Đối tượng nghiên cứu Nguyên tắc, quy trình thiết kế và phương pháp sử dụng bộ tranh trongdạy học trong phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật, nhằm nângcao chất lượng dạy học
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh PHẠM THỊ THÚY
THIẾT VÀ SỬ DỤNG BỘ TRANH ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN CHUYỂN HểA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở THỰC
- Ban giỏm hiệu, Phũng Đào tạo, Khoa Sau đại học, Khoa Sinh học và cỏc Giảng viờn trường Đại Học Vinh, đó nhiệt tỡnh truyền đạt những kiến thức quý bỏu cho tụi trong suốt quỏ trỡnh học tập và hoàn thành Luận văn này.
Tụi xin chõn thành gửi lời cảm ơn sõu sắc tới GS TS Đinh Quang Bỏo Người đó tận tỡnh, hướng dẫn tụi trong suốt quỏ trỡnh nghiờn cứu và hoàn thành Luận văn.
Nhõn dịp này tụi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giỏm hiệu, quý thầy cụ, cỏc
em học sinh cỏc trường Trung học phổ thụng, nơi tụi tiến hành thực nghiệm sư phạm.
Cuối cựng, tụi xin chõn thành cảm ơn gia đỡnh, bạn bố và đồng nghiệp đó động viờn, khuyến khớch tụi trong suốt quỏ trỡnh học tập và nghiờn cứu.
Mặc dự tụi đó cú nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tỡnh và năng lực của mỡnh, tuy nhiờn khụng thể trỏnh khỏi những thiếu sút, rất mong nhận được những gúp ý, nhận xột của qỳy thầy cụ và cỏc bạn.
Xin chõn thành cảm ơn.
Nghệ an, Ngày 10 thỏng 12 năm 2011
Tỏc giả
Phạm Thị Thỳy
Trang 2MỤC LỤC
TrangMỤC LỤC iiCÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN v
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp của đề tài 4
PHẦN II NỘI DUNG 5
Chương 1: CƠ SỠ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Cơ sở lí luận của PTTQ trong dạy học 5
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan 12
1.1.2 Khái niệm, phân loại tranh và vai trò của tranh dạy học 15
1.1.2.1 Khái niệm về tranh 15
1.1.2.2 Phân loại tranh 17
1.1.2.3 Vai trò của tranh vẽ trong hoạt động nhận thức của học sinh 19
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu và sử dụng tranh vẽ trong dạy học sinh học 20
1.2.1 Thực trạng về tình hình trang bị và sử dụng tranh trong dạy - học sinh học 21
1.2.1.1 Thực trạng về tình hình trang bị tranh trong dạy - học sinh học 21
1.2.1.2 Thực trạng về tình hình sử dụng tranh trong dạy - học Sinh học 22
1.2.1.3 Thực trạng về kết quả và thái độ học tập của học sinh với môn học 24
Chương 2: THẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BỘ TRANH ĐỂ DẠY HỌC CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở THỰC VẬT - SINH HỌC 11 THPT 26
2.1 Thiết kế bộ tranh của phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật 26
2.1.1 Những nguyên tắc thiết kế tranh 26
Trang 42.1.1.1 Quán triệt mục tiêu dạy học 26
2.1.1.2 Đảm bảo tính chính xác của nội dung 28
2.1.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm 28
2.1.1.4 Phục vụ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay 29
2.1.1.5 Đảm bảo tính trực quan và thẩm mĩ 32
2.1.2 Quy trình thiết kế tranh dạy học 33
2.1.2.1 Phân tích nội dung chương trình 33
2.1.2.2 Xây dựng tranh 40
2.2 Sử dụng tranh theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh 43
2.2.1 Các nguyên tắc sử dụng tranh vẽ 43
2.2.1.1 Sử dụng tranh hình đúng mục đích 43
2.2.1.2 Sử dụng tranh đúng lúc 44
2.2.1.3 Vị trí treo tranh hợp lí 45
2.2.1.4 Kết hợp sử dụng với các PTDH khác 46
2.2.2 Quy trình sử dụng tranh 46
2.2.2.1 Qui trình sử dụng tranh trong phương pháp trực quan 47
2.2.2.2 Qui trình sử dụng tranh theo logic phương pháp tổ chức học sinh làm việc độc lập với sách giáo khoa 48
2.2.3 Các kỷ thuật biểu diễn tranh vẽ 52
2.2.3.1 Cùng một lúc không giới thiệu nhiều tranh 52
2.2.3.2 Tranh vẽ được biễu diễn dưới dạng dán ghép 52
2.2.3.3 Biễu diễn tranh không chú thích 53
2.2.3.4 Tranh vẽ được biễu diễn để tổ chức phương pháp vấn đáp tìm tòi 54
2.2.3.5 Tranh vẽ được biễu diễn kết hợp với các công tác độc lập được ghi sẵn trên phiếu học tập 54
2.2.4 Các phương pháp sử dụng tranh theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh 55
2.2.4.1 Tranh được sử dụng theo mục đích lí luận dạy học 55
2.2.4.2 Tranh được sử dụng rèn luyện các thao tác tư duy cho HS 61
Trang 52.3 Mối quan hệ giữa kênh hình và kênh chữ 65
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 66
3.1 Mục đích 66
3.2 Nội dung thực nghiệm 66
3.3 Phương pháp thực nghiệm 66
3.3.1 Xác định đối tượng sư phạm 66
3.3.2 Bố trí thí nghiệm 67
3.3.3 Các bước thực nghiệm 67
3.3.3.1 Thực nghiệm thăm dò 67
3.3.3.2 Thực nghiệm chính thức 67
3.3.4 Xử lí số liệu 68
3.3.4.1 Về mặt định lượng 68
3.3.4.2 Về mặt định tính 69
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 70
3.4.1 Phân tích kết quả bài kiểm tra 70
3.4.1.1 Phân tích định lượng các bài kiểm tra 70
3.4.1.2 Phân tích định tính các bài kiểm tra 75
3.4.2 Thăm dò ý kiến giáo viên bộ môn khi sử dụng bộ tranh trong dạy học 80
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 82
1 Kết luận 82
2 Kiến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 6CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1 Bộ tranh giáo khoa dạy sinh học lớp 11 – cơ bản (khổ A0) và các
PTDH khác 21
Bảng 1.2 Thực trạng về mức độ sử dụng tranh giáo khoa trong dạy học của GV ở 4 trường THPT 22
Bảng 1.3 Thực trạng về phương pháp sử dụng tranh trong dạy học sinh học ở 4 trường THPT 23
Bảng 1 4 Bảng điều tra thái độ và kết quả học tập bộ môn Sinh học 24
Bảng 2.1 Thiết lập bố cục các tranh 40
Bảng 2.2 Sử dụng bộ tranh giáo khoa phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật, theo mục đích lí luận dạy học 60
Bảng 3.1 Kết quả các bài kiểm tra trong thực nghiệm 70
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả các bài kiểm tra trong thực nghiệm 71
Bảng 3.3 Phân phối tần suất tích lũy tổng hợp kết quả trong thực nghiệm 72
Bảng 3.4 Bảng phân loại trình độ HS qua các lần kiểm tra trong TN 73
Bảng 3.5 Kết quả các bài kiểm tra sau thực nghiệm 74
Bảng 3.6 Bảng phân loại trình độ HS qua bài kiểm tra sau TN 74
Bảng 3.7 Phân phối tần suất tích lũy tổng hợp kết quả sau thực nghiệm 74
Trang 8PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, sựphát triển năng động của nền kinh tế, xu thế hội nhập toàn cầu hóa về mọi mặtcủa đời sống, đòi hỏi mỗi con người phải tích cực, năng động, phát huy đượcsức mạnh của chính mình Do vậy, việc dạy và học phải đáp ứng được nhucầu trên
Đứng trước xu thế đổi mới phương pháp dạy học chung của thời đại,nền giáo dục nước ta phải tiến hành đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạtđộng học của học sinh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: Đổi mới tưduy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu của chương trình, nội dung,phương pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo đượcchuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nước nhà, tiếp cận với trình
