1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu tín ngưỡng đạo mẫu qua một số di tích mẫu ở hưng yên luận văn tốt nghiệp đại học

80 1,4K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm hiểu tín ngưỡng đạo mẫu qua một số di tích mẫu ở Hưng Yên
Tác giả Trần Quang Đại
Người hướng dẫn ThS. Hoàng Quốc Tuấn
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử văn hóa
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 4,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và nhiều đặc sảnkhác như: Ếch om Phượng Tường An Viên - Tiên Lữ, hạt sen, long nhãn… Và có một điều thiếu sót khi nhắc đến Hưng Yên, mà quên mất nơi đây có một truyền thống văn hiến lâu

Trang 1

Trờng đại học vinh

khoa lịch sử

===  ===

trần quang đại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu tín ngỡng Đạo Mẫu

qua một số di tích thờ Mẫu ở Hng Yên

chuyên ngành lịch sử văn hóa

Vinh - 2011

Trang 2

Trờng đại học vinh

khoa lịch sử

===  ===

trần quang đại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Tìm hiểu tín ngỡng Đạo Mẫu

qua một số di tích thờ Mẫu ở Hng Yên

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian làm việc, tôi đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học Trước hết, tôi gứi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn thầy Hoàng Quốc Tuấn đã luôn nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Cùng với đó, xin cám ơn các thầy cô trong khoa Lịch sử đã tận tình giúp đỡ.

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Sở Văn hoá - Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên, các ban ngành trực thuộc Sở đã nhiệt tình giúp đỡ cung cấp tư liệu để tôi hoàn thành khoá luận tốt nghiệp đại học của mình.

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè tôi đã luôn giúp

đỡ tôi, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Do thời gian có hạn, cũng như lần đầu thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học chưa có nhiều kinh nghiệm, nên có nhiều thiếu sót, hạn chế, rất mong sự góp ý của các bạn để đề tài hoàn chỉnh hơn.

Vinh, tháng 5 năm 2011

Sinh viên

Trần Quang Đại

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 4

B NỘI DUNG 5

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM .5

1.1 Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Mẫu 5

1.1.1 Nguồn gốc 5

1.1.2 Lịch sử phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu 7

1.2 Các hình thức biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam 8

1.2.1 Không gian thờ tự 8

1.2.2 Bày trí ở điện thờ Mẫu 9

1.2.3 Nghi thức tiêu biểu biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu 11

1.3 Vị trí của tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống tâm linh 13

Chương 2 MỘT SỐ DI TÍCH THỜ MẪU TIÊU BIỂU Ở HƯNG YÊN .16

2.1 Khái quát về tỉnh Hưng Yên 16

2.2 Khái quát về các di tích tín ngưỡng, tôn giáo ở Hưng Yên 17

2.3 Một số di tích tín ngưỡng thờ Mẫu tiêu biểu ở Hưng Yên 20

2.3.1 Di tích Đền Mẫu 20

2.3.2 Di tích đền Thiên Hậu 32

2.3.3 Di tích đền Bảo Châu 40

Trang 5

Chương 3 HOẠT ĐỘNG SINH HOẠT TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở

HƯNG YÊN XƯA VÀ NAY 503.1 Nghi thức 50

Trang 6

3.1.1 Nghi thức hầu bóng 50

3.1.2 Lễ tôn nhang 51

3.1.3 Lễ cầu duyên, cầu danh, cầu tự 52

3.2 Lễ hội trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên 53

3.2.1 Các lễ nghi trong hoạt động lễ hội 53

3.2.2 Hoạt động lễ hội 58

3.3 Ý nghĩa tín ngưỡng thờ Mẫu đối với cư dân Hưng Yên xưa và nay .64

C KẾT LUẬN 67

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

E PHỤ LỤC 72

Trang 7

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hưng Yên là một tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ Bắc bộ Người ta khinói đến Hưng Yên là không quên nhắc đến Phố Hiến, một thành thị phát triểnbậc nhất trong lịch sử dân tộc vào thế kỉ XV - XVI Với câu thơ “thứ nhấtKinh kỳ thứ nhì Phố Hiến” Và khi nhắc tới Hưng Yên người ta không thểquên được nơi đây có một truyền thống lịch sử oai hùng qua từng thời kì lịch

sử Hưng Yên luôn đóng góp sức mình cho dân tộc, với những tên tuổi đượcvinh danh như: Phạm Bạch Hổ, Lê Như Hổ, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn ThiệnThuật, Hoàng Hoa Thám, Tô Hiệu, Lê Văn Lương, Cố Tổng bí thư NguyễnVăn Linh…

Và nói đến Hưng Yên là nói đến một vùng đất có nhiều đặc sản nổitiếng mà trong nước không ai không biết đó là: Nhãn lồng là đặc sản tiêu biểucho vùng đất này, giác chán vì ngọt nợ, Tương Bần một loại tương ngon màchỉ có Hưng Yên mới mang sự khác biệt trong mỗi bữa ăn Và nhiều đặc sảnkhác như: Ếch om Phượng Tường (An Viên - Tiên Lữ), hạt sen, long nhãn…

Và có một điều thiếu sót khi nhắc đến Hưng Yên, mà quên mất nơi đây

có một truyền thống văn hiến lâu đời, bằng chứng đó chính là có một hệ thốngcác di tích lịch sử - văn hoá đồ sộ, rất phong phú và đa dạng chủng loại, nhưđình, chùa, đền, phủ, miếu… Thể hiện cho nhiều hình thái tín ngưỡng khácnhau như Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và các loại hình dân gian như tínngưỡng thờ Thành Hoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu

Nó cho thấy ở đây có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo cùng songsong tồn tại Ở đó các tín ngưỡng, tôn giáo đều có những biểu hiện, cónhững sắc thái tới đời sống tâm linh của con người Hưng Yên Đó là doHưng Yên từ xưa đến nay vốn hoạt động sản xuất chủ yếu là nông nghiệp,phụ thuộc chủ yếu vào tự nhiên Từ đó trong tâm thức cư dân nơi đây luôn

Trang 8

hướng vào một lực lượng siêu nhiên mong được che chở, phù hộ mùa màng,sức khoẻ con người.

Mà hiện nay trong khi cuộc sống đang từng ngày phát triển, việc tìmhiểu và phát huy những giá trị của văn hóa quê hương là một điều cần thiết

Là một tỉnh có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo cùng tồn lại cần phải cónhững kiến thức cần thiết để phát huy những giá trị đó Trong các loại hình tínngưỡng, tôn giáo ở Hưng Yên thì tín ngưỡng thờ Mẫu có một vị trí quan trọngtrong đời sống cư dân nơi đây Nó thể hiện số lượng di tích nhiều với hàngnăm các hoạt động sinh hoạt thờ Mẫu luôn diễn ra được cư dân trong tỉnh rấtquan tâm Vậy tại sao tín ngưỡng thờ Mẫu lại phát triển tại đây ?, những hoạtđộng sinh hoạt thờ Mẫu được thể hiện như thế nào?

Đó là lý do tôi chọn đề tài liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu mà khôngphải một loại hình tín ngưỡng tôn giáo nào khác cho khoa luận tốt nghiệp đạihọc của mình để nhằm tìm hiểu thêm về loại hình tín ngưỡng này ở HưngYên Đề tài “Tìm hiểu tín ngưỡng Đạo Mẫu qua một số di tích thờ Mẫu ởHưng Yên”

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tín ngưỡng thờ Mẫu có ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống cư dânngười Việt từ xưa đến nay Về loại đề tài liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu

đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đầu ngành, tiêu biểu:

+ Cuốn: “Đạo mẫu ở Việt Nam” của GS Ngô Đức Thịnh

+ Cuốn: “Giáo trình Cơ sở văn hoá Việt Nam” của GS Trần QuốcVượng

+ Cuốn: “Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” của NguyễnĐăng Duy

Ngoài ra còng rất nhiều các sách viết về tín ngưỡng đạo Mẫu

Trang 9

Liên quan đến đề tài nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên.Thì các tác giả mới chỉ có các sách mang tính miêu tả một cách khái quát các

di tích lịch sử - văn hoá liên quan đến tín ngưỡng này như:

+ Cuốn: “Những di tích danh thắng tiêu biểu ở Phố Hiến - Hưng Yên”của Lâm Hải Ngọc

+ Cuốn: “Lịch sử - văn hoá Hưng Yên” do Bảo tàng tỉnh biên soạn vàxuất bản

+ Cuốn: “Di tích lịch sử - văn hoá đền Mẫu” của Hoàng Mạnh Thắng.Các công trình này chỉ mang tính giới thiệu chứ chưa đi sâu vào nghiêncứu tín ngưỡng thờ đạo Mẫu ở Hưng Yên Vì vậy nhận thấy đề tài của tôi làhoàn toàn mới mà độc lập với các đề tài trước đó đã nghiên cứu về tín ngưỡngthờ Mẫu ở Hưng Yên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đề tài nghiên cứu là loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên Thôngqua đề tài để thấy được loại hình tín ngưỡng này là một trong những loại hìnhthờ tự tiêu biểu ở Hưng Yên Qua đó cho thấy tín ngưỡng thờ Mẫu có ảnhhưởng to lớn trong đời sống cư dân Hưng Yên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu một số di tích lịch sử - văn hoáđiển hình cho tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này có sử dụng các phương pháp như: + Phương pháp điền dã - thực địa

+ Phương pháp logich

+ Phương pháp so sánh

+ Phương pháp phân tích - tổng hợp

Trang 10

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần mục lục, tài liệu tham khảo

Bố cục của khoá luận được chia làm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Chương 2: Một số di tích thờ Mẫu tiêu biểu ở tỉnh Hưng Yên

Chương 3: Hoạt động của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên xưa

và nay

Trang 11

B NỘI DUNGChương 1

TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU Ở VIỆT NAM

1.1 Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Mẫu

1.1.1 Nguồn gốc

Theo các văn bản ghi chép về các thần linh ban đầu đều xuất phát từhuyền thoại, thần thoại, truyện kể dân gian và đồng thời cũng có hiện tượngngược lại là huyền thoại hóa, dân gian hóa các văn bản thần tích, thần phả.Hiện tượng các nữ thần, Thánh Mẫu cũng không nằm ngoài quy luật đó Vậy

ta nên hiểu tín ngưỡng thờ Mẫu là như thế nào ?

