- Đề xuất phương án sử dụng các thí nghiệm đã thiết kế trong việc xây dựng tiến trình dạy học một số bài cụ thể trong phần “Quang hình học” ở lớp 11THPT.. Những phương pháp dạy học truyề
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học PGS TS MAI VĂN TRINH
NGHỆ AN, 2012
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các thầy giáo, cô giáo, các đồng nghiệp, bạn bè, người thân Với những tìnhcảm chân thành và trân trọng nhất, tôi xin cảm ơn PGS.TS Mai Văn Trinh,người trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, các thầy
cô giáo khoa Vật lý, khoa Đào tạo Sau đại học trường Đại học Vinh, lãnh đạotrường THPT Nông Cống 1 tỉnh Thanh Hóa đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôitrong quá trình làm luận văn
Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, bạn bè, đồngnghiệp đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi an tâm học tập và hoàn thành luậnvăn này
Vinh, tháng 10 năm 2012
Trần Thái Bình
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp của luận văn 4
8 Cấu trúc luận văn ……… 4
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc sử dụng phần mềm Physics 2.1 (Par II) vào dạy học vật lý ở THPT 5
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học Vật lý ở trường Trung học phổ thông 5
1.1.1 Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở trường THPT …….5
1.1.2 Yêu cầu của việc đổi mới PPDH 8
1.1.3 Định hướng đổi mới PPDH Vật lí THPT……… 10
1.2 Khả năng hỗ trợ của phần mềm dạy học vật lý đối với vấn đề đổi mới phương pháp dạy học……….16
1.2.1 Phương pháp dạy học vật lý theo định hướng đổi mới ……… 16
1.2.2 Vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh 18
1.2.3 Khái niệm phần mềm dạy học vật lý …22
1.2.4 Khả năng hỗ trợ của PMDH đối với vấn đề tích cực hóa HĐNT cho HS 25
1.3 Tổng quan về Physics 2.1 (Part II)……… 26
1.3.1 Download và cài đặt ….26
1.3.2 Giao diện của Physics 2.1 (Part II)……….26
1.3.3 Chức năng, nội dung………27
1.3.4 Ưu điểm của phần mềm Physics 2.1 (Part II)……… 27
Kết luận chương 1 28
Trang 5Chương 2: Thiết kế bài học với sự hỗ trợ của phần mềm Physics 2.1
(Part II)……….30
2.1 Phân tích nội dung chương trình phần Quang hình học……… 30
2.1.1 Đặc điểm 30
2.1.2 Chuẩn kiến thức, kỹ năng 30
2.2 Quy trình thiết kế bài dạy học với sự hỗ trợ của phần mềm Physics 2.1 33
2.2.1 Xác định mục tiêu của bài học 33
2.2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản, trọng tâm và sắp xếp theo một cấu trúc thích hợp 33
2.2.3 Xác định các phương pháp dạy học 34
2.2.4 Chuẩn bị các thí nghiệm mô phỏng trên phần mềm Physics 2.1 34
2.2.5 Xác định hình thức tổ chức các hoạt động học tập cho HS 35
2.2.6 Xác định hình thức và nội dung củng cố, vận dụng 35
2.2.7 Xác định nội dung và phương pháp hướng dẫn về nhà cho HS 35
2.3 Thực trạng dạy học phần Quanh hình học ở trường phổ thông 36
2.4 Khai thác thí nghiệm phần Quanh hình học………37
2.5 Thiết kế bài học với sự hỗ trợ của phần mềm Physics 2.1 (Part II) 43
Kết luận chương 2 61
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm sư phạm 63
3.1 Mục đích, nhiệm vụ TNSP 63
3.2 Đối tượng và phương pháp TNSP 64
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm 66
Kết luận chương 3 71
Kết luận 73
Tài liệu tham khảo 75
Trang 6THPT : Trung học phổ thôngTNMP : Thí nghiệm mô phỏng TNSP
TBDH
:
:
Thực nghiệm sư phạmThiết bị dạy học
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nhằm đáp ứng những yêu cầu của xã hội về con người trong thời kỳcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi nhà trường phải đổi mới giáodục toàn diện để đào tạo những học sinh, sinh viên, những công dân của đấtnước sau khi rời ghế nhà trường phải có năng lực về chuyên môn, có phẩmchất đạo đức tốt, có khả năng tự học, tự sáng tạo
Đổi mới giáo dục là đổi mới về chương trình, nội dung và cả phươngpháp giảng dạy Với tư tưởng phát huy tính tự lực, chủ động trong nhận thứccủa học sinh, lấy học sinh làm trung tâm của hoạt động dạy học Do đó đòihỏi người giáo viên không những biết khai thác những mặt mạnh của phươngpháp dạy học truyền thống, vận dụng tốt những phương pháp dạy học hiện đại
mà còn phải ứng dụng được CNTT vào đổi mới PPDH trong đó có các phầnmềm dạy học
Theo tinh thần công văn số: 9584/BGDĐT-CNTT, V/v Hướng dẫn thựchiện nhiệm vụ năm học 2007 – 2008 về CNTT của Bộ GD&ĐT, năm học
2008-2009 là “Năm học Công nghệ thông tin” Công văn số
