóa học, màcác thao tác tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa,

… thường xuyên được rèn luyện và phát triển, các năng lực: quan sát, trí nhớ, óctưởng tượng, suy nghĩ độc lập, … không ngừng được nâng cao, biết phê phán nhậnxét đúng, tạo hứng thú và lòng say mê học tập, … để rồi cuối cùng tư duy của HSđược rèn luyện và phát triển thường xuyên, đúng hướng, thấy được giá trị lao động,

Trang 17

nâng khả năng hiểu biết thế giới của HS lên một tầm cao mới, góp phần cho quátrình hình thành nhân cách của HS.

Sơ đồ 1: Quan hệ giữa hoạt động giải BT và phát triển tư duy

-đề và có khả năng sáng tạo được Thông qua hoạt động giải, tùy theo từng loại bàitập, nội dung cụ thể, với đối tượng cụ thể mà các năng lực này được trao dồi và rènluyện nhiều hơn các năng lực khác

I.4 Trí thông minh

g hóa

Quan sát nhớTrí Tưởng tượng phánPhê

Tư duy phát triển

Trang 18

I.4.1 Trí thông minh là gì

Là tổng hợp các năng lực của trí tuệ của con người (quan sát, ghi nhớ, tưởngtượng, tư duy) mà đặc trưng cơ bản nhất là tư duy độc lập và sáng tạo nhằm ứngphó với tình huống mới

Còn theo tác giả Nguyễn Xuân Trường (Đại học Sư Phạm Hà Nội) thì "thôngminh là nhanh nhạy nhận ra mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng và biết vậndụng mối quan hệ đó theo hướng có lợi nhất để đạt mục tiêu"

Trí thông minh có liên quan đến các chức năng tâm lý sau:

- Nhận thức được đặc điểm bản chất của tình huống mới do người khác nêu rahoặc tự mình đưa ra vấn đề cần giải quyết

- Sáng tạo ra công cụ mới, phương pháp mới, cách thức phù hợp với hoàn cảnhmới (trên cơ sở những tri thức và kinh nghiệm tiếp thu được trước đó)

Vì vậy, trí thông minh không chỉ bộc lộ qua nhận thức mà cả qua hành động (líthuyết và thực tiễn)

I.4.2 Vấn đề rèn trí thông minh thông qua BTHH

Thực chất của việc rèn trí thông minh là rèn các thao tác tư duy nhanh nhạy vàsáng tạo, trên cở sở kiến thức cơ bản HS vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo đểtìm ra đáp số của bài toán bằng con đường ngắn nhất Theo tác giả Nguyễn XuânTrường (Đại học Sư Phạm Hà Nội) thì "kiến thức lâu ngày có thể quên cái còn lại lànăng lực tư duy, là trí thông minh"

Theo tôi để rèn trí thông minh cho HS thì trong quá trình giảng dạy phải làmcho HS thông hiểu sâu sắc kiến thức cơ bản, từ đó rèn các thao tác tư duy nhanhnhạy, linh hoạt, sáng tạo Muốn vậy, phải đa dạng hóa các dạng bài tập, ưu tiên sửdụng bài tập thực hành, bài tập có nhiều cách giải hay, bài tập có sự phát triển thêmkiến thức mới, … Với mỗi bài tập, không chỉ dừng lại ở mức độ tìm ra đáp số củabài toán mà phải tập cho HS suy nghĩ tìm ra cách giải khác, rút ra những kiến thứcmới cần lĩnh hội và nếu thay đổi các dữ kiện hoặc yêu cầu thì bài toán sẽ phải giảitheo hướng nào

Trang 19

I.5 Tình hình sử dụng BTHH để phát triển năng lực tư duy và rèn thông minh cho học sinh hiện nay

Thực tiễn cho thấy BTHH không chỉ có tác dụng ôn tập, củng cố kiến thức đãhọc mà còn có tác dụng để phát triển kiến thức, phát triển năng lực tư duy và rèn tríthông minh cho HS Tuy nhiên, việc sử dụng BTHH như là một phương pháp dạyhọc hiệu nghiệm thì chưa được chú ý đúng mức

- BTHH theo nghĩa rộng để vận dụng khi giải bài mới chưa được nghiên cứuvận dụng

- Thầy giáo và học sinh đều quan tâm đến kết quả của bài toán nhiều hơn quátrình giải toán Tất nhiên, trong quá trình giải các thao tác tư duy được vận dụng,các kĩ năng suy luận, kĩ năng tính toán, kĩ năng viết và cân bằng phương trình phảnứng được rèn luyện Thế nhưng, nếu chú ý rèn tư duy cho học sinh trong quá trìnhgiải thì việc giải để đi đến đáp số của các bài toán sẽ đơn giản hơn rất nhiều

- Từ việc nắm kiến thức trong khi nghiên cứu bài mới không vững chắc, thờigian dành cho luyện tập ít, không có điều kiện phân tích, mổ xẻ bài toán thật chitiết, để hiểu cặn kẽ từng chữ, từng câu, từng điều kiện, từng khái niệm, những kiếnthức nào được vận dụng, những cách giải nào có liên quan Trong mọi trường hợpluôn luôn đặt câu hỏi "Tại sao ?", phải lý giải và lý giải được, không được bỏ quamột chi tiết nào dù là nhỏ đến đâu đi nữa Nếu làm được thì kĩ năng suy luận lôgic,các thao tác tư duy, tổng hợp, khái quát hóa mới thường xuyên được rèn luyện vàphát triển

- Đối với cách dạy thông thường thì chỉ cần tổ chức cho học sinh hoạt độngtìm ra đáp số của bài toán Để phát triển tư duy và rèn trí thông minh cho học sinhthì làm như thế là chưa đủ, mà phải cho học sinh trả lời các câu hỏi sau: Thông quabài này lĩnh hội được nhưng kiến thức gì cho mình? Các "bẫy" đặt ra trong bài toánnhằm phát triển các thao tác tư duy gì ? Nếu thay đổi hoặc bớt một số dữ kiện thìbài toán có giải được không ? Ngoài cách giải trên còn có những cách nào khác

Trang 20

ngắn gọn và hay hơn nữa không ? … Cỉ khi nào làm được những điều trên thì họcsinh mới hiểu hết tác dụng của từng bài toán.