độ giáo dục của khu vực và thế giới trong đó ưu tiên hàng đầu cho việcnâng cao chất lượng dạy và học Đổi mới phương pháp dạy và học, nâng caochất lượng đội ngũ giáo viên tăng cường cơ sở vật chất của nhà trường pháthuy khả năng sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh
Đặc điểm của môn Sinh học là tìm hiểu nghiên cứu thế giới sống Đốitượng là các đặc điểm về hình thái, giải phẩu, các quá trình trao đổi chất đó
là điều kiện tất yếu cho việc sử dụng các phương tiện trực quan nhất là tranhvào trong dạy và học Trong chương trình Sinh học phổ thông, nội dung sinhhọc 11 chứa đựng rất nhiều kiến thức mới và trừu tượng, học sinh khó để tiếpnhận kiến thức Do đó người giáo viên buộc phải khai thác và sử dụng tranhmột cách hiệu quả để tích cực hóa hoạt động học của học sinh, khắc phụcđược phương pháp dạy và học truyền thống
Trong nhà trường phổ thông trung học hiện nay, thiết bị dạy học đượctrang bị rất sơ sài, nhất là tranh để dạy và học thì rất ít, không đáp ứng đượcnội dung bài học Giáo viên còn dạy học theo kiểu nhồi nhét kiến thức, lýthuyết chưa gắn được với thực hành, chưa rèn luyện được tư duy khoa học,
Trang 9chưa phát triển được năng lực giải quyết vấn đề Ngại sử dụng kênh hìnhtrong các giờ dạy, có xu hướng dạy chay Dẫn đến hạn chế phát triển tư duycủa học sinh, dần mất đi những sáng tạo, sự tích cực chủ động trong bản thânngười học
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: "Thiết kế
và sử dụng bộ tranh để tổ chức dạy học phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật - Sinh học 11 THPT"
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và xây dựng được bộ tranh để sử dụng dạy học phầnchuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật, Sinh học 11 nhằm nâng caochất lượng kiến thức của học sinh
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguyên tắc, quy trình thiết kế và phương pháp sử dụng bộ tranh trongdạy học trong phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật, nhằm nângcao chất lượng dạy học Sinh học 11
3.2 Khách thể nghiên cứu
Phương pháp dạy học Sinh học 11
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được nguyên tắc, quy trình thiết kế và phương pháp sửdụng tranh hợp lí, thì bộ tranh sẽ là nguồn cung cấp thông tin trực quan phongphú, qua đó rèn luyện được năng lực quan sát, tính tích cực, chủ động tronghoạt động học tập của học sinh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu xác định cơ sở lý luận của phương tiện trực quan nói chung vàtranh vẽ nói riêng trong lý luận và trong dạy học Sinh học
- Tìm hiểu về thực trạng trang bị và sử dụng tranh trong giảng dạy sinh học ởtrường trung học phổ thông (THPT)
Trang 10- Xác định những nguyên tắc sư phạm chỉ đạo việc thiết kế và sử dụng tranhgiáo khoa nói chung, từ đó vận dụng vào thiết kế và sử dụng bộ tranh trongphần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật, nhằm nâng cao chấtlượng dạy học
- Xây dựng quy trình thiết kế hệ thống tranh dạy học
- Xác định các phương pháp, biện pháp sử dụng bộ tranh Sinh học sao cho cóhiệu quả
- Thiết kế các giáo án dạy học có sử dụng bộ tranh theo hướng tích cực hoáhoạt động nhận thức
Thực nghiệm sư phạm, thu thập số liệu, xử lý kết quả thực nghiệm bằng toánthống kê, từ đó khẳng định giả thuyết khoa học đã đặt ra
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các văn kiện về đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà Nước
về giáo dục, đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học
- Nghiên cứu các tài liệu lý luận dạy học, đặc biệt là lý luận dạy học Sinh họcliên quan đến việc sử dụng phương tiện dạy học, nghiên cứu nội dung chươngtrình sinh học 11
- Nghiên cứu các tài liệu, các bài viết trong các tạp chí, báo, sách, đặc biệt làcác luận văn, luận án có liên quan đến đề tài
6.2 Phương pháp điều tra cơ bản
6.2.1 Điều tra phương pháp giảng dạy của giáo viên
Tiến hành dự giờ và trao đổi với giáo viên phổ thông trung học, thăm
dò bằng phiếu test nhằm tìm hiểu thực trạng trang bị và sử dụng phương tiệndạy học trong đó có tranh dạy học
6.2.2 Điều tra tình hình học tập của học sinh
Tiến hành dự giờ, thăm dò bằng phiếu test, sử dụng bài kiểm tra 15phút để xác định trình độ và chất lượng lĩnh hội của học sinh
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Trang 11Thực nghiệm sư phạm có đối chứng song song với một số giáo án sinhhọc 11 nhằm đánh giá bộ tranh đã thiết kế và phương pháp sử dụng chúngtrong dạy học sinh học
6.4 Phương pháp thống kê toán học
- Phân tích số liệu thu được từ điều tra và thực nghiệm sư phạm
- So sánh, kiểm định, đánh giá kết quả và đưa ra kết luận
- Tính các tham số đặc trưng trong toán thống kê
7 Đóng góp của đề tài
Vận dụng cơ sở lí luận về vai trò và ý nghĩa của việc sử dụng tranh đểthiết kế bổ sung tạo bộ tranh Sinh học 11 - THPT và đề xuất được các biệnpháp sử dụng tranh theo hướng tích cực trong dạy học Sinh học
Trang 12PHẦN II NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỠ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận của PTTQ trong dạy học
Trên thế giới:
Thuyết liên tưởng cho rằng: Tâm lí (hiểu theo nghĩa là yếu tố ý thức)được cấu thành từ cảm giác Các cấu thành cao hơn như biểu tưởng, ý nghĩa,tình cảm, là cái thứ hai, xuất hiện nhờ liên tưởng các cảm giác Nói cáchkhác, con đường hình thành tâm lí là liên kết các cảm giác và các ý tưởng Môhình dạy học tương ứng với Thuyết liên tưởng là Mô hình dạy học thông báo.Một trong những điểm đặc trưng của mô hình này là sự tác động vào các giácquan và trí nhớ của người học; cung cấp các sự kiện, các hình ảnh, các tri thức
để người học có các cảm giác, hình thành các hình ảnh; tạo ra các kích thích
để học viên xác lập mối liên tưởng; giúp người học ôn luyện, củng cố và khôiphục các mối liên tưởng Phương châm dạy học ở đây là cung cấp càng nhiềuhình ảnh, sự kiện cho người học càng tốt, giúp người học có nhiều cơ hội tạo
ra mối liên tưởng
Thuyết kiến tạo nhận thức của J Paget (1896-11980) cho rằng, học tập
là quá trình cá nhân hình thành tri thức cho mình Có 2 loại tri thức: Tri thức
về thuộc tính vật lí, thu được bằng các hành động trực tiếp với sự vật và trithức về tư duy, quan hệ toán, lôgic thu được qua tương tác với người kháctrong các quan hệ xã hội Đó là quá trình cá nhân tổ chức hành động tìm tòi,khám phá thế giới bên ngoài và cấu tạo lại chúng dưới dạng các sơ đồ nhậnthức Sơ đồ nhận thức được hình thành từ các hành động bên ngoài và đượcnhập tâm
Lí thuyết của P L Galperin về các bước hình thành hành động trí óc vàkhái niệm thì hành động với vật thật hay vật chất hoá là một trong nhữngbước của sự hình thành hành động trí tuệ Lập cơ sở định hướng hành động
Trang 13thực chất mới chỉ là hệ thống hoá các chỉ dẫn cách thức hành động Hànhđộng chỉ được thực hiện khi chủ thể tiến hành nó ở dạng nguyên thuỷ: hànhđộng với vật thật hay vật chất hoá, tức là hành động với các đồ vật hay cácbiến thể của nó như hình vẽ, sơ đồ, mô hình, mẫu vật của vật thật đó Hànhđộng với dạng vật thật hay với dạng vật chất hoá là nguồn gốc của mọi hànhđộng tri thức trọn vẹn.