9772/BGDĐT-CNTT ngày 20 tháng 10 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việcHướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2008-2009 Do vậy, việc ứngdụng CNTT trong dạy học là một điều hết sức cần thiết và là một xu hướngkhông thể cưỡng lại khi muốn đổi mới phương pháp dạy học “quan niệm lấyngười học làm trung tâm”
Xuất phát từ đặc trưng riêng của Bộ môn Vật Lý, ở các trường THPTphòng bộ môn chưa có hoặc đã có thì việc sắp xếp, quản lí và bảo quản cáctrang thiết bị - đồ đùng dạy học chưa hợp lí và khoa học Có những thínghiệm biểu diễn, chứng minh về chất lượng và số lượng chưa đủ để đảm bảotốt (thời lượng, hiệu quả…) trong quá trình dạy học Có những thí nghiệm
Trang 8khó thực hiện thành công vì nhiều điều kiện như do thời tiết quá nóng, quálạnh, ẩm, thiết kế dụng cụ khá phức tạp, nặng, cồng kềnh, hoặc quá nhỏ khóquan sát, nguồn điện không ổn định, hiện tượng không rõ rệt, độ chính xácchưa cao hoặc có những thí nghiệm không thực hiện được ở điều kiệnthường
Từ cơ sở lý luận và thực tiễn nói trên, với chiếc laptop và máy chiếuProjector Việc thiết kế, sử dụng các thí nghiệm ảo, chứng minh, mô phỏngcác hiện tượng Vật Lí đã và đang đem lại hiệu quả cao trong dạy học Vật Lí
Vì vậy, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nâng cao chất lượng dạy học phần
“Quang hình học” Vật Lí 11 THPT với sự hổ trợ của phần mềm Physics 2.1”
2 Mục đích nghiên cứu
Khai thác và sử dụng phần mềm Physics 2.1 (Part II) để thiết kế các thínghiệm mô phỏng các hiện tượng phần “Quang hình học” Vật Lí 11 nhằmgóp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Vật Lí
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung khai thác và sử dụng phần mềm Physics 2.1 Part II
để thiết kế một số thí nghiệm mô phỏng thuộc phần “Quang hình học”chương trình vật lý 11 THPT
Phần thực nghiệm sư phạm sẽ được tiến hành ở trường THPT NôngCống 1 – Thanh Hoá
4 Giả thuyết khoa học
Nếu thiết kế các thí nghiệm mô phỏng bằng phần mềm Physics 2.1 Part
II và sử dụng chúng một cách hợp lí vào dạy học phần “Quang hình học” Vật
Trang 9Lí 11 thì sẽ góp phần làm đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cựchóa hoạt động nhận thức của học sinh, từ đó nâng cao chất lượng dạy - họcvật lý ở trường trung học phổ thông.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc sử dụng phần mềm trong dạy học
vật lý THPT
- Tìm hiểu thực trạng của việc sử dụng MVT và ứng dụng CNTT làm
phương tiện dạy học ở trường phổ thông
- Nghiên cứu sử dụng phần mềm Physics 2.1(Part II) để thiết kế một số
thí nghiệm hỗ trợ dạy học phần “Quang hình học” Vật lý 11 THPT
- Đề xuất phương án sử dụng các thí nghiệm đã thiết kế trong việc xây
dựng tiến trình dạy học một số bài cụ thể trong phần “Quang hình học” ở lớp 11THPT
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của việc ứng
dụng phần mềm Physics 2.1 (Part II) trong dạy học vật lý, rút ra các kết luậncần thiết
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học để làm sáng tỏ về mặt lý
luận và các vấn đề có liên quan đến đề tài
- Thu thập những thông tin lý luận ứng dụng công nghệ thông tin trong
dạy học Vật Lí trên các tập san giáo dục, các bài tham luận ở các diễn đàn Vật
Lí trên các Website (Internet)
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chương trình sách giáo khoa, sách bài
tập vật lý trung học phổ thông để thiết kế các thí nghiệm ảo phù hợp với nộidung kiến thức ở chương này
6.2 Thực nghiệm sư phạm
- Xây dựng và phân tích thí nghiệm ảo ứng dụng vào một số bài học ở
Chương trình Vật Lí 11
Trang 10- Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Nông Cống 1
- Điều tra, thu nhập thông tin tìm hiểu hứng thú của học sinh đối với việc
sử dụng MVT nói chung, phần mềm Physics 2.1 nói riêng trong dạy học Vật lí
6.3 Phương pháp thống kê
Xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm bằng thống kê toán học.
7 Đóng góp của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ những cơ sở lý luận của đổi mới phương pháp
dạy học và vấn đề đổi mới phương pháp dạy học với sự hỗ trợ của phần mềmdạy học vật lý
- Hướng dẫn cách khai thác và sử dụng phần mềm Physics 2.1(Part II)
để thiết kế các thí nghiệm mô phỏng thuộc chương Vật Lý 11
- Xây dựng các thí nghiệm có sử dụng phần mềm Physics 2.1(Part II)
vào dạy một số bài cụ thể
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của của việc sử dụng phần mềm Physics 2.1
(Part II) vào dạy học ở THPT.
