Mangan trong nước, xử lý mangan bằng phương pháp hấp phụ bằng hạt nano sắt III oxit .... Xác định hàm lượng mangan trong nước trước và sau khi hấp phụ bằng hạt nano oxit sắt.... Khi giảm
Trang 1Trờng đại học vinh
KHóA LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
Chuyên ngành: Hoá vô cơ
Vinh – 2010
Trang 2Trờng đại học vinh
KHOA HOá HọC
=== ===
Tổng hợp oxit Fe2O3 cấp hạt nano bằng phơng pháp sol-gel, khảo sát khả năng hấp phụ ion Fe(III), Mn(II) trong môi trờng nớc
KHóA LUậN TốT NGHIệP ĐạI HọC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này, tôi vô cùng biết ơn:
Cô giáo Th.S Phan Thị Minh Huyền đã giao đề tài, hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cần thiết trong suốt quá trình tôi học tập và hoàn thành khoá luận.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô, các cán bộ Khoa Hoá – Trường Đại học Vinh và các thầy cô đã từng giảng dạy, đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình làm thí nghiệm.
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới những người thân yêu trong gia đình và bạn bè đã động viên, khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành khoá luận.
Do thời gian hạn chế nên khoá luận chắc còn nhiều thiếu sót Chúng tôi mong nhận được sự góp ý của thầy cô và các bạn để khoá luận được hoàn thiện hơn
Vinh, tháng 5 năm 2010.
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN DTA: Phân tích nhiệt vi sai
DrTGA: Phân tích nhiệt khối lượng biến đổi
SEM: Hiển vi điện tử quét
FTIR: Độ rộng ở nữa chiều cao cực đại
TGA: Phân tích nhiệt khối lượng
XRD: nhiễu xạ tia X
MỤC LỤC
Trang 5Trang
MỞ ĐẦU ……… 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN……… 3
1.1 Cấu trúc sắt oxit……… 3
1.2 Kiến trúc tinh thể của các oxit sắt……… 3
1.3 Khả năng hấp phụ của vật liệu rắn……… 4
1.3.1.Sự hấp phụ……… 4
1.3.2.Hấp thụ lí học và hoá học……… 4
1.3.3.Sự hấp phụ ở ranh giới rắn – khí và rắn – dung dịch 5
1.4 Tính chất của vật liệu nano 5
1.5 Các nguyên lý và hiệu ứng dùng 6
1.6 Một số phương pháp tổng hợp vật liệu cấp hạt nano 7
1.6.1 Phương pháp gốm truyền thống 7
1.6.2 Phương pháp đồng kết tủa 8
1.6.3 Phương pháp sol – gel 8
1.7 Sắt trong nước, xử lý sắt bằng phương pháp hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit
12 1.7.1 Sự tồn tại của sắt trong môi trường nước 12
1.7.2 Xác định hàm lượng sắt trong nước 12
1.7.3 Các phương pháp để tách loại sắt 14
1.7.4 Xử lý sắt, bằng hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit 14
1.8 Mangan trong nước, xử lý mangan bằng phương pháp hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit
15 1.8.1 Sự tồn tại của mangan trong môi trường nước 15
1.8.2 Khả năng oxi hóa của hợp chất mangan 16
1.8.3 Xác định hàm lượng mangan trong nước 16
1.8.4 Các phương pháp khác để tách loại mangan 17
1.8.5 Xử lý mangan bằng hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit 17
1.9 Các phương pháp định lượng hàm lượng sắt, mangan 17
CHƯƠNG II THỰC NGHIỆM 20
2.1 Hóa chất, dụng cụ, thiết bị nghiên cứu 20
2.1.1 Hoá chất 20
2.1.2 Dụng cụ và thiết bị 20
2.1.3 Chuẩn bị dung dịch thuốc thử và dung dịch chất đầu 21
Trang 62.2 Kĩ thuật thực nghiệm 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 23
2.3.1 Phương pháp phân tích nhiệt 23
2.3.2 Phép đo hiển vi điện tử quét (SEM: scanning Electron Microscopic)
23 2.3.3 Phương pháp nhiễu xạ tia X 24
2.4 Xử lý số liệu thực nghiệm 24
2.5 Xác định hàm lượng sắt trong nước trước và sau khi hấp phụ bằng hạt nano oxit sắt
26 2.5.1 Xác định hàm lượng sắt bằng phương pháp trắc quang 26
2.5.2 Xây dựng đường chuẩn xác định hàm lượng sắt 26
2.5.2.1 Chuẩn bị hóa chất 26
2.5.2.2 Xây dựng đường chuẩn 27
2.5.3 Xác định hàm lượng sắt trong mẫu chuẩn hỗn hợp Fe 3+ (20.08 mg/l) và Mn 2+ 0.58 mg/l
28 2.5.3.1 Pha dung dịch mẫu chuẩn hỗn hợp Fe 3+ (20,08 mg/l) và Mn 2+ 0,58 mg/l
28 2.5.3.2 Hấp phụ Fe 3+ trong hỗn hợp dung dịch chuẩn Fe 3+ 20,08 mg/l và Mn 2+ 0,58 mg/l bằng hạt nano sắt (III) oxit ……
28 2.5.3.3 Xác định hàm lượng Fe 3+ trong hỗn hợp dung dịch chuẩn Fe 3+ 20,08 mg/l và Mn 2+ 0,58 mg/l sau khi hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit
29 2.6 Xác định hàm lượng mangan trong nước trước và sau khi hấp phụ bằng hạt nano oxit sắt
29 2.6.1 Xác định hàm lượng Mn bằng phương pháp trắc quang 29
2.6.2 Xây dựng đường chuẩn KMnO 4 30
2.6.2.1 Chuẩn bị hóa chất 30
2.6.2.2 Xây dựng đường chuẩn 30
2.6.3 Xác định hàm lượng sắt trong mẫu chuẩn hỗn hợp Fe 3+ 20,08 mg/l và Mn 2+ 0,58 mg/l
31 2.6.3.1 Pha dung dịch mẫu chuẩn hỗn hợp Fe 3+ (20,08 mg/l) và Mn 2+ 0,58 mg/l
31 2.6.3.2 Hấp phụ Mn 2+ trong hỗn hợp dung dịch chuẩn Fe 3+ 20,08 mg/l và Mn 2+ 0,58 mg/l bằng hạt nano sắt (III) oxit
31 2.6.3.3 Xác định hàm lượng Mn 2+ trong hỗn hợp dung dịch chuẩn Fe 3+ 20,08 mg/l và Mn 2+ 0,58 mg/l sau khi hấp phụ bằng 0,1 gam hạt nano sắt (III) oxit
32
Trang 7CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33 3.1 Kết quả phân tích nhiệt mẫu gel 33 3.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ nung mẫu 34 3.3 Xác định hàm lượng Fe 3+ , Mn 2+ trong hỗn hợp dung dịch
chuẩn Fe 3+ 20,08 mg/l và Mn 2+ 0,58 mg/l sau khi hấp phụ bằng hạt
nano sắt (III) oxit
38
3.4 Xác định hàm lượng Mn 2+ trong hỗn hợp dung dịch chuẩn
Fe 3+ 20,08 mg/l và Mn 2+ 0,58 mg/l sau khi hấp phụ bằng hạt nano
sắt (III) oxit
39
KẾT LUẬN 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
MỞ ĐẦU
Sự phát minh thuyết lượng tử về cấu tạo và các quá trình biến đổicủa vật chất vào những năm đầu của thế kỷ thứ 20 đã dẫn đường cho sựphát triển nhiều nghành khoa học tự nhiên và các lĩnh vực công nghệ caotrong suốt thế kỷ trước Bước vào thế kỷ thứ 21 các nhà vật lý lại mở ra
Trang 8một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển khoa học và công nghệ trênthế giới: sự ra đời của khoa học và công nghệ nano.
