Đồng thời, việc tìm hiểu về mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các n- ớc Đông Nam á là phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta trong sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế - xã hộ
Trang 1trờng đại học vinh khoa lịch sử
-Nguyễn Minh Thuần
khóa luận tốt nghiệp đại học
quan hệ Việt Nam - Xingapo
giai đoạn 1995 - 2006
Chuyên ngành: lịch sử thế giới
Trang 2Chơng 1: Quan hệ Việt Nam - Xingapo thời kỳ trớc năm 1995 111.1 Những nhân tố tác động đến Việt Nam - Xingapo thời kỳ trớc 1995 111.1.1 Sự tơng đồng về hoàn cảnh lịch sử và văn hoá 11
1.1.3 Chính sách ngoại giao và tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nớc 13
1.2 Quan hệ Việt Nam - Xingapo thời kỳ trớc 1995 18
1.2.2 Quan hệ Việt Nam - Xingapo từ 1973 - 1991 201.2.3 Nhận xét quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn trớc 1995 29Chơng 2: Quan hệ Việt Nam - Xingapo từ năm 1995 - 2006 312.1 Những tác động của tình hình quốc tế và khu vực 31
3.1 Những nét chung về quan hệ Việt Nam - Xingapo 1995 - 2006 69
Trang 4lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS TS Nguyễn Công Khanh -Ngời
thầy đã gợi ý đề tài và tận tình hớng dẫn tôi trong suốt quá trình làm khoá luận Tôi cũng đã nhận đợc sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa Lịch sử, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Lịch sử thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực hiện khoá luận Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo hớng dẫn, các thầy cô giáo trong khoa, gia đình và bạn bè đã giúp
đỡ, động viên tôi hoàn thành khoá luận này.
Vinh, ngày 01 tháng 05 năm 2007
Tác giả
Nguyễn Minh Thuần
Trang 5A - Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Việt Nam và Xingapo là hai nớc ở khu vực Đông Nam á có nhiều nét tơng đồng về văn hoá, về hoàn cảnh lịch sử và có quan hệ từ lâu Tuy nhiên, dới tác động của nhân tố lịch sử, chính trị bên trong và bên ngoài khu vực, quan
hệ hai nớc đã trải qua những bớc thăng trầm đầy biến động Trong bối cảnh khu vực hoá và quốc tế hoá toàn cầu, cả hai nớc đều đang ra sức phát triển kinh tế
đất nớc, nâng cao đời sống cho nhân dân, tránh tụt hậu, kết quả hai nớc có mối quan hệ trên mọi lĩnh vực tốt đẹp, thu đợc nhiều thành tựu
1.2 Kể từ tháng 7/1995, Việt Nam và Xingapo là thành viên của tổ chức ASEAN Chúng ta có thể coi Việt Nam là nớc đại diện cho các nớc Đông Nam á lục địa, còn Xingapo đại diện cho các nớc Đông Nam á hải đảo, nhng cả hai đều
có chính sách đối ngoại độc lập tơng đối Hiện nay, Việt Nam và Xingapo đang cùng với các nớc thành viên khác của tổ chức ASEAN thực hiện chơng trình AFTA, phấn đấu xây dựng một Đông Nam á hoà bình, hợp tác và phát triển Việt Nam và Xingapo đã và đang xích lại gần nhau một cách mạnh mẽ để tăng c-ờng hiểu biết và hợp tác trên nhiều lĩnh vực
1.3 Ngày nay, trớc xu thế hội nhập quốc tế và khu vực, việc tăng cờng tìm hiểu các nớc láng giềng để hợp tác lẫn nhau trên nhiều lĩnh vực là rất cần thiết Đồng thời, việc tìm hiểu về mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các n-
ớc Đông Nam á là phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nớc ta trong sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Với những lý do trên, việc tìm hiểu quan hệ Việt Nam và Xingapo là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Nó không những giúp chúng ta hiểu biết thêm về lịch sử quan hệ Việt Nam và Xingapo mà còn giúp chúng ta rút ra một số kinh nghiệm trong quan hệ với các nớc khác ở trong khu vực và trên thế giới Là những ngời học tập và nghiên cứu lịch sử, chúng tôi cho
Trang 6rằng việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam và Xingapo là cần thiết bên cạnh nghiên cứu quan hệ Việt Nam với các nớc khác ở Đông Nam á.
Bởi vậy, cho nên chúng tôi đã chọn đề tài: “Quan hệ Việt Nam và Xingapo giai đoạn 1995 - 2006” làm khoá luận tốt nghiệp với hy vọng góp
phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu lịch sử quan hệ Việt Nam với từng thành viên của tổ chức ASEAN và tăng thêm sự hiểu biết cho bản thân, phục vụ cho sinh viên tiếp cận, tham khảo tài liệu
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
2.1 Quan hệ Việt Nam và Xingapo là một vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Do vậy, từ trớc đến nay đã có không ít tác giả trong và ngoài nớc nghiên cứu về vấn đề này dới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong
điều kiện cho phép, chúng tôi mới chủ yếu tiếp cận đợc các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nớc Nguồn t liệu mà chúng tôi tiếp nhận
đợc gồm nhiều dạng: Sách tham khảo, sách chuyên khảo, khoá luận, luận án, các bài viết đăng trên các báo, Tạp chí (Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam á, Báo Nhân dân, Báo Công an nhân dân), t liệu của Thông tấn xã Việt Nam, các tài liệu lu hành nội bộ của các bộ (Văn hoá - thông tin, Thơng mại, Kế hoạch và đầu t, Ngoại giao), Học viện quan hệ quốc tế, các bài viết của các tác giả tham dự Hội thảo Việt Nam - ASEAN
2.2 Dới đây là các t liệu nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Xingapo mà chúng tôi tiếp cận đợc
Trong tác phẩm “Việt Nam - ASEAN quan hệ đa ph ơng và song phơng”
Giáo s Vũ Dơng Ninh (chủ biên) Tác giả Trần Thị Vinh [30, 327, 351] đã trình bày sự bang giao Việt Nam - Xingapo từ đầu thế kỷ XX đến năm 2000 Trong bài viết này, tác giả chủ yếu nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam - Xingapo trên tất cả các mặt một cách sơ lợc
Trong tác phẩm “Hội nhập kinh tế khu vực của một số nớc ASEAN” của
tác giả Tiến sỹ: Nguyễn Thị Hiền [23, 127 - 128] đã trình bày “Quan hệ thơng mại đầu t song phơng giữa Xingapo và Việt Nam” Tác giả nêu một số thành
Trang 7tựu trong quan hệ thơng mại và đầu t của Xingapo vào Việt Nam thời gian (1993 - 1998).
Tác giả Đinh Xuân Lý trong tác phẩm “Tiến trình hội nhập Việt Nam - ASEAN” [28, 70, 75] đã nêu việc Xingapo bãi bỏ lệnh cấm đầu t vào Việt Nam
(1991) và thông qua các số liệu cụ thể về quan hệ kinh tế buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Xingapo năm 1993
Tác phẩm “Quan hệ kinh tế - thơng mại giữa Việt Nam - ASEAN” [26,
69 - 71] của Phó tiến sỹ: Đỗ Nh Khuê - Nguyễn Thị Loan Anh Thì nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Xingapo trên lĩnh vực đầu t trực tiếp của Xingapo vào Việt Nam năm 1995 - 1996 Thể hiện số dự án, số vốn đầu t trên các lĩnh vực và những trở ngại vấp phải khi đầu t vào Việt Nam
Tác phẩm “Bí quyết hoá rồng - lịch sử Xingapo 1965 - 2000” của Lý
Quang Diệu [22, 112 - 119] thể hiện quan hệ Việt Nam - Xingapo trên bình diện chính trị, nhằm khởi động cho quan hệ kinh tế và hợp tác trên mọi lĩnh vực
Vấn đề quan hệ Việt Nam - Xingapo cũng đợc một số học viên, sinh viên chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp và một số tác giả viết bài đăng trên một số tạp chí (Nghiên cứu quốc tế, Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu Đông Nam á, Báo nhân dân), t liệu Thông tấn xã Việt Nam, tài liệu của Bộ ngoại giao - Vụ Châu
á 2 và tài liệu bằng tiếng Anh của Đại sứ quán Xingapo khi Đại sứ trả lời phỏng vấn năm 2006…
2.3 Khảo sát các nguồn t liệu viết về quan hệ Việt Nam - Xingapo chúng tôi rút ra một số nhận xét sau đây:
1) Các tài liệu mà chúng tôi đã dẫn ra ở trên đều ít nhiều đề cập đến quan
hệ Việt Nam - Xingapo Tuy nhiên, đa số các công trình ấy chỉ mới phản ánh
đ-ợc một lĩnh vực hoặc một giai đoạn cụ thể của mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Xingapo
2) Mặc dầu đã có một số sinh viên chọn đề tài quan hệ Việt Nam - Xingapo làm luận văn tốt nghiệp Đại học, Sau Đại học nhng các luận văn mà chúng tôi tiếp cận đợc thì cha có một tác giả nào nghiên cứu mối quan hệ này trong giai đoạn 1995 - 2006
Trang 83) Đa số các công trình trên đều kết luận quan hệ Việt Nam - Xingapo là mối quan hệ diễn ra trong suốt chiều dài lịch sử Mối quan hệ này có ảnh hởng trong việc duy trì hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực Đông Nam á.
2.4 Những kết quả nghiên cứu kể trên mà chúng tôi tham khảo, tiếp thu
có chọn lọc và kế thừa khi thực hiện khoá luận này Từ góc độ lịch sử, tác giả khoá luận tập trung trình bày một cách hệ thống mối quan hệ hợp tác Việt Nam
- Xingapo giai đoạn 1995 - 2006 - một giai đoạn quan trọng và phát triển nhất trong lịch sử quan hệ hai nớc từ trớc đến nay
3 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài.
