1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá ở huyện thọ xuân, tỉnh thanh hoá

77 1,9K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Một Số Di Tích Lịch Sử - Văn Hoá Ở Huyện Thọ Xuân, Tỉnh Thanh Hoá
Tác giả Lê Thị Thắm
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch Sử Văn Hoá
Thể loại Khoá Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 3,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đặc biệt là đất phát tích của hai vơng triều Tiền Lê và Hậu Lê hiển hách,mảnh đất kiên trung trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.Xuất phát từ lịch sử đầy biến động đó, kết hợp với s

Trang 1

Trờng Đại học vinh Khoa LịCH Sử

Chơng 1: Khái quát vê điều kiện tự nhiên, xã hội và truyền thống

1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 5

1.3 Truyền thống lịch sử - văn hoá 19

Trang 2

kiên cờng bất khuất

2.2.2 Kiến trúc nghệ thuật và cách bài trí trong điện thờ 53

2.3.1 Quá trình hình thành và nhân vật thờ tự 60

Chơng 3: Giá trị, hiện trạng, công tác bảo tồn các di tích lịch sử -

tư cách một vùng đất cổ, có truyền thống lịch sử, văn hoá phong phú mà còn

là quê hơng của nhiều danh nhân đất nớc, nhiều hào kiệt qua các thời đại và

Trang 3

đặc biệt là đất phát tích của hai vơng triều Tiền Lê và Hậu Lê hiển hách,mảnh đất kiên trung trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Xuất phát từ lịch sử đầy biến động đó, kết hợp với sự phong phú trongcả đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Thọ Xuân, nơi đây những côngtrình kiến trúc nh đình, đền, miếu, chùa…đã đđã đợc các triều đại phong kiến vànhân dân lập nên để thờ phụng và đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân ThọXuân

Trong mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, các di tích lịch sử vănhoá nh đền, đình, chùa, lăng tẩm, nhà thờ họ…đã đlà một bộ phận của di sản vănhoá do nhân dân lao động sáng tạo ra Mặt khác, gắn liền với nó là những sựtích, truyền thuyết, tín ngỡng, tôn giáo…đã đliên quan đến sự tạo thành và tồn tạicủa các di tích trong tiến trình lịch sử

Huyện Thọ Xuân- vùng đất có bề dày truyền thống lịch sử và văn hoáhàng nghìn năm Trong thời gian ấy thật khó xác định thật chính xác có baonhiêu ngôi đền, miếu, đình, chùa, nhà thờ họ…đã đđã từng tồn tại Nếu có mộtbản ghi thật tóm tắt để giới thiệu về mặt niên đại và sự kiện liên quan đến việchng tạo và trùng tu, đặc điểm kiến trúc điêu khắc hành trạng sự tích của các

đối tợng thờ cúng, tiểu sử các vị s trụ trì cùng với những lễ hội, lễ tục, truyềnthuyết, phong tục dân gian liên quan…đã đthì điều đó tạo đợc điều kiện cần thiếtcho những ngời làm công tác quản lý mà cũng đáp ứng đợc yêu cầu của nhữngngời quan tâm tìm hiểu, bảo vệ các di tích lịch sử văn hoá của nớc nhà

Chính vì những lý do trên mà chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tìm

hiểu một số di tích lịch sử –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoávăn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá”làm khoá luận tốt nghiệp đại học,cũng để góp một phần nhỏ bé vào việc tìmhiểu đất Thọ Xuân và nguồn gốc hình thành, kiến trúc cũng nh lễ hội ở một số

di tích lịch sử văn hoá của địa phơng

2 Lịch sử vấn đề

Tìm hiểu một số di tích lịch sử văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh

“ –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá

Thanh Hoá” là một vấn đề không còn mới đã đợc đề cập đến trong các công

trình nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau

Trong cuốn “Thanh Hoá di tích và thắng cảnh” tập 1- Nhà xuất bản

Thanh Hoá- 2001, đã nêu lên những dấu tích thời thơ ấu của ngời anh hùngdân tộc Lê Hoàn và mô tả kiến trúc điêu khắc của ngôi đền Lê Hoàn

Trang 4

Trong cuốn “Vua Lê Đại Hành và quê hơng làng Trung Lập” –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh HoáNhà

xuất bản Thanh Hoá - 2005 đã đề cập đến quê hơng, thân thế, sự nghiệp củavua Lê Đại Hành, nơi phát tích nhà Tiền Lê, nền sinh thánh và những chứngtích còn lại về Lê Hoàn

Trong cuốn “Thanh Hoá di tích và danh thắng”- Nhà xuất bản Thanh

Hoá- 2004, đã nghiên cứu chùa Tạu( Hồi Long Tự) về tên gọi, những lần chùa

đợc trùng tu và trò diễn Xuân Phả- một trò múa dân gian nổi tiếng

Trong cuốn “Bàn Thạch Xuân Quang xa và nay”- Hội văn học nghệ

thuật Thanh Hoá- 2005, đã nghiên cứu về vùng đất Bàn Thạch và đi vào mô tảkiến trúc nghệ thuật của ngôi đình làng Giữa

Bên cạnh những tác phẩm trên, những di tích lịch sử văn hoá ở ThọXuân còn đợc đề cập tản mạn trong một số công trình nghiên cứu khác vàtrong các bài tạp chí, bài viết tay của những ngời làm công tác quản lý di tíchlịch sử văn hoá ở các xã

Những tác phẩm, công trình nghiên cứu trên hầu hết mới chỉ đề cập đếnmột di tích hoặc một mảng nào đó của di tích đền Lê Hoàn, chùa Tạu, đìnhlàng Giữa, mà cha có công trình nào tìm hiểu một cách tổng hợp, hệ thống,

đầy đủ về một số di tích lịch sử - văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh ThanhHoá” Tuy nhiên những tác phẩm nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi tiếp cận

và là cơ sở để giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

Hoàn thành đề tài này chúng tôi muốn góp phần tìm hiểu về quá trìnhhình thành, kiến trúc nghệ thuật và các hoạt động lễ hội của một số di tích lịch

sử - văn hoá ở huyện Thọ Xuân nh đền Lê Hoàn, chùa Tạu, đình làng Giữa

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu một số di tích lịch sử- văn hoá ở

huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá” nhằm trình bày một cách có hệ thống về

đền Lê Hoàn, chùa Tạu, đình làng Giữa để hiểu thêm về vùng đất Thọ một vùng địa linh nhân kiệt, nơi phát tích của hai triều đại Tiền Lê và Hậu Lê.Nghiên cứu về đền Lê Hoàn, chùa Tạu, đình làng Giữa còn để hiểu thêm vềkiến trúc nghệ thuật ở những thời điểm khác nhau, đồng thời góp phần vàoviệc bảo vệ và giữ gìn các di tích lịch sử văn hoá đợc xếp hạng

Xuân-Với mục tiêu đó của đề tài, khoá luận trớc tiên đề cập khái quát điềukiện tự nhiên, dân c, truyền thống lịch sử –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoávăn hoá huyện Thọ Xuân Trọngtâm nghiên cứu của khoá luận là tìm hiểu về nguồn gốc xây dựng, kiến trúc,

Trang 5

hoạt động lễ hội của đền Lê Hoàn, chùa Tạu, đình làng Giữa để thấy đợc giátrị và công tác bảo tồn của một số di tích lịch sử –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá văn hoá ở huyện ThọXuân.

4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã nghiên cứu những tài liệu có liênquan, kết hợp thực tế điền dã nhằm tiếp cận các di tích để hiểu sâu hơn về tìnhhình hiện nay và để đối chiếu với kiến trúc khi mới đợc xây dựng của các ditích Để hoàn thành đề tài này ngoài phơng pháp thực tế điền dã là chủ đạo,chúng tôi còn kết hợp các phơng pháp: thu thập tài liệu, quan sát, tổng hợp…đã đ

để rút ra cái chung và cái riêng của các di tích, nét đặc sắc trong kiến trúcnghệ thuật của các di tích

5 Bố cục của khoá luận.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo, Nội dungcủa khoá luân đợc bố cục trong 3 chơng

Ch

ơng 1: Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội và truyền thống lịch sử

-văn hoá huyện Thọ Xuân.

Ch

ơng 2: Một số di tích lịch sử –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá văn hoá ở huyện Thọ Xuân

Ch

ơng 3: Giá trị, hiện trạng, công tác bảo tồn của các di tích lịch sử –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá văn

hoá ở huyện Thọ Xuân –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Thanh Hoá.

Trang 6

B nội dung

Ch ơng 1

khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội

và truyền thống lịch sử –văn hoá huyện thọ xuânvăn hoá huyện thọ xuân

1.1 vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Nhìn trên bản đồ huyện Thọ Xuân ngày nay, xét về phạm vi cơng vựclãnh thổ, về cơ bản vùng đất Thọ Xuân hiện tại vốn là đất của huyện Lôi Dơngthuộc phủ Thọ Xuân (năm Minh Mệnh thứ 2- 1821) và một phần huyện LơngGiang (sau đổi thành huyện Thụy Nguyên) bao gồm 4 tổng: Phú Hà, QuảngPhi, An Trờng và Thử Cốc thuộc phủ Thiệu Hoá (năm Gia Long thứ 14-1815)

Tên huyện Thọ Xuân, xuất hiện trong cơ cấu tổ chức hành chính dớithời Lê Sơ Đó là vào năm Quang Thuận thứ 7 (1466) để tăng cờng sự thốngnhất bộ máy hành chính, Lê Thánh Tông chia cả nớc ra làm 12 đạo thừa tuyên

và 1 phủ Trung Đô Đổi lộ thành phủ, đổi trấn làm châu Thanh Hoá thời kỳnày gồm 4 phủ, 16 huyện, 4 châu và đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) thì

đổi Thanh Hoá thừa tuyên thành Thanh Hóa thừa tuyên, bao gồm 4 phủ: PhủThiệu Thiên (8 huyện): Đông Sơn, Lôi Dơng, Yên Định, Vĩnh Ninh, BìnhGiang, Lơng Giang, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành; Phủ Hà Trung ( 4 huyện): TốngGiang, Hoằng Hoá, Nga Giang, Thuần Hựu; Phủ Tỉnh Ninh (3 huyện): NôngCống, Quảng Xơng, Ngoạ Sơn; Phủ Thanh Đô (gồm 1 huyện, 4 châu ): HuyệnThọ Xuân, Châu Quan Da, châu Lang Chánh, Châu Tầm, Châu Sầm NămMinh Mệnh thứ 2(1821) đổi phủ Thanh Đô làm phủ Thọ Xuân

Phủ Thọ Xuân ở cách tỉnh thành 41 dặm về phía tây nam, đông tây cáchnhau 106 dặm, nam bắc cách nhau 34 dặm, phía đông đến địa giới huyện

Đông Sơn phủ Thiệu Hoá và địa giới huyện Nông Cống phủ Tĩnh Gia 25 dặm,phía tây đến địa giới huyện Quế Phong phủ Quỳ Châu tỉnh Nghệ An 81 dặm,phía nam đến địa giới huyện Nông Cống và địa giới huyện Quế Phong 30dặm, phía bắc đến lâm phận thuộc địa giới hai huyện Thuỵ Nguyên và CẩmThuỷ 4 dặm Nguyên là đất của Ai Lao, đời Lý, đời Trần mới khai thác; cuối

đời Trần là đất trấn Thanh Đô, thời thuộc Minh có lẽ là đất biên giới của ChâuQuì thuộc phủ Thanh Hoá thừa tuyên, lãnh một huyện (Thọ Xuân) và 4 châu(Quan Da, Lang Chánh, Tàm Châu và Sầm Châu); đầu đời Gia Long vẫn theo

Trang 7

tên phủ cũ, lãnh 1 huyện 3 châu (bớt Sầm Châu); năm Minh Mệnh thứ 2 đổitên hiện nay [20]

Huyện Thọ Xuân nằm về phía tây bắc thành phố Thanh Hoá với toạ độ

địa lý 19 độ 50 - 20 độ 00 vĩ độ bắc và 105 độ 25 - 105 độ 30 kinh độ đông.phía bắc - tây bắc, giáp huyện Ngọc Lặc và một phần nhỏ huyện Cẩm Thuỷ,phía nam giáp huyện Triệu Sơn, phía tây giáp huyện Thờng Xuân, phía đông -

đông bắc giáp huyện Yên Định, đông - đông nam giáp với huyện Thiệu Hoá

Mặc dù đã cắt đi 13 xã để thành lập huyện mới Triệu Sơn hồi năm 1964nhng cho đến nay, Thọ Xuân vẫn là một trong số 2 huyện lớn của khu vực

đồng bằng Thanh Hoá

Theo số liệu điều tra năm 2005 thì tổng diên tích tự nhiên của toànhuyện là 30.035, 58 ha, trong đó gồm:

Đất nông nghiệp: 18211, 58 ha, chiếm 60, 63% diện tích tự nhiên huyện

Đất lâm nghiệp: 2.122, 32 ha, chiếm 7, 06%

Đất chuyên dùng: 4.446, 83 ha, chiếm 14, 86%

Đất phi nông nghiệp: 8.808, 15 ha, chiếm 29, 32%

Đất sông suối và mặt nớc chuyên dùng: 1.468, 36 ha, chiếm 4, 88%

Đất cha sử dụng: 3.015, 90 ha, chiếm 10, 04%

Trang 8

Hiện nay toàn huyện có 38 xã và 3 thị trấn Năm đơn vị đợc công nhận xãmiền núi là Xuân Thắng, Xuân Phú, Thọ Lâm, Quảng Phú, Xuân Châu.