Nhiều công trình nghiên cứu của Sapôvalenco, Driga, Presman, Veix,Top, Tonligreria đã chứng tỏ rằng, PTTQ phải là một trong những điều kiệnchủ yếu tạo nên chất lượng giảng dạy và học tập ở nhà trường
Người ta thống kê rằng: nếu chỉ có đọc thì người học chỉ nhớ được10%, chỉ có nghe thôi thì khả năng tiếp thu được 20%, cả nghe và nhìn tiếpthu được 50%, nếu được trình bày thì khả năng nhớ có thể lên đến 70% Đặcbiệt, nếu được kết hợp cả nghe, đọc, nghiên cứu, tự trình bày thì mức độ nhớlên đến 90% Chỉ riêng điều đó thôi cũng nói lên sự đòi hỏi phải áp dụng cácphương tiện nghe nhìn vào việc giảng bài
Nhà giáo dục K.D.U-sin-xki cho rằng: “Nếu anh dạy cho trẻ nắm một từnào đó mà nó chưa biết thì phải vất vả lắm mới nhớ được, nhưng nếu chochúng học 20 từ như vậy bằng tranh ảnh thì dù trẻ một tuổi cũng nắm đượcmột cách dễ dàng”.[27]
Như vậy, qua ý kiến của K.D.U-sin-xki ta thấy rằng việc sử dụng các thiết bị
và đồ dùng trực quan có ý nghĩa rất quan trọng đối với học sinh
Trước đây, các nhà phương pháp dạy học nổi tiếng của Liên Xô như:N.Nbaranxiki, A.C Barcov, V.P Buđanov và nhiều người khác cho rằng: muốndạy học có kết quả tốt thì tính trực quan trong dạy học là điều rất cần thiết Gần đây, các nhà phương pháp nổi tiếng của các nước khác như:I.I.Alecne, I.D.Dvere và các nhà phương pháp của Việt Nam, khi nghiên cứu vềphương pháp dạy học tích cực cũng cho rằng, phương pháp trực quan tích cựchơn phương pháp dùng lời Như vậy phương pháp trực quan, phương pháp thựchành trên kênh hình được các nhà phương pháp đánh giá rất cao trong giảng dạy,
vì nó có ý nghĩa rất lớn trong việc tiếp thu kiến thức của học sinh
Trang 14Phương tiện là tất cả những gì dùng để tiến hành công việc, được cảmnhận bằng giác quan, nhưng không phải bằng tư duy (tình cảm, tri thức, )
Từ phương tiện (media) trong tiếng Anh có gốc la tinh medium có nghĩa
là “ở giữa”, “trung gian” và ngày nay, từ này cũng được gọi là phương tiệntruyền thông: truyền dẫn, bảo quản, khuếch đại thông điệp tùy theo hoàncảnh Truyền thông (communication) là sự thiết lập “cái chung” giữa nhữngngười có liên quan trong quá trình thực hiện một mục tiêu nào đó; nghĩa là tạonên sự “đồng cảm” giữa người phát và người thu thông qua những thông điệp(message) được truyền đi
Quá trình dạy học là một quá trình truyền thông có sự trao đổi thông điệpgiữa hai hay nhiều người đồng thời phát và nhận thông điệp của nhau theo 3kênh tương ứng:
- Thông điệp được truyền từ giáo viên đến người học: hướng dẫn, thông tinngười học được học, hiểu hoặc thực hành
- Thông tin về sự tiến bộ học tập, mức độ nắm vững kiến thức, kỹ năng từngười học truyền về giáo viên Giáo viên tiếp nhận, xử lý và quyết định điềuchỉnh hay tiếp tục thực hiện công việc dạy học của mình
- Thông tin phản hồi từ giáo viên đến người học (uốn nắn, hướng dẫn, độngviên, …)
Như vậy, lời nói và chữ viết cũng là một loại PTDH Tuy nhiên, khi tách khỏichủ thể của quá trình dạy học là thầy và trò thì PTDH là phần vật chất kháchquan gồm toàn bộ những trang thiết bị, máy, tài liệu, phục vụ việc giảngdạy và học tập Từ các phương tiện đơn giản như bàn ghế, bảng đen, phấntrắng đến các thiết bị cơ điện tử, dây chuyền tự động
Trang 15PTTQ có thể có nhiều vai trò trong quá trình dạy - học, nó thay thế chonhững sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra trong thực tiễn mà GV và HSkhông thể tiếp cận trực tiếp được Chúng giúp cho thầy giáo phát huy tất cảcác giác quan của HS trong quá trình truyền thụ tri thức, do đó giúp cho HSnhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng và tái hiện được những kháiniệm, quy luật làm cơ sở cho việc đúc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức
đã học vào thực tiễn sản xuất
PTTQ là nguồn chứa đựng thông tin tri thức hết sức phong phú và sinhđộng, giúp HS lĩnh hội tri thức đầy đủ và chính xác, đồng thời cũng cố, khắcsâu, mở rộng và hoàn thiện tri thức Qua đó rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, pháttriển tư duy tìm tòi sáng tạo, năng lực quan sát, phân tích tổng hợp, hình thành
và phát triển động cơ học tập tích cực, làm quen với phương pháp nghiên cứukhoa học Từ đó, có khả năng vận dụng những tri thức đã học vào thực tiễn,giải quyết các vấn đề trong cuộc sống
PTTQ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho GV trong quá trình tổ chức hoạtđộng dạy học ở tất cả các khâu của quá trình dạy học Nó không thể thiếuđược trong quá trình vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học cụ thể,giúp GV trình bày bài giảng một cách tinh giản nhưng đầy đủ
Bên cạnh việc nghiên cứu vị trí, vai trò của PTTQ, nhiều tác giả đãdành một vị trí đáng kể trong việc nghiên cứu vấn đề sử dụng các PTTQ trongquá trình dạy - học Tôlinghênôva (Slôvakia) cho rằng, về nguyên tắc, PTTQchỉ có thể có các chỉ số và chất lượng thông qua các quá trình sư phạm.Không có quá trình gia công sư phạm thì dù các PTTQ có được chế tạo tốtbao nhiêu cũng không thể hiện được vai trò và chức năng gì K.G Nojkocũng khẳng định rằng, vấn đề không phải chỉ ở chỗ sản xuất và cung cấp chonhà trường những đồ dùng dạy học mà chủ yếu là phải làm sao cho đồ dùngdạy học được GV sử dụng với hiệu quả cao Theo X.G Sapôvalencô “Chấtlượng đồ dùng dạy học phải được gắn chặt với chất lượng sử dụng nó để có
Trang 16thể đạt được hiệu quả giảng dạy và giáo dục cao.”, “Đồ dùng dạy học, cácphương tiện kĩ thuật chỉ là phương tiện hỗ trợ nằm trong tay người thầy giáo”.
PTTQ cần thiết phải được sử dụng bởi người GV, đó là một luận điểm đãđược khẳng định PTTQ là những phương tiện chứa đựng và chuyển tải thôngtin nhằm đáp ứng yêu cầu nhận thức, phát triển, giáo dục của quá trình sư phạm,nhưng bản thân nó có giá trị cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ sưphạm trong quá trình nghiên cứu xây dựng và sử dụng của người giáo viên Nếutrong giờ học, PTTQ được sử dụng không hợp lý thì dẫn đến hậu quả xấu về mặt
sư phạm và kinh tế Chúng có thể phá vỡ cấu trúc bài giảng, phân tán sự chú ýcủa HS, lãng phí thời gian và tiền của Vì vậy, một trong những vấn đề quantrọng hàng đầu là việc nghiên cứu xây dựng và việc sử dụng PTTQ gắn liền vớiviệc hướng dẫn sử dụng có hiệu quả cho đội ngũ GV
Ở Việt Nam:
Trong dạy học, nhiệm vụ trọng tâm của người học là nhận thức được cáckiến thức và kinh nghiệm đã có sẵn của loài người trên cơ sở đó bồi dưỡngcho người học năng lực tư duy sáng tạo Do vậy người ta thường sử dụng môhình vật chất đó là việc vật chất hóa các mô hình trừu tượng Ở đó, người ta
cụ thể hóa lí thuyết trừu tượng, giúp học sinh nhận thức dễ dàng hơn Loại môhình vật chất có đặc tính Đẳng cấu với mô hình trừu tượng để phản ánh đúng
lí thuyết nghiên cứu, đồng thời phải trực quan và dễ hiểu tức là phải diễn đạtmột cách trực quan Nó được vật chất hóa dưới dạng ký hiệu hay mô hìnhkhông gian Nhờ đó mà học sinh có thể tri giác bằng cảm giác Tuy rằng các
ký hiệu này còn hết sức trừu tượng nhưng đó là điểm tựa cho tư duy, cho trítưởng tượng sáng tạo.[26]
TS Trần Quốc Đắc: “Sử dụng thiết bị dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mớiphương pháp dạy học ở trường phổ thông” xác định: Xu hướng chung củaviệc đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông là: “Tích cựchóa, cá biệt hóa hoạt động của học sinh” nhằm đẩy mạnh hoạt động của họ
Trang 17trên cơ sỡ tự giác, tự do khám phá kiến thức thông qua thực hành, thâm nhậpthực tế dưới sự tổ chức , hướng dẫn của giáo viên [11]
Ngành giáo dục của Việt Nam khi đổi mới chương trình SGK phổ thôngkhẳng định: Phương tiện dạy học không chỉ dừng lại ở mức độ minh họa nộidung dạy học mà phải trở thành công cụ nhận thức, là một bộ phận hữu cơcủa cả phương pháp và nội dung dạy học Do yêu cầu tăng hoạt động thựchành, thí nghiệm cũng như yêu cầu ứng dụng nên khi xây dựng chương trìnhcần đặt đúng vị trí của thiết bị dạy học trong quá trình dạy học bộ môn Khiyêu câu về mặt này cần lưu ý đến sự kết hợp giữa thiết bị thông thường đãđược và sẽ phải trang bị cho các trường với các thiết bị hiện đại; giữa các thiết
bị phải mua sắm với các thiết bị tự tạo Sử dụng PTDH với tư cách khôngchỉ là phương tiện của việc dạy mà còn là phương tiện của việc học, chú trọng
sử dụng PTDH mới, phát triển năng lực sử dụng phương tiện mới, đa phươngtiện cho học sinh và thực hành thí nghiệm
Khi nghiên cứu đến Phương pháp dạy học tích cực thì cũng một lần nữanhấn mạnh thêm: Thiết bị dạy học là điều không thể thiếu cho việc triển khaichương trình SGK nói chung và đặc biệt triển khai đổi mới phương pháp dạyhọc hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của học sinh Để đáp ứng yêucầu này, phương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho học sinhthực hiện các hoạt động độc lập, hoặc các hoạt động nhóm
Cơ sỡ vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạyhọc thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạy học ca thể, dạy học hợp tác
Sử dụng TBDH và PTDH không chỉ là phương tiện của việc dạy mà cònphương tiện của việc học PTDH, TBDH không chỉ minh họa, còn là nguồntri thức, là một cách chứng minh bằng quy nạp Coi trọng quan sát, phân tíchnhận xét, dẫn đến hình thành khái niệm Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống và
có chất lượng cao cảu TBDH, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của học sinhtrên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, làm
Trang 18thí nghiệm trong quá trình học tập Đảm bảo để nhà trường có được thiết bịdạy học tối thiểu, đó là những thiết bị thực sự cần thiết không thể thiếu được Chú trọng trọng thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành,thí nghiệm Những thiết bị đơn giản có thể được GV, HS tự làm góp phần làmphong phú thêm TBDH của nhà trường Lựa chọn và sử dụng hợp lí PTDH,biết sử dụng PTDH trên cơ sở logic quá trình nhận thức của HS và chú ý đếnchức năng lí luận dạy học nhằm đáp ứng đổi mới PPDH và thực hiện mục tiêudạy học.[7]
Sử dụng PTDH, TBDH để hình thành khái niệm, chưa được hiểu đúng.
