Lời cảm ơn Trong quá trình làm khóa luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận đợc sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Ban chủ nhiệm khoa, Hội đồng Khoa học khoa Địa Lý, các thầy cô t
Trang 1Lời cảm ơn Trong quá trình làm khóa luận, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận đợc sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của Ban chủ nhiệm khoa, Hội đồng Khoa học khoa Địa Lý, các thầy cô trong tổ bộ môn Địa lý tự nhiên; ban dân tộc và miền núi tỉnh Nghệ An, huyện ủy huyện Tơng Dơng, sự khích lệ, động viên, chia sẻ của gia đình, bạn bè và của những ngời thân; đặc biệt
là dẫn dắt chu đáo, nhiệt tình của thầy giáo TS Đào Khang -ngời trực tiếp hớng dẫn tôi làm khoá luận này
Với tình cảm chân thành, cho phép tôi đợc gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm khoa, Hội đồng Khoa học khoa Địa Lý, cùng tất cả các thầy cô giáo trong khoa, bạn bè và ngời thân, đặc biệt là thầy giáo TS Đào Khang
Đây là lần đầu tiên tôi chính thức thực hiện công trình nghiên cứu khoa học nên chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận đợc những lời góp ý của các thầy cô giáo và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn.
Sinh viên Phạm Thị lành
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu 1
1 Lớ do chọn đề tài 1
2 Mục đớch nghiờn cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiờn cứu 3
4 Đối tượng nghiờn cứu 4
5 Phạm vi nghiờn cứu 4
Trang 26 Quan điểm nghiên cứu 5
7 Phương pháp nghiên cứu 6
8 Những điểm mới của đề tài 7
9 Lịch sử nghiên cứu đề tài 7
10 Bố cục của đề tài 9
Chương 1 ĐÃC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰNHIÊN ĐỊA BÀN CƯTRÚ CỦA NGƯỜI H'MÔNG Ở HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN 10
1 1 Vị trí địa tí 1 1 1 2 Địa chất, khoáng sản 1 1 1 3 Địa hình 1 1 1.4 Khí hậu 12
1 5 Thuỷ văn 13
1 6 Đất 14
1 7 Sinh vật 14
Chương 2 KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI H’MÔNG 15
2.1 ' Tên gọi, chủng tộc (nhóm người) ngôn ngữ 15
2.1.1 Tên gọi, chủng tộc 15
2.1.2 Ngôn ngữ 16
2.1.3 Tôn giáo, tín ngưỡng 17
2.2 Địa bàn cư trú 19
CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ TỰNHIÊN ĐẾN MỘT SỐ TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI H'MÔNG Ở HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN 22
3.1 Tác động của điều kiện địa lý tự nhiên đến tập quán cư trú 22
3.1.1 Vị trí nhà Ở 22
3.1.2 Chất liệu 22
3.1.3 Cấu trúc 24
3.2 Tá c động c ủa điều kiện địa lý tự nhiên đến tập quán sản xuất 26
3.2.1 Trồng trọt và chăn nuôi 26
3.2.2 Các ngành nghề thủ công 32
3.2.3 Trao đổi hàng hóa 37
3.3 Tác động của điều kiện địa lý tự nhiên đến tập quán sinh hoạt 3 8 3.3.1.Tổ chức làng xã 38
3.3.2 Tổ chức gia đình 40
Trang 33.3.3 Thức ăn, ương, hỳt 42
3.3.4 Trang phục 47
3.3.5 Phương tiện giao thụng vận tải 52
3.3.7 Lễ hội 57
3.3.8 Lễ tết 59
3.3.9 Cưới hỏi 60
3.3.10 Sinh đẻ 65
3.3.11 Tang ma 67
Chương 4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘi LIấN QUAN ĐẾN CÁC TẬP QUÁN CỦA NGƯỜI H'MễNG Ở HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG TỈNH NGHỆ AN 71
4 ỡ Những cơ sở để đề xuất cỏc giải phỏp 71
4.1.1 Dựa vào cỏc nguồn lực tự nhiờn : 71
4.1.2 Dựa vào điều kiện kinh tế- xó hội 71
4.1.3 Dựa vào chủ trương chớnh sỏch phỏt triển của cỏc cấp chớnh quyền 73
4.2 Giải phỏp phỏt triển kinh tế - xó hội liờn quan đến phong tục tập quỏn của người H'mụng ở huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An 76
4.2.1 Giải phỏp phỏt triển kinh tế 76
4.2.2 Giải phỏp về xó hội 82
KẾT LUẬN 87
Tài liệu tham khảo 89
PHầN Mở ĐầU
1 Lí do chọn đề tài
Dân tộc là vấn đề hiện nay đang thu hút sự quan tâm của Đảng, Nhà nớc, các cấp chính quyền cũng nh các nhà khoa học trong và ngoài nớc Việt Nam là một quốc gia có nhiều dân tộc, mỗi dân tộc lại có truyền thống văn hóa và tên gọi mang bản sắc riêng của mình Trong đó có dân tộc H’Mông
Trang 4Dân tộc H’Mông có lịch sử hình thành và phát triển từngàn xa, hiện nay họ sống ở vùng cao nớc ta Quá trình lịch
sử, điều kiện địa lý tự nhiên nơi c trú là những tiền đề vậtchất của truyền thống: văn hóa vùng cao nhiệt đới, độ ẩmcao, khí hậu hai mùa Đông - Hạ khác nhau rõ rệt
Kể cả trong thực tiễn và nhận thức, phong tục làchuyện mà cả loài ngời đã sớm quan tâm Mỗi dân tộc, mỗiquốc gia trên khắp hành tinh này, xa nay cha bao giờ ngơinghỉ trớc ý thức giữ gìn, phát huy và chấn hng phong tụccủa mình Đế chế La Mã và đế chế Tần là hai phơng trờitiêu biểu, nhiều phong tục của họ đã trải trên 2000 năm naylại đợc cả loài ngời chiêm ngỡng và nâng lên một tầm cao mới
ở Việt Nam, việc quan tâm đến phong tục tập quán đã
đợc ghi trong các bộ sử ký, và việc su tầm, biên soạn phongtục tập quán cũng có từ sớm Nhng việc nghiên cứu nó cho
đến nay thì cha đợc bao nhiêu Những năm gần đây do sựphát triển của khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt làngành dân tộc học và văn học dân gian, phong tục tập quánhiện lên nh một thành lũy tinh thần khó ai có thể chinh phụcnổi Thờng xuyên trên các báo, tạp chí,… giới thiệu, tranh luận
về phong tục tập quán truyền thống và hiện đại của các dântộc Việt Nam, trong đó đáng chú ý có dân tộc H’Mông ởhuyện Tơng Dơng tỉnh Nghệ An
Nhân dân ta truyền ngôn:
“Đáo giang tùy khúc
Nhập gia tùy tục”
Mỗi khúc sông có dòng chảy mạnh yếu, quanh quẩn,
đổi dòng, nông sâu, bồi vực, đá ngầm, đất sụt,… muốn
Trang 5chinh phục nó phải theo chiều của nó, đặc biệt là phải hiểu
nó và hiểu nhiều mối quan hệ khác Trong các gia đìnhcũng vậy, mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, tục trongnhiều gia đình rất khác nhau thậm chí trái ngợc nhau Sựkhuôn phép lúc đứng ngồi, sự mực thớc trong khen chê, sựbộc lộ kiến thức,… cũng nhất thiết tuân theo thói quen tụcnhà, phép nớc Trong thế giới này, mọi hiện tợng, mọi khí chất
đều liên quan với nhau bởi những mối liên hệ chằng chịt bênngoài
Những con ngời, xã hội thuộc mọi thời đại, dù bị trị haythống trị, dù giàu hay nghèo đều rất cần phong tục Cho nênchúng ta cố gắng su tầm trên bình diện rộng mọi phong tụctập quán của các dân tộc nhằm dựng lại đợc các nền văn hóa– lịch sử trí tuệ của con ngời Đó là các phong tục liên quan
đến: của cải, t hữu và lao động đến quan hệ xã hội, đếnứng xử với tự nhiên, siêu nhiên Phong tục là những thể chếcủa những xu thế sống của xã hội và nó bị chi phối một phầnbởi các yếu tố bên ngoài Do đó, việc nghiên cứu đặc điểm