Công nghệ nano là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế,phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị và hệ thống bằng việcđiều khiển hình dáng, kích thước của các hạt và vật liệu trên quy mô từ 1đến 100 nanomet (1 nm = 10-9 m)
Trong công nghệ nano, hạt nano được ứng dụng sớm nhất, nhiều và
đa dạng nhất Hạt nano là một phần quan trọng của vật liệu nano
Oxit sắt dạng hạt (cỡ micromet) được ứng dụng nhiều trong côngnghệ sơn, chất màu, chất độn Khi giảm kích thước hạt oxit sắt từ xuốngkích thước nano (< 100 nm) từ đó chế tạo chất lỏng từ mở ra triển vọng
có nhiều ứng dụng mới trong công nghệ sinh học, bôi trơn động cơ, in ấn
và môi trường…Đặc biệt là trong công nghệ xử lý nước uống và trong yhọc như tìm ra tế bào ung thư…
Vật liệu hạt oxit sắt có kích thước nano có thể được điều chế theonhiều phương pháp khác nhau Phương pháp vật lí với các công đoạn chếhoá nghiền trộn nung ép nhiều lần, có nhược điểm là sản phẩm dễ bịnhiễm bẩn, thành phần dễ bị thay đổi, kích thước hạt không đều, thànhphần không đồng nhất, bề mặt riêng nhỏ, ô nhiễm môi trường Gần đây
để điều chế vật liệu từ nano người ta thường sử dụng phương pháp hoá học
Có nhiều phương pháp hoá học để điều chế loại vật liệu này như: phươngpháp tổng hợp phản ứng pha rắn, phương pháp đồng kết tủa, phương phápsol- gel, phương pháp thuỷ nhiệt…với những ưu điểm cho sản phẩm có độtinh khiết cao, các chất đầu phân bố đồng đều, nhiệt độ phản ứng thấp, kíchthước hạt sản phẩm nhỏ, tránh được sự ngưng tụ của các hạt trong quá trìnhthiêu kết, vật liệu thu được chất lượng cao…
Việc tổng hợp theo phương pháp sol – gel đang được sử dụng rấtthành công, đặc biệt là vật liệu từ Trong đó oxit sắt là loại vật liệu cónhiều ưu điểm của vật liệu từ, nhất là trong việc sử dụng để xử lí kim loạinặng trong môi trường nước được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên
cứu Vì vậy chúng tôi chọn đề tài: “Tổng hợp oxit Fe 2 O 3 cấp hạt nano bằng phương pháp sol - gel, khảo sát khả năng hấp phụ ion Fe (III),
Mn (II) trong môi trường nước” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học
– chuyên ngành hoá vô cơ, với mong muốn làm sáng tỏ một số tính ưuviệt của loại vật liệu này nhằm ứng dụng rộng rãi trong thực tế
Trang 10O 2
Khoảng cách giữa hai lớp xếp khít oxi bằng 2,16 A0 Tế bàonguyên tố thuộc hệ mặt thoi, chiều dài cạnh bằng 5,12 A0, góc nhọn giữacác cạnh bằng 5017’ Tế bào tố có 4 ion nhôm và 6 ion oxi
1.2 Kiến trúc tinh thể của các oxit sắt [9,16]
Cả 3 oxit sắt là hợp chất không hợp thức và dễ biến đổi lẫn nhau,qua sơ đồ:
Fe2O3 Fe3O4 FeO
Sự tăng nhiệt độ và tác dụng của chất khử làm cho cân bằngchuyển dịch theo chiều thuận, ngược lại sự tăng lượng khí oxi làm chocân bằng chuyển dịch theo chiều nghịch
Nguyên nhân của sự sai lệch với thành phần hợp thức và sự biếnđổi lẫn nhau là Fe3O4, FeO cũng như Fe2O3- γ có kiến trúc tinh thể giốngnhau
Trong tinh thể những ion O2- sắp xếp sít sao kiểu lập phương tạonên những lỗ trống bát diện, ở tâm những lỗ trống đó là ion Fe2+ và ion
Fe3+
Trong tinh thể FeO có kiến trúc kiểu NaCl, mỗi ion Fe2+ được phốitrí bởi 6 ion O2- và mỗi ion O2- được phối trí bởi 6 ion Fe2+, nghĩa lànhững lỗ trống bát diện không có ion Nếu trong tất cả những lỗ trống bátdiện đều có ion Fe2+ thì oxit sắt có công thức lí tưởng là FeO Khi một sốion Fe2+ được thay thế bằng 2/3 những ion Fe3+, tinh thể có kiến trúckhuyết và oxit có công thức Fe1-xO ( thường x ~ 0,05)
Nếu quá trình thay thế đó được tiếp tục cho đến khi tổng số 2/3 sốion sắt là Fe3+, một nữa chiếm lỗ trống bát diện thì tinh thể có kiến trúckhuyết hơn nữa và oxit có công thức Fe3O4 Ion Fe3+ có bán kính 0,64 A0
bé hơn Fe2+ có bán kính 0,76 A0 nên có thể chiếm lỗ trống tứ diện bé hơn
o o
o o
o o
Trang 11lỗ trống bát diện Trong toàn bộ lỗ trống bát diện đó, những ion Fe2+ và
