Lý do chọn đề tài Hậu Lộc là một trong những huyện có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa, đặc biệt là lợi thế về vùng biển giàu tiềm năng.. Nghiên cứu
Trang 1Trờng đại học vinh
Trang 2Vinh - 2011
Trang 3Trờng đại học vinh
Giáo viên hớng dẫn: ths Phạm vũ chung
Sinh viên thực hiện: trơng thị sinh
Lớp: 48A - Địa lý
Trang 4Vinh - 2011
Trang 5Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Địa lý - Trường Đại học Vinh, gia đình bạn bè đã giúp đỡ động viên em hoàn thành khóa luận.
Em xin cảm ơn các cơ quan: UBND, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Thống kê, Phòng Tài nguyên môi trường, Thư viện huyện Hậu Lộc - Thanh Hóa.
Bằng sự nỗ lực cố gắng của bản thân đề tài đã hoàn thành song không tránh khỏi những hạn chế sai sót, kính mong sự góp ý của thầy cô và các bạn.
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Trương Thị Sinh
Trang 6MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lý do chọn đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 10
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Đối tượng nghiên cứu 10
5 Giới hạn nghiên cứu 11
6 Quan điểm nghiên cứu 11
7 Phương pháp nghiên cứu 13
8 Lịch sử nghiên cứu 14
9 Đóng góp của đề tài 15
10 Bố cục của đề tài 15
Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ HUYỆN HẬU LỘC 16
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên 16
1.1.1 Vị trí địa lý 16
1.1.2 Địa hình 17
1.1.3 Khí hậu 20
Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Thanh Hóa 22
1.1.4 Sông ngòi 23
1.1.5 Tài nguyên biển 24
1.1.6 Cảnh quan môi trường 28
1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 28
1.2.1 Đặc điểm dân cư và lao động 28
Trang 7Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, tỉ lệ hộ nghèo đói giảm xuống còn
18,6%, giáo dục ngày càng được quan tâm phát triển, các thuần phong mỹ tục văn hóa truyền thống tốt đẹp
đang được giữ gìn và phát huy .29
1.2.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 29
1.2.3 Đặc điểm kinh tế 33
1.3 Nhận định chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Hậu Lộc 49
1.3.1 Thuận lợi 49
1.3.2 Những khó khăn hạn chế 50
Chương 2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH NGHI CỦA NGAO THƯƠNG PHẨM ĐỐI VỚI ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ HUYỆN HẬU LỘC 52
2.1 Cơ sở khoa học của việc đánh giá 52
2.1.1 Đặc điểm và yêu cầu về mặt sinh thái của ngao thương phẩm 52
2.1.2 Yêu cầu về mặt kỹ thuật nuôi ngao 56
2.2 Đánh giá mức độ thích nghi của ngao đối với điều kiện địa lý tự nhiên huyện Hậu Lộc 61
2.2.1 Lựa chọn chỉ tiêu đánh giá 61
2.2.2 Phân cấp chỉ tiêu 61
2.2.3 Phương pháp đánh giá 63
2.2.4 Kết quả đánh giá 63
2.3 Đánh giá mức độ thích nghi của ngao thương phẩm đối với điều kiện kinh tế - xã hội của huyện 66
2.3.1 Thị trường tiêu thụ sản phẩm 66
2.3.2 Lực lượng lao động 67
Trang 82.3.3 Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật 68
2.3.4 Các điều kiện kinh tế - xã hội khác 68
Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VÙNG NUÔI NGAO THƯƠNG PHẨM HUYỆN HẬU LỘC TỈNH THANH HÓA 70
3.1 Quy hoạch vùng triều và mở rộng diện tích vùng nuôi ngao thương phẩm 70
3.1.1 Thực trạng khai thác đất vùng triều 70
3.1.2 Quy hoạch và mở rộng diện tích vùng nuôi ngao 71
3.2 Giải pháp nâng cao sản lượng bằng áp dụng các kỹ thuật chăm sóc và quản lý 78
3.3 Giải pháp về nguồn giống 80
3.4 Giải pháp về vốn, thị trường 80
3.5 Giải pháp về nguồn lao động 82
3.6 Các giải pháp khác 82
KẾT LUẬN 84
1 Kết quả nghiên cứu của đề tài 84
2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 85
3 Những đề xuất 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 80
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hậu Lộc là một trong những huyện có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thanh Hóa, đặc biệt là lợi thế về vùng biển giàu tiềm năng Việc khai thác tốt nguồn lợi này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của cư dân ven biển huyện nói riêng, nền kinh tế huyện nói chung
Qua nghiên cứu tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế xã hội của huyện tôi thấy kinh tế huyện nhà đang có sự chuyển đổi cơ cấu theo hướng tích cực Một số ngành nghề mới xuất hiện và tỉ trọng tăng lên rõ rệt, trong đó phải kể đến là nghề nuôi ngao thương phẩm ở vùng bãi triều ven biển Mới chỉ phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng nghề này đã bước đầu có sự đóng góp rất lớn vào đời sống nhân dân huyện Hậu Lộc, đặc biệt là cư dân ven biển Nó cho phép khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh và tiềm năng của huyện Tuy nhiên sự phát triển nghề này không chỉ gặp khó khăn về tư tưởng
mà còn khó khăn về kỹ thuật, trước hết là cơ sở khoa học bởi việc nuôi ngao tiến hành chủ yếu do sự tự phát, và từ kinh nghiệm của người dân
Nghiên cứu đặc điểm địa lý huyện Hậu Lộc để đánh giá khả năng phát triển vùng nuôi ngao thương phẩm là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn cao nhằm:
- Khai thác tối đa tiềm năng về điều kiện tự nhiên cũng như một số thuận lợi về kinh tế xã hội của huyện theo hướng tích cực, thúc đẩy phát triển nông nghiệp huyện nhà theo hướng sản xuất hàng hóa, an toàn và bền vững
- Tận dụng diện tích đất mặt nước ven biển có khả năng nuôi ngao, tạo điều kiện khai thác hợp lý, có hiệu quả vùng bãi triều ven biển
- Phát triển vùng nuôi ngao thương phẩm theo hướng sản xuất hàng hóa, thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân
- Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quá trình phát triển mở rộng vùng nuôi ngao, từ đó đưa ra những giải pháp thích hợp giải quyết những khó khăn
Trang 10Nghiên cứu đặc điểm địa lý huyện Hậu Lộc nhằm phát triển vùng nuôi ngao thương phẩm là cơ hội để tôi thử sức thực hành với đề tài nghiên cứu khoa học chuyên ngành, tìm hiểu địa phương, nâng cao hiểu biết của bản thân, đóng góp sức mình cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện nhà, thông qua việc xây dưng luận chứng kỹ thuật, và các giải pháp cụ thể có khả năng
vận dụng vào thực tế nuôi trồng Với mong muốn đó tôi chọn đề tài “Nghiên
cứu đặc điểm địa lý huyện Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hóa nhằm phát triển vùng nuôi ngao thương phẩm”.