Trước hết định nghĩa về tín ngưỡng đó chính là niềm tin của một conngười về một cái gì đó Thế nên vậy tín ngưỡng thờ Mẫu đó là niềm tin của conngười đối với các Mẫu,các Mẹ Vậy tín ngưỡng thờ Mẫu bắt nguồn từ đâu ?

Danh xưng Mẫu là theo tiếng Hán Còn theo tiếng Việt thì gọi là Mẹ,

Má, Mệ, Mạ… Nghĩa ban đầu của nó thì Mẫu và Mẹ đều chỉ người phụ nữ đãsinh ra một ai đó, một người nào đó

Như trên đã nói tín ngưỡng thờ Mẫu trong quá khứ cũng như tại thờiđiểm hiện tại được phân bố địa bàn hầu khắp trên cả nước ta Với những biểuhiện muôn màu muôn vẻ Đó là thực tế không thể phủ nhận được vậy tínngưỡng này xuất hiện từ bao giờ, có nguồn gốc như thế nào, chúng ta cùngxem xét

Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về tín ngưỡngthờ Mẫu, nhưng tục thờ Đạo Mẫu trên đất nước ta vẫn chưa biết đích xác là có

từ khi nào Nhưng người ta vẫn tin rằng Mẹ thần linh này đã xuất hiện từ buổihồng hoang của người Việt

Nói đến nguồn gốc của sự ra đời của tín ngưỡng thờ Mẫu mà người tahay gọi là Đạo Mẫu ở Việt Nam thì khó có thể biết nên bắt nguồn từ đâu

Trang 12

Nhưng nhận thấy từ buổi hồng hoang của lịch sử do con người sống hoàntoàn phụ thuộc vào tự nhiên, nên con người đã tin vào thần linh đang chiphối cuộc sống của họ Chính vì vậy họ lo sợ nên đã dần hình thành nhữngviệc thờ cúng các hiện tượng tự nhiên như: Thần sông, thần núi, thần cây…Trong đó có nhiều vị thần được hóa nên như những nữ thần như: Mẹ cây,

Mẹ nước, Mẹ đất, Mẹ trời… Gắn liền với các truyền thuyết như: Mẫu câyhay còn gọi là Mẫu thượng ngàn có truyền thuyết cho rằng đó là do nàngcông chúa tên là Mị Nương Quế Hoa hiện thân Hay là công chúa La Bìnhcon gái của thần Tản Viên Về Mẫu thoải(thủy) có truyền thuyết cho rằng đó

là không phải chỉ là có một bà mà là nhiều bà, là con gái của Lạc LongQuân Lạc Long Quân đã chọn ba người để cai quản việc sông nước Cũngnhư các truyền thuyết về Mẫu Thượng ngàn, Mẫu Thoải thì các Mẫu còn lạinhư Mẫu Địa, Mẫu thiên đều được hình tượng hóa nên Hay về sau này hiệntượng Mẫu Liễu Hạnh cũng được lưu truyền trong dân gian thông qua cáclời kể về Mẫu nửa thực nửa hư về một nàng công chúa phạm tội bị đầyxuống trần gian hóa kiếp người

Có thể thấy tín ngưỡng thờ Mẫu đã manh nha xuất hiện với các hiệntượng cúng các nữ thần được hóa thành các mẹ của tự nhiên Đó là điều dễhiểu khi mà cuộc sống với con người vào thời điểm đó đang hoàn toàn phụthuộc vào tự nhiên Mẫu Thượng Ngàn xuất hiện đầu tiên đó là do con ngườivốn sinh sống ban đầu gắn liền với rừng núi, với muông thú Trong quá trìnhphát tiển của mình cư dân dần dần chuyển xuống đồng bằng sinh sống từ đóxuất hiện thêm các Mẫu Thuỷ, Mẫu Địa, Mẫu Thiên Nó càng phát triển vềsau đó là do nhận thức con người luôn được che trở trước hoàn cảnh của xãhội Thánh Mẫu Liễu Hạnh ra đời cũng trong hoàn cảnh đó, khi mà đất nướcđang bước vào một cuộc khủng hoảng to lớn cả về mặt chính trị và xã hội

Và trong khi đó từ xưa đến nay cư dân ta chủ yếu làm nghề nôngnghiệp là chính, luôn phải phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên Mưa thuận gió

Trang 13

hòa thì mùa màng tốt tươi thì dân cư no đủ Nhưng hạn hán mất mùa thì dân

cư đói khổ lưu tán Rõ ràng không chỉ xưa mà nay dân ta cũng đang chịunhiều tác động của tự nhiên Vì lẽ đó cần có một niền tin, mong sự che chở,mong được cuộc sống tốt đẹp hơn

Ai có thể làm được điều đó? Từ những điều mong ước đó họ đã tìm đến

sự chở che của người mẹ dù là được tự nhiên hóa, hay là nhân cách hóa từ conngười thật nên Nhưng họ cho rằng thờ cúng họ sẽ được sống tốt hơn, có thờ

có thiêng, có kiêng có lành mà, cho dù đó chỉ là niềm tin tinh thần Như vậytín ngưỡng thờ Mẫu ra đời

Mẹ là người sinh ra một con người, là người nuôi dưỡng con người đótrưởng thành, trong suốt quãng thời gian đó người Mẹ luôn chở che cho con.Trước bao thử thách, bao gian nguy, nguy hiểm của cuộc đời Ở người Mẹbao đức tính bao dung Mặt khác là một đất nước nông nghiệp vai trò củangười phụ nữ càng quan trong hơn bao giờ hết Chính vì lẽ đó mà người tamới hướng đến người Mẹ mong sự chở che đó Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đờicũng dựa trên điều đó Những khó khăn gặp phải do tự nhiên, cuộc sống hàngngày, điều kiện lịch sử buộc họ phải tìm đến một niềm tin về tinh thần mongcho cuộc sống tốt đẹp hơn, và khi đó họ đã tin vào người Mẹ, đến các Mẫu

1.1.2 Lịch sử phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu

Tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời trên cơ sở để đáp ứng nhu cầu của cư dân tacũng như sự tồn tại của nhiều lại hình tín ngưỡng khác ở Việt Nam Từ khi rađời đến nay tín ngưỡng thờ mẫu đã dần phát triển một cách mạnh mẽ

Trước hết nhận thấy tín ngưỡng thờ Mẫu ra đời từ buổi hồng hoang

mà thời điểm đó chủ yếu mới thờ các nữ thần mang yếu tố tự nhiên Đó cóthể nói là hình thức sơ khai của tín ngưỡng này Song song với lịch sử dântộc thì tín ngưỡng thờ Mẫu đã càng ngày càng phát triển và có sự chuyểnbiến Lúc này đối tượng thờ tự không chỉ là các vị nữ thần tự nhiên nữa mà

có sự thay đổi

Trang 14

Lúc này đối tượng Mẫu ngoài những nhiên thần thì còn thêm các nhânthần Đó là những con người được nhân dân tin tưởng như là Mẫu nghi thiên

hạ như: Nguyên phi Ỷ Lan, Trần thị Ngọc Giao… Cùng với đó là sự xuất hiệncủa Mẫu Liễu Hạnh vừa mang yếu tố thưc lại có yếu tố hư cấu, hình thành lêncác hình thức Mẫu tam phủ, tứ phủ Sự xuất hiện này đã làm cho tín ngưỡngthờ Mẫu đạt đến đỉnh cao của nó, mà người ta gọi là Đạo Mẫu

Cho đến ngày nay thì tín ngưỡng thờ Mẫu vẫn hết sức phát triển, nó thểhiện trên hệ thống các di tích thờ Mẫu có ở hầu hết các tỉnh trong cả nước.Hàng năm có các lễ hội lớn về tín ngưỡng thờ Mẫu diễn ra như ở Đền Cờn,Phủ Giầy, Phủ Tây Hồ… Nó cho thấy ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Mẫu đốivới đời sống cư dân Việt Nam

1.2 Các hình thức biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

1.2.1 Không gian thờ tự

Tín ngưỡng thờ Mẫu được thờ tự tại các phủ, các đền, các điện Tuỳvào mỗi vùng miền thì không gian thờ tự tín ngưỡng thờ Mẫu có tên gọi khácnhau Ở miền Bắc không gian thờ tự là ở các phủ như: Phủ Tây Hồ, phủ Giầy,phủ Điềm… ngoài ra thỉnh thoảng không gian thờ Mẫu tại các đền như đền

Bà Chúa Kho, đền Mẫu… Nhưng từ Bắc Trung Bộ trở vào thì không gian thờ

tự không được gọi là phủ nữa mà thường gọi là đền, điện như đền Sòng, đềnCủi, đền Cờn, điện Hòn Chén… Việc không gian thờ tự này biến thể tên gọiqua từng vùng miền có lẽ là do mỗi vùng miền có cách gọi riêng của mình đốivới đấng linh thiêng Nhưng đều có một mục đích đó là tôn thờ các thánhMẫu của mình hy vọng được che chở, phù hộ

Ngoài những không gian thờ tự trên thì tín ngưỡng thờ Mẫu còn đượcthờ tự tại các chùa, các đền thờ loại hình tín ngưỡng tôn giáo khác, nó chothấy sự hỗn dung tôn giáo, cũng như cho thấy vị trí của loại hình tín nguỡngnày đối với cư dân Việt Nam như thế nào

Trang 15

Do dựa vào kiến trúc độc đáo, phù hợp với cảnh quan môi trườngxung quanh Trong tâm thức của người dân ta, cư dân nông nghiệp thì dòngsông, hơi nước… đều mang tính âm Chính vì lẽ đó mà hầu hết các phủ, cácđền, các điện thờ Mẫu xây dựng quanh các con sông Như điện Hòn Chénđược xây dưng cạnh sông Hương, phủ Tây Hồ được xây dựng cạnh HồTây… Thế nhưng không phải lúc nào khi xây dựng cũng chọn được thế rồngcuộn, hổ ngồi Hay trước những con sông, hay ao, hồ… Chính vì vậy để tạoyếu tố âm thì trong khuôn viên để dựng thờ Mẫu người ta sẽ phải tạo ranhững ao, hồ nhân tạo Có thể thấy việc xây dựng các điện thờ Mẫu bêncạnh nhưng con sông, hồ nước ngoài việc phương Đông đó là mang ý nghĩa

mà hình tượng về biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu Nên ta sẽ đi vào cáchình thức biểu hiện cụ thể của tín ngưỡng thờ Mẫu

