Trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, về từ vựng, từ địa phươngThanh Hoá, từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên đều đãđược nghiên cứu ở những mức độ khác nhau.. Điều này
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất trong sự đa dạng Đó
là ngôn ngữ chung cho 54 dân tộc anh em trên mọi miền của Tổ quốc
Tuy nhiên, thống nhất không phải là đồng nhất, do quy luật vận độngnội tại của hệ thống cấu trúc ngôn ngữ, do điều kiện địa lí, do sự phát triểnkinh tế - xã hội không giống nhau giữa các vùng dân cư đã tạo nên sự pháttriển biến đổi ngôn ngữ không đều giữa các vùng Ngôn ngữ dân tộc càngphát triển đi đến sự thống nhất cao, đồng thời ngôn ngữ đó cũng đa dạngphong phú với nhiều màu sắc khác nhau trên từng vùng của đất nước Nhữngdáng vẻ khác nhau của ngôn ngữ toàn dân trên một vùng địa lí dân cư nào đóchính là tiếng địa phương hay còn gọi là Phương Ngữ Tìm hiểu phương ngữ
từ góc độ nào cũng là sự cần thiêt để thấy được sự đa dạng phong phú củatiếng Việt
1.2 Hiện nay, với tiếng Việt, phần đông các nhà nghiên cứu đã chia ra
ba vùng phương ngữ: Phương Ngữ Bắc, Phương Ngữ Trung và Phương NgữNam
Vùng phương ngữ Trung (hay còn gọi là vùng phương Ngữ Bắc TrungBộ) gồm có các tiểu vùng: Phương ngữ Thanh Hoá, phương ngữ Nghệ Tĩnh,phương ngữ Bình Trị Thiên Mỗi vùng phương ngữ cũng như mỗi tiểu vùng
có những đặc điểm riêng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
Trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, về từ vựng, từ địa phươngThanh Hoá, từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên đều đãđược nghiên cứu ở những mức độ khác nhau Nhưng đặc điểm chung của từvựng phương ngữ Bắc Trung Bộ và đặc điểm riêng về từ địa phương giữa cáctiểu vùng thì chưa được nghiên cứu
Từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên tuy đãđược nghiên cứu nhiều nhưng mặt giống, khác của hai phương ngữ này chưađược nghiên cứu sâu Theo các nhà nghiên cứu, từ địa phương Nghệ Tĩnh
Trang 2được xác định là phương ngữ tiêu biểu thể hiện đầy đủ nhất đặc điểm củavùng phương ngữ Bắc Trung Bộ Trong phương ngữ Bình Trị Thiên, tiếngThừa Thiên Huế mang đặc điểm chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Trung Bộ
và phương ngữ Nam Trung Bộ, Nam Bộ Phương ngữ Thanh Hóa cũng đượcnhiều nhà nghiên cứu xem là phương ngữ chuyển tiếp giữa vùng phương ngữBắc Bộ và phương ngữ Bắc Trung Bộ Vậy phương ngữ Bình Trị Thiên vàphương ngữ Nghệ Tĩnh có điểm chung và riêng gì về từ vựng? Điều này chưa
được các nhà nghiên cứu chỉ ra, cho nên đề tài: “So sánh từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên” là một sự nghiên cứu cần
Theo ý kiến của các nhà ngôn ngữ, trong các vùng phương ngữ lớn củatiếng Việt, phương ngữ Bắc Trung Bộ được hình thành khá sớm, ở giai đoạntiếng Việt cổ, niên đại khoảng thế kỉ 13 – 16 (theo cách phân kì của NguyễnTài Cẩn) [6], nên nó lưu giữ nhiều nét cổ của tiếng Việt Vùng phương ngữnày thuộc địa bàn dân cư từ Thanh Hoá đến Bình Trị Thiên
Hoàng Thị Châu trong công trình Tiếng Việt trên mọi miền đất nước [10] và Võ Xuân Trang trong Phương ngữ Bình Trị Thiên [31] đã chia phương
ngữ Bắc Trung Bộ thành 3 tiểu vùng phương ngữ: Phương ngữ Thanh Hoá,phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên
Sự khác biệt giữa các phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân thể hiện trên
cả ba mặt: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhưng ngữ âm là rõ nhất Vì thế, khi
Trang 3nghiên cứu phương ngữ, ngữ âm là một phương diện thu hút sự quan tâm củanhiều nhà nghiên cứu Tuy vậy, trong các công trình nghiên cứu về phươngngữ tiếng Việt nói chung hoặc các phương ngữ cụ thể, mặt từ vựng ngữ nghĩa
của từ cũng được chú ý miêu tả Nguyễn Bạt Tuỵ, Miêu tả phương ngôn Quảng Trị (1961); Phạm văn Hảo, Chú ý tới Ngữ âm phương ngữ Thanh Hoá (1985); Võ Xuân Trang, với công trình Phương ngữ Bình Trị Thiên [31];
Nhóm tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh,
Nguyễn Hoài Nguyên (1999) với công trình Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh đã đi vào thu thập vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh.
Năm 2004, TS Nguyễn Thị Bạch Nhạn đã hoàn thành công trình
nghiên cứu đề tài cấp bộ Từ vựng phương ngữ Bắc Trung Bộ Ở công trình
này các tác giả đã cung cấp một số lượng rất lớn từ ngữ thuộc phương ngữBắc Trung Bộ, trong đó từ được chú thích, chú giải rất rõ ràng
Năm 2001, Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh của Hoàng Trọng Canh được bảo vệ Tiếp theo, năm 2002 luận án Tiến sĩ Miêu tả đặc trưng ngữ âm phương ngữ Nghệ Tĩnh của Nguyễn Văn
Nguyên cũng được bảo vệ thành công
Năm 2009, PGS.TS Hoàng Trọng Canh với chuyên luận Từ địa phương Nghệ Tĩnh – Về một khía cạnh Ngôn ngữ văn hoá đã đi sâu vào diện
mạo toàn cảnh hệ thống từ vựng ngữ nghĩa phương ngữ Nghệ Tĩnh Vì thế,phương ngữ Nghệ Tĩnh hiện lên khá rõ nét về vốn từ vựng, về những đặc điểm,ngữ âm, ngữ nghĩa, cấu tạo và cách thức sử dụng Chuyên luận cũng góp phầnlàm cho bức tranh chung về phương ngữ Bắc Trung Bộ nổi rõ hơn
Ngoài các nghiên cứu trên, về vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ còn cómột số luận văn, khoá luận cũng đi vào nghiên cứu một số tiểu vùng Có thểđiểm qua các đề tài đã được bảo vệ ở trường Đại họcVinh :
Nguyễn Thị An Thanh (2003), Đặc điểm cấu tạo từ địa phương Nghệ Tĩnh, ( Khóa luận tốt nghiệp)
Trang 4Phan Thị Tố Huyền (2005), Đặc điểm từ địa phương Quảng Bình
( Khoá luận tốt nghiệp Ngữ văn, Vinh)
Hoàng Thị Song Hương (2008), Từ địa phương trong thơ dân gian Bình Trị Thiên (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Vinh).