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đặc điểm địa lý huyện Hậu Lộc nhằm đề xuất các giải pháp phát triển vùng nuôi ngao thương phẩm của huyện trên cơ sở kết quả đánh giá mức độ thích nghi
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đề tài sẽ giải quyết các nhiêm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu đặc điểm địa lý tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hóa, nhấn mạnh tới đặc điểm địa lý các xã ven biển
- Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của ngao thương phẩm
- Đánh giá mức độ thích nghi của ngao thương phẩm đối với đặc điểm địa lý của huyện
- Đưa ra các giải pháp nhằm phát triển vùng nuôi ngao: mở rộng diện tích, nâng cao năng suất, sản lượng, đảm bảo an ninh bãi nuôi
4 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: khả năng thích nghi của ngao đối với đặc điểm địa lý huyện Hậu Lộc - tỉnh Thanh Hóa
- Khách thể nghiên cứu: Ngao thương phẩm ( ngao thịt) - một loại động vật nhuyễn thể có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta
Trang 115 Giới hạn nghiên cứu
5.1 Giới hạn lãnh thổ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi lãnh thổ huyện Hậu Lộc, với 5/27 xã
có vùng triều ven biển có khả năng nuôi ngao
5.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp,do hạn chế về thời gian cũng như nguồn tư liệu nên ở đề tài này tôi chỉ lựa chọn một số chỉ tiêu nổi bật về điều kiện sinh thái cỉa ngao để đánh giá
Loại vật nuôi: ngao thương phẩm ( ngao thịt)
- Các chỉ tiêu đưa vào đánh giá:
+ Khí hậu: nhiệt độ trung bình, nhiệt độ tối cao, nhiệt độ tối thấp
+ Độ mặn
+ Tỉ lệ cát đáy bãi
+ Thời gian phơi bãi/ngày
- Đánh giá mức độ thích nghi gồm 4 cấp: rất thích nghi, thích nghi, khá thích nghi và không thích nghi
- Đề tài đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của nghề nuôi ngao: mở rộng diện tích, kỹ thuật chăm sóc và quản lý, giải pháp về thị trường, nguồn vốn, lao động, cơ chế chính sách, và an ninh vùng triều
5.3 Giới hạn nguồn tư liệu
Nguồn tài liệu về tự nhiên và đặc điểm sinh lý của ngao ít thay đổi nên lấy nguồn tư liệu trước năm 2008 Nguồn tài liệu về kinh tế xã hội cập nhật hơn lấy từ sau năm 2000
6 Quan điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên quan điểm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biên chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử Để đạt dược mục đích và giải quyết các nội dung trên đề tài vận dụng các quan điểm nghiên cứu sau:
Trang 126.1 Quan điểm hệ thống
Đây là quan điểm bao trùm nhất, bởi các đối tượng địa lý luôn trong mối quan hệ biện chứng của thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, kinh tế, xã hội Chúng không đứng riêng rẽ và luôn chịu tác động của các nhân tố khác
- Cấu trúc đứng: Gồm các hợp phần tạo nên lãnh thổ huyện Hậu Lộc, địa hình, khí hậu, đất, nước, sinh vật, khóang sản Các hợp phần này là một bộ phận nhỏ của huyện Hâụ Lộc, đồng thời huyện Hậu Lộc là bộ phận của một
hệ thống cấp cao hơn là tỉnh Thanh Hóa Khi một trong các yếu tố địa lý Hậu Lộc biến đổi thì các yếu tố còn lại sẽ biến đổi theo Sự biến đổi đó có thể trực tiếp, hoặc gián tiếp tác động tới sự phát triển của ngao
- Cấu trúc ngang gồm 26 xã và một thị trấn
- Cấu trúc chức năng: là các yếu tố vận hành hệ thống hoạt động như: định hướng phát triển của các cấp chính quyền, thị trường… trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến sự phát triển của vùng nuôi ngao Hậu Lộc
6.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Các thành phần Địa Lý tự nhiên không phân chia ranh giới rõ ràng mà
có sự biến đổi theo thời gian, không gian, có mối quan hệ với các hợp phần xung quanh Vì vậy đề tài nghiên cứu phải đặt nó trong một giới hạn lãnh thổ nhất định, cụ thể là lãnh thổ huyện Hậu Lộc Đồng thời phải đặt nó trong bối cảnh của huyện xung quanh và toàn tỉnh Thanh Hóa, cả nước nhằm tạo ra một
hệ thống thị trường rộng lớn
6.3 Quan điểm thực tiễn
Đây là quan điểm không thể thiếu được đối với quá trình nghiên cứu đề tài Thực tiễn là tiêu chuẩn là thước đo đúng sai, là cơ sở nghiên cứu của đề tài và kết quả nghiên cứu lại được áp dụng vào thực tiễn
Quan điểm này được dùng đánh giá mức độ thích nghi của ngao thương phẩm trong điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương và nhu cầu của
Trang 13thị trường Từ đó làm cơ sở đưa ra những giải pháp kiến nghị thúc đẩy hơn nữa việc nuôi ngao của huyện.
6.4 Quan điểm phát triển bền vững
Bản chất của quan điểm phát triển bền vững là việc khai thác sử dụng những điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế xã hội đáp ứng nhu cầu của hiện tại nhưng không ảnh hưởng tới tương lai Do vậy khi xem xét sự phát triển của một đối tượng cũng như đề ra các giải pháp cần phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững
Theo quan điểm này con người sản xuất phải tôn trọng tự nhiên, nghiên cứu phát triển nghề nuôi ngao ở Hậu Lộc nhưng phải đảm bảo tính bền vững của môi trường tự nhiên ven biển của huyện
Ngao thuộc nhóm động vật nhuyễn thể có tiềm năng lớn ở vùng triều nước ta, nuôi ngao không chỉ đem lại hiệu quả kinh tế cao mà còn góp phần cải tạo môi trường sinh thái vùng ven bờ Đề tài cũng đưa ra những biện pháp khả thi nhằm đưa vùng nuôi ngao của huyện phát triển ổn định lâu dài
6.5 Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Vận dụng quan điểm này xem xét đối tượng trong mối quan hệ từ quá khứ tới hiện tại, và dự kiến được sự phát triển của nó trong tương lai
Nghề nuôi ngao đã được phát triển sớm ở vùng ven biển phía Nam, nhưng ở Hậu Lộc trước đây người dân chủ yếu sống bằng nghề làm muối, đánh bắt cá Trong những năm gần đây nghề nuôi ngao phát triển mạnh đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo và trở thành tỉ phú
7 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên quan điểm nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu gồm:
7.1 Phương pháp thống kê, thu thập xử lý thông tin
Phương pháp này vận dụng vào đề tài để thu thập thông tin từ kết quả của các công trình nghiên cứu, từ đặc điểm sinh thái của ngao, báo cáo định
Trang 14kỳ hàng năm của UBND huyện Từ báo, sách, nguồn tài liệu lưu trữ hàng năm của thư viện và các phòng ban liên quan: phòng nông nghiệp, phòng tài nguyên và môi trường, niên giám thống kê của phòng thống kê huyện Hậu Lộc - Thanh Hóa.
7.3 Phương pháp bản đồ
Bản đồ là ngôn ngữ thứ hai của khoa học Địa Lý (baranxki), là điểm
mở đầu và cũng là điểm kết thúc của khoa học Địa Lý Vì vậy bản đồ có vai trò quan trọng không thể thiếu trong quá trình nghiên cứu đề tài Ở đề tài này bản đồ, lược đồ được sử dụng trong nêu thực trạng vùng nuôi ngao ở Hậu Lộc, trong quy hoạch vùng triều, và quy hoạch mở rộng diện tích vùng nuôi ngao Qua bản đồ vấn đề được thể hiện khách quan khoa học hơn
7.4 Phương pháp toán học
Phương pháp toán học được vận dụng vào tính toán xử lý số liệu nhằm rút ra những kết luận trực tiếp Ngoài ra còn được sử dụng trong thành lập bản đồ, lược đồ
8 Lịch sử nghiên cứu
Trong những năm gần đây huyện Hậu Lộc có nhiều chương trình phát triển kinh tế, nhất là vùng ven biển của huyện như dự án phát triển kinh tế vùng triều, quy hoạch sử dụng đất bãi bồi ven biển Nhưng cho tới nay chưa
Trang 15có công trình nào nghiên cứu đặc điểm địa lý huyện Hậu Lộc nhằm phát triển vùng nuôi ngao thương phẩm Chưa đánh giá được khả năng thích nghi của
nó đối với điều kiện Địa Lý của huyện Việc phát triển nghề nuôi ngao chỉ tự phát, dự trên kinh nghiệm của người dân
Chương 1: Đặc điểm địa lý huyện Hậu Lộc -tỉnh Thanh Hóa
Chương 2: Đánh giá mức độ thích nghi của ngao thương phẩm đối với
điều kiện địa lý huyện Hậu LộcChương 3: Các giải pháp phát triển vùng nuôi ngao thương phẩm ở
huyện Hậu Lộc
Trang 16Chương 1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ HUYỆN HẬU LỘC
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Hậu lộc là huyện đồng bằng ven biển có tổng diện tích đất tự nhiên là 143,56 nằm ở phía Đông Bắc của xứ Thanh, cách thành phố Thanh Hóa điểm gần nhất (Cầu Sài - xã Thuần Lộc) chỉ hơn 10 km Điểm xa nhất (Mõm Gãnh thuộc đồng cá Đa Tân - Đa Lộc) cũng chỉ hơn 50 km Hậu Lộc là một trong những huyện ven biển nằm ở vùng cực bắc Trung Bộ, trên tuyến đường sắt xuyên Việt và trục đường quốc lộ 1A, cách thủ đô Hà Nội khoảng130 km về phía Đông Nam Nhìn trên bản đồ, địa giới Hậu Lộc được phân định phù hợp với diên cách tự nhiên của sông núi Ranh giới với các huyện như sau:
+ Phía Bắc: Hậu Lộc giáp huyện Hà Trung và Nga Sơn, ranh giới tiếp giáp là sông Lèn Sông Lèn vốn là một nhánh của sông Mã, được tách ra từ ngã ba Bông (một địa danh mang tên “ngũ huyện kê “- nơi con gà trống gáy 5 huyện cùng nghe) chảy về cửa lạch Sung (còn gọi là cửa Bạch Câu)
+ Phía Tây và Nam giáp huyện Hoằng Hóa với đường ranh giới tự nhiên là núi Sơn Trang ở phía Tây, đồi Gai, sông Ấu ở giữa huyện và sông Lạch Trường ở phía Đông
+ Phía Đông giáp biển Đông
- Tọa độ địa lý:
+ Cực Bắc: Hậu Lộc nằm sát vĩ tuyến 200 Bắc, điểm cực Bắc của Hậu Lộc nằm ở tọa độ 19059’20’’ là mũi Nhọn Làn, thuộc xứ Đồng Bản, một bãi bồi của sông Lèn, thuộc địa phận làng Thiều Xá, xã Cầu Lộc
+ Cực Nam: vĩ tuyến 190 52’55’’là mũi Xương Cá thuộc địa phận đồng muối Nam Tiến xã hòa Lộc (giáp với Thôn Đông Nghĩa ở chân núi Trường
Trang 17Xã, Hoằng Yến, huyện Hoằng Hóa) với chiều dài từ Bắc đến Nam khoảng 12 km.