- Khi giải bài toán, cần tổ chức cho mọi đối tượng học sinh cùng tham giatranh luận Khi nói lên được một ý hay, giải bài toán đúng, với phương pháp hay sẽtạo ra cho học sinh niềm vui, một sự hưng phấn cao độ, kích thích tư duy, nỗ lựcsuy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn thế nữa

2 Vấn đề rèn trí thông minh: Định nghĩa, vấn đề rèn trí thông minh cho HSthông qua sử dụng BTHH

3 Tình hình sử dụng BTHH để phát triển tư duy và rèn trí thông minh cho HShiện nay thông qua lăng kính thực tiễn

Tất cả các vấn đề trên là nền tảng cơ sở cho phép chúng tôi nêu lên một số vấn

đề, cần được hiểu và làm theo quan điểm tiếp cận hệ thống, góp phần phát triểnnăng lực tư duy và rèn trí thông minh HS lên một mức cao nhất

Trang 21

Chương II

CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VÀ RÈN TRÍ

THÔNG MINH CHO HỌC SINH II.1 Người học sinh cần phải làm gì để phát triển tư duy và rèn trí thông minh khi học môn hóa học

- Trong xã hội hiện nay, sự bùng nổ thông tin, khoa học và công nghệ pháttriển mạnh mẽ, thì dạy học không chỉ dạy kiến thức mà phải dạy phương pháp họctập, bản thân học sinh phải có phương pháp học tập hợp lý, mà cốt lõi của phươngpháp học tập là phương pháp tự học

- Việc học - là nhiệm vụ của người học sinh - không ai có thể thay thế được

Để học tốt môn hóa nói riêng và các môn khác nói chung, điều đầu tiên phải là sự

nỗ lực của bản thân học sinh, phải tích cực học tập, mong muốn học giỏi, học giỏihôm nay gắn liền với sự thành đạt trong cuộc sống tương lai

- Có ý chí quyết tâm cao độ

- Luôn luôn tìm phương pháp học tốt nhất cho mình

- Hãy thoát khỏi tình trạng bị động, khắc phục chướng ngại nhận thức - đây làyếu tố cơ bản làm cho năng lực tự học kém, thiếu độc lập trong suy nghĩ

- Phải có húng thú học tập bộ môn, phá vỡ chướng ngại nhận thức và thônghiểu là cơ sở đầu tiên cho hứng thú học tập

- Phải học bằng chính sức của mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nói bằng lờinói của mình, viết theo ý của mình không dập khuôn theo câu chữ của thầy

- Rèn luyện năng lực lập luận đúng đắn

- Để có thể lao động sáng tạo sau này, ngay từ bây giờ phải rèn luyện tư duy,tập "sáng tạo" thông qua các vấn đề trong các câu hỏi, các bài toán, chứ không phảiđơn thuần là bổ sung kiến thức vào trí nhớ của mình một cách thụ động

- Điều kiện cơ bản để phát triển năng lực tư duy với hiệu quả cao nhất, trướchết học sinh phải ý thức được lợi ích lao động học tập và động cơ học tập của mình

Trang 22

vì thực nghiệm đã chứng minh: Chỉ có hứng thú với một hoạt động nào đó mới đảmbảo cho hoạt động ấy tích cực.

- Mạnh dạn nêu thắc mắc và đặt câu hỏi "Đọc tài liệu thì phải đào sâu suynghĩ, không tin một cách mù quáng vào từng câu, từng chữ trong sách, có vấn đề gìchưa thông suốt thì phải mạnh dạn đề ra và thảo luận cho vỡ lẽ Đối với bất cứ vấn

đề gì, đều phải đặt câu hỏi "tại sao ?" đều phải suy nghĩ kỹ xem nó có hợp với thực

tế hay không Tuyệt đối không nên tuân theo sách vở một cách xuôi chiều"

- Không dừng lại ở việc tìm ra đáp số bài toán, mà phải biết rút ra những điều

bổ ích cho mình thông qua việc xây dựng tiến trình luận giải, và luôn luôn suy nghĩtìm ra cách giải hay hơn nữa và phải biết nghiền ngẫm để hiểu sâu sắc từng vấn đềbài toán đưa ra, trong nhiều trường hợp hãy thay đổi một số dữ kiện của bài toán đểxem bài toán sẽ đi theo hướng nào và tìm cách giải quyết nó một cách khoa học, …

- Phải thường xuyên dành thời gian để ôn tập, hệ thống hóa lại những kiếnthức đã học để thấy được sự lôgic, đồng thời tạo điều kiện để hiểu sâu các kiến thức

đã học hơn nữa Chỉ khi học sinh hiểu được kiến thức sâu sắc thì mới vận dụng nómột cách linh hoạt, sáng tạo vào giải quyết các vấn đề mà các bài toán đặt ra Khi

đó các thao tác tư duy được rèn luyện và phát triển Bài tập càng khó thì càng có tácdụng mạnh đến sự phát triển tư duy của học sinh Khi tư duy đã trở nên mền dẻo,linh hoạt thì người học sẽ có cách giải quyết bài toán một các thông minh nhất, haynhất - đó là con đường đi đến kết quả của bài toán ngắn nhất mà không dập khuôntheo người khác

Tóm lại, để phát triển tư duy và rèn trí thông minh thì trong học tập người họcphải tích cực, độc lập suy nghĩ để thông hiểu sâu sắc kiến thức, biến kiến thức lĩnhhội được từ nhiều nguồn khác nhau thành kiến thức của mình và vận dụng nó mộtcách linh hoạt, sáng tạo Tuyệt đối không dập khuôn máy móc theo con đường màngười khác đã đi Trí thông minh là đỉnh cao của sự phát triển trí tuệ - sự tổng hợpcủa nhiều yếu tố trong đó yếu tố quan trọng nhất là các thao tác tư duy nó phải được

Trang 23

rèn luyện và phát triển Rèn các thao tác tư duy nhanh nhạy, linh hoạt, sáng tạochính là rèn trí thông minh.