đang và sẽ là những nhân tố quan trọng tác động tới sự phát triển của mỗi nớc
3.1.2 Quan hệ, hữu nghị, hợp tác, đoàn kết giữa Việt Nam và Xingapo giai đoạn 1995 - 2006 là mối quan hệ tơng đối toàn diện Từ 1995 - 2006 là giai
đoạn mà mối quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung, Việt Nam - Xingapo nói riêng phát triển hơn những giai đoạn khác Do đó, khi nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn này cho phép chúng ta thấy đợc những tiến bộ của mỗi nớc trong xu thế hội nhập của khu vực và thế giới
3.1.3 Quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn 1995 - 2006 là mối quan
hệ phát triển đợc kế thừa từ truyền thống Nó thể hiện sự hợp tác, đoàn kết vì mục tiêu cùng xây dựng Đông Nam á ổn định, hoà bình Do vậy, qua khoá luận này giúp chúng ta thấy đợc những đóng góp thiết thực của quan hệ Việt Nam - Xingapo trong sự phát triển chung của toàn Đông Nam á
Trang 93.1.4 Nghiên cứu quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn 1995 - 2006 sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức về quan hệ hai nớc trong lịch sử một cách liên tục, không gián đoạn Từ đó, chúng ta có những chính sách phù hợp
để thúc đẩy mối quan hệ này phát triển hơn Đồng thời nó cũng giúp các nhà lãnh đạo Việt Nam rút ra một số kinh nghiệm trong quan hệ Việt Nam với các nớc khác ở Đông Nam á Mục đích của khoá luận không nằm ngoài việc làm sáng tỏ các vấn đề trên
3.2 Nhiệm vụ.
Quan hệ Việt Nam - Xingapo là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy sự phát triển của Việt Nam cũng nh của Xingapo Do vậy, việc nghiên cứu nội dung quan hệ Việt Nam - Xingapo trong lịch sử, trong đó có giai
đoạn 1995 - 2006 là nhiệm vụ khoa học cần thiết góp phần làm tăng thêm hiểu biết lịch sử của hai nớc Đồng thời, thông qua mối quan hệ này giúp chúng ta nhận thức đợc cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ Việt Nam - Xingapo trong những giai đoạn tiếp theo Trên cơ sở đó, tác giả khoá luận cóo gắng giải quyết những nhiệm vụ chính sau đây:
3.2.1 Tác giả hệ thống những thành tựu chủ yếu trong quan hệ, hợp tác Việt Nam - Xingapo trên một số lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, thể dục thể thao từ tr… ớc đến năm 2006, trong đó chú trọng nhất là giai đoạn
1995 - 2006 Từ đó, tác giả rút ra những nhận xét về mối quan hệ này
3.2.2 Tác giả cố gắng trình bày một số nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Xingapo rồi rút ra những đặc điểm về thuận lợi, khó khăn và nêu lên triển vọng của mối quan hệ đó
3.2.3 Trên cơ sở những thành tựu của quan hệ Việt Nam - Xingapo, tác giả khoá luận cố gắng làm rõ vai trò của nó trong quá trình phát triển của Việt Nam, đặc biệt trong quá trình thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng ta trong giai
đoạn hiện nay
3.2.4 Từ thực tế quan hệ Việt Nam - Xingapo, tác giả cố gắng rút ra một
số bài học trong quan hệ hai nớc, bớc đầu phác thảo một số giải pháp góp phần làm tăng cờng quan hệ hai nớc Việt Nam - Xingapo cũng nh trong quan hệ Việt Nam - ASEAN
Trang 10Trên đây là một số nhiệm vụ mà tác giả đặt ra, hy vọng thực hiện khoá luận này, các nhiệm vụ đó đều đợc giải quyết.
4 Giới hạn của đề tài
Đề tài Quan hệ Việt Nam và Xingapo giai đoạn 1995 - 2006“ ” đợc chúng tôi giới thiệu bởi hai mặt chính sau đây:
4.1 Về thời gian.
Thời gian nghiên cứu của khoá luận đợc giới hạn bởi mốc mở đầu là năm
1995 và mốc kết thúc là năm 2006 Tuy nhiên là một đề tài sử học khoá luận không thể không đề cập đến một số nội dung liên quan ở thời kỳ trớc năm 1995 nhằm làm rõ sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Xingapo trong tiến trình lịch sử một cách có hệ thống
Chúng tôi lấy mốc mở đầu của đề tài là 1995 vì hai lý do chính sau đây:Thứ nhất: Theo chúng tôi từ đầu thập kỷ 90 (XX) Quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung, quan hệ Việt Nam với từng nớc ở Đông Nam á nói riêng có bớc phát triển vợt bậc Nguyên nhân cơ bản của sự phát triển này là: “Vấn đề Campuchia” đã đợc giải quyết (Hiệp định Paris về Campuchia ký tháng 10/1991) Trong số các nớc ASEAN thì Xingapo là nớc có vai trò “chìa khoá” giải quyết “vấn đề Campuchia” nhằm chấm dứt sự bất ổn ở Đông Dơng, đặc biệt là quá trình rút các lực lợng Việt Nam khỏi Campuchia, thiết lập hoà bình
và ổn định ở Đông Nam á
Thứ hai: Với sự kiện ngày 28/7/1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức và đầy đủ của ASEAN, là một bớc ngoặt trong lịch sử Đông Nam á Tính đúng đắn của phơng châm “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình độc lập và phát triển” đã đợc chứng minh Đây thực sự là một thay đổi về chất trong mối quan hệ giữa Việt Nam với các nớc ASEAN
Chúng tôi lấy mốc kết thúc của đề tài là năm 2006 bởi vì ba lý do chính sau đây:
Thứ nhất, ngày 30/5/2006 Thủ tớng kiêm Bộ trởng Tài chính Lý Hiển Long nhậm chức Phó Thủ tớng kiêm Bộ trởng điều phối An ninh và Bộ trởng
Trang 11Luật pháp Giayacuma nhậm chức (30/5/2006) Bộ trởng ngoại giao Gióc I - ông Bua I-ô nhậm chức 30/5/2006 Bộ trởng cao cấp Gô Chốc Tongnhậm chức 30/5/2006 Nh vậy là có sự thay đổi các vị lãnh đạo Nhà nớc
Thứ hai, Thủ tớng Xingapo, ông Lý Hiển Long, có chuyến thăm hai ngày
đến Việt Nam từ hôm 25/9/2006 để đánh dấu 10 năm thành lập khu công nghiệp Việt Nam - Xingapo ở tỉnh Bình Dơng (VSIP) Thủ tởng Goh Chock Tong cho rằng: VSIP “là biểu tợng của quan hệ hai nớc” [30, 338]
Thứ ba, tháng 11/2006 ở Việt Nam có nhiều mốc lịch sử quan trọng đó là: ngày 7/11/2006 Việt Nam gia nhập WTO, ngày 17 - 20/11/2006 Việt Nam
tổ chức Hội nghị APEC, tiếp đón lãnh đạo đứng đầu các nền kinh tế thế giới trong đó có Tổng thống Bush, Putin, Thủ tớng Lý Hiển Long Vị thế của Việt Nam nâng lên một tầm cao mới trong quan hệ với các nớc ở khu vực và trên thế giới
4.2 Về nội dung.
Tác giả khoá luận tập trung nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn 1995 - 2006, cụ thể là nghiên cứu mối quan hệ đó trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế và một số lĩnh vực khác nh: giáo dục, văn hoá, thể dục thể thao Trong khoá luận này, tác giả cố gắng trình bày những nhân tố ảnh h… ởng
đến mối quan hệ Việt Nam - Xingapo qua từng thời kỳ: trớc 1995, 1995 - 2006
Đồng thời tác giả rút ra những nhận xét, đánh giá, nêu lên triển vọng của mối quan hệ này
5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn t liệu.
Khi tiến hành thực hiện khoá luận này, ngoài việc sử dụng các tài liệu về chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở lý luận và cơ sở phơng pháp luận nghiên cứu thì nguồn t liệu chủ yếu đợc tác giả khai thác và sử dụng bao gồm:
- Một số văn kiện của Đảng, Nhà nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX, X) Tài liệu về các cuộc thăm viếng lẫn nhau của lãnh đạo, đoàn các cấp mỗi nớc
Trang 12- Các tài liệu về quan hệ hai nớc Việt Nam - Xingapo lu trữ ở Bộ ngoại giao, Học viện quan hệ quốc tế, Thông tấn xã Việt Nam, Sở Văn hoá thông tin Nghệ An, Đại sứ quán Xingapo tại Hà Nội, các số liệu ở Bộ thơng mại.
- Các t liệu về lịch sử Xingapo, lịch sử Đông Nam á, luận văn Thạc sỹ, luận văn tốt nghiệp Đại học ngành lịch sử hoặc kinh tế liên quan đến quan hệ Việt Nam - Xingapo lu trữ ở khoa Lịch sử - Đại học Vinh, Viện nghiên cứu
Trên đây là một số nguồn t liệu mà tác giả luận văn tiếp cận đợc Song,
do trình độ ngoại ngữ hạn chế, tôi không tiếp cận đợc nhiều tài liệu tiếng nớc ngoài về quan hệ Việt Nam - Xingapo Đó chính là khó khăn làm hạn chế chất lợng khoá luận
5.2 phơng pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu đề tài “Quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn 1995 - 2006”, chúng tôi coi đó là mối quan hệ hoàn toàn mới mà thực sự nó có tiền đề từ trong lịch sử, đợc phát triển qua từng giai đoạn nhất định Do vậy, chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp chính là phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgic Ngoài ra còn sử dụng một số phơng pháp khác để xử lý số liệu
Trên cơ sở đó, tác giả khoá luận lựa chọn những t liệu cần thiết, quan trọng liên quan đến nội dung của đề tài, từ đó phân loại t liệu theo từng vấn đề
để có cơ sở cho việc đánh giá, nhận xét mang tính khoa học và khách quan
6 Đóng góp của khoá luận
6.1 Khoá luận là công trình tập hợp, hệ thống hoá các nguồn t liệu và những kết quả nghiên cứu về quan hệ Việt Nam - Xingapo từ năm 1973 - 2006 trên một số lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, du lịch Với nguồn…
Trang 13t liệu này, khoá luận phần nào giúp chúng ta có đợc cái nhìn tổng quan và hiểu biết thêm về lịch sử Việt Nam - Xingapo.
6.2 Trên cơ sở nghiên cứu tài liệu, tác giả khoá luận đã xác định đợc những nhân tố tác động đến sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam - Xingapo qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể Đồng thời, chúng tôi cũng đa ra những nội dung chính của mối quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn 1995 - 2006 rút ra nhận xét và nêu ra một số dự báo về mối quan hệ này trong tơng lai
Nội dung quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn 1995 - 2006 là phần chủ yếu của khoá luận Thông qua những nội dung đó, khoá luận phần nào làm rõ
sự đóng góp của quan hệ Việt Nam - Xingapo đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nớc và sự đóng góp của Việt Nam trong việc xây dựng Đông Nam
á thành một khu vực hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển Đồng thời, nó giúp chúng ta rút ra một số kinh nghiệm và xây dựng những giải pháp phù hợp thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Xingapo phát triển hơn
6.3 Là đề tài nghiên cứu lịch sử theo hớng chuyên đề, khoá luận trớc hết phục vụ học tập, tham khảo cho sinh viên, sau nữa là một nguồn t liệu quan trọng về lịch sử Việt Nam - Xingapo
7 Bố cục của khoá luận
Khoá luận dới tiêu đề “Quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn 1995 - 2006” gồm trang Ngoài phần mở đầu trang, kết luận?????, tài liệu tham… …khảo 2 trang, phụ lục 5 trang, phần nội dung gồm 3 chơng chính:
Chơng 1: Quan hệ Việt Nam - Xingapo thời kỳ trớc 1995
Chơng 2: Quan hệ Việt Nam - Xingapo thời kỳ 1995 - 2006
Chơng 3: Đánh giá quan hệ Việt Nam - Xingapo thời kỳ 1995 - 2006 Triển vọng hợp tác
Trang 14B - Nội dung
Chơng 1:
quan hệ Việt Nam - Xingapo thời kỳ trớc năm 1995
1.1 Những nhân tố tác động đến Việt Nam - Xingapo thời
kỳ trớc 1995.