Nguyễn Thị Thắm (2009), Khảo sát từ địa phương Thanh Hoá, ( Luận
văn Thạc sĩ Ngữ văn, Vinh)
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên tuy đã đi sâu vào tìm hiểuđặc điểm của từng phương ngữ trong phương ngữ Bắc Trung Bộ trên một vàiphương diện Trong đó hướng nghiên cứu là đối lập với ngôn ngữ toàn dân đểtìm ra sự khác biệt, đặc trưng riêng của từng phương ngữ
Tuy nhiên, để thấy rõ đặc trưng của từng phương ngữ, không chỉ đối lậpphương ngữ nói chung từ địa phương nói riêng với ngôn ngữ toàn dân mà cònphải đối lập giữa các phương ngữ với nhau để tìm ra đặc điểm chung củavùng và đặc điểm riêng của từng phương ngữ cụ thể
Do vậy, so sánh các tiểu vùng của phương ngữ Bắc Trung Bộ mà cụ thể
là so sánh từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên đang còn
là một vấn đề bỏ ngỏ Xuất phát từ mục đích như đã nói, tiếp thu những ý kiến
gợi mở của các tác giả đi trước, chúng tôi mạnh dạn đi vào đề tài “So sánh từ
địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên”.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
1 Qua nghiên cứu, so sánh từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phươngBình Trị Thiên, khoá luận nhằm chỉ ra đặc điểm chung về từ vựng giữaphương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên, đồng thời cũng gópphần cho thấy bộ mặt từ vựng phương ngữ Bắc Trung Bộ nói chung Qua đó
để hiểu sâu sắc hơn về bản sắc văn hoá của mỗi tiểu vùng cũng như của vùngBắc Trung Bộ
2 Chúng tôi thực hiện đề tài này với mục đích bước đầu xác định mộtbức tranh chung về từ ngữ hai tiểu vùng phương ngữ của vùng Bắc Trung
Trang 5Bộ, trên cơ sở vốn từ đã thu thập được, thông qua so sánh từ địa phương giữacác tiểu vùng, chúng ta sẽ thấy được đặc điểm riêng về từ vựng giữa cácphương ngữ của tiếng Việt Qua đó, góp phần vào việc nghiên cứu tiếng Việtnói chung.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra cho đề tàinày là:
- Thu thập, tập hợp vốn từ địa phương Bình Trị Thiên được dùng trongthơ dân gian Bình Trị Thiên và trong giao tiếp thường ngày mà các tác giả đitrước đã công bố Kết quả sẽ được thể hiện dưới dạng bảng từ ở phần phụ lục
- Thu thập, tổng hợp vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh thông qua các côngtrình nghiên cứu đã được công bố của các tác giả đi trước
- So sánh vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình TrịThiên trên các phương diện: Ngữ âm, ngữ nghĩa Đối chiếu từ giữa haiphương ngữ để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng Qua đó kháiquát những đặc điểm từ vựng cuả hai tiểu vùng phương ngữ này
4 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu phương ngữ Bắc Trung Bộ nói riêng cũng như các phươngngữ khác trong tiếng Việt có thể miêu tả nó trên tất cả các phương diện.Nhưng trong đề tài này, chúng tôi chủ yếu khảo sát một số đặc điểm về từvựng ngữ nghĩa của phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiêntrong sự so sánh với ngôn ngữ toàn dân Vì vậy, đối tượng khảo sát là toàn bộ
từ địa phương Nghệ Tĩnh, từ địa phương Bình Trị Thiên Những lớp từ ngữnày có sự khác biệt hoàn toàn hoặc ít nhiều ở mặt nào đó về ngữ âm, ngữnghĩa hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân
Nguồn tư liệu được sử dụng trong khoá luận là ngữ liệu được rút ra từ
Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, và Từ địa phương Bình Trị Thiên trong
thơ dân gian, trong các công trình nghiên cứu về phương ngữ Bình Trị Thiên
đã được công bố nói trên
Trang 65 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài: “So sánh từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địaphương Bình Trị Thiên”, chúng tôi đã vận dụng và triển khai một số phươngpháp sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê phân loại từ địa phương haitiểu vùng trong phương ngữ Bắc Trung Bộ là: từ địa phương Nghệ tĩnh và từđịa phương Bình Trị Thiên trên các tiêu chí ngữ âm, ngữ nghĩa
5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng trong khoá luận này để chỉ ra nhữngđặc điểm chung và riêng của từ giữa hai phương ngữ về các mặt : ngữ âm, cấutạo, ngữ nghĩa Trong khoá luận, công việc này được tiến hành với tiêu chí lấyngôn ngữ toàn dân làm đối tượng chuẩn so sánh
5.3 Phương pháp miêu tả, phân tích
Trên cơ sở thống kê, phân loại, khảo sát, đối chiếu, chúng tôi tiến hànhmiêu tả, phân tích các lớp nghĩa của các nhóm từ trong hai phương ngữ
Ngoài ra, tuỳ theo vấn đề đang xét, chúng tôi phối hợp nhiều phươngpháp khác nhau mà nghiên cứu phương ngữ và ngôn ngữ thường dùng
6 Những đóng góp của đề tài
Khoá luận của chúng tôi có những đóng góp chính như sau:
- Đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu theo hướng so sánh từđịa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên một cách toàn diện,
cụ thể Những nét giống và khác nhau trên các phương diện ngữ âm, từ vựngcủa từ giữa các tiểu vùng sẽ được miêu tả Đồng thời góp phần khái quát đặctrưng, diện mạo riêng của từ vựng phương ngữ Bắc Trung Bộ là đóng gópmới của đề tài
Trang 77 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Những nét tương đồng và khác biệt về ngữ âm giữa từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên
Chương 3: Những nét tương đồng và khác biệt về cấu tạo và ngữ nghĩa giữa từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên
Trang 8CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Phương ngữ là một trong các mặt biểu hiện tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc
Ngôn ngữ phát sinh và phát triển gắn liền với lịch sử xã hội loài người
Vì thế, khi nói tới ngôn ngữ quốc gia hay ngôn ngữ dân tộc đảm trách chức
năng ngôn ngữ quốc gia là nói tới những phạm trù xã hội ngôn ngữ học lịch
sử phát triển ( Lê Quang Thiêm, Vấn đề Ngôn ngữ quốc gia, 2000) Quá trình
hình thành dân tộc đã đưa đến sự hình thành một ngôn ngữ dân tộc thốngnhất Tuy nhiên sự thống nhất của ngôn ngữ dân tộc không có nghĩa là sựđồng nhất của tất cả các biểu hiện ngôn ngữ trong thực tế Tính thống nhấtcủa ngôn ngữ dân tộc được thừa nhận như là một thuộc tính bản chất, đồngthời tình trạng tồn tại trong lòng nó - Ngôn ngữ dân tộc – những phương ngữđịa lí và phương ngữ xã hội là sự thực hiển nhiên mà chúng ta hoàn toàn cóthể quan sát được trong tiếng Việt cũng như các ngôn ngữ khác
Phương ngữ và ngôn ngữ dân tộc có mối quan hệ khăng khít với nhau.Chính sự đa dạng của ngôn ngữ dân tộc tạo ra phương ngữ và phương ngữ tạo
ra nét riêng trong nội bộ ngôn ngữ
1.1.1 Khái niệm và quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc
Nội dung của khái niệm ngôn ngữ dân tộc thường được hiểu là: “Ngônngữ chung của cả một dân tộc Đó là một phạm trù lịch sử - xã hội, biểu thịngôn ngữ là phương tiện giao tiếp của một dân tộc và được thể hiện dưới haihình thức: nói và viết Ngôn ngữ dân tộc hình thành cùng với sự hình thànhdân tộc, đồng thời cũng là tiền đề và điều kiện hình thành và tồn tại của dân
Trang 9tộc và mặt khác, ngôn ngữ dân tộc là kết quả và sản phẩm của quá trình hìnhthành, tồn tại của dân tộc” [32]
Ngôn ngữ dân tộc là phương tiện giao tiếp chung của toàn dân tộc, bất
kì sự khác nhau về lãnh thổ hay xã hội của họ Tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử mà
sự hình thành của dân tộc và ngôn ngữ dân tộc mỗi nơi, mỗi thời kỳ một khác,theo những con đường khác nhau C.Mac và F.Ăngghen đã chỉ ra con đườngphát triển ngôn ngữ dân tộc như sau:
“Trong bất cứ ngôn ngữ phát triển nào hiện nay, các nguyên nhân khiếncho ngôn ngữ phát sinh một cách tự phát, được nâng lên thành ngôn ngữ dântộc, thì một phần là do ngôn ngữ đó được phát triển một cách lịch sử từ chỗ
nó được chuẩn bị đầy đủ về tài liệu như ngôn ngữ La Mã và ngôn ngữGiecman chẳng hạn, một phần là do sự giao dịch và hỗn hợp giữa các dân tộc,như tiếng Anh chẳng hạn, một phần nữa là do các phương ngữ tập trung thànhngôn ngữ dân tộc thống nhất và sự tập trung đó lại do sự tập trung kinh tế,chính trị quyết định”
Như vậy, sự hình thành, phát triển của ngôn ngữ dân tộc gắn liền chặtchẽ với sự phát triển của xã hội Ngôn ngữ là sản phẩm của một thời đại lịch
sử nhất định Quá trình hình thành thống nhất dân tộc cũng là quá trình hìnhthành, thống nhất ngôn ngữ dân tộc, song không phải khi ngôn ngữ dân tộc đãđược hình thành thì không còn phương ngữ Trái lại, trong lòng của ngôn ngữdân tộc, ở các mặt biểu hiện trên các vùng địa lí dân cư khác nhau, trong cáctầng lớp xã hội khác nhau phương ngữ vẫn tồn tại
1.1.2 Sự hình thành phương ngữ và tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc về mặt biểu hiện
Quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc diễn ra như trên là sự phản ánhquy luật phân tán và thống nhất của ngôn ngữ Quy luật chung đó của ngônngữ gắn liền với sự phát triển của xã hội Trong từng thời kỳ cụ thể, tuỳ theochế độ xã hội của từng quốc gia trong lòng ngôn ngữ dân tộc thống nhất vẫnxảy ra hiện tượng các phương ngữ được hình thành và củng cố dần do tình
Trang 10trạng cát cứ, tình trạng phân tán cách biệt của các khu vực địa lí dân cư ở cácquốc gia phong kiến.