Chương 2: Thiết kế bài học với sự hỗ trợ của phần mềm Physics 2.1
(PartII) Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHẦN MỀM
PHYSICS 2.1 (PAR II) VÀO DẠY HỌC VẬT LÍ Ở THPT
1.1 Đổi mới phương pháp dạy học Vật lý ở trường Trung học phổ thông 1.1.1 Vì sao phải đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở trường THPT
Hệ thống các phương pháp dạy học truyền thống thường dùng ở trường phổthông là: phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại và phương pháp thínghiệm biểu diễn
Phương pháp thuyết trình: thuộc nhóm các phương pháp dùng từ ngữ Nội
dung cơ bản của phương pháp này là giáo viên dùng lời nói cung cấp kiến thứccho học sinh, làm cho học sinh hiểu được nội dung kiến thức vật lí, củng cố kiếnthức và khái quát hóa kiến thức thu nhận được, hướng dẫn học sinh rèn luyện kỹnăng, kỹ xảo Hỗ trợ với phương tiện cơ bản là lời nói, giáo viên còn sử dụngnhững phương tiện dạy học khác như tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị, phim,máy chiếu, máy vi tính…Khi sử dụng phương pháp này, học sinh chủ yếu nghe,hiểu, ghi chép, nhớ, tái hiện và có tham gia với mức độ hạn chế vào bài học theoyêu cầu của giáo viên ở những giai đoạn thích hợp
Các kiến thức cung cấp cho học sinh là các kiến thức đã được nghiên cứu, đãđược cải biến lại về mặt sư phạm cho phù hơp với đối tượng học sinh và đã đượcsắp xếp theo một trình tự logic chặt chẽ Giáo viên phải tìm mọi cách giảng giải,minh họa, đề xuất các thí dụ, phân tích các hiện tượng, vạch ra những dấu hiệu
cơ bản, so sánh các đối tượng…để nhằm mục đích cuối cùng là cho học sinhnắm vững vấn đề, hiểu rõ những kiến thức cần trình bày và có thể tái hiện và sửdụng chúng khi cần thiết Như vậy khi dùng phương pháp này, học sinh hầu nhưkhông cần tác động lên đối tượng nghiên cứu hoặc chỉ tác dụng gián tiếp thôngqua sự mô tả lại
Phương pháp đàm thoại: đàm thoại cũng thuộc nhóm phương pháp dạy học
dùng từ ngữ Trong đó giáo viên tác động gián tiếp đến học sinh bằng cách đặt ra
Trang 12một hệ thống các câu hỏi và dẫn dắt học sinh trả lời các câu hỏi để tiến dần đếnmột mục đích dạy học nhất định Đó hoặc là truyền thụ kiến thức vật lí mới, ôntập, củng cố một kiến thức vật lí cũ, hoặc rèn luyện một kĩ năng vật lí, hoặc đểkiểm tra, đánh giá việc nắm vững kiến thức của học sinh, hoặc nhằm phát triển
tư duy cho học sinh, giáo dục đạo đức cho họ…Hỗ trợ cho lời nói là các công cụ
và phương tiện dạy học như trong phương pháp thuyết trình Trong phương phápđàm thoại, học sinh đã có thể chủ động tìm hiểu tài liệu, nghiên cứu đối tượngthông qua sự dẫn dắt của giáo viên Ngoài các câu trả lời, học sinh còn có thểđặt ra những câu hỏi với giáo viên, tranh luận với giáo viên, tranh luận và thảoluận với nhau, sử dụng những thí nghiệm nhỏ và cuối cùng, học sinh phải thamgiao vào việc kết luận vấn đề cùng giáo viên
Khi giáo viên biểu diễn thí nghiệm và kể cả khi học sinh thực hành thínghiệm thì:
- Giáo viên tốn thời gian chuẩn bị khá nhiều Đây là khó khăn chủ yếu trongthực tế hiện nay của đa số GV, vì muốn tiến hành 1 tiết dạy có thí nghiệm thật,cần chuẩn bị ít nhất một giờ Với các trường không có phụ tá thí nghiệm thì cònkhó khăn hơn nhiều
- Trình độ của đa số GV còn hạn chế, nhất là sự hiểu biết và kĩ năng về kĩthuật, ngoại ngữ, mà khi chuẩn bị và thao tác với các thí nghiệm thật thì rất cầnnăng lực này Đây còn là một yếu tố tâm lý khiến GV e ngại làm khi không tinchắc lắm vào kết quả trên lớp
- Trang thiết bị phòng thí nghiệm và các thiết bị ngoại vi còn thiếu thốn Đa
số các trường chỉ có các phòng “kho” để cất giữ thiết bị, rất thiếu diện tích vàphương tiện để GV thao tác chuẩn bị
- Học sinh cảm thấy khó khăn khi thao tác với các dụng cụ thí nghiệm có khi
đã cũ, nếu tiến hành, khả năng không thành công của thí nghiệm là cao làm các
em mất sự hứng thú, lòng tin vào khoa học
- Kể cả GV và học sinh đều cảm thấy tốn kém rất nhiều thời gian khi thựchiện việc biểu diễn thí nghiệm và thực hành thí nghiệm
Trang 13Những phương pháp dạy học truyền thống nói trên dù hiện nay vẫn đangđược cố gắng cải tiến để nâng cao hiệu quả của việc dạy học nhưng căn bản vẫndựa trên hai PPDH dạy học cơ bản có từ lâu đời, kể từ khi có trường học hoặclâu hơn nữa.