Có thể nói ở vào vị trí cửa ngõ nối liền đồng bằng với trung du miềnnúi, lại có dòng Sông Chu –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoácon sông lớn thứ 2 của tỉnh đi qua từ đầu huyện

đến cuối huyện, rồi sân bay quân sự Sao Vàng, đờng Hồ Chí Minh và Quốc lộ

47 chạy qua, Thọ Xuân đã thực sự trở thành một vùng đất mở rất thuận lợi choviệc hội nhập, giao lu với tất cả các vùng miền trong, ngoài tỉnh Từ Thọ Xuâncũng có đờng đi tắt qua Triệu Sơn- Nh Xuân để vào Nghệ An rồi từ Thọ Xuân

có thể qua đất bạn Là theo tuyến đờng đi Thờng Xuân –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh HoáBát Mọt hoặc điNgọc Lặc –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Lang Chánh –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Bá Thớc - Quan Hoá để sang tỉnh Hủa Phằn TừThọ Xuân cũng có thể đi đợc đến tỉnh Hoà Bình theo con đờng qua Ngọc Lặc-Cẩm Thuỷ và đến tỉnh Ninh Bình theo con đờng Yên Định- Vĩnh Lộc đi PhốCát(Thạch Thành) Nếu theo đờng Sông Chu, gặp Sông Mã ở Ngã BaGiàng(Thiệu Hoá), chúng ta có thể đến đợc hầu khắp các vùng trong, ngoàitỉnh

Từ thành phố Thanh Hoá theo trục đờng 47 đến huyện lỵ Thọ Xuân chỉ

có 36 km Từ Thọ Xuân lên biên giới Na Mèo gần 150 km và ra thủ đô Hà Nộitheo con đờng Hồ Chí Minh cũng chỉ hơn 130 km

Chính vị trí đặc biệt nh vậy đã tạo ra cho Thọ Xuân nhiều thế mạnh vàsắc thái riêng mà nhiều vùng đất khác không có Từ trong suốt trờng kỳ lịch

sử vùng đất của thiên thời, địa lợi, nhân hoà“ ” nay đã trở thành điểm hẹn lí ởng để các dòng ngời từ các phơng đổ về khai phá, lập nghiệp, sinh tồn vàphát triển thành một huyện Thọ Xuân giàu đẹp nh hôm nay

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

* Địa hình

Là huyện đồng bằng nối liền trung du với miền núi, địa hình của ThọXuân có thể chia thành hai dạng địa hình cơ bản là vùng trung du đồi núi thấp

và vùng đồng bằng rộng lớn tiêu biểu của Xứ Thanh

Nhìn toàn cục, chúng ta thấy rõ địa hình của Thọ Xuân nghiêng dần từtây bắc xuống đông nam Đây cũng là đặc điểm chung của nhiều vùng, nhiềukhu vực trong tỉnh Thanh Hoá Đến các điểm giáp ranh với các huyện miềnnúi nh Thờng Xuân (ở phía tây) và Ngọc Lặc (ở phía bắc), chúng ta tuyệtnhiên không còn bắt gặp nững đồi núi cao từ 500m- 1500m, từ đây chỉ còn

Trang 9

các núi đồi thấp, nơi cao nhất không quá 250m, mà chủ yếu 150m trở xuống.

Từ độ cao 20m trở đi đã là vùng đồng bằng rộng lớn tiêu biểu của xứ Thanh,

đó là vùng đồng bằng sông Chu nổi tiếng với cánh đồng Ba Chạ của m “ ời hai

xứ Láng” và cánh đồng của m “ ời tám xứ Neo” rộng dài và mênh mông biển

lúa mà các huyện đồng bằng khác ở trong tỉnh cũng ít nơi so đợc

Do địa hình nghiêng dốc từ tây bắc xuống đông nam nên tất các sông,suối, khe, tự nhiên cũng đều chảy theo hớng đó Vì vậy khi đến xã Xuân Phúphía tây huyện –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoáxã giáp ranh với huyện Thờng Xuân và huyện Triệu Sơn,chúng ta thấy một hiện tợng đặc biệt nh:

- Hơn nửa diện tích ở đây (gồm làng Sung, làng Pheo, làng Ba Ngọc vàlàng Bài) cao hơn Thờng Xuân nên nớc chảy về Thờng Xuân (ở Luận Thành,Xuân Cao) Nhân dân bảo đó là hiện tợng nớc chảy ngợc Nhng thực ra đó làhiện tợng nớc chảy theo độ dốc từ tây đến bắc theo qui luật của hớng núi đồi ởThanh Hoá nói chung

- Gần nửa diện tích (gồm các làng Bàn Lai, Cửa Tráo, Đá Dủng, ĐồngLuồng, Đồng Cốc, Đồng Tro ) thì nớc lại chảy xuôi theo hớng đông nam

Chính vì có hiện tợng nớc chảy ngợc”, "chảy xuôi” ấy mà dân gian ở

đây mới có câu ngạn ngữ chung đinh, chung mờng nhng không chung nớc”

(chung đinh tức chung ngời)

Có thể nói địa hình của Thọ Xuân tuy cũng có một số điểm bất cập nhngnhìn chung không đến nỗi phức tạp, đa dạng nh các vùng núi cao khác

Do nối tiếp với vùng đồi núi phía tây Thanh Hoá và lại thuộc vào vùngchâu thổ sông Chu- sông Mã, nên bất kể ai cũng có thể thấy rõ đợc sự khác biệtcủa hai vùng địa hình ở Thọ Xuân đó là: vùng bán sơn địa và vùng đồng bằng

Nhìn chung vùng bán sơn địa của Thọ Xuân hầu hết là những đồi thấpchạy liền mạch nhấp nhô nh bát úp, nhiều chỗ lại bằng phẳng nên rất thíchhợp cho việc trồng các loại cây công nghiệp, cây nông nghiệp và cây ăn quảkhác Còn vùng đồng bằng, mặc dù có những điểm bất cập (nh địa hình có độdốc cao và lại bị chia cắt, bằng phẳng không đều…đã đ), nhng khu vực đồng bằngcủa Thọ Xuân (cả vùng hữu ngạn và tả ngạn sông Chu) vẫn là vùng trọng

điểm lúa số một, số hai của tỉnh Thanh Hoá

* Khí hậu

Là vùng tiếp giáp giữa hai nền khí hậu của đồng bằng Bắc Bộ và KhuBốn cũ và sự nối tiếp giữa đồng bằng với trung du miền núi, nên trong mặt

Trang 10

bằng chung, nền khí hậu của huyện Thọ Xuân vẫn là nền khí hậu của khu vựcnhiệt đới gió mùa Sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triềuNguyễn chép: “tháng giêng và tháng 2, gió đông bắc, khí trời hơi lạnh; tháng

3 và tháng 4 gió đông nam, khí nóng bắt đầu sinh; tháng 5 và tháng 6, giónồm thổi mạnh, phần nhiều nóng nực; tháng 7 và tháng 8 thờng có gió tâynam; thỉnh thoảng ma rào hoặc ma lũ, hoặc có bão lớn; khoảng thu sang đông,sau khi sấm rạp thờng có gió lạnh hoặc ma dầm, lại hay có bão nhỏ (tục ngữ

nói tháng 9 bão rơi, tháng 10 bão cả” ); tháng 11 và tháng 12 gió bắc, trời

rét, cuối tiết đại hàn, khí trời đã sang xuân, sấm bắt đầu dậy” [20; 242].Ngoài những yếu tố chung, khí hậu ở đây vẫn có những nét riêng biệt, nhiệt

- Mùa đông thờng có gió mùa đông bắc rét và hanh khô (thổi từ tháng

9 năm trớc đến tháng 3 năm sau )

- Mùa hè thờng có gió mùa đông nam (từ tháng 4 đến tháng 8 ) đa hơinớc từ biển vào, tạo ra sự mát mẻ hoặc ma Ngoài ra trong mùa này còn có giótây nam ( mà dân gian gọi là gió Lào ) cũng thờng hay xuất hiện ( từ tháng 5

đến tháng 7 ) gây ra tình trạng nóng và khô hạn Gió này thờng kéo dài từ 12

đến 15 ngày, chia nhiều đợt, trung bình mỗi đợt từ 2- 3 ngày, dài hơn là 5- 6ngày, gây ảnh hởng rất nhiều đến canh tác và sinh hoạt

Từ những số liệu đặc trng trên, chúng ta có thể rút ra nhận xét chung làkhí hậu của Thọ Xuân cũng là khí hậu của một mùa đông gió lạnh, khô và mộtmùa hè ma nhiều có bão lụt kèm theo

Nếu so với khí hậu của đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hoá nói chung,Thọ Xuân nói riêng, ma bão xuất hiện muộn hơn khoảng trên dới 1 tháng.Mùa đông rét và ma phùn cũng thờng tới muộn hơn và kết thúc lại sớm hơn ítngày

Nh vậy tính chất xen kẽ giữa hai mùa khô lạnh và nóng ẩm ma nhiềudiễn ra rất rõ rệt ở trong huyện Thọ Xuân nói chung, nhng ở mỗi tiểu vùng khíhậu nh vùng bán sơn địa ( vùng trung du đồi núi ) và vùng đồng bằng thuần

Trang 11

tuý lại có những nét khác biệt, chênh lệch nhau ở mức độ nhất định ( cả vềnhiệt độ, lợng ma, độ ẩm, gió, sơng …đã đ).

* Núi đồi

Là một huyện đồng bằng tiếp nối với vùng trung du miền núi, cho nênThọ Xuân cũng là nơi nhiều núi đồi Toàn bộ diện tích của vùng địa hìnhtrung du đồi núi ( mà chúng ta gọi là vùng bán sơn địa ) chiếm tới 53 % diệntích đất toàn huyện

Cũng nh quy luật chung của núi đồi Thanh Hoá, núi đồi của Thọ Xuâncũng chạy theo hớng từ tây bắc đến đông nam.Từ ranh giới của huyện trở đi,

độ cao của núi đồi giảm đi trông thấy Đây chính là phần cuối của dải đồi núitrung du sông Chu mà chúng ta có thể gọi đó là vùng đồi núi thấp hoặc làvùng bán sơn địa Từ phía tây của huyện, các đồi làn sóng xuất hiện nh bát úpliền nhau, có chỗ lại khá bằng phẳng Xuống quá nửa về phía đông nam, tiếpgiáp với khu vực đồng bằng thuần tuý, độ cao so với mực nớc biển chỉ từ 20-

150 m Duy nhất chỉ có núi Chẩu (tức núi Chủa, hay núi Chúa mà tên chữ đợcgọi là Chủ Sơn ) là cao trên 200 m

Trong tất cả những xã có núi đồi của huyện, ngoài những đặc điểm chung,mỗi xã lại có những nét riêng về hình thế đến tên gọi khác nhau Chính những nétriêng đó đã tạo nên sự đa dạng và phong phú của vùng bán sơn địa Thọ Xuân

Khi chép về các núi trong tỉnh, sách Đại Nam nhất thống chí có nêu rấtnhiều các núi danh thắng tiêu biểu, nhng ở huyện Lôi Dơng ( phía hữu ngạnsông Chu của Thọ Xuân nay ) chỉ đợc giới thiệu duy nhất có một núi danhthắng là ngọn núi Chủ Sơn (hay còn gọi là núi Chẩu, núi Chủa và núi Chúa )

Sách viết: Chủ Sơn: ở xã Thuỷ Chú, huyện Lôi Dơng, núi không cao lắm

nh-ng đẹp đẽ đánh-ng yêu, là chỗ quê hơnh-ng của Lê Thái Tổ, nay có đền miếu ở đây”

[20; 264 ]

Vì là núi đá, nên sắc núi thờng đổi màu đậm nhạt xanh, tím khác nhauvào buổi sáng, tra, chiều, tối Đây quả là một danh thắng độc đáo của vùngtrung du đồi núi thấp huyện Thọ Xuân Từ phía điện Lam Kinh, hoặc từ rấtnhiều vị trí trong huyện nhìn đến, ngọn Chủ Sơn hiện ra thật lung linh, bề thế

Và đây chính là một danh sơn đáng tự hào của cả huyện Thọ Xuân nói riêng

và Xứ Thanh nói chung

- Núi Lam Sơn ( hay còn gọi là núi Dầu), hiện nay thuộc địa phận quản

lý của thị trấn Lam Sơn, còn trớc đó của xã Xuân Lam Thời Trần - Hồ, núi

Trang 12

này thuộc địa phận huyện Lơng Giang ( phía tả ngạn sông Chu ), còn từ Lê

đến Nguyễn lại thuộc địa phận của huyện Thụy Nguyên Sách Đại Nam nhất

thống chí chép: Núi Lam Sơn lại có tên nữa là Du Sơn, ở cách huyện Thuỵ

Nguyên 52 dặm về phía tây, mạch núi từ phía tây –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá bắc qua sông L ơng kéo

đến, núi đá chỗ lên xuống vơn ra đất bằng, nổi vọt lên một ngọn núi đất, dới núi là nhà cũ của vua Lê Thái Tổ Lê sử chép rằng ông tổ ba đời của Lê Thái

Tổ tên huý là Hối, ngời huyện Nga Lạc từng đến Lam Sơn, thấy nhiều chim bay lợn nh dáng nhiều ngời tụ họp", ông tự nói chỗ này tất là đất tốt“ ” bèn dờinhà đến đấy Sau Thái Tổ làm vua, mới lấy đất này làm Lam Kinh, cách đây

khoảng 4, 5 dặm có một gò đất gọi là phật hoàng“ ” là mộ tổ của nhà Lê NămHồng Đức thứ 22, Lê Thánh Tông thăm Lam Sơn, có Hàn lâm viện hiệu lý là

Dơng Trực Nguyên phụng mệnh hoạ thơ, có câu rằng: "Lam Sơn chỉ xích thiên nam vọng, vạn cổ nguy nguy sáng nghiệp công”, nghĩa là: "Núi Lam Sơn gang tấc là danh sơn của nớc Nam, công đức gây dựng cơ nghiệp vòi vọi trải muôn đời”, tức là núi này, trên địa bàn huyện Thọ Xuân do cấu trúc địa hình

là bán sơn địa nên ngoài núi Chủ Sơn, núi Lam Sơn còn có các núi đồi khác ởcác xã nh : xã Xuân Quang, xã Xuân Sơn, xã Xuân Hng, xã Thọ Lâm, xã ThọXơng, thị trấn Lam Sơn, thị trấn Sao Vàng, xẫ Xuân Bái, xã Xuân Thắng, xãXuân Phú, xã Xuân Lam, xã Xuân Thiên, xã Thọ Minh, xã Xuân Châu, xãThọ Lập, xã Quảng Phú Với số lợng lớn núi đồi phân bố ở các xã nêu trên,chúng ta thấy huyện Thọ Xuân sẽ càng mạnh giàu khi biết cách khai thác tối