Con đường hình thành phương ngữ khi đã có ngôn ngữ quốc gia trongnhững điều kiện địa lí giao tiếp giữa các vùng bị cách biệt Nhìn bề ngoàidường như nó đi ngược lại với quy luật thống nhất ngôn ngữ dân tộc, nhưnghiện tượng này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian với điều kiện lịch sử xãhội cụ thể của từng nước Các phương ngữ đó cũng mất dần tính cách biệt và
đi đến thống nhất khi hàng rào địa lí và giao tiếp xã hội của các nước côngquốc (ở châu Âu), các vùng địa lí dân cư cách biệt vì giao thông (ở các nướcphong kiến phương Đông) bị xoá bỏ
Phương ngữ ra đời còn là kết quả của một sự tác động bên trong, từ cấutrúc ngôn ngữ Ngôn ngữ luôn luôn phát triển và biến đổi Mặt biến đổi của
nó được thể hiện trên từng phương ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp
Nhưng sự biến đổi của ngôn ngữ diễn ra không đều trên từng bình diệnngôn ngữ cũng như trên khắp các vùng dân cư, vì thế mà tạo nên đặc điểmriêng của từng phương ngữ, là những tính đa dạng của ngôn ngữ trong thểhiện
Ban đầu sự thay đổi tạo nên sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùngđịa lí dân cư có thời chỉ là những yếu tố rời rạc về mặt từ vựng như sự xuấthiện của các từ mới, sự mất đi của các từ cũ, về sau những thay đổi lớn hơnbắt đầu chạm đến cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ như sự biến đổi của một vài
âm vị, sự thay đổi của các từ công cụ ngữ pháp trong từng vùng địa lí Đó lànhững dấu hiệu khác nhau giữa các vùng dân cư về mặt ngôn ngữ Đứng vềphương diện hoạt động giao tiếp mà nói, ngôn ngữ thay đổi trong từng vùngdân cư là sự thay đổi và tạo ra thói quen nói năng khác các cùng dân cư khác.Tập hợp các thói quen nói năng khác nhau đó của một vùng dân cư so vớivùng dân cư khác là tập hợp tạo nên phương ngữ của từng vùng Như vậy,nhìn vào biểu hiện của ngôn ngữ trên từng khu vực địa lí ta thấy có sự khácnhau
Trang 11Tuy nhiên, sự khác nhau của các phương ngữ địa lí rõ ràng không phải
do nguyên nhân địa lí Nguyên nhân sâu xa bên trong là do sự phát triển biếnđổi của ngôn ngữ Điều kiện địa lí chỉ là nhân tố khách quan bên ngoài ngônngữ làm cho cách khác biệt của ngôn ngữ được giữ lại và thể hiện ra Nếukhông có sự phân bố tách biệt nhau về mặt địa lí thì không có phương ngữnhưng đó chỉ là điều kiện dễ thay đổi ngôn ngữ được biểu hiện phổ biến trongvùng Hay nói cách khác, “sự khác nhau về địa lí các phương ngữ thực chấtchính là lịch sử phát triển của ngôn ngữ ánh xạ lên phân bố địa lí” [10, tr 35]
Song cũng lưu ý rằng sự khác nhau giữa các phương ngữ dù lớn đếnđâu cũng chỉ là sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữ toàn dân, bởi cácphương ngữ như vậy, trên căn bản giống nhau về hệ thống cấu trúc, chúngvẫn dùng chung một mã ngôn ngữ thống nhất Xu hướng thống nhất ngônngữ, xoá bỏ dần sự khác biệt của các phương ngữ so với ngôn ngữ toàn dân ởmọi quốc gia là một tất yếu của sự phát triển của ngôn ngữ và xã hội
Những phương ngữ địa lí mà chúng ta đã chỉ ra các nguyên nhân hìnhthành như trên là được nhìn theo chiều thời gian và không gian của sự pháttriển, biến đổi và biểu hiện của ngôn ngữ dân tộc Phương ngữ địa lí tạo thành
hệ thống, quan hệ gắn bó với hệ thống ngôn ngữ toàn dân, và là một trongnhững biểu hiện của tính phong phú đa dạng của ngôn ngữ toàn dân, vì thế,mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân với các phương ngữ như giữa cái chung
và cái riêng, giữa cái bất biến và cái khả biến, giữa cái trừu tượng và cái cụthể Trong từng phương ngữ cụ thể, tất yếu có sự xê dịch lớn nhỏ, ít nhiềukhác nhau giữa các phương ngữ với nhau và những phương ngữ đó với ngônngữ văn hoá về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Ví dụ về ngữ âm, hệ thống thanhđiệu của phương ngữ Bắc là 6 thanh, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam
có nơi có 5 hoặc 4 thanh…
Ngoài ra, nếu nhìn ngôn ngữ dân tộc trong mối quan hệ khác, quan hệ
xã hội của các tầng lớp người sử dụng, chúng ta sẽ thấy có những cộng đồng
xã hội, những lớp người có địa vị xã hội, văn hoá, nghề nghiệp khác nhau có
Trang 12thể có cách dùng ngôn ngữ toàn dân với những biến thể riêng Hệ thống biếnthể ngôn ngữ đó thường được gọi là phương ngữ xã hội Trong một quốc gia,khi nói tới ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ thành thị, ngônngữ nông thôn, ngôn ngữ quý tộc thì có nghĩa là đang nói tới các phương ngữ
xã hội Thực ra nếu căn cứ vào cách dùng với những biểu hiện khác biệt củacác yếu tố trong từng phương ngữ xã hội thì ta thấy tính hệ thống của phươngngữ xã hội không rõ ràng như phương ngữ địa lí và những khác biệt của nó sovới ngôn ngữ toàn dân cũng không đáng kể “Ví như ở Việt Nam thời thuộcPháp, trong tầng lớp trí thức, nhiều người hay chêm các từ mượn tiếng Phápvào câu nói của mình làm thành lời nói đặc thù không phổ biến trong toàndân Đặc biệt hơn, do những nguyên nhân xã hội, chính trị, hay tôn giáo nào
đó mà có những Ngôn ngữ như tiếng Caribee, mỗi một sự vật, hiện tượng đều
có hai tên gọi, một tên dành cho nam giới, một tên dành cho nữ giới Chẳnghạn từ “Người Caribê” trong khi nữ giới nói là Aromac thì nam giới lại phảinói Caraibes [5]
Từ những điều đã trình bày ở trên, ta có thể rút ra một vài đặc điểm củaphương ngữ như sau:
Nếu như ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ chungcủa toàn dân tộc, là phương tiện ngôn ngữ được dùng phổ biến rộng rãi hàngngày trong toàn quốc, không bị hạn chế về phạm vi sử dụng thì:
- Phương ngữ là một biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trìnhphát triển, biến đổi của quy luật ngôn ngữ
- Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra trên hai mặt cấu trúc
và chức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ, sựphát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm, từ vựngngữ nghĩa, ngữ pháp, phương ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi ấy.Chính vì vậy phương ngữ khác ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnh nào
đó, ở một mức độ nào đó, nhưng trên căn bản, cái mã chung, hệ thống cấu
Trang 13trúc ngữ pháp, từ vựng, âm vị, giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân làgiống nhau.
- Phương ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân bị hạnchế về phạm vi sử dụng Nói cách khác giới hạn sử dụng của phương ngữ làtrong những vùng địa lí dân cư hoặc tầng lớp xã hội nhất định
- Phương ngữ là một hiện tượng lịch sử, nó ra đời như một tất yếu do
sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội,
do đó với xu thế thống nhất ngôn ngữ ngày càng cao, phạm vi sử dụng củaphương ngữ ngày càng bị thu hẹp về mặt lí thuyết, nó sẽ mất đi trong tươnglai của một ngôn ngữ dân tộc thống nhất và được tiêu chuẩn hoá cao
Tóm lại, nói tới phương ngữ là nói tới một hiện tượng phức tạp củangôn ngữ, không chỉ về mặt hệ thống cấu trúc, cấu tạo cũng như phương tiệnthể hiện mà bản thân nó còn là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ trong vàngoài ngôn ngữ Cho nên, để trả lời được câu hỏi: “Phương ngữ là gì”? làm
cơ sở cho mọi sự khảo sát về phương ngữ, người ta đành phải trừu tượng đốitượng khái quát về những phương diện cơ bản của đối tượng như các địnhnghĩa sau đây mà khoá luận này xem là một trong những cơ sở về mặt lí luận.Nói đến phương ngữ chúng ta có thể nhấn mạnh đến những nét khác biệttrong biểu hiện so với ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể, như địnhnghĩa của Hoàng Thị Châu:
“Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện củangôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó sovới ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác” [10, tr 29]
1.2 Vài nét về phương ngữ tiếng Việt nói chung và phương ngữ Bắc Trung Bộ nói riêng
1.2.1 Các phương ngữ trong tiếng Việt và lịch sử nghiên cứu chúng
“Nhìn một cách sơ lược và chung nhất thực tế nghiên cứu phương ngữhọc tiếng Việt, ta thấy những phương hướng chủ yếu, những bình diện chính,các nội dung cơ bản, mức độ và phạm vi nghiên cứu các phương ngữ cụ thể
Trang 14đã được đẩy mạnh và thu được nhiều thành tựu Song cũng có rất nhiều côngviệc chưa được tiến hành hoặc đi sâu Ta có thể nhìn lại lịch sử nghiên cứuphương ngữ với những nét khái quát chính như sau:
Trước hết, ta có thể đề cập đến các công trình của các tác giả nước
ngoài nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt như công trình Nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt (1912) của Maspéro chia tiếng Việt thành hai vùng phương
ngữ: Phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung
Hai nhà Việt ngữ học của Liên Xô M.V.Gordina và I.S.Bustrov năm
1970, dựa chủ yếu vào hệ thống chung âm đã chia tiếng Việt thành hai vùngphương ngữ nhưng đến năm 1984, hai tác giả đã có sự điều chỉnh và bổ sungthêm một vùng phương ngữ thứ ba đó là phương ngữ Huế, nhưng vùngphương ngữ thứ ba này có tính chất như là một vùng đệm Điều này được hai
tác giả nói rõ trong Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt (1984) Tiếp đến là công trình của L.Cadiere Ngữ âm tiếng Việt (1902) (phương ngữ miền thượng Trung Kì), Ngữ âm tiếng Việt (1911) (phương ngữ miền hạ Trung Kì); công trình của tác giả M.B.E.Meaeau – 1951 Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt…
Nhìn chung các công trình của các tác giả đều nghiên cứu tiếng Việt ởmặt biểu hiện của nó, chủ yếu về phương diện ngữ âm nên ít nhiều đều mangtính chất phương ngữ Tuy nhiên, phần lớn các công trình đó đều đi vào miêu
tả ngữ âm của một vùng nhất định nhưng lại không đặt nó trong sự đối lập vớingôn ngữ toàn dân hoặc với các phương ngữ khác Vì thế nó mang tính chấtcủa một công trình ngôn ngữ nhiều hơn là một nghiên cứu phương ngữ học,
do đó các đặc trưng của phương ngữ học không được thể hiện rõ nét
Khác với các nhà nghiên cứu nước ngoài, xu hướng nghiên cứu củaphần lớn các nhà Việt Ngữ học là đào sâu nghiên cứu vào những đặc trưngkhái quát Hệ thống của phương ngữ tiếng Việt được các nhà Việt Ngữ họcchú ý miêu tả các đặc trưng, đặt chúng trong quan hệ đối lập, so sánh vớingôn ngữ toàn dân hay giữa các vùng này với vùng khác Nên các công trìnhcủa họ mang tính chất của một công trình nghiên cứu phương ngữ thực sự
Trang 15Chúng ta có thể kể tên các công trình nghiên cứu có liên quan đến phươngngữ tiếng Việt.