PPDH thứ nhất là người giáo viên truyền đạt (thông báo) cho học sinh cáctri thức về thế giới tự nhiên và phương thức hoạt động của con người, còn họcsinh thì tiếp thu các thông tin ấy một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thông qua cácphương tiện khác nhau như lời nói, đồ vật với các hình thức tổ chức dạy họckhác nhau Học sinh cố gắng hiểu, ghi nhận và ghi nhớ các thông tin ấy
PPDH dạy học thứ hai là giáo viên tạo ra những điều kiện để học sinh nhớlại, củng cố, vận dụng theo mẫu những tri thức và phương thức hoạt động màhọc sinh đã tiếp thu được từ giáo viên Nó thể hiện ở việc giáo viên cho luyệntập, làm bài tập, làm các bài thí nghiệm theo mẫu hoặc cải biên…Kiểu dạy họcnày nhằm củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh và được gọi
là dạy học tái hiện
Chừng nào mà dạy học chỉ có mục đích cung cấp tri thức và luyện tập kỹnăng áp dụng tri thức theo mẫu thì các PPDH trên là đủ Cho đến giữa thế kỷ 19thì mục đích chỉ có như vậy mà thôi [4]
Song nhịp độ phát triển của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, của mọi mặt đờisống xã hội nhanh chóng đến mức trong một đời người đã diễn ra nhiều thay đổicăn bản trong nhiều lĩnh vực, làm cho những tri thức thu nhận được trong nhàtrường không còn đủ nữa Con người cần tiếp tục tự lực thu nhận thêm tri thức
và kỹ năng mới, biết phát hiện và giải quyết những vấn đề mới nảy sinh, biếtsáng tạo trong từng công việc Nhưng các phương pháp dạy học trước đây lạikhông dạy học sinh làm việc đó
Những hoạt động của học sinh trong các phương pháp dạy học cũ là các hoạtđộng thụ động: tiếp thu và làm theo mẫu Mặc dù chúng ta cố gắng cải tiến đểcho học sinh tích cực, chủ động và sáng tạo nhưng vẫn trong khuôn khổ của cáchoạt động thụ động Nó không thay đổi căn bản được vấn đề
Trang 14Xuất phát từ mục tiêu của giáo dục phổ thông nói chung và mục tiêu dạy họcmôn Vật lý ở trường THPT nói riêng, ta thấy rằng, các phương pháp dạy họctruyền thống không đáp ứng được đầy đủ mục tiêu dạy học.
Thực tế ở nước ta, do những năm chiến tranh, do cơ sở vật chất, các điều kiện
xã hội còn ở mức độ thấp nên việc vận dụng các phương pháp dạy học truyềnthống còn ở mức độ thấp hơn và đơn giản hóa các phương pháp đó tới mức tốithiểu nên càng không đáp ứng được yêu cầu mới của dạy học Thí dụ: thay vìthực hiện các thí nghiệm, nhiều giáo viên chỉ mô tả chúng, hoặc thậm chí bỏqua, thay vì phải giảng giải, minh họa,… cho học sinh hiểu kỹ về một vấn đềnào đó thì chúng ta chỉ đọc cho học sinh chép nội dung chính, thay vì hướng dẫncho học sinh luyện tập thì chúng ta làm hộ cho học sinh hoặc chỉ yêu cầu họcsinh lặp lại mẫu một cách máy móc
Mặt khác, hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận kết quả học tập và rènluyện có được khi học sinh có động cơ học tập đúng đắn và phù hợp Động cơnày được hình thành bởi nhiều yếu tố như: nhu cầu học tập của học sinh, nộidung giáo dục đáp ứng yêu cầu của xã hội và đáp ứng nhu cầu, hứng thú của họcsinh, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện, các phương pháp giáodục phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, điều kiện,phương tiện dạy học đầy đủ và hiện đại, môi trường dạy học thuận lợi.[2]
Chính vì vậy, cần phải có sự đổi mới trong dạy học và dạy học vật lý nóiriêng Việc đổi mới phải đồng bộ cả về nội dung, phương pháp, hình thức tổchức dạy học và cách thức kiểm tra, đánh giá
1.1.2 Yêu cầu của việc đổi mới PPDH
Việc đổi mới PPDH ở trường phổ thông nên được thực hiện theo các yêu cầusau:
- Dạy học tiến hành thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập của họcsinh
- Dạy học kết hợp giữa học tập cá thể với học tập hợp tác; giữa hình thứchọc cá nhân với hình thức học theo nhóm, theo lớp
Trang 15- Dạy học thể hiện mối quan hệ tích cực giữa giáo viên và học sinh, giữahọc sinh và học sinh.