II.2 Những biện pháp nhằm phát triển năng lực tư duy và rèn trí thông minh cho học sinh thông qua BTHH

II.2.1 Rèn năng lực quan sát

II.2.1.1 Quan hệ biện chứng giữa óc quan sát và tư duy

Năng lực quan sát ở đây chính là óc quan sát - năng lực xem xét để có tầmnhìn, là cơ sở để có tư duy Nhà trường có trách nhiệm phải vừa trang bị cho họcsinh kiến thức vừa đặc biệt chú ý đến việc phát triển năng lực tư duy và rèn tríthông minh Sự phát triển tư duy của học sinh là những biến đổi có tính chất hoànchỉnh và tiến bộ trong ý thức của học sinh, rèn luyện óc phê phán và tự phê phán,tính hệ thống và tính bật nhanh của các thao tác tư duy, … tạo điều kiện để tư duymột cách biện chứng, chuẩn bị cho học sinh bước vào một cuộc sống tự lập Sự pháttriển tư duy diễn ra trong quá trình dạy học, trong quá trình lĩnh hội kiến thức, sựlĩnh hội diễn ra trong những điều kiện khác nhau tùy theo phương tiện dạy học, cácyêu cầu đề ra cho học sinh, hứng thú, năng lực làm việc và tư chất, ….của học sinh.Thực nghiệm cho thấy, để phát triển tư duy có hiệu quả cao nhất thì khi học bảnthân học sinh phải ý thức được lợi ích lao động học tập và hứng thú thì mới hăngsay, tích cực suy nghĩ được Hoạt động tư duy là hoạt động căng thẳng, phải có ýchí và buộc mình phải tập chung suy nghĩ cao độ thì mới có thể giải quyết được cácvấn đề phức tạp Ngoài óc quan sát sâu sắc và tính tích cực hoạt động của hoạt độngtrí tuệ, để giải quyết được những vấn đề nhất định nào đó, cần phải biết phân tích,

so sánh, đối chiếu để nhìn thấy những dấu hiệu và mối quan hệ bản chất bên trongcủa sự vật hiện tượng Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm và lý thuyết,phương pháp nghiên cứu, giảng dạy, học tập cũng trên cơ sở quan sát, thí nghiệm đểphân tích, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa thành các khái niệm, định luật, họcthuyết, … rồi từ lý thuyết đã có vận dụng nghiên cứu các sự vật và hiện tượng khác

ở phạm vị rộng hơn thông qua con đường diễn dịch Thực tế ở trường phổ thông ít

Trang 24

làm thí nghiệm, mà nếu có cũng không chú ý rèn óc quan sát cho học sinh, thôngthường học sinh quan sát, rồi giáo viên giải thích giúp học sinh, mà không tạo cơhội để học sinh động não suy nghĩ Như vậy, óc quan sát và tư duy có mối quan hệbiện chứng với nhau Tư duy phải dựa trên cơ sở quan sát và quan sát là điểm xuấtphát của tư duy.

II.2.1.2 Năng lực quan sát sắc sảo, mô tả, giải thích hiện tượng các quá trình hóa học

Kết quả quan sát là những dữ kiện có ý nghĩa để nghiên cứu các chất, phảnứng, hiện tượng hóa học, dữ kiện quan sát càng đầy đủ, rõ ràng sẽ là cơ sở tốt chohoạt động tư duy chính xác Đối tượng quan sát trong hóa học có thể là các chất,công thức, thí nghiệm, hiện tượng tự nhiên, phương trình phản ứng, bài tập thựcnghiệm hay một bài toán bất kì

● Quan sát một chất

Với mục đích là mô tả chất đó, nội dung là những đặc điểm của chất theo trình

tự mô tả trạng thái, màu sắc, mùi vị, tính tan, nhiệt độ sôi, nhiệt dộ nóng chảy …Chẳng hạn khi quan sát thấy rằng vẻ sáng đặc biệt và một số kim loại có màu đặctrưng như Cu màu đỏ, Au màu vàng, ….Tại sao ? Cơ sở để giải thích điều này là

gì ? Hoặc khi nhìn một sợi dây đồng bên ngoài có vẻ nó là vật vô tri vô giác nhưngthực ra bên trong nó như nào ? Tại sao nó lại có độ dẫn điện cao đến thế cao hơn cảcác kim loại kiềm ? Trong khi đó các kim loại kiềm có hoạt tính hóa học rất mạnh.Vậy cái gì quyết định hoạt tính hóa học và cái gì quyết định độ dẫn điện ? Nếu xemxét lý giải được học sinh mới nắm được "chiếc chìa khóa" và học sinh còn dễ dàngchấp nhận học thuộc một cách máy móc mỗi khi chưa lý giải được

● Quan sát một công thức

Chẳng hạn, khi nhìn vào hai công thức C2H2 và C3H4 đều có công thức chung

là CnH2n - 2 nhưng có phải là đồng đẳng của nhau hay không thì không thể khẳngđịnh ngay được, mà phải dựa vào cấu tạo cụ thể của nó: Chúng chỉ là đồng đẳng củanhau nếu chúng có cùng dạng mạch hở hay dạng mạch vòng ? Từ đó càng chính xác

Trang 25

hóa khái niệm đồng đẳng Hoặc khi nhìn vào công thức cấu tạo của phenol phảitách ra được hai phần: phần giống ankol và giống benzen Giống ankol vì sao ? Do

đó có phản ứng nào ? Giống benzen, vì sao ? Do đó có tính chất gì ? Vậy phản ứngcủa nhóm OH gồm những phản ứng nào ? Phản ứng của gốc phênyl gồm nhữngphản ứng nào ? Có sự ảnh hưởng qua lại giữa nhóm OH và gốc phenyl không ? Nếu

có thì được minh họa bằng phản ứng nào ? … Như vậy chỉ cần nhìn và xem xét kỹtrên công thức cấu tạo của các chất, học sinh đã thấu suốt được gần như toàn bộ tínhchất của một chất rồi Chứ không phải ghi nhớ rập khuôn theo từng phản ứng củabài giảng

● Quan sát một thí nghiệm.