Trước hết là tác giả Hoàng Thị Châu với hàng loạt công trình nghiên
cứu như Về bốn phụ âm ngạc hoá còn lại trong tiếng Việt vùng Bắc Bình Trị Thiên ( Tiếng Việt và các Ngôn ngữ Đông Nam Á, NXB KHXH- HN, tr 12- 22), Tiếng Việt trên các miền đất nước ( Phương ngữ học, NXB KHXH - HN,
1989)
Hồng Dân với công trình “Từ phương ngôn và vấn đề chuẩn hoá từ
vựng tiếng Việt” (Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, NXB KHXH - HN,
Nam và tiếng Việt toàn dân” (Ngôn ngữ số 1, tr.47-51).
Phạm Văn Hảo “Về một số đặc trưng của tiếng Thanh Hoá, thổ ngữ
chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Bắc Trung Bộ” (Ngôn ngữ, số 4, 1985, tr.54-56)
Cao Xuân Hạo với Số phận các vần có nguyên âm hẹp qua các phương ngữ lớn của Việt Nam (Tiếng Việt – Mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ
pháp, NXB Giáo dục, tr.116-119)
Nguyễn Quang Hồng với “Các lớp từ địa phương và chức năng của
chúng trong ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt” (trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ, NXB KHXH, Hà Nội, 1981).
Trương Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân với Về vị trí của tiếng địa phương Thanh Hoá ( Ngôn ngữ, số 4, 1985, tr.64-65 ).
Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn Hoài Nguyên với Nhát cắt thời gian trong tâm thức người Nghệ (Ngôn ngữ số 4, 1995, tr.65-67).
Võ Xuân Trang với Phương ngữ Bình Trị Thiên [31].
Trang 16Ngày nay, phương ngữ trong tiếng Việt đã trở thành đối tượng củangành phương ngữ học Trong các trường đại học trong nước, phương ngữ họctrở thành một bộ môn được đưa vào chương trình giảng dạy cho sinh viên khoaNgữ văn Các giáo trình về phương ngữ được biên soạn công phu như:
Tiếng việt trên các miền đất nước (Phương ngữ học - Hoàng Thị Châu);
hoặc có các chương nghiên cứu về phương ngữ như các giáo trình từ vựng
như: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, NXB GD, HN, 1986; Nguyễn Văn Tu Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, NXB GD, HN, 1986; Nguyễn Thiện Giáp Từ vựng học tiếng Việt, 1989.
Một khía cạnh khác của phương ngữ: Phương ngữ về chức năng xã hội,
về chuẩn hoá, với giảng dạy trong trường phổ thông… được chú ý Nhiềucông trình nghiên cứu về lĩnh vực này đã được công bố trong các hội nghịkhoa học, trong các tạp chí chuyên ngành, các kỉ yếu khoa học Đó là cácnghiên cứu của Hoàng Thị Châu [1970]; Nguyễn Văn Ái [1981]; Nguyễn TàiCẩn [1981]; Nguyễn Thiện Chí [1981]; Hồng Dân [1981]; Nguyễn QuangHồng [1981]; Vũ Bá Hùng [1981]; Nguyễn Nhã Bản [1993]; Nguyễn VănChiến [1993]; Nguyễn Văn Nguyên [2002]…
Điểm qua các công trình đã nêu trên, ở một phương diện khác, ta thấy,phương ngữ học tiếng Việt đã được nghiên cứu cả về mặt cấu trúc và chứcnăng và càng về sau các chức năng của phương ngữ càng được chú ý nhiềuhơn Hai lĩnh vực chính được đẩy mạnh nghiên cứu trong phương ngữ tiếngViệt là ngữ âm và từ vựng ngữ nghĩa Các công trình nghiên cứu về ngữ âm
và từ vựng - ngữ nghĩa phương ngữ từ trước tới nay phần nhiều đều hướng tớicác mục đích: nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, quan hệ giữa các phương ngữ vớingôn ngữ và nghiên cứu phương ngữ phục vụ cho công cuộc chuẩn hoá vàgiữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Bình diện được tập trung nhiều nhất và
có kết quả nhất là nghiên cứu ngữ âm của các phương ngữ Điều này phảnánh một thực tế là sự khác biệt diễn ra chủ yếu và dễ thấy nhất giữa phươngngữ với ngôn ngữ toàn dân cũng như giữa các phương ngữ trong tiếng Việt là
Trang 17về mặt ngữ âm Bình diện từ vựng ngữ nghĩa chưa được nghiên cứu nhiều.
Ngoài nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Lang Phương ngữ Nam Bộ - những khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa của phương ngữ Nam Bộ so với phương ngữ Bắc Bộ [20] và Hoàng Trọng Canh với Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phương Nghệ Tĩnh [4] Phần nhiều các nghiên cứu khác về từ vựng ngữ nghĩa
lâu nay mới chỉ tập trung hướng tới một mục đích là chuẩn hoá ngôn ngữ.Hướng nghiên cứu ngữ nghĩa phương ngữ gắn với văn hoá địa phương, tuy líthú và thiết thực nhưng chỉ mới được chú ý gần đây Thực tế này đã phản ánhrằng: ngữ nghĩa của từ vựng, nhất là đối với lớp từ địa phương thường là phứctạp và khó thấy, đòi hỏi phải có thời gian tìm hiểu công phu, nhất là ngườisống ngoài địa bàn phương ngữ đó, nếu không trực tiếp sử dụng, không hiểuphong tục tập quán, thói quen ngôn ngữ giao tiếp của người địa phương đó thìrất khó, nếu không muốn nói là không thể thực hiện được
Mặt khác, khi nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt, một phương diệntuy được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm từ sớm, nhưngcho đến nay vẫn chưa có được sự thống nhất cao là vấn đề xác định cácphương ngữ
Tiếng Việt có bao nhiêu phương ngữ? Ranh giới của các phương ngữđến đâu? Việc xác định ranh giới của các phương ngữ thổ ngữ trong một ngônngữ xét về mặt lí luận và thực tế đều phức tạp, không chỉ riêng tiếng Việt.Việt Nam vốn là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc lại có ngôn ngữ riêng,trong đó, ngôn ngữ và phương ngữ các dân tộc thiểu số anh em có nhiều liênquan mật thiết với tiếng Việt về cội nguồn và tiếp xúc Vì thế, khi nghiên cứungôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng góp phần soi sáng nhiều vấn đềkhông riêng gì đối với tiếng Việt nói chung mà còn đối với các phương ngữtrong tiếng Việt nói riêng, trong đó có vấn đề sự hình thành của các phươngngữ
Từ quy luật của sự hình thành ngôn ngữ và các phương ngữ nói chung,khi nhìn vào một ngôn ngữ nào đó về biểu hiện, người ta có thể nói được
Trang 18rằng: Ngôn ngữ ấy bao gồm nhiều phương ngữ và trong từng phương ngữ lại
có các thổ ngữ khác nhau Tuy nhiên, khi đi sâu nghiên cứu các ngôn ngữ cụthể, bức tranh ngôn ngữ và phương ngữ của các dân tộc không hề đơn giản.Điều đó xuất phát từ hiện trạng bức tranh ngôn ngữ và phương ngữ trong lịch
sử là luôn luôn thay đổi và ở mỗi dân tộc có một sự phức tạp riêng Sự thayđổi của bức tranh ngôn ngữ vừa mang dấu ấn không gian, vừa mang dấu ấnthời gian của lịch sử địa lí dân cư và sự phát triển, biến đổi của bản thân ngônngữ Một ngôn ngữ hay một phương ngữ nào đó hiện nay, có thể trước đâychúng đã biến đổi qua nhiều không gian rộng hẹp khác nhau, cho nên, bứctranh ngôn ngữ hiện nay không phải là kết quả của một sự phát triển tuần tự
và trùng khít của bức tranh ngôn ngữ quá khứ trong từng vùng cũng như trongtoàn quốc Bởi thế, khi tiếp cận các phương ngữ và ngôn ngữ phải “chấp nhậnmột thực tế là không gian ngôn ngữ hiện nay chỉ là không gian bề mặt, trong
đó nó chứa đựng nhiều tầng không gian khác nhau phản ánh một lịch sử pháttriển đa chiều của chúng” Và “không loại trừ khả năng pha trộn ngôn ngữtrong quá trình phát triển lịch sử” Đi vào các phương ngữ, nhất là xác địnhranh giới chúng trong tiếng Việt, chúng ta sẽ thấy “tính chất không thuần nhất
của không gian thuần Việt” [13].