1.1.1 Sự tơng đồng về hoàn cảnh lịch sử và văn hoá.
* Khái quát chung về hoàn cảnh địa lý, diện tích và dân số Xingapo.
Cộng hoà Xingapo (Republic of Singapore) là một quốc gia đảo nằm ở cực Nam bán đảo Mãlai, phía Bắc giáp Malaixia, Đông - Nam giáp Inđônêxia, nằm giáp eo biển Ma-lac-ca, trên đờng từ Thái Bình Dơng sang ấn Độ Dơng Dân số 4,24 triệu ngời (tháng 6/2004), diện tích 692,7 km2, gồm 54 đảo, trong
đó có 20 đảo có ngời ở, 1,9% diện tích đã đợc canh tác, 4,5% diện tích là rừng Nối liền đảo Xingapo với đảo Ma-lac-ca là một cái đập bê Tonglớn dài hơn 1km
đợc xây dựng từ thời thuộc Anh Đây là hệ thống giao thông đờng bộ duy nhất nối liền đảo với đất liền, và là đờng ống dẫn nớc chính cung cấp cho Xingapo Xingapo nằm trong vùng khí hậu xích đạo (cách xích đạo khoảng 120 km về phía Bắc) Nhiệt độ trung bình: 26,70C, độ ẩm trung bình: 84,4%, lợng ma trung bình trong năm: 2359 mm Địa hình thấp, cao nguyên nhấp nhô trong đó có phần lu vực và những khu bảo tồn thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên hết sức nghèo nàn, không có dầu mỏ hay quặng kim loại, ngoài nguồn cá biển và muối biển chỉ có một ít than chì Bù đắp lại điều đó, Xingapo đã có một vị trí địa lý trọng yếu trên con đờng giao lu buôn bán đờng biển giữa phơng Đông và phơng Tây Với cảng nớc sâu lặng gió bốn mùa đó là quà tặng thiên nhiên mà các nớc khác không có đợc
Cơ cấu dân số: Ngời Trung Quốc: 78,6%, ngời Malaixia: 13,9%, ngời ấn
Độ: 7,9% và một số dân tộc khác chiếm 1,4%
Tôn giáo: Đạo Phật, đạo Lão, đạo Thiên chúa giáo, đạo Xick và đạo Hồi Ngôn ngữ: Tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Malaixia và tiếng Tamil, trong đó tiếng Malaixia đợc coi là quốc ngữ Đơn vị tiền tệ Đôla Xingapo (S$)
Trang 15Vốn là hai quốc gia ở khu vực Đông Nam á, trong suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam và Xingapo đã từng trải qua các cuộc đấu tranh lâu dài chống Chủ nghĩa thực dân Nhân dân Việt Nam và nhân dân Xingapo đều thấm thía nỗi đau của ngời dân mất nớc Họ đều ao ớc đợc sống trong hoà bình độc lập Năm
1945, khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh, thời cơ cách mạng đến, thì quân Anh tràn vào Xingapo (5/9/1945), lập lại hệ thống cai trị thực dân Từ 1945 đến
1958 phong trào chống thực dân phát triển mạnh mẽ Còn Việt Nam dành đợc
độc lập nhng nền độc lập của Việt Nam ra đời cha đợc bao lâu thì thực dân Pháp trở lại xâm lợc Nhân dân hai nớc lại phải chiến đấu dành lại nền độc lập của mình Cũng nh Việt Nam, Xingapo là một quốc gia có nhiều dân tộc, ngôn ngữ, các nhóm cộng đồng sinh sống tại Xingapo hiện nay vẫn giữ đợc nét đặc trng về nền văn hoá và tiếng mẹ đẻ của mình C dân ở đây chủ yếu theo đạo Phật, đạo Hồi, đạo Hinđu và đạo Thiên chúa Nghĩa là có sự phong phú về tôn giáo, tín ngỡng
Phải chăng từ những nét khá tơng đồng về lịch sử và văn hoá ấy đã tạo nền tảng cho quan hệ tốt đẹp của ngày hôm nay?
1.1.2 Yếu tố quan hệ truyền thống.
Là hai nớc cùng nằm ở khu vực Đông Nam á, Việt Nam và Xingapo đã
có quan hệ từ lâu Tuy nhiên, dới sự tác động của những nhân tố lịch sử, chính trị bên trong và bên ngoài khu vực, quan hệ giữa hai nớc đã trải qua những bớc thăng trầm biến động Nếu xét về cội nguồn lịch sử thì Việt Nam và Xingapo có
sự giao lu từ rất sớm Nhng mãi đến năm 1973 Việt Nam và Xingapo mới thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ Nếu làm phép so sánh với các nớc khác trong khu vực Đông Nam á thì Việt Nam và Xingapo là hai nớc thiết lập quan
hệ ngoại giao ở cấp Đại sứ vào loại sớm thứ ba (Việt Nam - Lào 1962, Việt Nam - Malaixia, Xingapo 1973, Việt Nam - Mianma 1975, Việt Nam - Thái Lan, Philippin 1976, Việt Nam - Brunây 1992)
Mối quan hệ Việt Nam - Xingapo đợc duy trì liên tục, không gián đoạn Tuy nhiên có những bớc thăng trầm do nhiều yếu tố lịch sử của khu vực
Trang 16Mặc dù thiết lập quan hệ ngoại giao muộn và không đợc chặt chẽ nhquan hệ Việt Nam - Inđônêxia nhng mối quan hệ giữa Việt Nam - Xingapo lại
đợc thúc đẩy phát triển mạnh mẽ trên nhiều phơng diện: chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội ở giai đoạn 1991 - 1995 Các nhà lãnh đạo đất n… ớc Việt Nam, Xingapo đã không thể ngờ về sự “thần kỳ” trong quan hệ giữa hai nớc Đây là tiền đề để hai nớc bớc vào một thời kỳ mới phát triển về chất trong giai đoạn sau, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên chính thức của Hiệp hội các quốc gia
Đông Nam á (ASEAN)
1.1.3 Chính sách ngoại giao và tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nớc
Chính sách ngoại giao của mỗi nớc cũng là một yếu tố có tác động không nhỏ đến quan hệ với các nớc khác Do đó, khi một nớc có sự thay đổi đờng lối ngoại giao thì mối quan hệ đó cũng có những biến đổi theo Trong quan hệ Việt Nam - Xingapo điều đó càng đợc thể hiện rõ ràng Sau đây là một số nét về chính sách ngoại giao của Xingapo và Việt Nam ít nhiều có sự tác động đến quan hệ hai nớc thời kỳ trớc 1995
Về phía Xingapo; các nhà lãnh đạo Xingapo tuyên bố phát triển quan hệ hoà bình hữu nghị và buôn bán với tất cả các nớc trên thế giới không phân biệt chế độ chính trị, thi hành chính sách không liên kết, không tham gia các tổ chức, khối quân sự nào
Trên thực tế, Xingapo theo đuổi chính sách đối ngoại thực dụng, khôn khéo: “Con cá nhỏ bơi giữa dòng đại dơng”, thực hiện chính sách ngoại giao
“đánh đu” giữa các trung tâm quyền lực để thu nguồn lợi về mình [33, 23] Mọi quan hệ quốc tế đều nhằm mục tiêu làm lợi cho kinh tế đất nớc Thái độ ngoại giao của Xingapo phụ thuộc vào thái độ của các nớc lớn
Xingapo coi quan hệ với Mỹ có tầm quan hệ số một Các nhà lãnh đạo
n-ớc này cho rằng Mỹ là ngời che chở đáng tin cậy nhất Xingapo hợp tác với Mỹ trên mọi phơng diện, đặc biệt trong lĩnh vực buôn bán, trao đổi, hợp tác khoa học kỹ thuật và phòng thủ
Xingapo mở rộng quan hệ nhiều mặt với Nhật Bản, Nhật Bản là nớc đầu
t số một vào Xingapo
Trang 17Là thành viên của ASEAN, Xingapo có quan hệ tốt đẹp với các nớc trong
tổ chức này để nâng cao sự ủng hộ trong khu vực Về phía ASEAN, hợp tác với Xingapo có thể tận dụng về công nghệ, kỹ thuật và các kinh nghiệm trong phát triển kinh tế - xã hội
Xingapo đang tiến hành đẩy mạnh quan hệ với các nớc Đông Dơng đặc biệt là sau vấn đề Campuchia đợc giải quyết và Mỹ xoá bỏ cấm vận với Việt Nam Triển vọng hợp tác Xingapo - Việt Nam là tốt đẹp
Về phía Việt Nam; Đại hội Đảng lần thứ VI đã xác định nhiệm vụ trên lĩnh vực đối ngoại là: Ra sức kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh thời
đại, phấn đấu giữ vững hoà bình ở Đông Dơng, góp phần giữ vững hoà bình ở
Đông Nam á và trên thế giới tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự…nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tích cực góp phần vào công cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội [28, 46]
Đồng thời cũng thể hiện lập trờng đối ngoại hoà bình giữa các nớc có chế
độ chính trị và xã hội khác nhau của Đảng và Nhà nớc ta Đại hội VI đã nhấn mạnh chủ trơng “thêm bạn bớt thù”, ra sức phấn đấu tạo dựng môi trờng quốc tế hoà bình, ổn định, thuận lợi để thực hiện sự nghiệp đổi mới
Trên cơ sở quan điểm đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ VI và Nghị quyết XIII của Bộ Chính trị Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành Trung ơng (khoá VI) tiếp tục khẳng định sự kiên trì đờng lối độc lập, tự chủ, giữ vững hoà bình, tranh thủ thời gian và điều kiện thuận lợi để từng bớc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
Phơng châm của Đảng và Nhà nớc ta là tiếp tục mở rộng quan hệ quốc tế, tham gia tích cực vào phân công lao động quốc tế, thực hiện đấu tranh và hợp tác cùng tồn tại hoà bình và “chuyển mạnh hoạt động ngoại giao từ quan hệ chính trị là chính sang quan hệ chính trị - kinh tế, mở rộng quan hệ kinh tế phục
vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nớc” [28, 47]
Hội nghị lần thứ VII Ban chấp hành Trung ơng VI tiếp tục quán triệt chủ trơng mở rộng quan hệ đối ngoại “sẵn sàng mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả
Trang 18các nớc, các công ty nớc ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi và không có điều kiện chính trị ràng buộc ”.…
Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới quan hệ đối ngoại trong giai đoạn mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã xác định nhiệm vụ công tác đối ngoại là “giữ vững hoà bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”
Đại hội chủ trơng tiếp tục mở rộng quan hệ hữu nghĩ và hợp tác với các nớc theo nguyên tắc bình đẳng, cùng cớ lợi, cùng tồn tại hoà bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, giải quyết các tranh chấp bằng th-
ơng lợng Mở rộng quan hệ đối ngoại nhằm tranh thủ sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của các tổ chức và nhân dân các nớc đối với sự nghiệp đổi mới của nớc ta
Đại hội VII của Đảng đã phát triển chủ trơng “thêm bạn, bớt thù” của
Đại hội VI thành phơng châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” Đại hội chủ tr-
ơng đa dạng hoá, đa phơng hoá quan hệ kinh tế với mọi quốc gia, mọi tổ chức kinh tế, thực hiện đầy đủ nghiã vụ và quyền hạn thành viên của nớc ta trong các
tổ chức quốc tế, gia nhập tổ chức quốc tế và các hiệp hội kinh tế khác khi cần thiết và có điều kiện
Từ những chính sách trên của hai nớc, hy vọng đạt kết quả tốt đẹp trong quan hệ đối ngoại ở giai đoạn sau