1.2.2 Bày trí ở điện thờ Mẫu

Trong mỗi tôn giáo, hay một tín ngưỡng nào đó đều có cách bày trí, sắpxếp ở nơi thờ tự những nét riêng của mình Có tôn giáo ở nơi thờ nhiều tranhảnh, hay lại có tôn giáo không thờ tranh ảnh… Hay có những tôn giáo việcsắp xếp bàn thờ rất ít, lại có tôn giáo thì rất nhiều

Trang 16

Còn tín ngưỡng thờ Mẫu của chúng ta cách bày trí, sắp xếp thể hiệnnhư sau: tại các phủ, điện, các đền thờ Mẫu ta thường thấy từ ngoài vào trongqua tam môn là khu tiền tế, tiếp đến là sau cánh cửa là cung đệ nhất, đến cung

đệ nhị và cuối cùng là cung đệ tam Chủ điện trung tâm để thờ là nằm tại cung

đệ tam từ ngoài vào hay còn gọi là hậu cung

Tại hậu cung thì chư vị thần thánh được bố trí sắp xếp thành ba tầng.Tầng trên không đó là sự hiện diện của đôi mãng xà tượng trưng cho quanTuần Tranh (đôi rắn thần) tùy vào mỗi phủ, đền, điện mà kích thước đôi mãng

xà dài bao nhiêu Nhưng thường là có đường kính từ 5-7 cm, dài từ 3-5 m,một con màu trắng, một con màu sẫm Hai con với tư thế châu đầu vào nhau

từ hai bên vào gian chính điện và cả hai con đều há miệng để lộ những chiếcrăng nhọn hoắt, trông thật dữ tợn Hình tượng hai con rắn tương trưng chotính nữ, người ta cho rằng rắn mang yếu tố âm, rắn lột xác tương trưng cho sựsinh sôi và phát triển, mặt khác rắn đi ăn vào ban đêm, và cũng là mối nguyhiểm đến con người

Phần tầng ngang là ban/ bệ thờ có thể là có một cái bàn có khi là mộtdãy nhiều bàn kê từ ngoài vào và cao dần lên Đây là nơi ngự của các thánhMẫu và các chư vị thần, thánh

Có thể nhận thấy trong bày trí trên điện thờ Mẫu tùy theo mỗi vị thánhMẫu mà người ta có thể bày trí tại bàn thờ Mẫu khác nhau Nhưng nét chungnhất đó là: Đứng ở vị trí trên cao đó là Tam tòa thánh Mẫu với Mẫu sau đóđến Tứ phủ, tiếp đến hai bên là Thập nhị chầu bà và thập vị tôn ông Tới cáctòa sơn trang, tứ phủ chầu bà và đến các ban cô, ban cậu là mong muốn cho

sự sinh sôi, nảy nở, thế hệ tiếp nối.Có thể nói cách bố trí trên bàn thờ Mẫu hàihòa yếu tố âm dương

Ở phần hạ ban bao giờ cũng có nơi thờ hình tượng con Hổ Có thể làbiểu trưng là tượng hổ hoặc thì chỉ đơn giản là một bức tranh vẽ hổ Vì người

ta nghĩ rằng Hổ là loài nguy hiểm đối với con người, tin rằng nó là thần linh,

Trang 17

chúa tể của con vật, có uy lực mạnh mẽ, chống được ma quỷ, bảo vệ đượcthần xác cũng như linh hồn của bá tánh Chính vì vậy nên họ thường khônggọi tên trực tiếp mà với nhưng tên hết sức tôn kính đó là Ông Ba Mươi, đúcThầy… Mặt khác thì hình tượng con hổ cũng tương trưng cho phái nữ nghĩa

là nó mang yếu tố âm vì nó hay đi ăn đêm

Hiện tượng thờ Rắn, Hổ trong thờ Mẫu có thể nói rằng đó chính là dấuvết của sự thờ tự thú vật từ thuở xa xưa Tóm lại, sự hiện diện của thờ Mẫu là

sự khẳng định của quyền năng vô lượng của Đất - Mẹ Thể hiện được quyền

uy của nó, thể hiện được ảnh hưởng của Đạo Mẫu trong cư dân Việt Nam

Và một điều dễ nhận thấy ở bất cứ nơi thờ Mẫu nào, mắt ta cũng cócảm nhận: Đó là bao giờ cũng treo tầng tầng lớp lớp những đồ vàng mã.Nhưng phổ biến nhất đó là những chiếc nón, hài, thuyền rồng, đèn lồng, với

đủ loại kích cỡ khác nhau Nó vô cùng sặc sỡ và nhìn rất thích mắt Mặtkhác trong mỗi điện thờ Mẫu thì nét hoa văn trạm trổ rất nhiều những hìnhthù của các con vật chim muông cây cỏ Đây là một nét đặc trưng của tínngưỡng thờ Mẫu

Sở dĩ vậy là do tín ngưỡng thờ Mẫu thì từ thánh Mẫu tới hàng các quancác cô, các cậu đều gồm các vị thần linh có gốc gác từ mọi miền đất nước,người kinh, người miền núi, miền biển Và nhiều hình chim muông, cây cỏđiều cho thấy đó là gốc tích của tín ngưỡng thờ Mẫu có từ xa xưa

1.2.3 Nghi thức tiêu biểu biểu hiện của tín ngưỡng thờ Mẫu

Tại mỗi nơi thờ Mẫu đều có những nghi thức thờ cúng Thánh Mẫu Đểcầu mong cho sự sinh sôi nảy nở, cho làm ăn phát đạt, mong cho làm sao cóthể mạnh khỏe… Chính vì vậy các nghi thức thờ cúng hết sức độc đáo và đadạng mà không biết có nó từ bao giờ

Hầu bóng một nghi thức không thể thiếu trong tín ngưỡng thờ MẫuĐây là một nghi thức tiêu biểu, nó còn được hay gọi là đồng bóng hay

là hiện tượng lên đồng… Đó là hiện tượng người ngồi làm giá để bóng của

Trang 18

thánh mẫu giáng nhập cũng như các vị quan cô, cậu giáng nhập Nên người tagọi ngồi đồng là một giá đồng Thời gian dài hay ngắn do phụ thuộc vào buổi

lễ nhiều hay ít giá đồng Đồng ở đây có nghĩa là cùng, người cùng cái bóngcủa mẫu hòa nhập làm một Trong quãng thời gian đó người ngồi đồng sẽbiểu diễn, thể hiện mọi cử chỉ của thánh mẫu cũng như lời nới của ThánhMẫu Và điều đó cũng hiện ra với các giá đồng khác Nên người ta gọi làđồng bóng hay hầu bóng

Hiện tượng này diễn ra nhiều dịp trong năm như: Hầu bóng xông đềntức là sau lễ giao thừa, hay là hầu bóng Thượng nguyên, hay trong hầu tiệc Cô

Ba vào ngày 12 tháng sáu… Để chuẩn bị cho người ngồi đồng thì phải sắmrất nhiều bộ quần áo với nhiều loại khác nhau Vì mỗi giá đồng thể hiện nhiềusắc thái khác nhau Không thể cùng hầu chầu Bà đồng nhất với chầu Ôngđược Mỗi người giáng nhập vào người hầu có biểu hiện khác nhau như: Nếu

là chầu Ông thì có ông là quan Văn có ông quan Võ Lẽ đó ông quân văn có

tư thế đi khác và cách ăn mặc khác so với quan võ Hay ngay cả các chầu bàcũng vậy Ví dụ như khi Thánh Mẫu Thượng Ngàn giáng nhập thì phải thay

bộ quần áo miền núi chứ không dùng được quần áo đồng bằng được, hay khiông hòang Chín Lê Sát giáng nhập thì phải thay bộ quần áo quan võ có ngựa,kiếm chứ không thể mặc quần áo quan văn… Trong tư thế biểu hiện của cửchỉ người hầu cũng vậy tùy theo người giáng nhập mà thể hiện, không lungtung được

Người ngồi đồng phải che kín mặt mũi còn gọi là phủ diện tay cầm banén nhang đang cháy hướng lên điện thờ, khua vòng hương trước mặt, miệnglẩm bẩm khấn xin thánh mẫu giáng nhập Mà khi ra tay báo hiệu thì đó làthánh nữ nhập, nếu hiệu tay trái là thánh nam nhập và giơ tay phải là hiệu chobiết thánh nữ nhập

Khi thực hiện nghi thức này thường đi kèm với các bài văn nói lạinhững thần tích lịch sử ra Mẫu Từ lịch sử ra đời, đến công lao của Mẫu đối

Trang 19

với dân chúng Chính vì vậy trong quá trình đó người ta đã sáng tạo ra cácđiệu hát, câu hát, người ta gọi đó là hát chầu văn, là một loại hình sân khấuđăc sắc, mang nét đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu.