+ Điểm cực Tây: là Eo Hàn ( thôn Phong Mục, xã Châu Lộc gần làng chè xã Hoàng Khánh, Hoằng Hóa), nằm trên kinh tuyến 105059’54’’, đến cực Đông Nam là Mõm Gãnh, phần nhô ra biển của đồng cói Đa Tân xã Đa Lộc
có tọa độ 105059’50’’, cùng với chiều dài từ Tây sang Đông là 24 km
Toàn huyện có 27 đơn vị hành chính (26 xã và 1 thị trấn huyện lỵ) Vị trí địa lý huyện Hậu Lộc được bao bọc bởi các sông: phía Bắc là sông Lèn, phía Nam là sông Trà Giang và sông Lạch Trường, phía Đông giáp biển Đông
Vị trí huyện có giao thông thủy, bộ, đường sắt thuận lợi cho giao lưu kinh tế, tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh nhạy Là cửa ngõ trên con đường thông thương Bắc - Nam, cả đường bộ và thủy Đây là tiềm năng to lớn để tạo
đà phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt là phát triển kinh tế biển Dễ dàng giao lưu kinh tế văn hóa nội bộ và ngoài huyện, đồng thời có tầm quan trọng đặc biệt về an ninh quốc phòng đối với cả nước
Trang 18Đồng bằng châu thổ sông Mã đươc cấu tạo bởi phù sa hiện đại trải ra trên bề mặt rộng ở phía Đông Nam, rìa phía Bắc và Tây là dải dất cao được cấu tạo bởi phù sa của sông Mã, sông Chu, cao 2 đến 15m Trong đồng bằng châu thổ vẫn còn rất nhiều đồi núi sót.
Với địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam có thể chia ra 3 vùng địa hình: vùng đồi núi phía Tây, vùng đồng ruộng giữa huyện, vùng ven biển (đất cát phía Đông)
- Vùng đồi:
Nằm ở phía Tây Bắc của huyện gồm các xã: Châu Lộc,Triệu Lộc, Đại Lộc, với diện tích là 2166,32 ha, chiếm 15,2 % diện tích tự nhiên toàn huyện Đây là vùng đồi thoải, bên dưới là đất ruộng lúa nước bằng phẳng Thuận lợi cho trồng lúa, chăn nuôi gia súc, trồng cây lâm nghiệp (trẩu, sở), cây ăn quả (dứa gai, cam, vải, nhãn, bưởi, mít)
- Vùng đồng bằng giữa huyện:
Gồm các xã: Đồng Lộc, Thành Lộc, Cầu Lộc, Tiến Lộc, Phong Lộc, Tuy Lộc, Lộc Tân, Lộc Sơn, Mỹ Lộc, Thuần Lộc, Thịnh Lộc, Xuân Lộc và Thị Trấn, với diện tích là: 6590,80 ha, chiếm 46,49% diện tích tự nhiên toàn huyện Đây là vùng chuyên canh cây lúa của huyện, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai chủ yếu là phù sa có glây trung bình thích hợp với cây lúa, cây
vụ đông trên đất 2 lúa (cây ngô) và chăn nuôi
- Vùng ven biển (đất cát phía Đông)
Gồm 10 xã phía Đông huyện, rộng 5820,40 ha bằng 39,8% diện tích tự nhiên toàn huyện, trải dài trên 10 km từ Bắc xuống Nam, tạo thành hai vệt bãi cát pha hai bên bờ kênh De Địa hình này không hoàn toàn bằng phẳng và được chia thành 2 vùng rõ rệt
+ Vùng phía tây kênh De là đất đai của 5 xã: Quang Lộc, Lên Lộc, Hoa Lộc, Phú Lộc, Hòa Lộc Năm xã nằm trên một doi cát biển theo hướng Bắc - Nam gần như song song với đường bờ biển và thấp dần từ Bắc xuống Nam,
Trang 19mà tính chất yên ngựa là đặc trưng nổi bật Trong vùng còn có một số quả đồi thấp chạy theo hướng Đông - Tây: đồi Tự, đồi Ngẳn, đồi Nứa, đồi Am, đồi Chúa Những đồi này được phủ kín bằng rừng bạch đàn Cư dân ở đây sinh sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt: cấy lúa, hoa màu và một bộ phận làm muối: làng Trương Xá, Nam Tiến (Hòa Lộc) nổi tiếng từ lâu đời.
+ Vùng phía Đông kênh De: Qua cầu De về phía Đông là đồng bãi cát của 5 xã ven biển: Đa Lộc, Hưng Lộc, Ngư Lộc, Minh Lộc và Hải Lộc Ở đây dòng sông Lèn sau khi chảy qua cưa Bắc kênh De đổi hướng lên Đông Bắc, ra gần tới biển lại lượn vòng xuống Nam để đổ ra biển qua Mõm Gãnh và cửa Lạch Sung Do phù sa của sông Mã, sông Lèn qua của Lạch Sung, nhất là do phù sa sông Hồng, sông Đáy qua cửa Đáy được hải lưu đưa dạt xuống nên đất đai ở phía Bắc (Đa Lộc) được bồi đắp rất nhanh và mở rộng ra biển Đời sống dân cư nơi đây chủ yếu là khai thác nguồn lợi từ biển như cói Đa Lộc, muối Hòa Lộc, cá Ngư Lộc Trong những năm gần đây nuôi Ngao đang phát triển mạnh, trở thành ngành kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế rất cao Nó đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện đời sống dân cư ven biển Ngoài ra vùng còn trồng lúa, hoa màu (ở miền đồng, miền bãi) và làm một số nghề thủ công: đan lưới, đóng thuyền, làm nước mắm
- Một dạng địa hình khác của Hậu Lộc cũng cần phải nhắc tới đó là vùng biển Trên đất liền bờ biển của Hậu Lộc được giới hạn từ cửa Lạch Sung (cửa sông Lèn) đến Lạch Trường (cửa sông Lạch trường) dài 12 km, gần bằng 1/10 bờ biển Thanh Hóa Biển Hậu Lộc rộng 2000 km2, cùng với núi Trường của Hoằng hóa, các hòn đảo nhỏ trên vùng biển Hậu Lộc như hòn Bò, hòn Sụp, hòn Nẹ tạo thành một cánh cung án ngữ sóng gió mặt Nam
và mặt Đông Đặc biệt trong đó là hòn Nẹ, một cù lao dài gần 900m, bề ngang nơi rộng nhất 400m, cao 70,8m so với mặt nước biển, trải qua nhiều thời kì lịch sử đã trở thành lá chắn tiền tiêu vững trải về quân sự, đồng thời
Trang 20cũng là ngọn hải đăng trên biển chỉ đường cho các đoàn thuyền đánh cá ngoài khơi xa tìm về đúng bến.