địa lý tự nhiên ảnh hởng đến phong tục tập quán của cácdân tộc nói chung và tộc ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơngtỉnh Nghệ An nói riêng nhằm để hiểu về lịch sử, đời sốngvăn hóa, đời sống lao động của các dân tộc
Trong xã hội hiện đại, có những phong tục đợc ghi nhậntrong tín ngỡng và t duy của con ngời Phong tục tỏa ra trêntất cả các mặt của cuộc sống, len lỏi vào mọi yếu tố cấuthành mô hình thế giới Dù xấu hay đẹp, mỗi phong tục tậpquán đều có giá trị lịch sử của nó Nó có chức năng: tạo ralực thống nhất cho xã hội, trung gian hòa giải hay cán cân
Trang 6công lý, giáo dục, thỏa mãn đời sống tâm linh,… Dù lạc hậuhay văn minh, mỗi phong tục đều thể hiện một lối sống bêntrong phát triển trong môi trờng thiên nhiên - cái nôi của cộng
đồng
Tơng Dơng là một huyện miền núi ở phía Tây tỉnhNghệ An Nơi đây là khu vực sinh sống của nhiều dân tộcthiểu số, trong đó có tộc ngời H'Mông Ngời H'Mông với đặctrng sống trên núi cao nên có những tính cách, phong tục tậpquán mang bản sắc riêng góp phần tô điểm thêm cho nét
đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam Hiện nay, khi đất nớc
đang chuyển mình trên con đờng hội nhập và phát triểnkinh tế thì đời sống của đồng bào tộc ngời H'Mông vẫn
đang chìm ngập trong khó khăn và nghèo đói Cuộc sống
đổi “Rừng vàng” - đổi “lá phổi xanh” của nhân lọai lấyngô lúa cho bữa ăn hàng ngày của ngời H'Mông nói riêng vàcác dân tộc thiểu số khác nói chung đang là những “điểm
đen” cần sự chung tay giải quyết của toàn xã hội
Là ngời con của xứ Nghệ, với mong muốn đợc góp mộtphần nhỏ bé của mình vào công cuộc phát triển kinh tế xãhội miền núi nói chung và của tỉnh nói riêng, tôi chọn đề tài:
“Nghiên cứu đặc điểm địa lý tự nhiên ảnh hởng đến phong tục tập quán của ngời H'Mông ở huyện Tơng D-
ơng tỉnh Nghệ An” làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu theo quan điểm địa lýhọc về đặc điểm địa lý tự nhiên ảnh hởng đến phong tụctập quán, thực trạng phát triển kinh tế và việc lu giữ nét vănhóa của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng, đề xuất một số
Trang 7giải pháp phát triển kinh tế nâng cao chất lợng cuộc sống,trình độ dân trí của ngời dân và đảm bảo an ninh quốcphòng trong khu vực sinh sống của ngời H'Mông trên địa bànnày.
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đợc mục đích trên, đề tài tập trung giải quyếtcác nhiệm vụ cụ thể sau:
- Nghiên cứu đặc điểm tự nhiên địa bàn c trú của ngờiH'Mông ở huyện Tơng Dơng
- ảnh hởng của điều kiện tự nhiên đến một số phong tục tậpquán của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng
- Tập hợp quan điểm, đờng lối, chính sách của Đảng và Nhànớc về vấn đề dân tộc
- Nghiên cứu thực trạng cuộc sống của ngời H'Mông ở huyệnTơng Dơng và việc gìn giữ nét văn hóa riêng của dân tộcmình
- Đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế – xã hội của ngờiH'Mông ở Tơng Dơng
4 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài là điều kiện tự nhiên,phong tục tập quán của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng và
đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế – xã hội giúp ngờiH'Mông ổn định đời sống, sản xuất trên cơ sở tài nguyênhiện có đồng thời gìn giữ, phát huy và chấn hng nét vănhóa riêng của đân tộc mình
5 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi lãnh thổ nghiên cứu
Trang 8Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào địa bàn ctrú của ngời H'Mông phân bố trên 11 bản thuộc 6 xã, trong
đó bản Phà Lõm, Huồi Sơn, Tân Sơn (thuộc xã Tam Hợp), bảnHợp Thành (thuộc xã Xá Lợng), bản Lu Thông (thuộc xã Lu Kiền),bản Tủng Hốc sống với ngời Khơ Mú (thuộc xã Hữu Khuông),bản Huồi Cọ, Huồi Măn, Phả Mựt (thuộc xã Nhôn Mai), bảnPiêng Coọc, Phả Kháo (thuộc xã Mai Sơn) - huyện Tơng Dơng
- tỉnh Nghệ An
- Giới hạn nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào:
+ Các đặc điểm chính về địa lý tự nhiên thuộc khuvực c trú của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng
+ Khái quát về ngời H'Mông và một số phong tục tậpquán của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng
+ Thực trạng phát triển kinh tế xã hội của ngời H'Mông ởhuyện Tơng Dơng
+ Đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế – xã hội liênquan đến các phong tục tập quán của ngời H’Mông ở huyệnTơng Dơng
- Giới hạn nguồn t liệu
+ Có nhiều loại bản đồ có thể sử dụng, nhng trong quátrình nghiên cứu đề tài tác giả đã sử dụng: Tập bản đồhành chính Việt Nam ( Tỉ lệ bản đồ tỉnh Nghệ An: 1: 600
Trang 9Đề tài vận dụng những quan điểm nghiên cứu sau:
- Quan điểm hệ thống
Quan điểm hệ thống đợc vân dụng trong đề tài vàoviệc tìm hiểu hệ thống tài nguyên thiên nhiên thuộc phạm visinh sống của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng
Cấu trúc đứng là toàn bộ hệ các hợp phần của tàinguyên thiên nhiên thuộc phạm vi nghiên cứu tác động đếnphong tục tập quán của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng
Cấu trúc ngang là các đơn vị lãnh thổ trong phạm visinh sống của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng
Cấu trúc chức năng là chức năng của môi trờng tự nhiên
và các chủ trơng, chính sách của các cấp chính quyền, các
dự án phát triển kinh tế – xã hội tác động đến phong tục tậpquán của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng
- Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm phát triển bền vững đợc vận dụng vào việc
đánh giá những hình thức khai thác và sử dụng tài nguyênthiên nhiên của ngời H'Mông trong mối quan hệ của con ngờivới tự nhiên, khả năng hòa nhập của ngời H'Mông với tự nhiêntrong lịch sử phát triển của mình Tìm hiểu sự ảnh hởngcủa điều kiện tự nhiên tới một số phong tục tập quán sinhhoạt cũng nh sản xuất của tộc ngời này Qua đó rút ra nhữngnhận xét làm cơ sở đề xuất một số giải pháp phát triển kinh
tế – xã hội liên quan đến phong tục tập quán của ngời H'Mông
ở huyện Tơng Dơng, vừa đảm bảo việc phát triển một nềnsản xuất an toàn, bền vững và gìn giữ đợc nét bản sắcriêng của dân tộc mình
- Quan điểm sinh thái môi trờng
Trang 10Quan điểm sinh thái môi trờng đợc vân dụngvào việc xây dựng mô hình sản xuất có cơ cấu sinh họckhông mâu thuẫn với môi trờng rừng tự nhiên từng là nơi sinhsống của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng để không làmthay đổi đột ngột môi trờng, không dẫn đến những hậuquả xấu không lờng trớc Từ đó đa ra các giải pháp phát triểnkinh tế – xã hội của ngời H'Mông nhằm nâng cao đời sốngcủa ngời dân nhng không làm ảnh hởng đến môi trờng sốngnơi đây.