- Dạy học chú trọng đến việc rèn luyện các kĩ năng, năng lực, tăng cườngthực hành và gắn nội dung bài học với thực tiễn cuộc sống
- Daỵ học chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tựhọc, tự nghiên cứu; tạo niềm vui, hứng thú, nhu cầu hành động và thái độ tự tintrong học tập cho học sinh
- Dạy học chú trọng đến việc sử dụng có hiệu quả phương tiện, thiết bị dạyhọc được trang bị hoặc do giáo viên tự làm, đặc biệt lưu ý đến những ứng dụngcủa CNTT
- Dạy học chú trọng đến việc đa dạng nội dung, các hình thức, cách thứcđánh giá và tăng cường hiệu quả việc đánh giá.[9]
Theo các yêu cầu PPDH đã nêu ra ở trên, chúng ta thấy được các yêu cầu củaviệc đổi mới PPDH là rất nhiều Hơn nữa, các yêu cầu đổi mới PPDH là có mốiquan hệ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau, không đứng tách rời ra Điều này đòi hỏingười giáo viên phải thật sự nỗ lực thay đổi cách nghĩ, cách làm để đáp ứngđược yêu cầu đó
Trong các yêu cầu được nêu ra ở trên, phạm vi của luận văn này nhấn mạnhvào yêu cầu “chú trọng đến những ứng dụng của CNTT”
Khái niệm ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường phổ thông phải được hiểunhư thế nào cho chính xác? Nó cụ thể gồm những việc gì?
Theo chúng tôi, nó gồm một số những yếu tố cơ bản như sau:
- Ứng dụng các phần mềm tăng cường yếu tố trực quan, sinh động trongdạy học để sử dụng trong tiết lên lớp ( không nhất thiết chỉ sử dụng bài giảngđiện tử mới ứng dụng được các phần mềm này) Có thể kể ra đây một sốphần mềm áp dụng cho các môn khoa học tự nhiên như: Crocodile tạo các môphỏng trong các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học Interactive physics, OpticsMar,… tạo các thí nghiệm ảo Vật lý, Geometric, Sketpatch trong môn Toánhọc,…Các phần mềm này có thể tạo các mô hình cho tư duy của học sinh
Trang 16trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, cao hơn nữa, nó còn là một phòng thínghiệm ảo đầy tiệc ích ( Crocodile, IP, trong môn Vật lý), các phần mềmnày tạo ra các sản phẩm được trình chiếu bằng máy chiếu sử dụng trong tiếtlên lớp Đó hoàn toàn có thể là tiết dạy bằng bảng truyền thống, nhưng trong
đó có kết hợp các trình chiếu các sản phẩm được thiết kế bằng các phần mềmtrên
- Thu thập thông tin, trao đổi thông tin từ Internet để tạo nguồn tư liệu,
bổ sung, bồi bổ kiến thức trong dạy học
- Sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh giá chất lượng họctập của học sinh Khi trắc nghiệm khách quan đang là một xu thế hợp lý củaviệc kiểm tra kiến thức học sinh, thì việc sử dụng các phần mềm trong việcsoạn thảo đề kiểm tra trắc nghiệm ( EMP test, Test pro, TN 100, Mc Micx),hay các phần mềm tổ chức thi trắc nghiệm trên máy tính đang là một yêu cầurất cấp thiết đối với mỗi giáo viên
- Sử dụng Máy vi tính và bộ phần mềm Microsoft Office (hay các phầnmềm soạn thảo văn bản tương đương) để chuẩn bị hồ sơ, sổ sách, giáo án,…thay vì viết tay, bây giờ được đánh máy để tiện việc sửa chữa, lưu trữ…
- Sử dụng các thiết bị đa phương tiện trong chuẩn bị tư liệu dạy học,trong tiết dạy trên lớp Chẳng hạn sử dụng máy ảnh kỹ thuật số chụp ảnh, sửdụng máy chiếu đa chức năng để trình chiếu, sử dụng máy in in các phiếu họctập, các bảng biểu, bảng phụ, tranh ảnh,… sử dụng trong các tiết lên lớp
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhân sự, trongcông tác quản lý kết quả học tập, trong tính toán điểm trung bình của họcsinh
Như vậy, nếu sử dụng CNTT một cách có hiệu quả, chúng ta có thể gópphần đáp ứng được yêu cầu của việc đổi mới PPDH
1.1.3 Định hướng đổi mới PPDH Vật lí THPT
Định hướng đổi mới PPDH được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4,khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996) được thể chế
Trang 17hóa trong Luật giáo dục (2005)
Luật Giáo dục, điều 28.2 đã ghi “ Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với các đặcđiểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làmviệc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác độngđến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”[12]
Định hướng chung về đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo, tự học, kĩ năng vận dụng vào thực tiễn, phù hợp với đặc điểmcủa từng lớp học, môn học; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo đượchứng thú học tập cho học sinh, tận dụng được công nghệ mới nhất; khắc phụcđược lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều các kiến thức có sẵn
Đổi mới PPDH ở trường phổ thông nên được thực hiện theo các định hướngchung như sau:
- Bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông
- Phù hợp với nội dung dạy học cụ thể
- Phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh
- Phù hợp với cơ sở vật chất, các điều kiện dạy học của trường
- Phù hợp với việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả dạy-học [12]
Từ các yêu cầu chung đã nêu ra ở trên, vận dụng vào đặc thù bộ môn Vật lý,chúng ta có thể thấy được đổi mới PPDH Vật lý ở trường THPT thực hiện theocác định hướng cụ thể như sau:
- Sử dụng các PPDH truyền thống theo tinh thần phát huy tính tích cực, chủ
động và sáng tạo của học sinh
Trong việc đổi mới PPDH, ta không thể phủ định vai trò của các PPDHtruyền thống Ta sẽ sử dụng các phương pháp đó theo tinh thần mới
Ví dụ: Phương pháp dạy cho học sinh cách làm việc, cách đọc sách giáokhoa
PPDH thụ động: Việc cho HS đọc SGK chỉ nhằm mục đích ghi nhớ, thuộclòng không những nội dung mà cả cách phát biểu những những kết luận mà ta
Trang 18muốn chốt lại.