1.1.4 Tình hình khu vực và quốc tế.
Tình hình khu vực và quốc tế là nhân tố tác động thờng xuyên đến lịch sử quan hệ Việt Nam - Xingapo Đây là nhân tố tác động có tính chất hai chiều
Điều đó có nghĩa là khi môi trờng quốc tế thuận lợi, nó sẽ trở thành nhân tố tác
động tích cực Ngợc lại, khi môi trờng quốc tế xấu đi, nó trở thành nhân tố tác
động tiêu cực
Trang 19Đông Nam á là một trong những điểm nóng của thế giới và bị phân cực mạnh mẽ do sự chi phối của cuộc đối đầu Đông - Tây diễn ra mạnh mẽ trong thời kỳ chiến tranh lạnh.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên Xô và Mỹ đều tăng cờng sự có mặt và ảnh hởng của ở Đông Nam á Nơi đây trở thành khu vực cạnh tranh quyết liệt giữa hai cờng quốc đại diện cho hai ý thức hệ và chế độ chính trị - xã hội khác nhau Các nớc xã hội chủ nghĩa mà trực tiếp là Liên Xô ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ ở ba nớc Đông Dơng và các Đảng Cộng sản ở Đông Nam á Mỹ thành lập liên minh quân sự (SEATO) ở khu vực này và xây dựng căn cứ quân sự ở nhiều nớc ASEAN để tiến hành cuộc chiến tranh chống các n-
để bù lấp vào “khoảng trống” đó Theo quan niệm của ASEAN, đây chính là nguy cơ gây mất ổn định ở Đông Nam á Để đối phó với tình trạng này, các thành viên ASEAN đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình, mặc dù giữa các nớc trong tổ chức này vẫn còn tồn tại những quan điểm khác nhau, nói chung nổi bật lên hai vấn đề chính:
Một là; tăng cờng vị thế của tổ chức ASEAN Việc phấn đấu tiến tới ASEAN - 10 là một trong những giải pháp quan trọng và việc kết nạp Việt Nam vào ASEAN là một hớng đợc quan tâm
Hai là; góp phần tạo thế cân bằng chiến lợc mới giữa các cờng quốc tại khu vực Phấn đấu cho một Đông Nam á hoà bình, trung lập và thịnh vợng
Trớc xu thế khu vực hoá, quốc tế hoá và chạy đua về phát triển kinh tế, ASEAN ngày càng có vị trí quan trọng đối với hoà bình, ổn định và thịnh vợng của khu vực Nhận thức đợc điều đó, ASEAN đã chuyển hớng hoạt động từ hợp
Trang 20tác an ninh chính trị là chính sang đề cao hợp tác kinh tế Trong chính sách đối ngoại và hợp tác, tổ chức ASEAN khuyến khích việc tìm đối tác bên ngoài, nhất
là đối với các cờng quốc kinh tế và những tổ chức kinh tế lớn của thế giới
Hợp tác giữa các thành viên ASEAN ngày càng khoát ra khỏi sự mặc cảm vể ý thức hệ Các nớc lớn nhỏ và các nớc có chế độ chính trị khác nhau đều bình đẳng hợp tác nhằm xây dựng Đông Nam á trở thành khu vực hoà bình, ổn
Những động thái mới của tình hình quốc tế: Từ cuối những năm 80, các nớc XHCN lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắc Sang đến những năm đầu thập kỷ 90, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nớc Đông Âu sụp đổ Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế khủng hoảng nghiêm trọng, phong trào độc lập dân tộc, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong các nớc t bản gặp nhiều khó khăn trở ngại Cuộc khủng hoảng và tan rã các nớc XHCN đặc biệt là của Liên Xô tác động sâu sắc đến toàn bộ tình hình thế giới
Về quan hệ quốc tế đã và đang nổi lên những xu thế chủ yếu:
- Hoà bình, ổn định và hợp tác, phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới Các nớc dành u tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết định đối với việc tăng cờng sức mạnh tổng hợp quốc gia
- Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác
và liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế Hợp tác ngày càng tăng nhng cạnh tranh cũng rất gay gắt Sự tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, sự liên kết
Trang 21hợp tác giữa các nền kinh tế trở thành điều kiện quan trọng cho quá trình phát triển của các dân tộc.
- Các nớc có chế độ chính trị - xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hoà bình
Sự biến đổi của tình hình thế giới và khu vực nh trên có những nhân tố tác động tích cực thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Xingapo phát triển Song cũng
có những nhân tố tác động tiêu cực làm cản trở sự phát triển của mối quan hệ này Dù có sự tác động của bất kỳ yếu tố nào đi nữa thì quan hệ thơng mại giữa Việt Nam - Xingapo vẫn diễn ra Đây là điểm đặc biệt mà không phải nớc nào cũng có
1.2 Quan hệ Việt Nam - Xingapo thời kỳ trớc 1995
1.2.1 Quan hệ Việt Nam - Xingapo trớc 1973.
Cho đến nay cha có tài liệu nào nói về quan hệ giao lu giữa Việt Nam và Xingapo trong lịch sử Tuy vậy có thể nói rằng, xét về vị trí địa lý, cả hai nớc
đều nằm trên con đờng giao lu buôn bán của khu vực Đông Nam á và Châu á - Thái Bình Dơng Đó là những điều kiện hết sức thuận lợi cho sự giao lu trong buổi đầu của lịch sử giữa hai nớc
Đầu thế kỷ XX, trên hành trình đi tìm đờng cứu nớc, Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc đó là Nguyễn Tất Thành) đã ghé qua cảng Xingapo ngày 8/6/1911 Gần 20 năm sau, tháng 4/1930 Ngời trở lại Xingapo lần thứ hai trên bớc đờng hoạt động cách mạng của mình Có thể coi đó là một trong những sự kiện của
sự giao lu giữa hai nớc vào đầu thế kỷ XX, khi mà cả hai nớc đều là thuộc địa của chủ nghĩa thực dân
* Ngày 9/8/1965 Xingapo tách khỏi Liên bang Malaixia trở thành một
n-ớc Cộng hoà độc lập Chính phủ Nguỵ quyền Sài Gòn là một trong mời nn-ớc đầu tiên công nhận Xingapo và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức Trong lúc
có quan hệ ngoại giao với chính quyền Sài Gòn, Xingapo vẫn duy trì quan hệ thơng mại với Việt Nam dân chủ cộng hoà Bởi vì theo các nhà lãnh đạo Xingapo thì “các nớc dù có những bất đồng về chính trị với Xingapo cũng vẫn
có thể trở thành đối tác kinh tế, thơng mại của Xingapo”
Trang 22Điều đó cho thấy “chủ nghĩa thực dụng” và tính linh hoạt của Chính phủ Xingapo trong việc điều chỉnh các mối quan hệ với nớc ngoài (xem bảng 1).
Cuối những năm 1960, đầu những năm 1970 ở khu vực diễn ra một số chuyển biến có ý nghĩa chiến lợc, trong đó quan trọng nhất là thất bại đã trở nên
rõ ràng của Mỹ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đợc đánh dấu bằng cuộc tổng tấn công tết Mậu Thân (1968) của quân dân Việt Nam Sau sự kiện này, Mỹ đã buộc phải ngồi vào bàn đàm phán với Việt Nam ở Paris (10/5/1968) và chuyển sang thực hiện học thuyết Níchxơn, chủ trơng giảm bớt các cam kết của Mỹ ở Châu á, thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh (thay màu da trên xác chết), chuẩn
bị rút dần quân khỏi Việt Nam và Đông Nam á Trong bối cảnh đó, cũng nh các nớc ASEAN khác, Xingapo đã giảm dần sự dính líu của mình vào cuộc chiến ở Việt Nam Đồng thời để tỏ rõ thiện chí với Việt Nam dân chủ cộng hoà Tháng 7/1971 Chính phủ Xingapo đã đồng ý để Việt Nam thiết lập cơ quan đại diện các tổng công ty xuất nhập khẩu tại Xingapo Bên cạnh đó, Xingapo bắt
đầu thăm dò khả năng phát triển quan hệ với Việt Nam cả về kinh tế, thơng mại
bị hạn chế Tuy nhiên, quan hệ thơng mại hai chiều vẫn đợc duy trì trớc những nhu cầu phát triển của hai nền kinh tế dù bù rằng số lợng trao đổi mậu dịch còn rất nhỏ Về phía Việt Nam, trong quan hệ với các nớc ASEAN, Việt Nam có những cách ứng xử đối ngoại với từng nớc khác nhau nhằm tranh thủ có mức độ các nớc ASEAN, chống lại những biểu hiện tiêu cực ủng hộ Mỹ của một số nớc, trong đó có Xingapo
1.2.2 Quan hệ Việt Nam - Xingapo từ 1973 - 1991.
* Giai đoạn 1973 - 1978:
Trang 23Tháng 1/1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam đợc
ký kết, Mỹ buộc phải ngừng các hoạt động quân sự và rút quân khỏi Việt Nam,
xu thế hoà bình trung lập Đông Nam á phát triển mạnh Tình hình đó đã thúc
đẩy quan hệ song phơng giữa Việt Nam và Xingapo Ngày 1/8/1973 Việt Nam
và Xingapo chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Tuy nhiên, Chính phủ Xingapo vẫn tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với Chính phủ Nguỵ quyền Sài Gòn cho đến khi Chính phủ này sụp đổ hoàn toàn vào ngày 30/4/1975
Về phía Việt Nam, chúng ta luôn luôn tôn trọng dân chủ văn minh trên nguyên tắc bình đẳng, hữu nghị, cùng có lợi với tất cả các nớc Năm 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố với thế giới: “Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với bất cứ nớc nào tôn trọng quyền bình
đẳng, chủ quyền lãnh thổ chủ quyền quốc gia của Việt Nam để cùng nhau…bảo vệ hoà bình thế giới” Trên tinh thần đó, sau thắng lợi năm 1975, Việt Nam
đã công bố chính sách bốn điểm, bày tỏ quan điểm của mình trong quan hệ với các nớc Đông Nam á Bốn nguyên tắc đó là:
1) Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lợc lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi để tồn tại hoà bình
2) Không để lãnh tổ của mình cho bất cứ nớc nào làm căn cứ quân sự xâm lợc hoặc can thiệp nớc khác
3) Thiết lập quan hệ hữu nghị láng giềng tốt đẹp, trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, giải quyết vấn đề tranh chấp trong khu vực thông qua thơng lợng theo tinh thần bình đẳng, hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau
4) Phát triển sự hợp tác giữa các nớc trong khu vực, xây dựng đất nớc phát triển hoà bình
Chính sách bốn điểm này rất phù hợp với nội dung của Hiệp ớc Bali (1976), nên đã đợc các nớc ASEAN (trong đó có Xingapo) nhiệt liệt hoan ngênh Nó “có ý nghĩa nh là sự bình thờng hoá quan hệ với tất cả các nớc ASEAN” Đờng lối đối ngoại này của Việt Nam là yếu tố tác động thuận lợi
đến sự phát triển quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung, quan hệ Việt Nam -
Trang 24Xingapo nói riêng Nếu nh trớc đây, có lúc Việt Nam ciu ASEAN nh là một tổ chức liên minh quân sự trá hình ủng hộ Mỹ chống phá cách mạng Việt Nam và nhìn nhận về Xingapo với con ngời hoài nghi thì từ nửa sau những năm 70, mối quan hệ Việt Nam - Xingapo đã diễn ra theo chiều hớng tốt đẹp.