đa nguồn tài nguyên này

* Sông ngòi

Nhìn chung hệ thống sông ngòi, khe, suối, hón …đã đở Thọ Xuân rất phongphú, có nớc quanh năm, có thể kể đến các con sông nh sông Chu, sông CầuChày là hai con sông luôn luôn đóng vai trò hết sức quan trọng về rất nhiềumặt đối với vùng đất huyện Thọ Xuân Chính sông Chu đã tạo ra cho ThọXuân một khu vực đồng bằng phù sa mới tiêu biểu và rộng lớn vào loại bậcnhất của Xứ Thanh trong suốt hàng ngàn năm lịch sử Trong bề dày thờigian, chiều sâu lịch sử dòng sông đã trở thành con đờng đa các dòng họ vàdòng ngời từ các phơng trời trong, ngoài Xứ Thanh về đây khai phá, lậpnghiệp dựng nên làng, nên xóm ở khắp vùng địa hình từ lúc còn rất hoang sơ.Chính dòng sông này cũng đã tạo ra sự giao lu, hội nhập với các vùng miềnkhác một cách thuận lợi Vì thế mà vùng đất này cứ đời nối đời phát triển liên

Trang 13

tục, nhanh chóng thành một vùng quê giàu, đẹp của Xứ Thanh với ruộng đồngbát ngát và bãi màu xanh biếc đôi bờ, rồi các làng xóm trù phú, các công trìnhchinh phục cuộc sống, chinh phục thiên nhiên của con ngời cứ mọc lên liêntiếp để hôm nay trở thành niềm tự hào không sao kể xiết …đã đ

Khi viết về sông Lơng (tức Sông Chu ), sách Đại Nam nhất thống chí“ ”

do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn chép: “Sông Lơng: ở cách huyện Thuỵ Nguyên 10 dặm về phía tây, có ba nguồn: một nguồn từ sông Cao thuộc huyện Lang Chánh chảy đến, một nguồn từ sông Đạt thuộc huyện Thờng Xuân chảy đến; một nguồn từ sông Âm thuộc châu Quan Hoá chảy đến; vì thế nớc nhiều và sâu rộng, chảy qua địa phận hai huyện Lôi Lơng và Thuỵ Nguyên,

đến Lam Sơn lại tụ lại làm Tây Hồ, lại chảy về phía đông hơn trăm dặm, đến núi Bàng Trình hợp với sông Mã mà chảy ra biển Những tên sông Lam, sông Phủ, sông Lỗ đều là tên riêng của sông này” [20; 266]

Còn đối với sông Cầu Chày, tuy là con sông nhỏ, nhng trong quá trìnhvận động của mình, sông Cầu Chày cũng làm tròn sứ mệnh của mình về việccung cấp lợng phù sa đáng kể cho vùng đất của nhiều xã phía tả ngạn sôngChu huyện Thọ Xuân Dòng sông này còn là con đờng thông thơng dễ dàng rasông Mã hoặc lên vùng núi Ngọc Lặc cũng rất gần

Sách Đại Nam nhất thống chí” chép về sông này nh sau: Sông Ngọc

Chuỳ: Tục gọi sông Cầu Chày ở cách huyện Thuỵ Nguyên 2 dặm rỡi về phía bắc; nguồn từ địa phận châu Lang Chánh, chảy qua địa phận 2 huyện Yên

Định và Thuỵ Nguyên đổ vào sông Mã Nớc sông thờng đứng, có chớng khí, ngạn ngữ nói: Sông Cầu Chày chó lội đứt đuôi“ ”” ý nói nớc rất độc

Ngoài ra trên địa bàn huyện Thọ Xuân còn có các con sông khác nh:sông Hoàng Giang (hay còn gọi sông nhà Lê ), sông Hón Lù, sông Dừa, sôngTrê; sông (hón) khác Với hệ thống sông ngòi phong phú đã cung cấp cho các

đồng bằng huyện Thọ Xuân lợng phù sa màu mỡ và giao thông bằng tàu thuỷ.Nhng bên cạnh sự thuận lợi thì sông suối và nguồn nớc tự nhiên của Thọ Xuâncũng gây ra những khó khăn, bất cập Vì hệ thống sông phân bố không đều,lòng sông lại hẹp, ngắn, dốc và uốn khúc hơi nhiều, do đó về mùa ma nớc dễtập trung nhanh, gây úng lụt cục bộ trên diện rộng nh sông Hoàng và sôngCầu Chày Về mùa cạn mức nớc thấp nhất ở các sông cách mặt đất từ 5- 10 mlàm cho việc bơm tới rất khó khăn Nhng nếu biết khai thác, sử dụng và cải

Trang 14

tạo hợp lý, khoa học thì chắc chắn lợi ích mang lại cho huyện Thọ Xuân sẽcòn to lớn hơn nhiều

* Đất đai - thổ nhỡng

Là huyện đồng bằng châu thổ sông Chu –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá sông Mã tiếp giáp với vùngtrung du miền núi, cũng nh những huyện khác trong tỉnh nh Yên Định, VĩnhLộc, Triệu Sơn …đã đ đất đai của huyện Thọ Xuân đợc hình thành một cách rõ rệttrên sản phẩm phong hoá của các loại đá mẹ và mẫu chất tích tụ từ tác độngcủa sông –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá biển Các loại đá mẹ mẫu chất hình thành đất của Thọ Xuân nh:

- Đá phiến: phân bố tập trung ở nông trờng Sao Vàng, Xuân Phú, XuânThắng, Thọ Lâm, Xuân Lam, Xuân Châu, Quảng Phú

- Đá vôi ở Mục Sơn, nông trờng Sao Vàng, Xuân Thắng, Xuân Châu,Bái Thợng

- Phù sa cổ, phù sa mới từ sông Chu bồi đắp nên đồng bằng huyện ThọXuân

Theo điều tra nông hoá thổ nhỡng diện tích 26.260,65 ha (năm 2000),

đất đai của Thọ Xuân có thể chia thành 4 nhóm chính: Nhóm đất xám agrsols;nhóm đất phù sa; nhóm đất đỏ; nhóm đất tầng mỏng

Tuy chia ra các vùng thổ nhỡng khác nhau, nhng nhìn khái quát, tổngthể thì có thể thấy rõ ở Thọ Xuân có hai vùng đất đai chính, đó là vùng đấtruộng + bãi và đất đồi Riêng vùng đất ruộng + bãi đã chiếm tới 2/3 tổng diệntích tự nhiên của toàn huyện, là vùng trọng điểm lúa và màu tiêu biểu trongcác huyện đồng bằng của tỉnh Thanh Hoá.Vùng đất đồi chỉ chiếm 1/4 diệntích tập trung ở các xã phía tây và phía bắc của huyện, là vùng đất có điềukiện trồng các cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày và cây ăn quả, cây lâmnghiệp …đã đ

* Rừng

Là huyện có hơn 50 % diện tích là đồi núi thấp có bình độ phân bố từ(+15) đến (+150 m) thuộc vùng trung du sông Chu, có điều kiện đất đai, khíhậu thuận lợi, cho nên xa kia, rừng tự nhiên ở Thọ Xuân gần nh phủ kín khắpcác vùng địa hình tây bắc - đông nam huyện

Ngay từ thời Lê Sơ ( thế kỷ XV) trong sách “D địa chí”, Nguyễn Trãi đã

viết: Thọ Xuân có da hổ, báo, tê, voi “ ” Điều đó chứng tỏ vùng đồi núi củaThọ Xuân ( bao gồm cả miền Thờng Xuân, Lang Chánh bây giờ ) vẫn là vùngrừng già rộng lớn của miền tây Thanh Hoá Vì vậy ngay cả vùng Thọ Minh,

Trang 15

truyền thuyết dân gian ở đây vẫn nói nhiều đến chuyện dân làng xa kia thờngxuyên bị voi, cọp về tàn phá nh sự tích về đồi ông Điền ( hay còn gọi là đồi

ông Mời ) có nêu câu chuyện về một ông tổ họ Phạm (làng Yên Lợc) đã cócông hạ gục 10 con voi dữ để bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân làng, haychuyện huấn luyện và buộc voi ở gốc cây lim to xã Xuân Thắng, rồi cácchuyện đuổi đánh các thú dữ ở các làng …đã đ, tất cả đều khẳng định trong thế kỷ

XV, rừng của Thọ Xuân còn bạt ngàn, hoang rậm, cho nên mới có nhiều thúdữ đến nh vậy Tơng truyền, Lê Văn Linh –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá một công thần trong khởi nghĩaLam Sơn, quê làng Hải Lịch ( nay là xã Thọ Hải ) từng làm bài văn đuổi hổnổi tiếng Trớc cách mạng tháng 8, hổ dữ vẫn còn xuất hiện ở khu vực MãHùm, Sao Vàng, Phúc Bồi …đã đ

Ngày nay thế rừng tự nhiên, nhân dân trồng các loại cây ăn quả, hoamàu, sắn, ngô và trồng rừng nhân tạo Đặc biệt là những cánh rừng thuộc khu

di tích Lam Kinh với nhiều loài cây quý đang tiếp tục đợc mở rộng

1.2 Xã hội

Thiên nhiên đã ban tặng sự màu mỡ của đất đai, tài nguyên khoáng sản

để phát triển kinh tế, văn hoá Tuy nhiên cũng gây không ít khó khăn: khí hậukhắc nhiệt, lụt bão, hạn hán …đã đchính thử thách đó đã hun đúc nên phẩm chấtkiên cờng, thông minh, sáng tạo của ngời Thọ Xuân

Điều kiện tự nhiên đã cho phép Thọ Xuân phát triển một nghề nôngnghiệp phong phú sản vật, đa dạng ngành nghề, cùng với một số nghề thủcông truyền thống

Thời dựng nớc, Thọ Xuân thuộc vùng đất bộ Cửu Chân trong đất nớccủa các vua Hùng

Đến đầu công nguyên Thọ Xuân là miền đất thuộc huyện Vô Biên Thời

kỳ này c dân trên đất Thọ Xuân so với vùng sông Mã còn tha thớt nhng đãxuất hiện những đơn vị c trú tiền thân của làng xã đó là những kẻ, nhữngchiềng, những chợ: Kẻ Căng (xã Thọ Nguyên ); kẻ Neo (Bắc Lơng ); kẻ Sập(Xuân Lập ); kẻ Mía ( Thọ Diên ); kẻ Mía Mng (Xuân Tân ); kẻ Đầm (XuânThiên ); kẻ Thạc ( Xuân Lai ); kẻ Chóng ( Thọ Minh ); kẻ Cây ( Nam Cai, Tâyhồ); kẻ Dệ (Xuân Lai ) …đã đ

Nghiên cứu các tụ điểm dân c, chúng ta dễ dàng nhận thấy: c dân ThọXuân đã tích cực khai thác vùng đồng bằng sông Chu để sản xuất nôngnghiệp

Trang 16

Thời thuộc Hán (111 trớc công nguyên đến 210), Thọ Xuân thuộc TPhố, thời gian này, Thọ Xuân (T Phố) đã đón nhận những nhóm c dân ở vùngphát tích của Hai Bà Trng bị quân Nam Hán khủng bố di c vào Đó là mộtphần c dân thuỷ cơ Bái Thợng gồm nhiều làng mang tên kẻ Quân, kẻ Vu, kẻBộc, kẻ Ghi…đã đ có nguồn gốc từ vùng Tây Vu.

Thời thuộc Tuỳ - Đờng (581- 905), miền đất Thọ Xuân thuộc huyện DiPhong, rồi thuộc huyện Trờng Lâm

Sách Đại nam nhất thống chí cho biết từ thời Trần về trớc Thọ Xuân cótên gọi là huyện Cổ Lôi thuộc trấn Thanh Đô Đến thời Trần sau công trình

“Hà Phòng” của nhà nớc, những con đê sông Mã, sông Chu đợc đắp và hàngnăm bồi trúc kiên cố nên công cuộc trị thuỷ và giao thông đã ổn định Phảichăng đây là thời kỳ c dân Thọ xuân đã đông đúc nh phơng ngôn cũ truyền lại

M

“ ời hai xứ Láng, mời tám xứ Neo” M “ ời hai xứ Láng” nay thuộc xã Xuân

Hoà và Xuân Trờng Riêng Xuân Trờng gồm 6 Láng (6 làng) là: Láng Trang,Láng Thợng Vôi, Láng Sở, Láng Trung, Láng Đông và Láng Hạ

Thời thuộc Minh Thọ Xuân mang tên huyện Cổ Lôi thuộc phủ Thanh Hoá.Nhà Minh lại nhập huyện Cổ Lôi với Lơng Giang (Ngọc Lặc ngày nay)

Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), vua Lê Lợi xoá bỏ các đơn vị hànhchính thời Minh, chia cả nớc thành 5 đạo, Thọ Xuân thuộc đạo Hải Tây

Đời Lê (Quang Thuận thứ 7(1466), Thọ Xuân có tên là Lôi Dơng, trực thuộcphủ Thiệu Thiên (sau đổi là phủ Thiệu Hoá vào năm 1815 đời Gia Long)

Phủ Thọ Xuân xuất hiện khi vua Minh Mệnh chia trấn Thanh Đô thànhnhiều châu phủ, trong đó có phủ Thọ Xuân vào năm 1821

Từ năm 1826, huyện Lôi Dơng, Thuỵ Nguyên tách khỏi phủ Thiệu Hoá

để nhập vào phủ Thọ Xuân Cũng thời Minh Mệnh đổi Lôi Dơng thành phủThọ Xuân (Tên Lôi Dơng không còn)

Lỵ sở phủ Thọ Xuân trớc năm 1895 (thời Thành Thái) đóng ở Thịnh Mĩ Saunăm 1895 dời lỵ sở đến Xuân Phố (làng Xuân Phả, xã Xuân Trờng nay)

Đến trớc cách mạng tháng tám 1945, Thọ Xuân gồm 11 tổng, 180 thôn,làng; 24 xóm bản Các tổng là: Bái Đô, Mục Sơn, Diên Hào, Yên Thạch, Tam Lộ,Nam Dơng, Bất Nạo, Phú Hà, Quảng Yên, Thợng Cốc( Cốc Thợng) Đơn vị hànhchính từ phủ đến làng, xã có bộ máy hành chính bao gồm: Tri phủ (ở phủ), chánhphó tổng (ở tổng), làng xã do bộ máy lý hơng cai quản

Trang 17

Sau cách mạng tháng tám 1945, phủ Thọ Xuân đổi thành huyện ThọXuân Năm 1946 cắt 4 xã Thọ Trờng, Xuân Vinh, Xuân Tân, Xuân Minh vàlàng Trung Lập thuộc huyện Thiệu Hoá đa về Thọ Xuân do đó đến năm 1946,Thọ Xuân có 22 xã lớn, 196 thôn, làng và 24 xóm bản.