Trong PPDH tích cực: Việc học sinh đọc sách giáo khoa coi như một hoạtđộng thu thập thông tin Thông tin này sau đó phải được HS xử lí để rút ranhững kết luận cần thiết
- Chuyển từ phương pháp nặng về sự diễn giảng của giáo viên sang phương
pháp nặng về tổ chức cho học sinh hoạt động để tự lực chiếm lĩnh tri thức và kĩ năng
Theo quan niệm cũ về việc dạy học thì giáo viên là người truyền thụ kiếnthức, còn học sinh là người tiếp thu kiến thức
Theo quan niệm mới về việc dạy học, vai trò chính yếu của giáo viên là tổchức và hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh, sao cho học sinh có thể
tự lực chiếm lĩnh được kiến thức và kĩ năng mới
Điều này xuất phát từ cơ sở tâm lý học, cho rằng chỉ có thông qua hoạt động
và bằng hoạt động một cách tự lực thì con người mới trưởng thành thật sự; conngười vừa chiếm lĩnh được tri thức và vừa có phương pháp tìm tòi xây dựng trithức mới Vận dụng vào hoạt động dạy học ở nhà trường, lý luận dạy học hiệnđại nói chung, lý luận dạy học hiện đại của bộ môn vật lý nói riêng, đang tiếntriển theo hướng tạo điều kiện cho học sinh hoạt động một cách tự giác, tích cực
và tự lực để họ vừa nắm vững nội dung kiến thức lý thuyết, vừa hiểu được cáchthức xây dựng tri thức mới [12]
Do đó, trong tiết dạy học đổi mới, ta cần quan tâm xem học sinh hoạt độnghọc như thế nào? Các em đã thu hoạch được những giá trị gì? Trong giờ học,mọi học sinh đều làm việc hết sức tích cực
-Tăng cường học tập cá nhân, phối hợp một cách hài hòa với học tập hợp tác
Các hình thức tổ chức học tập cá nhân, theo nhóm và theo lớp là các hìnhthức học tập vẫn được áp dụng trong những PPDH truyền thống Trong các hìnhthức trên, hình thức học tập cá nhân lâu nay vẫn được coi là hình thức học tập cơbản nhất và có hiệu quả nhất
Trang 19Theo tinh thần của các PPDH tích cực, hình thức học tập cá nhân vẫn là hìnhthức học tập cơ bản Tuy nhiên, giáo viên phải tìm cách kích thích được hứngthú học tập, làm cho học sinh học tập một cách tự giác, chủ động, từ đó phát huyđược tính sáng tạo của mỗi cá thể trong học tập
Các hình thức học tập hợp tác không những góp phần làm cho việc học tập cánhân có hiệu quả hơn mà còn có tác dụng rèn luyện cho học sinh tinh thần hợptác trong lao động, thái độ chia sẻ kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, ý thức tráchnhiệm trong công việc chung Theo lý thuyết về vùng phát triển gần củaVưgôtxki, các tương tác thầy-trò và trò-trò trong lớp học có thể giúp học sinhvượt qua được những trở ngại để đạt đến những hiểu biết mới
-Coi trọng việc bồi dưỡng công tác tự học
Một đặc trưng quan trọng của xã hội hiện nay là bùng nổ thông tin Nhữngứng dụng kỹ thuật hiện đại của ngày hôm nay thì đã trở nên lạc hậu ở một tươnglai không xa Vì những hiểu biết của chúng ta rất mau chóng trở nên lạc hậu, nênmỗi con người sống trong xã hội hiện đại phải biết cách cập nhật thông tin Mộttrong những cách khả dĩ là phải biết cách tự học
Mặt khác, dù là học trên lớp học hay học ở nhà, mỗi học sinh phải thật sựđộng não để tiếp thu những điều cần học Không ai có thể học thay được Vìvậy, trong những hoạt động cá nhân của tiết học, giáo viên phải có chiến lượcbồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh
Việc rèn luyện khả năng tự học cho học sinh còn là một biện pháp giúp tagiải quyết một khó khăn rất lớn là: mâu thuẫn giữa một bên là những yêu cầucao về việc bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng và một bên là sự hạn hẹp của thời giandành cho mỗi môn học Có lẽ không cần chuyển tải từ A đến Z của nội dung bàihọc trên lớp, mà nên dành một phần nội dung nào đó cho học sinh tự tìm hiểu ởnhà rồi sau đó sẽ kiểm tra kết quả sự tự học của các em[4] Có như thế chúng tamới có thời gian để thực hiện việc đổi mới PPDH
- Coi trọng việc rèn luyện kĩ năng ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức
Những kiến thức và kĩ năng cần thiết cho cuộc sống và lao động của con