Trong các năm 1977 và1979 đã diễn ra một số hoạt động ngoại giao giữa hai nớc Đặc biệt là chuyến thăm chính thức Xingapo của Thủ tớng Phạm Văn
Đồng tháng 10/1978, chuyến thăm của Bộ trởng ngoại giao Nguyễn Duy Trinh tháng 1/1978 trong khuôn khổ các chuyến thăm chính thức các nớc ASEAN Trong chuyến thăm này, hai bên đã ra tuyên bố chung về các nguyên tắc chỉ đại quan hệ chung sống hoà bình giữa hai nớc Ngoài ra, Việt Nam còn cử một số
đoàn cấp thấp triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể và đón các đoàn kinh doanh, thơng mại Xingapo vào Việt Nam Chính trong thời gian này, trao đổi thơng mại giữa Việt Nam và Xingapo đã tăng lên nhanh chóng (xem bảng 2)
* Giai đoạn 1979 - 1991:
Từ năm 1979, khi xảy ra vấn đề Campuchia, quan hệ giữa Việt Nam với các nớc ASEAN chuyển sang đối đầu, quan hệ song phơng Việt Nam - Xingapo giảm xuống mức rất thấp
Trong thời gian đầu khi mâu thuẩn Việt - Trung nổ ra công khai và chiến tranh biên giới Việt Nam - Campuchia bùng nổ năm 1978, cũng nh khi quân đội Việt Nam cùng các lực lợng yêu nớc Campuchia vào Phnômpênh lật đổ chế độ Pônpốt đầu năm 1979, Xingapo đã không muốn trực tiếp đối địch căng thẳng với Việt Nam
Tuy nhiên, cuộc chiến tranh ở biên giới phía Bắc Việt Nam tháng 2/197,
và đặc biệt sau sự kiện tháng 6/1980, trong khi truy đuổi tàn quân Pônpốt, một
số đơn vị quân Việt Nam đã tới sát biên giới Campuchia - Thái Lan thì quan hệ của các nớc ASEAN, trong đó có Xingapo đối với Việt Nam trở nên hết sức căng thẳng Trong giai đoạn này quan hệ giữa hai nớc bị chững lai Xingapo ban hành lệnh cấm đầu t vào Việt Nam song hai bên vẫn tiếp tục duy trì quan hệ th-
ơng mại (xem bảng 2)
Trang 25Từ giữa những năm 1980 đã diễn ra những chuyển biến quan trọng trong chính sách của ASEAN đối với Việt Nam đợc đánh dấu bằng quyết định của Hội nghị Bộ trởng ngoại giao ASEAN (AMM) tháng 2/1985 về việc cử Inđônêxia làm đại diện đối thoại với các nớc Đông Dơng Sự kiện này mở đầu
xu thế đối thoại giữa hai nhóm nớc Đông Nam á nhằm tìm ra một giai cấp chính trị cho vấn đề Campuchia
Về phía Việt Nam, từ năm 1986 với đờng lối đổi mới toàn diện, chính sách đối ngoại đa phơng hoá, đa dạng hoá, cũng với việc Việt Nam giữ đúng cam kết rút quân khỏi Campuchia, đã tạo dựng lòng tin của các nớc ASEAN vào thiện chí ở Việt Nam trong chính sách khu vực Quan hệ Việt Nam - Xingapo bắt đầu có những chuyển biến tích cực Những diễn biến mới của tình hình quốc tế và khu vực cũng đã tạo thêm điều kiện thuận lợi để thúc đẩy xu h-ớng tích cực nói trên
Nhìn chung, trong vòng gần 20 năm (1973 - 1991), quan hệ Việt Nam - Xingapo đã trải qua những bớc thăng trầm dới tác động của những nhân tố chính trị bên trong và bên ngoài khu vực Đây chính là bớc khởi đầu đầy sóng gió của quan hệ song phơng, nhng cả hai nớc đều có những nỗ lực chung nhằm vợt qua những trở ngại đó để đa quan hệ giữa hai nớc phát triển theo chiều hớng tốt đẹp mà cả hai bên cùng mong đợi
* Giai đoạn 1991 - 1995:
- Quan hệ chính trị: Cùng với sự kết thúc “chiến tranh lạnh”, giảm căng thẳng giữa các siêu cờng trên thế giới và ở Đông Nam á, việc ký kết Hiệp định hoà bình về Campuchia ở Paris tháng 10/1991 đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa Việt Nam với các nớc ASEAN nói chung và Xingapo nói riêng
Chuyến thăm chính thức Xingapo của Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng Võ Văn Kiệt tháng 11/1991 là sự kiện mở đầu cho thời kỳ hợp tác song phơng sau hơn một thập kỷ “băng giá” trong quan hệ giữa hai nớc Các nhà lãnh đạo hai n-
ớc đã ký kết Hiệp định tăng cờng quan hệ hợp tác kinh tế và trao đổi cơ quan
Trang 26đại diện ngoại giao Tháng 12/1991 Đại sứ quán Xingapo tại Hà Nội đã chính thức ra mắt vào tháng 9/1992 [92].
Năm 1992 đã chứng kiến những hoạt động ngoại giao sôi nổi trong quan
hệ giữa hai nớc Việt Nam - Xingapo Tháng 4/1992 Bộ trởng cấp cao Lý Quang Diệu thăm Việt Nam lần thứ nhất Tháng 10/1992, Bộ trởng ngoại giao Xin Wang Kan Seng thăm hữu nghị chính thức Việt Nam Cũng trong tháng 10/1992, Phó Thủ tớng Phan Văn Khải thăm Xingapo Trong năm 1992, Việt Nam và Xingapo đã ký kết Hiệp định hàng hải (tháng 4/1992), Hiệp định về vận chuyển hàng không (tháng 4/1992), Hiện định thơng mại (tháng 19/1992), Hiệp
định về khuyến khích và bảo hộ đầu t (tháng 10/1992)
Chuyến thăm chính thức Xingapo của Tổng Bí th Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mời tháng 10/1993 là sự kiện nổi bật trong quan hệ giữa hai nớc sau
20 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Đây là chuyến thăm chính thức
đầu tiên của Tổng Bí th Đảng Cộng sản Việt Nam đến một nớc thành viên ASEAN Báo chí Xingapo bình luận: “Chuyến thăm Xingapo lần đầu tiên của vị lãnh tụ76 tuổi của Đảng Cộng sản Việt Nam, một ngời rất hiếm khi đi nớc ngoài, là một sự kiện đặc biệt quan trọng trong quan hệ hai nớc” Phát biểu tại buổi lễ đón đoàn, Thủ tớng Xingapo Goh Chock Tongnói: “Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì có thể làm đợc đee giúp đỡ nhân dân Việt Nam phát triển kinh tế” Tổng Bí th Đỗ Mời đã gặp gỡ Tổng thống Xingapo Ong Teng Cheong, Bộ trởng cao cấp Lý Quang Diệu và các nhà lãnh đạo Xingapo để trao đổi những quan
điểm về các vấn đề quốc tế, vấn đề khu vực và quan hệ hợp tác song phơng giữa hai nớc Về vấn đề Việt Nam chuẩn bị gia nhập ASEAN, Thủ tớng Goh Chock Tongnói: “Xingapo thực sự vui mừng khi Việt Nam tham gia vào cộng đồng các nớc Đông Nam á”
Tháng 11/1993, Bộ trởng cap cấp Lý Quang Diệu thăm Việt Nam lần thứ hai Trong chuyến thăm này, ông đã làm việc với các nhà lãnh đạo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Ông nhấn mạnh rằng, hai năm tới là thời gian rất quan trọng đối với Việt Nam Chính phủ cần có những biện pháp cải cách về hành chính để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài
Trang 27Đồng thời ông cho rằng việc tổ chức lại hệ thống thơng mại trong nớc, xây dựng hệ thống kinh tế mở để hoàn thiện cơ chế thị trờng cải cách hệ thống luật pháp là những vấn đề cấp bách đối với Việt Nam hiện nay.