Thực tế đó đã dẫn đến thực trạng khi xác định ranh giới của cácphương ngữ trong tiếng Việt giữa các nhà ngôn ngữ học, phương ngữ họckhông có tiếng nói chung
Một trong những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu tiếng Việt vàphương ngữ tiếng Việt quan tâm nhiều nhất là vấn đề ranh giới còn gọi làphân vùng phương ngữ trong tiếng Việt Nhưng kết quả như đã thấy, sựkhông thống nhất về đường ranh giới giữa các phương ngữ Điều này xuấtphát từ nhiều nguyên nhân
Trước hết là bản thân đối tượng: Ranh giới của các phương ngữ khôngphải là ranh giới tự nhiên Ranh giới của phương ngữ là sự phản ánh phạm vibiến đổi của các biến thể ngôn ngữ Nhưng sự biến đổi của ngôn ngữ lại
Trang 19không chỉ xảy ra ở một hiện tượng, một vùng địa lí cụ thể Mỗi biến đổi củangôn ngữ có thể tạo ra một đường biên Tuỳ theo mức độ lan toả của mỗi biếnthể ngôn ngữ mà các đường ranh giới (đồng ngữ) có phạm vi rộng, hẹp khácnhau, có thể chồng xếp lẫn nhau Do đó sẽ không có một đường ranh giớiphương ngữ đúng như đường ranh giới địa lí tự nhiên Chính vì bản thân đốitượng phức tạp như vậy nên đường ranh giới phương ngữ mà các nhà nghiêncứu đưa ra lúc nào cũng chỉ là “ước định”, tương đối, tuỳ theo cách nhìn củamỗi tác giả.
Thứ đến, tuỳ vào các dấu hiệu mà các tác giả lấy làm căn cứ: thanhđiệu, ngữ âm, từ vựng để phân vùng phương ngữ Tác giả này nhấn mạnh đặcđiểm này thì đường ranh giới phương ngữ sẽ là thế này, tác giả kia nhấn mạnhđặc điểm kia thì đường ranh giới sẽ là thế kia Chính vì vậy, không ai ngạcnhiên khi nhìn thấy có nhà nghiên cứu chia tiếng Việt có 4 phương ngữ, phầnlớn các tác giả lại chia tiếng Việt thành ba vùng phương ngữ, nhưng có ba nhànghiên cứu lại chỉ chia tiếng Việt thành hai vùng phương ngữ, thậm chí, cóngười cho rằng do trạng thái chuyển tiếp của ngôn ngữ tiếng Việt từ Bắc vàoNam là liên tục nên không thể phân chia tiếng Việt thành các vùng phươngngữ
Các xu hướng quan niệm và kết quả khác nhau về phân chia phươngngữ tiếng Việt như trên đã được Trương Văn Sinh, Hoàng Thị Châu, và một
số tác giả tổng kết mà chúng tôi đã điểm qua ở trên Từ kết quả phân loại củacác nhà nghiên cứu, chúng tôi thấy có hai điểm liên quan đến phạm vi khoáluận là:
- Xu hướng thống nhất hiện nay cũng như ý kiến của phần đông cácnhà nghiên cứu đều cho rằng tiếng Việt có 3 vùng phương ngữ lớn: phươngngữ Bắc (Bắc Bộ), phương ngữ Nam (Nam Bộ), phương ngữ Trung (BắcTrung Bộ), cả ba vùng phương ngữ này cho tới nay chưa có vùng nào đượckhảo sát, nghiên cứu toàn diện, triệt để
Trang 20- Trong cách phân chia của nhiều tác giả, đường ranh giới của cácphương ngữ có địa bàn phân bố từ Thanh Hoá đến Thuận Hải thường khôngtrùng nhau, đặc biệt là địa vị của tiếng Thanh Hoá và Thừa Thiên Huế đượcđịnh vị trong bảng phân loại của các nhà nghiên cứu rất không ổn định Điều
đó khách quan cũng nói lên tính phức tạp của các phương ngữ phân bố ở địabàn miền Trung này
Tính chất chuyển tiếp và ảnh hưởng qua lại của quan hệ tiếp xúc đã làmcho các phương ngữ này mang tính không thuần nhất như phương ngữ Bắc vàNam Thanh Hoá là phương ngữ chuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc và phươngngữ Trung Tiếng địa phương Thừa Thiên Huế thuộc phương ngữ Bình TrịThiên cũng mang tính chất chuyển tiếp giữa phương ngữ Trung và phươngngữ Nam
Vì thế, theo cách nghĩ của chúng tôi, để vẽ nên được bức tranh toàncảnh một phương ngữ, chẳng hạn phương ngữ Bắc Trung Bộ, có thể chọn mộtphương ngữ trong vùng để khảo sát, miêu tả trên nhiều bình diện và khái quátnên thành những đặc điểm chung Khảo sát các phương ngữ khác còn lạitrong vùng sẽ làm đầy và rõ hơn đặc điểm vùng cũng như tính chất giao thoacủa vùng chuyển tiếp các phương ngữ
Cả hai vấn đề nêu trên đều liên quan đến việc xác định vai trò, vị trícủa phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên cũng như mụcđích, ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với phương ngữ Bắc Trung Bộ
Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu phương ngữ ta thấy vấn
đề phương ngữ tiếng Việt ngày càng được quan tâm và thu được một số kếtquả trên một số phương diện Song muốn dựng lên diện mạo, đặc điểm củacác vùng phương ngữ nói chung và phương ngữ Bắc Trung Bộ nói riêng mộtcách đầy đủ cụ thể cần phải đẩy mạnh nghiên cứu theo thuộc tính mở, nghiêncứu sâu hơn ngữ nghĩa trên cơ sở có một số vốn từ được sưu tập, miêu tả, sosánh với ngôn ngữ toàn dân và các phương ngữ khác
Trang 211.2.2 Phương ngữ Nghệ Tĩnh và Phương ngữ Bình Trị Thiên trong Phương ngữ Bắc Trung Bộ
Như đã trình bày, các nhà nghiên cứu thống nhất chia tiếng Việt thành
ba vùng Phương Ngữ: Phương ngữ Bắc, Phương ngữ Trung và Phương ngữNam Mỗi phương ngữ được xác định bằng những đặc trưng tiêu biểu ở cácphương diện ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng ngữ nghĩa
Bàn về phương ngữ Bắc Trung Bộ, theo Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn thì
“Phương ngữ Bắc Trung Bộ được hình thành cách đây chừng năm trăm năm
do sự tác động của tiếng Việt Bắc Bộ Sau vài thế kỉ, ở Bắc Bộ, dưới sự tácđộng của tiếng Hán, tiếng Việt Bắc Bộ đã tách khỏi tiếng Mường thành haingôn ngữ ” (6,Tr.111)
Sau khi tiếng Việt Bắc Bộ đã tách khỏi tiếng Mường do ảnh hưởng củatiếng Hán thì vài thế kỉ sau, vùng khu IV vẫn là tiếng nói Việt Mường Nếunhư tiếng Việt Bắc Bộ tách khỏi tiếng Mường là do ảnh hưởng của tiếng Hánthì tiếng Việt ở khu IV tách khỏi tiếng Mường là do ảnh hưởng trực tiếp củatiếng Việt Bắc Bộ Như vậy, trong tiếng nói của cư dân khu IV dấu ấn tiếngMường rõ ràng là đậm hơn tiếng nói vùng Bắc Bộ Và nghĩa là tiếng nóiphương ngữ Trung mang tính chất cổ hơn
Hoàng Thị Châu trong công trình Tiếng Việt trên các miền đất nước
(Phương ngữ học) sau khi nêu lên ý kiến của mình và chia tiếng Việt thành bavùng phương ngữ lớn, tác giả nêu những nhận xét khái quát về tiếng vùngphương ngữ Tiếp theo, bà đã chia các vùng phương ngữ này thành nhữngphương ngữ nhỏ hơn, căn cứ trên những đặc điểm ngữ âm riêng của từngvùng Cụ thể đối với phương ngữ Bắc Trung Bộ gồm có 3 phương ngữ nhỏhơn: phương ngữ Thanh Hoá, phương ngữ Nghệ Tĩnh, phương ngữ Bình TrịThiên Tác giả viết: “Phương ngữ Trung cũng gồm ba phương ngữ nhỏ hơn,khác nhau về thanh điệu:
a) Phương ngữ Thanh Hoá lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã (phát âmkhông phân biệt), nhưng các thanh khác lại giống với phương ngữ Bắc
Trang 22b) Phương Ngữ vùng Nghệ Tĩnh không phân biệt thanh ngã với thanhnặng, 5 thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu, khác với phương ngữ Bắc
có độ trầm lớn hơn
c) Phương ngữ vùng Bình Trị Thiên không phân biệt thanh hỏi vớithanh ngã Nhưng về mặt điệu tính các thanh lại giống với thanh điệu NghệTĩnh Riêng vùng Thừa Thiên- Huế có hệ thống vần và âm cuối giống vớiphương ngữ Nam”…[10, tr.95]
Võ Xuân Trang cũng băn khoăn khi đứng trước một phương ngữ có địabàn phân bố rộng như phương ngữ Bắc Trung Bộ, những biến thể có phạm vitrong một vài tỉnh trong phương ngữ đó thì gọi là gì khi mà những biến thểtrên một địa bàn hẹp hơn thường được các nhà nghiên cứu quen gọi là thổngữ? Ông đề xuất dùng khái niệm vùng phương ngữ để chỉ phương ngữ Bắc,phương ngữ Trung, phương ngữ Nam Mỗi vùng phương ngữ như vậy bao
gồm nhiều phương ngữ khác nhau Với quan niệm đó theo ông “ về mặt địa
lí, phương ngữ là biến thể địa phương có địa bàn phân bố trên một phạm vi rộng gồm một hoặc nhiều tỉnh Các phương ngữ có những đặc điểm giống nhau và được phân bố gần nhau có thể tạo thành một vùng phương ngữ” Cũng giống như Hoàng Thị Châu, ông cho rằng: Vùng phương ngữ Trung có
ba phương ngữ là: Phương ngữ Thanh Hoá, Phương ngữ Nghệ Tĩnh và Phương ngữ Bình Trị Thiên” [31]
Nằm trong phương ngữ Bắc Trung Bộ nên 3 phương ngữ có đặc điểm
chung về phương diện ngữ âm Theo Hoàng Thị Châu trong công trình Tiếng Việt trên mọi miền của đất nước đã chỉ ra:
“- Hệ thống thanh điệu: có 5 thanh, khác với hệ thống thanh điệuPhương ngữ Bắc cả về số lượng lẫn chất lượng
- Hệ thống phụ âm đầu: có 23 phụ âm đầu, hơn phương ngữ Bắc baphụ âm uốn lưỡi (ʂ,, ʐ,, ţ ) chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr Trong nhiều thổ ngữ
có 2 phụ âm bật hơi (ph, kh) giống như chữ viết đã ghi lại, thay cho 2 phụ âmxát ( t, x ) trong phương ngữ Bắc
Trang 23- Trong hệ thống âm cuối, đôi phụ âm ( - ng, -k ) có thể kết hợp đượcvới các nguyên âm trước, giữa và sau.”