Trang 20người trong xã hội hiện đại đang càng ngày tăng lên một cách nhanh chóng.Những kiến thức và kĩ năng đưa vào chương trình phổ thông tuy đã được chọnlọc cẩn thận nhưng không tránh khỏi lạc hậu và một số bị thiếu hụt so với yêucầu của cuộc sống
Trong nhà trường, chúng ta chỉ dạy cho học sinh những nguyên tắc đạicương Khi vào đời, học sinh sẽ gặp phải những tình huống thực tế vô cùngphong phú, đa dạng Làm sao các em có thể giải quyết được những tình huốngđó? Tất cả những thực tế đó đặt cho chúng ta nhiệm vụ phải bồi dưỡng cho họcsinh những kĩ năng sống cần thiết, bên cạnh việc truyền thụ kiến thức Trong sốcác kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh, người ta đặc biệt chú ý tới các kĩ năngthực hiện các tiến trình khoa học Đó là các kĩ năng thu thập thông tin, xử líthông tin và truyền đạt thông tin
- Tăng cường làm thí nghiệm vật lý trong dạy học
Vật lý học là một môn khoa học thực nghiệm Các khái niệm vật lý, các địnhluật vật lý đều phải gắn với thực tế Trong chương trình vật lý phổ thông, nhiềukhái niệm vật lý và hầu hết các định luật vật lý được hình thành bằng con đườngthực nghiệm Thông qua thí nghiệm, ta xây dựng được những biểu tượng cụ thể
về sự vật và hiện tượng mà không có một lời nào có thể mô tả đầy đủ được.Trong thực hành, không những các kĩ năng thực hành như quan sát, sử dụngdụng cụ vật lí, lắp ráp thí nghiệm, vẽ đồ thị, xác định sai số được rèn luyện, mà
cả óc suy đoán, tư duy lí luận và nhất là tư duy vật lí cũng được phát triển mạnh.Xét về mặt PPDH, ta có thể chia các thí nghiệm vật lí phổ thông thành baloại: các thí nghiệm do học sinh làm ngay trên lớp, trong tiết học, dưới hình thức
cá nhân hay theo nhóm (thí nghiệm đồng loạt, trận tuyến,…); các thí nghiệm dogiáo viên hay một nhóm học sinh làm để biểu diễn ngay trên lớp, trong tiết học( thí nghiệm biểu diễn, chứng minh,…) và các thí nghiệm mà học sinh thực hiệntrong phòng thí nghiệm để lấy số liệu, viết báo cáo dưới dạng một bài làm (thínghiệm thực hành)
Ở THPT, việc bố trí các thí nghiệm đồng loạt gặp nhiều khó khăn vì các thiết
Trang 21bị thí nghiệm nhìn chung đắt tiền và phức tạp hơn ở THCS rất nhiều.
Số các bài thực hành Vật lí của mỗi lớp đã tinh giản đến mức tối thiểu, nộidung các bài thực hành đã được lựa chọn đến mức hết sức đơn giản và có tínhkhả thi cao Do đó, việc thực hiện các bài thực hành của mỗi lớp coi như bắtbuộc
So với chương trình cũ, thì nội dung của các thí nghiệm vật lí hầu như không
có gì mới; tuy nhiên, sự đổi mới thể hiện ở cách thức chúng ta cho học sinh làmthí nghiệm Phải cho học sinh đến với thí nghiệm một cách chủ động và phải tạocho các em cơ hội phát huy được những suy nghĩ sáng tạo trong thực hành.Muốn thế, không thể cho học sinh làm thí nghiệm theo kiểu chỉ đâu, làm đấymột cách máy móc, mô tả một cách đơn giản hiện tượng vật lí đã xảy ra quá rõràng
Cần cho học sinh nắm được mục đích thí nghiệm, xây dựng phương án thựchành, tham gia làm thí nghiệm, xử lí kết quả và thảo luận rút ra kết luận cầnthiết
Ngoài ra, đối với những thí nghiệm vật lí khó làm hoặc đòi hỏi nhiều thờigian, ta có thể cung cấp cho học sinh số liệu thực nghiệm mà người ta đã thuđược trước đó để cho các em xử lí kết quả Hình thức này gọi là thí nghiệm
“giấy và bút chì” [12]
Như đã nói ở trên, việc đổi mới PPDH Vật lý nói chung cần thiết phải tăngcường làm thí nghiệm.Vai trò của thí nghiệm vật lí là rất to lớn đối với việc tăngtính tích cực của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri thức Hơn nữa, đối với nhữngthí nghiệm khó làm, tốn nhiều thời gian thì giáo viên có thể sử dụng hình thứcthí nghiệm “ giấy và bút chì”
Vấn đề đặt ra là, trong chương trình vật lí PTTH nói chung và Vật lí 11 nóiriêng, có rất nhiều thí nghiệm loại “giấy và bút chì” Vậy, thay vì sử dụng thínghiệm “giấy và bút chì”, chúng ta có thể sử dụng thí nghiệm ảo trong nhiềutrường hợp
Phần tiếp theo của luận văn, sẽ trình bày về khái niệm thí nghiệm ảo và chức
Trang 22năng lí luận dạy học của chúng trong việc tổ chức hoạt động dạy học vật lí