Fe3+ được sắp xếp 1 cách ngẫu nhiên đến mức những ion đó không phảiđổi chỗ cho nhau mà thực tế chỉ cần electron nhảy từ ion này sang ionkhác bên cạnh và kết quả là những electron chuyển động trong toàn tinhthể Đó là nguyên nhân của tính dẫn điện và ánh kim của oxit sắt từ
Nếu số ion Fe2+ còn lại trong tinh thể oxit sắt từ được thay thế hếtbằng ion Fe3+ thì oxit sắt có công thức là Fe2O3
1.3 Khả năng hấp phụ của vật liệu rắn [13]
1.3.1 Sự hấp phụ:
Sự hấp phụ là quá trình thu hút các phân tử khí, hơi hoặc các phân
tử, ion của chất tan lên bề mặt pha ngưng tụ làm cho bề mặt pha ngưng tụgiảm xuống Nếu chất bị hấp phụ thâm nhập sâu vào trong lòng phangưng tụ thì quá trình này gọi là sự hấp thụ Hấp phụ là hiện tượng vậtchất trong dung dịch tập trung trên bề mặt gần ranh giới giữa hạt dungdịch và bề mặt hạt có nồng độ tương đối so với nồng độ trong
1.3.2 Hấp phụ lí học và hoá học
* Nếu sự hấp phụ xẩy ra do lực Van Der Waals, có thể do cả liênkết hiđro thì được gọi là sự hấp phụ lí học Loại hấp phụ này ít có tínhchất chọn lọc và là thuận nghịch, nhiệt lượng toả ra trong quá trình nàynhỏ và khi nhiệt độ tăng sự hấp phụ giảm
* Nếu lực hấp phụ có bản chất hoá học (tạo hợp chất hoá học) thì
sự hấp phụ được gọi là hấp phụ hoá học Loại hấp phụ hoá học có tínhchất chọn lọc và thuận nghịch Nhiệt lượng toả ra trong quá trình hấp phụnày lớn hơn nhiều so với hấp phụ lí học và khi nhiệt độ tăng sự hấp phụtăng
1.3.3 Sự hấp phụ ở ranh giới rắn – khí và rắn – dung dịch
* Bề mặt vật rắn là không đồng nhất, nên khả năng hấp phụ ở cácđiểm khác nhau là không giống nhau Ở các cạnh, góc, khe, chỗ lệchmạng, sai hỏng cấu trúc tinh thể, khả năng hấp phụ mạnh hơn và người tagọi các chỗ đó là các trung tâm hoạt động
* Bề mặt riêng của vật rắn càng lớn thì khả năng hấp phụ của nócàng mạnh
Trang 12* Chất có độ hoà tan càng nhỏ thì càng dễ bị hấp phụ từ dung dịch.
Sự hấp phụ chọn lọc được ứng dụng rộng rãi trên thực tế: mặt nạ phòngkhí độc, làm sạch nước, làm sạch các dung dịch, phương pháp sắc kí…
* Hiệu ứng Rebinde: khi vật rắn hấp phụ chất hoạt động bề mặt từdung dịch thì độ bền của nó bị giảm xuống Hiệu ứng này được gọi làhiệu ứng Rebinde Nó được dùng trong quá trình khoan đất đá, gia côngkim loại, nghiền
1.4 Tính chất của vật liệu nano
Khoa học nano là ngành khoa học nghiên cứu về các hiện tượng và
sự can thiệp (manipulation) vào vật liệu tại các quy mô nguyên tử, phân
tử và đại phân tử Tại các quy mô đó, tính chất của vật liệu khác hẳn vớitính chất của chúng tại các quy mô lớn hơn
Công nghệ nano là việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo vàứng dụng các cấu trúc, thiết bị, và hệ thống bằng việc điều khiển hìnhdáng và kích thước trên quy mô nanomet
Vật liệu nano là đối tượng của hai lĩnh vực là khoa học nano vàcông nghệ nano, nó liên kết hai lĩnh vực trên với nhau Kích thước củavật liệu nano trải một khoảng khá rộng, từ vài nm đến vài trăm nm
Tính chất thú vị của vật liệu nano bắt nguồn từ kích thước củachúng rất nhỏ bé có thể so sánh với các kích thước tới hạn của nhiều tínhchất hóa lí của vật liệu Chỉ là vấn đề kích thước thôi thì không có gì đángnói, điều đáng nói là kích thước của vật liệu nano đủ nhỏ để có thể sosánh với các kích thước tới hạn của một số tính chất Vật liệu nano nằmgiữa tính chất lượng tử của nguyên tử và tính chất khối của vật liệu Đốivới vật liệu khối, độ dài tới hạn của các tính chất rất nhỏ so với độ lớncủa vật liệu, nhưng đối với vật liệu nano thì điều đó không đúng nên cáctính chất khác lạ bắt đầu từ nguyên nhân này
1.5 Các nguyên lý ứng dụng:
Một trong những tính chất quan trọng của cấu trúc nano là sự phụ
thuộc vào kích thước Vật chất khi ở dạng vi thể (nano-size) có thể có những tính chất mà vật chất khi ở dạng nguyên thể (bulk) không thể thấy đuợc.