Yêu cầu giáo viên phải nắm rất vững tư tưởng này để truyền đạt tư tưởng đầy
đủ, đúng yêu cầu về mức độ nhận thức Có nội dung được “hình thành” nhờPTDH và TBDH thì không nên sa đà vào giải thích, lạm dụng ngôn ngữ khoahọc hàn lâm thay cho lời mô tả bởi PTDH, TBDH Sử dụng PTDH, TBDHhiện đại trong điều kiện có thể sẽ có tác động rất sâu vào nhận thức Cần hếtsức chú ý là không dùng hợp lí PTDH, TBDH sẽ phản tác dụng, do vậy cầnphải vận dụng phù hợp và linh hoạt.[17]
Do đặc thù của từng môn học, nên mỗi bộ môn cũng có cách phân loạiPTTQ riêng Theo Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành, trong dạy sinh học,
có thể phân loại PTTQ như sau:
- Các mẫu vật thật: Trong sinh học, các mẫu vật thật bao gồm các mẫu sinhvật sống, các tiêu bản tươi và khô, mẫu ngâm, mẫu nhồi, tiêu bản hiển vi Các vật thật là nguồn cung cấp những thông tin cụ thể, chính xác và thườnggần gũi đối với HS về hình dạng, kích thước, màu sắc và cấu tạo ngoài Songviệc nghiên cứu cấu tạo trong, các bộ phận nhỏ lại gặp khó khăn
- Các vật tượng hình gồm: mô hình, tranh ảnh, phim, phim đèn chiếu, phimvideo, phần mềm dạy học, sơ đồ, biểu đồ
+ Mô hình: Là những vật thay thế cho đối tượng nghiên cứu dưới dạngtrực quan được vật chất hoá hoặc mô tả các cấu trúc, những hiện tượng, quátrình Mô hình còn cho phép mô tả sự vật hiện tượng trong không gian ba
Trang 19chiều, có thể là tĩnh hay động làm cho quá trình nhận thức được đầy đủ, trựcquan hơn.
+ Tranh ảnh: Mô tả các sự vật, hiện tượng, cấu trúc, quá trình ở trạng tháitĩnh, có thể được chụp trực tiếp hoặc mô phỏng lại bằng sơ đồ hoặc hình vẽ
+ Băng, đĩa hình: Mô tả sự vật, hiện tượng ở trạng thái động, diễn cảm,chính xác và sống động
+ Bản trong: Là các hình ảnh, sơ đồ về cấu trúc, quá trình được ghilên một bản trong, sau đó chiếu lên màn hình qua máy chiếu Overhead
+ Phần mềm dạy học: có khả năng cung cấp thông tin dưới nhiều dạngkhác nhau nhờ tích hợp được truyền thông đa phương tiện, như chứa cả hìnhảnh, âm thanh, phim video có hiệu quả trực quan cao
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan
Các khái niệm liên quan đến trực quan bao gồm: trực quan , phương tiện trựcquan, phương tiện dạy học và phương tiện giáo dục
1 Trực quan trong hoạt động dạy học, được hiểu là khái niệm dùng đểbiểu thị tính chất của hoạt động nhận thức, trong đó thông tin thu được từ các
sự vật hiện tượng của thế giới bên ngoài nhờ sự cảm nhận trực tiếp của các cơquan cảm giác con người.[28]
2 Phương tiện giáo dục là khái niệm dùng để chỉ tất cả các dụng cụ,phương tiện mà giáo viên và học sinh trực tiếp sử dụng trong quá trình giáodục (dạy học, lao động, vui chơi, sinh hoạt tập thể ) và các điều kiện vậtchất cần thiết cho các hoạt động giáo dục đó ( nhà cửa, bàn ghế, sân bãi,xưởng trường ).[28]
3 Thiết bị dạy học
Thiết bị dạy học là tổng thể nói chung những máy móc, dụng cụ, phụtùng cần thiết cho hoạt động dạy và học, chủ yếu đề cập “phần cứng” củaphương tiện Phần cứng thường có vai trò truyền tin (mô hình tĩnh hoặc động,máy chiếu các loại, máy tính, camera, máy thu hình, máy ghi âm, ) hoặchình thành và luyện tập kỹ năng (các loại máy, dụng cụ, nguyên vật liệu chothí nghiệm, thực hành, thực tập sản xuất, )
Trang 204 Phương tiện dạy học (PTDH)
Trong lý luận dạy học, vấn đề PTDH hiện còn nhiều tranh luận và đầybiến động Phần vì mỗi nhà lý luận có quan niệm riêng về vấn đề này, phần vìtác động ngày càng mạnh và thay đổi nhanh chóng của các phương tiện kỹthuật hiện đại vào trong dạy học, dẫn đến làm đảo lộn quan niệm đã có Tuyvậy, do yêu cầu của công việc, buộc chúng ta phải giới hạn phạm vi quanniệm về phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là toàn bộ sự vật, hiện tượng trong thế giới, tham gia vào quá trình dạy học, đóng vai trò là công cụ hay điều kiện để giáo viên
và học sinh sử dụng làm khâu trung gian tác động vào đối tượng dạy học PTDH có chức năng khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh tác động của người dạy và người học đến đối tượng dạy học [20]
Yêu cầu đối với PTDH
- Tính sư phạm
+ PTDH phải phù hợp với mục tiêu, nội dung, điều kiện dạy học, … và pháthuy được tối đa các giác quan của người học, bảo đảm tiếp thu được các kiếnthức, kỹ năng nghề nghiệp tương xứng với chương trình đào tạo một cáchthuận lợi
+ Nội dung và cấu tạo của PTDH phải bảo đảm các đặc trưng của việc dạyhọc lý thuyết, dạy học thực hành và các chuẩn mực sư phạm
+ Các PTDH tập hợp thành bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung, bốcục và hình thức trong đó mỗi loại trong một bộ phận phải có vị trí, chức năngriêng
+ PTDH cần thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạyhọc hiện đại (e-learning, dạy học theo dự án, )
- Tính kỹ thuật
+ Chất lượng vật liệu dùng để chế tạo PTDH phải bảo đảm tuổi thọ cao và độbền chắc, không gây ô nhiễm môi trường
Trang 21+ PTDH phải có tính năng kỹ thuật thể hiện các thành tựu mới nhất của khoahọc chuyên ngành hay trình độ công nghệ và tổ chức sản xuất của nghề.
+ PTDH phải có kết cấu thuận lợi cho việc lắp đặt, sử dụng, lưu trữ và bảoquản
5 Phương tiện trực quan (PTTQ)
Để có hình ảnh trực quan về sự vật, một mặt cần có sự hoạt động củacon người; mặt khác, sự vật ấy phải tác động phù hợp với cơ quan cảm giác
và nằm trong vùng ngưỡng của nó Trong trường hợp các sự vật quá nhỏ(nguyên tử, điện tử, vi sinh vật ), hoặc các chuyển động có bước sóng quángắn (sóng ánh sáng, siêu âm) hay các vật ở quá xa so với tri giác mắt của conngười (cấu trúc các thiên thể) thì con người không thể trực tiếp cảm nhậnđược chúng Khi đó, chủ thể nhận thức phải đưa vào các phương tiện trunggian, thông qua các phương tiện này mà chủ thể có được hình ảnh trực quan
về đối tượng Các phương tiện trung gian đó có chức năng làm cho đối tượng
Trang 22với chủ thể gặp gỡ nhau, tức là làm cho các giác quan của chủ thể được “mởrộng” và “nối dài” hơn Các công cụ như kính hiển vi, kính viễn vọng hay các
mô hình nguyên tử, điện tử là những ví dụ cụ thể của việc mở rộng và nốidài các giác quan của con người, tạo điều kiện cho con người nhận thức đượcsâu sắc và đầy đủ về thế giới khách quan
Như vậy, trong trường hợp con người không thể “đến tận nơi” để “sờmó” được đối tượng ta có thể dùng vật thay thế cho đối tượng như tranh ảnh,
mô hình, sơ đồ để diễn tả chúng Những phương tiện như vậy gọi chung làphương tiện trực quan (PTTQ) trong nhận thức
PTTQ là những phương tiện được sử dụng trong hoạt động dạy - học,
có vai trò là công cụ để GV và HS tác động vào đối tượng; có chức năng khơi dậy, dẫn truyền, tăng cường khả năng hoạt động của các giác quan, góp phần tạo nên chất liệu cảm tính của đối tượng nhận thức nhằm đạt được các mục đích dạy học cụ thể [20]
PTTQ được hiểu nghĩa hẹp hơn, theo nghĩa công cụ dạy học Nói cáchkhác, PTTQ là phương tiện dạy học đóng vai trò công cụ được GV hay HS sửdụng làm khâu trung gian tác động tới đối tượng dạy học
PTTQ là một hệ thống bao gồm mọi dụng cụ, đồ dùng, thiết bị kỹ thuật
từ đơn giản đến phức tạp dùng trong quá trình dạy - học, với tư cách là môhình đại diện cho hiện thực khách quan về sự vật hiện tượng, làm cơ sở và tạođiều kiện thuận lợi cho việc lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo về đối tượng