1.3 Vị trí của tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống tâm linh

Trước khi đi vào vị trí của tín ngưỡng tâm linh của tín ngưỡng thờ Mẫuđối với cư dân Việt Nam ta nên hiểu định nghĩa thế nào là tâm linh Đã có rấtnhiều định nghĩa về tâm linh và ta có thể hiểu tâm linh đó là cái thiêng liêngtrong cuộc sống của người, là cái thiêng liêng cao cả, niềm tin vào cái thiêngliêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm

Có thể nhận thấy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” luôn được dântộc ta tôn thờ từ ngàn đời nay Đó là sự tôn thờ của nhân dân đối với nhữngngười có công với đất nước, với dân tộc Đây là đạo lý tốt đẹp của dân tộcViệt Nam Nét văn hóa đó được thể hiện ở ba cấp độ văn hóa: Gia đình, làng

xã, quốc gia dân tộc Tôn vinh những danh nhân văn hóa, các anh hùng dântộc, hay các đối tượng thờ tự của các tôn giáo tín ngưỡng Dù ở mọi hình thứcnào nó cũng là những sản phẩm văn hóa hoàn chỉnh, khoa học và thẩm mỹ,thỏa mãn nhu cầu tâm linh của quần chúng nhân dân

Tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng thờ cúng điển hình trong các đốitượng thờ cúng tại Việt Nam Thờ Mẫu ở đây có thể là thờ các nữ thần, cácMẫu trong huyền thoại hay các Mẫu có thực được con người tôn vinh Tất cả

đó đều được hình tượng hoa, linh thiêng hóa, dân chúng thờ vọng để ghi nhớcông ơn các việc mà các Mẫu đã làm

Tín ngưỡng thờ Mẫu đã trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, đã đápứng nhu cầu tâm linh của nhân dân ta từ buổi đầu dựng nước Đó là một hiệntượng sống, một truyền thống tích cực của văn hóa Và có thể thấy nó ăn sâuvào tâm linh của nhân dân ta hết sức sâu đậm cho đến hiện nay

Trang 20

Có thể nói, trong tâm thức người nhân dân ta tín ngưỡng thờ Mẫu có vịtrí quan trọng trong tâm thức Nó thể hiện trên việc số lượng di tích thờ Mẫu

ở nước ta hết sức phong phú và đa dạng Nó được phân bố trên hầu khắp cảnước, với các di tích thờ tự nổi tiếng như: Phủ Tây Hồ ở thành phố Hà Nội,phủ Giầy ở Nam Định hay như Đền Sòng ở Thanh Hóa, Đền Cờn ở Nghệ An,cho đến Đền bà Chúa Xứ ở miền trong… Với một số lượng lớn như vậynhưng không phải là độc nhất một đối tương thờ tự mà với nhiều Mẫu khácnhau như; Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh của người Việt, Mẫu Thiên Yana củangười Chăm… Việc lập các đền thờ Mẫu không phải chỉ để đó mà việc lậpcác đền thờ, phủ thờ rõ ràng là cầu mong, muốn có sự chở che của các Mẫuđối với dân chúng

Tín ngưỡng thờ Mẫu có vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh củanhân dân ta không chỉ thể hiện trên số lượng các di tích được thờ tự Màthông qua các nghi thức, lễ nghi của những hoạt động sinh hoạt tín ngưỡngtiêu biểu, đặc trưng cho loại hình đạo Mẫu này Trong những nghi lễ, nghithức đó không chỉ là để cho có mà nó thể hiện cho sự mong muốn của conngười muốn bày tỏ lên Thánh Mẫu những thứ mà họ cần Ví như trong nghithức hầu bóng trên vừa nêu thì thông qua mỗi giá đông con người lại có thểtrực tiếp cầu xin thánh Mẫu, các ông hoàng, bà cô Đặc biệt hơn trong các tròchơi của lễ hội tại các đền Mẫu được sự tham gia đông đảo của quần chúngnhân dân nó càng chứng minh cho vị trí của tín ngưỡng này trong đời sốngnhân dân

Tuy mỗi một dân tộc lại có những vị mẫu khác nhau Chính vì vậy, màcách bày trí, các nghi thức cũng không hẳn giống nhau Nhưng có một điềunhận thấy đó là các vị mẫu đều chiếm một lòng tin đối vơi cư dân Đó khôngchỉ là người Việt mà người Chăm, Khơme, Hoa Đều có một vị trí quan trọngđối với đời sống cư dân Cho dù mẫu đó là người bắt nguồn ngay ở Việt Namhay từ đâu đến

Trang 21

Từ truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc các tín ngưỡng thờcúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ thần ra đời Và trong đó tín ngưỡng thờ Mẫucũng đã ra đời Và có những lúc người ta coi đó như là một tôn giáo Nhưngtín ngưỡng thờ Mẫu đâu phải là một tôn giáo Nếu ta nhìn nhận từ một góc độtôn giáo thì một tôn giáo ra đời phải dựa trên những tiêu chí của nó đó là: Cóngười sáng lập, có nơi hành lễ, có giáo lý, giáo luật quy định các lễ nghi củagiáo hội.

Vậy ta thử nhìn tín ngưỡng thờ Mẫu nhận thấy Tín ngưỡng này bắtnguồn từ tín ngưỡng dân gian không ai sáng tạo ra hay đúng hơn là không biết

nó từ đâu ra, mà ra từ lúc nào Nó cũng không có thánh đường chung nhưKitô giáo Và nó cũng không có giáo lý giáo luật nào cả Nhưng nghi lễ, nghithức của nó bắt nguồn từ dân gian do quá trình lâu dài được đúc kết Nghĩa là

nó chưa phải là một tôn giáo, nhưng được nhân dân ta tôn sùng, tin theo gọi

đó là Đạo Mẫu

Nhưng vậy tại sao nó lại có sự ảnh hưởng sâu rộng như vậy trong đờisống tâm linh của người dân Đó là do ý thức về cội nguồn, lòng biết ơn đốivới người mẹ Nó không phải là tôn giáo nó chỉ là một tín ngưỡng mang niềmtin đối với mọi người thôi nhưng là một niềm tin khó thể thay thế và pháttriển như đúng những gì nó có Trong quá trình du nhập của nhiều loại hìnhtôn giáo vào nước ta Các tôn giáo này không thể đơn độc truyền đạo, mà phảikết hợp với các loại hình tín ngưỡn bản địa, trong đó có đạo Mẫu Nó càngcho thấy vị trí quan trong của tục thờ Mẫu trong đời sống cư dân Việt Nam

Trang 22

Chương 2

MỘT SỐ DI TÍCH THỜ MẪU TIÊU BIỂU Ở HƯNG YÊN

2.1 Khái quát về tỉnh Hưng Yên

Hưng Yên là tỉnh có diện tích nhỏ thứ hai trong cả nước sau Bắc Ninh.Diện tích ở Hưng Yên là 923km2 Tỉnh nằm ở tả ngạn sông Hồng, thuộc vùngchâu thổ Bắc Bộ Phía Đông giáp Hải Dương, phía Nam giáp Thái Bình, phíaTây - Nam giáp Hà Nam, phía Tây Bắc và phía Bắc giáp với thủ đô Hà Nội

và tỉnh Bắc Ninh Khác hẳn với các tỉnh xung quanh thì Hưng Yên là mộtvùng đất khá bằng phẳng, màu mỡ, song không có biển và đồi núi - và đâycũng là một sự ưu đãi của tự nhiên và cũng là một điều thiệt thòi của tỉnhHưng Yên

Tỉnh Hưng Yên chính thức được thành lập vào năm Minh Mệnh thứ 12(1831) Trước kia vào thời nhà Lê đây thuộc trấn Sơn Nam Thượng Năm

1968 Hưng Yên và Hải Dương hợp nhất thành một tỉnh lấy tên là Hải Hưng.Đến năm 1997 thì tỉnh Hải Hưng được tách ra thành hai tỉnh như cũ là HảiDương và Hưng Yên Hiện nay tỉnh Hưng Yên bao gồm có 9 huyện và 1thành phố: Thành phố Hưng Yên và các huyện Tiên Lữ, Ân Thi, Kim Động,Phù Cừ, Khoái Châu, Yên Mỹ, Văn Lâm, Văn Giang, Mỹ Hào

Về mặt điều kiện tự nhiên thì Hưng Yên có những đặc điểm riêng củamình Địa hình của tỉnh tương đối bằng phẳng, không có đồi núi cũng nhưkhông có biển Về mặt khí hậu cũng như các tỉnh khác của khu vực Đồngbằng Bắc Bộ thì ở Hưng Yên nằm trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng

ẩm và hanh lạnh rõ rệt Nhiệt độ trung bình năm là 23 độ C, lượng mưa trungbình năm vào khoảng 1800mm, độ ẩm trung bình năm là từ 80% đến 90% Vềmặt sông ngòi thi Hưng Yên có nhiều hệ thống sông lớn nhỏ chảy qua Trong

đó Sông Hồng là sông lớn nhất chảy qua địa phận tỉnh với chiều dài khoảng60km Ngoài ra còn có các con sông nhỏ chảy qua như sông Luộc, sông

Trang 23

Nghĩa Trụ… Từ điều kiện tự nhiên như vậy đã tạo cho dân cư tại đây nhữngthuận lợi để phát triển kinh tế, nhưng bên cạnh đó cũng mang lại nhiều khókhăn đối với tỉnh.

Hưng Yên là vùng đất có lịch sử lâu đời Ngay từ thời Hùng vương đã

có cư dân sinh sống Điều này minh chứng bởi các di chỉ khảo cổ học trên địabàn tỉnh là khu mộ quách ở Nội Mạc (An Viên - Tiên Lữ), mộ thuyền tạiĐống Lương (Hiệp Cường - Kim Động), trống đồng Cửu Cao (Văn Giang)…Bên cạnh đó là các huyền tích, huyền sử về Chử Đồng Tử và Tiên Dung trảikhắp vùng Khoái Châu (Chử Xá, Ông Đình, Đa Hòa, Đông Cảo…)

Hiện nay dân số ở Hưng Yên là vào khoảng trên một triệu hai trămngười Với mật độ dân số khá đông khoảng trên 1300 người/km2 Ở HưngYên hiện nay có một nền kinh tế khá phát triển, hàng năm có đóng góp khôngnhỏ đối với nền kinh tế quốc dân Con người ở đây luôn có truyền thống hiếuhọc, trong mọi thời kì lịch sử đều có những người tài phục vụ cho đất nước.Với những đặc điểm của mình Hưng Yên đang cố gắng phấn đấu đưa tỉnhphát triển hơn nữa

2.2 Khái quát về các di tích tín ngưỡng, tôn giáo ở Hưng Yên

Tuy là một tỉnh có diện tích nhỏ, nhưng tại Hưng Yên có một truyềnthống lịch sử lâu đời với nhiều dấu tích còn lại Hiện nay theo thống kê củatỉnh thì hệ thống di tích lịch sử - văn hóa khá đồ sộ với 1222 di tích đượcphân bố hầu khắp các huyện trong tỉnh Trong đó có 153 di tích được xếphạng di tích lịch sử - văn hóa quốc gia Là tỉnh đứng thứ ba về số lượng ditích được xếp hạng Các di tích lịch sử - văn hóa ở đây còn khá nguyên vẹn

Sự phong phú và đa dạng ở các di tích lich sử Hưng Yên nó biểu hiệnkhông chỉ ở số lượng di tích mà nó con biểu hiện ở đối tượng thờ tự rất phongphú như: thờ Phật, Nho giáo, Đạo giáo, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, tínngưỡng thờ Mẫu…Ví dụ như:

Trang 24

+ Phật giáo có: chùa Chuông, chùa Mễ sở, chùa nễ Châu…

+ Đạo giáo có Đền Đậu An là ngôi đền thờ Ngọc Hoàng thượng đế.+ Nho giáo có Văn Miếu Xích Đằng là nơi thờ tự của các nhà khoabảng Hưng Yên

+ Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng phát triển mạnh mẽ với nhiều ditích đình, đền trong khắp các huyện trong tỉnh tiêu biểu: Đình An Tào, ĐìnhBần, Đình Giai Khánh…

+ Tín ngưỡng thờ Mẫu cũng tiêu biểu như: Đền Mẫu, đền Thiên Hậu,đền Ả Đào…

Ngoài ra còn có sự hỗn dung của nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáovới nhau trong hệ thống thờ tự

Như trên đã nói, tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng phổ biến ở HưngYên với hệ thống nhiều di tich Trong toàn tỉnh có đến trên 20 di tích lịch sửthờ Mẫu lớn nhỏ được phân bố hầu hết các huyện trong tỉnh, nhưng chủ đạovẫn là phân bố ở thành phố Hưng Yên và các Huyện Tiên Lữ, huyện Phù Cừ,huyện Khoái Châu, huyện Yên Mỹ, huyện Mỹ Hào…

Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên phát triển mạnh mẽ thể hiện ở một số

di tích tiêu biểu như sau:

+ Đền Lương Điền thờ bà Dương Quý Phi đời Tống ở Trung Quốc.Phường Hồng Châu - thành phố Hưng Yên

+ Đền Phù Phượng thờ bà chúa Ba Thượng ngàn ở phường Hồng Châu

Trang 25

+ Đền Bảo Châu thờ nữ tướng Trần thị Mã Châu Tại xã Quảng Châu thành phố Hưng Yên

-+ Đông đô Quảng Hội thờ tam thánh, Đức thanh Mẫu Thượng Thiên và

bà Lâm Tứ Mặc Tại phường Hồng Châu - thành phố Hưng Yên

+ Đền cây xanh thờ Bà chúa Kho ở phường Quang Trung - thành phốHưng Yên

+ Đền Ả Đào thờ bà Đào Nương xã Trung Nghĩa - thành phố Hưng Yên.+ Đền thờ Cúc Hoa là vợ của trạng nguyên Tống Trân tại Xã TốngTrân huyện Phù Cừ

+ Đền Duyên Linh thờ đức vua Bà tại xã Tống Phan huyện Phù Cừ.+ Đền Phượng Hoàng ở xã Minh Tiến - Phù Cừ thờ bà Cúc Hoa

+ Đền Tứ Mỹ thờ công chúa Nguyệt Lãng tại xã Pùng chí Kiên - Mỹ Hào+ Đình Búa thờ công chúa Ngọc Hoa tại xã Ngọc Lâm - Mỹ Hào

+ Đền Thượng Bùi thơ Nguyệt Nga công chúa tại xã Trung Hòa - Yên Mỹ.+ Đền Hậu xã Dạ Trạch- Khoái Châu

+ Đền Bái Khê thờ bà Động Tân Loan nữ tướng của Hai Bà Trưng tại

xã Cương Chính - Tiên Lữ

+ Phủ Điềm tại xã Minh Phượng - Tiên Lữ thờ hai chị em họ Tạ…Như vậy ta có thể thấy, số lượng đi tích lịch sử - văn hóa biểu thị chotín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên rất lớn và đa dạng Sự đa dạng của nó chưanói đến kiến trúc nghệ thuật, hiện vật trong đền mà ở ngay đối tượng thờMẫu Có Mẫu tự nhiên, có Mẫu là người Việt được nhân cách hóa, hay lànhưng vị anh hùng trong lịch sử dân tộc Hay có Mẫu lại là từ bên nước ngoài

cụ thể là ở Trung Quốc nhưng vẫn được cư dân ở đây tiếp nhận

Vậy tại sao tín ngưỡng này ở đây lại phát triển như vậy ? Đây là câuhỏi không dễ trả lời Đó là Hưng Yên làn trung tâm của đồng bằng Bắc bộ, làmột trong những nơi của nền văn minh sông Hồng Mà cư dân ở đây luôn chủyếu sông bằng nông nghiệp chính vì vậy mà các tín ngưỡng thờ cúng ở đây

Trang 26

xuất hiện nhiều Nên điều đó cũng dễ hiểu khi Hưng Yên có sự phát triển thờMẫu như vậy Và cũng nói thêm một điều thì Hưng Yên là nơi diễn ra, ghinhận các cuộc đấu tranh của các cuộc khởi nghĩa trong thời kì Bắc thuộc Đặcbiệt là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở đây đã xuất hiện nhiều nữ tướng chiêubinh, ngày đêm tập luyện chờ ngày khởi nghĩa.

Để hiểu rõ hơn về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên chúng ta không thểkhái quát như thế này được Mà chúng ta sẽ đi vào một số di tích tiêu biểu chotín ngưỡng thờ Mẫu ở đây Tiêu biểu cho nó là Đền Mẫu, Đền Thiên Hậu,Đền Bảo Châu

+ Đền Mẫu thờ bà Dương Quý Phi nhà Tống tại phường Quang Trung thành phố Hưng Yên Là công trình kiến trúc nghệ thuật đặc sắc một biểutượng của tỉnh Hưng Yên Di tích xếp hạng lịch sử - văn hóa quốc gia

-+ Đền Thiên Hậu thờ bà Lâm Tứ Mặc tại phường Quang Trung - thànhphố Hưng Yên Thể hiện được trên nghệ thuật kiến trúc theo Trung Quốc, vìđền do người Hoa xây dựng

+ Đền Bảo Châu thờ nữ tướng Trần Mã Châu Tại xã Bảo Châu - thànhphố Hưng Yên Thể hiện thờ nhân vật anh hùng lịch sử có công đánh giặc cứunước Một đặc trưng trong tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên

2.3 Một số di tích tín ngưỡng thờ Mẫu tiêu biểu ở Hưng Yên

2.3.1 Di tích Đền Mẫu

2.3.1.1 Lịch sử di tích

Đền Mẫu tên tự là Hoa Giang Linh Từ Tên nôm là đền Mẫu, đền MậuDương, đền Bà Hoa Giang Phía Đông Bắc đền giáp khu dân cư và thư việntỉnh Hưng Yên, phía Tây Nam giáp đê bao tỉnh và Hồ Bán Nguyệt, phía TâyBắc giáp đường Bãi Sậy và Hồ Bán Nguyệt

Đền Mẫu nằm ở phía Nam thành phố Hưng Yên, được xây dựng trênmột khu đất bằng phẳng, thoáng mát, mặt tiền quay hướng Tây Nam nay

Trang 27

thuộc phường Quang Trung - thành phố Hưng Yên Đền Mẫu được công nhận

là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia năm 1990

Theo Đại Nam nhất thống chí thì đền Mẫu được xây dựng vào nămTường Hưng thứ nhất thời Thiệu Bảo năm 1278 trên một khu đất rộng vớidiện tích khoảng 2875m2 Tương truyền Đền Mẫu được xây dựng nơi có điạthế đẹp, mảnh đất có hình đầu rồng với một phong cảnh trang nhã Qua thờigian đền không ngừng được tôn tạo và tu sửa Vào năm Thành Thái thứ8(1897) ngôi đền được tu sửa và xây dựng thêm với ngót 30 gian Hiện nayđền Mẫu luôn được các cơ quan chức trách quan tâm và tu tạo thường xuyên

Đền Mẫu thờ Bà Dương Quý Phi, vợ của Vua Tống Người đã tuẫn tiết

để bảo vệ lòng chung thủy với chồng và trung thành với đất nước Qua sửsách, thần tích và sắc phong của đên Mẫu thì vào thế kỷ 13 đế quốc MôngNguyên tiến hành xâm lược nhiều nước châu Á, châu Âu Trước sức mạnhcủa quân giặc triều đình nhà Tống không tránh khỏi thất bại Trong lúc lâmnguy thì Hoàng tộc nhà Tống phải bỏ chạy ra bãi biển Nhai Sơn để tránh nạn,trên đường chạy ra bãi biển thì bị binh lính nhà Nguyên đuổi sát Dương QuýPhi đã cùng các cung tần mỹ nữ cùng nhau nhảy xuống biển tự vẫn để giữtrọn khí tiết của mình Theo truyền ngôn thì xác của Dương Quý Phi trôi dạtvào vùng Xích Đằng, nhân dân địa cư vớt được và chôn cất chu đáo - cầu đảo

“linh ứng” và lập đền thờ

Về dấu tích đền Mẫu thì theo Đại Nam nhất thống chí viết “Ở thônHương Dương huyện Kim Động tương truyền vào khoảng thời Thiệu Bảo cómột người nội thị ở Triều Đình Bắc Quốc theo thuyền buôn ngược ChâuHoan ra đến khúc sông thuộc xã Xích Đằng làm nhà ở trên bãi cát, dựng mộtgian đền thờ Dương Quý Phi nhà Tống, cầu đảo thường được linh ứng Từ đóngười đến tụ tập mỗi ngày một đông thành một tên xóm và lấy tên là HoaDương Đền được sửa sang rộng rãi và ngày một khang trang Bỗng một hômngười nội thị họp thôn lại nói rằng: Tôi là Thái giám nhà Tống năm Tường

Trang 28

Hưng thứ nhất theo Đinh Hoàng Đế nhà Đại Tống chạy ra bãi biển bị binhlính nhà Nguyên đuổi sát Đế Bính cùng Thái hậu, phi tần đều nhảy xuốngbiển tự vẫn, tôi nhảy sang một chiếc thuyền chài mới thoát được thân và lưulạc tới bãi biển Trà Bôn hơn một năm trời Một hôm tôi nằm mộng thấy Tháihậu Dương Thị cùng em là Quý Phi và mỹ nhân là Kim Thị và Liễu Thị từtrong biển bước ra Tôi đi vội đến trước mặt, sụp lạy Thái Hậu, Thái Hậu bảotôi rằng:

Chị em ta sau khi nhảy xuống biển, thượng đế khen là trinh tiết, phongcho làm Hải Thần các cửa biển ở Châu Hoan Sơn Nam đều thuộc chị em tacai quản, linh ông là tôi con của bản triều, nay lưu lạc trên đất khách quêngười, nên đến cửa Càn ở Châu Hoan thăm hỏi một lần, rồi lại đến thượng lưusông Đằng Giang, hạ lưu sông Hoàng Giang ở huyện Kim Động, thuộc phủKhoái Châu, trấn Sơn Nam mà phụng thờ Quý Phi Chỗ ấy non nước thanh tú,sau này người nước ta đến đây tụ họp không ít nhân vật đông đúc thịnhvượng, hậu thân ông cũng được nương tựa lâu đời