Khi kích thuớc của vật chất trở nên nhỏ tới kích thuớc nanômet,đặc tính cơ lượng tử của các điện tử biểu hiện ra ở dạng sóng Kích thuớc
Trang 13nhỏ dẫn đến những hiện tượng lượng tử mới và tạo cho vật chất có thêmnhững đặc tính kỳ thú mới Một vài hệ quả của hiệu ứng lượng tử baogồm, chẳng hạn như:
Hiệu ứng đường hầm:
Điện tử có thể tức thời chuyển động xuyên qua một lớp cách điện.Lợi điểm của hiệu ứng này là các vật liệu điện tử xây dựng ở kích cỡnano không những có thể được đóng gói dầy đặc hơn trên một chíp màcòn có thể hoạt động nhanh hơn, với ít điện tử hơn và mất ít năng lượnghơn những transistor thông thường
Sự thay đổi của những tính chất của vật chất chẳng hạn như tính
chất điện và tính chất quang phi tuyến (non-linear optical) Bằng cách
điều chỉnh kích thuớc, vật chất ở dạng vi mô có thể trở nên khác xa vớivật chất ở dạng nguyên thể
Hầu hết bất cứ một thuộc tính nào trong vật rắn đều kết hợp với mộtkích thước đặc biệt, và duới kích thước này các tính chất của vật chất sẽthay đổi
Mối quan hệ này mở đường cho sự sáng tạo ra những thế hệ vậtchất với những tính chất mong muốn, không chỉ bởi thay đổi thành phầnhóa học của các cấu tử, mà còn bởi sự điều chỉnh kích thuớc và hìnhdạng
Tính chất bề mặt
Hiệu ứng thay đổi tính chất rõ rệt nhất về tính chất của màng mỏng
là hiệu ứng bề mặt Khi vật liệu có kích thước nm, các số nguyên tử nằm
trên bề mặt sẽ chiếm tỉ lệ đáng kể so với tổng số nguyên tử Chính vì vậycác hiệu ứng có liên quan đến bề mặt, gọi tắt là hiệu ứng bề mặt sẽ trởnên quan trọng làm cho tính chất của vật liệu có kích thước nanomet khácbiệt so với vật liệu ở dạng khối Ví dụ như trong các vật liệu sắt từ, ở vậtliệu dạng khối, dị hướng từ tinh thể ảnh hưởng rất lớn đến tính chất từ,nhưng khi chế tạo ở các màng đủ mỏng, dị hướng từ tinh thể có thể biếnmất mà thay vào đó là dị hướng từ bề mặt
Trước khi xem xét cụ thể một số ứng dụng thực tế, ta chú ý nhữngđặc điểm khác thường của hạt nano
Hạt thông thường có kích thước trên micromet thì số nguyên tửtrên bề mặt của hạt rất nhỏ so với số nguyên tử tổng cộng cấu tạo nên hạt.Nhưng khi kích thước hạt nhỏ cỡ nanomet thì tỷ lệ số nguyên tử trên bề
Trang 14mặt lại trở nên rất đáng kể, hạt càng nhỏ thì vai trò của các nguyên tử trên
bề mặt càng vượt trội so với vai trò của các nguyên tử ở bên trong Cáchiện tượng khuếch tán qua bề mặt, hấp phụ trên bề mặt của hạt nano thayđổi rất mạnh Nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ thiêu kết của hạt nano cũngkhác nhiều so với hạt lớn (hoặc mẫu khối) Tương tự như vậy, xét cùngmột khối lượng thì tổng diện tích mặt ngoài của các hạt nano là cực lớn
so với trường hợp hạt to hay vật khối
1.6 Một số phương pháp tổng hợp vật liệu cấp hạt nano
1.6.1 Phương pháp gốm truyền thống [15]
Bản chất của phương pháp là thực hiện phản ứng giữa các pha rắn
ở nhiệt độ cao, sản phẩm thu được thường thu được dưới dạng bột và cấphạt cỡ milimet Từ sản phẩm đó mới tiến hành tạo hình và thực hiện phảnứng kết khối thành vật liệu cụ thể Đây là phương pháp đã được phát triểnlâu đời nhất nhưng hiện nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi Các côngđoạn theo phương pháp này như sau:
Chuẩn bị phối liệu nghiền, trộn, ép viên nung sản phẩm
Ưu điểm của phương pháp truyền thống: Dùng ít hoá chất, hoá chất
không đắt tiền, các thao tác dễ tự động hoá nên dễ dàng đưa vào dâychuyền sản xuất với lượng lớn
Nhược điểm: Đòi hỏi nhiều thiết bị phức tạp, tính đồng nhất của
sản phẩm không cao, kích thước hạt lớn cỡ milimet, nên khi ép tạo thànhsản phẩm thường có độ rộng lớn, phản ứng trong pha rắn diễn ra chậm.1.6.2 Phương pháp đồng kết tủa [13,14]
Đây là một trong những phương pháp đang được sử dụng rộng rãi
để tổng hợp vật liệu Phương pháp cho phép khuếch tán các chất tham giaphản ứng khá tốt, tăng đáng kể bề mặt tiếp xúc của các chất phản ứng do
đó có thể điều chế được vật liệu cấp hạt nano như mong muốn ở điều kiệnnung tạo sản phẩm thấp Một điều quan trọng là thành phần của vật liệuảnh hưởng đến nhiều tính chất, do đó khi tiến hành phản ứng đồng kếttủa, làm sao thu được pha kết tủa có thành phần mong muốn
Phương pháp đồng kết tủa có nhiều thuận lợi như:
* Cho sản phẩm tinh khiết, vì quá trình sử dụng các phân tử tiền chấtkhông phải là khối vật liệu lớn
Trang 15* Tính đồng nhất của sản phẩm cao, dễ điều khiển tỉ lệ hoá học củasản phẩm được như mong muốn Điều này đặc biệt quan trọng trong tổnghợp vật liệu cao cấp, đòi hỏi tỉ lệ chính xác của các cấu tử trong vật liệu ởnhiệt độ cao.