Mục đích là xác định dấu hiệu phản ứng, biểu hiện ở sự thay đổi màu sắc, mùi

vị của chất phản ứng, sự tạo thành kết tủa, bay hơi, tỏa nhiệt, hay thu nhiệt, …trình

tự quan sát là đặc điểm của phản ứng, điều kiện phản ứng và đặc điểm của sảnphẩm tạo thành Phải liên hệ chặt chẽ giữa hiện tượng bên ngoài và bản chất bêntrong của hiện tượng - sự biến đổi nội tại của các chất

Ví dụ : Để cho học sinh hiểu được tính chất của ion NO3-, giáo viên có thể chohọc sinh quan sát hai thí nghiệm sau:

Thí nghiệm 1: Thả một mẩu Cu vào dung dịch NaNO3 thì không thấy có hiệntượng gì xảy ra Nhưng nếu ta thêm tiếp vào vài giọt dung dịch HCl thì Cu tan dầntạo thành dung dịch màu xanh lam và đồng thời có sủi bọt khí thoát ra hóa nâutrong không khí Vì sao lại như vậy ? Phải chăng Cu tan được trong dung dịchHCl ? Rõ ràng là không vì Cu đứng sau H2 Vậy giải thích hiện tượng trên nhưnào ? Bản chất của phản ứng xảy ra là gì ? Vai trò của ion NO3- trong môi trườngaxit như thế nào ? …

Thí nghiệm 2: Cho một mẩu Al vào dung dịch NaNO3 thì cũng không thấy cóhiện tượng gì xảy ra Nhưng nếu thêm tiếp vào hỗn hợp này một ít dung dịch NaOHthì thấy nhôm tan và dung dịch có sủi bọt khí mùi khai thoát ra Tại sao khí thoát ralại có mùi khai ? Có phải NH3 không ? Điều này mâu thuẫn với những điều đã học

Trang 26

trước đó nhôm tan trong dung dịch NaOH tạo ra khí H2 không mùi ? Vai trò của ion

● Quan sát hiện tượng tự nhiên.

- Một vật dụng làm bằng kim loại tấm thép khi đã bị một vết xước thì tấmthép sẽ bị phá hủy nhanh Tại sao như vậy ? ở đây diễn ra những quá trình hóa họcnào ? Cơ sở của nó là gì ? ứng dụng điều này trong thực tiễn để bảo vệ vỏ tàu viễndương người ta đã làm như thế nào ?

● Quan sát một phản ứng hóa học.

Ví dụ: Cho dung dịch Na2CO3 dư lần lượt vào các dung dịch FeCl2, CuSO4,

AlCl3 Hiện tượng quan sát được như thế nào?

Bản chất của phản ứng có phải là muối tác dụng với muối tạo thành hai muốimới? Nếu hs không nắm vững bản chất của chất điện li và sự thuỷ phân của muốithì rất dễ hiểu sai

Nếu không lý giải được những câu hỏi nêu trên thì học sinh rất khó nắm đượcbản chất của phản ứng ? Không những khó thuộc, độ bền kiến thức thấp mà tư duycũng không phát triển được bao nhiêu

● Quan sát một bài tập thực nghiệm.

Ví dụ: Trong phòng thí nghiệm, khí clo

được điều chế từ MnO2 và axit HCl đặc

a) Viết phương trình phản ứng

NO3

Trang 27

-b) Phân tích những chỗ sai khi

lắp bộ dụng cụ như hình bên

● Quan sát một bài toán bất kì.

- Phải nhìn lôgic nội dung của bài toán, tìm hiểu từ ngữ, hiểu sơ bộ ý đồ cả tácgiả

- Tìm hiểu giả thiết và yêu cầu của đề bài

- Hình dung tiến trình luận giải và biết phải bắt đầu từ đâu ?

- Đâu là chỗ có vấn đề của bài toán

- Có cách nào hay hơn không (thông qua tính đặc biệt của đề bài …)

Ví dụ: Cho 25,6 gam Cu và 23,2 gam Fe3O4 phản ứng với 400 ml dung dịchHCl 2M cho đến khi phản ứng xảy ra hoàn toàn thu được dung dịch A và chất rắn

B Cho dung dịch A tác dụng với dung dịch NaOH dư được kết tủa Nung kết tủatrong không khí đến khối lượng không đổi thu được m gam chất rắn Tính giá trịcủa m ?

Phân tích

Sau khi xem xét nhiều học sinh cho rằng B là Cu không tan, dung dịch A gồmFeCl2 và FeCl3, chất rắn thu được là Fe2O3 Bài toán thật đơn giản Một số học sinhkhác nhanh hơn nhận ra rằng số mol Fe2O3 bằng 3/2 số mol Fe3O4 và tính ngaylượng Fe2O3 - bài toán thừa dữ kiện! Nhưng với học sinh thông minh, bài toán tuyđơn giản nhưng cũng dễ mắc sai lầm Sau khi phân tích kĩ thì B không phải là lượng

Trang 28

 moxit = mFe O3 + mCuO = 160 x 0,05 + 80 x 0,05 = 12 gam

II.2.2 Rèn các thao tác tư duy

II.2.2.1 Một vài nhận xét

ở nhà trường chính GV có nhiệm vụ rèn các thao tác tư duy và bồi dưỡng tríthông minh cho HS, chứ không phải chỉ để nó hình thành và phát triển một cách tựphát Khi các thao tác tư duy được rèn luyện thường xuyên thì quá trình nhận thứccủa HS sẽ nhanh chóng và có hiệu quả hơn, vì tính lôgic trong tư duy sẽ tạo ra tínhlôgic trong suy nghĩ và hành động Do đó, khi năng lực tư duy của HS được nângcao thì hoạt động học tập của HS cũng nhẹ nhàng hơn rất nhiều Thế nhưng thực tế

ở trường phổ thông hiện nay, năng lực này của đa số HS còn rất thấp, điều này thểhiện rõ trong các câu trả lời vấn đáp và khi giải các bài toán Mà nguyên nhân đầutiên là do chướng ngại nhận thức, vì một khi không hình dung rõ về một vấn đềmình định trình bày thì diễn đạt không sáng, nếu diễn đạt thiếu chính xác, lộn xộnchẳng qua nó chứng tỏ kiến thức cơ bản chưa vững, ý nghĩ rối rắm, khả năng tư duythấp kém Dẫn đến:

- Không biết nên bắt đầu giải bài toán từ đâu

- Thông thường HS giải ra bài toán là cốt để tìm ra đáp số của bài toán, chứkhông phải qua bài toán rút ra mình cần lĩnh hội những gì

- Cái còn đọng lại sau khi giải bài toán không phải là những con số mà:

NaOH O2 + H2O t0

+ NaOH t0

2

Trang 29

+ Trước hết là củng cố, khắc sâu kiến thức đã học và khả năng vận dụng linhhoạt kiến thức đó.