đó cho HS
1.1.2 Khái niệm, phân loại tranh và vai trò của tranh dạy học.
1.1.2.1 Khái niệm về tranh
Tranh vẽ là học liệu trực quan tạo hình thể hiện thế giới khách quanthông qua đường nét, hình ảnh, màu sắc và bố cục nhằn nâng cao hiệu quảtrong nhà trường
Trang 23Theo GS TS Đinh Quang Báo: Một bức tranh có thể có một đến nhiều hìnhđược bố cục theo một ý đồ sư phạm nhất định trên một tờ giấy có kích cỡ xácđịnh hoặc trên những chất liệu khác (bản trong, phim chiếu lên màn hình ).Vậy hình là gì ?
* Hình là gì ?
Hình là một đơn vị có tính trọn vẹn nhất định, giới thiệu một bộ phận cấu tạohình thái, giải phẫu, một quá trình, một cơ chế sinh học nào đó Như vậy,hình là một đơn vị của tranh Một tranh có thể có một đến nhiều hình
Tuy nhiên đôi khi cũng khó phân biệt tranh, hình Lúc nào được coi là hình vàlúc nào được coi là tranh? Việc này tuỳ cách sử dụng của GV
+ Khi trên một tờ giấy giới thiệu trọn vẹn một nội dung nào đó: Cấu tạo giảiphẩu, một cơ chế, một quá trình, thì ta có thể coi nội dung đó là một tranh
Ví dụ: Sự lưu thông giữa mạch gỗ và mạch rây
+ Một tranh có thể có nhiều hình, các hình đó có thể phóng to từ một số chitiết nào đó của tranh để HS qua sát rõ hơn
Ví dụ: Con đường xâm nhập của nước và ion khoáng vào rễ( gồm mặtcắt ngang rễ và hai con đương xâm nhập của nước và ion khoáng vào rễ)+ Nhưng cũng trên một tờ giấy đó mà giới thiệu trọn vẹn 2-3 nội dung mà lúc
đó ta chỉ quan tâm đến giới thiệu cho HS khai thác một nội dung nào đó, thìlúc đó trên tờ giấy đó sẽ có 2-3 tranh Ví dụ: Tranh “Sơ đồ thí nghiệm về hôhấp ở thực vật” Nếu khi dạy ta chỉ quan tâm đến giải thích phát hiện: sự thảikhí CO2 và sự phát hiện sự thải O2 mà ta quên không đề cập đến sự tăng nhiệt
độ thì lúc đó trên một tờ giấy sẽ có nhiều tranh Ngược lại, khi yêu cầu HS mô
tả tóm tắt các quá trình riêng lẽ: sự thải khí CO2 , sự phát hiện sự thải O2 và sựtăng nhiệt độ thì trên tờ giấy đó sẽ có nhiều hình của một tranh
Như vậy, việc phân chia rành rọt tranh, hình đôi khi cũng khó Việc này dochúng ta quy ước, trong trường hợp này thì là hình nhưng trong trường hợpkhác nó lại là tranh
Trang 241.1.2.2 Phân loại tranh
Có nhiều cách phân loại tranh Ở đây chúng tôi nghiên cứu hệ thống tranhSinh học, đặc biệt là tranh giáo khoa sinh học 11, nên việc phân loại chúng tôidựa vào một số tiêu chí sau: Theo nội dung sinh học, theo mức độ chi tiết củahình, theo mức độ sử dụng và theo sự linh hoạt của hình
a Theo nội dung sinh học
Trong phần chuyển hóa vật chất và năng lượng cung cấp những kiến thức cơbản về hấp thụ vận chuyển và sử dụng các chất dinh dưỡng của thực vật, cóthể phấn loại tranh theo các tiêu chí sau:
- Tranh cung cấp kiến thức về hình thái, cấu tạo, giải phẩu: như cáctranh cấu tạo của lá cây, cấu tạo của lục lạp, cấu tạo của mạch rây, cấu tạongoài của hệ rễ
- Tranh cung cấp các kiến thức về hoạt động, các quá trình sinh lý ởsinh vật như: tranh Sự phụ thuộc về mặt dinh dưỡng của cây vào hoạt độngcủa vi sinh vật đất, tranh thoát hơi nước và khuếch tán của CO2 vào lá qua khíkhổng, sự lưu thông gữa mạch gỗ và mạch rây
- Tranh cung cấp kiến thức về mối quan hệ giữa sinh vật - môi trường,giữa sinh vật - sinh vật như: tranh sự quang hợp ở cây xanh, sự hô hấp ở thựcvật, Sự phụ thuộc về mặt dinh dưỡng của cây vào hoạt động của vi sinh vậtđất, Sự cộng sinh giữa cây họ đậu và vi khuẩn cố định nitơ
- Tranh về kiến thức bảo vệ môi trường như: tranh trồng cây xanh, vệsinh môi trường
b Theo mức độ chi tiết của tranh
Tuỳ theo mức độ chi tiết của tranh, chúng tôi phân chia tranh thành 2 loại:
- Loại có đầy đủ chi tiết: Loại này thường trình bày hầu như tất cả các phầncủa một nội dung, như về cấu trúc hay một quá trình sinh lý nào đó Ví dụtranh mô tả cấu tạo của lá cây, tranh sơ đồ quang hợp ở cây xanh
- Loại lược bớt những chi tiết không cần thiết, tập trung vào những cấu trúc,dấu hiệu chính yếu hoặc được sơ đồ hoá Loại này người ta thường có tên gọi
Trang 25cho đầu tranh là “Sơ đồ” So đồ thường được dùng để trình bày mối quan hệgiữa các cơ quan trong cơ thể, các cơ chế, các quá trình sinh lý Ví dụ: Sơ đồchu trình kenvin, sơ đồ về quang hợp ở cây xanh
c Theo hình thức sử dụng
Theo tiêu chí này, được phân ra làm 2 loại tranh:
- Tranh cho cả lớp cùng quan sát: Loại này thường có kích cỡ lớn, khổ Ao
để đảm bảo cho các em ngồi dưới lớp cũng quan sát được.Tất cả các tranhđược sử dụng đều theo kiểu phân lọa này
- Tranh được phát cho từng cá nhân hoặc nhóm: Loại này được in sẵn hayphoto cỡ nhỏ (thường là A4) để phát đến từng HS kèm theo các nhiệm vụđược giao ở loại này buộc từng cá nhân hay từng nhóm phải độc lập quan sát
Ví dụ: ở chương trình sinh học 11 phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ởthực vật, theo chúng tôi ở phần này có thể sử dụng tranh: Mối quan hệ dinhdưỡng ở thực vật, mối quan hệ giữa quang hợp và hô hấp Các tranh thựchành này được phát đến từng nhóm thực hành để cá nhân trong nhóm quan sátkèm theo nhiệm vụ được giao
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chủ yếu đề cập loại tranh kích cở Ao đểtreo trước lớp cho cả lớp cùng quan sát một lúc
d Theo sự linh hoạt của tranh
Theo tiêu chí này, có các loại tranh sau:
- Các chi tiết trong tranh được vẽ cố định, không thay đổi Loại này đượcgọi là tranh tĩnh
- Loại được thiết kế với các chi tiết trong tranh thay đổi Loại này được gọi
là tranh động Tranh động có thể được thiết kế theo 2 cách:
+ Cách 1: GV dùng những mảnh bìa rời, phía sau các mảnh bìa đó làtừng phần kiến thức kết cấu theo một ý đồ sư phạm của bài học Tiến trình bàigiảng đến đâu, GV bóc lần lượt các mảnh bìa đó cho đến hết Hoặc làm theocách ngược lại, trên các mảnh bìa đó đã có sẵn các chi tiết hoặc các bộ phận
Trang 26rời rạc, dưới sự hướng dẫn của GV, HS lần lượt lên ghép các mảnh bìa đó Vídụ: Tranh sơ đồ hai pha của quá trình quang hợp, chu trình Canvin