* Điều chỉnh các tính chất thông qua điều chỉnh các yếu tố Sự thayđổi các điều kiện phản ứng như: pH, nhiệt độ, nồng độ, tốc độ của sự thuỷphân sự kết tinh ảnh hưởng đến thành phần, kích thước và hình thái họccủa sản phẩm
* Tổng hợp ở nhiệt độ thấp Vì sản phẩm bột khô đồng nhất và kíchthước hạt nhỏ hơn phương pháp xay nghiền – thiêu kết, sự lớn lên củatinh thể có thể thu được ở nhiệt độ thấp Điều này cho phép tổng hợp cácpha kém bền và có thể có sự tham gia của các phân tử hữu cơ kém bềnnhiệt, trong sản phẩm cuối cùng Sau khi làm mất các chất dễ bay hơi, dễphân hủy sản phẩm được hình thành
1.6.3 Phương pháp sol – gel [4,5,10 ]
Mặc dầu đã được nghiên cứu vào những năm 30 của thế kỉ trước.Nhưng gần đây, cùng với sự ra đời và phát triển của công nghệ nano,phương pháp sol – gel lại được quan tâm rất nhiều vì nó rất thành côngtrong tổng hợp vật liệu cấp hạt nano Phương pháp này lần đầu tiên đượcbiết đến vào năm 1846, nhưng mãi đến năm 1956 phương pháp sol- gelmới được R.Roy đề xuất Nó cho phép trộn lẫn các chất ở quy mô nguyên
tử và hạt keo (từ 1 đến 1000A0) Phương pháp này được gọi là phươngpháp sol - gel bởi vì nó thực hiện theo sơ đồ:
Dung dịch sol gel xerogel oxit.
Phương pháp sol - gel là phương pháp rất linh hoạt bởi người ta cóthể điều khiển quá trình tạo sol, quá trình sấy, nung để tạo ra vật liệu cótính chất mong muốn Nó cho phép tổng hợp các vật liệu nano oxit siêumịn, có độ tinh khiết hóa học cao, có bề mặt riêng lớn Nhờ phương phápsol-gel có thể tổng hợp được các tinh thể có kích cỡ nanomet, các phathủy tinh, thủy tinh - gốm, gốm - kim loại Phương pháp sol - gel rất đadạng, nhìn chung có thể chia thành phương pháp sol - gel đi từ alkoxide,phương pháp gel - keo, phương pháp sol - keo axit hữu cơ
a Phương pháp sol-gel đi từ alkoxide:
Trang 16Theo phương pháp này người ta tạo gel từ các alkoxide kim loạiM(OR)n (trong đó M là ion kim loại, R là gốc alkyl).
Để điều chế gel từ alkoxide, các alkoxide kim loại thường đượchòa tan trong dung môi hữu cơ khan và thủy phân khi thêm một lượngnước xác định Alkoxide kim loại được thủy phân ở nhiệt độ thường hoặcđun nóng nhẹ có mặt axit hoặc bazơ làm xúc tác:
M(OR)n + xH2O M(OH)x(OR)n-x + x ROH
Sau quá trình thủy phân là quá trình ngưng tụ Đây là quá trìnhphức tạp xẩy ra khi có liên kết M - OH và thực hiện theo hai phản ứngsau:
1 loại nước: - M-OH + HO-M’- - M-O-M’- + H2O
2 loại rượu: - M-OH + RO-M’- - M-O-M’- + ROH
quá trình ngưng tụ hình thành được các liên kết metaloxan:
-M-O-M’
O O
- M’Khung này lớn dần tới kích thước hạt keo Cuối cùng khungpolyme nối với nhau tạo thành khung ba chiều và đến một lúc nào đó độnhớt tăng lên đột ngột và toàn bộ hệ thống biến thành gel, nước và rượunằm trong các lỗ của khung gel
-O-M-Vì trong gel đã sinh ra những đoạn cấu trúc oxit nên khoảng cáchkhuếch tán là nhỏ nhất Phản ứng phân hủy gel xẩy ra ở nhiệt độ thấp chosản phẩm có tính đồng nhất cao, độ tinh khiết hóa học lớn, bề mặt riênglớn Người ta có thể khống chế được kích thước và hình dạng, có thể tạothành các hạt hình cầu, màng mỏng và vô định hình
Phương pháp này đặc biệt thuận lợi trong việc tạo vật liệu oxit mà
sự khuếch tán của ion trong phản ứng pha rắn rất khó hoặc hỗn hợp cócấu tử dễ bay hơi
Như vậy phương pháp sol-gel đi từ alkoxide kim loại thỏa mãn đầy
đủ những yêu cầu của bột gốm lí tưởng: tính đồng nhất cao, siêu mịn, hạt
có dạng hình cầu, sự phân bố kích thước hạt hẹp…Tuy nhiên giá thànhcác alkoxide kim loại rất cao nên đã hạn chế việc sử dụng phương pháp
Trang 17này Do vậy, phương pháp sol-gel đi từ alkoxede phần lớn được áp dụngtrong nghiên cứu khoa học, và sản xuất một số sản phẩm đắt tiền, một sốmàng mỏng, chất xúc tác đặc biệt…
b Phương pháp thủy phân các muối:
Bản chất của phương pháp này là quá trình tạo phức (phức hidroxo,oxo, aqua) giữa các ion kim loại với ion OH-, sau đó xảy ra sự ngưng tụcác phức để hình thành nên hạt keo
Phương pháp này đơn giản và rẻ tiền hơn phương pháp sol - gel đi
từ các alkoxide nhưng phương pháp này chỉ cho phép tổng hợp chủ yếucác oxit đơn, tìm điều kiện cho tất cả các ion kim loại tạo phức cùng lúc
để được phức đa nhân là khó
c Phương pháp sol - gel đi từ dung dịch muối kim loại và phối
tử hữu cơ:
Cơ sở của phương pháp này là dựa trên sự tạo phức giữa kim loạivới phối tử hữu cơ (thường dùng là các đa axit) nhằm tạo ra cầu nối giữacác ion kim loại thông qua các phối tử này
Quá trình tạo gel bao gồm các giai đoạn:
Tạo phức đơn nhân phức đa nhân hạt keo gel
Theo phương pháp này các axit hữu cơ được trộn vào các kim loại,khuấy đều đun nóng, và có thể điều chỉnh pH bằng NH3 Việc khuấy vàđun nóng được thực hiện liên tục và sol tới một lúc nào đó sẽ chuyển mộtcách đột ngột thành gel
Phương pháp sol - gel axit hữu cơ rất đa dạng, người ta có thể dùngcác axit citric, stearic, axetic…tương ứng với nó có các phương pháp sol-gel citrat, stearat, axetat…
Về vai trò của axit cacboxylic, có thể là do sự tạo phức với ion kimloại, phần hữu cơ của phức trong điều kiện xác định sẽ trùng hợp vớinhau tạo thành các phần tử polyme hoặc mạng ba chiều, kết quả độ nhớtcủa dung dịch tăng và sol biến thành gel
-M-O-C-C- ··· -C-C-O-M’
-O -O
Trang 18Cơ chế này chỉ xảy ra khi trong phần axit hữu cơ có liên kết đôi(như axit meta acrylic), hoặc trong dung dịch chứa các chất có khả năngtrùng ngưng hoặc tạo este với axit (như etylen diamin, etylen glycol…).