7 Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở các quan điểm nghiên cứu đã xác định trên,chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứu sau:
- Phơng pháp nghiên cứu thực địa
Phơng pháp này đợc vận dụng vào việc nghiên cứutrực tiếp các điều kiện địa lý tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế– xã hội tại địa bàn c trú của ngời H'Mông ở huyện Tơng D-
ơng làm cơ sở thực tiễn cho đề tài đồng thời để kiểmchứng các thông tin thu thập từ các nguồn tài liệu, để từ đó
đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế liên quan đếnphong tục tập quán của dân tộc này
- Phơng pháp thu thập, xử lí tài liệu
Phơng pháp này thực hiện với mục đích thu thậpcác nguồn t liệu hiện có liên quan đến dân tộc H'Mông ởhuyện Tơng Dơng; xử lý các nguồn thông tin thiếu tínhthống nhất bằng các phơng pháp đặc thù của địa lý, nhviệc đa về một tỉ lệ thống nhất của các bản đồ; cập nhậthay nội suy, ngoại suy các thông tin thiếu đồng bộ hay khiếmkhuyết,…
Trang 118 Những điểm mới của đề tài
- Tập hợp đợc một số t liệu về ngời H'Mông ở huyện TơngDơng
- Nghiên cứu có hệ thống các tập quán ngời H'Mông ởhuyện Tơng Dơng
- Đa ra các giải pháp phát triển kinh tế xã hội nhằm nângcao chất lợng cuộc sống, trình độ dân trí của ngời dân và
đảm bảo an ninh quốc phòng trong khu vực, bảo tồn, pháthuy và chấn hng những tập quán tốt đẹp có giá trị văn hóa,hạn chế những hủ tục lạc hậu kìm hãm sự phát triển kinh tế
9 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Từ thế kỷ IX, ngời H'Mông quy tụ đông đúc ở QuýChâu Thế kỷ XV, khi chiếm đợc Quý Châu, Minh Anh Tông
đã ra lệnh hoạn (thiến) hàng ngàn trẻ em Miêu (H'Mông) nhằmnhiều ý đồ khác nhau Thế kỷ XVII, ngời H'Mông nổi dậychống lại chính quyền trung ơng nhng thất bại ở lu vực sôngHoàng Hà Phong trào Thái Bình thiên quốc thất bại, ngờiH'Mông bị đàn áp, Tình thế đó buộc ngời H'Mông phảitheo núi cao lần về Đông Nam á và đến Việt Nam vào cácthời điểm cách ngày nay khoảng 300 năm, 200 năm và 150năm
Từ đó đến nay cùng với sự phát triển của khoa học xã hội
và nhân văn, đặc biệt là sự phát triển của ngành dân tộchọc đã có không ít các nhà khoa học thực hiện các côngtrình nghiên cứu của mình về dân tộc H’Mông ở việt Nam,Nghệ An nói chung và huyện Tơng Dơng nói riêng Trong đó
đáng chú ý là:
Trang 121.Ninh Viết Giao Địa chí huyện Tơng Dơng NXB Khoa học
Xã hội 2003
2.Chi cục Định canh định c & Vùng Kinh tế mới tỉnh Nghệ
An Tình hình thực hiện Định canh định c tỉnh Nghệ An
năm 2005 và Phơng hớng từ năm 2006 - 2010 Vinh 12/2005.
3 Nguyễn Văn Huy (CB) Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt
Nam NXBGD 2005.
4 Đào Khang Vì sao ngời Mông ở Nghệ An hay di c tự do?.
Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Ngành Địa lý Trờng ĐHSP-ĐHQGHN1999
5 Bùi Minh Thuận Về nguyên nhân vấn đề di c tự do của
ng-ời H'Mông ở Nghệ An Thông tin Khoa học & Công nghệ Nghệ
An số 3/2007 Thông tin Khoa học Công nghệ Sở KHCN tỉnhNghệ An Số 1/2008 Trang 54-58
6 Đào Khang Lý giải một số tập quán của người H'Mông ở Nghệ
An theo quan điểm địa lý Thông tin Khoa học Công nghệ Sở
KHCN tỉnh Nghệ An Số 1/2008 Trang 54-58
7 Đào Khang Lý giải một số tập quán của người H'Mông ở Nghệ
An theo quan điểm địa lý Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội
8 Đào Khang Thử lý giải vì sao định canh định cư ở Nghệ An
đạt hiệu quả thấp Tạp chí Lâm nghiệp số 1/1997 Tr 31-32.
Những công trình và bài viết trên là nguồn t liệu thamkhảo quan trọng và vô cùng quý báu cho việc nghiên cứu vềngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng
10 Bố cục của đề tài
Đề tài gồm 3 phần, 4 chơng, 2 bản đồ, 30 ảnh, tài liệutham khảo, tổng cộng trang đánh máy trên giấy A4, Fontchữ Vn Time, cỡ chữ 14
Trang 13Chơng 1 ĐặC ĐIểM địa lý Tự NHIÊN ĐịA BàN CƯ TRú CủA NGƯờI H’MÔNG ở huyện TƯƠNG DƯƠNG tỉnh Nghệ
an
Trang 141.1 Vị trí địa lí
Trang 15Ngời H’Mông ở huyện Tơng Dơng tỉnh Nghệ An phân
bố trên 11 bản thuộc 6 xã, trong đó bản Phà Lõm, Huồi Sơn,Tân Sơn (thuộc xã Tam Hợp), bản Hợp Thành (thuộc xã Xá L-ợng), bản Lu Thông (thuộc xã Lu Kiền), bản Tủng Hốc sống vớingời Khơ Mú (thuộc xã Hữu Khuông), bản Huồi Cọ, Huồi Măn,Phả Mựt (thuộc xã Nhôn Mai), bản Piêng Coọc, Phả Kháo (thuộcxã Mai Sơn)
Hầu hết các bản có ngời H’mông c trú nằm về phía Bắc
và phía Tây Nam của huyện Dân c ở đây tha thớt, nằmgần sát biên giới Việt Lào và tiếp giáp với địa bàn c trú củangời Khơ Mú
Với vị trí địa lí nh vậy, tuy khó khăn cho việc pháttriển kinh tế xã hội nhng việc giao lu với nớc bạn Lào và cácdân tộc khác đã tạo cho ngời H’Mông một số nét văn hoátrong sản xuất cũng nh sinh hoạt Bên cạnh đó, vị trí địa línày còn có ý nghĩa rất lớn về mặt an ninh quốc phòng
1.2 Địa chất, khoáng sản
ở huyện Tơng Dơng nói chung, và khu vực ngời H'Môngsinh sống nói riêng, đá là khoáng sản chủ yếu Rừng núihuyện Tơng Dơng có hàng chục triệu khối đá, trong đó cónhiều loại Vì công nhiệp cha phát triển, nên tại đây cha cómột công trờng khai thác đá nào Ngoài ra có sỏi, cát
Trên địa bàn c trú của ngời H'Mông đáng kể nhất làvàng Có thể nói các sông suối trên đất huyện Tơng Dơngchỗ nào cũng có vàng Vàng lắng động trong cát phải đãi mớilấy đợc, gọi là vàng sa khoáng Vàng sa khoáng ở sông Lamtrên đất huyện Tơng Dơng kéo dài từ Cửa Rào đến Con
Trang 16Cuông, kéo dài khoảng 40km, trong đó có đi qua khu vựcsinh sống của ngời H'Mông Trữ lợng dự báo 7000 kg.