+ Cách 2: GV dùng các phần mềm tin học, như phần mềmPowerpoint, thiết kế các tranh động Loại này thiết kế tương đối phức tạp vàyêu cầu GV phải có trình độ tin học Ví dụ: Vận chuyển nước và muốikhoáng Loại tranh động rất kích thích hứng thú học tập của HS, tuy nhiênđòi hỏi phải công phu khi thiết kế, đặc biệt theo cách 2
Trong phạm vi đề tài này chúng tôi chưa đề cập đến loại tranh đó mà chỉ nêutên, hy vọng sẽ tiếp tục phát triển đề tài hơn nữa theo hướng này
1.1.2.3 Vai trò của tranh vẽ trong hoạt động nhận thức của học sinh
Trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học nói chung và tranh ảnhnói riêng đã giảm nhẹ công việc của giáo viên Giúp giáo viên tiết kiệm đượcthời gian trên lớp trong mỗi tiết học, giúp giáo viên điều khiển được hoạtđộng nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của họcsinh được thuận lợi và có hiệu suất cao, có được các phương tiện thích hợp,người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng tạo của mình trong công tácgiảng dạy Giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận lợi, làm chohoạt động nhận thức của học sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, tạo racho học sinh những tình cảm tốt đẹp với môn học Do đặc điểm của quá trìnhnhận thức, mức độ tiếp thu kiến thức mới của học sinh tăng dần theo các cấp
độ của tri giác: nghe-thấy-làm được (những gì nghe được không bằng những
gì nhìn thấy và những gì nhìn thấy), nên khi đưa tranh ảnh vào quá trình dạyhọc, giáo viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập của học sinh và
từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức và hìnhthành kỹ năng, kỹ xảo của các em
Tính chất của phương tiện dạy học nói chung và tranh ảnh nói riêng, biểuthị nội dung thông tin học, hình thức thông tin và phương pháp cho thông tinchứa đựng trong phương tiện, tranh ảnh và phải dưới sự tác động của giáo
Trang 27viên hoặc học sinh tính chất đó mới đựơc bộc lộ ra Như vậy đã có mối liên
hệ chặt chẽ giữa tính chất và chức năng của tranh ảnh
Phương tiện dạy học còn giúp học sinh phát triển năng lực nhận thức, đặcbiệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ranhững kết luận có độ tin cây, ), giúp học sinh hình thành cảm giác thẩm mỹ,được hấp dẫn bởi cái đẹp, cái đơn giản, tính chính xác của thông tin chứatrong phương tiện
Những sự vật, hiện tượng, quá trình xẩy ra trong tự nhiên mà HS cầnlĩnh hội không phải khi nào GV và HS cũng trực tiếp tiếp cận được chúng.Tranh dạy học là PTTQ có thể gián tiếp thể hiện cấu trúc các sự vật, hiệntượng, quá trình đó Do đó, đối với HS, tranh có thể giúp các em tiếp cận các
sự vật, hiện tượng, quá trình để lĩnh hội kiến thức một cách chủ động bằng
sự tham gia của nhiều giác quan Đối với GV, tranh dạy học cho phép GV tiếtkiệm công sức, thời gian trên lớp, nhờ đó GV có thể truyền đạt nhanh, dễ hiểuhoặc khi cần có thể bớt những lượng thông tin không cần thiết để nội dung côđọng hơn Nhờ tranh, GV có thể giúp HS lĩnh hội được thông tin về nhữngđối tượng hoặc quá trình khó quan sát bằng vật thật hoặc thí nghiệm
Sinh học là một bộ môn nghiên cứu về thế giới sinh vật phong phú, đadạng, do vậy nguyên tắc trực quan có một ý nghĩa rất quan trọng trong quátrình dạy - học Tranh, ảnh là một trong những PTTQ dễ thiết kế, dễ làm, ítgây ô nhiễm môi trường so với mẫu vật, mô hình, thí nghiệm Do vậy, cũngnhư vai trò đối với quá trình dạy - học nói chung, trong dạy - học sinh học,tranh là một PTTQ có giá trị dạy và học cao
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu và sử dụng tranh vẽ trong dạy học sinh học
Chúng tôi đã tiến hành điều tra ở một số trường THPT: Trường THPTDiễn Châu 4 - Diễn Mỹ - Diễn Châu - Nghệ An, trường THPT Diễn Châu 2 -Diễn Hồng - Diễn Châu - Nghệ An, trường THPT Nguyễn Văn Tố - DiễnPhong - Diễn Châu - Nghệ An, trường THPT Phan Đăng Lưu - Yên Thành -
Trang 28Nghệ An Nhằm mục đích, tìm hiểu về thực trạng thiết bị và sử dụng PTTQtrong đó có tranh để dạy và học, những hiểu biết của giáo viên về mục đích vàphương pháp sử dụng tranh trong xu thế đổi mới phương pháp dạy và họchiện nay Để tìm hiểu những vấn đề trên, chúng tôi đã tiến hành trao đổi, dựgiờ với GV, lấy ý kiến của GV qua phiếu test, thống kê kết quả học tập của
HS qua bài kiểm tra (HKI - Năm học 2011 - 2012) Thời gian điều tra: từ 18/8
- 18/11/2011 Kết quả điều tra như sau:
1.2.1 Thực trạng về tình hình trang bị và sử dụng tranh trong dạy - học sinh học
1.2.1.1 Thực trạng về tình hình trang bị tranh trong dạy - học sinh học
Cho tới năm học 2011 – 2012, cùng với sự thay đổi sách giáo khoa, BộGD-ĐT đã cấp một số PTDH tối thiểu cho môn sinh học lớp 11 khối cơ bảnTHPT cụ thể như sau:
Bảng 1.1 Bộ tranh giáo khoa dạy sinh học lớp 11 – cơ bản ( khổ A0) và cácPTDH khác
Số TT Tên của phương tiện dạy học được trang bị
I Dụng cụ: Cối chày sứ, bộ đồ mổ, bộ đồ giâm chiết ghép, dao, phểu,
lam kính, lamen, nhiệt kế đo thân nhiệt người
II Hóa chất: Canxisunfat, Kalinitrat, axeton, benzen, thuốc thử
pheenol, cacbonclorua, amoniac, natrihidro, nước cất
III Tranh ảnh:
1 Phương thức trao đổi chất khoáng của rễ trong đất, con đường vận chuyển nước, chất khoáng và chất hữu cơ (2 cái)
2 Cấu tạo xinap hóa học (2 cái)
3 Sự tiến hóa của hệ tuần hoàn (2 cái)
4 Sự tiến hóa của hệ thần kinh (2 cái)
Mô hình: không có
Nhìn vào bảng thống kê tranh được trang bị cho giảng dạy sinh học lớp 11 tathấy: Kênh hình ở sách giáo khoa rất đẹp, phong phú, một phần nào đã hỗ trợđược trong việc dạy và học của thầy và trò nhưng ngược lại, tranh mà được trang
Trang 29bị để sử dụng và khai thác hết thì chưa đạt yêu cầu Cả một khối lượng lớn kiếnthức ở sách giáo khoa mà chỉ được trang bị có 4 tranh khổ Ao, ttrong đó phầnchuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật lại không được trang bị, trong đónhiều phần, nhiều nội dung cần có tranh thật chi tiết thì không được trang bị vìvậy vấn đề trang bị PTDH nói chung và tranh nói riêng là rất bất cập.