1.1.3 Khí hậu
Theo tài liệu của trạm dự báo và phục vụ khí tượng thủy văn Thanh Hóa, Hậu Lộc nằm trong tiểu vùng khí hậu ven biển của Thanh Hóa Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, có mùa đông lạnh, ít mưa,kèm theo sương giá, sương muối Mùa hè nóng, mưa nhiều, có gió Tây khô nóng Song do nằm ở vùng tiểu ven biển, lại có cả vùng biển, vùng duyên hải, vùng đồng cao, vùng đồng bằng trũng và vùng đồi núi cho nên mùa đông ở đây đỡ lạnh và ít sương giá hơn các huyện nội địa, và mùa hè cũng đỡ nóng hơn, lại
có gió đất, gió biển, góp phần làm điều hòa khí hậu
- Nhiệt độ:
+ Tổng nhiệt độ trong năm là 86000C, biên độ dao động năm từ 12-130
C, biên độ ngày 5,5 – 60C
+ Nhiệt độ trung bình cả năm ở Hậu Lộc là 23,40C
+ Nhiệt độ tối cao tháng 7: 39,40C
+ Nhiệt độ trung bình của tháng 7, tháng nóng nhất khoảng 29-29,50C+ Có 4 tháng (từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau) nhiệ độ trung bình nhỏ hơn 200C
+ Có 5 tháng (tháng 5 đến tháng 9) nhiệt độ trung bình nhỏ hơn 250C+ Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối: 50C (tháng 3)
Mùa đông nhiêt độ thấp nhất trung bình 13,80C, thường giá lạnh, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, lạnh nhất là cuối tháng 12, nhiệt độ trung bình 150C
Trung bình hàng năm từ 17- 18 đợt gió mùa, có những đợt xuất hiện sương muối nhưng không nhiều, khi sương muối như vậy nhiệt độ xuống khá thấp: 50C, đã ảnh hưởng tới sinh hoạt và sản xuất
Trang 21- Mưa:
Theo tài liệu Niên giám thống kê,của cục Thống kê Thanh Hóa, lượng mưa trung bình cả năm của Hậu Lộc là 1879 mm Vụ mùa chiếm 87 - 90% lượng mưa cả năm Mùa mưa kéo dài từ đầu tháng 5 đến tháng 10, nhưng tập trung vào tháng 6, 7, 8, 9 Lượng mưa phân bố ở các tháng không đều, tháng
8 và tháng 9 có lượng mưa lớn nhất, mỗi tháng xấp xỉ 460mm, tháng 1 có lượng mưa ít nhất, khoảng 18 - 22mm
Riêng ở Hậu Lộc là một huyện thuộc tiểu vùng khí hậu ven biển, nhưng
ở phía Bắc nên mùa mưa đến sớm hơn và ngắn hơn Tĩnh Gia (huyện cực Nam Thanh Hóa) đôi chút: Hậu Lộc từ tháng 5 đến tháng 10, Tĩnh Gia tháng 6 đến thánh 11 Kèm theo với mưa vào tháng 5, 6 thường là bão nhỏ hay áp thấp nhiệt đới (còn gọi là bão nước), người ta thường gọi “mưa tháng 6 máu rồng” Vào tháng 10 thường có bão lớn Cơn bão số 6 năm 1980, cơn bão số 2 ngày 5/8/1981 và gần đây là cơn bão số 7 năm 2005 được coi là những cơn bão lớn
mà mức độ gây thiệt hại đã làm hàng nghìn nóc nhà bị sụp đổ, hàng trăm nóc nhà bị bão cuốn trôi, nghìn mét đồng muối, đê kè bị phá vỡ
Trang 22Nhìn chung các yếu tố khí hậu thời tiết phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng: lúa màu lương thực (ngô khoai) và cây công nghiệp (dầu,lạc) cây ăn quả (nhãn vải).Thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ nâng cao năng xuất cây trồng để tăng giá trị thu nhập trên một số diện tích canh tác Ngoài ra còn thuận lợi cho chăn nuôi, nuôi trồng thủy hải sản.
Tuy nhiên các yếu tố khí hậu cũng gây bất lợi, như ảnh hưởng trực tiếp của gió bão, triều dâng, mưa lớn gây úng lụt cục bộ hoặc những biến động bất thường khác của thời tiết như: hạn hán rét đậm kéo dài gây ảnh hưởng đến sản xuất và đơi sống nhân dân
Bảng 1: một số yếu tố về khí hậu của huyện Hậu Lộc
Tháng Nhiệt độ ( 0 C) Thời gian chiếu sáng Lượng mưa Độ ẩm %
Tối
cao
Tối thấp
Trung bình
Giờ nắng
Ngày
Cao nhất/ngày
Cao nhất
Thấp nhất
Trung bình
Trang 23Sông lớn nhất là sông Lèn, nó là một phân lưu của sông Mã, bắt nguồn
từ vùng núi cao Phouei (Lào) cao 2179 m Sông chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua các tỉnh Sơn La, Sầm Nưa, Hòa Bình và Thanh Hóa rồi đổ ra biển Đông, được chia làm 3 dòng chảy tương ứng với tên 3 con sông nối tiếp là: sông Lèn, sông Tào (Lạch Trường) và sông Lạch Trào
Sông Lèn là đoạn sông chảy trên đồng bằng huyện Hậu Lộc theo hướng Tây - Đông khoảng 36 km bắt đầu từ ngã ba Bông (nơi giáp ranh giữa 5 huyện) Khởi đầu là xã Châu Lộc và cuối cùng là đổ ra cửa Lạch Sung Lưu lượng dòng chảy giữa các mùa trong năm chênh lệch nhau quá lớn Cùng với các yếu tố lưu lương mùa lũ, mùa khô đã làm chế độ nước sông Lèn khá phức tạp qua các năm và ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của cư dân ở đôi bờ Tuy nhiên trong lịch sử đây là một trong những dòng sông lớn nhất châu thổ sông Mã đã đi vào lịch sử dân tộc in đậm những chiến công
Sông Lạch Trường là con sông lớn thứ 2 nằm ở phía nam huyện, còn gọi là sông Ngu, là một nhánh của sông Mã chảy ra biển qua cửa Lạch Trường, qua địa phận Hậu Lộc 14 km, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Mực nước lũ trung bình 2m Mực nước mùa kiệt trung bình 1,24m Về mùa
lũ mực nước sông cao hơn đồng 0,8- 1,1mm Nhưng do sông ở gần biển, lòng sông mở rộng, ít ngoằn ngèo, nước chảy hiền hòa và nhanh do đó hệ thống tiêu nước của Hậu Lộc chủ yếu chảy qua sông Lạch Trường Vùng nước sông Lạch Trường có giá trị rất lớn về mặt nuôi thuỷ hải sản Trong sử sách lưu vực sông Lạch Trường (hạ lưu) trong cuộc chiến chống quân
Trang 24Nguyên Mông xâm lược lần thứ 2 đã trở thành chiến trường chống giặc của quân dân Đại Việt.
Sông Trà Giang chảy theo hướng Bắc - Nam, nối sông Lèn ở Đồng Lộc với sông Ấu ở ngã ba Gềnh, (xã Mỹ Lộc), có chiều dài 19,5 km, là một trục tưới tiêu chủ yếu của Hậu Lộc
Sông kênh De chảy theo hướng Bắc - Nam, nhận lũ sông Lèn ở phía Bắc và chảy vào sông Lạch Trường ở phía Nam trên chiều dài 14 km là một trục giao thông thủy quan trọng Đây cũng là dòng sông làm ranh giới giữa các làng xã ở ven biển với vùng đất phía trong được hình thành sớm hơn
Nhìn chung sông ngòi chảy trong địa phận Hậu Lộc ngắn, bằng phẳng
và được nối với nhau thành một hệ thống tưới tiêu vô cùng quan trọng, đồng thời còn là hệ thống giao thông nối liền các vùng trong huyện, nối các huyện trong tỉnh và nối tỉnh Thanh Hóa với các tỉnh khác Giá trị khai thác các nguồn lợi thủy sản nước ngọt, nước lợ ở sông Trà Giang, sông Lạch Trường
là vô cùng to lớn Đặc biệt vùng cửa sông Lạch Sung, Lạch Trường đã tạo ra một ngư trường lớn cho các loài tôm cá, các loài nhuyễn thể, trai ngọc và điệp ngọc, hà, hầu, vang, vọp, sò huyết vô cùng phong phú và lớn nhất tỉnh Tuy nhiên khó khăn lớn nhất là sông ngòi ngoằn nghèo, rộng hẹp khác nhau tạo thành một hệ thống đê dài với nhiều mũi hàn hiểm trở, có nhiều cống thoát nước qua đê, bị mặn hà xâm thực, phải thường xuyên tu sửa đòi hỏi nguồn kinh phí lớn
1.1.5 Tài nguyên biển
Vùng biển Hậu Lộc rộng hơn 2000 km, trên đất liền bờ biển của Hậu Lộc được giới hạn từ cửa Lạch Sung (cửa sông Lèn) đến Lạch Trường (cửa sông Lạch Trường), dài 12,5 km, gần bằng 1/10 chiều dài bờ biển của tỉnh Thanh Hóa
Ranh giới 5 xã có đất mặt nước ven biển giao cho các xã như sau:
1 Xã Đa Lộc: tổng chiều dài bờ biển khoảng 6,1 km
Trang 25- Mốc giới phía Nam là cống Ba Gồ (ranh giới Đa - Hưng), kéo dài ra biển theo hướng vuông góc với bờ kè.