Lúc tôi tỉnh giấc chợt có thuyền buôn đi Hoan Châu buôn bán Nhân ấytôi đáp thuyền đến cửa Cờn đã thấy một ngôi đền mới dựng ở phía Tây Bắccửa biển Tôi rảo bước đến trước cửa ngôi đền, vừa lạy vừa khóc Người bảnthổ nhìn thấy kéo đến hỏi chuyện, tôi nói rõ lai lịch, nguyên do Người bảnthổ vui vẻ cấp cho hành lý và thuê một chiếc thuyền cho tôi đến trú ngụ nơiđây vì thế tôi đặt là Hoa Dương chỉ họ của Quý Phi Nội thị nói xong ngườitrong thôn lấy làm lạ Sau đó người nội thị không ốm đau gì mà chết, ngườithôn dựng ngôi đền riêng để thờ, còn đền Quý Phi thì các triều đều có phongtặng Thôn Hoa Dương sau đổi thành Hương Dương”

(Trích trong Đại Nam nhất thống chí tập III trang 204-206 nhà xuất bảnKHXH năm 1971)

Nhận thấy về đối tượng thờ tự tại đền Mẫu là một Quý Phi họ Dươngthời Tống, do loạn lạc để trọn khí tiết đã tự vẫn Chính hành động cao cả đó

Trang 29

mà bà đã được nhân dân tôn thờ Sự tôn thờ không chỉ ở bên Trung Quốc mà

cư dân Việt Nam luôn đề cao nhưng giá trị, phẩm hạnh của một nhân cách.Cũng chính vị đó mà bà được cư dân ta tiếp nhận và lập đền thờ bà

2.3.1.2 Nghệ thuật kiến trúc đền Mẫu

Kiến trúc đền Mẫu nhận thấy:

Sau quá trình lịch sử và tôn tạo đến ngày nay đền mang kiến trúc theokiểu chữ đinh (J) bao gồm có Nghi môn, Đại bái, Tiền tế, Trung từ, Thượngđiện, Hậu cung và hai bên là tứ phủ thánh chầu Toàn bộ công trình được bố trímột cách hài hòa trong tổng thể duy nhất, công trình được xây dựng bằng cácnguyên vật liệu bền vững: gỗ lim, ngói ta, đá, vôi mật, xi măng, tạo thành mộtkhu di tích khang trang bền vững hòa quyện với cảnh quan của thiên nhiên

Nghi môn: Với chiều dài khoảng 16,9m, chiều rộng 4,5m, kiến trúctheo kiểu chồng diêm, hai tầng tám mái, cửa xây vòm cuốn, một cửa chính haicửa phụ, cửa chính cao 4m rộng 3,2m, mái nghi môn được xây dựng kiểungói ống, các dao guột được tạo dáng theo hình cong mềm mại Tầng trên củanghi môn kiến cấu hình rồng uốn khúc tạo thành hình búp sen và có bức đại

tự đắp nổi bằng chữ Hán, phía trên là: “Dương thiên cung”, phía dưới bức đại tự: “Thiên hạ Mẫu nghi”.

Mặt trước hai bên cổng chính có hai hàng câu đối:

“Tiết nghĩa niên cao ấn chỉ thiên thu tôn chính khi nhuận thường trụ lập ngật nhiên vạn cổ điển linh thanh”.

Nghĩa là:

“Ân nghĩa của thánh mẫu như cửa cao, rộng mở lưu lại trong tâm hồnnon trẻ, ngàn thu vẫn đọng lại trí nhớ như mẹ lớn cao”

Hai bên cổng có hai hàng câu đối ngoài có ghi hai chữ “hạ mã” hai câu

đối diện với cửa chính là hai cột đồng đèn vuông đỉnh có hai con sấu chầu vào

cửa chính Phía mặt trong của nghi môn ở cổng chính có ghi: “Hoa dương

động”, phái dướ ghi là: “Vạn cổ hương” ở hai bên có câu đối.

Trang 30

“Tồn tổng nhất tâm trinh càn hải ba đào tu liệt cửa nguyên thiên cổ tiết

nguyệt hồ hoa thảo cu hương” Dịch là: “Lưu lại trong lòng con gái nước tổng

trinh tiết một lòng, sóng biển dạt dào còn hổ thẹn với uy danh, nguyệt hồvườn biếc hoa xuân, muôn thuở nồng nàn đượm màu hương sắc”

Cửa bên hữu: “Ghi quốc thái dân an nghĩa là đất nước thái bình, nhân

dân yêu ấm”.

Cửa bên tả: “Phong điều vũ thuận nghĩa là mưa thuận giá hòa”.

Cấu trúc mặt trong nghi môn đều được bày trí như mặt ngoài với lốikiến trúc bền vững uy linh tạo nên nghiêm trang khi bước vào đền qua vòmcuốn của nghi môn

Qua nghi môn là sân đền: Sân dài 28,6m, rộng 17,9m lát bằng gạch Báttràng, ở giữa sân là cây cổ thụ: đa, si, sanh tạo thành thế chân kiềng, sự hội tụcủa ba cây cổ thụ tạo thành một cảnh quan hùng vĩ cổ kính bao trùm lên toàn

bộ ngôi đền

Qua sân đền là tòa đại bái dài 9,9m, rộng 6,8m Tòa này mới đượctrùng tu vào năm 2003(theo nguyên bản cũ) kiến trúc theo kiểu chồng diên,hai tầng tám mái với các đao góc uốn cong mềm mại theo kiểu rồng chầu,phượng mớm, lợp ngói vẩy rồng, bờ nóc chạy hoa văn chanh, chính điện đắplưỡng long chầu nguyệt Kiến trúc của đại bái thượng giá chiêng chồnggiường con nhị, hạ kẻ bảy, các con chồng, đấu sen trụ chốn được chạm kênhbong hình lá hóa rồng, các bảy chạm hình đầu rồng Tòa này gồm ba gianchạy hai hàng cột cái và hai hàng cột quần, cột cái cao 5,9m, đường kính38cm, cột quần cao 3,17m, đường kính là 30cm Tòa này bày trí một nhang ánthờ giành riêng cho cung thờ phật, hai con hạc gỗ Hai bên đại bái là Phủđông và Phủ tây

- Phủ đông: Dài 6,97m, rộng 5,2m được xây dựng theo kiểu tường hiênquá mái, các cột hiên kết cấu vì kèo đơn giản không có hoa văn bằng gạch.Trên mái lợp ngói vẩy rồng bờ nóc thẳng trên nóc chính điện đắp lưỡng long

Trang 31

chầu nguyệt Hai bên đầu đốc có đắp hình hai đầu rồng Ở trong phủ có ba bệthờ xây bằng gạch xi măng nhất cấp Trên đó có tượng trong khám lồng kínhmặt trên lưỡng long chầu nguyệt trên bệ thờ có một bát hương, một đỉnh đồngnhỏ, hai cây nến, hai lọ lục bình nhỏ.

- Phủ tây: Cũng được xây dựng đối diện với phủ đông, kích thước vàxây dựng kiến trúc như phủ đông

Qua ba luồng cánh cửa bức bàn vào đến tòa tiền tế, cửa giữa kiểu pa nôkín, hai cửa bên kiểu thượng song hạ bàn, mỗi bộ cửa mở bốn cánh rộng2,2m, cao 2,15m Phía trên cửa cánh cửa bức bàn để ô thoáng kiểu chắn songcửa sổ

Tòa tiền tế gồm ba gian dài 11m, rộng 9,6m, kiến trúc kiểu chồnggiường đấu sen: Cao ráo thoáng mát, cả bốn mặt đều không có tường bao.Tòa này đi bốn cột cái cao 3,8m có đường kính 0,39m và 12 cột quân đượcnối với nhau cao 3,0m, đường kính là 0,3m Hệ thống cột cái, cột quân đượcnối với nhau bằng hệ thống xà và cốn chạm nổi kết hợp kênh bong hoa lá, hổphù, bốn đầu dư chạm hình rồng chi tiết rất đẹp và công phu thể hiện nghệthuật điêu khắc của nhân dân ta từ xưa Hai hàng cột của tiền tế có hai câu đối:

“Cố quốc sơn hà tâm sự giám quan hồ thủy bạch

Càn khôn thảo mộc anh linh tiêm tả ngạn dương thanh”

(Khải Định Canh Ngọ thu)

Nghĩa: “Tấm lòng đối với non sông đất nước sáng như gương, trongtrắng như mặt nước hồ

Cửa càn cây cỏ linh thiêng, in dấu bên bờ, hàng mẫu xanh rủ bóng”.(Niên hiệu Khải Định mùa thu năm Canh Ngọ - 1930)

Phía trên hai cột cái hậu có bức đại tự

“Nam Hải phúc thần nghĩa phúc thần cửa biển nam”.

Hai cột cái hậu có hai câu đối:

“Nhai sơn hậu thọ từ huy đức

Con hải ba lưu tiết nghĩa thanh”

Trang 32

Nghĩa: “Lòng nhân từ và uy đức sáng ngời sống mãi và bền vững nhưvách núi

Tiết nghĩa và thanh danh có sức mạnh tựa sông Hải Đăng”

Bức hoành phi cột con hậu có ghi: “Phú quý thọ khang linh”

Nghĩa là: “Giàu có sống lâu mạnh khỏe bình an” (Niên hiệu ThànhThái 1897)

Và hai câu đối bên trên: “Tống thất khương phù công tối đại

Nam bang hiển ứng đức vô cương”.

“Giúp đỡ nhà Tống công lao thật to lớn

Linh thiêng hiển ứng, đối với nước nam đức rộng vô bờ”

Phía trên có bức đại tự ghi: “Thánh đức giang hoa”.