Năm 1954 Thọ Xuân lại tách các xã lớn lập thành 54 xã và 190 thôn, 24 xóm.Năm 1964 theo quyết định của Quốc hội và Chính phủ nớc Việt Namdân chủ cộng hoà, 13 xã phía nam huyện Thọ Xuân đợc nhập cùng 20 xã củahuyện Nông Cống để thành lập huyện Triệu Sơn Đó là các xã Thọ Ngọc, ThọCờng, Thọ Tiến, Thọ Dân, Thọ Tân, Thọ Thế, Thọ Phú, Thọ Vực, Thọ Bình,Thọ Sơn, Xuân Thịnh, Xuân Lộc, Xuân Thọ Đồng thời cắt 4 xã phía tây ThọXuân nhập về Thờng Xuân là xã Xuân Dơng, Thọ Thanh, Xuân Cẩm, XuânCao

Hiện nay huyện Thọ Xuân gồm 38 xã, 3 thị trấn (Thị trấn huyện lỵthành lập ngày 9/2/1965, thị trấn Nông trờng Sao vàng thành lập ngày8/3/1967, thị trấn Lam Sơn thành lập ngày 7/2/1991) Năm đơn vị đợc côngnhận xã miền núi là: Xuân Thắng, Xuân Phú, Thọ Lâm, Quảng Phú, XuânChâu Dân số của huyện tính đến năm 2004 là: 235.392 ngời (trong đó có115.207 nam và 120.185 nữ) thuộc 3 dân tộc Kinh, Mờng, Thái cùng sống hoàthuận bên nhau

Trong quá trình lịch sử lâu dài từ hết đời này sang đời khác, các cộng

đồng dân c ở Thọ Xuân cứ nối tiếp nhau khai phá đất đai dựng nên làng xóm,biến những vùng đất hoang rậm, sình lầy và cao thấp không đều thành nhữngcánh đồng trồng lúa hoặc nơng sắn, nơng ngô và bãi màu xanh tốt Để đấutranh sinh tồn con ngời cũng biết dựa vào thiên nhiên để canh tác và làm racủa cải vật chất Và khi thiên nhiên mang đến những hiểm hoạ thì con ngờicũng tìm cách chế ngự và chinh phục bằng mọi giá Chính vì vậy mà từ vùng

đồi núi trung du đến toàn bộ vùng đồng bằng châu thổ Sông Chu, trên địa bànhuyện chỗ nào cũng có dấu ấn hoạt động của con ngời trong cuộc chiến vậtlộn gian khổ để chiến thắng thiên nhiên

Trang 18

triển lâu đời mà còn là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử sôi động, phong phú vàhiển hách Có thể thấy trên bức tranh toàn cảnh những dấu vết hoạt động chủyếu của ngời cổ xa trong nền văn hoá Sơn Vi từ trang mở nớc đầu tiên của sựhình thành nền văn minh dân tộc: Văn minh Đông Sơn tơng đơng thời kỳ HùngVơng dựng nớc Sau thời kỳ An Dơng Vơng ngắn ngủi là 1000 năm đô hộ củaphong kiến phơng Bắc, rồi khoảng 1000 năm dới chế độ của nhà nớc phongkiến quân chủ Việt Nam trong đó có 80 năm đô hộ của Thực dân Pháp Trongkhoảng thời gian ấy nhân dân huyện Thọ xuân đã tỏ rõ truyền thống yêu nớc và

đấu tranh kiên cờng bất khuất của mình

Ngay từ thời kỳ Bắc thuộc, tuy không trực tiếp tham gia cuộc khởi nghĩaHai Bà Trng lãnh đạo nhng đất Thọ Xuân đã sẵn sàng đón nhận những con ngờicủa vùng đất Tây Vu vào lánh nạn, tránh sự khủng bố của kẻ thù Chứng tích làmột vệt làng mang tên kẻ quân, kẻ Vu, kẻ Bộc, kẻ Ghi c trú tại Bái Thợng

Bà Triệu (năm 248) lập căn cứ tại núi Na nằm ở phía nam huyện ThọXuân tiến hành khởi nghĩa chống quân xâm lợc nhà Ngô Cuộc chiến đấu đãlan rộng khắp Giao Chỉ, Cửu Đức, Nhật Nam Sử cũ ghi, những ngời tham giakhởi nghĩa là những “dân Man” hẳn trong số “dân Man” đó không ít nhữngngời con vô danh của Thọ xuân đã đứng dới cờ nghĩa của Bà Triệu đánh đuổibọn cớp nớc nh câu ca dao còn truyền tụng phản ánh không khí đầu quân giếtgiặc

Túi gấm cho lẫn túi hồng.

Thế kỷ X, ngời con u tú của làng quê Kẻ Sập (Sách Khả Lập, rồi Trunglập, nay thuộc xã Xuân Lập) Lê Hoàn đã cùng Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn “12 sứquân”, dẹp giặc chiêm thành, đánh tan quân Tống và trở thành một vị vua anhminh của nớc Đại Cồ Việt Ông không những là nhà quân sự, tài năng mà còn

Trang 19

là nhà kinh tế, ngoại giao xuất chúng…đã đgiữ vững nền độc lập tự chủ của đất n

-ớc thế kỷ X

Thế kỷ XIII –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá thời Trần, Thọ Xuân cùng với cả Xứ Thanh là căn cứvững chắc để cả nớc hớng tới, tổ chức những cuộc phản công quyết liệt đuổiquân Nguyên ra khỏi bờ cõi

Thế kỷ XV khi toàn bộ miền bắc Đại Việt đã bị giặc Minh chiếm đóng(1407- 1427), thì tại núi rừng miền tây Thọ Xuân, Lê Lợi đã dựa vào vùng quêLam Sơn và lòng dân giơng cao ngọn cờ khởi nghĩa

Năm 1407 cuộc kháng chiến chống Minh do nhà Hồ lãnh đạo bị thấtbại Sau đó là hàng loạt cuộc nổi dậy của nhân dân ta ở vùng Từ Liêm (1407,ngoại vi vùng Đông Quan phối hợp với nghĩa quân Trần giãn Định, Trần TùngQuang (1408- 1409), Hoàng Cự Liêm ở Quãng Oai - Ba Vì (năm 1409), LêNhị ở Thanh Oai…đã đNhng những cuộc khởi nghĩa này ở vùng Đông Quan rấtkhó duy trì hoạt động Trong tình hình bố trí lực lợng của quân Minh lúc bấygiờ, những cuộc khởi nghĩa riêng lẻ tự nó giành thắng lợi và cũng không có

điều kiện xây dựng căn cứ để phát triển thành chiến tranh giải phóng dân tộcquy mô toàn quốc Một xu thế tất yếu đã đợc xác lập trên con đờng giải phóngdân tộc là phải bằng sức mạnh đoàn kết đấu tranh của nhân dân toàn nớc, tiếnhành một cuộc đấu tranh cứu nớc rộng lớn

Lúc này Lê Lợi với tài trí hơn ngời đã chứng kiến cảnh mất nớc, nhân

dân lầm than và quyết nuôi chí giết giặc cứu nớc Lê Lợi đã chuyên tâm đọc

sánh thao lợc, dốc sạch của cải, đãi khách khứa rất hậu, đón mời kẻ trốn tránh thu nạp kẻ chống đối nhà Minh, ngấm ngầm nuôi dấu những kẻ mu trí”

Đầu năm Bính Thân –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá 1416, Lê Lợi và 18 ngời bạn thân tín nhất cùng

tâm huyết chí hớng, làm lễ thề kết nghĩa anh em, nguyện sống chết Chung

sức đồng lòng chống giữ địa phơng để trong cõi đợc yên” Đó là hội thề Lũng

Nhai lịch sử- đặt cơ sở cho sự hình thành một tổ chức lãnh đạo của cuộc khởinghĩa Lam Sơn Tại đây trớc thần linh sông núi, 18 ngời hiền kiệt cùng Lê Lợituyên đọc lời thề

“Niên hiệu Thiên Khánh thứ nhất, năm Bính Thân, tháng hai qua ngày

Kỷ Mão là ngày sóc, đến ngày 12 là Canh Dần

Phụ đạo lộ Khả Lam nớc An Nam là Lê Lợi cùng Lê Lai, Lê Thân, LêVăn An, Lê Văn Linh, Trịnh Khả, Trơng Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hng, LêNinh, Lê Hiểm, Vũ Uy, Nguyễn Trãi, Đinh Liệt, Lu Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý,

Trang 20

Đinh Lam, Trơng Chiến kính đem lễ vật, sinh huyết tấu cáo cùng Hạo thiênthợng đế Hậu thổ hoàng địa và các tôn linh bậc thợng, trung hạ, coi sông núi ởcác xứ nớc ta.

Có kẻ băng đảng xâm chiếm nớc ta, qua cửa quan làm hại nên Lê Lợicùng Lê Lai đến Trơng Chiến, 19 ngời chung sức đông lòng, giữ gìn đất nớclàm cho xóm làng đợc ăn ở yên lành Thề sống chết cùng nhau, không dámquên lời thề son sắt

“Tôi cúi xin trời đất và các vị thần linh chứng giám, ban cho trăm phúc,

đến thân mình, nhà mình, con cháu trong họ hàng đều đợc yên vui hởng lộctrời”…đã đ[4;36]

Ngày 2 tháng 1 năm Mậu Tuất (7/2/1418, tại núi rừng Lam Sơn, Lê Lợi

tự xng là Bình Định Vơng đã cùng với toàn thể nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩatruyền hịch kêu gọi nhân dân khắp nơi cùng đứng lên giết giặc cứu nớc Quaviệc chọn Lam Sơn làm căn cứ chứng tỏ nhãn quan quân sự của Lam Sơn độngchủ Lê Lợi rất tinh tờng Nghĩa quân đóng ở Lam Sơn có thể xuống miền

đồng bằng hoặc có thể di chuyển lên miền thợng lu Sông Mã, khi cần thiết cóthể rút lên miền Tây dựa vào thế rừng núi để bảo toàn lực lợng

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch

sử đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XV Từ hội thề Lũng Nhai với 19ngời năm 1416 đến đầu năm 1418 lực lợng nghĩa quân đã tập hợp thành một

đội ngũ đông đảo Lực lợng ban đầu của nghĩa quân gồm 51 tớng văn, tớngvõ: Lê Khang, Lê Luân, Lê Nanh, Lê Sao, Lê Lễ, Lê Hiên, Lê Nhữ Hổ, LêLộng, Lê Cố, Trịnh Lỗi, Trịnh Hối, Lê Thỏ, Lê Bồi, Lê Lý, Lê Xa Lôi, LêKhắc Phục, Lê Định, Lê Lãng, Lê Vấn, Lê Lan, Lê Cuống, Lê Hựu, Lê Độ, LêKhiêm, Lê Trinh, Lê Lâm, Lu Đàm, Lê Nghiệm, Lê Văn Giáo, Trần Vận,Trần Xng, Lê Cảnh Thọ, Phạm Lung, Phạm Liễu, Lê Nhữ Lãm, Lê Khả Lãng,

Võ Uy, Trịnh Vô Lu Hoãn, Trần Hốt, Đỗ Bí, Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, LêThận, Lê Văn An…đã đlà hình ảnh thu nhỏ của khối đại đoàn kết dân tộc

Dới sự lãnh đạo của Lê Lợi, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã trở thành cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc toàn dân ủng hộ đã giành đợc thắng lợi, đãhoàn toàn giải phóng đợc dân tộc khỏi ách nô lệ của giặc Minh vào năm 1428

Trong chiến công vĩ đại đó nhân dân Thọ Xuân đã góp phần to lớn Sốcông thần cứu nớc trong khởi nghĩa Lam sơn quê Thọ Xuân phải kể tới hàng

Trang 21

chục nh Lê Thận, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Lê Sát…đã đvà hàng ngàn ngời dânThọ Xuân thuở đó đã xung phong vào đạo quân cứu nớc.