- Mốc giới phía Bắc giáp Lạch Sung
- Mốc giới phía Đông là giữa dòng chảy của Lạch Sung, phía Tây đảo Nẹ
2 Xã Hưng Lộc: tổng chiều dài 600m
- Mốc giới phía Bắc là cống Ba Gồ (ranh giới Đa - Hưng)
- Mốc phía Nam Hưng Lộc (là ranh giói Hưng - Ngư), có tọa độ N
19057’10,4’’, E 105057’25,2’’, kéo dài ra biển vuông góc bới bờ kè
3 Xã Ngư Lộc: tổng chiều dài bờ kè là 1200m
- Mốc phía Bắc: (ranh giới Ngư - Hưng) có tọa độ N 19057’10,4’’, E:
105057’25,2’’, kéo dài ra biển vuông góc với bờ kè
- Mốc phía Nam (ranh giới Ngư - Minh), có tọa độ N: 19056’10,4’’, E:
105058’11,2’’, kéo dài ra biển vuông góc với bờ kè
4 Xã Minh Lộc: có chiều dài bờ biển khoảng 1,9 km
- Mốc giới phía Bắc là ranh giới Minh - Ngư
- Mốc giới phía Nam Minh Lộc (tại đầu đường vào khu dân cư thôn Hưng Thái) có tọa độ: N 19057’10,4’’, E: 105057’25,2’’ kéo dài ra biển theo chiều lượn của khu cồn ốc Hải Lộc (lệch Bắc khoảng 150so với đường vuông góc bờ kè) Trong đó ranh giới phía Bắc Hải Lộc được cố định bằng 5 điểm
có tọa độ như sau:
Trang 26Do có đảo Nẹ chắn ở phía ngoài, nên bề mặt vùng biển Hậu Lộc khá yên tĩnh Phù sa của sông Đáy, sông Mã đổ ra cửa Bạh Câu tạo ra một bãi bồi ven biển thuộc xã Đa Lộc rộng Lớn với cây vẹt, cây tràm mọc thành rừng ngập mặn Đây cũng là vùng phù sa trẻ nhất trong toàn bộ đất phù sa của Hậu Lộc trên nền sinh cảnh tự nhiên mà các nhà vật lý học gọi là nằm trong “bóng sóng” Với sự bồi tụ, những bãi phù sa biển mới sẽ tiếp tục cho đến khi vùng này nối với đảo Nẹ ( hiện nằm cách bờ chỉ 4km) Địa hình đáy
bờ biển tương đối bằng phẳng, tỉ lệ cát ở đáy cao, nhất là tại bãi biển của các
xã Đa Lộc, Hải Lộc, Hưng Lộc, rất thuận lợi cho nuôi trồng hải sản Đặc biệt trong nhiều năm qua lượng phù sa bồi đắp tương đối lớn tạo thành những bãi bồi rộng hàng trăm ha Những bãi bồi này giàu thức ăn, thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản và cây chắn sóng Nguồn lợi biển Hậu Lộc chiếm tỉ lệ lớn trong nguồn lợi biển của tỉnh Thanh Hóa Đặc biệt có bãi tôm ngoài khơi của Hòn Nẹ là một trong hai bãi tôm lớn của tỉnh, hàng năm có thể khai thác được hàng nghìn tấn
Nồng độ muối trong nước khá cao, kết hợp với khí hậu nắng to, gió mạnh tạo điều kiện cho phát triển nghề muối Dọc theo bờ biển có khoảng
1000 ha có khả năng quai đê lấn biển để nuôi trồng thủy hải sản: ngao, sò, tôm, cua
Theo tài liệu của đài khí tượng thủy văn khu vực bắc miền trung, Hậu Lộc thuộc vùng thủy văn triều phía Bắc, có chế độ nhật triều không thuần nhất Hàng tháng vẫn có những ngày bán nhật triều, thời gian triều lên ngắn nhưng triều xuống kéo dài Triều cường khoảng 130 - 140m, chế độ triều cường này khá thuận lợi cho nuôi trồng thủy hải sản ven biển
Cửa Lạch Trường từng là thương cảng lớn thời cổ đại, tàu bè ra vào, buôn bán tấp nập Cửa Lạch Trường, đảo Nẹ, hòn Bò, hòn Sụp, núi Trường (Hoàng ngưu mẫu tử) tạo ra thắng cảnh đẹp, thu hút du khách Theo Lê Quý Đôn năm Hồng Đức thứ 7 vua Lê Thánh Tông đã ngự thuyền ra đây để ngắm cảnh núi
Trang 27non, trời mây sông nước Tức cảnh ông đã làm bài thơ “Linh Trường Hải Cẩu” Sách Lê Quý Đôn viết: Đây thực sự là nơi du ngoạn của những bậc danh trí.