Nghĩa là: Đức thánh sáng ngời tốt đẹp

Trong cùng phía trên có bức hoành phi lớn ghi công lao của thánh mẫulà: non sông đất nước xa mờ, đền miếu nguy nga, huy hoàng cao ngất Hậnthù lớn với trời nam đã đi vào dĩ vãng, sóng hận ba đào còn vương lại vớicháu con nước Tống Vầng nhật nguyệt như tung bay trước gió, đang chơi vớigiữa vũ trụ bao la, viên ngọc quý chọn một hồ thu thủy, rửa hận hôi tanh làmgương sáng quê nhà Đã bao lần linh thiêng hiển tác, che chở muôn nhà nở rộsóng hoa tươi Tiếng linh thiêng lưu truyền vạn thế

(Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn chùa Quang Lộc, thiếu khanh thống lĩnh tỉnhHưng Yên, án sát sứ Chu Mạnh Trinh bái phụng

Tháng 7 mùa thu năm Bính Thân niên hiệu Thành Thái 1896)

Phía dưới có yết bảng ghi: “Lịch đại bao phong”.

Nghĩa: Trải qua các triều đại đều được khen ngợi và phong thưởngHai bên có hàng câu đối:

“Nhai sơn chính khí đồng thiên địa

Hồ Nguyệt linh thanh tự cổ kim”

Nghĩa: “Nhai sơn trí khí tồn tại mãi mãi cùng trời đất

Trang 33

Hồ Nguyệt linh thiêng nổi tiếng từ xưa tới nay”.

Hai bên tòa tiền tế là nhà oản hay còn gọi là nhà sắp lễ, bên trái là nhàtiếp khách: dài 6,1m, rộng 4,5m, kiến trúc đơn giản kèo cầu quá giang vượtlợp ngói mũi hài mới được tu sửa lại năm 1998

Tòa tiền tế khá lớn lợp ngói vẩy rồng trên bờ nóc đắp lưỡng long chầunguyệt hình hổ phù, đôi bờ giải đắp nổi hình con long mã Bốn góc được đắpthành bốn đao góc cong hình rồng cuốn quay đầu chầu lên tạo thế tứ long uylinh chầu vào toa chính Đốc bên phải đắp con phượng lớn đang giang cánh,hai bên xó có hai con xô chầu vào đốc bên trái đắp nổi hình hoa văn rút nom tế(Hồ nước), hoa văn cuốn thư nghiên bút sắc phong, hai bên cũng có xô chầu

Sau tòa tiền tế là tòa trung từ dài 14,7m, rộng 5,8m, nối với nhau bằnghai bức tường và ba luồng cánh cửa bức bàn, mỗi bộ cửa gồm bốn cánh cao1,98m, rộng 2,08m, chính điện cửa chạm thủng hoa văn cúc dây, đảo lưu ởphía trên, phía dưới pa nô kín Hai bên tả hữu cửa kiểu pa nô kín Tòa nàycòn hai cửa phụ đi từ cổng phụ qua đại bái sân nhà oản, nhà khách vào đếntrung từ

Tòa trung từ gồm năm gian kiến trúc theo kiểu giả chiêng chồnggiường con nhị với 12 cột cái cao 4,1m, đường kính 0,35m và 06 cột quân cao2,9m, đường kính 0,30m Cột cái và cột quân đều liên kết với nhau băng xàchạy ngang và các bức cuốn chạm kênh bong, hình lá hóa rồng rất mềm mạiuyển chuyển sinh động, các con chồng đấu sen đều chạm bong hoa lá cáchđiệu, nghệ thuật thể hiện bàn tay khéo léo của nghệ nhân Việt Nam

Thượng điện: Sau Trung từ là thượng điện bao gồm ba gian nhỏ dài5,7m, rộng 3,8m nối với trung từ là kẻ bảy Kiến trúc đơn giản, với tòa trung

từ không có cửa xà thượng gối vào cột giữa của trung từ và tương của hậucung Giữa tòa thượng điện cũng làm kiểu hai mái theo kiểu câu đầu trụ chốn.Hai bên của tòa nay có trang trí chấn song hình lục bình, vừa để tranmg trí,

Trang 34

vừa lấy ánh sáng và thoát hương sang hai bên, trên mái lợp ngói vẩy rồng, bờnóc thẳng không có gi đặc biệt

Sau thượng điện là hậu cung dài 5,7m, rộng 3,65m được xây dựng bằng

hệ thống tường gạch, có cửa hai bên mỗi cửa hai cánh cao 1,9m, rộng 0,90mkiểu cửa pa nô kín Hậu cung kiểu kiến trúc hiện đại đầu hồi đốc bít không cócột, trên nóc được che bằng hệ thống trần gỗ có kính, trần nhà được trang trílưỡng long chầu nguyệt nhiều vân soắn, mây cạp tượng trưng cho một bầutrời Hai bên đầu đốc có trang trí lưỡng long chầu nguyệt thân hình mềm mạiuyển chuyển

Tóm lại, nhận thấy về mặt kiến trúc tại đền Mẫu theo kiểu chữ đinh (J),

đó là một công trình khép kín, kiến trúc các tòa nhà với cảnh quan xungquanh rất hài hòa sinh động mà lại uy nghi trang nghiêm Đền Mẫu thật sự làmột di tích kiến trúc nghệ thuật và danh thắng

2.2.1.3 Cách bố trí điện thờ và hiện vật tại đền Mẫu

* Cách bố trí điện thờ

Đền Mẫu là một di tích tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ Mẫu ở Hưng Yên.Trong cách bày trí tại điện thờ cửa đền Mẫu ngoài những đặc trưng chung củacách bày trí điện thờ Mẫu thì nó cũng có những nét riêng của nó

Điện thờ Mẫu Dương Quý Phi được đặt trong hậu cung hay còn gọi làcung cấm Tại chính điện xây bệ gạch thị cấp bằng đá, trên cùng là khám lớncao 1,8m, rộng 0,85m bệ khám cúc trúc kiểu chân quỳ dạ cá, xung quanh trantrí hoa dây, bốn góc là bốn côn hổ phù, ở giữa chạm nổi lưỡng long chầunguyệt, hai bên được tạo bởi thêm một con rồng cuốn điểm vân mây Trongkhám được lồng kính có tượng Mẫu ngự, đầu đội mũ kim khôi, mặc áochoàng, khuôn mặt đoan trang phúc hậu Phía trước cửa khám là hộp đựng ấntín, hộp đựng sắc phong qua các triều đại, phía dưới là bốn khám kính (2 to 2nhỏ) làm theo kiểu như long đình

Trang 35

Hai cỗ bên ngoài to hơn cao 1,7m, rộng 0,5m được trang trí hoa dâykhá sinh động, hai bên chạm hình hai con phượng lớn, trên mái bốn góc bốnđầu rồng Tầng mái là tứ song, trên đỉnh là một búp sen hé nở, trong khám cótượng đồng hé miệng cười Hai cỗ bên trong nhỏ hơn có chiều cao là 1,2m,rộng 0,4m Bốn cỗ khám trên là tứ vị vua bà cận hầu mẫu tư thế sẵn sàngnhưng rất nghiêm trang và đôn hậu Chính giữa đặt một bát hương lớn và bốnbát hương nhỏ ở hai bên, một mâm bồng, hai lọ hoa sứ, hai thuyền buồm, haicon hươu đồng và hộp đựng những độ hài mỏ phượng, hài mũi giầy bằngbạch kim và giấy.

Bên phải là sập ngự của Mẫu, chân quỳ dạ cá giật cấp dài 1,6m, rộng0,9m Đế sập toàn thân là một con rồng cuốn chính giữa đâu hổ to bờm rậm.Cấp trên được chạm các bức ấn hình đào, lê, lựu, trên mặt sập được baoquanh hệ thống bao lơn kết cấu bằng các con song tiện, tren sập trải một cáiđệm gấm, một cái gối mắc màn tuyn đỏ, phía trước treo một bức y môn Bênngoài có một bàn, một giá chậu, một bộ ấm chén

Bên trái là một bộ bàn ghế mẫu làm việc gọi là long kỷ Các tay vịn đầuchạm bong hình con rồng cuốn chầu vào nhau Bàn được chạm hoa lá, rồnghóa, lưỡng long chầu nguyệt, bàn dài 1,22m, rộng 0,65m, cao 0,77m Xungquanh có bốn ghế cao 0,9m, rộng 0,46m, bệ dựa chạm lộng hình phượng lộn,chân ghế thiết kế kiểu sập trên có đặt một ghá đế đặt hai con nghê, một quảhình quả dưa, một bộ ấm chén

Như vậy nhận thấy tại đền Mẫu trong điện có sự trang tri hết sức là đadạng, thể hiện được rõ nét của cách trang trí của loại hình tín ngưỡng thờ Mẫu

Trang 36

Tại đại bái có một nhang án thờ cao 1,2m, dài 1,5m, rộng 0,9m Một báthương cao 4ocm, đường kính 25cm Trong tiền tế có hai nhang án cũng rộng0,9m, dài 1,5m và cao 1,2m Tại đây còn có hai lọ lục bình cao 1,4m, mộtđỉnh đồng, một mâm đồng bên ngoài đặt hai chóe xứ Bát tràng cao 1,2m và 2tàn 2 lọng, có hai bộ bát bửu 2 tàn 2 tán thân cao 3m, còn có 2 cỗ long đìnhrộng 0,95m cao 2,5m.