Cũng trong năm 1993 đã diễn ra các hoạt động trao đổi giữa các bộ, các ngành của hai nớc
Tháng 1/1993 Bộ trởng Bộ Tài chính Hồ Tế sang thăm và làm việc tại Xingapo Bộ trởng Bộ thơng mại và công nghiệp Xingapo Lim Boon Heng; Bộ trởng Bộ môi trờng, Tiến sỹ Ahmah Mattar, thăm và làm việc tại Việt Nam tháng 5/1993 Trong dịp này Việt Nam và Xingapo đã ký kết hiệp định hợp tác trong quản lý và bảo vệ môi trờng Tháng 8/1993, Bộ trởng Bộ giáo dục Xingapo Lee Yock Suan thăm và làm việc với Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam,
mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác giáo dục và đào tạo giữa hai nớc
Chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên của Thủ tớng Xingapo Gô Chock Tongtháng 3/1994 và chuyến thăm chính thức Xingapo lần đầu tiên của Thủ tớng Võ Văn Kiệt tháng 5/1994 là những sự kiện nổi bật đánh dấu phát triển liên tục trong quan hệ của hai nớc Những cuộc trao đổi ý kiến chân thành, cởi mở, hiểu biết lẫn nhau giữa các nhà lãnh đạo hai nớc về vấn đề an ninh khu vực, về sự hợp tác kinh tế, thơng mại song phơng, đã củng cố và tăng cờng quan
hệ hai nớc
Thủ tởng Gô Chock Tongđồng thời cũng khẳng định sự ủng hộ của Xingapo đối với Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN Hai bên đã khẳng định hai lĩnh vực hợp tác kinh tế chủ yếu là các khu công nghiệp Việt Nam - Xingapo và hợp tác du lịch
Hai nớc đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn thuế, lậu thuế (tháng 3/1994), thoả thuận về hợp tác trong vận tải đờng bộ cho Hà Nội (tháng 3/1994), Hiệp định về hợp tác du lịch (tháng 8/1994)
Cùng với sự nỗ lực của Việt Nam kết hợp với những ủng hộ tích cực của các nớc ASEAN, đặc biệt là Xingapo, ngày 28/7/1995, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN Từ đây quan hệ Việt Nam - Xingapo nói riêng, quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung bớc sang một giai đoạn mới
Trang 28Quan hệ hợp tác chính trị Việt Nam - Xingapo giai đoạn 1991 - 1995 đã
đem đến nhiều kết quả tích cực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nớc Xingapo cũng nh đất nớc Việt Nam Sự hợp tác này là nền tảng cho sự hợp tác trong kinh tế cũng nh các lĩnh vực khác Trong thời kỳ trớc 1995, quan hệ hợp tác Việt Nam - Xingapo trên các lĩnh vực khác không ngừng phát triển
- Quan hệ quốc tế:
Hợp tác tốt trên lĩnh vực chính trị là tiền đề thuận lợi cho sự hợp tác trên lĩnh vực kinh tế Ngợc lại, hợp tác tốt về kinh tế là cơ sở vững chắc cho hợp tác
về chính trị
Quan hệ kinh tế Việt Nam - Xingapo bao gồm ba lĩnh vực chủ yếu: Quan
hệ thơng mại, đầu t trực tiếp và hợp tác kỹ thuật
Trớc hết, nói về quan hệ thơng mại; từ đầu thập kỷ 70 của thế kỷ XX, buôn bán hai chiều giữa hai nớc đã tơng đối phát triển Ngay từ trớc khi hai nớc
có quan hệ ngoại giao chính thức, Việt Nam đã thành lập cơ quan đại diện các tổng công ty xuất nhập khẩu ở Xingapo để điều hành các hoạt động thơng mại Khi xảy ra vấn đề Campuchia, quan hệ chính trị giữa hai nớc bị chững lại, Xingapo ban hành lệnh cấm đầu t vào Việt Nam Tuy vậy, quan hệ thơng mại giữa hai nớc vẫn tiếp tục đợc duy trì suốt thời kỳ “băng giá” trong quan hệ chính trị giữa hai nớc Vào những năm cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, kim ngạch hàng xuất khẩu giữa hai nớc đã tăng lên đáng kể Việt Nam xuất khẩu sang Xingapo trên 20 mặt hàng khác nhau, trong đó dầu thô là mặt hàng đứng
đầu, kế đó là các mặt hàng nông, lâm, hải sản Tổng kim ngạch hàng của ta trong 9 tháng đầu năm 1998 là: 113.027.644 USD, lớn gấp đôi so với tổng kim ngạch hàng xuất khẩu từ Xingapo là 51.001.278 USD
Từ đầu những năm 1990 trở lại đây, cùng với những bớc phát triển dồn dập trong quan hệ chính trị giữa hai nớc, quan hệ kinh tế song phơng cũng có b-
ớc phát triển nhảy vọt Việc ký kết các hiệp định kinh tế nh: Hiệp định thơng mại (tháng 10/1992), Hiệp định hàng hải (tháng 4/1992), Hiệp định về vận chuyển hàng không (tháng 4/1992), Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu t (tháng 10/1992), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn thuế,
Trang 29lậu thuế (tháng 3/1994) đã tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy buôn bán hai chiều giữa hai nớc, kim ngạch giữa các nớc đang lên không ngừng, đồng thời cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu cũng đa dạng hơn Cùng với Nhật Bản, Xingapo là một trong hai bạn hàng lớn nhất của Việt Nam.
Về cơ cấu hàng hoá, Việt Nam xuất khẩu sang Xingapo những mặt hàng truyền thống, nh dầu thô, gia vị, cà phê, hạt và quả có dầu, hải sản, cao su, hoa quả
Việt Nam nhập khẩu từ Xingapo khoảng 20 mặt hàng khác nhau, trong
đó đứng đầu là dầu tinh chế, rồi đến thuốc lá, kế đó là các mặt hàng về điện,
điện tử, thuốc men…
Nhìn chung, kim ngạch thơng mại giữa hai nớc đã tăng lên nhanh chóng
kể từ đầu những năm 1990 Năm 1992, kim ngạch giữa hai nớc đạt 1,7 tỷ đô la Xingapo, tăng 13% so với cùng kỳ năm trớc; năm 1993 kim ngạch giữa hai nớc
Đầu t trực tiếp là một lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong quan hệ kinh tế giữa hai nớc Việt Nam và Xingapo Trong những năm 1970, Xingapo đã bắt đầu thăm dò khả năng đầu t vào Việt Nam Tuy vậy khi xảy ra vấn đề Campuchia, Xingapo đã ban hành lệnh cấm đầu t vào Việt Nam Năm 1991 sau khi Hiệp
định hoà bình về Campuchia đợc ký kết, Xingapo bãi bỏ lệnh cấm này
Trang 30Từ năm 1991 đầu t trực tiếp từ Xingapo vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng Đến tháng 10/1993, tức là chỉ trong vòng hai năm, Xingapo đã xếp thứ 9 trong số 10 nhà đầu t lớn nhất vào Việt Nam, với tổng số vốn lên tới 225,3 triệu
đô la Xingapo
Đến năm 1994 với 54 dự án đợc cấp phép và tổng số vốn đầu t lên tới 431,75 triệu đô la Xingapo Con số hơn 400 triệu này không lớn tuy nhiên nh Thủ tớng Gô Chock Tongnói: “Chỉ trong vòng 2 năm thì con số đó là con số không nhỏ”
Nhìn chung các dự án đầu t của Xingapo thuộc quy mô trung bình có hai
dự án có quy mô lớn nhất là:
- Dự án Công ty quốc tế Hồ Tây giữa Công ty 208 và Công ty TID Investment Private Limited với tổng số vốn là 49,825 triệu đô la Xingapo trong thời gian 48 năm để xây dựng khu khách sạn và văn phòng tại Hà Nội
- Dự án liên doanh sản xuất lon nhôm Carnaud Metal Box giữa nhà máy bia Sài Gòn với Công ty Carnaud Metal Box ASia Ldd với tổng số vốn đầu t là
54 triệu đô la Xingapo trong 30 năm, triển khai tại Thành phố Hồ Chí Minh
Các lĩnh vực mà Xingapo quan tâm nhiều và đầu t vào là: Xây dựng khoáng sản, chế biến nông sản, dịch vụ dầu khí, sửa chữa tàu biển…
Trong giai đoạn này, sự hợp tác kinh tế - kỹ thuật giữa hai nớc mới chỉ ở mức độ thăm dò, bớc đầu thí điểm các dự án nhỏ, trung bình
Tóm lại, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Xingapo đang trên đà phát triển tốt đẹp và có nhiều triển vọng Giữa hai nớc đã xây dựng đợc sự tin cậy hiểu biết lẫn nhau Đây là cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy và phát triển quan
hệ lâu dài đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế giữa hai nớc
* Một số lĩnh vực khác:
Cùng với sự phát triển của quan hệ hợp tác Việt Nam - Xingapo trên lĩnh vực chính trị, kinh tế thì quan hệ giữa hai nớc trên một số lĩnh vực khác cũng có bớc chuyển biến đáng kể
Do biến động của tình hình khu vực nên trong giai đoạn này vấn đề giáo dục, văn hoá giữa hai bên cha tìm đợc tiếng nói chung
Trang 31Từ 22 - 27/4/1992, Bộ trởng cao cấp Lý Quang Diệu thăm Việt Nam, góp phần thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Xingapo trong chuyến đi này ông Lý Quang Diệu đồng ý những việc sau:
+ Cử đoàn chuyên viên sang nghiên cứu các vấn đề giao thông vận tải ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Nội
+ Gợi ý Xingapo có khả năng xây dựng những trạm điện 100 - 2000 MW (khoảng 15 - 20 trạm) để giải quyết tình trạng thiếu điện ở Miền Nam
+ Nhận đào tạo cán bộ cho Việt Nam trong lĩnh vực giao thông vận tải,
du lịch, đầu t nớc ngoài…
Ngày 22/6/1992, tại Hội nghị tái thiết về Campuchia ở Tôkyo, cựu Ngoại trởng Wong Kan Seng tuyên bố Xingapo sẽ dành 10 triệu đô la Xingapo để lập quỹ giúp Đông Dơng, trong đó phần lớn dành cho Việt Nam (7,5 triệu đô la Xingapo trong các lĩnh vực hàng không dân dụng, quản lý cảng, viễn thông, nhà
ở, y tế và lập kế hoạch quản lý đô thị)
Hoạt động hợp tác Việt Nam - Xingapo trên lĩnh vực du lịch, thể thao… cũng đợc diễn ra khá sôi động Là hai nớc có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, bởi vậy, Việt Nam - Xingapo đã không ngừng quan tâm hợp tác trên lĩnh vực du lịch của nhau Tháng 4/1991, đoàn Đại biểu Tổng cục du lịch Việt Nam tham
dự Hội nghị hàng năm lần thứ 40 của tổ chức “Hiệp hội du lịch Châu á - Thái Bình Dơng” (BATA) tổ chức tại Inđônêxia Tại hội nghị này, các đại biểu du lịch Việt Nam và Xingapo đã có điều kiện tiếp xúc với nhau, trao đổi những thông tin về sự phát triển của ngàng du lịch mỗi nớc
Nh vậy, quan hệ hợp tác Việt Nam - Xingapo giai đoạn trớc 1995 đã phát triển trên nhiều lĩnh vực Sự phát triển này lại đợc tăng thêm một bớc kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN (28/7/1995)