1.3 Địa hình
Ngời H’Mông ở huyện Tơng Dơng phân bố trên nhữngvùng núi cao Đồng bào thờng sinh sống ở độ cao từ 600 đến1000m so với mặt nớc biển Khu vực này có độ dốc cao, thiếucân xứng, sông suối ngắn, hiện tợng xâm thực và chia cắtmạnh nên sông suối cắm sâu vào đờng phân thủy và đẩylùi đờng phân thủy về phía Tây, để lại những đỉnh núicao Các ngọn núi, dải núi đều nằm trong dãy núi Trờng Sơn
ở biên giới Việt - Lào Khu vực sinh sống của ngời H’Mông gần
nh biệt lập với bên ngoài gây khó khăn trong việc giao lu,phát triển kinh tế Tuy vậy nó lại tạo nên những phong tục tậpquán đặc trng cho đồng bào nơi đây
Khí hậu mát mẻ, chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm
từ 5 đến 70C Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10, ban ngày thờitiết mát mẻ, song ban đêm nhiệt độ hạ xuống nhiều Nhiệt
độ trung bình mùa hè từ 17 đến 250C Thờng xuyên phảidùng chăn bông đắp vào ban đêm và mặc áo ấm vào buổisáng sớm
Trang 17Mùa hè ở đây trùng với mùa ma Hai tháng ma nhiều nhất
là tháng 6 và tháng 7, lợng ma trung bình hai tháng nàykhoảng 450mm Mùa này hễ có giông tố là những trận ma ràorất mạnh Có những trận ma xối xả, kéo dài ngày, đá núi sụp
lở, kéo theo cây cối đổ ngang, nớc các dòng suối dâng lên,cháy ào ào, gây lũ quét làm cho các con đờng ở đây bịtắc nghẽn, gây khó khăn trở ngại cho giao thông đi lại
Nằm trong khu vực chịu ảnh hởng của gió phơn (gióLào), là loại gió bắt nguồn từ vịnh Bengan thuộc ấn Độ Dơngvốn mang theo nhiều hơi nớc, song trên đờng đi thổi qua
đoạn đờng dài trên các lục địa nên hầu hết hơi nớc đều đểlại phía sờn Tây của dãy Trờng Sơn Vợt Trờng Sơn sang miềnBắc Trung Bộ Việt Nam, luồng gió này đã trở nên khô nóng d-
ới ánh nắng gay gắt của những ngày hè Gió Lào thổi mạnhnhất từ tháng 6 đến tháng 8 dơng lịch Có đợt kéo dài đếnchục ngày làm khe suối khô cạn, hoa màu, cây cối quắt héo,thờng gây ra nạn cháy rừng Tuy có gió Lào, song vào mùanày ở huyện Tơng Dơng, đặc biệt là khu vực sinh sống củangời H'Mông thờng xuất hiện giông bão và ma lớn
Mùa đông lạnh và kéo dài Mùa đông trùng với mùa khô.Gió mùa này xuất phát từ lục địa Đông Bắc á và Thái Bình D-
ơng Đặc điểm của gió mùa này thờng khô và lạnh, song vìthổi qua vịnh Bắc Bộ nên nhận đợc nhiều hơi nớc, nên đếnkhi vào sâu trong đất liền, gặp phải dẫy Trờng Sơn , giómùa mang hơi ẩm này lạnh đi, hình thành mây ma Do khuvực sinh sống của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng nằm sátbên dãy Trờng Sơn nên bị ảnh hởng nhiều hơn cả lợng ma vàngày ma trong một tháng Ma lạnh trong những ngày có gió
Trang 18mùa Đông Bắc ở vùng này thờng dài ngày gây khó kăn tronglàm ăn, đi lại của nhân dân.
Những ngày không ma, nhiều ngày trời nhiều mây u
ám, về sáng có sơng mù dày đặc Mùa này sâu bọ còn dễphát sinh làm ảnh hởng đến sản xuất Nhiều năm còn cóhiện tợng sơng muối
1.5 Thuỷ văn
Do địa bàn c trú của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơngphân bố trên những nơi có diện tích rừng lớn lại gần các khesuối nên nguồn nớc ở đây tơng đối dồi dào Nhng do địahình ở đây dốc nên hàm lợng phù sa thấp
Trên địa bàn c trú của ngời H'Mông ở huyện Tơng
D-ơng có nhiều khe suối lơn nhỏ đổ về các con sông, trong
đó quan trọng nhất là sông Lam, Nậm Chu,…
Sông suối có thủy chế chảy theo mùa Về mùa cạn (từtháng 11 đến tháng 4 năm sau), lu lợng nớc giảm, một số dòngsông, con suối bị khô cạn, thuận lợi cho việc đi lại nhng gâykhó khăn cho sản xuất do thiếu nớc Về mùa lũ (từ tháng 4
đến tháng 10), lu lợng nớc rất lớn gây khó khăn cho giaothông và sản xuất Đặc biệt trong tình trạng hiện nay diẹntích rừng đầu nguồn đang bị giảm sút nghiêm trọng sẽ làmtăng cờng độ lũ, gây thiệt hại to lớn đến đời sống, sản xuất
Trang 19vùng đất này không tốt bằng vùng Tây Bắc dù cũng là miềnnúi.
- Đất mùn trên núi: tầng dày mỏng, tầng thảm mục hữu cơmỏng, sức giữ nớc và hệ số thấm nớc thấp
1.7 Sinh vật
Với sự phân bố địa bàn c trú ở những nơi có độ cao và
độ dốc lớn đã tạo cho khu vực có ngời H'Mông sinh sống tàinguyên sinh vật đặc biệt phong phú
Hệ động thực vật đa dạng và nhiều chủng loại:
- Thực vật:
Rừng ở khu vực của ngời H'Mông c trú mang những đặc
điểm chung của rừng ở huyện Tơng Dơng Rừng có trên 92loài cây , 42 loài đã đợc ghi vào sách đỏ Việt Nam Nhiềuloài gỗ quý: Lim, Chò Chỉ, Sến, Lát Hoa, Đinh hơng, Săng Lẻ,Vàng tâm… Đặc biệt ở đây có Pơmu, Samu mà những khuvực ngời Thái và ngời Khơ Mú sinh sống không có Ngoài ra,Rừng còn có nhiều loại tre, nứa, mét và nhiều loại lâm sảnquí khác: Cánh kiến đỏ, Song, Mây… Các loài dợc liệu quí:
Trang 20tên gọi của mình Về tên gọi và nguồn gốc tên gọi của dântộc H'Mông hiện nay đang tồn tại nhiều ý kiến khác nhau.