+ Sau đó là nắm được phương pháp giải "bài toán" Phương pháp giải "bàitoán" ở đây không chỉ là phương pháp giải các dạng bài toán cụ thể như nồng độ,điện phân, xác định thành phần % của các chất trong hỗn hợp, xác định CTPT …màcái cốt lõi là thông qua các phương pháp giải bài toán cụ thể để rèn các thao tác tưduy nhanh nhạy, linh hoạt và óc thông minh sáng tạo Từ đó, HS sẽ rễ ràng giảiquyết được mọi vấn đề không những trong học tập mà trong thực tiễn cuộc sống saunày Tri thức đã học có thể lâu rồi sẽ quên, nhưng cái còn đọng lại chính là phươngpháp tư duy lôgic, biện chứng và trí thông minh sáng tạo trong công việc Thực tếtrong hoạt động giải bài tập, GV chưa chú ý rèn luyện và bồi dưỡng cho các em vấn

đề này, mà chủ yếu vẫn: chép đề lên bảng (hoặc xem sách), cho HS chuẩn bị rồi gọimột HS lên bảng chữa, GV kiểm tra bài làm của một số em, cả lớp nhìn lên bảngxem bạn làm đúng chưa, GV giảng lại cách làm và cho HS chép vào vở Thật ra cònnhiều HS chưa hiểu một số điểm trong bài: Tại sao lại không đi từ A mà lại đi từ

B ? Ngoài cách giải như trên còn có cách nào khác không ? Thôi cứ chép vào vở rồi

về nhà xem lại Bài này như vậy, bài sau cũng như vậy, rồi các bài sau nữa, … cứthế CNNT ngày càng chồng chất mà HS không sao phá vỡ được, dẫn đến học bộmôn thật nặng nề Do lớp đông, thời gian có hạn, GV lại không có điều kiện đểkiểm tra hết bài làm của tất cả HS nên không có điều kiện uốn nắn sửa chữa kịpthời Từ đó dẫn đến khả năng tư duy, trình bày của HS thiếu lôgic, mạch lạc, chấtlượng học tập không cao, độ bền kiến thức giảm

II.2.2.2 Biện pháp

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy HS sẽ khó hoặc không thể nắm vữngđược tri thức về hóa học nếu không có kĩ năng áp dụng các thao tác tư duy Vì vậykhi cho HS xem xét một vấn đề về hóa học nào đó (thí nghiệm, hiện tượng, bàitoán, …) thì cần rèn cho HS biết cách xem xét như thế nào đó cho có hiệu quả:

Trang 30

- Trước hết phải tri giác (nhìn, đọc …) "bài toán" một cách tổng quát (tổnghợp).

- Sau đó, suy nghĩ phân tích từng yếu tố, từng dữ kiện, từng yêu cầu, từng khíacạnh của bài toán, để biết được cái đã cho ? Cái gì phải tìm ?

- Cuối cùng tổng hợp các yếu tố, các giữa kiện, các khía cạnh của bài toán đểnhận thức toàn bộ bài toán một cách đầy đủ và sâu sắc hơn

Với mỗi bài toán không vội giải ngay, mà phải xem xét một cách tổng hợp phân tích - tổng hợp để qua đó thấy được kiến thức cần vận dụng (phương trìnhphản ứng, tính chất, qui luật, công thức, …)

Xây dựng tiến trình luận giải bằng lập luận chặt chẽ

- Thực hiện đầy đủ từng bước tiến trình đó, mỗi phép tính, mỗi bước giải đềuphải có cơ sở lập luận vững chắc So sánh bài toán này với những bài toán trước đó

có gì giống và khác nhau không ?

- Cố gắng tìm ra tính chất đặc biệt của bài toán để tìm ra cách giải tối ưu, độcđáo nhất

- Kiểm tra lại cách giải Cuối cùng khái quát hóa thành dạng bài toán vàphương pháp giải Phân tích tác dụng của bài tập và từ vấn đề bài toán đưa ra có thểđặt ra những vấn đề tiếp theo yêu cầu HS giải quyết

- Chất lượng của mỗi bài toán cũng rất quan trọng Để đảm bảo có hiệu quảthì qua mỗi bài, mỗi chương và mỗi học kì, …GV nên tự mình xây dựng cho mìnhmột hệ thống bài tập phù hợp với trình độ của từng lớp, từng đối tượng học sinh ưutiên xây dựng những bài tập phát triển thêm kiến thức, bài tập thực nghiệm và bàitập có nhiều cách giải hay để phát huy tối đa năng lực tư duy linh hoạt, sáng tạo cho

HS Chẳng hạn để HS rút ra kết luận khái quát về tính oxh mạnh của NO3- trongmôi trường axit GV có thể cho hs làm ví dụ sau:

Ví dụ: Cho hh gồm 1,12 g Fe và 1,92 g Cu vao 400 ml dung dịch gồm NaNO3

0,2M và H2SO4 1M Thu được dd X cho V lit NaOH aM vào X thu được lượng kếttủa lớn nhất Xác định giá trị a