1.2.3 Nhận xét quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn trớc 1995.
Nghiên cứu mối quan hệ Việt Nam - Xingapo giai đoạn trớc 1995 trên một số lĩnh vực chính trị, kinh tế chúng ta có thể rút ra một số nhận xét sau…
đây:
Trang 321) Xingapo và Việt Nam luôn có mối quan hệ kinh tế, ngay cả khi tình hình chính trị của hai nớc còn căng thẳng Đây là đặc trng lớn trong quan hệ Việt Nam - Xingapo Nó là biểu hiện trong chính sách đối ngoại thực dụng của Xingapo
2) Quan hệ Việt Nam - Xingapo tuy không có bề dày lịch sử nh các nớc khác nhng nỗ lực của cả hai bên đã mang lại hiệu quả và triển vọng quan hệ tốt
đẹp
3) Quan hệ Việt Nam - Xingapo là kết quả thực thi đờng lối đối ngoại của mỗi nớc, phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của nhân dân hai nớc Mối bang giao này mang lại lợi ích thiết thực cho mỗi nớc
- Về phía Việt Nam:
Phát triển quan hệ với Xingapo nh một bớc tiến tạo thêm cho con đờng hội nhập vào ASEAN của Việt Nam Hơn nữa chúng ta có thể tranh thủ đợc nguồn vốn, kinh nghiệm về tổ chức quản lý, điều hành kinh tế của phía Xingapo Mặt khác, thông qua Xingapo ta có thể tiếp cận đợc với các công ty
đa quốc gia đang hoạt động dày đặc ở đây, thông qua đó bắt mối kinh tế với các nớc công nghiệp phát triển
- Về phía Xingapo:
Nớc này đã xâm nhập vào thị trờng đông dân thứ hai ở Đông Nam á Xingapo đang ráo riết cạnh tranh thị trờng với các nớc láng giềng Nhật, Trung Quốc và trở thành bạn hàng lớn của Việt Nam, Xingapo chiếm … u thế so với nhiều nớc khác Hớng phát triển kinh tế của Xingapo là xây dựng nền kinh tế thứ hai ở nớc ngoài Việc gia tăng quan hệ với Việt Nam không ngoài chủ trơng
đó
Nh ta đã biết, Xingapo luôn đi theo chính sách dựa vào nớc lớn, tìm mọi cách gia tăng sự có mặt của Mỹ ở nớc mình và gây sự chú ý của các trung tâm quyền lực Khi Mỹ xoá bỏ cấm vận ở Việt Nam, Xingapo cũng cải thiện quan
hệ với ta, tìm sự ủng hộ hơn nữa ở Đông Nam á
Trang 33Chơng 2:
quan hệ Việt Nam - Xingapo từ năm 1995 - 2006
2.1 Những tác động của tình hình quốc tế và khu vực
Bớc sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình quốc tế và khu vực Đông Nam á có nhiều thay đổi Sự thay đổi này đã và đang tác động sâu sắc đến quan
hệ giữa các quốc gia, các khu vực và các tổ chức quốc tế
đã chuyển sang thời kỳ vừa đấu tranh, vừa hợp tác để cùng tồn tại hoà bình Sự
đối đầu hai phe XHCN và TBCN theo đó đi vào hoà hoãn Quan hệ Xô - Trung sau 30 năm căng thẳng đã trở lại bình thờng và quan hệ Mỹ - Trung đang có dấu hiệu tiến bộ Một số điểm nóng khu vực (Đông Nam á, Trung Đông )…
đang đợc giải quyết thông qua đàm phán bằng biện pháp chính trị Vậy là với sự kết thúc “chiến tranh lạnh” thế giới đã có nhiều biến chuyển buộc tất cả các nớc trên thế giới phải điều chỉnh chính sách đối nội và đối ngoại của mình cho phù hợp với tình hình mới
Sau thời kỳ đối đầu căng thẳng giữa hai hệ thống chính trị trên thế giới, cả thế giới nói chung, các nớc chậm phát triển nói riêng đều nhận thức đợc tác hại của nó Do vậy, các nớc đều có chung nguyện vọng là tập trung xây dựng và phát triển kinh tế để vừa nâng cao cuộc sống cho nhân dân, vừa đối phó với những thách thức về mặt kinh tế đang diễn ra gay gắt Quảng đại nhân dân tiến
bộ đều mong muốn có sự hợp tác hoà bình, phát triển Sự hợp tác giữa các nớc trên nguyên tắc đảm bảo chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, tôn trọng và hợp tác
Trang 34cùng có lợi trớc xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới đang đợc tăng cờng
Xu thế liên kết khu vực đi đôi với xu thế toàn cầu hoá phát triển nhanh Nhiều
tổ chức kinh tế khu vực xuất hiện nh: Thị trờng chung Bắc Mỹ (Canada - Mêhico - Mỹ) năm 1992; khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1992 Cùng với sự lớn mạnh của khối thị trờng chung Châu Âu (EEC), sự phát triển kinh tế của Nhật Bản, của các nớc công nghiệp mới (NICs) đã tạo sức cạnh…tranh gay gắt với Mỹ Đồng thời sự lớn mạnh về kinh tế của một số nớc trên thế giới đã trở thành tấm gơng để nhiều nớc muốn phát triển kinh tế “theo hớng xuất khẩu” học tập kinh nghiệm Tất cả những điều đó buộc các nớc trên thế giới tăng cờng xích lại gần nhau để cùng hợp tác trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế
Cuối năm 1991, một sự kiện lịch sử diễn ra làm cả loài ngời tiến bộ trên thế giới sửng sốt là việc Liên Xô tan rã Từ đây, đặc trng của thế giới hai cực (Xô - Mỹ) là đối kháng giữa hai siêu cờng (Xô và Mỹ) trong thời “chiến tranh lạnh” chấm dứt Thế giới đang ở thời điểm chuyển giao giữa tình hình cũ cha thay đổi và tình hình mới cha hình thành Đó là thời kỳ quá độ tiến tới một thế giới đa cực với đặc điểm chủ yếu của nó là: “Một siêu đa cờng” Do vậy, có ng-
ời đã gọi “sự tan rã của Liên Xô là cơn đại hồng thuỷ chính trị, là chuyển dòng lịch sử” Sự sụp đổ của Liên Xô đã để lại nhiều khó khăn cho các nớc XHCN và các nớc thuộc “thế giới thứ ba” Bởi lẽ, trong suốt thời gian tồn tại của mình, Liên Xô luôn là tấm chắn cho các nớc XHCN và một số nớc khác có điều kiện thuận lợi trong quá trình xây dựng và phát triển đất nớc Khi Liên Xô tan rã, các nớc XHCN và các nớc thuộc “thế giới thứ ba” buộc phải tạo cho mình một thế
đứng độc lập để có thể “giao tiếp” và hợp tác với các nớc ở mọi nơi trên thế giới Trong điều kiện lịch sử mới, các nớc ấy đều có sự điều chỉnh chính sách
đối nội và đối ngoại của mình để tăng cờng quan hệ quốc tế và hợp tác khu vực
Cùng với những chuyển biến về chính trị, những tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đến đời sống kinh tế thế giới là vô cùng to lớn Sự tác
động ấy về cả tốc độ, trình độ và quy mô Quốc tế hoá đời sống kinh tế đã trở thành xu thế tất yếu Những hàng rào ngăn cách các quốc gia bằng ý thức hệ,
Trang 35bằng chế độ xã hội khác biệt đang từng bớc đợc tháo gỡ Thế giới đang ngày càng trở thành một thị trờng chung thống nhất Chính vì vậy mà một quốc gia
dù mạnh đến đâu cũng không thể phát triển một cách biệt lập với thế giới xung quanh Các quốc gia dân tộc đều từng bớc khép lại quá khứ để tạo dựng sự hợp tác cho hiện tại và tơng lai Chính những tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm cho vị thế kinh tế của các nớc trên thế giới và khu vực có sự thay đổi lớn Sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các nớc luôn có
sự biến thiên Đồng thời sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau giữa các nớc hết sức chặt chẽ Do vậy, Việt Nam và Xingapo cần có những chính sách phù hợp trong quan hệ hợp tác kinh tế với nhau nhằm phát huy tốt những tiềm năng vốn có của mỗi nớc
Tất cả điều đó đã có tác động không nhỏ đến quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Xingapo
2.1.2 Tình hình khu vực Đông Nam á và việc Việt Nam gia nhập ASEAN.
Có thể nói, Đông Nam á là khu vực luôn nằm trong tình trạng đầy biến
động Sang thập kỷ 90, tình hình Đông Nam á có nhiều chuyển biến tích cực
Sự biến chuyển này xuất phát từ những biến chuyển tình hình quốc tế và lợi ích của các nớc Đông Nam á khi những xung đột, đối đầu trên thế giới đã chuyển sang thời kỳ hợp tác cùng tồn tại hoà bình để phát triển
Trải qua quá trình đầy biến động lâu dài, các nớc Đông Nam á đã nhận thức đợc những tác động xấu của sự biến động ấy Đa số các nớc ở Đông Nam
á đều muốn cùng nhau tạo dựng môi trờng khu vực và quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế Họ đã xích lại gần nhau để giải quyết tốt những vấn đề khu vực, xây dựng Đông Nam á thành một khu vực hoà bình, trung lập, không có vũ khí hạt nhân Bên cạnh đó, từ những năm 90, các nớc lớn (Mỹ, Nhật, Trung Quốc ) đã từng b… ớc có sự điều chỉnh chính sách của mình đối với Đông Nam
á Do đó, các nớc này đã tích cực cùng với các nớc Đông Nam á tìm kiếm
Trang 36những giải pháp thích hợp để giải quyết những bất đồng ở đây, trong đó có “vấn
đề Campuchia”
Qua 11 năm đối đầu căng thẳng, sau nhiều cuộc đàm phán giữa các bên
có liên quan, “vấn đề Campuchia” đã đợc giải quyết bằng Hiệp định Paris (23/10/1991) “Vấn đề Campuchia” đợc giải quyết sẽ mở ra một triển vọng mới cho sự hợp tác giữa các nớc Đông Nam á với nhau Theo đó, quan hệ Việt Nam
- Xingapo có điều kiện phát triển hơn Tất cả các nớc Đông Nam á đều nhận thấy tầm quan trọng của việc tập hợp nhau trong diễn đàn khu vực nhằm tạo nên tiếng nói có “trọng lợng” và tự khẳng định mình trên trờng quốc tế Bởi vậy, hai nhóm nớc ở Đông Nam á (ASEAN và Đông Dơng) đã không những thúc đẩy quan hệ chính trị với nhau mà còn tăng cờng quan hệ kinh tế và các lĩnh vực khác Các nớc ASEAN coi đó là biện pháp tốt nhất để đảm bảo an ninh ở Đông Nam á Điều này đã tạo cơ sở tốt để ba nớc Đông Dơng hội nhập vào tổ chức ASEAN
Trong những thập niên qua, nhờ những chiến lợc phát triển kinh tế mạnh
mẽ mà một số nớc trong khu vực Đông Nam á nh: Xingapo, Thái Lan, Malaixia đã tạo đ… ợc điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán và thu hút đầu t n-
ớc ngoài Sự tăng trởng kinh tế (GDP) thời kỳ 1985 - 1990 của Inđônêxia từ 2,5% (1985) lên 7% (1990); Thái Lan là 3,5% (1985) lên 10% (1990); Xingapo