Ngời Trung Quốc gọi ngời H'Mông là Miêu Tử hay MiêuDân Xét câú tạo của chữ Miêu Trung Quốc ta thấy trên bộthảo(+ +), dới là chữ điền, từ đó sau này nhiều học giả suy
đoán rằng tên gọi này do ngời Hán đặt để chỉ một dân tộc
đã biết làm ruộng và sau này đã trở thành tên của dân tộc.Khi phiên âm chữ Miêu, ngời Việt đọc thành Mieo, quen gọithành Mèo Tiếng Mèo ở xứ Nghệ nói chung và huyện Tơng D-
ơng nói riêng phát âm nặng thành Mẹo
Trong kinh thi của Khổng Tử (551-479 TCN), có chép
đến Tam Miêu và giải thích rằng, do ngời ta căn cứ vào quần
áo mà có các tên gọi: Hồng Miêu, Bạch Miêu, Thanh Miêu nghĩa
là Miêu Đỏ, Miêu Trắng và Miêu Xanh Nhng ở Nghệ An chỉ cóhai nhóm: H’Mông Trắng và H’Mông Hoa Ngời H’môngTrắng chiếm 95%, ngời H’mông Hoa chỉ khoảng 5%, xu hớngcũng đang hòa nhập với cách ăn mặc theo ngời H’môngTrắng
Lịch sử thiên di của ngời H'Mông vào Việt Nam gắn liềnvới quá trình tìm nơi sinh sống ổn định, tự do và ấm no
Mông có nghĩa là ngời, tên gọi của đồng bào và đó làtên gọi thống nhất trong cả nớc Ngời H'Mông đến Việt Namcha lâu, cách đây 200 - 300 năm, tộc ngời này đến ViệtNam bằng 2 đờng là qua Hà Giang (tập trung ở Mèo Vạc) vàqua Lào Cai Ngời H'Mông ở miền núi Nghệ An liên quan đếnnhóm qua Lào Cai Trớc khi vào Nghệ An, phần lớn ngờiH'Mông đã đi qua Lào Nghệ An là giới hạn cuối cùng tiến vềphía Nam của tộc ngời vốn hay di chuyển này Vùng đất ph-
Trang 21ơng Nam nắng nóng; vùng núi Hà Tĩnh không đủ cao đểquyến rũ họ Ngời H’Mông đến sinh sống ở huyện Tơng D-
ơng cách đây khoảng trên 100 năm
Ngời H’mông qua tài liệu nhân chủng học: theo các nhànhân chủng học, việc hình thành nhân chủng gắn liền vớimôi trờng địa lý tự nhiên xung quanh và vào thời gian là vào
đại đá cũ hậu kỳ và đá mới Tức nhân chủng đợc hìnhthành trong thời gian rất dài
ở Trung Quốc, vào những năm 1934 – 1938 đã tổ chứcmột cuộc điều tra nghiên cứu về nhân chủng với sự tham giacủa hơn 1300 ngời đại diện cho các dân tộc thiểu số ở haitỉnh Tứ Xuyên và Quý Châu nghiên cứu các nhóm máu củangời H'Mông ở Trung Quốc, các nhà nhân chủng đã đi đếnkết luận rằng, ở ngời H'Mông, tỷ lệ nhóm máu B là 39% (80ngời) và số ngời có nhóm máu A là 11% (23 ngời) trong 205ngời đợc nghiên cứu Theo các nhà nhân chủng học, đó làbằng chứng nói lên nguồn gốc Môngôlôit của ngời H'Mông
Từ nguồn t liệu nói trên cùng với kết quả khảo cổ học,các nhà nghiên cứu cho rằng cơ sở khoa học vững chắc đểchứng minh nguồn gốc phơng Đông và bác bỏ thuyết nguồngốc phơng Tây của ngời H'Mông
ở Việt Nam, cho tới nay, cha có những chủng tộc nghiêncứu về nhân chủng ngời H'Mông song chúng ta biết rằng,ngời H'Mông ở Việt Nam và ngời H'Mông ở Trung Quốc là cùngnguồn gốc Do đó chúng ta có thể khẳng định một cáchchắc chắn rằng, ngời H'Mông ở Việt Nam cũng thuộc loạihình nhân chủng Môngolôit
2.1.2 Ngôn ngữ
Trang 22Ngời Dao và ngời H'Mông là một cộng đồng ngời thuộcdòng ngôn ngữ Mông – Dao Quan hệ thân thuộc giữa tiếngDao và tiếng ngời H'Mông đợc thể hiện trong sự tơng ứng vềphát âm Sự tơng ứng này đã xác định đợc tính qui luật của
sự chuyển âm trong ngôn ngữ của ngời H'Mông
Bảng: Chữ viết và cách phát âm của ngời H’Mông
2.1.3 Tôn giáo, tín ngỡng
Trang 23Tín ngỡng, tôn giáo bản thân nó là vấn đề rất khó hiểu
và rất phức tạp, rất đa dạng, muôn màu, muôn vẻ, nên trìnhbày nó cũng rất khó khăn Tín ngỡng tôn giáo dân gian đợcthể hiện qua một số hiện tợng lạc hậu, mê tín dị đoan và cáchiện tợng xã hội khác Theo cách nhìn hiện nay, tín ngỡng đợcchia thành hai hình thái chính: Tín ngỡng (tôn giáo xã hộinguyên thủy), tôn giáo (tôn giáo xã hội văn minh)
2.1.3.1 Tín ngỡng xã hội nguyên thủy
Ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng quan niệm, thế giới
động vật, thực vật xung quanh đều có phần xác và phầnhồn Phần xác là thực tế tồn tại mà chúng ta có thể thấy đợc.Hồn nằm ngay trong xác, là thế giới của ma, của thánh thần
mà ngời trần mắt thịt không nhìn thấy đợc Cuộc sống củaphần hồn và phần xác thuộc hai thế giới khác nhau, thế giớibên xác là “dơng”, thế giới bên hồn là “âm”
Đồng bào H'Mông chia tất cả các ma, quỷ, thánh thầnthuộc thế giới bên âm thành hai loại: thần lành và ma dữ
Thần lành là thần chuyên giáng phớc lành, bảo vệ cuộcsống con ngời, gia súc và các loại cây trồng Tuy nhiên, đốivới loại thần lành, nếu con ngời đối xử sai trái, thiếu sự tôntrọng, không chú ý cúng bái chu đáo đúng kỳ hạn,… thì cácloại thần ấy cũng có thể quấy nhiễu làm cho ngời ta ốm đau,gia súc gầy yếu, mùa màng thất bát Các loại thần lành gồmcó: thần nông, thần thổ địa,…
Ma dữ chỉ chuyên làm hại ngời, gia súc, mùa màng, đi
đến đâu ma dữ làm hại đến đó Ma gặp ai thì ngời đó
bị tai vạ Tuy nhiên nếu đợc cúng bái linh đình thì ma cũnggiảm phần giữ tợn, tức là chỉ gây đau ốm, chứ không làm
Trang 24chết ngời, gia súc,… Do vậy, mỗi khi có tai họa xẩy ra trongvùng, nh bệnh dịch làm ngời ốm đau nhiều, gia súc bị chếthoặc mùa màng thất bát,… đồng bào thờng tổ chức cúng báilinh đình, để con ma dữ khỏi phá phách cuộc sống yên lànhcủa con ngời.