Sau Ngô Quyền –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá “tổ trung hng thứ nhất” Lê Lợi xứng đáng với danh hiệu

“Tổ trung hng thứ hai” trong lịch sử chống ngoại xâm oanh liệt của dân tộc

Thọ xuân cũng từng là nơi có hoạt động quân sự thời Lê –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Mạc thế kỷXVI, cũng là mảnh đất trung tâm chính trị- quân sự thời Lê –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Trịnh-Nguyễn

Cuối thế kỷ XIX thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, chúng đã phải đơng đầuvới sự chống trả quyết liệt của dân tộc ta Đặc biệt là phong trào “Cần V ơng”chống Pháp Tuy không phải là vùng đất xây dựng căn cứ chính của nghĩaquân “Cần Vơng” nh ở Ba Đình (Nga sơn), Mã Cao (Yên Định), Hùng Lĩnh(Vĩnh Lộc)…đã đNhng mọi cuộc chiến đấu chống thù diễn ra trên đất Thọ Xuânhoặc vùng kề cận luôn đợc nhân dân ủng hộ Đó là trận đánh đồn Pháp ở BáiThợng đêm mồng 8/11/1885 do Hà Văn Mao dẫn đầu 1000 nghĩa quân, nhândân Thọ Xuân đã tham gia nghĩa quân và tích cực phục vụ chiến đấu Giữanăm 1886, thực hiện quyết định của hội nghị các sỹ phu yêu nớc của ThanhHoá ở Bồng Trung (Vĩnh Lộc), một bộ phận nghĩa quân ở Thuần Hậu (ThọXuân) đã tham gia chiến đấu ở căn cứ Ba Đình, tiêu biểu là Quản Chơng, ĐỗHuy Phơng cùng con là Đỗ Huy Ven, Đỗ Thị Vức

Căn cứ Mã Cao nằm cạnh sông Cầu Chày thuộc khu vực Đa Ngọc (xãYên Giang, Yên Định) tiếp giáp với 4 huyện Vĩnh Lộc, Cẩm Thuỷ, ThiệuHoá, Thọ Xuân…đã đTrong đó có nhiều cứ điểm nằm trên đất Thọ Xuân nh:Thung Voi (nay thuộc xã Xuân Tiến), Thung Khoai (nay thuộc xã QuảngPhú) Khu vực tổng Thử Cốc đã trở thành hậu phơng của căn cứ Mã Cao Saukhi căn cứ Ba Đình bị thất thủ (21/1/1887) thực dân Pháp tập trung đánh phácăn cứ Mã Cao Để bảo vệ cho toàn bộ lực lợng nghĩa quân an toàn rút khỏiMã Cao, quân và dân Thọ Xuân tại hai cứ điểm Thung Voi và Thung Khoai đãdũng cảm chiến đấu, cầm cự với giặc và bất ngờ rút lui mau lẹ

Chiếm đợc Mã Cao quân Pháp xây dựng nhiều đồn binh ở đây trong đó

có đồn Yên Lợc (Thọ Minh), Phúc Địa Kẻ thù khủng bố dã man nhằm khuấtphục nhân dân nhng chúng đã nhầm, kết hợp với nghĩa quân Hùng Lĩnh (dolãnh tụ Tống Duy Tân lãnh đạo), nhân dân Thọ Xuân đã tổ chức đánh Vạn Lạivào ngày 30/11/1889 Thừa thắng đêm ngày 2/12/1889, nghĩa quân đánh đồnYên Lợc gây cho giặc nhiều thiệt hại rồi nhanh chóng rút về Vạn Lại, tản vào

Trang 22

rừng tránh giặc Quân thù điên cuồng khủng bố, nhân dân quanh vùng Yên ợc- Vạn Lại đã cung cấp lơng thực, nuôi dấu nghĩa quân Tiêu biểu là gia đình

L-ông Trịnh Ngọc Lễ, Mai Thị Điểm (làng Thử Cốc)…đã đ

Không chịu khuất phục nhân dân Thọ Xuân cùng nghĩa quân HùngLĩnh đã xây dựng công sự tại Yên Lãng xã Xuân Yên nay) dọc theo tả ngạnsông Chu để chống giặc Song cuộc chiến đấu kiên cờng của nghĩa quân HùngLĩnh đã chấm dứt vào năm 1892, phong trào Cần Vơng chuyển lên khu vựcmiền núi Nhiều ngời Thọ Xuân đã xung vào đội nghĩa quân của thủ lĩnh CầmBá Thớc ở Thờng Xuân Trong đó có nhân dân Làng Mía (ở Thọ Diên), quê vợCầm Bá Thớc Phong trào “Cần Vơng” chống Pháp trong cả nớc, cũng nh ởThanh Hoá bị quân thù đàn áp đẫm máu và thất bại Nhng phong trào này bịdập tắt, phong trào khác lại vùng dậy, nhân dân Thanh Hoá nói chung, nhândân Thọ Xuân nói riêng lại tiếp tục hởng ứng các phong trào đấu tranh giảiphóng dân tộc theo khuynh hớng t tởng của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh,Nguyễn Thái Học lãnh đạo, góp phần vào thắng lợi chung của nhân dân cả n-

ớc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc

1.3.2 Truyền thống văn hoá

Là vùng đất có nhiều dân c ở nhiều miền đất nớc tìm đến lập nghiệpnên Thọ Xuân cũng là nơi giao lu, hội tụ nhiều sắc thái văn hoá của dân tộc,nhng văn hoá bản địa vẫn là nền tảng cơ bản

Thế kỷ X: nổi lên các nhân vật nh Lê Quan Sát ở kẻ Mía (Xuân Tân) bốnuôi Lê Hoàn ở kẻ Sập (Xuân Lập ) để sau này hình thành cụm di tích văn hoálịch sử thờ cúng Lê Hoàn, Lê Quan Sát vào ngày 8/3 (Âm lịch) hàng năm

Sau khởi nghĩa Lam Sơn, diện mạo văn hoá Thọ Xuân càng thêm khởisắc Cụm di tích lịch sử mang phong cách Đại Việt đã ra đời, đó là khu di tíchlịch sử Lam Kinh, cùng với hệ thống truyền thuyết về khởi nghĩa Lam Sơn và

Lê Lợi cùng với những cuộc biểu diễn văn nghệ vào thời Lê Thái Tổ mừngnhà vua về Lam Kinh Đó là điệu Rí Ren, trò xuân Phả Biểu diễn nh một hoạtcảnh có hoá trang, đeo mặt nạ, xếp sắp đội hình theo kịch bản có giá trị nhiềumặt về nghệ thuật diễn xớng, đóng góp cho văn hoá cổ truyền dân tộc

Khởi nghĩa Lam Sơn trên đất Thọ Xuân đã đóng góp cho xứ Thanh và

đất nớc một kho truyện dân gian quý giá, mở đầu bằng huyền thoại trao gơm,kết thúc bằng huyền thoại trả gơm Văn học dân gian thời khởi nghĩa Lam Sơn

Trang 23

đã khắc hoạ hình tợng ngời anh hùng Lê Lợi trong sự nghiệp giải phóng dântộc một cách đậm nét.

Cùng với văn học dân gian nhiều tác phẩm văn học lớn ra đời đó là tácphẩm “Lam Sơn thực lục” của Lê Lợi thể theo hồi ký Tiếp theo là những tácphẩm của Lê Thánh Tông - nhà vua - nhà thơ - nhà văn với nhiều tập thơ chữHán, chữ Nôm kỳ tài: “Quỳnh Uyển cửu ca”, “Minh Lơng cẩm tú”, “Hồng

Đức quốc âm thi tập”, “Thánh Tông di thảo”…đã đ Đặc biệt là bài “Lam Sơn lơngthuỷ phú” dài gần 400 câu và bộ luật Hồng Đức Lê Hoàng Dục (Thọ Hải), LêQuyển (hơng Lam Sơn) cũng để lại một số bài thơ dài gần 400 câu

Thời Lê ngoài kiến trúc Lam Kinh đồ sộ, số lợng đền, nghè, lăng mộ đểthờ các vị công thần nhà Lê cũng đợc xây dựng nhiều Đó là các đền thờ LêVăn An (Thọ Lâm), lăng Trần Lựu, Lê Sao (Xuân Thiên), Lê Văn Linh (ThọHải), đền thờ tớng quân Nguyễn Nhữ Lãm (Thọ Diên)…đã đ

Thời Lê Trung Hng kinh đô Vạn Lại; An Trờng (Yên Trờng) đã để lạidấu tích một xu thế văn hoá tìm về cội nguồn dân tộc Đó là nghệ thuật khắctrên gỗ, đá, đồng, đất nung…đã đ

Đền thờ Lê Hoàn (tại Xuân Lập) do Thanh Đô vơng Trịnh Tráng ra chỉlệnh mở rộng tu bổ vào năm 1626 gồm 13 gian, kiến trúc kiểu chữ công làcông trình kiến trúc thế kỷ XVII còn tơng đối hoàn chỉnh với hình tợng “rồngổ” là biểu tợng đặc sắc của tính nhân gian trong nghệ thuật trang trí

Năm 1587, giáo sỹ Tây Ban Nha Ordonef cevallos đến ThanhHoá truyền đạo đã yết kiến vua Lê Trang Tông ở Yên trờng, công chúa MaiHoa chị gái vua Lê Thế Tông đã theo đạo và mang tên thánh là FLORAMARIA Bên cạnh tín ngỡng thờ cúng tổ tiên, phật giáo, nho giáo, xuất hiệnthêm Thiên chúa giáo và một loạt nhà thờ đợc xây dựng theo kiểu kiến trúcphơng Tây ở Phúc Địa, Xuân Trờng, Quần Ngọc (Thọ Lâm), Quảng ích (XuânThiên), Hữu Lễ (Thọ Xơng), Bích Phợng, Ngọc Lạp (Xuân Sơn)…đã đ

Là địa phơng có nền văn hoá phát triển lâu dài và liên tục, là mảnh đấtsinh thành nhiều bậc đế vơng nh Lê Hoàn, Lê Lợi, nhiều danh nhân chính trị,quân sự kiệt xuất, cũng là miền đất học và có truyền thống học hành thi cử.Thời phong kiến toàn huyện có 12 ngời thi đậu đại khoa và đợc rải đều ởnhiều xã trong huyện nên tạo ra những điểm sáng trong học hành thi cử Đó là

Lê Bá Giác, Lê Trọng Bích (Khu vực Lam Sơn), Đỗ Đinh Thụy, Trịnh VănLiên (Phú Yên), Lê Quang Hoa, Ngô Đình Chi (Thọ Diên), Lê Hùng Xứng

Trang 24

(Thọ Nguyên), Phan Kiến Toàn (Thọ Trờng), Lê Đức Hiệp (Xuân Giang), ĐỗHuy Kỳ (Xuân Minh), Nguyễn Đức Hoành (Xuân Tân), Đỗ Viết Hờ (XuânTrờng).

Vào thời Lê xứ Thanh có 46 ngời đỗ đại khoa thì Thọ Xuân có 3 vị Tuykhông đỗ đạt nhng số lợng danh sỹ khá đông, nhiều ngời học rộng tài cao nh

Lê Lợi, Lê Văn Linh, Lê Văn An, Lê Hoằng Dục…đã đChính Lê Lợi - vị anhhùng dân tộc đã nêu cao việc “thực học”, “chuộng học” để có trí thức phục h-

ng dân tộc: cách chuộng học, kén tài đầy đủ thực là thời kỳ mở đầu cho nền

thịnh trị muôn đời” Thân Nhâm Trung, Lê Văn Linh ( Thọ Hải) là nhà nho

nổi tiếng, hiểu biết rộng Ông từng viết bài văn: “đuổi hổ”nổi tiếng Sau chiếnthắng giặc Minh, ông đợc vua Lê Thái Tổ giao cùng Nguyễn Trãi xây dựngviệc học Học trò gọi Lê Văn Linh là thầy Mai Trãi và Nguyễn Trãi là ức Trai

Thời Lê Trung Hng, khoa thi đầu tiên đợc mở là chế khoa (thi hội) ởhành cung Yên Trờng (Năm 1554- đời vua Lê Trung Tông), thời Lê - Trịnh,Thọ Xuân có 6 vị tiến sỹ

Dới thời Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 7 (năm 1826), trờng Thọ Xuân

đợc xây dựng bên cạnh phủ lỵ Tuy thi cử phiền hà nhng học trò Thọ Xuân đã

có 15 ngời đỗ đạt ở các kỳ thi, trong đó có một vị đậu đại khoa Cho đến nayvới hệ thống trờng học đợc xây dựng từ địa phơng đến trung ơng đã tạo điềukiện con em trong huyện học hành, thi cử và đỗ đạt Điều đó chứng tỏ rằngnhân dân Thọ Xuân dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng rất hiếu học Nó đã

đúc kết thành truyền thống hiếu học của huyện Thọ Xuân

Trang 25

Ch ơng 2 Một số di tích lịch sử - văn hoá huyện Thọ Xuân

2.1 Đền Lê Hoàn

2.1.1 Nguồn gốc xây dựng và nhân vật thờ tự

Thuật ngữ “đền” trên thế giới rất phổ biến, “đền” ở Việt Nam bắt nguồn

từ trong thuật ngữ của Trung Quốc là từ chữ “điện” mà ra, hay còn gọi là “tự”,

đền, điện, tự là cùng một nghĩa với nhau

Xuất phát điểm của đền là thờ các nhiên thần (vị thần tự nhiên), nhngkhi vào Việt Nam đền không chỉ thờ các vị thần tự nhiên mà còn thờ các nhânvật huyền thoại, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hoá, các tổ nghề Đền làmột loại kiến trúc nhỏ vừa phải, không phổ biến nh đình và là trung tâm thờ tựchủ yếu là thờ thần Nhìn chung đền xuất hiện ở Việt Nam cũng tơng đốimuộn

Đền Lê Hoàn đợc xây dựng từ bao giờ? Cha có tài liệu chính xác để trảlời câu hỏi đó Theo các cụ già ở địa phơng cho biết thì đền đợc xây dựng vào

đời Lý thế kỷ XI, lúc đầu chỉ có quy mô nhỏ bé và kiến trúc đơn giản Các vănbia đã ghi 2 lần trùng tu vào đời Hồng Đức thứ 15 (1484) và Vĩnh Tộ thứ 8(1626) Đền là một công trình kiến trúc nghệ thuật thờ nhân vật lịch sử LêHoàn - một ngời anh hùng trong tập thể anh hùng của nớc Việt Nam cuối thể

Thế kỷ X ở Việt Nam đợc xem là thế kỷ bản lề –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá thế kỷ có nhữngchuyển biến đáng kể trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế, chính trị, vănhoá- xã hội, trong đó Châu ái là một trong những vùng đất sôi động nhất.Nói đến sự cống hiến của Châu ái đối với thế kỷ X phải nhắc đến Lê Hoàn –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoámột nhân vật lịch sử vĩ đại, ngời con anh hùng quê hơng làng Trung Lậphuyện Thọ Xuân

Lê Hoàn sinh ngày 15 tháng 7 năm Tân Sửu tại làng Trung Lập Châu

ái, nay thuộc xã Xuân Lập, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Tuổi thơ ấu

Trang 26

của Lê Hoàn trải qua một hoàn cảnh nghặt nghèo cơ cực: lọt lòng không biếtmặt cha, mới năm 6 tuổi đã mồ côi mẹ, ông đợc nuôi dỡng và trởng thànhtrong sự đùm bọc của bà con thôn xóm quanh vùng Đến năm 16 tuổi, LêHoàn đã cùng chúng bạn đứng trong hàng ngũ quân đội của ngời anh hùng