Bên cạnh đó, giữa các phương ngữ trong phương ngữ Trung còn cónhững đặc điểm riêng làm nên dấu ấn riêng của từng vùng
Khoá luận này xét sự thể hiện của tiếng Việt theo bình diện khu vựcdân cư thể hiện Khi tìm hiểu nghiên cứu về phương ngữ Nghệ Tĩnh tức làchúng ta xét những biểu hiện khác biệt của tiếng Việt trên địa bàn Nghệ Tĩnh
về ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa, ngữ pháp đều thuộc về phương ngữ NghệTĩnh
Ngoài tính chất là một phương ngữ tiêu biểu thể hiện rõ những đặctrưng của phương ngữ vùng Bắc Trung Bộ, nhìn ở góc độ không gian ngônngữ thì ta còn có thể thấy ở đây một cơ sở tạo cho phương ngữ Nghệ Tĩnhmang những nét sắc thái riêng không hoà lẫn vào các phương ngữ khác trongvùng
Rõ ràng phương ngữ Nghệ Tĩnh được hình thành dần trong quá trìnhhình thành vùng phương ngữ Trung, khác với vùng phương ngữ Bắc đượchình thành do sự biến đổi, chia tách ngôn ngữ Việt Mường chung dưới sự tác
động của tiếng Hán, vùng phương ngữ Trung là Vùng Việt Mường chung bị Việt Hoá mạnh nên trở thành Việt [6 tr.332] Là địa bàn có những nét khác
biệt, xa trung tâm văn hoá Thăng Long - Bắc Bộ, tiếng nói của cư dân nóiTiếng Việt trên địa bàn Nghệ An và Hà Tĩnh mà chúng tôi gọi là phương ngữNghệ Tĩnh, chịu ảnh hưởng của điều kiện lịch sử, địa lí, xã hội và những biếnđổi liên tục của ngôn ngữ, trải qua bao nhiêu thế kỉ như vậy, phương ngữ này
đã mang những nét khác biệt không những đối với ngôn ngữ toàn dân mà cònngay cả với các phương ngữ khác trong vùng
Với những cơ sở như trên, chúng tôi cho rằng tiếng địa phưong NghệTĩnh là một trong phương ngữ tồn tại hiện thực cùng với phương ngữ Bình TrịThiên Phương ngữ Nghệ Tĩnh vừa có vị trí quan trọng đối với vùng phươngngữ Trung, vừa mang sắc thái riêng là đối tượng có thể nghiên cứu trên nhiều
Trang 24phương diện về ngữ âm từ vựng, ngữ nghĩa, ngữ pháp ở địa hạt cấu trúc cũngnhư chức năng, ở mặt ngôn ngữ cũng như văn hoá.
Bên cạnh phương ngữ vừa kể trên, phương ngữ Bình Trị Thiên cũng cómột vị trí quan trọng trong phương ngữ Trung Vị thế của phương ngữ BìnhTrị Thiên trong bảng phân loại phương ngữ của các nhà nghiên cứu thườngrất khác nhau
Bình Trị Thiên là tên gọi tắt của ba tỉnh : Quảng Bình, Quảng Trị, ThừaThiên Huế Đáng lưu ý trong phương ngữ Bình Trị Thiên, tiếng nói vùngQuảng Bình giống tiếng nói ở Nghệ Tĩnh.Theo Hoàng Thị Châu cũng nhưNghệ Tĩnh, Quảng Bình là nơi thể hiện rõ đặc trưng cuả phương ngữ BắcTrung Bộ
Trong phương ngữ Bình Trị Thiên tiếng nói Thừa Thiên Huế ít nhiều
có nét riêng Do hiện tượng lẫn lộn các phụ âm cuối [–n –t] biến thành [-ng –k] và hệ thống vần của tiếng vùng Thừa Thiên Huế giống với phương ngữNam [10 tr.179] nên nhiều tác giả đã tách tiếng Thừa Thiên - Huế ra khỏiphương ngữ Bình Trị Thiên Tính chất trung gian của tiếng địa phương vùngnày là rõ ràng cho nên ngay cả những tác giả khi xếp tiếng thừa Thiên Huếvào phương ngữ Bình Trị Thiên nói riêng và vùng phương ngữ Trung nóichung cũng đều chỉ ra tính chất chuyển tiếp của nó
Ngoài ra trong công trình Phương Ngữ Bình Trị Thiên khi chia PhươngNgữ Bình Trị Thiên thành ba vùng thổ ngữ, tương ứng với địa bàn của batỉnh: vùng Bắc (Quảng Bình), vùng giữa (Quảng Trị), vùng Nam (Thừa ThiênHuế) Võ Xuân Trang đã nhận xét về tính chất chuyển tiếp của vùng thổ ngữNam và còn cho ta biết thêm những đặc điểm ngữ của vùng giữa: “So vớivùng Bắc và vùng Nam thì sự khác biệt của vùng giữa với tiếng phổ thông làkhông đáng kể Những nét đặc trưng của ngữ âm vùng Bắc và vùng Nam nhìn
chung không xuất hiện ở vùng giữa” [31, tr 151] Rõ ràng, trong phương ngữ
Bình Trị Thiên chỉ có tiếng địa phương vùng Quảng Bình là thể hiện đượcnhững đặc trưng cơ bản của vùng phương ngữ Trung Một trong những nét
Trang 25đặc trưng của phương ngữ Trung là sự có mặt của 3 phụ âm quặt lưỡi như đãnói.