Ước mơ có một cuộc sống vui vẻ, khỏe mạnh, hạnh phúc,…
đã làm nền tảng cho một số ma thuật nh ma thuật chữabệnh, ma thuật tình yêu phát triển Khi có ngời ốm đau,ngoài việc dùng thuốc cổ truyền dân tộc là những lá câytrên rừng, ngời ta còn tin vào ma và cúng ma Cúng ma làthầy cúng điều khiển con ma của mình đi đánh nhau vớicon ma hại ngời ốm Con ma thầy cúng thắng con ma kia thìngời ốm khỏi bệnh Trớc khi gọi ma đi đánh nhau thì phảilàm cỗ mời rợu con ma nhà thầy cúng Nghề cúng bái ở đồngbào H'Mông còn khá phổ biến Nhiều cán bộ đảng viên cũngtin con ma,cũng là những thầy cúng nổi tiếng trong vùng Đôikhi họ bỏ việc nớc đi làm việc làng, kể cả việc cúng bái
Đồng bào H'Mông tin có ma thuật làm cho ngời ta yêunhau Anh con trai yêu một cô gái nào đó, nhng cô gái khôngyêu lại, anh ta có thể bỏ bùa yêu
Ngời H'Mông quan niệm rằng, ngời ốm là do hồn lìakhỏi xác Đồng bào tin ở việc hồi kiếp của con ngời Ngời mất
đi,nếu sống ở đời không có tội lỗi gì sẽ đầu thai trở lại làmkiếp ngời Nếu sống làm nhiều điều tội lỗi thì chết sẽ đầuthai thành con vật để cho ngời khác sai khiến Do đó, theo
đồng bào, sống trên đời này phải có lòng nhân đức, vị tha
và ngời sống có trách nhiệm và bổn phận phải chăm sóc chu
đáo cho ngời đã khuất ở bên kia thế giới
Trang 25Mỹ là 170.000 ngời; Pháp 15.000 ngời; Guyana 1.800;Australia 1.600; Canada 1.200; Arhentina 250; New Zeelan
150 ngời (Gary Lee và Nick Tapp)
Ngời H'Mông ở Việt Nam có 4 nhóm là: H'Mông Đơ (cáctên gọi khác là H'Mông Trắng, Mèo Trắng, Mán Trắng);H'Mông Lềnh (H'Mông Hoa, H'Mông Sỹ, Mèo Hoa); H'Mông Đen(có nơi gọi là H'Mông Đỏ) và H'Mông Súa (H'Mông Hán) NgờiH'Mông đến Việt Nam từ 2 nguồn chính: từ Trung Âu và từTrung Quốc
Trong 4 nhóm ngời H'Mông ở Việt Nam, trên địa bànMNNA có 2 nhóm là H'Mông Đơ và H'Mông Lềnh Tính đếntháng 8 năm 2005, ngời H'Mông ở Nghệ An có 4.053 hộ,28.488 khẩu, sống tại 3 huyện rẻo cao dọc biên giới Việt - Làolà: Kỳ Sơn, Tơng Dơng và Quế Phong Kỳ Sơn có 5 xã thuần
Trang 26H'Mông là Mờng Lống, Huổi Tụ, Nậm Cắn, Tây Sơn, ĐoọcMạy và 3 xã gần thuần H'Mông là Bắc Lý, Na Ngoi, Mờng Típ.Tơng Dơng có 6 xã có ngời H'Mông là Nhôn Mai, Tam Hợp, MaiSơn, Lu Kiền, Xá Lợng và Hữu Khuông) Quế Phong chỉ có ởxã Tri Lễ Tại huyện Tơng Dơng, tính đến hết 31 tháng 12năm 2005, có 2794 ngời Đồng bào sống tại các xã Mai Sơn,Nhôn Mai, Xá Lợng, Lu Kiền, Tam Hợp, Hữu Khuông, cụ thể nhsau:
Trang 28Chơng 3 tác động của điều kiện địa lý tự nhiên đến MộT Số TậP QUáN CủA NGƯờI H’MÔNG ở huyện TƯƠNG DƯƠNG tỉnh nghệ an
3.1 Tác động của điều kiện địa lý tự nhiên đến tập quán c trú
3.1.1 Vị trí nhà ở
Nhà ở là sản phẩm văn hóa của dân tộc Dân tộc nàocũng làm nhà để ở, nhng các dân tộc khác nhau làm nhà ởkhác nhau Đối với ngời H’Mông ở huyện Tơng Dơng, vị trí đ-
ợc chọn làm nhà là nơi cao ráo, thoáng đãng, gần nguồn nớc, Chọn đất cũng phải theo những nghi lễ nhất định
Tập quán chọn đất này của ngời H'Mông ở huyện TơngDơng là do họ sống trên núi cao gió thổi mạnh nên đồng bàothờng chọn sờn khuất gió để làm nhà ở, hạn chế ảnh hởngcủa các điều kiện thời tiết bất thờng nh: lốc xoáy, lũ ống,…
Hơn nữa, do tộc ngời này sống trên núi cao nên nguyênliệu phải có các đặc tính: không mối mọt để có tuổi thọcao; mềm để dễ thi công; nhẹ để dễ vận chuyển; dễ chẻ
để phù hợp với dụng cụ thô sơ; có mùi thơm dễ chịu đối vớingời nhng có khả năng xua đuổi ruồi muỗi, mà gỗ pơmu,
đinh hơng, dẻ, lại có những đặc tính đó Đây là những
Trang 29loại sẵn có trong khu vực sinh sống của đồng bào ngờiH’mông.