Nhóm cacboxylat có thể phối trí với kim loại M theo một trong cáckiểu sau:
Trong quá trình sol - gel, giai đoạn đầu tiên là sự thuỷ phân và đông
tụ tiền chất để hình thành sol, dạng đồng nhất của các hạt oxit siêu nhỏtrong chất lỏng Chất đầu để tổng hợp sol này là các hợp chất hoạt độngcủa kim loại như các alkoxide của silic, nhôm, titan, sắt… giai đoạn này
có thể điều khiển bằng sự thay đổi pH, nhiệt độ và thời gian phản ứng,xúc tác, nồng độ tác nhân, tỷ lệ nước…các hạt sol có thể lớn lên và đông
tụ để hình thành mạng polime liên tục hay gel chứa các bẫy dung môi.Phương pháp làm khô sẽ xác định các tính chất của sản phẩm cuối cùng.Gel có thể được đun nóng để loại trừ các phân tử dung môi, gây áp lựclên mao quản và làm sụp đỗ mạng gel, hoặc làm khô siêu tới hạn, chophép loại bỏ các phân tử dung môi và không sụp đỗ mạng gel Sản phẩmcuối cùng thu được từ phương pháp làm khô siêu tới hạn gọi là aerogel,theo phương pháp nung gọi là xerogel Bên cạnh gel còn có thể thu đượcnhiều loại sản phẩm khác
1.7 Sắt trong nước, xử lý sắt bằng phương pháp hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit
1.7.1 Sự tồn tại của sắt trong môi trường nước
Sắt tồn tại trong nước ngầm dưới dạng Fe(II) hòa tan của các muốibicacbonat, sunfat, clorua, đôi khi ở dạng keo của axit humic hoặc silic
O
Trang 19Khi có chất oxi hóa Fe(II) sẽ bị oxi hóa thành Fe(III) và kết tủa dưới dạngFe(OH)3 màu nâu đỏ.
* Hàm lượng sắt trong nước tự nhiên và nước thải [8]
0,01mg/l 26mg/l
* Giới hạn cho phép: +Trong nước uống: < 0,5 mg/l
+Trong nước thải: 2 10 mg/l
1.7.2 Xác định hàm lượng sắt trong nước [6]
Để xác định tổng hàm lượng sắt người ta dùng các chất oxy hóanhư Cl2, H2O2, O2, KMnO4, K2Cr2O7, MnO2, O3, S2O82- để chuyển toàn bộthành sắt (III) Sau đó dùng các thuốc thử thioxianat, sunfosalisilic, đểchuyển Fe3+về dạng phức có màu và dùng phương pháp trắc quang đểxác định hàm lượng sắt (III)
• Xác định hàm lượng sắt trong nước bằng thuốc thử
Khi có các chất oxy hóa phải cho dư thuốc thử vì một phần SCN- bị oxihóa
Các ion Cl-, SO42- với nồng độ cao làm giảm độ nhạy của phản ứng
vì chúng cũng tạo phức với Fe3+
Xác định hàm lượng sắt bằng thuốc thử axit sunfosalixilic:
Có thể dùng axit sunfosalixilic xác định hàm lượng sắt Fe3+ phảnứng với axit sunfosalixilic tùy điều kiện tạo thành các phức khác nhau:
Axit H2SSal có CTCT:
pH >= 2 Fe3+ : SSal = 1:1 ( đỏ tím)
COOH OH
HO3S
Trang 20pH >= 10 Fe3+ : SSal = 1:3 ( da cam)
8 < pH < 10 Fe3+ : SSal = 1:2 ( đỏ da cam)
Lượng nhôm, đồng có trong mẫu phân tích sẽ cản trở phép xác định vìchúng cũng tạo phức có màu tương tự như của sắt Vì vậy, không nêndùng phương pháp này để định lượng sắt
Xác định hàm lượng sắt trong nước bằng thuốc thử phenantrolin:
O-Thuốc thử O- phenantrolin phản ứng với ion Fe2+ tạo thành phứcchất có màu tím đỏ Khoảng pH cho quá trình tạo phức khá rộng từ 3 9.Mangan có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xác định, nên khi mẫu phântích có mặt mangan thì không nên dùng phương pháp này để định lượngsắt Lượng đồng trong mẫu lớn (trên 10 mg/l) cũng gây ảnh hưởng nhưng
có thể loại trừ ảnh hưởng đó bằng cách tiến hành phản ứng trong khoảng
pH = 34
1.7.3 Các phương pháp để tách loại sắt
Kết tủa sắt dưới dạng hydroxit:
Nguyên tắc của phương pháp này là phải chuyển Fe2+ thành Fe3+sau đó kết tủa dưới dạng Fe(OH)3 vì Tt Fe(OH)3 << Tt Fe(OH)2 Ngoàiphương pháp oxi hóa Fe2+ thành Fe3+ bằng oxi không khí còn có thể oxihóa sắt bằng các chất oxi hóa như: Cl2, H2O, KMnO4, K2Cr2O4, MnO2.Khi cho các chất oxi hóa mạnh này vào nước các phản ứng diễn ra nhưsau:
Fe(HCO3)2 + Ca(OH)2 = FeCO3 + CaCO3 + H2O
Tách sắt bằng trao đổi cation:
Cho nước đi qua vật liệu lọc có khả năng trao đổi cation Các ion
H+ và Na+ có trong thành phần của vật liệu lọc sẽ trao đổi với các ion
Fe2+ có trong nước Kết quả Fe2+ được giữ lại trong vật liệu lọc
Tách loại sắt bằng điện phân:
Trang 21Dùng các cực âm bằng sắt, nhôm cùng các cực dương bằng đồng,bạch kim hay đồng niken và dùng điện cực hình ống trụ hay hình sợi chotấm điện cực phẳng.