Trang 31

II.2.3.1 Tại sao phải rèn năng lực tư duy độc lập

Khi đánh giá trình độ hiểu biết hóa học của một HS, tất nhiên phải chú ý đếnkhối lượng kiến thức hóa học mà HS đó đã lĩnh hội được, nhưng như thế là chưa đủ,còn phải chú ý đến khả năng sử dụng kiến thức đó để giải quyết những vấn đề dothực tiễn đặt ra bằng suy luận độc lập của mình, và chính điều này mới đảm bảoviệc nắm kiến thức một cách vững chắc Vì thế, một vấn đề rất quan trọng của dạyhọc là phải rèn luyện cho HS thói quen suy nghĩ và hành động độc lập, từ tư duyđộc lập sẽ dẫn đến tư duy phê phán, khả năng phát hiện, giải quyết vấn đề rồi đến tưduy sáng tạo Như vậy, độc lập là tiền đề cho sáng tạo Trong thực tiễn dạy học,việc truyền thụ kiến thức và rèn năng lực suy nghĩ độc lập không được coi trọngnhư nhau, mà vẫn nặng về truyền thụ, trong khi đó rèn các thao tác tư duy độc lập là

Trang 32

phương pháp có hiệu quả nhất để HS nắm kiến thức một cách sâu sắc và sáng tạonhất

II.2.3.2 Vậy cần phải làm gì để rèn năng lực tư duy độc lập cho HS

a) Tạo điều kiện cho HS suy nghĩ độc lập

* Trong quá trình dạy học, GV cần chú ý bồi dưỡng năng lực tự học cho HSbằng cách: tăng cường nêu câu hỏi để HS trả lời, nêu vấn đề để HS nghiên cứu đềxuất cách giải quyết, tự rút ra kết luận, điều này không chỉ giúp HS hiểu sâu, dễnhớ, mà còn rèn năng lực độc lập suy nghĩ Đây là một vấn đề không dễ dàng, vì khiđặt câu hỏi, GV phải hình dung trước câu ấy sẽ dành cho đối tượng nào ? Dự đoán

HS sẽ trả lời ra sao ? Cách uốn nắn, sửa chữa thế nào để HS đi đến câu trả lờiđúng ? Tránh đặt câu hỏi quá vụn vặt, quá dễ không kích thích được sự động nãocủa HS, nhưng nếu câu hỏi quá khó, HS dễ nản lòng, không hứng thú suy nghĩ, do

đó không có tác dụng rèn khả năng suy nghĩ độc lập ở HS Như vậy vừa tiến hành,vừa quan sát, vừa suy nghĩ HS không chỉ hiểu được bản chất của quá trình, mà cònrèn luyện được cả năng lực suy nghĩ và hành động độc lập

* Giáo viên cần quan tâm chỉ đạo công tác độc lập của HS , nhất là bài tập ởnhà Thông thường GV đọc số bài tập ở trang nào đó Thật ra làm như vậy, HS rấtthụ động, không hứng thú, không phát triển được năng lực tư duy độc lập, vì phảilàm nhiều bài tập cùng loại Các bài tập phải có đủ loại, điển hình và tính mục đích

rõ ràng, có bài tập chung cho cả lớp nhưng cũng có bài tập riêng cho từng đốitượng, hình thức phổ biến là bài tập có thể cao hơn, khó hơn nhưng gây được hứngthú, chứ không mang tính chất cưỡng bức, nếu cần nên hướng dẫn những chỗ khó,những từ ngữ khó hiểu để HS về nhà có thể độc lập suy nghĩ làm được bài tập Cókiểm tra, khuyến khích động viên

* Khuyến khích HS tập chung tư tưởng khi nghe giảng, làm thí nghiệm, giảibài toán; tích cực động não để tiếp thu kiến thức một cách tích cực, với mỗi câu hỏiđặt ra cần phải dẫn dắt HS suy nghĩ khai thác theo nhiều khía cạnh, khuyến khích

Trang 33

HS nêu thắc mắc của mình, nhận xét câu trả lời của bạn để rèn khả năng độc lập suynghĩ của bản thân

* Tránh tình trạng nhiều GV quá nóng tính hay gắt gỏng, khi thấy HS hỏinhững thắc mắc của mình thì tỏ thái độ khó chịu, không khí lớp học thường căngthẳng, GV áp đặt kiến thức cho HS là chủ yếu, còn HS thì tư duy theo lời giảng củathầy, khi không hiểu thì cũng không giám hỏi, dần dần HS sẽ rơi vào tình trạng tiếpthu kiến thức thụ động, hứng thú học tập bộ môn giảm xuống, năng lực tư duy độclập không phát triển được

b) Giúp học sinh biết phương pháp tư duy độc lập và thực hiện hành động độc lập:

* Tái hiện kiến thức trước khi làm bài tập áp dụng: Bài tập ra về nhà nhằmmục đích luyện tập cho HS vận dụng kiến thức giải những bài toán khác nhau dướinhững hình thức khác nhau, làm cho kiến thức được củng cố, khắc sâu hơn Để HSthực sự làm việc độc lập trước hết yêu cầu HS nên tái hiện những kiến thức vừahọc Tái hiện càng sớm càng tốt, vì những gì nghe giảng chưa bị phai mờ: Hôm nayhọc bài gì ? Bài đó nói về vấn đề gì ? Trong đó phần nào là chủ yếu, quan trọngnhất ? Đã có bài tập nào để củng cố ? Cách giải thế nào ? Thử nhớ lại xem chỗ nào

dễ nhầm lẫn ….Học sinh giỏi tái hiện được nhiều, HS kém tái hiện ít Đây là mộtviệc làm rất khó, nhưng nếu cố gắng luyện tập lâu ngày hiệu suất sẽ tăng lên Khi đãnắm vững lý thuyết hãy bắt tay vào giải toán một cách độc lập

* Yêu cầu HS hệ thống hóa kiến thức theo từng vấn đề đã học:

Đây là một dạng bài tập sinh động, không có gì mới nhưng đây là việc làm rènkhả năng hoạt động độc lập của HS rất tốt, một lần nữa ôn tập một cách có hệ thốngnhững kiến thức đã học Chẳng hạn sau khi học phần ankin, cho HS hệ thống hóalại, so sánh các hiđrocacbon để thấy được nguyên nhân khác nhau về hóa tính là do

sự khác nhau về cấu tạo Sau đó làm bài tập vận dụng nhận biết hoặc tách loại cácchất có trong hỗn hợp ankan, anken, ankin