Như vậy, đặt trong quan hệ so sánh giữa các vùng phương ngữ, đốichiếu với đặc điểm chung của phương ngữ Bắc Trung Bộ, có thể xem phươngngữ Nghệ Tĩnh là phương ngữ đại diện tiêu biểu cho vùng phương ngữ BắcTrung Bộ
Mặt khác, trong sự đối sánh giữa các vùng phương ngữ, chúng ta có thểthấy những đặc điểm chung, cũng như nhìn thấy những đặc điểm vùng củatừng phương ngữ làm nên sự phong phú, đa dạng của bộ mặt phương ngữ BắcTrung Bộ nói chung
Trong quá trình nghiên cứu, ta có thể thấy rằng trong ba vùng phươngngữ kể trên, thì phương ngữ Bình Trị Thiên - đặc biệt là tiếng Quảng Bìnhcũng với phương ngữ Nghệ Tĩnh có một vị trí quan trọng đối với việc nghiêncứu tiếng Việt và lịch sử tiếng Việt Phương ngữ này còn bảo lưu nhiều yếu tố
cổ, thậm chí rất cổ của tiếng Việt thuộc các giai đoạn trước đây
1.2.3 Từ địa phương trong phương ngữ Nghệ Tĩnh và trong phương ngữ Bình Trị Thiên
Như ta đã thấy, từ xa xưa, trong quan niệm của ngữ pháp truyền thống
từ đơn vị cơ bản, là trung tâm của cấu trúc ngôn ngữ, cũng như là công cụhoạt động của lời nói, là phần cấu trúc, cấu tạo câu nói Từ vừa là đơn vị thựctại, vừa là đơn vị tiềm ẩn đảm nhiệm nhiều chức năng Bên cạnh chức năngđịnh danh, trong cấu tạo, trong hoạt động lời nói từ có thể biến thành yếu tố cóchức năng cấu tạo tương tự như hành vi lại có thể cùng với ngữ điệu kết thúc
mà trở thành câu có chức năng thông báo Xét về mặt ý nghĩa, từ vừa là đơn vịtrong hệ thống ngôn ngữ, vừa là đơn vị trong lời nói
Như vậy, với những đặc trưng cơ bản có vị trí trung tâm trong các đơn
vị của ngôn ngữ, cho dù ở cấp độ nào, mặt âm thanh cũng như mặt ý nghĩa,theo hướng cấu trúc hay hướng chức năng thì ít hay nhiều đều có liên quanđến từ Tư liệu về từ càng đặc biệt quan trọng trong so sánh lịch sử Để xácđịnh nguồn gốc, quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ, người ta phải tiến hành
Trang 26so sánh từ vựng trên tư liệu của một hàng từ đã được thu thập, từ đó tìm raquy luật biến đổi ngữ âm của các ngôn ngữ ấy Việc so sánh các phương ngữtrong cùng một ngôn ngữ cũng có thể nói rằng không đi ra ngoài nguyên tắc
có tính phương pháp đó Cho nên, việc thu thập được một vốn từ làm cơ sởcho việc nghiên cứu phương ngữ là rất cần thiết và có lẽ nên là bước đầu tiên.Nghiên cứu phương ngữ Bắc Trung Bộ nói chung và nghiên cứu phương ngữNghệ Tĩnh, phương ngữ Bình Trị Thiên nói riêng, lâu nay ở phần bình diệncủa từ đã được phần nào chú ý, nhưng cần phải chú ý hơn nữa mặt ngữ nghĩacủa từ và phải được đẩy mạnh nghiên cứu hơn nữa Phải thấy rằng, từ địaphương không chỉ là biến thể ngữ âm mà có thể là biến thể từ vựng ngữ nghĩa
mà biểu hiện tập trung của nó là ở quan hệ đa nghĩa của từ Đó như là tự thểhiện của quan hệ giữa mặt biến đổi với mặt bất biến đổi giữa phương ngữ vàngôn ngữ toàn dân
Với sự cần thiết và ảnh hưởng nhiều mặt đối với việc nghiên cứu từ địaphương như thế, chúng tôi đi vào nghiên cứu, so sánh đặc điểm lớp từ địaphương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên
Trước khi đi vào nghiên cứu cụ thể, chúng tôi đã tiến hành thu thập từngữ địa phương qua từ điển và các nghiên cứu đã nói ở trên
Khái niệm từ địa phương được dùng trong khoá luận này là dựa trênquan niệm chung của các tác giả khi nghiên cứu phương ngữ: từ địa phương
là những từ bị hạn chế về phạm vi địa lí sử dụng; từ địa phương có sự khácbiệt nhất định về ngữ âm, từ vựng hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân
Với cách hiểu như vậy, khảo sát ngôn ngữ toàn dân ở bình diện khuvực dân cư thể hiện, những đơn vị từ ngữ xuất hiện ở địa bàn dân cư phải thoảmãn hai điều kiện:
1 Có sự khác biệt nhiều (hoặc hoàn toàn) với ngôn ngữ toàn dân (vềngữ âm, ý nghĩa, ngữ pháp hay sắc thái, phong cách)
2 Những từ ngữ có sự khác biệt đó được người dân quen dùng mộtcách tự nhiên
Trang 27Cụ thể ở đây, chúng tôi dựa vào vốn từ đã được thu thập trong cuốn Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh của nhóm tác giả đã dày công thu thập: Nguyễn
Nhã Bản, Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên
Tìm hiểu vốn từ Bình Trị Thiên, chúng tôi dựa vào hai nguồn cứ liệu:
1 Từ địa phương trong nghiên cứu của Phan Thị Tố Huyền (2005),
Đặc điểm từ địa phương Quảng Bình [18].
2 Đó là những từ được người Bình Trị Thiên sử dụng trong thơ dângian Bình Trị Thiên
Qua việc so sánh giữa hai vùng phương ngữ về từ ngữ, đối chiếu vớingôn ngữ toàn dân, chúng ta có thể thấy được quy luật biến đổi và lan truyềncủa ngôn ngữ và những nhân tố hình thành phương ngữ nói chung Từ đó, cócái nhìn cụ thể về không gian và lịch sử của tiếng nói vùng Nghệ Tĩnh, BìnhTrị Thiên, cho phép khẳng định tính tồn tại của hiện thực của hai phươngngữ: phương ngữ Bình Trị Thiên, phương ngữ Nghệ Tĩnh trong phương ngữBắc Trung Bộ Đó cũng là cơ sở để chúng ta có thể thấy rõ sự phong phú, đadạng của ngôn ngữ toàn dân trên mọi miền đất nước mà biểu hiện cụ thể ởphương ngữ Bắc Trung Bộ Mặt khác, từ đây chúng ta có thể xác định đốitượng và phương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp có thể đi vào những vấn
đề cụ thể ở các chương tiếp theo
CHƯƠNG 2
Trang 28NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ NGỮ ÂM CỦA TỪ ĐỊA PHƯƠNG NGHỆ TĨNH VÀ TỪ ĐỊA PHƯƠNG BÌNH TRỊ THIÊN 2.1 Tiểu dẫn
Như mục đích đã xác định, chương này sẽ nêu lên những nét tương đồng
và khác biệt giữa từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiêntrên bình diện ngữ âm của từ Để từ đó góp phần thể hiện bức tranh toàn cảnh
về từ vựng ngữ nghĩa của từ địa phương Nghệ Tĩnh, từ địa phương Bình TrịThiên cũng như cho chúng ta một cái nhìn bao quát hơn về sự biến đổi ngữ
âm của từ trong vốn từ địa phương Bắc Trung Bộ
Phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên là những biếnthể của tiếng Việt trên địa bàn Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên Sự khác biệtgiữa vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh và vốn từ địa phương Bình Trị Thiên sovới vốn từ toàn dân truớc hết thể hiện ở mặt ngữ âm của từ, ở những tươngứng ngữ âm Có thể hình dung vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh và vốn từ địaphương Bình Trị Thiên là những khối thống nhất các từ ngữ nằm trong nhữngmối quan hệ hữu cơ Các từ ngữ này vừa có mối quan hệ gắn bó trong nội bộvốn từ địa phương vừa có quan hệ chặt chẽ với hệ thống từ toàn dân Vì thế,
ta có thể tiếp cận so sánh vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phươngBình Trị Thiên từ nhiều góc độ khác nhau như: góc độ ngữ âm, ngữ nghĩa,góc độ cấu tạo, định danh…Đi vào các phương diện như vậy, từ ngữ sẽ đượcnghiên cứu, đặt trong quan hệ so sánh đối chiếu với từ toàn dân và vớiphương ngữ khác trong những mối quan hệ gắn liền với các mặt đó
Tuy nhiên, khi nghiên cứu từ địa phương, người ta phải chú ý trước hết
về mặt ngữ âm Bởi vì, ngữ âm là một trong hai mặt cơ bản của từ Hơn nữatrong sự biến đổi của ngôn ngữ, ngữ âm là mặt biến đổi có quy luật, có hệthống và tuần tự nhất Nhưng vốn từ địa phương không phải là một hệ thốngtách biệt với vốn từ trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, cũng như với hệthống vốn từ toàn dân Cho nên, khi so sánh từ địa phương Nghệ Tĩnh và từđịa phương Bình Trị Thiên, chúng ta không thể miêu tả một cách riêng lẻ màcòn phải so sánh với từ toàn dân
Ở phần này, chúng tôi đi vào bình diện cụ thể là ngữ âm, chỉ ra nhữngtương đồng của từ về ngữ âm giữa phụ âm đầu, vần, thanh điệu được thể hiện
Trang 29trong vốn từ của phương ngữ Nghệ Tĩnh so với phương ngữ Bình Trị Thiênđặt trong quan hệ đối chiếu với từ toàn dân
Nói cách khác, phần này chúng tôi không miêu tả ngữ âm như một đốitượng khảo sát độc lập, không trình bày các đặc trưng ngữ âm, nêu lên sự cómặt hay không có mặt của đặc trưng được miêu tả; cũng không miêu tả ngữ
âm phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiên thành những hệthống âm vị riêng lẻ như những công trình nghiên cứu ngữ âm thường thấy
mà ở đây chỉ xem mặt ngữ âm như mặt hình thức trong quan hệ so sánh tươngứng, đồng thời đặt trong quan hệ so sánh với từ toàn dân Cụ thể, chúng tôichỉ nêu những dạng biến thể ngữ âm của từ ở hai phương ngữ trong sự tươngứng với từ toàn dân
2.2 Những nét tương đồng và khác biệt về phụ âm đầu
2.2.1 Những tương đồng về phụ âm đầu
Phương ngữ Bắc Trung Bộ có hệ thống phụ âm đầu khá phong phú
Hoàng Thị Châu cho rằng: “ So với phương ngữ Bắc Bộ, ở Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên chúng có thêm cấu âm quặt lưỡi (…) là ţ, ʂ, ʐ ” [10, tr.137]
Qua khảo sát thực tế, chúng ta thấy được sự khác biệt giữa ngữ âm củatiếng Nghệ Tĩnh và tiếng Bình Trị Thiên so với từ toàn dân không chỉ có vậy
mà có sự đối ứng phức tạp giữa phụ âm đầu từ địa phương Nghệ Tĩnh, từ địaphương Bình Trị Thiên so với từ toàn dân Sự tương ứng ở đây không chỉ xảytheo tương quan 1:1 mà còn xảy ra theo tương quan 1>/1
Đối chiếu với miêu tả của PGS - TS Hoàng Trọng Canh trong chuyênluận “ Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ văn hóa” về sựtương ứng phụ âm đầu giữa từ địa phương Nghệ Tĩnh với từ toàn dân Chúngtôi thấy những tương ứng phụ âm đầu giữa từ địa phương Nghệ Tĩnh và từBình Trị Thiên so với từ toàn dân có sự giống nhau thể hiện qua các kiểutương ứng phụ âm đầu so với từ toàn dân Chúng tôi thống kê được 64 kiểutương ứng phụ âm đầu giống nhau như sau:
- Tương ứng : |c|
|z|
Trang 30Chi – gì; chạng - dạng; ( rau) chên - ( rau) giền ; chạng - giạng ; chặm(chân) – giặm (chân); chiếng – giếng ; chềnh chàng – dềnh dàng; choi – dòi….