Tách sắt bằng phương pháp vi sinh vật:
Cấy các mầm khuẩn sắt trong lớp cát của bể lọc Thông qua hoạtđộng của các vi khuẩn, sắt được loại bỏ khỏi nước
1.7.4 Xử lý sắt bằng hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit:
Sắt trong nước uống có thể khử bằng phương pháp ngưng tụ/lọc,oxi hoá sắt/Mangan, hấp phụ, trao đổi ion, lọc màng…Thế nhưng nhữngphương pháp trên có nhược điểm nhất định Như phương pháp trao đổiion sẽ không hiệu quả nếu có tồn tại những ion cạnh tranh khác, thẩmthấu ngược là phương pháp đắt tiền, lọc màng sẽ có công đoạn, xử lýmàng trước Ngược lại phương pháp hấp phụ so với phương pháp khácthì kinh tế hơn việc xử lý dễ dàng và an toàn Các chất hấp phụ như oxitsắt, alumina hoạt tính, và các chất hấp phụ như oxit kim loại khác đều đãđược nghiên cứu và việc hấp phụ của sắt về cơ bản trên bề mặt của phảnứng trao đổi ligand và hydroxide cũng đã được biết từ trước Năng lựchấp phụ của chất hấp phụ được quyết định bởi các tính chất lí hoá như độlớn, cấu tạo, điện tích bề mặt, độ rỗng của chất hấp phụ
Trang 221.8 Mangan trong nước, xử lý mangan bằng phương pháp hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit:
1.8.1 Sự tồn tại của mangan trong môi trường nước:
Mặc dù, lượng mangan trong vỏ trái đất nhỏ hơn nhiều so với sắtnhưng các điều kiện pH và thế oxi hóa khử lại thuận lợi hơn sắt trongviệc tách thoát mangan khỏi môi trường đất để tồn tại trong môi trườngnước Do đó, nồng độ của mangan trong nước cũng có cỡ xấp xỉ như củasắt, và cũng vì một nguyên nhân động học như của sắt, mangan ở trạngthái hòa tan, chủ yếu muối Mn(HCO3)2 Khi có mặt chất oxi hóa Mn2+ sẽtạo thành kết tủa của MnO2, màu đen
Mn(HCO3)2 + O2 = MnO2 +2CO2 + H2O
Hàm lượng mangan trong nước tự nhiên và trong nước thải [8]
* Trong nước tự nhiên khoảng: 0,58 mg/l
* Trong nước thải sinh hoạt dao động: 0,47 đến 0,5 mg/l
Giới hạn cho phép:
* Nước uống: 0,01mg/l đến 0,5 mg/l
* Nước thải: < 1 mg/l1.8.2 Khả năng oxi hóa của hợp chất mangan [6]
Khả năng oxi hóa của hợp chất mangan phụ thuộc mạnh vào pHcủa dung dịch, ta có thể dự đoán khả năng oxi hóa của các hợp chất củamangan dựa vào các cân bằng sau:
1.8.3 Xác định hàm lượng mangan trong nước [6]
Để xác định hàm lượng mangan trong nước người ta cũng dùngphương pháp so màu, trong đó Mn2+ được oxi hóa lên pemanganat
Trang 23Nguyên tắc của phương pháp xác định mangan là dựa trên phản ứng oxihóa Mn (II) nhạt màu thành Mn (VII) có màu tím.
Oxi hoá mangan bằng KIO 4 trong môi trường axit HNO 3 :
2Mn2+ + 5IO4- + 3H2O = 2MnO4- + 5IO3- + 6H+
Tác dụng với NaBiO 3 trong môi trường HNO 3 :
2Mn2+ + 5 BiO3- + 14H+ = 2MnO4- + 5Bi3+ + 7H2O
Oxi hóa mangan bằng pesunfat:
2Mn2+ + 5S2O82- + 8H2O = 2MnO4- + 10SO42- + 16H+
Dùng Ag+ làm xúc tác:
S2O82- + 2Ag+ = 2SO42- + 2Ag2+
10Ag2+ + 2Mn2+ + 8H2O = 2MnO4- + 16H+ + 10Ag+
Oxi hóa mangan bằng PbO 2 trong môi trường HNO 3 :
2Mn2+ + 5PbO2 + 4H+ = 2MnO4- + 5Pb2+ + 2H2O
Lượng lớn các ion clorua, các hợp chất hữu cơ, các ion có màu nhưđicromat, niken, đồng, sắt (III) sẽ cản trở phép xác định Khi đó AgNO3loại trừ các ion clorua, HNO3 loại trừ các chất hữu cơ và Fe(III) được loạitrừ bằng H3PO4 Các ion đicromat và các ion có màu khác được loại trừbằng cách xác định hiệu mật độ quang Đo mật độ quang của dung dịch,sau đó thêm từ từ HCl 5% đến khi mất màu KMnO4, đo lại mật độ quang.Hiệu 2 lần đo là mật độ quang dung dịch chỉ có pemanganat
1.8.4 Các phương pháp khác để tách loại mangan:
Ngoài phương pháp tách loại mangan bằng oxi không khí còn cóthể dùng các chất oxi hóa như Cl2, ClO2, O3
Oxi hóa bởi Cl 2 :
Mn2+ + Cl2 + 2H2O = MnO2 + 2 Cl- + 4H+
Để kết tủa 1mg Mn thì cần 1,29 mg Cl2 Phản ứng giải phóng H+ nên
pH giảm, làm giảm tốc độ Do đó, việc kiềm hóa là rất cần thiết và rấtquan trọng, phản ứng xẩy ra ở pH = 7 đến pH = 10, tốc độ tối ưu ởpH=10, phản ứng cần 2 đến 4 giờ
Sự oxi hóa bởi clođioxit:
Mn2+ + 2ClO2 + 2H2O = MnO2 + 2ClO- + 4H+
Để kết tủa 1mg Mn2+cần 2,45mg ClO2 Phản ứng xảy ra rất nhanh ởpH>7
Sự oxi hóa bởi O 3 :
Trang 243Mn2+ + O3 + 3H2O = 3MnO2 + 6H+
Ozon là chất oxi hóa mạnh, sự oxi hóa mangan thực tế kéo theo sự tạo kếttủa, kết dính với bọt khí ozon và nổi lên mặt nước Khi oxi hóa manganbởi lượng ozon dư thì có thể tạo ra MnO4- làm nước có màu hồng Để kếttủa hết 1 mg Mn cần 0,29 mg O3