Đinh Bộ Lĩnh

Đất nớc ta lúc bấy giờ đang sống trong một thời kỳ loạn lạc: Ngô VơngQuyền mất đi, những ngời con của ông không đủ sức quản lý quốc gia, nên ởkhắp nơi các tớng lĩnh nổi lên tranh giành thế lực, mỗi ngời chiếm lấy mộtkhoảnh đất dựng võ và luôn luôn chèn ép, đánh phá lẫn nhau, Đinh Bộ Lĩnhcũng là một trong những xứ quân đó Nhờ tài năng và lực lợng của mình Đinh

Bộ Lĩnh đã nhanh chóng dẹp yên đợc tất cả các xứ quân, thống nhất giang sơn

về một mối, lên ngôi, lập ra nhà Đinh lấy niên hiệu là Thái Bình Trong hàngngũ những tớng giúp mình, Đinh Bộ Lĩnh đã gặp đợc Lê Hoàn là ngời mà ôngkhen là có tài, trí dũng, xứng đáng với lòng tín nhiệm của quân dân Lê Hoàn

đợc Đinh Bộ Lĩnh trân trọng cất lên chức Thập đạo tớng quân, tổng chỉ huyquân đội trong cả nớc Lê Hoàn một thanh niên mới vừa 30 tuổi đã có tàinăng, đức độ để nhận một trọng trách lớn nh vậy, ở độ tuổi này, Lê Hoàn đã

có công lao to lớn đối với đất nớc Ông đã góp phần đắc lực trong sự nghiệpthống nhất quốc gia của Đinh Tiên Hoàng, đem lại hoà bình cho nhân dân,chấm dứt cuộc nội loạn Vai trò thập đạo tớng quân chính là sự ghi nhận cônglao thứ nhất của ông

Công cuộc xây dựng quốc gia thống nhất, ổn định chính quyền cha đợcbao lâu thì cuối năm 979 xảy ra một biến cố lớn Đỗ Thích vì ảo mộng làmvua đã ám hại cả hai cha con Đinh Bộ Lĩnh và Đinh Liễn Triều đình đa conthứ là Đinh Toàn lên làm vua và Lê Hoàn đợc cử làm Phó vơng nhiếp chính.Một số quan lại có t tởng nguy trung với dòng họ Đinh, lo sợ Lê Hoàn sẽ lấn

át Đinh Toàn, nên đã tìm cách phản đối, họ đã rời khỏi Hoa L toan gây bạoloạn Lê Hoàn đã nhanh chóng dập tắt những âm mu nọi loạn để gĩ vững nớcnhà đang ở thế chông chênh

Loạn trong vừa dẹp thì lập tức xảy ra thù ngoài Cả gánh nặng non sông

đè lên vai triều đình mà ngời đứng đầu đất nớc lại đang tuổi thơ ấu Rõ rànglúc ấy nhân dân, binh sỹ cho đến các hàng quan lại, tớng lĩnh chỉ trông cậyvào một ngời chỉ huy xuất sắc: Lê Hoàn Những nhà s lúc này là lực lợng tríthức của đất nớc, những tớng lĩnh lúc này là lực lợng quốc phòng đều thống

Trang 27

nhất với nhau một ý định: Phải giao quyền chèo chống cho một tay lái nhiệmmầu Tất cả đều đồng lòng tôn Lê Hoàn lên ngôi hoàng đế, nắm quyền lãnh

đạo quốc gia, trớc mắt là lãnh đạo cuộc kháng chiến giữ nớc Chiếc áo hoàngbào tiêu biểu cho quyền lực nớc nhà, trong giây phút trọng đại, đã đợc Tháihậu Dơng Vân Nga trân trọng khoác cho Lê Hoàn, và Lê Hoàn khảng kháinhận lấy trách nhiệm trọng đại do quốc dân giao phó Ông trở thành vị vua

đầu tiên của nhà Tiền Lê, và việc đầu tiên của ông là tổ chức gấp rút cuộckháng chiến chống quân Tống xâm lợc

Thực ra không phải chờ đến khi lên ngôi, Lê Hoàn mới có kế hoạch đốiphó với quân Tống Từ ngày nhiếp chính, ông đã dự bị chiến lợc phòng thủ,tấn công, việc lên ngôi chỉ giúp ông có t cách điều hành một cách thuân lợicuộc kháng chiến bảo vệ non sông, vừa đoàn kết đợc quân dân, vừa có tàinăng đức độ, Lê Hoàn đã nhanh chóng giành thắng lợi trong cuộc đấu tranhbảo vệ độc lập chủ quyền của nớc ta Đây là thắng lợi huy hoàng trong lịch sử,làm rạng rỡ giai đoạn cuối thế kỷ X, khẳng định sức mạnh của đất nớc, đặtnền tảng cho sự thống nhất và ổn định lâu dài của dân tộc Thắng lợi ấy cũngkhẳng định vai trò lịch sử của Lê Hoàn, ngời lãnh đạo tài trí trong sự nghiệpgiải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ quốc gia cuối thế kỷ X Từ sau thắnglợi này nền tự chủ của nớc ta đợc công nhận Gần một thế kỷ, nhà Tống phảichấp nhận sự yên ổn, không dám giở trò xâm lợc nớc ta nữa

Lê Hoàn quả là một vị tớng bách chiến bách thắng trong lịch sử của nớc

ta Sự nghiệp của Lê Hoàn không chỉ chói lọi ở mặt giữ nớc mà còn về mặtdựng nớc Lúc đó đất nớc đang ở buổi đầu độc lập tự chủ, nhà nớc trung ơngtập quyền mới đợc xây dựng, kinh tế, văn hoá còn cha phát triển, thì chính LêHoàn với t cách là một ngời đứng đầu dã phát huy tài năng sáng tạo của mình,góp phần đắc lực vào yêu cầu lịch sử dựng nớc của dân tộc

Trớc hết đối với nền thống nhất đất nớc, quy luật phát triển lịch sử củadân tộc ta là độc lập dân tộc phải luôn luôn đi với thống nhất đất nớc, Lê Hoàn

đã đẩy mạnh sự nghiệp thống nhất đất nớc, trớc hết là thống nhất bộ máy nhànớc từ trung ơng đến địa phơng, đổi các đạo thành phủ, lộ, châu, đặt các giáptrởng, lệnh trởng ở những đơn vị cơ sở ( ngày nay là thôn xóm ), Lê Hoàncũng quan tâm đến các vùng dân tộc ít ngời, và bằng những biện pháp đúng

đắn ông dẹp yên đợc các cuộc bạo loạn, cho đến lúc đó ông là ngời đầu tiên

Trang 28

trong lịch sử tỏ ra có ý thức tập trung quyền lực vào bộ máy nhà nớc từ trênxuống dới, cả miền ngợc lẫn miền xuôi.

Việc giao thông, kinh tế dới triều Lê Hoàn cũng là việc mà sử sách ghichép, làm cho chúng ta phải chú ý đến cách nhìn toàn diện trong sự lãnh đạocủa Lê Hoàn Ông rất quan tâm đến nông nghiệp, nghề thủ công, cho tổ chứccả những xởng đóng thuyền, xởng đúc đồng và cho tiếp tục buôn bán thôngthờng với các nớc lân cận Lê Hoàn cũng là ngời đầu tiên đợc sử sách ghi chép

về việc có chủ trơng về việc đào sông đắp đờng Tại Thanh Hoá, một con kênhmới đợc hoàn thành trong thời gian ngắn từ Yên Định đến Tĩnh Gia, mà ngaynay chúng ta thờng gọi là sông nhà Lê ở Nghệ An, Lê Hoàn cũng cho vétsông Đa Cái, tháng 8 năm 982, tớng Ngô Tử An theo lệnh ông, huy động 3vạn dân công đắp đờng lớn Những kết quả tổ chức giao thông nh trên rõ ràng

đã có tác dụng cả về mặt quân sự lẫn thuỷ lợi Lê Hoàn cũng đã cho đúc tiềnThiên Phúc, đồng tiền đầu tiên trong lịch sử nớc ta Vấn đề thuế khoá cũng đ-

ợc quan tâm Đó là những chứng tích cho thấy triều đại nhà Lê đã có ý thứcxây dựng thiết chế chính quyền nhà nớc một cách có tổ chức, quy mô, bềnvững

Kinh thành Hoa L đợc xây dựng lại, có những cung điện tráng lệ xứng

đáng là bộ mặt của thủ đô, Lê Hoàn đã thực sự chuẩn bị nền móng cho đất nớc

ta bớc sang thời kỳ sau này, thời kỳ văn hoá Thăng Long rực rỡ

Trong lịch sử ngoại giao nớc ta trong những năm dới triều đại Lê Hoàncũng chính là những trang sử rực rỡ, rất đáng tự hào Nhà Tống, sau lần thấtbại năm 981 đã phải công nhận Lê Hoàn đứng đầu đất nớc ta, và về thực chất

là công nhận nền độc lập tự chủ của nớc Đại Cồ Việt Liên tiếp những đoàn sứgiả của nhà Tống sang biểu lộ mối bang giao hoà hiếu, khi gặp Lê Hoàn đềuphải tỏ ra kính nể Về phía Lê Hoàn thì chính sách ngoại giao của ông làchính sách khi mềm, khi cứng, biểu lộ một sách lợc tài tình Ông tiếp sứ mộtcách hồn nhiên, cởi mở, nhng thái độ vẫn mạnh mẽ tự hào Ông nhận mình lànớc nhỏ, cõi xa, nhng đã cho các đoàn sứ giả thấy rõ sự hùng mạnh của quân

đội và sức sống kiên cờng của nhân dân cả nớc ở miền biên giới nớc ta, LêHoàn luôn luôn đề cao cảnh giác, thỉnh thoảng lại cho lũ giặc những bài họcthích đáng khiến chúng không giám gây hấn Thực sự, bọn vua quan nhà Tốngphải nể sợ Lê Hoàn

Trang 29

Một nét đặc sắc khác trong hành trạng của Lê Hoàn, so với hầu hết vuachúa phong kiến khác ở nớc ta, là thái độ của Lê Hoàn đối với văn hoá truyềnthống Ông là ngời duy nhất đợc sử sách ghi chép lại là một ông vua đã tự thânxuống đồng, hai lần cày ruộng tịch điền, làm mẫu cho dân chăm lo nôngnghiệp Ông cũng là ngời duy nhất có ghi trong sử là đã đặt lệ bơi thuyền, bơichải, làm vui trong những ngày hội nớc, hội mùa Thật hiếm thấy những cử chỉ

độc đáo nh vậy ở một vị vua thời phong kiến ngày xa Những sự kiện nói trên

đều chứng tỏ ông là ngời rất quan tâm đến nền văn hoá truyền thống và tựthân mình cũng tham gia thể hiện nền văn hoá ấy

Thật đáng tự hào và phấn khởi cho dân tộc ta, quê hơng ta có một nhàlãnh đạo tài năng và xuất sắc nh vậy Cuộc đời Lê Hoàn hiến dâng cho đất nớc

là cuộc đời mãnh liệt, kết tinh cả những vinh quang của thời đại lúc bấy giờ LêHoàn có công lao to lớn trong sự nghiệp chống ngoại xâm, thống nhất quốc gia,

và tổ chức nề nếp quốc gia trong những ngày đầu xây dựng Những chiến cônghiển hách, những thành quả rực rỡ khẳng định vị trí lớn lao và vinh dự của LêHoàn trong lịch sử Với những công lao, đóng góp to lớn của Lê Hoàn, sau khi

ông mất đi, nhân dân trong bốn biển tởng nhớ và ngỡng mộ sâu sắc, bèn lập

đền thờ ở quê nhà ngay trên đất làng Trung Lập, xã Xuân Lập, huyện ThọXuân, tỉnh Thanh Hoá ngày nay, để bốn mùa hởng sự báo đền của thiên hạ

Ngoài việc thờ nhân vật chính là Lê Hoàn, trong đền còn thờ thái hậu DơngVân Nga, Mẫu hậu ( mẹ vua ); bố vua Hoàng Khảo, hoàng tử Lê Long Việt

2.1.2 Đặc điểm kiến trúc điêu khắc

“Điều đáng khen là nhà vua có nhân đức rộng lớn ơn trạch cao dày, dântrong bốn biển tởng nhớ và ngỡng mộ sâu sắc, bèn lập đền thờ ở quê nhà đểbốn mùa hởng sự báo đền của thiên hạ”

Đó là đoạn văn trích trong Sáng lập Lê Đại Hành Hoàng Đế điện miếu

bi minh tự” do Nguyễn Thực soạn Văn bia còn cho chúng ta biết chính xác

ngôi đền thờ Lê Hoàn tại xã Xuân Lập ( Thọ Xuân, Thanh Hoá ) đã có lịch sửxây dựng ít nhất là 355 năm

Từ Thanh Hoá về phía tây lên huyện Thọ Xuân qua cầu Hạnh Phúc độ 4

km thì đến làng Trung Lập, nơi có đền Lê Hoàn Ngôi đền đợc toạ lạc trênkhu đất rộng 2 ha, nằm phía tây bắc làng Trung Lập Toàn bộ khu đền thờ đợcbao quanh bởi môt hàng rào kiên cố Theo truyện truyền ngôn ở địa phơng thì

đên năm trên nét ngang thứ nhất của khu đất hình chữ vơng, hiện rõ thế long

Trang 30

chầu hổ phục đứng trên nền nhà của bà Đặng Thị –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá Thân mẫu Lê Hoàn, ngày

xa nơi đây là rừng cây rậm rạp Ngôi đền quay hớng nam, phía trớc có hồ senthơm ngát, phía tây cũng có hồ khá lớn Bốn hớng xung quanh là cánh đồngthoáng mát, khiến cho đền càng nổi bật bởi tờng ngói rêu phong cổ kính, núpmình dới những lùm cây cổ thụ bóng um tùm làm cho quang cảnh thêm sâulắng, tĩnh lặng, tôn nghiêm