Trang 34

* Cho HS giải bài tập ở lớp, ở nhà là một biện pháp quan trọng để rèn năng lực

tư duy độc lập:

Với một bài toán bất kì, sau khi tìm hiểu đề bài, HS sẽ lục lại trong trí nhớ xem

đã gặp dang này chưa ? Rồi so sánh những sự tương đồng và khác biệt với bài toán

đã biết để rồi tìm ra cách giải hợp lí, chặt chẽ, lôgic khoa học

Ví dụ 1: Viết phương trình phản ứng dưới dạng phân tử và ion thu gọn khi cho

Al vào dung dịch HNO3, tạo ra khí không màu hóa nâu trong không khí

Ví dụ 2: Khi hòa tan Al trong dung dịch HNO3, thu được hỗn hợp khí NO và

N2O có tỉ khối hơi so với hiđro là 16,75 Hãy viết và cân bằng phương trình phảnứng

Phân tích: - Để làm được hai ví dụ trên HS phải nhớ lại cách cân bằng phản

ứng oxi hóa khử theo phương pháp thăng bằng electron và phương pháp ion electron

Biểu thức tính tỉ khối hơi giữa hai khí

- So với ví dụ 1, phương trình phản ứng trong ví dụ 2 chỉ viết và cân bằngđúng, khi đã xác định đúng tỉ lệ thể tích của hai khí N2O và NO theo dữ kiện đề ra.44x + 30(1 - x) = 33,5  x = 0,25  VN2 O : VNO = 1: 3

Al + HNO3 Al(NO3)3 + N2O + 3NO + H2O

Rồi cân bằng phản ứng này theo tỉ lệ thể tích N2O và NO ta sẽ thu được kếtquả như trên

Trang 35

 17Al + 66HNO3 17Al(NO3)3 + 3N2O + 9NO + 33H2O

GV có thể đặt vấn đề : Nếu bài toán chưa cho tỉ lệ thể tích của hai khí trên thì

có cân bằng được không ?

Đối với những HS thông minh, có năng lực tư duy sắc sảo thì dễ ràng nhận raphương trình trên có thể cân bằng được theo bất kì tỉ lệ thể tích nào của hai khí Nênnếu đề chưa cho tỉ lệ thể tích cụ thể của hai khí thì khi cân bằng ta giả sử tỉ lệ thểtích của chúng là a : b và tiến hành cân bằng tương tự như trên

N + 3e N x a

2N + 8e 2N x b

(a+ 2b)N + (3a + 8b)e aN + 2bN x 3

Al Al + 3e x (3a + 8b)

(3a + 8b)Al + 3(a + 2b)N (3a + 8b)Al + 3aN + 6bN

 (3a + 8b)Al + (12a + 14b)HNO3 (3a + 8b) Al(NO3)3 + 3bN2O + 3aNO + (6a + 7b)H2O

* Nâng cao dần trình độ lao động trí óc (cho các đối tượng HS) bằng cách

nâng cao dần nội dung kiến thức của bài toán hóa học, vì phát triển trí thông minh là

một vấn đề tổng hợp kiến thức, tính hệ thống là một thuộc tính của hoạt động tưduy, tiêu chí hệ thống càng khái quát thì trình độ tư duy càng cao

Ví dụ : Hoàn thành và cân bằng các phản ứng sau:

Trang 36

Trong ý (a) có tới 2 phương trình phân tử đều phù hợp:

3Cu + 2NaNO3 + 8HCl 3CuCl2 + 2NaCl + 2NO + 4H2OHoặc: 3Cu + 8NaNO3 + 8HCl 3Cu(NO3)2 + 8NaCl +2NO +4H2O

Trong ý (b) nhiều học sinh cho rằng:

Al + NaOH + NaNO3 NaAlO2 + NH3  + H2O

Kết quả là không thể cân bằng được

Trong ý (c) cũng có hai phương trình phân tử hợp lí:

FeS + 12HNO3(đ) Fe(NO3)3 + H2SO4 + 9NO2  + 5H2O Hoặc: FeS + 30HNO3(đ) Fe(NO3)3 + Fe2(SO4)3 + 27NO2  +15H2O

Tuy nhiên, với HS có năng lực tư duy tốt dễ nhận ra: Bản chất của các phảnứng xảy ra trong dung dịch là phương trình ion thu gọn, phương trình phân tử chỉ làcách ghép ngẫu nhiên các ion trái dấu với nhau để tạo thành phân tử sao cho hợp lí

mà thôi Vì vậy, tốt nhất là viết các phản ứng trên dưới dạng phương trình ion thugọn và dùng phương pháp ion - electron để cân bằng

a) Cu + NaNO3 + HCl Cu2+ + NO +

3x Cu0 Cu+2 + 2e

2x NO3-3 + 4H+ + 3e NO + 2H2O

Trang 37

3Cu + 2NO

3 + 8H+ 3Cu2+ + 2NO + 4H2O b) Al + NaOH + NaNO3 AlO

2 + NH3  +

8x Al + 4OH AlO

2 + 2H2O + 3e 3x NO

3 + 6H2O + 8e NH3 + 9OH- 8Al + 3NO

3 + 5OH + 2H2O 8AlO

2 + 3NH3  c) FeS + HNO3(đ) Fe3+ + SO2 

4 + NO2  +

Fe+2 Fe3+ + 1e

S-2 + 4H2O SO2 

4 + 8H+ + 8e 1x FeS + 4H2O Fe3+ + SO2 

4 + 8H+ + 9e 9x NO

3 + 2H+ + 1e NO2  + H2O

FeS + 9NO

3 + 10H+ Fe3+ + SO2 

4 + 9NO2  + 5H2O

* Chú ý ra bài tập nhỏ yêu cầu HS áp dụng vào hoàn cảnh mới:

BTHH ra cho HS không phải bao giờ cũng điển hình, phức tạp với mục đíchhoàn thiện kĩ năng, mà có thể chỉ ra những bài tập nhỏ yêu cầu HS độc lập suy nghĩvận dụng vào hoàn cảnh mới

Ví dụ: Hòa tan hoàn toàn một hỗn hợp gồm 0,56 gam Fe và 3,2 gam Fe2O3

vào 700ml dung dịch HCl 0,2M, thu được dung dịch A Cho A tác dụng với dungdịch KMnO4 dư đã được axit hóa bằng H2SO4 loãng thì thu được khí B Viếtphương trình phản ứng và tính thể tích khí B ở 250C và 1,5 atm

Trang 38

 nHCl pư = 0,14 mol (vừa đủ).