Ngoài các phương pháp trên, còn có thể dùng phương pháp sinhhọc để khử mangan Người ta cấy một loại vi sinh vật có khả năng hấpphụ mangan trong quá trình sinh trưởng lên bề mặt vật liệu lọc, lớp màngnày có tác dụng xúc tác quá trình oxi hóa mangan
1.8.5 Xử lý mangan bằng hấp phụ bằng hạt nano sắt (III) oxit:
Trong nước tự nhiên sắt và mangan thường tồn tại song hành, nênkhi xử lý lượng sắt và mangan trong nước sinh hoạt chúng tôi đã chọnphương pháp hấp phụ trong môi trường chứa cả sắt và mangan với nồng
độ phù hợp với môi trường tự nhiên (Pha dung dịch mẫu chuẩn hỗn hợp
Fe 3+ (20,08 mg/l) và Mn 2+ 0,58 mg/l), và môi trường pH là 6,8 7
1.9 Các phương pháp định lượng hàm lượng sắt, mangan [12,6]
Có nhiều phương pháp khác nhau dùng để xác định sắt, mangannhư: phương pháp cực phổ, phương pháp trắc quang, phương pháp phổhấp thụ nguyên tử, phương pháp phổ phát xạ nguyên tử…mỗi phươngpháp có những ưu và nhược điểm khác nhau Trong luận văn này chúngtôi sử dụng phương pháp trắc quang thuận lợi cho việc nghiên cứu
Phương pháp trắc quang:
Phân tích định lượng bằng phương pháp trắc quang dựa trên việcchuyển cấu tử cần xác định bằng hợp chất hấp thụ ánh sáng và đo độ hấpthụ ánh sáng để suy ra lượng cần tìm Những phản ứng dùng trong phântích trắc quang thuộc nhiều loại khác nhau Để định lượng các cấu tử vô
cơ thường sử dụng phản ứng tạo thành phức màu, đôi khi cả phản ứngphân hủy phức màu Đa số kim loại, phi kim có khả năng tạo phức chấttrong đó có một số phức màu và đều có khả năng tương tác với phứcmàu Định lượng các hợp chất hữu cơ bằng phương pháp trắc quang cũngdựa trên phản ứng tổng hợp chất màu Như vậy phản ứng hóa học chiếmđịa vị chủ chốt trong phân tích trắc quang Thời gian tiến hành phân tích,
độ nhạy, độ chính xác và tính chọn lọc của phương pháp phụ thuộc chủ
Trang 25yếu vào việc lựa chọn phản ứng hóa học và các điều kiện tối ưu để tạothành hợp chất màu.
Cơ sở của phương pháp: là định luật Bughe – Lambe – Bia về sựhấp thụ ánh sáng của phức màu trong dung dịch Đây là định luật đượcrút ra từ thực nghiệm
Có thể áp dụng phương pháp này cho việc xác định thành phầnphức chất, các điều kiện tối ưu xây dựng đường chuẩn và xác định hệ sốhấp thụ phân tử gam Trong phân tích trắc quang để xác định nồng độ củacấu tử hợp chất màu định lượng người ta sử dụng nhiều phương pháp nhưphương pháp đúng tiêu chuẩn, phương pháp cặp đôi, phương pháp cânbằng, phương pháp vi sai, phương pháp đường chuẩn…trong bài nàychúng tôi áp dụng phương pháp đường chuẩn
Phương pháp đường chuẩn:
Phương pháp đường chuẩn là phương pháp được dùng trong phântích hàng loại mẫu, cho phép phân tích, tính kết quả khá nhanh
Nội dung của phương pháp: chúng ta chế hóa một dãy dung dịchchuẩn có nồng độ (hàm lượng) chất nghiên cứu tăng dần còn lượng thuốcthử, axit và các điều kiện chế hóa khác đều như nhau Đo mật độ quangcủa dãy dung dịch và lập đồ thị A = f( C) gọi là đường chuẩn
Để định lượng chất X có trong dung dịch phân tích ta pha chế dungdịch phân tích trong các điều kiện như nhau rồi đem đo mật độ quang.Dùng đồ thị tính Cx, phương pháp này có ưu điểm là xác định hàngloạt mẫu, máy đo càng chính xác thì kết quả đo càng tin cậy Song để ápdụng phương pháp này sự hấp phụ ánh sáng dung dịch màu phải tuântheo định luật Beer nghĩa là có hệ số tuyến tính A = f (C ) Hàm lượngchất nghiên cứu được xác định theo phương trình đường chuẩn:
Trong đó:
X: hàm lượng kim loại cần xác định (mg/l)
C: là hàm lượng kim loại theo đường chuẩn, C= Cx(mg)
V: là thể tích mẫu của dung dịch đem phân tích
Nguyên tắc xác định:
Trang 26Mangan trong dung dịch thường tồn tại ở hai dạng ion Mn2+ vàMnO4- Sự tồn tại của Mn2+ là kết quả về độ bền nửa bảo hòa gây ra bởi3d5, sự tồn tại MnO4- là kết quả tạo cấu hình bền của Ar.
Mn(II) có thể dễ dàng chuyển thành MnO4- nhờ những chất oxi hóatương đối mạnh như PbO2, NaBiO3, (NH4)2S2O8, KIO4… trong các điềukiện pH khác nhau MnO4-là phức màu hồng tím có cấu trúc tứ diện rấtbền, bền hơn các cấu trúc bát diện mà mangan tạo nên
Kali (hay amoni) thioxianat tác dụng với ion Fe3+ tạo thành nhữngphức chất tan màu đỏ máu
Trang 27CHƯƠNG II THỰC NGHIỆM
2.1 Hóa chất, dụng cụ, thiết bị nghiên cứu:
* Tủ sấy (có điều khiển thời gian và nhiệt độ, Tmax = 3000 C)
* Lò nung (có điều khiển nhiệt độ, thời gian, tốc độ nâng nhiệt, Tmax=
11000C)
* Máy UV-VIS Specord 40 (Analytik jena AG)