Ngoài gỗ, đồng bào còn phải khai thác các laọi tre, mét,nứa, song, mây, Để đảm bảo cho ngôi nhà có thể chốngchọi đợc với ma to gió lớn, đồng bào thờng dùng các cây tregiằng néo phía trong của mái, liên kết các đòn tay lại vớinhau Một đặc điểm của ngơi H”Mông ở Nghệ An nói chung
và ở huyện Tơng Dơng nói riêng là không sử dụng các lỗ con
xỏ mà sử dụng kỹ thuật khớp nối bằng cách dùng búa, dao,rìu,…đẽo và chặt các vật liệu thành ngàm, khớp với các bộphận của khung nhà lại với nhau, rồi cố định bằng cách dùngdây mây, lạt… buộc chặt lại Vật liệu lợp nhà là gỗ xẻ mỏngthành ván, cỏ gianh hoặc nứa Nóc nhà đợc úp kín bằng cáctấm gỗ lòng máng nh ngói bò của Việt Nam
Hiện nay với sự quan tâm của đảng và nhà nớc, nhà ởcủa ngời H’Mông đã có sự thay đổi từ mái lợp bằng lá cọ sangtấm lợp phiprôximăng Tuy nhiên kiểu kiến trúc thì vẫn còn
đợc lu giữ
Trang 30ảnh 1: Nhà ở của một gia đình ngời H’Mông ở bản Huồi Sơn – xã Tam Hợp – huyện Tơng Dơng
Trang 31Cấu trúc chung của ngôi nhà dân tộc H'Mông gồm bagian Gian giữa có cửa chíng nhìn về phía trớc nhà, đây làgian tiếp khách Vách sau của gian giữa là chỗ thiêng, cửachính của nhà có ngỡng cao khoảng 40cm ở một gian bêncạnh có bếp nấu ăn và có buồng ngủ của con lớn ở đây cũng
có cửa phụ để ngời nhà đi lại
Trong các gian của lòng nhà đợc chia thành các buồng cóvách ngăn Hai gian bên thờng chứa từ 2-3 buồng ngủ Chia
nh thế, thì buồng ngủ của ông bà hoặc bố me phải ở giangiữa đặt đối diện với bếp, vì chủ nhà phải nằm ở gian có
ma bếp Vách ngoài buồng này bố trí giờng khách ở một gócthích hợp
CấU TRúC BÊN TRONG NGÔI NHà CủA NGƯờI H’MÔNG
1, 2, 3, 4, 5: giờng ngủ a: bàn thờ thuốc
6, 7: bếp sởi, bếp lò b: bàn thờ của thầycúng
Trang 32c: bàn thờ cúng tổtiên ( xử ca)
Bàn thờ tổ tiên của ngời H'Mông rất đơn giản, chỉ baogồm một tờ giấy bản, trên mảnh giấy có mấy chấm bằng tiết
gà, đính mấy chiếc lông gà rồi dán vào vách Bàn thờ này dochủ nhà làm, sau khi dựng nhà
Hiên nhà của ngời H'Mông nhỏ và hẹp, vì mái kéo dàixuống rất thấp Đó là nơi thờng để một vài vật dụng của gia
đình
Gác phụ là một bộ phận khá quan trọng trong ngôi nhàcủa ngời H'Mông Nó giống nh chạn gác của ngời Kinh ở miềnxuôi Nghệ An, thờng đợc làm ở hai bên của ngôi nhà Đó lànơi cất giữ lơng thực và đồ đạc của gia đình
Ngôi nhà ngời H'Mông có ba cửa Cửa chính đối diện vớibàn thờ, thờng đóng suốt ngày, chỉ mở khi gia đình cóviệc hệ trọng Cửa phụ đợc bố trí ở hai đầu hồi NgờiH'Mông ra vào hằng ngày bằng hai cửa phụ, nên cửa phụ đợclàm cao to hơn cửa chính Trớc đây nhà ngời H'Mông không
có cửa sổ nhng hiện nay cửa sổ đợc bố trí phù hợp với khônggian của ngôi nhà
Ngời H'Mông sống trên các núi cao trên 1.000 m dọc biêngiới Việt Lào, không ở nhà sàn mà làm nhà trệt bằng gỗpơmu Theo chúng tôi, nguyên nhân là do:
- Sống trên núi cao, gió mạnh và lạnh; ngời H'Mông lại rấtcoi trọng nghề rèn và có thói quen không để bếp tắt lửa Nhthế, nhà trệt tiện hơn nhà sàn
Trang 33- Con cái trong gia đình ngời H'Mông lập gia đình rồivẫn sống chung với bố mẹ Số ngời tăng lên, phải nối nhà dài
ra Nối nhà trệt dễ hơn nhà sàn.
- Ngời H'Mông có tác phong nhanh Nhà sàn lên xuống
chậm Nhà có ngời đông, bản tính dũng mạnh, luôn có súngtrong nhà nên không sợ thú dữ tấn công; núi cao không khítrong lành, không cần làm nhà sàn
3.2 Tác động của điều kiện địa lý tự nhiên đến tập quán sản xuất
3.2.1 Trồng trọt và chăn nuôi
3.2.1.1 Trồng trọt
-Tác động của điều kiện địa lý đến trồng trọt
+ Tác động của điều kiện địa lý đến cây trồng
Do khí hậu vùng ngời H'Mông sinh sống ở huyện TơngDơng là á nhiệt đới, nên các cây lơng thực nh lúa, ngô, kêchỉ trồng đợc vào mùa hè Vì vậy để tranh thủ thời tiết hèthu và tăng hệ số quay vòng đất canh tác, trên tất cả các n-
ơng trồng cây lơng thực chính, đồng bào trồng xen canhcác cây lơng thực phụ và hoa màu nh đậu, bầu bí, rau cải,dong riềng, bí đỏ, khoai sọ, da chuột,… Việc gieo trồng xencanh ngoài ý nghĩa tranh thủ thời gian còn có ý nghĩa đặcbiệt quan trọng trong việc chống ma lũ làm xói mòn đấtmàu
Ngời H'Mông vốn hay di dời, mệt mỏi, lạnh, bệnh tậtluôn đồng hành Thuốc phiện có thể giải quyết nhanh, tạmthời những thách thức đó Cây non là nguồn rau xanh ngon.Sản phẩm gọn nhẹ, hiệu quả thành tiền cao, lợi nhuận buônbán lớn, đầu ra dễ dàng Thuốc phiện chỉ trồng đợc trên núi
Trang 34cao - thoáng - ẩm - lạnh là độc quyền của ngời H'Mông ởNghệ An Một thời, quy mô rẫy thuốc phiện là biểu tợng sứcmạnh, thuốc phiện thể hiện sự giàu có Đó là những lý do màngời H'Mông ở Nghệ An trồng nhiều thuốc phiện cho đến khi
bị cấm vào đầu những năm 90 của thế kỷ trớc
+Tác động của điều kiện địa lý đến thời vụ
Trồng trọt là nguồn sống chính của ngời H'Mông ởhuyện Tơng Dơng Nhìn chung ngời H'Mông ở đây có kinhnghiệm làm nơng từ lâu đời Họ trồng trọt trên các sờn đồi,
đó là những nơi có rừng cây rậm rạp, có thể là những rừngcây to, những rừng nứa hoặc những rừng cây tái sinh Việckhai phá một bãi nơng đợc mở đầu trớc hết bằng việc chọnbãi, tiếp đó là phát cây, đốt cây và sau đó mới gieo trồng.Trớc đây rừng già còn nhiều, nơng rẫy phát một lần có thểcanh tác 4 - 5 vụ rồi mới bỏ hoang di c đi nơi khác Sau nhiềunăm chặt phá rừng không có kế hoạch, rừng già ngày càngcạn kiệt, tầng đất màu mỡ không còn nhiều, chu kỳ sản xuấtchỉ còn 2 - 3 vụ
+Tác động của điều kiện địa lý đến phơng thứccanh tác
Địa hình đất đai đa dạng nên biện pháp canh tác cũngrất khác nhau Phơng thức canh tác của ngời H'Mông ở huyệnTơng Dơng có những cách chủ yếu:
Gieo trồng theo đờng cày là cách gieo trồng đợc ápdụng đối với vùng đã có trình độ thâm canh cao và có độdốc thấp
Gieo trồng theo hốc dùng quốc bổ là cách gieo trồng đợc
áp dụng ở những nơng có độ dốc quá lớn, dùng cày sẽ tăng
Trang 35nhanh tốc độ xói mòn, hoặc nơng có nhiều đá không cày
đợc
Gieo trồng theo lỗ dùng gậy chọc còn gặp ở rải rác một
số nơi Phơng thức gieo trồng theo lỗ đợc áp dụng trớc tiêncho những nơng dốc mới khai phá ở những nơng này đất rất
ẩm, tơi xốp, dễ chọc thủng lỗ Mặt khác, nếu dùng quốchoặc dùng cày ở nơng này sẽ làm tăng nhanh độ xói mòn lớp
đất màu trên bề mặt Do vậy, sự tồn tại của phơng thứccanh tác có nguồn gốc từ thời nguyên thủy này trong khi
đồng bào rất tinh thông kỹ thuật cày cấy là nhu cầu kháchquan nhằm hạn chế tốc độ xói mòn của đất
Ngoài loại hình kinh tế nơng rẫy có tính chất nguyênthủy và truyền thống mà do công cụ lạc hậu, nên năng suấtthấp, đã làm cho môi trờng sinh thái bị tàn phá nhanh chóng
“Lửa cháy đến đâu ngời H'Mông chạy theo đến đó”, nên
tr-ớc đây thờng phải du canh du c; dù thế đồng bào vẫn làm
v-ờn Ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng có vờn nhà và vờnrừng Vờn nhà thờng trồng các loại cây họ cam, chuối, bầubí,… Vờn rừng có vờn riêng của từng gia đình, có vờn chungcủa cả bản
Tổ tiên của ngời H'Mông biết trồng lúa nớc khá sớm Nhng
do quá trình di c , chuyển c nhiều nơi, lại sống trên các triềnnúi cao, nên đồng bào có ít điều kiện để làm ruộng nớc.Tuy nhiên, hiện nay ở các vùng thung lũng nh: bản Huồi Sơn,Phà Lõm ở xã Tam Hợp, có nguồn nớc đồng bào đã làm ruộngbậc thang khá công phu Công cụ làm lúa nớc của ngời H'Mông
là chiếc cày thô có lỡi bằng sắt, chiếc bừa răng bằng gỗ và
Trang 36những chiếc cào có răng bằng sắt hay tre; khi thu hoạch lúadùng liềm sắt.