1.2.1.2 Thực trạng về tình hình sử dụng tranh trong dạy - học Sinh học
a Mức độ sử dụng tranh
Chúng tôi tiến hành điều tra khảo sát ở 4 trường với 21 giáo viên (trườngTHPT Nguyễn Văn Tố 3 giáo viên, trường THPT Diễn châu 4 là 5 giáo viên,trường THPT Diễn Châu 2 là 6 giáo viên, trường THPT Phan Đăng Lưu là 6giáo viên) Mẫu phiếu điều tra được trình bày ở mục lục 1 Kết quả thu được,được trình bày ở bảng sau:
Bảng 1.2 Thực trạng về mức độ sử dụng tranh giáo khoa trong dạy học của
GV ở 4 trường THPT
Nội dung
Mức độ sử dụngThường xuyên Không thường
xuyên Ít sử dụng
Không sửdụngSố
lượng
Tỷ lệ(%)
Sốlượng
Tỷ lệ(%)
Sốlượng
Tỷ lệ(%)
Sốlượng
Tỷ lệ(%)
Bảng 1.3 Thực trạng về phương pháp sử dụng tranh trong dạy học sinh học ở
4 trường THPT
Nội dung Số giáo
viên Phương pháp dạy học kết hợp với sử dụng tranh
Trang 30(người) 1 2 3 4 5 6
Xác định
Ghi chú:
1 Sử dụng tranh theo phương pháp giải thích minh họa
2 Sử dụng tranh để tổ chức phương pháp vấn đáp tìm tòi
3 Sử dụng tranh theo môđun
4 Sử dụng tranh kết hợp với công tác độc lập trên phiếu học tập
5 Tổ chức dạy học bằng tranh khôn chú thích
6 Sử dụng tranh theo kiểu dán ghép
Từ số liệu ở bảng 1.2 và bảng 1.3 kết hợp với dự giờ của giáo viên,thảo luận với giáo viên, kiểm tra việc soạn giáo án và chuẩn bị bài lên lớp củagiáo viên, chúng tôi đưa ra một số nhận xét sau:
- Bảng số liệu 1.2 cho thấy: Số giáo viên thường xuyên sử dụng tranhhình còn rất thấp chỉ có 5 người trong 21 người được hỏi, chiếm chỉ 23,8%.Tuy không có ai là không sử dụng tranh hình trong dạy và học nhưng số sửdụng không thường xuyên và ít sử dụng lại chiếm tỷ lệ lớn tới 76,2%
- Bảng số liệu 1.3 chỉ rỏ: Tỷ lệ giáo viên sử dụng tranh theo hướng tíchcực hóa hoạt động của học sinh còn rất thấp 28,6% (14,3% + 9,5% + 4,8% ),28,6% quan tâm đến phương pháp vấn đáp – tìm tòi, số còn lại chiếm một tỷ
lệ lớn 42,9% là theo phương pháp truyền thống Ngoài ra các câu hỏi mà giáoviên thiết kế sử dụng, thì phần lớn câu hỏi chưa xây dựng một cách hợp lí vàsắp xếp logic theo mục đích vấn đề mà kiến thức cần giải quyết
- Các phương pháp đòi hỏi tư duy của học sinh và sự vận động tích cực củahọc sinh còn rất ít được áp dụng, như phương pháp sử dụng tranh kết hợp vớicông tác độc lập trên phiếu học tập 14,3%, Tổ chức dạy học bằng tranh câm 9,5%,
sử dụng tranh theo kiểu dán ghép chỉ có 1 người được hỏi sử dụng chiếm 4,8%
Trang 31- Nhiều giáo viên chưa thực sự hiểu rõ bản chất của phương pháp tíchcực Họ cho rằng chỉ cần mang lên lớp một số phương tiện dạy học hiện đại,
ra cho học sinh bài tập, đặt nhiều câu hỏi cho học sinh đó là phương pháp dạy
và học tích cực
- Một số giáo viên năng lực còn hạn chế hoặc là chưa thực sự đầu tưthời gian cho việc bài dạy, tìm hiểu tài liệu, nên phương pháp dạy còn chưathực sự đổi mới, còn nặng sử dụng phương pháp truền thống Tranh thì sửdụng theo kiểu “Em hãy nhìn vào hình 1.2 , hình 1.2 hay hình 1.3 sách giáokhoa.” Nên ảnh hưởng xấu đến khai thác kiến thức của giáo viên và học sinh
1.2.1.3 Thực trạng về kết quả và thái độ học tập của học sinh với môn học
Chúng tôi tìm hiểu thái độ của HS đối với môn học và kết quả học tập
bộ môn Sinh học ở học kỳ II năm học 2010-2011 của HS lớp 11 ở 4 trườngtrên Qua xử lý thông tin 210 phiếu điều tra, thu được bảng số liệu dưới đây.Bảng 1 4 Bảng điều tra thái độ và kết quả học tập bộ môn Sinh học
Trang 32Như vậy việc nghiên cứu và áp dụng một PTTQ kết hợp với đổi mớiphương pháp là rất cần thiết Với kết quả trên, có thể nói,cần đưa PTTQ vàotrong nhà trường để:
PTTQ đã rút ngắn quãng đường, thời gian cho người học khi chiếmlĩnh tri thức Kiến thức HS lĩnh hội được chắc chắn, chính xác và tin cậy
PTTQ giải phóng người thầy khỏi một khối lượng lớn các công việc taychân, làm cho việc dạy trở nên cụ thể, gây được tình cảm và sự chú ý của họcsinh, do đó đã làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học
Tranh vẽ là PTTQ dễ chế tạo, giá thành sản phẩm thấp nhưng hiệu quảdạy học lại cao nếu có phương pháp sử dụng hợp lý
Việc trang bị tranh giáo khoa Sinh học theo danh mục tối thiểu của bộ
GD -ĐT không đủ đáp ứng yêu cầu dạy học bộ môn, đặc biệt là ở nhũng vùngsâu, vùng xa, vùng nghèo, thì việc đầu tư và sử dụng những phương tiện trựcquan hiện đại là iệc gần như không,cần phải nghiên cứu, thiết kế bổ sunghoàn thiện một bộ tranh hoàn chỉnh và phù hợp
Trang 33Chương 2 THẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG BỘ TRANH ĐỂ DẠY HỌC CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG Ở THỰC VẬT - SINH HỌC 11 THPT
2.1 Thiết kế bộ tranh của phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật
2.1.1 Những nguyên tắc thiết kế tranh
2.1.1.1 Quán triệt mục tiêu dạy học
Theo hướng phát huy vai trò tích cực, chủ động của người học trongphương pháp dạy học mới thì cách xác định mục tiêu bài học cũng được đổimới - đề ra cho HS, do HS thực hiện Có nghĩa là, sau khi học xong bài đó,
HS phải được những kiến thức, kỹ năng, thái độ gì và ở mức độ như thế nào.Mỗi “đầu ra” của bài học nên diễn đạt bằng một động từ hành động có thểquan sát, đánh giá được Những động từ như “nắm được”, “hiểu được” vẫncòn quá chung chung, chưa thấy rõ mức độ
- Về mục tiêu kiến thức có thể dùng các động từ: định nghĩa được, giảithích được, mô tả được, so sánh, tóm tắt, phản biện, chứng minh
- Về mục tiêu kỹ năng dùng các động từ: thu thập được, đo đạc, vẽ, liệt
kê, phân loại, nhận dạng
- Về thái độ dùng các động từ: tán thành, phản đối, chấp nhận, hưởngứng
Căn cứ vào cách xác định mục tiêu bài học, khi xây dựng các tranh dạyhọc, mỗi mục tiêu phải được cụ thể bằng các câu hỏi, các phiếu học tập màviệc quan sát tranh có thể hướng HS tới hoàn thành các câu hỏi, các phiếu họctập Như vậy tranh dạy học phải là nguồn phát thông tin trong việc tìm ra lờigiải Việc quan sát tranh sẽ lần lượt giải quyết từng câu hỏi, phiếu học tập
và cuối cùng là giải quyết mục tiêu bài học
Ví dụ: Khi thiết kế tranh cho mục bài: “Hình thái, giải phẩu của lá thíchnghi với chức năng quang hợp”- mục II.1 – bài 8- SGK Sinh học 11 – cơ bản
Trang 34Với mục tiêu của bài học là: HS chỉ ra được đặc điểm hình thái, giảiphẩu của lá thích nghi với chức năng quang hợp Lá chứa lục lạp mang hệ sắc
tố quang hợp
Vì vậy khi thiết kế tranh mà HS nhìn vào phải chỉ ra được lá cây có cấutạo ngoài và cấu tạo trong mang các đặc điểm phù hợp với chức năng quanghợp Từ đó HS xây dựng được cấu tạo và hình thái của lá phù hợp với chứcnăng quang hợp
Để đạt được mục tiêu trên, ta có thể giải quyết vấn đề bằng cách khai tháckiến thức từ tranh vẽ trên và trả lời các câu hỏi có liên quan
giải phẩu hình thái bên ngoài của lá thích nghi với chức năng quang hợp như thế nào?
quang hợp?
và cho biết điều đó có vai trò gì đối với quang hợp?
Trang 35Từ câu trả lời của HS thì GV có thể nhận xét, đánh giá và yêu cầu HSkhái quát thành kiến thức.
Như vậy tranh giáo khoa được thiết kế phải thực sự chứa đựng nhữngtri thức mà nội dung bài học yêu cầu, phải mang tính lôgíc hệ thống để đủđiều kiện hình thành và phát triển tri thức Tranh phải bám sát mục tiêu bàihọc, tiềm ẩn tri thức cần lĩnh hội và có khả năng chuyển tải tri thức đó Đây lànguyên tắc hàng đầu để làm căn cứ thiết kế và sử dụng hợp lý [14]
2.1.1.2 Đảm bảo tính chính xác của nội dung
Tranh sau khi được thiết kế phải phản ánh nội dung khoa học một cáchchính xác Các hình phải được kiểm tra, chọn lựa đưa vào tranh sao cho phùhợp nội dung kiến thức của bài học và trình độ nhận thức của HS
Ví dụ: Hình 8.3 SGK Sinh học 11 – Cơ bản Hình này chưa mô tả đượchết kiến thức cơ bản của nội dung, như: Chưa chỉ ra được các grana được nốivới nhau bằng một hệ thống màng, chưa thể hiện được trong lục lạp còn có cảADN và Riboxom Vì vậy để chính xác hơn và đầy đủ hơn, chúng tôi đã thiết
kế lại hình như sau:
2.1.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính sư phạm
Tính sư phạm của tranh dạy học được biểu hiện như sau:
- Tranh dạy học phù hợp nội dung chương trình dạy học từng cấp, từngkhối; phù hợp với trình độ nhận thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS
Trang 36- Nội dung của tranh liên hệ chặt chẽ với nội dung của SGK, ở đó thể hiệnnhững kiến thức cơ bản của bài học Kiến thức trong SGK là tiêu chuẩn, làcăn cứ để xây dựng nội dung tranh dạy học.