Hiện nay cửa Lạch Sung đang được bồi lắng mạnh, cửa Lạch Trường đang mở ra một vùng biển sâu hơn
Vùng biển Hậu Lộc ngoài cửa Lạch Sung và cửa Lạch Trường còn có cửa Càn, cửa Đáy để nước sông vào đem theo phù du sinh vật và nhiều thức
ăn từ đất liền ra biển, tạo nên một ngư trường lớn hàng năm có thể khai thác hàng ngàn tấn hải sản Trước hết là cá, cá biển Hậu Lộc rất nhiều loại; cá thu,
cá nụ, cá chim, cá nhám, cá góc…Ngoài cá biển Hậu Lộc rất sẵn tôm Hậu Lộc là huyện đầu tiên chế biến tôm xuất khẩu bằng các loại; tôm he, tôm bột, tôm sắt và tôm hùm Moi là đặc sản của Ngư Lộc, thường dùng làm mắm Ngoài ra còn có các mực ván, mực ống, sứa, cua bể, ghẹ, còng còng, nha nha,
sò huyết, ngao, phi và hải sâm - những đặc sản có giá trị dinh dưỡng và xuất khẩu cao Biển Hậu Lộc thực sự tiềm tàng nhiều khả năng để phát triển một nền kinh tế phồn thịnh
Vùng ven biển Hậu Lộc chịu ảnh hưởng của hai lượng phù sa của sông
Mã và sông Đáy (của hệ thống sông Hồng) đã hình thành một bãi triều lớn, đất đai có chất lượng tốt, nguồn thủy hải sản dồi dào về sản lượng và về chủng loại, hàng năm hàng trăm tấn hải sản được ngư dân nuôi trồng và đánh bắt góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế của huyện nhà
Trong những năm gần đây nhờ có sự đầu tư của nhà nước, vùng bãi triều huyện ta đã được đầu tư xây dựng kề bê tông và đê bao kết hợp trồng rừng chắn sóng làm cho môi trường sinh thái ven biển thay đổi theo hướng tốt lên, hải sản sinh sản và phát triển tốt, tốc độ lắng đọng phù sa hình thành bãi bồi ven biển nhanh
Như vậy Hậu Lộc là huyện có tài nguyên biển rất phong phú, việc khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên này sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế
- xã hội các xã ven biển nói riêng và kinh tế của huyện nói chung
Trang 281.1.6 Cảnh quan môi trường
Là huyện có biển, có đồi núi, sông bao bọc đã tạo nên cảnh quan tương đối hấp dẫn, nên thơ Phía tây với những ngọn đồi thoai thoải, bên dưới những trái cây ăn quả (vãi thiều,nhãn) là những đền thờ miếu mạo, tạo nên cảnh quan hài hòa huyền bí của sông, của rừng, của biển Cảnh quan thiên nhiên ở đây gắn liền con người Môi trường sinh thái chưa bị ô nhiễm, chưa có tác động của chất thải công nghiệp, đất, nước sạch, không khí trong lành
Tuy nhiên môi trường trong các khu dân cư và ven bờ biển hiện đang là vấn đề cần được quan tâm, đặc biệt những xã đông dân (Ngư Lộc) Một số địa phương thôn xóm đã thường xuyên tổ chức cho nhân dân làm vệ sinh, trồng cây xanh, nhiều hộ gia đình đã xây dựng các công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn
Hậu Lộc là một vùng đất có nhiều di tích lịch sử, văn hóa lâu đời, có nhiều cảnh quan đẹp độc đáo Cũng là nơi có nhiều danh nhân gắn liền với lịch sử văn hóa, nhiều nhà các mạng đóng góp nhiều cho các cuộc khởi nghĩa,
để lại dấu ấn cho muôn đời sau: Cao Đáp, Phạm Thạnh, Đinh Chương Dương,
Lê Hữu Lập…
1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
1.2.1 Đặc điểm dân cư và lao động
a Dân số - lao động
Theo số liệu thống kê, toàn huyện hiện nay có 187412 nhân khẩu, mật
độ dân số cao: 1305 người/km2 Mật độ dân số của huyện phân bố không đều,
xã có số dân đông nhất là Ngư Lộc (16710 người)
Dân số đô thị là 3880 người, chiếm 2,07% dân số toàn huyện Dân số nông thôn là 183532 người, chiếm 97,93% Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,95%, giảm so với năm 2000 là 2% Điều này chứng tỏ công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được làm tốt và có hiệu quả
Trang 29b Việc làm và thu nhập
Toàn huyện có 82860 người trong độ tuổi lao động, chiếm 44,21 % dân
số Trong đó số lao động có việc làm ổn định là 70.550 người Lao động nông nghiệp có 50375 người, chiếm 60,79 % tổng số lao động toàn huyện Lao động phi nông nghiệp có 19975 lao động, chiếm 39,21% tổng số lao động Tuy nhiên số la động qua đào tạo còn thấp, chiếm 24,6 % lao động được đào tạo chủ yếu ở các cơ quan nhà nước, lao động ngành nghề chưa được quan tâm đào tạo Có thể nói lực lượng lao động trong huyện khá dồi dào, tỉ lệ lao động có việc làm tương đối cao, song trình độ còn hạn chế
Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, tỉ lệ hộ nghèo đói giảm xuống còn 18,6%, giáo dục ngày càng được quan tâm phát triển, các thuần phong mỹ tục văn hóa truyền thống tốt đẹp đang được giữ gìn
+ Đường sắt dài 6,5km, diện tích chiếm đất 7,25 ha
+ Quốc lộ 1A dài 6.6 km, đi qua các xã Đồng Lộc, Đại Lộc, Triệu Lộc
đã được nhà nước và các tổ chức đầu tư mở rộng, rải nhựa nâng cấp theo tiêu chuẩn quốc gia
+ Quốc lộ 10 dài 13,3 km Diện tích chiếm đất 17,96 ha đi qua các xã Liên Lộc, Hoa Lộc, Thịnh Lộc, Thị Trấn, Mỹ Lộc, Văn Lộc, Thuần Lộc đã đươc rải nhựa nhưng chưa đạt tiêu chuẩn quốc gia
+ Đường tỉnh huyện lộ dài 57,7 km, một số tuyến đã được rải nhựa thuận lợi cho đi lại
Trang 30+ Đường xã, thôn, xóm có tổng chiều dài là 653 km, diện tích chiếm đất là 764,38 ha được bố trí hợp lý trên địa bàn 27 xã, thị trấn trong huyện.
Trong những năm gần đây được sự đầu tư của trung ương và tỉnh, cùng với sự phát huy nội lực của huyện và nhân dân Hậu Lộc đã làm mới và nâng cấp nhiều con đường như: đường thị trấn, quán dốc, đường ngã tư nghè, Đại Lộc Nhiều trục đường liên thôn, liên xã đã sửa chữa nâng cấp bằng vốn của nhân dân đóng góp Phần lớn đường ngõ xóm đã đổ bê tông, và lát gạch, 100
% số xã đã có đường ô tô đến được khu trung tâm và các khu dân cư
Ngoài hệ thống giao thông đường bộ, Hậu Lộc còn có hệ thống giao thông đường thủy, đường biển có ý nghĩa quan trọng trong vận chuyển hàng hóa, giao thương buôn bán hỗ trợ đắc lực cho giao thông đường bộ Các tuyến giao thông đó đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh
tế - xã hội của huyện, đăc biệt là trong giai đoạn hiện nay để phát triển kinh tế hàng hóa
b Thủy lợi
- Công trình thủy lợi:
Trên địa bàn huyện có 64,8 km kênh tưới cấp 1 (gồm các kênh B3, B4 kênh Bắc và kênh dẫn của 44 trạm bơm tưới) đã được kiên cố hóa 5,5 km, còn lại chưa được kiên cố hóa
- Kênh tưới nội đồng:
Huyện có 357 km mương nội đồng nằm trên địa bàn 26 xã và thị trấn
có đất sản xuất nông nghiệp Có 44 trạm bơm tưới với tổng công suất 95000 m3/h thường xuyên hoạt động
- Công trình tiêu:
Ngoài các hệ thống như sông Trà Giang, kênh nước xanh, kênh 10 xã kênh 5 xã còn có 310 km kênh tiêu cấp 1, cấp 2 và nội đồng, chủ yếu được đắp bằng đất Ngoài ra còn có 3 hệ thống bơm tiêu với tổng công suất là 9500 mét khối/h
Trang 31- Hệ thống đê:
+ Hệ thống đê biển dài 10 km, đi qua các xã Đa Lộc, Ngư Lôc Hưng Lộc, MinhLộc, Hải Lộc mặt đê phía biển đã được lát bê tông 6km, còn 4km chưa được đăp bê tông và tôn cao
- Hệ thống đê hữu sông Lèn: dài 32km, trong đó có 20km đã được đắp tôn cao đúng tiêu chuẩn thiết kế
+ Hệ thống đê tả sông Lạch Trường dài 10km trong đó có 5km đã được tôn cao đúng tiêu chuẩn thiết kế
+ Hệ thống đê tả sông Cầu Sài dài 3,5km trên địa bàn xã Thuần Lộc+ Hệ thống đê tả, hữu kênh De dài 12,5km đã được đắp tôn cao, đảm bảo đúng yêu cầu kĩ thuật
c Cơ sở y tế.
- Mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng đầu tư
phát triển Hiện có một bệnh viện trung tâm (trên địa bàn thị trấn), 27 trạm y
tế xã, thị trấn Số giường bệnh bình quân là 8,8 giường/1 vạn dân, tỉ lệ bình quân 2,5 bác sỹ/vạn dân, tỉ lệ xã có bác sỹ là 74% Các chương trình y tế quốc gia, y tế cộng đồng và các chương trình bảo vệ sức khỏe ban đầu được nhân dân Ngành y tế Hậu Lộc đang từng bước nâng cao nghiệp vụ, chất lượng với phương châm “vững tuyến xã, mạnh tuyến huyện” Tuy nhiên mạng lưới y tế thôn xóm vẫn gặp khó khăn, cơ sở vật chất một số trạm y tế xuống cấp
d Cơ sở hạ tầng phục vụ giáo dục đào tạo
Sự nghiệp giáo dục đang phát triển nhanh thể hiện tính vững chắc về
chất lượng dạy và học, tính xã hội hóa giáo dục Hàng loạt trường học cao tầng được xây mới và nâng cấp như: trường THPT Hậu Lộc 2, THPT Hậu Lộc 3, THPT Hậu Lộc 1, Lê Hữu Lập, trung tâm chính trị huyện Hệ thống giáo dục gồm 5 trường THPT, một trường bổ túc văn hóa, 28 trường THCS,
34 trường tiểu học và hệ thống trường mầm non ở các thôn Cơ sở vật chất giáo dục được tăng cường đáng kể
Trang 32Hiện nay số học sinh bỏ học giảm hẳn, tổng số học sinh đến trường (cả mẫu giáo) 45150 học sinh, số giáo viên giỏi, học sinh giỏi không ngừng tăng
Số người có trình độ từ cao đẳng trở lên là1808 người
Tỉ lệ học sinh lên lớp và tốt nghiệp các cấp hàng năm đạt từ 98 % trở lên Số học sinh đậu đại học, cao đẳng hàng năm là 400 - 500 học sinh Toàn huyện đã hoàn thành phổ cập tiểu học và trung học cơ sở, có 27 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia
e Cơ sở hạ tầng phục vụ văn hóa thể dục thể thao
Đến nay toàn huyện có 187 nhà văn hóa, 105 thư viện và phòng đọc sách báo làng Tỉ lệ hộ có ti vi chiếm 97,2 % Phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa phát triển cả chiều rộng và chiều sâu
Các hoạt động văn hóa thể thao có bước phát triển mới, ngày càng thu hút nhiều tầng lớp nhân dân tham gia Việc thực hiện nếp sống văn minh được thực hiện khá tốt ở nhiều cơ sở Phong trào xây dựng gia đình, làng xã văn hóa, cơ quan trường học có nếp sống văn hóa được đẩy mạnh Toàn huyện đã khai trương xây dựng được 1 xã văn hóa, 153 làng và cơ quan trường học có nếp người cao tuổi Các môn bóng chuyền, bóng đá, bóng bàn, cầu lông phát triển rộng khắp Trên địa bàn toàn huyện đã thành lập được 42 câu lạc bộ thể dục thể thao, với 31468 người tham gia, chiếm 21,6% dân số, có 6227 gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình thể thao Toàn huyện có 20 sân bóng đá 185 sân cầu lông, 154 sân bóng chuyền
e Bưu chính viễn thông
Mạng lưới bưu điện đã được hình thành trong toàn huyện Số máy điện thoại trong toàn huyện là 4850 máy, bình quân 15,8 máy/ 1000 dân Bưu điện trung tâm nằm ở thị trấn Hậu Lộc Thông tin liên lạc đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và văn hóa của huyện
Trang 33f Quốc phòng an ninh
Quốc phòng an ninh được tăng cường, kết hợp giữa xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, gắn kinh tế với quốc phòng Xây dựng khu vực phòng thủ chiến đấu được tăng cường, và từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng, căn cứ hậu phương Chế độ thường trực sẵn sàng chiến đấu được thực hiện nghiêm túc Phối hợp giải quyết tốt các vụ việc ngay tại cơ sở, không xảy ra các vụ việc phức tạp, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
1.2.3 Đặc điểm kinh tế
1.2.3.1 Tăng trưởng kinh tế
Kinh tế Hậu Lộc trong những năm vừa qua tiếp tục có bước tăng trưởng khá, cơ cấu chuyển dịch đúng hướng, một số lĩnh vực đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra Năm 2010 GDP tăng trưởng 11,4%
Hậu Lộc đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2015 có nền kinh tế phát triển vững mạnh Phấn đấu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt trên 14% vào năm 2015, đạt 16% vào năm 2020 Tốc độ tăng trưởng (2015) công nghiệp - xây dựng 36,1%, dịch vụ 34,2%, nông nghiệp 29,7%
1.2.3.2 Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế huyện Hậu Lộc đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỉ trọng ngành dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp Song ngành nông
- lâm - ngư vẫn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế Cơ cấu kinh tế của huyện năm 2010 như sau:
+ Nông lâm ngư thủy sản : 42,6%
+ Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp : 24,9%
Trang 341.2.1.2 Kết quả đạt được của các ngành kinh tế
a Trong nông nghiệp
- Trồng trọt:
Kết quả nổi bật trong thời gian qua là việc sản xuất lương thực, sản lượng lương thực và bình quân lương thực quy thóc/người/năm không ngừng tăng lên qua các thời kỳ Diện tích gieo trồng hàng năm ổn định ở mức
17300 ha, hệ số sử dụng đất đạt 2,5 lần Năm 2010 tổng sản lượng lương thực đạt 67238 tấn
Trong sản xuất nông nghiệp đã hình thành nhiều trang trại sản xuất có hiệu quả với các loại hình khác nhau như: trồng trọt kết hợp với chăn nuôi
+ Trồng trọt chủ yếu trồng các loại cây lâu năm, cây hàng năm, trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản Một số địa phương đã chú trọng chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, tăng nhanh diện tích cây trồng hàng hóa cho giá trị kinh tế cao như: lúa chất lượng cao, ngô bao tử, ngô ngọt, dưa hấu giá trị thu nhập
từ 80 triệu đồng /ha/năm trở lên Thu nhập bình quân đầu người là 6,2 triệu đồng, tăng 13,8% so với cùng kì
+ Chăn nuôi:
Tổng đàn trâu bò đạt 14.441 con, trong đó có 2470 bò Braxin, đàn lợn
45420 con, trong đó có 4500 lơn hướng nạc Đàn gia cầm đạt 738000 con tăng 10% so với cùng kỳ
UBND huyện đã ban hành cơ chế hỗ trợ nông dân nhập lợn nái để bổ sung đàn sau dịch “tai xanh”, đến nay đã có 13 xã nhập thêm 227 con, trong
đó 200 lợn nái và 27 lợn đực giống Phát triển thêm 16 trang trại (13 trang trại chăn nuôi lợn và 3 trang trại gà), nâng tổng số lên 390 trang trại, trong đó có
79 trang trại đạt tiêu chí qui định Có 121 trang trại chăn nuôi, 182 trang trại thủy sản và 80 trang trại tổng hợp Ngoài ra huyện cũng chú trọng chăn nuôi mùa vụ các loại gia súc gia cầm tận dụng khi thu hoạch sản phẩm mùa vụ, nhưng không làm ảnh hưởng tới môi trường
Trang 35- Lâm nghiệp:
Có bước phát triển tốt, trong 5 năm từ 2006 - 2010 đã trồng thêm được
200 ha rừng tập trung, hàng triệu cây phân tán Tổng giá trị gia tăng từ rừng bình quân đạt trên 2 tỉ đồng/năm
- Ngành thủy sản: Phát triển mạnh cả lĩnh vực nuôi trồng và khai thác Vùng biển Hậu Lộc từ trước tới nay là nguồn lợi vô cùng to lớn, cung cấp cho Hậu lộc hàng nghìn tấn thủy sản, hải sản các loại mỗi năm, trong đó nhiều loại quý hiếm như: cá thu, cá nhụ, cá chim, tôm, moi, sò, hến, hải sâm, tôm hùm, tôm he…Người dân Hậu Lộc có truyền thống khai thác, đánh bắt thủy hải sàn lâu đời, thế nên mới có câu: “nhất biển, nhất nghề” Sản lượng khai thác hải sản của huyện luôn chiếm vị trí cao trong tổng sản lượng của tỉnh và năm sau tăng so với năm trước Năm 2005 sản lượng 11500 tấn, năm 2009: 16202 tấn, năm 2010: 21500 tấn [9]