Dung dịch A chứa 0,01 mol FeCl2 và 0,04 mol FeCl3

● A + KMnO4:

10FeCl2 + 6KMnO4 + 24H2SO4 5Fe2(SO4)3 + 3K2SO4 + 6MnSO4 0,01 + 10Cl2  + 24H2O 0,01

Đến đây nhiều HS tính ngay được thể tích khí Cl2 Như vậy, ở đây HS khôngphân biệt được dấu hiệu bản chất và dấu hiệu không bản chất, cho rằng Fe3+ chỉ thểhiện tính oxi hóa nên không phản ứng với KMnO4, mà quên đi chính Cl đóng vaitrò là chất khử ! Nếu thiếu tư duy độc lập, không nắm vững bản chất của các phảnứng xảy ra trong dung dịch là sự tương tác giữa các ion đối kháng thì chắc chắn sẽgiải sai bài toán

30Cl- + 6MnO4- + 48H+ 6Mn2+ + 15Cl2  + 24H2O

0,12 0,06

  nCl- = 0,01 + 0,06 = 0,07 mol VCl2 = 1,14 lít (250C, 1,5 atm)Thật ra, có HS nhanh trí hơn, áp dụng định luật bảo toàn nguyên tố có thể tínhngay nCl2 = 1/2 nHCl = 0,07 mol mà không cần dựa vào phương trình phản ứng

* Yêu cầu HS tự ra đề toán:

Việc yêu cầu HS tự xây dựng câu hỏi và bài toán là một vấn đề khó, hiện naychưa ai làm, vì rằng HS làm toán còn chưa xong huống chi xây dựng bài toán,nhưng không phải mọi HS đều không làm được, cứ xem đây là một dạng bài tập rấtnhỏ, bước đầu dành cho HS khá trở lên Đây là một công việc đòi hỏi năng lực độclập rất cao và phần nào mang tính sáng tạo Để làm được điều này đòi hỏi HS phảinắm vững kiến thức cơ bản, để khẳng định bài toán được xây dựng đúng thì phải có

óc xem xét và biết phê phán Có thể giúp HS nâng cao năng lực học tập, bằng cáchtiến hành từng bước để tập dượt từ dễ đến khó

* Hoàn thiện phương pháp giải toán:

Trang 39

Hoàn thiện ở đây không có nghĩa là kết thúc, mà mang tính chất khái quát cácdạng toán, các dạng phương pháp giải sao cho có tính hệ thống và tốt hơn.

Ví dụ: Để giúp HS rút ra kết luận khái quát về ảnh hưởng của môi trường đến

tính chất của ion NO3- GV có thể đưa ra 2 bài tập sau sau:

Bài 1: Cho 9,6 gam Cu vào 100ml dung dịch hai muối NaNO3 1M vàBa(NO3)2 1M, không thấy hiện tượng gì, cho thêm vào 500ml dung dịch HCl 2Mthấy thoát ra V lít (ở đktc) khí NO duy nhất Giá trị của V là

Ba(NO3)2 Ba2+

+ 2NO

3 (2) 0,1   2.0,1

A 10,8 lít B 15,12 lít C 2,52 lít D 20,16 lít

9,664

Trang 40

Suy luận : nAl = = 0,9 mol ; nNO

a) Gây cho HS hứng thú tư duy độc lập:

Để HS say mê với hoạt động độc lập phải làm cho HS hứng thú để toàn tâm,toàn ý dốc hết khả năng để làm việc độc lập và sáng tạo, ngược lại nếu tạo điều kiệntốt, HS thành công trong công tác độc lập thì lại càng phấn khởi, thích thú và tíchcực hơn

b) GV có kế hoạch kiểm tra đánh giá đúng mức:

Bất cứ hình thức nào có thể được, GV cần kiểm tra và đánh giá đúng mức suynghĩ và hành động độc lập của HS Kiểm tra bài tập về nhà là hình thức kiểm traquan trọng nhất để phát triển kĩ năng độc lập của HS Kiểm tra không phải là hìnhthức mà phải có mục đích để phát hiện điều gì đó ? Nhìn thấy gì qua suy nghĩ vàhoạt động độc lập của HS để có biện pháp khắc phục kịp thời và khích lệ đúng mức

27

3 , 24

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Quan hệ giữa hoạt động giải BT và phát triển tư duy - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn tư duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy học phần phi kim chương trình nâng cao ở trường THPT
Sơ đồ 1 Quan hệ giữa hoạt động giải BT và phát triển tư duy (Trang 16)
Sơ đồ đường chéo: - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn tư duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy học phần phi kim chương trình nâng cao ở trường THPT
ng chéo: (Trang 55)
Sơ đồ bài toán:                          Y      NO : 0,1 mol                             FeO                       NO 2 :0,15 mol  m g Fe                 Fe - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn tư duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy học phần phi kim chương trình nâng cao ở trường THPT
Sơ đồ b ài toán: Y NO : 0,1 mol FeO NO 2 :0,15 mol m g Fe Fe (Trang 59)
Bảng 3.1.a Bảng phân phối điểm bài kiểm tra số 1 - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn tư duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy học phần phi kim chương trình nâng cao ở trường THPT
Bảng 3.1.a Bảng phân phối điểm bài kiểm tra số 1 (Trang 125)
Đồ thị phần trăm số HS đạt điểm Xi - Tuyển chọn   xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập nhằm rèn tư duy và trí thông minh cho học sinh trong dạy học phần phi kim chương trình nâng cao ở trường THPT
th ị phần trăm số HS đạt điểm Xi (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w