- Bố cục các hình ảnh trong tranh phải rõ ràng, phù hợp lôgic nhận thức,dung lượng kiến thức phù hợp với sự phân bố thời gian
Ví dụ: Động lực đẩy của dòng mạch gỗ: Mục I.3.a Lực đẩy (áp suất rễ,
hình 2.3) có hình mô tả phù hợp với nội dung và HS cũng hình dung ra được
nội dung cần truyền đạt, nhưng mục I.3.b (Lực hút do thoát hơi nước ở lá) thì
hình minh họa rất chi tiết, dư thừa (nêu rõ cả hiện tượng lẫn cơ chế (hình 2.4 a
và b), ngược lại mục I.3.c lực liên kết gữa các phân tử nước với nhau và với
thành mạch gỗ thì không có hình minh họa và nội dung kênh chữ cũng không
nói gì thêm
Như vậy nội dung của kiến thức trong SGK không được xây dựngthành nội dung của tranh, bố cục của tranh xây dựng không hợp lí Điều đóảnh hưởng đến khả năng hấp thụ kiến thức một cách chủ động của HS, vàkhông phát huy đượ hết thế mạnh của tranh hình
2.1.1.4 Phục vụ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay
Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là đổi mới cách thứchoạt động của giáo viên trong việc chỉ đạo, tổ chức hoạt động nhận thức của
HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học Phương pháp dạy học có mối quan hệgiữa mặt bên trong và mặt bên ngoài Mặt bên ngoài là những thao tác hànhđộng của GV và HS, còn mặt bên trong là cách thức tổ chức hoạt động nhậnthức của HS, là con đường GV dẫn dắt HS lĩnh hội nội dung dạy học Mặt bêntrong quy định mặt bên ngoài và phụ thuộc vào nội dung dạy học cũng nhưtrình độ của HS Còn mặt bên ngoài tuỳ thuộc vào kinh nghiệm sư phạm của
GV và chịu ảnh hưởng của PTDH PTDH là công cụ lao động của GV và HS.PTDH phục vụ đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tự học, khắc phụclối truyền thụ một chiều, phát huy tính cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của
HS, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
Trang 37cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS Nguồn thông tin không chỉtruyền đạt từ thầy đến trò mà còn từ trò cho trò, thậm chí từ trò bổ sung chothầy Do đó khi thiết kế các PTTQ nói chung và tranh dạy học nói riêng phải
có các thành phần thực hiện mối liên hệ ngược đó
Để thực hiện nguyên tắc này, tranh vẽ sau khi thiết kế phải đảm bảo các yêucầu sau:
- Đảm bảo sự thu nhận chính xác biểu tượng, các dấu hiệu của khái niệmlàm cho chất lượng dạy học cao hơn
- Phải gây hứng thú và cho phép nâng cao cường độ học tập của HS
- Tăng cường tính tích cực, tự lực của HS, rèn luyện kỹ năng kỹ xảo, vậndụng kiến thức vào thực tiễn
- Phải đáp ứng mục đích lý luận dạy học (nghiên cứu tài liệu mới, củng cố,kiểm tra đánh giá ) và phù hợp với các con đường lĩnh hội tri thức của HS.Phải xây dựng những tranh có thể biễu diễn minh hoạ cho bài giảng, giúp HSnhận biết các dấu hiệu của khái niệm để lĩnh hội tri thức cơ bản đầy đủ và sâusắc hơn, đồng thời phải xây dựng các tranh có tính chất tìm tòi kiến thức.[18]
Ví dụ: Tranh « Sự phụ thuộc về mặt dinh dưỡng của cây vào hoạt
động của vi sinh vật đất » đáp ứng được yêu cầu phục vụ cho mục đích lí luận
dạy học tích cực
Trang 38* Nghiên cứu tài liệu mới:
GV: Nhìn vào tranh, em hãy cho biết các nguồn cung cấp nitơ tự nhiên cho cây?HS: Có 2 nguồn chủ yếu:
+ Trong khí quyển, nitơ ở dạng phân tử N2 cây không sử dụng được,cây muốn sử dụng thì phải chuyển về dạng NH3
+ Trong đất: Gồm nitơ khoáng và nitơ trong xác của sinh vật, câychỉ hấp thụ được khi ở dạng NH3 và NO3
GV: Nhìn vào tranh, em hãy chỉ ra con đường chuyển hóa nitơ hữu cơ trongđất thành dạng nitơ khoáng?
thành N2 nhờ nhóm vi khuẩn phản nitrat hóa
GV: Thế nào là quá trình cố định nitơ phân tử?
HS: Nhìn vào tranh nghiên cứu và trả lời: Là quá trình liên kết N2 với H2 đểhình thành nên NH3.
GV: Hãy chỉ ra con đường cố định nitơ phân tử xảy ra trong đất và sản phẩmcủa quá trình đó?
HS: Đó là con đường sinh học cố định nitơ, sản phẩm của quá trinh đó là NH4
.GV: Sự hoạt động của con đường này cần có yếu tố nào tham gia?
HS: Có sự tham gia của vi sinh vật cố định nitơ
Trang 39* Sử dụng để kiểm tra đánh giá
GV: Treo tranh lên và yêu cầu học sinh: Trình bày vai trò của quá trình cố địnhnitơ phân tử bằng con đường sinh học đối với sự dinh dưỡng nitơ ở thực vật
Như vậy tùy vào từng tranh có thể sử dụng theo các mục đích lí luậndạy học khác nhau, cùng một tranh có thể sử dụng với nhiều mục đích hoặcmột tranh chỉ sử dụng một mục đích Nhưng tóm lại tranh là phải phát huyđược tính tích cực của học sinh
và tập trung sự chú ý của người xem một cách nhanh nhất [13]
Trong một tờ tranh cũng không nên vẽ quá nhiều hình với các chủ đề khácnhau Tranh vẽ phải có màu sắc sinh động, trung thực, các hình ảnh tượngtrưng gần gũi với các đối tượng nhằm gây hứng thú cho HS, làm cho các em
có phản ứng tư duy nhanh khi nghe GV nêu vấn đề
Ví dụ: Hình 1.2 Lông hút của rễ
Các thành phần trong hình vẽ của tranh không cân xứng vơi nhau, độphóng của đỉnh sinh trưởng thì chiếm phần lớn của tranh còn phần mô tả lônghút quá ít, nếu không nhìn vào tiêu đề tranh thì không phân biệt được đó làmiền lông hút và đỉnh sinh trưởng của rễ
Yêu cầu thẩm mĩ: Đường nét và màu sắc của tranh phải thật đảm bảocấu trúc tự nhiên, không cầu kỳ hay phức tạp quá Tỷ lệ đường nét, hình khối
Trang 40phải cân xứng, hài hoà Không được lạm dụng sự gia công màu sắc khôngphù hợp Chi tiết xấu, cẩu thả, thiếu sự hài hoà sẽ không gây được hứng thúcho HS trong quá trình quan sát Các hình ảnh phải sáng sủa rõ nét, màu sắchài hoà thể hiện rõ bản chất của đối tượng hoặc các quá trình sinh học Khôngnên dùng nhiều kiểu chữ trong một tờ tranh, vì như thế không đảm bảo tínhthẩm mỹ và còn gây rối mắt cho HS Khi đặt tiêu đề cho tranh nên đặt câungắn, cô đọng, có hàm ý cao Tiêu đề đặt ngay ở giữa hàng trên hoặc dưới của
tờ tranh Màu chữ và hình phải tương phản với màu nền của tranh Bố cục tờtranh đơn giản, cân đối, phải đảm bảo dễ đọc các chữ trên tranh
2.1.2 Quy trình thiết kế tranh dạy học
Bước 1: Phân tích nội dung chương trình
* Xác định mục tiêu bài học
* Phân tích hệ thống tranh ảnh trong SGK
* Xây dựng, sưu tầm, bổ sung và cải tiến tranh đã có phù hợp nội dung dạyhọc trong SGK
Bước 2: Xây dựng tranh
* Thiết lập bố cục cho từng tranh dạy học
* Thiết kế tranh dạy học trên phần mềm Photoshop
Xác định mục tiêu càng cụ thể, sát hợp với yêu cầu nội dung và trình
độ nhận thức HS thì càng thuận lợi cho việc thiết kế tranh Tranh phải thực sựchứa đựng những tri thức bài học, phải mang tính lôgíc hệ thống để đủ điềukiện hình thành và phát triển tri thức
Ví dụ: Bài 9 – Quang hợp ở các nhóm thực vật C3 , C4 và CAM
Mục: Con đường cố định CO2 trong pha tối của quang hợp