Đến nay toàn huyện có khoảng trên 700 phương tiện đánh bắt hải sản Tổng công suất lên tới 50000 CV, trong đó có 224 phương tiện chuyên khai thác tuyến bờ, 116 phương tiện khai thác vùng lộng, 377 phương tiện đánh bắt ngoài khơi, có 175 phương tiện được phép tham gia vùng đánh bắt cá chung Việt Nam - Trung Quốc (bằng 12% tổng số tàu thuyền tham gia vùng đánh cá chung của cả nước) Cơ cấu nghề cũng chuyển dịch theo hướng giảm nghề tiêu hao nhiều nhiên liệu, khai thác thủy sản không có tính chọn lọc sang các nghề phù hợp và hiệu quả Phương thức khai thác truyền thống của ngư dân trước kia chủ yếu là nghề giã kéo (giã cá, tôm, moi) nay giảm còn 33%, nghề câu chụp mực 41%, nghề dịch vụ 26% [9]
Nghề nuôi trồng thủy sản ở Hậu Lộc đang phát triển mạnh, năm 2009 tổng diện tích nuôi trồng của toàn huyện là 1335 ha, trong đó có 460 ha nuôi thủy sản nước lợ, 525 ha nuôi thủy sản nước ngọt, và 350 ha nuôi các loại nhuyễn thể khác Tổng sản lượng trong nuôi trồng đạt 5198 tấn Chỉ tính riêng nghề nuôi trồng đã giả quyết cho hơn 4000 lao động có việc làm Số trang trại
Trang 36nuôi trồng thủy sản kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm đã thực hiện ở 206 hộ, với tổng diện tích là 178 ha Trong đó hình thành một số vùng nuôi trồng tập trung, như vùng cá lúa Xuân Tiến - Hòa Lộc 29 ha, vùng cá lúa Thịnh Lộc 21
ha, vùng cá lúa Xuân Lộc 35 ha Hầu hết các trang trại sản xuất tổng hợp đều
có thu nhập cao hơn so với cây lúa, nuôi trồng, chăn nuôi riêng lẻ
Công tác thủy lợi đê điều được quan tâm, năm 2008 đã đầu tư 14,87 tỉ đồng tu bổ, nâng cấp, cứng hóa các tuyến đê xung yếu Ra quân nạo vét
15259 m kênh cấp 1, cấp 2, và 64662m kênh nội đồng Một số đơn vị làm tốt
là Hoa Lộc, Tuy Lộc, Cầu Lộc, Phú Lộc và Hải Lộc
b Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Tốc độ phát triển hàng năm bình quân đạt 18,8% Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng có những chuyển biến mới và đang chuển hướng quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp, làng nghề Ngoài việc khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống đã du nhập thêm các nghề mới: thêu ren, may giang xiên
Thực hiện chương trình trọng tâm về phát triển tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ, phát triển doanh nghiệp và đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa đã thực hiện tốt việc lập và triển khai thực hiện các quy hoạch, dự án, nhất là các ngành, lĩnh vực quan trọng như: cụm công nghiệp làng nghề, các trung tâm kinh tế và nhiều dự án, nổi bật là nhà máy giấy Châu Lộc, nhà máy lắp ráp ô tô VINAXUKI Nâng cấp chất lượng thương hiệu một số sản phẩm được thị trường chấp nhận như: rượu Chi nê, mắm tôm, nước mắm…Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 240 tỉ đồng năm 2010, đạt 128,6% kế hoạch Đầu tư cơ bản được đẩy mạnh, tổng giá trị đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện năm 2010 là 270,122 tỉ đồng
c Dịch vụ, thương mại
Trong cơ chế hiện nay hoạt động dịch vụ thương mại ngày càng phát triển có hiệu quả, phục vụ đắc lực cho sản xuất và đời sống nhân dân Trung
Trang 37tâm huyện lỵ (thị trấn Hậu Lộc), các trung tâm huyện xã, các công ty thương mại, các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, đã cung cấp vật tư, hóa, sản phẩm, góp phần tạo ra thị trường trên địa bàn huyện ngày càng phong phú, đa dạng.
Hệ thống dịch vụ thương mại phát triển nhanh, cung ứng đủ nhu cầu phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân Tuy giá cả hàng hóa tăng cao nhưng nhìn chung thị trường trên địa bàn ổn định Hàng kém chất lượng giảm Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ đạt 435 tỉ đồng, tăng 10,1 % so với cùng kì năm ngoái, giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu đạt 8,5 triệu USD, tăng 111,8
% kế hoạch, tăng 20,9 % so với cùng kì [8]
1.2.1.3 Hiện trạng phát triển nghề nuôi ngao thương phẩm ở huyện Hậu Lộc
a Lịch sử phát triển nghề nuôi Ngao thương phẩm ở Hậu Lộc
Hậu Lộc có vùng biển khá thuận lợi cho nuôi trồng hải sản nhưng nghề nuôi ngao mới chỉ phát triển trong những năm gần đây Hải Lộc là xã tiến hành nuôi ngao sớm nhất
Tại Hải Lộc nhiều người dân chuyển đổi từ nghề làm muối sang nuôi ngao, đã và đang mang lại hiệu quả kinh tế cao Tiêu biểu là gia đình anh Nguyễn Văn An, thôn Lộc Tiên, được nhiều người nhắc đến bởi gia đình anh giàu lên từ nghề nuôi ngao Anh cũng là người mở đầu cho phong trào nuôi ngao của huyện
Nhận thấy nghề làm muối bấp bênh, thua lỗ, điều kiện kinh tế gia đình ngày một khó khăn nên năm 1990 anh An đã bỏ nghề làm muối chuyển sang
đi buôn ngao Trong những chuyến buôn bán ngược xuôi anh đã tìm được mối ngao sang Trung Quốc và làm quen với nhiều người ở Thái Bình, Nam Định
có kinh nghiệm trong nghề nuôi ngao, nhận thấy hiệu quả kinh tế cao anh đã học hỏi kinh nghiệm và làm thử Mới đầu anh làm ở quy mô nhỏ, đến năm
1993 - 1994 diện tích nuôi ngao ở gia đình anh được mở rộng lên tới gần 10
ha, đến năm 2002 mở rộng lên tới 30 ha Với kinh nghiệm và tinh thần ham
Trang 38học hỏi anh đã từng bước nâng cao kỹ thuật nuôi cũng như phương thức quy hoạch Nhận thấy nghề nuôi ngao mang lại hiệu quả kinh tế cao cư dân Hải Lộc và các xã ven biển Hậu Lộc bắt đầu chuyển đổi từ nghề làm muối bấp bênh sang nuôi ngao Trong những năm gần đây nghề nuôi ngao ở các xã ven biển Hậu Lộc rất phát triển, nhiều hộ gia đình trở thành tỉ phú nhờ nuôi ngao.
b Những thành tựu đạt được
Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, có thị trường tiêu thụ nên nghề nuôi ngao trong những năm gần đây đạt kết quả cao, mang lại nguồn thu nhập lớn cho các hộ nuôi Theo tính toán của các hộ nuôi ngao, mỗi ha ngao từ lúc nuôi tới lúc thu hoạch chi phí hết khoảng 250 triệu đồng, trong đó 150 triệu đồng
là mua ngao giống, còn lại là thuê lao động chăn nuôi, trang thiết bị phục vụ đồng ngao Nếu thời tiết ổn định thì thu hoạch được 30 tấn ngao thịt, bán với giá thị trường hiện nay gần 600 triệu đồng, như vậy là có lãi cao Hiện nay ngao được bán không chỉ trong huyện mà còn được đưa lên thành phố và các tỉnh khác, phần lớn ngao được thu mua xuất khẩu Tại Hải Lộc có công ty cổ phần An Thái đã được thành lập nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và tìm hướng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài
Hiện nay, ngao được nuôi chủ yếu ở 3/5 xã ven biển của huyện: Hải Lộc, Đa Lộc và Minh Lộc Diện tích, năng suất, sản lượng ngao tại các xã đều tăng, kỹ thuật chăm sóc quản lý ngày càng cao, số hộ nuôi ngày càng đông
- Diện tích:
Diện tích đất mặt nước biển nuôi ngao tăng lên liên tục từ những năm
1990 đến nay
Trang 39Bảng 2: Diện tích đất mặt nước biển nuôi ngao thương phẩm ở Hậu Lộc
Nguồn: Phòng nông nghiệp huyện Hậu Lộc
Như vậy từ năm 2005 diện tích được mở rộng đáng kể, các hộ dân cư tại Hải Lộc, Minh Lộc, Đa Lộc nhận thấy hiệu quả kinh tế từ nuôi ngao rất cao nên nhiều hộ vay vốn, góp vốn thuê bãi triều ven biển để nuôi ngao Đến năm 2010 tổng diện tích nuôi ngao toàn huyện lên tới hơn 400 ha
- Hải Lộc: tổng diện tích nuôi ngao lớn nhất trong 3 xã, năm 2010 có
202 ha, phần lớn các đồng nuôi đều được cải tạo và nuôi thả trên 5 năm trở lại đây Đến nay vùng ven triều sử dụng nuôi ngao gần như được khai thác hết vì đây là xã nuôi ngao sớm nhất trong huyện và phát triển mạnh nhất Anh An, anh Tập, anh Tính có lãi tới 1tỉ/năm Ngoài ra hiện nay trong xã còn có nhiều hộ ương ngao giống nên lợi nhuận cao hơn nhiều
Trang 40Lược đồ hiện trạng vùng nuôi ngao của Hải Lộc [9]