từ 1,6% (1985) lên 8,3% (1990) Với tốc độ phát triển kinh tế nh vậy, Đông Nam á đợc các chuyên gia kinh tế đánh giá là khu vực “đạt tốc độ tăng trởng kinh tế vào loại cao nhất thế giới” Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế, các nớc Đông Nam á cũng gặp không ít thách thức nh: Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng quốc tế, sự lớn mạnh của kinh tế Nhậtt, Đài Loan, Hàn Quốc, Cộng đồng Châu Âu và một số nớc khác Chính vì vậy mà các nớc ASEAN mong muốn có một sự hợp tác toàn diện nhằm tạo ra sự ràng buộc lẫn nhau giữa hai nhóm nớc (ASEAN và Đông Dơng) Có nh vậy mới góp phần đảm bảo an ninh và phát triển cho tất cả các nớc ở Đông Nam á từng bớc xây dựng ASEAN thành một tổ chức của cả khu vực
Trang 37Dới tác động của tình hình quốc tế và những thay đổi của tình tình khu vực cùng với các yếu tố khác đã làm cho quan hệ Việt Nam - ASEAN có bớc phát triển mới Đẩy mạnh quan hệ với các nớc ASEAN là mục tiêu quan trọng của Việt Nam vì tổ chức ASEAN là một tập hợp gồm những nớc vừa và nhỏ Các nớc này lại có xuất phát điểm đi lên tơng tự Việt Nam Hợp tác với ASEAN không những giúp Việt Nam nhanh chóng hội nhập vào tổ chức này mà còn tạo
điều kiện cho Việt Nam đuổi kịp họ về mặt kinh tế và hội nhập thế giới Phía các nớc ASEAN cũng muốn quan hệ hợp tác với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực
để phát huy những tiềm năng vốn có của mỗi bên
Với đờng lối đối ngoại mới từ Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ VI, VII, Việt Nam đã từng bớc mở cửa giao lu với các nớc trên thế giới, trên cơ sở bình
đẳng, hợp tác cùng có lợi, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Trong đó, Việt Nam tích cực tiếp cận với các thành viên của tổ chức ASEAN thông qua nhiều hoạt động Các nớc ASEAN sẵn sàng ủng hộ Việt Nam tham gia Hiệp ớc Bali Tại Hội nghị ngoại trởng ASEAN lần thứ XXV ở Manila (tháng 7/1992), Việt Nam và Lào đã chính thức tham gia Hiệp ớc Bali và trở thành quan sát viên của ASEAN Từ đó
đến năm 1995, Việt Nam đã không ngừng tham gia vào các chơng trình hoạt
động của ASEAN nh: Tham dự cuộc họp hàng năm của Ngoại trởng ASEAN; diễn đàn khu vực ASEAN (từ 1993); tham gia các chơng trình và dự án của ASEAN trên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, môi trờng, y tế, văn hoá Năm…
1994, tại Hội nghị Ngoại trởng ASEAN lần thứ XXVII (ở Băng Cốc), các nớc ASEAN đã hoàn toàn nhất trí kết nạp Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức này
Ngày 28/7/1995, tại Thủ đô Ban-đa-xê-ri Bê-ga-oăn (Brunây), Việt Nam
đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN D luận thế giới và khu vực coi
đây là bớc đi lịch sử, là mốc lớn đánh dấu trên con đờng xây dựng Đông Nam á hoà bình, ổn định và phát triển Về ý nghĩa của việc Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nớc Đông Nam á, Bộ trởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nói:
“Chúng ta đang chứng kiến xu thế khu vực hoá và quốc tế hoá phát triển nhanh
Trang 38chóng ở mọi nơi, trong xu thế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia ngày càng
rõ nét Trong tình hình đó, hội nhập khu vực và hội nhập thế giới để phát triển
đã trở thành tất yếu khách quan Việc Việt Nam gia nhập ASEAN là một biểu hiện cụ thể của xu thế đó” [28, 81]
Với những gì đã đạt đợc trong lịch sử và hiện tại, Việt Nam “sẽ góp phần làm cho ASEAN phát triển mạnh hơn, năng động hơn, lên một tầm cao mới” Việt Nam gia nhập tổ chức ASEAN sẽ mở ra cơ hội mới trên nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, từ đây Việt Nam cũng phải đơng đầu với không ít thách thức mới Song xét một cách tổng thể thì những thời cơ vẫn là cơ bản vì:
Thứ nhất, Việt Nam gia nhập ASEAN góp phần tạo điều kiện phát triển kinh tế, hoà nhập vào thị trờng khu vực và thế giới Từ đây, Việt Nam có nhiều
điều kiện mở rộng thị trờng xuất khẩu sang các nớc ASEAN, học tập những kinh nghiệm tốt cho quá trình phát triển kinh tế Đồng thời cũng có điều kiện thu hút vốn đầu t từ các nớc ASEAN nhiều hơn Khi Việt Nam gia nhập ASEAN, quan hệ giữa Việt Nam với các nớc khác trên thế giới sẽ đợc mở rộng Việt Nam sẽ có điều kiện hội nhập với một số thị trờng trên thế giới thông qua ASEAN
Bên cạnh đó, Việt Nam phải đối phó với nhiều thách thức về trình độ phát triển kinh tế và thu nhập đầu ngời thấp hơn các nớc ASEAN Sự cạnh tranh hàng hoá Việt Nam với hàng hoá của các nớc ASEAN cũng rất quyết liệt vì hàng Việt Nam chất lợng thấp nhng giá thành cao
Thứ hai, khi Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ thu hẹp sự khác biệt và tăng cờng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau với các nớc thành viên của tổ chức này Từ
đó, giúp Việt Nam và các nớc ASEAN tăng cờng cùng nhau trao đổi, bàn bạc
để thống nhất đi đến giải quyết các vấn đề song phơng và đa phơng Khi gia nhập ASEAN, Việt Nam sẽ có một vị thế mới trong quan hệ quốc tế và cùng với các nớc ASEAN xây dựng hoà bình, ổn định ở Đông Nam á
Thứ ba, gia nhập ASEAN, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi để tăng ờng trao đổi, giao lu văn hoá, giúp đỡ lẫn nhau đào tạo cán bộ, Đồng thời,…
Trang 39c-Việt Nam có điều kiện tiếp thu văn hoá của từng nớc để làm giàu cho nền văn hoá dân tộc mình.
Với ý nghĩa to lớn trên, cho phép chúng ta khẳng định: Việt Nam gia nhập ASEAN sẽ tạo bớc ngoặt trong quan hệ Việt Nam - ASEAN nói chung, Việt Nam - Xingapo nói riêng
Việt Nam và Xingapo là hai quốc gia có quan hệ từ lâu Khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, Việt Nam và Xingapo lại càng có
điều kiện phát triển mối quan hệ đó và hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực để hoà nhập với khu vực và cộng đồng quốc tế Điều đó sẽ tạo nên sự tăng trởng kinh tế mới cho cả hai nớc, góp phần củng cố hoà bình, hữu nghị và hợp tác ở khu vực Đông Nam á và trên thế giới
2.1.3 Sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Xingapo lúc này thể hiện ở một số nội dung sau đây:
Các nhà lãnh đạo Xingapo tuyên bố phát triển quan hệ hoà bình hữu nghị
và buỗn bán với tất cả các nớc trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, thi hành chính sách không liên kết, không tham gia các tổ chức quân sự nào
Trên thực tế, Xingapo theo đuổi chính sách đối ngoại thực dụng Mọi quan hệ quốc tế đều nhằm mục tiêu làm lợi cho kinh tế đất nớc Thái độ ngoại giao của Singapo phụ thuộc vào các nớc lớn
Chính sách đối ngoại của Xingapo dành u tiên cho việc tạo dựng môi ờng hoà bình ổn định ở Đông Nam á và Châu á - Thái Bình Dơng, duy trì hệ thống thơng mại đa phơng tự do - mở, sẵn sàng hợp tác với bất kỳ quốc gia nào vì lợi ích chung và duy trì một nền kinh tế mở
tr-Xingapo rất coi trọng việc thúc đẩy quan hệ với Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và các nớc phơng Tây Xingapo cho rằng sự cân bằng lợi ích trong mối quan hệ tay ba Mỹ - Nhật - Trung Quốc là điều kiện quan trọng hàng đầu đảm bảo cho hoà bình và ổn định chiến lợc Châu á -Thái Bình Dơng, do đó luôn coi trọng cân bằng quan hệ giữa ba nớc lớn
Trang 40Xingapo muốn Mỹ duy trì sự có mặt quân sự ở Đông Nam á và khẳng
định sự có mặt của Mỹ giúp đảm bảo an ninh và ổn định khu vực Mỹ hiện là thị trờng xuất khẩu và nớc đầu t lớn nhất vào Xingapo Với Nhật Bản, Xingapo tranh thủ viện trợ về kinh tế, kỹ thuật Quan hệ Xingapo - Trung Quốc phát triển rất nhanh kể từ khi hai nớc thiết lập quan hệ ngoại giao (3/10/1990) Xingapo coi Trung Quốc là thị trờng đầu t và thơng mại hàng đầu
Nhằm đảm bảo môi trờng hoà bình ổn định phục vụ cho nhu cầu giao lu thơng mại và phát triển kinh tế, Xingapo đặt u tiên hàng đầu cho việc tăng cờng quan hệ với các nớc trong khu vực Xin là một trong 5 nớc sáng lập ASEAN và chủ trơng xây dựng một ASEAN đoàn kết, hợp tác, phát triển và ngày càng tích cực phát huy vai trò trong ASEAN Xingapo đã đa ra sáng kiến cộng đồng kinh
tế ASEAN (AEC) và chủ trơng đẩy AEC theo mô hình 2 + X Xingapo và Thái Lan sẽ thực hiện trớc trong khi chờ các nớc ASEAN khác tham gia
Xingapo đang tích cực nâng cao vai trò, là nớc đề xớng tiến trình hợp tác
á - Âu (ASEM) (10/1994 - 3/1996), là điều phối viên ASEM (tháng 2/1997 - 4/1998), là nớc đa ra sáng kiến thành lập quỹ á - Âu (ASEF) đồng thời là trụ sở của quỹ; Xingapo đã tích cực thúc đẩy sáng kiến hình thành diễn đàn Đông á -
Mỹ La Tinh (EALAF) Xingapo ủng hộ mạnh mẽ việc tự do hoá thơng mại toàn cầu vào khu vực, ủng hộ WTO, GATT, APEC, là nớc đi đầu trong việc đẩy mạnh quá trình thực hiện AFTA (vào năm 2003)
Đối với vấn đề Biển Đông: Xingapo không có tranh chấp lãnh thổ ở Biển
Đông; chủ trơng dùng biện pháp hoà bình để giải phóng vấn đề tranh chấp ở Biển Đông thông qua đàm phán tay đôi và cùng khai thác chung Xingapo đặc biệt quan tâm đến quyền tự do hàng hải ở Biển Đông do lợi ích kinh tế của họ [46, 5 - 6]
Về phía Việt Nam, đứng trớc những đòi hỏi cấp bách của tình hình quốc
tế, bất kỳ nớc nào cũng có thể bị gạt ra ngoài lề của sự phát triển nếu không nỗ lực vào xu thế chung, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/1991) đã