Đến thăm đền sau khi qua hai cột nanh cao vút (mới xây lại năm 1976),trên đỉnh mỗi cột có một con nghê ngồi chầu Đi khoảng 35m là bớc vào ngôinhà 3 gian cột kèo bằng gỗ, lợp ngói đợc chống đỡ bằng 12 cột lim, đấy là cửanghinh môn Nghinh môn làm đơn giản, không có chạm trổ gì đặc biệt, diệntích 50 m2 Cách đấy chừng 10 m về phía tay trái là nhà che bia 4 mái (mớilàm) để bảo vệ 2 tấm bia đá Sau cửa nghinh môn có sân rồng, trớc đây có nhàtả vu, hữu vu thờ Tả hữu Thái giám quan nay đã mất Diện tích sân rồngkhoảng 55 m2, lát bằng loại gạch vuông xa, bản rộng, xung quanh sân xây t-ờng bằng những viên gạch có kích thớc lớn, đoạn sân lát gạch có trang trí hoasen 4 cánh

Toàn bộ ngôi đền ở đây kiến trúc theo kiểu chữ công, dáng thấp, chắckhoẻ, trớc kia có tờng đất bao quanh theo kiểu nội công ngoại quốc, hiện còn

13 gian nhà Đây là kiểu kiến trúc quen thuộc cổ truyền của các đền miếu ở

n-ớc ta

Đứng ở giữa sân rồng, nhìn phía trớc tiền đờng 5 gian nhà với diện tíchmái khá rộng cũng lợp bằng gỗ, lợp ngói mũi hài to bản nhấp nhô tựa nhữnglàn sóng uốn lợn song song đều đặn, tạo nên không gian rộng mát thật thíchhợp với khí hậu nóng ẩm ở nớc ta

Toàn bộ chiều cao của công trình (tiền đờng, trung đờng, hậu cung có

độ dài nh nhau) có vẻ hơi thấp một chút so với các kiến trúc đình đền mà tathờng thấy vì 2 lý do: Một là, nền đền không đợc tôn cao, chỉ có một cấp màcả khu đất 2 ha di tích có độ cao hơn 1 m so với mặt ruộng đợc sử dụng nh cáinền lớn, vì vậy đứng xa quan sát công trình không thấp so với cảnh quan xungquanh Hai là các mái đền đợc kéo rộng ra: Hiên rộng 2,7m, 3 mái còn lại nếutính từ giọt mái vào tờng rộng 1,5m để bảo vệ những tấm lợp quanh nền, tránhnắng ma hắt vào

Tám tàu mái của nhà tiền đờng và hậu cung là những bộ phận đợc đặcbiệt chú ý với độ cong vừa phải Đến đoạn cuối các tàu mái hớng theo chiều

Trang 31

các bờ giải trên đỉnh nóc tạo thành tám đầu đao ở tám góc đền nh nâng bổngcông trình lên Nhờ vậy, tuy phần mái có phần hơi xoè rộng nhng không chútnặng nề Ngời nghệ sỹ dân gian còn làm đẹp thêm tám đầu đao bằng việc mỗi

đầu đao gắn một hình mặt hổ phù bằng đất nung uốn theo độ cong của đầu

đao Tại điểm chót của mỗi đầu đao lại đợc gắn một con nghê nhỏ trong giángngồi chầu hớng bên bờ nóc Đây là điểm độc đáo ởđền thờ Lê Hoàn mà chúng

ta ít thấy ở các đình, đền, chùa khác

Chạy dọc hai bờ giải tiền đờng gắn những con nghê trong các t thế khácnhau: con nằm, con nh đang chạy với vẻ đùa giỡn tạo thành cảnh đàn nghê rấtsống động Những tác phẩm nghệ thuật bằng đất nung này thu hút đợc sự chú

ý của khách tới vãn cảnh đền và của nhiều nhà nghiên cứu và cũng là niềm tựhào của ngời dân địa phơng Phủ gần hết chiều dài bờ nóc có đôi rồng chầumặt nguyệt

Chạy suốt chính diện tiền đờng là hệ thống cửa bức bàn đóng mở, tháolắp dễ dàng, giúp cho sự lu thông gió và ánh sáng, khắc phục sự ẩm ớt, mốimọt của khu đất xa kia vốn là rừng cây rậm rạp Chạy suốt ở các mặt côngtrình đợc liệt bản bằng nhiều loại gỗ quý, bền chắc Trên các đầu hồi mái nắpcác vĩ ruồi chạm trổ hoa lá tinh vi

Tiền đờng 5 gian, trung đờng 3 gian, hậu cung 5 gian, cộng tất cả lại là

13 gian nhà với 54 cột lim có đờng kính rộng chống đỡ rất chắc chắn

Nhà tiền đờng có 4 hàng cột theo chiều ngang chia ra một hàng cộthiên, một hàng cột cân, và 2 hàng cột cái với 24 cột lim, tất cả đều đợc kêbằng các chân tảng đá

Diện tích tiền đờng là 98 m2(7m x 14m), trung đờng diện tích 39 m2(6,1

x 6,1m) diện tích hậu cung bằng tiền đờng Diện tích toàn công trình là235m2

Các vì kèo tiền đờng cấu trúc theo lối chồng giờng giữa các con giờng

đều có đầu kê đệm Có xà nách, kẻ truyền liên kết các xà ngang, xà dọc thànhkhối vững chắc, riêng hai kẻ kéo dài ra hai góc hiên phía trớc chỗ cắt nganghàng cột cân cũng đợc cấu trúc 1/2 vì kèo có tác dụng kê đệm chống sụt máigóc

Sáu kẻ truyền đợc kéo dài và hơi cong về phía trớc hiên Nhng chỉ có 3

kẻ truyền đợc trang trí cẩn thận với những mô típ rồng phợng, hoa lá 3 kẻtruyền còn lại để trơn hoặc chỉ trang trí sơ sài vài ba dãy hoa lá

Trang 32

Một bức chạm bong đợc trình bày phía ngoài hiên, kéo dài gần hếtchiều rộng ở phía trên khung cửa chính với mô típ “rồng ổ” khá đẹp.

Trung đờng và hậu cung các vì kèo làm đơn giản theo lối dầm đơn cóchống nóc, không có trang trí, riêng 2 con gẩy đỡ vì kèo thứ 2 ở trung đờng đ-

ợc “biến hoá” thành 2 đầu rồng với kỹ thuật chạm thủng có dáng thẳng, nhô từthân 2 cột cái ra

Những sự khác biệt trong kết cấu các vì kèo cũng nh sự thể hiện trong

mỹ thuật trang trí ở các bộ phận kết cấu công trình phải chăng là những dấuhiệu của những lần trùng tu hay hai hiệp thợ cùng làm theo 2 phong cách

Ngăn cách giữa trung đờng và hậu cung là bức cửa cấm gồm 6 cánh cửabức bàn bằng kỹ thuật chạm thủng với những mô típ rồng phợng xoè rộngcánh trong áng mây, long mã đang phi Phía trên cửa cấm kéo lên sát vì kèoliệt gõ kín, trên đó chạm bong đôi rồng chầu mặt nguyệt

Đền thờ Lê Hoàn chẳng những là một di sản văn hoá có giá trị về kiếntrúc mà ở đây còn lu lại một số tác phẩm nghệ thuật (điêu khắc, chạm khắc)mang tính thẩm mĩ cao

Bớc qua nghinh môn vào giữa sân rồng, dới bóng mát sum suê củanhững hàng cây, mái đền hiện ra với dáng cổ kính trang nghiêm và tâm trí tacàng bị thu hút bởi ngời nghệ sỹ xa đã làm đẹp thêm cho nóc đền bằng việctrang trí 10 con nghê (nay chỉ còn 9 con) bằng đất nung đến độ lửa già khiếnmàu tựa đồng hun Mời con nghê là mời tác phẩm đặc sắc đợc phân đều trênhai bờ giải ở điểm chót của mỗi đầu đao đều gắn 1 con trong dáng ngồi thugọn nh đang chầu, nhỏ bằng nắm tay, đầu nghê hơi lá nh sắp đớp vào đuôicon nghê thứ hai có dáng hình to hơn (dài khoảng 60cm) đang trong t thế bòrất thận trọng: hai chân trớc hạ thấp đa ra phía trớc để lộ 4 móng nhọn quắpchặt vào bờ giải, hai chân sau thu lại, đầu và cổ vơn ra phía trớc Cả phần thânsau nhô cao, miệng há rộng Toàn thân con vật nh căng ra để lộ hàng vây lngchạy suốt từ cổ đến sát phần đuôi, nhấp nhô nh hình ngọn lửa tạt về phía sau.Mắt nghê mở to, tròn chăm chú nhìn về phía trớc

Dừng điểm quan sát lại khoảng giữa bờ giải ta gặp đôi nghê bố cục gầnnhau: một con nằm sấp bốn chân choãi ra dáng thoải mái, cổ hơi rụt vào, đầuhớng sang bờ giải bên kia Cạnh đó là con nghê khác nh vừa chồm từ trên phía

bờ nóc xuống đùa giỡn với con nằm, toàn thân uốn lợn phô rõ phần ngực chắc

Trang 33

lẵn, vây sống lng uốn thành hình mặt trời với những tia hình ngọn lửa to bản.Những vây cung to nhọn nh bị những luồng gió thổi tạt về phía sau.

Con nghê thứ năm trong t thế bò từ đầu bờ nóc ra đôi rồng chầu mặtnguyệt Từ những chi tiết đầu, thân mình giống con thứ hai nhng vây lng lạiuốn tròn dô cao hẳn lên mang lại cảm giác cho ngời xem con vật đang rất

“say” với động tác bò của nó

Bên bờ giải đối diện ngời nghệ sỹ lại tái hiện cảnh đàn nghê nh vậy.Những tác phẩm hình con nghê ở đây không đợc thể hiện với phongcách tồn tại độc lập từng con một Mọi hoạt động của những con nghê trênnóc đền Lê Hoàn đều hớng vào nhau, với dáng điệu lộ rõ vẻ hiền hoà, vui vàrất động

Ngời thợ thể hiện những tác phẩm này rõ ràng có bàn tay chuyên luyện đã

đa vào tác phẩm của mình sự hồn hậu trong phong cách Những chi tiết nh vây,

đuôi, vẩy…đã đ con vật rất đợc chú ý gia công trau chuốt, không hề lộ một chút cẩuthả buông lơi, ở mái sau tiền đờng, trên hai bờ giải ngời nghệ sỹ dân gian cũng

để lại bốn tác phẩm hình nghê với phong cách nh vậy Mang tình cảm đôn hậu,

đậm đà màu sắc dân gian, những ngời dựng đền thờ Lê Hoàn ở đầu thế kỷ XVIIcòn sáng tạo ra những bức chạm bằng gỗ thật đẹp

Ngay phía ngoài hiên, kéo gần hết chiều ngang gian giữa, trên bộ cánhcửa bức bàn có một bức chạm bong mô tả ba thế hệ rồng Hai rồng lớn chầulại, bám quanh rồng lớn là rồng nhỡ, rồng nhỏ Tất cả đều cắm vào vây, vẩy vàrâu rồng lớn và đều hớng về phía trớc tạo ra hai ổ rồng chầu nhau, trông thậthoà hợp, hạnh phúc

Hai ổ rồng lại đợc phủ lớp chạm hồi văn với những mây ám, khiến cho

ổ rồng thêm phần sống động Hình tợng “rồng ổ” là biểu tợng của tính dângian trong nghệ thuật trang trí ở thế kỷ XVII trong một số đình chùa còn lại ởnớc ta

Trong nhà tiền đờng và trung đờng có long đình đặt bài vị thờ vua Lê

Đại Hành, trớc đây long đình có bàn thờ văn võ bá quan, có bát hơng đất, đĩabằng đá, bảng văn, kiệu, một ít đồ khí và các hộp đựng sắc phong Tất cả đềuchạm trổ và sơn son thiếp vàng

Trang 34

Một cánh cửa bức bàn gồm 6 cánh ngăn cách trung đờng với nhà hậucung Bằng kỹ thuật chạm thủng thể hiện những con phợng xoè rộng cánh nhhình cánh sen trong dây cúc trải dài nh những dải phớn nhà phật, những conlong mã đang phi nớc kiệu, bờm tung thành những dải song song kéo dài.

Hai con s tử đang vờn nhau Những hoa cúc đợc thể hiện rất trau chuốt,những bức chạm ở cửa cấm đạt đến trình độ kỹ thuật điêu luyện, ngời nghệ sĩkhông hề để xảy tay dù một nét nhỏ trong tác phẩm của mình

Đền thờ Lê Hoàn đợc trùng tu và mở rộng ở thế kỷ XVII là thời kỳphong phú của mỹ thuật Việt Nam với những công trình kiến trúc điêu khắc

đẹp với những yếu tố dân tộc thể hiện rất rõ Hơn nữa đền lại là công trìnhmang tính chất làng xã với tình cảm gắn bó của nhân dân trên quê hơng vị anhhùng dân tộc có công rất lớn nhng cũng tại quê hơng này cũng chứng kiếnthời thơ ấu đói nghèo của cậu bé Lê Hoàn Có lẽ đó cũng là lý do sâu xa củalịch sử để tạo nên những hiệu quả nghệ thuật hoàn mĩ trong kiến trúc, trongmột số bức chạm còn lại của thế kỷ XVII ở ngôi đền thờ Lê Hoàn

Cho đến ngày nay, ngôi đền Lê Hoàn vẫn tồn tại trải qua bao nhiêuthăng trầm của lịch sử, nó nh một minh chứng cho công lao đức độ to lớn của

vị anh hùng dân tộc Lê Hoàn, một ông vua của một triều đại Và cũng để cho

đời sau hiểu biết thêm về nghệ thuật kiến trúc điêu khắc rất tinh vi của cácnghệ nhân ở thế kỷ XVII

2.1.3 Các hiện vật lịch sử trong đền

Tại đền thờ Lê Hoàn hiện nay vẫn lu giữ đợc nhiều hiện vật lịch sử đángquý nh hai tấm bia đá, các đạo sắc, một chiếc đĩa đá…đã đ là những hiện vật có ýnghĩa lịch sử cao

 Hai tấm bia đá

Từ ngoài cổng vào, ở phía trái nhà nghinh môn chừng 100m còn haitấm bia đá gồm một bia lớn và một bia nhỏ

Trang 35

Bia nhỏ cao 1,37m, rộng 0,8m, dày 0,2m dựng trên bệ đá khối hình chữnhật đề niên hiệu Hoằng Định nhị niên (1602) do tiến sỹ Phùng Khắc Khoansoạn Nội dung nói về việc chuyển cấp 67 mẫu công điền chuyên thờ phụngcúng tế, đèn hơng quanh năm thờ cúng vua Lê Đại Hành tại đền thờ ở TrungLập Văn bia ghi rõ tên từng xứ đồng nh dọc cốm, dọc binh Văn bia có đoạn

viết đợc Trịnh Ngữ, Sở Văn hoá Thông tin Thanh Hoá dịch nh sau: Năm

Hồng Đức thứ 15 cho phép già trẻ binh dân xã này đợc làm tạo lễ phục dịch

tế tự, lại cấp cho các sứ ruộng công là 67 mẫu để làm ruộng thờ cúng để tỏ rõ công đức của đấng thần linh Năm Quang Hng thứ 16 cũng chuẩn cấp nh vậy.