Ở từ địa phương Bình Trị Thiên gồm có 24 từ tương ứng loại này còn ở
từ địa phương Nghệ Tĩnh có 5 từ, giữa hai phương ngữ có 2 từ tương ứng giống nhau
- Tương ứng |b|
|v|
Bằm – vằm; bẹo - véo; bưa – vừa; bấp – vấp ; bụ - vú; buốt – vuốt…
Ở từ địa phương Bình Trị Thiên có 21 từ tương ứng loại này, còn ở từ địa phương Nghệ Tĩnh có 10 từ, giữa hai phương ngữ có 9 từ giống nhau
Xếp (giấy) – thếp (giấy); xa thẩn – tha thẩn; xuổng - thuổng; xọng – thỏng
Ở từ địa phương Nghệ Tĩnh có 3 từ loại này, ở từ địa phương Bình Trị Thiên cũng có 3 từ tương ứng
- Tương ứng |l|
|ɲ|; |ť|; |ƫ|
Lầm – nhầm ; lạt – nhạt ; lanh – nhanh ; lài – nhài ; lát – nhát; lạt lẽo - nhạt nhẽo ; leo – trèo; lộn – trộn; lưa – thừa ; lòi – thòi…
Trang 31Ở từ địa phương Nghệ Tĩnh có 17 từ tương ứng loại này, còn ở từ địa phương Bình Trị Thiên có 17 từ tương ứng Trong đó, giữa hai phương ngữ
Trang 34Tương ứng loại này ở từ địa phương Bình Trị Thiên nhiều từ hơn so vớitương ứng loại này trong từ địa phương Nghệ Tĩnh.
Lạo rạo - rạo rực; lấm lứt - rấm rứt; lập lờn - rập rờn
Lộ - chỗ; cầm lèo - cầm chèo; lèo kéo – chèo kéo …
- Tương ứng | ʐ|
| n |Ray - này; ran - nan…
Trang 35xu hướng phát triển phụ âm đầu trong tiếng Việt.
Trang 362.2.2 Những nét khác biệt về phụ âm đầu
Như đã thấy sự tương ứng giữa từ ngữ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địaphương Bình Trị Thiên so với từ toàn dân về ngữ âm là rất phong phú, phứctạp Đi sâu vào so sánh ngữ âm giữa hai phương ngữ, sự khác nhau giữa từđịa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên thể hiện trên nhữngcặp tương ứng sau Cụ thể:
Ngoài 64 kiểu tương ứng giống nhau thì mỗi phương ngữ đều có nhữngkiểu tương ứng phụ âm riêng khi đối chiếu với từ ngữ toàn dân
2.2.2.1 Trước hết ở từ địa phương Nghệ Tĩnh có 8 kiểu tương ứng phụ
âm với từ toàn dân mà từ địa phương Bình Trị Thiên không có.
Số từ trong từ địa phương Nghệ Tĩnh tương ứng với từ toàn dân ở phụ
âm này không nhiều
Trang 38Lẻ - que…
Mặt khác đi sâu hơn, trong từ địa phương Nghệ Tĩnh, ngoài sự có mặtđầy đủ các âm đầu tiếng Việt toàn dân còn có một số thổ ngữ hiện nay đangcòn tồn tại cả những âm cổ mà nay tiếng Việt toàn dân không dùng Đó là hai
tổ hợp phụ âm cổ với một số lượng từ nhất định là |tl| gồm 15 từ như tlặc-trặc;tle - tre; tlu - tru; tlen - khén; tliu - tríu; tlun - trùn và |dz| với 54 từ như dza
- da; dzạ - dạ; dzai - dai; dzài - dài; dzao - dao Bên cạnh đó ở một số vùng ở
Hà Tĩnh còn có hiện tượng phụ âm |ŋ| toàn dân được phát âm là |J|, tạo ra sự đốiứng giữa hai phụ âm này
Từ địa phương Bình Trị Thiên có một số phụ âm không có trong hệthống phụ âm đầu của Tiếng Việt như |J|, |kJ| Theo Hoàng Thị Châu trong
“Tiếng Viêt trên mọi miền đất nước”, phương ngữ Bình Trị Thiên có đếnnăm, sáu chục từ với mỗi phụ âm như trên
Qua sự so sánh các đối ứng ngữ âm của từ địa phương so với từ toàn dân
đã cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của từng phương ngữ Nổi trộihơn là từ địa phương Nghệ Tĩnh trong quan hệ đối xứng với từ toàn dân chủyếu theo kiểu tương ứng 1>/1, có những cặp đối ứng 1/5, 1/6, 1/9 Chứng tỏrằng về phương diện ngữ âm từ địa phương Nghệ Tĩnh có sự biến đổi chậmhơn, tiêu biểu cho vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ hơn
Trên cơ sở đó, chúng ta so sánh và rút ra kết luận rằng có 10 vần giốngnhau giữa từ địa phương Nghệ Tĩnh và từ địa phương Bình Trị Thiên Đó là
Trang 39các vần và từ sau đây: |it - γt|: nhít – nhất; |ot at|: hột – hạt; |ut ot|: đút đốt; |ℇc – ec|: lẹch – lệch; |ak – ɯɤk|: nác – nước; |it – ɯt|: bít –bứt; |o:k -ok|: ôốc - ốc; |k- ɔk|: hoọc - học; |we:k - wec|: nguêệc ngoạc - nguệchngoạc; |ɔt-uot|: nót - nuốt;
-Ngoài ra, ở từ địa phương Nghệ Tĩnh có 2 vần tương ứng với vần từ toàndân mà từ địa phương Bình Trị Thiên không có: |ut - uot|: vút - vuốt; |γp-ɯp|: cập rập - cựp rựp…
Ngược lại, ở từ địa phương Bình Trị Thiên có 3 vần tương ứng với vần từtoàn dân không có ở từ địa phương Nghệ Tĩnh như: |e:k- ec|: ếêc - ếch; |εk-ac|: gẹc - gạch; |ɤk – ɯɤ|: cớc - nước
Trang 40Qua đó, chúng tôi thấy sự tương ứng giữa vần khép và nửa khép củaphương ngữ Nghệ Tĩnh, phương ngữ Bình Trị Thiên so với ngôn ngữ toàndân khá phong phú và có quy luật chặt chẽ:
+ Xét từ phía cuối vần: Chúng cùng phương thức kết thúc khác nhau;đồng thời phụ âm kết thúc hai vần đều cùng phương thức cấu âm, thậm chíphần lớn các trường hợp đều có cùng một phụ âm kết thúc giống nhau
+ Xét từ phía đỉnh vần: Các nguyên âm làm đỉnh vần phải cùng vị trí cấu
âm Sự thay đổi tạo ra sự tương ứng ở đỉnh vần khép là nó được tự do chuyểndịch độ nâng của lưỡi trong cùng một vị trí cấu âm
ví dụ: chin - chân; nhít – nhất…
Ngoài những vần tương ứng giống nhau, từ địa phương Nghệ Tĩnh có 14vần nửa khép tương ứng với vần nửa khép của từ toàn dân mà ở từ địaphương Bình Trị Thiên không có là: | ɔŋ – o ŋ|: cọng – cộng; |uoŋ - oŋ|: cuông
- công; |ăŋ - an|: dăng - dan; |aŋ - γŋ|: đàng – đờng; |ɤn – an|: đờn - đàn; |ɯɤn
-γm|: mươn – mâm; |oŋ - ɔŋ|: nống – nong; |ɔŋ – uoŋ|: rọng - ruộng; |wεn –εn|: thoen – then; |wan – wien|: troàn - truyền; |wan - wγn|: xoan – xuân; |γŋ– ɤŋ – ɯŋ|: mầng – mờng – mừng; |ɯn- in|: chưn – chin; |um – ɯm|: đùm –đừm
Ngược lại, phương ngữ Bình Trị Thiên có 3 vần nửa khép trong ứng vớivần nửa khép từ toàn dân mà phương ngữ Nghệ Tĩnh không có là: |in - iɳ|: sin– sinh; |εn – ε|: ghẻn – ghẻ; |e:ŋ – eɳ| : xềêng (xoàng) – xềnh (xoàng);
- Loại vần mở
Ở tiếng địa phương Nghệ Tĩnh có 9 cặp vần tương ứng với vần nửa mởcủa từ toàn dân, riêng ở từ địa phương Bình Trị Thiên có 7 vần