+ Tác động của điều kiện địa lý đến công cụ sảnxuất
Do địa hình nơng rẫy không bằng phẳng, phơng thứccanh tácdùng gậy chọc lỗ mang tính đặc thù nên Công cụsản xuất của ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng chủ yếu làcon dao quắm, cái búa, cuốc bàn, bai, gậy chọc lỗ,…
Công cụ sản xuất của ngời H’Mông
ảnh: tác giả
Trang 37+ Tác động của điều kiện địa lý đến thu hoạch vàbảo quản sản phẩm trồng trọt
Nhân dân ta thờng nói: “Một hạt lúa vàng chín giọt mồhôi” để chỉ những vất vả khó khăn của ngời nông dân khilàm ra hạt lúa Đối với ngời H'Mông ở huyện Tơng Dơng, do
điều kiện tự nhiên khó khăn và trình độ canh tác thấp nên
để làm ra đợc hạt ngô, hạt lúa thì sự vất vả của ngời dân lạicàng lớn
Vì vậy khâu thu hoạch và bảo quản sản phẩm luôn đợc
đan Còn giàn phơi lúa đợc làm từ những tấm ván gỗ, nhữngcây tre nứa ghép lại, thờng cao khoảng 1m, trên có lợp bằngmái tranh
Trang 38Chòi đựng lơng thực của ngời H’Mông
ảnh: tác giả
Trong nghề trồng trọt, kể cả làm nơng rẫy và lúa nớc,ngời H'Mông ở Tơng Dơng có nhiều nghi thức tín ngỡng đểcúng các loại ma để mong đợc phù hộ và có nhiều kiêng kỵ
3.2.1.2 Chăn nuôi
Điều kiện tự nhiên địa bàn c trú của ngời H'Mông ởhuyện Tơng Dơng rất thuận lợi để phát triển ngành chănnuôi Đồng bào H'Mông chăn nuôi nhiều loại vật nuôi cảtruyền thống và hiện đại nh: trâu, bò, ngựa, dê, gà, vịt, lợn,chó,… Đồng bào nuôi các con vật trên để đáp ứng các nhu
Trang 39cầu canh tác sản xuất, vận chuyển, làm lễ vật khi tế lễ thựcphẩm hàng ngày và cả trong trao đổi hàng hóa.
- Tác động của điều kiện địa lý đến chăn nuôi
+ Hình thức chăn nuôi: do không gian rộng nên trâu,
bò, ngựa thờng đợc chăn thả theo hình thức thả rông ở trênrừng Đồng bào H'Mông ở huyện Tơng Dơng có một khu vựcgiành riêng cho chăn nuôi cách xa nơi ở của con ngời ở đó họdựng các lán, trại cho vật nuôi nghỉ ngơi vào buổi tối và đa
về khu vực sản xuất mỗi đợt vụ mùa về Đối với ngời H'Môngmỗi gia đình thờng có ít nhất là 1 - 2 con bò, nhà giàu thì
có tới vài ba chục con Trong t tởng truyền thống của ngờiH'Mông, bò đợc nuôi để chơi chọi trong các dịp hội hè, tếtnhất, phiên chợ,… khi cần vẫn đợc đem ra chợ để bán
+ Vật nuôi: trên địa bàn c trú của ngời H'Mông ở huyệnTơng Dơng có rất nhiều loại cỏ với diện tích lớn nên vật nuôichủ yếu là trâu, bò, ngựa Ngoài ra, lợn, chó, gà, dê là nhữngvật nuôi phổ biến của các gia đình ngời H'Mông ở đây Lợncủa ngời H'Mông (trớc đây gọi là lợn Mẹo) to con, ngon thịt,mắn đẻ đã đợc ngời kinh đem về nuôi để truyền giống Đốivới gà, đồng bào H'Mông thờng nuôi gà theo hình thức thảrông ở bãi cỏ quanh nhà, gà tự kiếm thức ăn suốt ngày Gàchỉ đợc chăn hai lần vào buổi sáng khi thả gà ra khỏi chuồng
và buổi chiều tối trớc khi gà lên chuồng đi ngủ Chuồng gàthờng là những thanh gỗ gác trên chuồng lợn hoặc chuồngtrâu bò Một số gia đình đào hầm hàm ếch cho gà mẹ và
gà con ngủ đêm, vừa ấm vừa tránh đợc cáo bắt Hiện nay
đồng bào H'Mông vẫn còn lu giữ giống gà Đen (hay gà ác), làgiống gà nằm trong danh sách các loại đang đợc bảo tồn
Trang 40Gà đen (gà ác)
ảnh: tác giả
Lợi dụng địa hình rộng, có nhiều bãi chăn thả nên cácgia súc chủ yếu đợc chăn nuôi theô kiểu tự nhiên Chúng đợcthả tự do trong các bãi cỏ tại khu rừng, thỉnh thoảng mới cóngời đến kiểm tra thăm nom nên ít nhiều bị thất thoát dobệnh tật và thú dữ
3.2.2 Các ngành nghề thủ công
Do vị trí địa lý địa bàn c trú của ngời H'Mông ởhuyện Tơng Dơng cách xa địa bàn c trú của các dân tộckhác nên việc giao lu, trao đổi, mua bán của vùng với vùng