Đến nay năm Quý Hợi Vĩnh Tộ thứ 5, nội vụ loạn trong nhà chúa gây nên vận nớc gian truân May nhờ có nguyên soái thống quốc chính Thanh đô vơng, nối đợc chí của tổ tiên, chỉ huy đội quân nhân nghĩa, gió bụi cõi đông đợc quét sạch dựng lại vũ trụ trời Nam, đón rớc xa giá trở lại kinh thành, cũng nh đô nhà Hạ đợc khôi phục, cung thất nhà Chu đợc bền lâu.

Nay cử lễ lớn cúng tế các thần, nhận thấy đền này vốn là thờ vị vua triều trớc, cho già trẻ lính dân đợc làm tạo lệ, phục dịch tế tự nh trớc Việc

đắp đê đờng cũng nh các su sai tạp dịch khác đều đợc miễn trừ không ai đợc quấy nhiễu gây trở ngại, kẻ nào trái lệnh sẽ bị xử phạt Huyện này phải sửa sang đền miếu để làm nơi cho nhà nớc tế lễ, nhân dân cầu đả

Bia lớn cao 1,91m, rộng 1,17m, dày 0,22m dựng năm Vĩnh Tộ thứ8(1826) do Thợng th Nguyễn Thực soạn, ngời viết bia là Đỗ Nghiêm, ngờikhắc bia là Bùi Văn Đắc Nội dung văn bia nói lên quê hơng và công lao sựnghiệp của Lê Hoàn và việc lập đền thờ ở quê hơng để đền đáp công ơn của

ông đối với dân với nớc Mặt trái bia ghi rõ các chức sắc công tiến nh họ Đỗ

203 vị, họ Lê 21 vị, họ Chu 15 vị, họ Mai 13 vị Trán bia chạm hình hai conrồng chầu mặt nguyệt (lỡng long chầu nguyệt) trong t thế vơn cao về phía tr-

ớc, uốn khúc gọn gàng, vây vẩy trông lồ lộ, rõ nét với những vân mây cách

điệu khéo léo, thể hiện đờng nét chạm khắc thanh thoát và khoẻ khoắn Diềmbia trang trí hoa cúc dây Bia có hai mặt chữ, mặt sau bị mờ nhiều chỗ, mặt tr-

ớc còn khá rõ Nét chữ to trên cùng nổi rõ hàng chữ Sáng lập Lê Đại Hành

hoàng đế điện miếu bia minh tự ” Chữ trên mặt bia khắc theo lối chữ chân dễ

đọc ở giữa bia phía dới mô tả đất Trung Lập là đất đế vơng nơi sinh ra LêHoàn và ca ngợi công tích đức độ của vua Ngoài phần văn xuôi còn có bàiminh ở phía bên phải bia Toàn bộ bia không dựng trên lng rùa đá mà dựng

Trang 36

trên một phiến đá hình khối chữ nhật Mặt trớc bệ chạm hình rồng uốn lợn.Diềm trên mặt bệ khắc nổi hình ba lớp cánh sen kéo hết chiều rộng của bệ.

Về phần văn bia tế, tiến sỹ Nguyễn Thực cũng tuân thủ theo thông lệcủa một bài văn bia: Phần đầu là phần “t”, phần thứ hai là bài “minh” Nộidung văn bia có những vấn đề sau: Mở đầu đoạn văn triết lý về các nơi khởixuất ra các bậc anh hùng đế vơng đời trớc trong sử Trung Quốc nh Đế Thuấnsinh ra ở đất Ch Phùng đợc vua Nghiêu nhờng ngôi Văn Vơng nổi lên ở Kỳ

ấp cũng đợc thành công ở Hoa Hạ Hán Cao Tổ nổi lên ở Phong Bái ĐấtThuỵ Nguyên (Thọ Xuân) sinh ra vua vua Lê Đại Hành sánh ngang vua Tốngvua Đờng Văn bia cũng nhắc đến chuyện bà Đặng Thị mộng hoa sen sinh ra

Lê Hoàn và biện giải việc Lê Hoàn lên ngôi là hợp lẽ Tiếp đến văn bia viếtngắn gọn súc tích nói về những công tích của vị anh hùng cứu nớc Lê Hoàn:nắm quyền uy mời đạo, lên ngôi báu do lòng ngời suy tôn, bắt sống vuaChiêm, rửa nhục cho việc sứ giả Đại Việt bị vua Chiêm Thành bắt giữ, đánhbại quân Tống Trong nớc dân yên vui, cả dân thiểu số cũng quy thuận VuaTống phải phong Lê Đại Hành làm Nam Bình Vơng, làm vua 24 năm, thọ 64tuổi Đoạn tiếp nói nhà Lê đổ, nhà Lý lên là điều hợp lẽ vì Lê Ngoạ Triều bạongợc

Đoạn cuối nói về việc dựng đền và số ruộng đất của đền đợc nhà nớcphong kiến bảo hộ để tế tự Có thể nói tấm bia do Nguyễn Thực soạn và đựơcdựng năm Vĩnh Tộ thứ 8 (1626) là một t liệu hết sức quý báu Qua đoạn bia,không những chúng ta đợc biết rõ hơn về nguồn gốc quê hơng và công lao sựnghiệp của Lê Hoàn mà còn thấy sự ngỡng mộ, thành kính của nhân dân vàcác triều đại phong kiến sau này đối với ngời anh hùng của đất nớc

 Đạo sắc phong.

Hiện nay trong đền thờ Lê Hoàn còn lu giữ đợc 14 đạo sắc phong củacác triều đại phong kiến, trong đó có 9 đạo sắc phong thời Hậu Lê và 5 đạosắc phong đời Nguyễn Mỗi đạo sắc phong làm bằng giấy màu vàng có longvân, giấy rất bền, khó cháy, bên trái có triện của vua và ghi rõ niên đại củatriều vua

Chín đạo sắc phong của thời Hậu Lê gồm có: Dơng Đức tam niên(1674), Chính Hoà tứ niên (1685), Vĩnh Thịnh lục niên (1710), Long Đức tamniên (1734), Cảnh Hng nguyên niên (1740), Cảnh Hng nhị thập bát niên

Trang 37

(1767), Cảnh Hng tam thập nhị niên (1772), Cảnh Hng tứ thập tứ niên (1783),Chiêu Thống nguyên niên (1787).

Sau đây là sao chép phiên âm mỹ tự trong sắc phong của các triều Hậu

Lê ca ngợi công lao tài đức của vua Lê Đại Hành (do Trịnh Ngữ - Sở Văn hoáThông tin Thanh Hoá dịch)

“Sắc Lê Đại Hành hiến thiên - khâm văn - duệ vũ - minh đức - anh triết

- chiêu thánh - vĩ liệt - ứng vận - tín đạo - chờng cảm - hùng hiệu - tráng dũng - hoành mô - tuấn công - thuần nghiệp - quảng huệ - bác tế - ý phạm - xung mục - vi cung - khoan dụ - gia khánh - sùng hơ - tuyên trạch - diễn phúc

- chi trách - tuấn đức - phổ huệ - tuấn triệt - thông minh - c ơng nghị - quả

đoán - tuy dân - hậu trạch - chế thắng - viễn mu - vĩnh nghiệp - hiển kỳ - bảo dân - hộ quốc - triệu tích - quảng vân - thuỳ hu - chi thánh - hiểu đức - phong công - dực vận - khuông quốc - trị thuận - dũng lợc - tế thế - an dân - hiển mô

thừa liệt hoành lựu nhân triệt minh viễn t tờng diên thọ hào kiệt chí minh - pháp chính- thi nhân - đồ tự - lý quốc - duyệt vũ - sùng văn - bố

đức mỹ công từ hoà hùng đoán vi diệu hoằng hoá uy đức duyên h ớng - viễn uy - an nội - phục ngoại - anh nhân - thánh văn - thần võ - ứng thiên - thuận nhân - chính thống - thu mạnh Hoàng đế”

Vĩnh Thịnh lục niên bát nguyệt sơ thập nhật

Các đời vua sau lại gia phong mỹ tự nữa nh: đốc khánh - duyên lu linh đức - hiền ứng - duệ mô - anh liệt Hoàng đế”

Long Đức tam niên tứ nguyệt thập lục nhật

Trung chính- thuần tuý - đơn mẫu - khôi khoái - khoáng đạt - linh

quang - bác hoá - dụ phúc - long trạch - triệu vận - long cơ - thuỳ tụ - hồng mô - đại liệt Hoàng đế

Cảnh Hng nguyên niên –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá nhị thập bát niên –văn hoá ở huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá tứ thập tứ niên

hách thanh - trạc linh - minh mẫn Hoàng đế

Chiêu Thống nguyên niên tam nguyệt nhị thập nhị nhật.Năm đạo sắc phong thời Nguyễn: Gia long cửu niên (1810) Thiệu Trịnhị niên (1841), Tự Đức tam niên (1850), Tự Đức tam thập tam niên (1880),

Đồng Khánh nhị niên (1887)

Qua các mỹ tự phiên âm trong sắc phong của các triều đại ta thấy dù ởtriều đại nào cũng đều phong Lê Hoàn bằng các mỹ tự đẹp đẽ để đời đời concháu ghi sâu và nhớ ơn, kính trọng

Trang 38

Nay lệnh Vĩnh Thịnh năm thứ 7, tháng 6 ngày mồng 3.

đều dùng để mua sắm hơng đèn lễ vật để cúng tế Nay lại cho dành 30 suất

đinh để phục dịch bảo vệ đền miếu Hàng năm các việc bồi trúc đê đờng, cùng

su sai tạp dịch khác cũng nh việc kính biếu thủ trâu bò đều đợc miễn cả Ai vi phạm sẽ bị phép nớc trừng trị”

Nay lệnhCảnh Hng năm thứ 28, tháng 8, ngày mồng 6Qua hai đạo lệnh chỉ trên, cho chúng ta thấy việc thờ cúng bảo vệ, chămsóc, đền lăng và những ngời bảo vệ đền lăng đều đợc u tiên miễn trừ các loại

su dịch cũng nh đắp đê, đắp đờng Đặc biệt đạo lệnh chỉ nghiêm cấm việc xâmphạm, phá phách, nếu ai trái lệnh sẽ bị xử phạt

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Ban nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Thanh Hoá(1994), Lịch sử Thanh Hoá, tập 2 (từ thế kỷ I đến thế kỷ XV), NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ThanhHoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1994
5. Ban nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Thanh Hoá(1994), Lịch sử Thanh Hoá, tập 3(từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII) NXB Khoa học xã hội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử ThanhHoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn Lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 1994
6. Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hoá(2004), Thanh Hoá di tích và danh thắng, tập 3, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá di tíchvà danh thắng
Tác giả: Ban quản lý di tích và danh thắng Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2004
7. Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hoá(2001), Thanh hoá di tích và thắng cảnh, tập 1, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh hoá di tích và thắngcảnh
Tác giả: Bảo tàng tổng hợp tỉnh Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2001
8. Quỳnh C - Đỗ Đức Hùng(1984), Các triều đại Việt Nam, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh C - Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: NXB Thanhniên
Năm: 1984
9. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chơng loại chí, tập 1. H- 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
10. Ngô Sĩ Liên(1998), Đại Việt sử ký toàn th, tập 2, NXB khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn th
Tác giả: Ngô Sĩ Liên
Nhà XB: NXB khoa học xã hội
Năm: 1998
11. Hoàng Khôi(2003), Nét văn hoá Xứ Thanh, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nét văn hoá Xứ Thanh
Tác giả: Hoàng Khôi
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2003
12. Vũ Ngọc Khánh(2000), Đền miếu Việt Nam, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đền miếu Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2000
13. Huyện uỷ HĐND - UBND Huyện Thọ Xuân, Địa Chí huyện Thọ Xuân, NXB khoa học xã hội- 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa Chí huyện Thọ Xuân
Nhà XB: NXB khoa học xã hội- 2005
14. Đảng uỷ - HĐND - UBND – MTTQ(2005), Bàn Thạch Xuân Quang x- a và nay, Hội văn học nghệ thuật Thanh Hoá xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn Thạch Xuân Quang x-a và nay
Tác giả: Đảng uỷ - HĐND - UBND – MTTQ
Năm: 2005
15. Hơng Nao(1997), Những thắng tích của Xứ Thanh, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thắng tích của Xứ Thanh
Tác giả: Hơng Nao
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1997
16. Nguyễn Văn Hảo- Lê Thị Vinh(2003) Di sản văn hoá Xứ Thanh, NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản văn hoá Xứ Thanh
Nhà XB: NXBThanh niên
17. Nguyễn Khắc Thuần(2000), Việt sử giai thoại, Tập1, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt sử giai thoại
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 2000
18. Nguyễn Khắc Thuần(1997), Danh tớng Việt Nam, tập 1, NXB giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh tớng Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Thuần
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1997
20. Quốc sử quán triều Nguyễn(1992) Đại nam nhất thống chí, tập 2, NXB Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại nam nhất thống chí
Nhà XB: NXBThuận Hoá
21. Lê Xuân Kỳ- Hoàng Hùng(2005), Vua Lê Đại Hành và Quê hơng làng Trung Lập, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vua Lê Đại Hành và Quê hơng làngTrung Lập
Tác giả: Lê Xuân Kỳ- Hoàng Hùng
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2005
3. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá(2002), Đất và ngời xứ Thanh Khác
19. Trần Mạnh Thờng(1998), Đình chùa, Lăng tẩm nổi tiếng Việt Nam, nhà xuất bản văn hoá thông tin Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w