Tại trung từ hiện vật gồm có: Một bát hương đồng cao 50cm, một mâmđồng hinh bầu dục, 2 cây nến đồng, 1 đỉnh đồng, 2 lọ hoa sứ, 3 quả đài đồng,

1 bầu rượu sứ, 1 bát hương cao 40cm, 2 cỗ long đình cao 2,3m rộng 0,8m, 2tượng quan ông cao 1m, 2 lọ lục bình phù dung cổ cao 40cm, 2 bộ chấp kínhbằng đồng cao 1,3m.Có 1 cỗ kiệu bát cống dài 2,15m, rộng 1,22m, cao 1,5m

Có 1 cỗ kiệu võng, kiệu phượng có 8 đòn khiêng, kiệu cao 1,8m Tại đây có 1nhang án dài 1,55m, rộng 0,9m, cao 1,1m Có 1 bát hương sứ to cao 60cm,đường kính 30cm, hai lọ lục bình cao 1,4m, đương kính 40cm, đường kínhmiệng 25cm

Tại hậu cung có 1 khám lớn cao 1,8m, rộng 0,85m Có 4 khám lồngkính hai to hai nhỏ To cao 1,7m rộng 0,5m, nhỏ thì cao 1,2m rộng 0,4m Có

1 mâm đồng, có 4 ghế cao 0,9m, rộng 0,46m

Tóm lại, hiện vật trong di tích đền Mẫu vô cùng phong phú đa dạng,nhiêu thể loại Theo bản thống kê mà Bảo tàng tỉnh Hưng Yên cung cấp, hiệnnay tại đền Mẫu có các hiện vật:

Trang 38

2.3.2 Di tích đền Thiên Hậu

2.3.2.1 Lịch sử di tích

Đền Thiên Hậu có tên tự là Thiên Hậu cung, tên đặt nhằm ca ngợi ThánhMẫu có tên là Lâm Tứ Mặc người có lòng nhân từ cứu giúp nhân dân tai quanạn khỏi, diệt trừ quỷ ác gian tà, bảo vệ cuộc sống yên vui cho dân lành

Đền Thiên Hậu được xây dựng ở trung tâm Phố Bắc Hòa trên diện tíchrộng khoảng 1250m2 thuộc phường Quang Trung thànhphố Hưng Yên Làmột công trình cao đẹp do người Phúc Kiến xây dựng vào thế kỷ XVI - XVII.Trong quá trình của lịch sử đền đã được tu sửa và tôn tạo nư hình dáng hiệnnay, và ngày 02 tháng 12 năm 1992 đền Thiên Hậu được xếp hạng di tích lịch

sử - văn hóa quốc gia

Theo sử sách Đền Thiên Hậu được xây dựng để tôn thờ vị thần có lòngnhân đức cứu giúp dân lành đó chính là bà Lâm Tứ Mặc, Thiên Hậu là chữđược phong của Bà Bà sinh vào ngày 23 tháng 03 âm lịch, là con gái thứ sáuLâm Huyện, em gái thứ hai của Ôn Công, thuộc dong dõi Cửu Mạc ngườilàng Bồ Điền, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, bà vốn là cô gái dệt lụa

Trang 39

Theo truyền thuyết khi sinh ra Lâm Tứ Mặc quanh người đã có hươngthơm ngào ngạt, hào quang rực rỡ, bà thông minh, năm lên tám tuổi bà đi họctiên, năm 16 tuổi bà luyên đơn thành chín chuyên (cửu chuyền), gọi mưa, gọigió ngay được, có phép màu cưỡi chiếu bay trên biển Khi dân tình mất mùađói kém, bà còn tìm ra rong biển ăn thay gạo, mỳ, mạch, mà nhờ vậy dân tìnhkhông bị chết đói Bà còn tìm được ra dầu Ma Mộc, phun xuống đất mọc lêncây cho ăn hạt thay lúa gạo.

Ngày mồng 09 tháng 09 bà không bệnh mà hóa Sau khi về trời bàthường mặc áo đỏ bay lượn trên biển cứu giúp tàu thuyền qua lại Lâm TứMặc là thần Hàng Hải chủ yếu của người Phúc Kiến Người Phúc Kiến đi đếnđâu cũng lập đền thờ Bà ở đó Và khi người Phúc Kiến di cư đếnPhố Hiến lậpđền thờ ở Phố Bắc Hòa nay là phố Trưng Trắc thành phố Hưng Yên

Người là vị thần bảo vệ, bảo hộ cho cuộc sống dân lành, che chở chodân, ơn của người rộng như biển sâu, đức của người thiêng liêng ứng hợp,

người luôn mang theo “Quốc Thái dân an”, “Phong điều Vũ Thuận”.

Trung tâm đền ghi: “Thường nghe: Khí thiêng mênh mang hiển linhđương thời và có thể lan truyền khắp thế gian Người làm lên trong một sớm,danh tiếng lưu truyền đến ngàn thu Ta có công thiết lập nên quán yên Hội đểthờ phụng Thiên Hậu thánh mẫu đối với quê nhà với tấm lòng phúc đức bao

la Từ khi xây dựng đến nay, những điều lành, hòa khí khói hương đã hơn 100năm, mới trong thời gian ngắn, sự việc đổi thay, sắc màu đã phai nhạt dần,cần phải tu sửa cho khang trang, đức thánh mênh mông thấm nhuần khắp nơiđều ngưỡng mộ, tập trung sức lực tiền của một lòng sửa sang, cung điện thêmkhang trang, đẹp đẽ để lưu truyền mãi mãi, rằng đức lập công tạc ghi bia đá,truyền người, truyền lại sự việc để lưu lại đời sau Đức thần sáng tỏ được ghilại và lưu truyền mãi mãi…”

Có thể nói rằng, nội dung nhân vật được tôn thờ là tốt lành, có côngcứu vớt dân chúng trong hoàn cảnh khó khăn Đó cung chính là mong muốn

Trang 40

của người dân lương thiện Chính vì vậy mà đền Thiên Hậu được nhân dântôn kính và phụng thờ từ xưa cho đén nay Sự tôn kính đó không chỉ là ngườidân Phúc Kiến xưa đã từng sinh sống tại đây, mà ngay từ đó cư dân Việt ở nơiđây đã tôn thờ Và hiện nay người Trung Hoa không còn sinh sống tại nơiđây, thay vào đó là người Việt Nhưng sự thờ cúng của dân cư Hưng Yên vàvùng lân cận đối với Mẫu Lâm Tứ Mặc vẫn tràn đầy Đó là biểu hiện của cáiđẹp, cái rộng mở của con người nơi đây

Qua tìm hiểu về đối tượng thờ cúng tại đền Thiên Hậu nhận thấy mộtđiều Đó chính là đối tượng thờ tự tại đền cũng giống như tại đền Mẫu, là cảhai mẫu được dân chúng tôn thờ đều xuất thân từ Trung Quốc sang Và đềuđược cư dân Việt ta tiếp nhận Điều dễ nhận thấy đó là cho dù đối tượng thờ

tự là ai, kể cả người được tôn thờ đó là xuất thân từ nước ngoài thì khi sang,chúng ta dều tiếp nhận miễn là họ là những con người có phẩm hạnh cao quý

Nhưng có một điều thật khó hiểu đó là cả hai nhân vật này dều xuấtthân từ Trung Quốc, nhưng đối với đền Mẫu ta thấy ít co bóng dáng ngườiTrung Quốc thờ tự, đến đây Mặt khác tại đền Thiên Hậu thì do chính ngườiTrung Quốc xây dựng và tôn thờ, chỉ đến khi mà người Trung Quốc khôngcòn sinh sống trên đia bàn này thì sự quan tâm có phần suy giảm Và hiện nay

do người Việt cai quản, nhưng hàng năm vào dịp lễ hội vẫn có nhiều cư dânTrung Quốc tới tham dự Đây là một câu hỏi khó thể trả lời

Nhận thấy một điều rằng thông qua thần tích của đền Mẫu và đền ThiênHậu thì đối với Mẫu Dương Quý Phi tuy được ghi chép trong sử sách, có thầntích rõ ràng Nhưng người tôn thờ bà đó chính là ca ngợi lòng thủy chung của

bà đối với đất nước với chồng, đó là một đức tính cao đẹp đáng để đề cao.Nhưng Mẫu không có ảnh hưởng sâu sác đối với cư dân Trung Hoa Còn MẫuLâm Tứ Mặc tuy thần tích có vẻ huyền thoại, nhưng đối với cư dân đi biển,đặc biệt cư dân Phúc Kiến, đó là người có công giúp hị thoát khỏi cai chết

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh, NXB Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Nhà XB: NXB Hà Nội
2. Lý lịch di tích đền Mẫu phường Quang Trung - thị xã Hưng Yên, Bảo tàng tỉnh Hưng Yên, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích đền Mẫu phường Quang Trung - thị xã Hưng Yên
3. Lý lịch di tích đền Thiên Hậu phường Quang Trung - thị xã Hưng Yên, Bảo tàng tỉnh Hưng Yên, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích đền Thiên Hậu phường Quang Trung - thị xã Hưng Yên
4. Lý lịch di tích đền Bảo Châu xã Quảng Châu - Phù Tiên - Hải Hưng , Sở văn hóa tỉnh Hải Hưng, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý lịch di tích đền Bảo Châu xã Quảng Châu - Phù Tiên - Hải Hưng
6. Lê Trọng Vũ - Lê Hồng Lý, Lễ hội Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
7. Hoàng Mạnh Thắng, Di tích lịch sử - văn hóa đền Mẫu, NXB Văn hóa Thông tin, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hóa đền Mẫu
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
8. Lâm Hải Ngọc, Những di tích danh thắng tiêu biểu - Phố Hiến - Hưng Yên, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những di tích danh thắng tiêu biểu - Phố Hiến - Hưng Yên
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
9. Phạm Trung Hiếu, Di tích lịch sử - văn hóa Hưng Yên, Bảo tàng tỉnh Hưng Yên, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hóa Hưng Yên
10. Vũ Tiến Kì, Truyện cổ dân gian Hưng Yên, NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ dân gian Hưng Yên
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
11. Trịnh Như Tấu, Hưng Yên tỉnh nhất thống chí, Thư viện tỉnh Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hưng Yên tỉnh nhất thống chí
12. Nguyễn Phúc Lai, Hưng Yên vùng phù sa văn hóa, NXB Bách khoa, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hưng Yên vùng phù sa văn hóa
Nhà XB: NXB Bách khoa
13. Phố Hiến - lịch sử, văn hóa, Sở văn hóa thể thao Hưng Yên, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố Hiến - lịch sử, văn hóa
14. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên, Tỉnh ủy Hưng Yên, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hưng Yên
15. Ngô Đức Thọ, Từ điển di tích văn hóa Việt Nam, NXB Từ điển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển di tích văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Từ điển
16. Đại Nam nhất thống chí tập III, NXB KHXH, 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí tập III
Nhà XB: NXB KHXH
17. Trịnh Như Tấu (1934), Hưng Yên địa chí, Thư viện tỉnh Hưng Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hưng Yên địa chí
Tác giả: Trịnh Như Tấu
Năm: 1934
18. Tư liệu Hán nôm đền Mẫu, Bảo tàng tỉnh Hưng Yên, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu Hán nôm đền Mẫu
19. Tư liệu Hán nôm đền Thiên Hậu, Bảo tàng tỉnh Hưng Yên, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu Hán nôm đền Thiên Hậu
20. Tư liệu Hán nôm đền Bảo Châu, xã Quảng Châu - Phù Tiên - Hải Hưng , Sở Văn hóa tỉnh Hải Hưng, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu Hán nôm đền Bảo Châu, xã Quảng Châu - Phù Tiên - Hải Hưng
5. Nguyễn Đăng Duy, Các hình thái tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, 2001 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w