1.2 Khả năng hỗ trợ của phần mềm dạy học vật lý đối với vấn đề đổi mới phương pháp dạy học
1.2.1 Phương pháp dạy học vật lý theo định hướng đổi mới
Phương pháp là cách thức (kiểu) nhận thức, cũng là hệ thống cách thức
tiến hành một công việc Các nhà nghiên cứu cho rằng khái niệm phương
pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Theo nguyên nghĩa trong tiếng Hy Lạp,
“mesthodos” có nghĩa là con đường, cách thức hoạt động để đạt mục đích.Nói phương pháp biện chứng, phương pháp thực nghiệm, phương pháp khảosát thực tế là nói tới phương pháp với ý nghĩa cách thức (kiểu) nhận thức.Nhưng nói làm việc có phương pháp, phương pháp nghiên cứu, phương pháphọc tập, phương pháp dạy học Lại là nói phương pháp với ý nghĩa hệ thốngcác cách thức làm việc, nghiên cứu, học tập, dạy học Với ý nghĩa rộng nhưvậy, phương pháp là một phương diện rất quan trọng của cuộc sống
Có nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH, sau đây là một vài định nghĩathường gặp:
Theo Vũ Quốc Long: “PPDH là cách thức tiến hành hoạt động dạy họcnhằm đạt mục tiêu cao và hiệu quả lớn trong việc hình thành nhân cách” [15]
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “PPDH là cách thức làm việc của thầy vàcủa trò trong sự phối hợp thống nhất và dưới sự chỉ đạo của thầy, nhằm làmcho trò tự giác, tích cực, tự lực đạt tới mục đích dạy học”
Theo Iu.K.Babanski: “PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trònhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quátrình dạy học”
Theo I.Ia.Lecne: “PPDH là một hệ thống những hành động nhận thức
và thực hành của HS, đảm bảo cho HS lĩnh hội nội dung học vấn”
Theo I.D.Dverev: “PPDH là cách thức hoạt động tương hỗ giữa thầy vàtrò nhằm đạt được mục đích dạy học Hoạt động này được thể hiện trong việc
Trang 23sử dụng các nguồn nhận thức, các thủ thuật logic, các dạng hoạt động độc lậpcủa HS và cách thức điều khiển quá trình nhận thức của thầy giáo”.
Theo Meyer: “PPDH là những hình thức và cách thức, thông qua đó vàbằng cách đó GV và HS lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xungquanh trong những điều kiện học tập cụ thể”
Ngoài ra còn có nhiều định nghĩa khác, mặc dù chưa có ý kiến thốngnhất về định nghĩa khái niệm PPDH nhưng nhìn chung, có thể định nghĩa nhưsau:
PPDH là con đường, là cách thức, là hệ thống và trình tự các hoạt động giữa người dạy và người học, được người dạy sử dụng để tổ chức các hoạt động học tập và hướng dẫn người học tự lực, chủ động, tích cực đạt được kiến thức; rèn luyện và phát triển kĩ năng, các năng lực nhận thức cũng như góp phần hình thành các phẩm chất nhân cách mà mục tiêu giáo dục đặt ra.
Trong QTDH, không thể sử dụng một PP đơn nhất mà thường có sựphối hợp của một vài PP Trong đó có một PP đóng vai trò chủ đạo
Việc lựa chọn PP này hay PP khác là việc làm quan trọng của người
GV Nó quyết định đến hiệu quả của việc dạy học Không có một PPDH nàođược coi là vạn năng
Bản chất của quá trình dạy học là quá trình tổ chức các hoạt động nhậnthức cho HS [24] Trong QTDH, có hai hoạt động, hoạt động dạy của thầy vàhoạt động học của trò GV là chủ thể của hoạt động dạy, HS là chủ thể của
hoạt động học Người thầy đóng vai trò là người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn
HS tự tìm kiếm tri thức, dạy HS phương pháp học; tổ chức, kiểm tra, địnhhướng hoạt động học, thể chế hóa kiến thức còn HS luôn chủ động, tự giác,tích cực, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức; ý thức được nhiệm vụ cần giải quyết,
tự tìm tòi nghiên cứu, trao đổi tranh luận trong quá trình giải quyết nhiệm vụ
GV giao
Trang 24Trong từng đơn vị kiến thức, PPDH phải thể hiện rõ từng hoạt động cụthể của GV và HS.
Tư tưởng cơ bản của đổi mới PPDH nói chung cũng như đổi mớiPPDH vật lý nói riêng là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạocủa HS; bồi dưỡng PP tự học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS; đưa
HS vào vị trí chủ thể của quá trình nhận thức
Việc đổi mới PPDH đòi hỏi phải thực hiện chức năng mới của GV và
HS, khác với kiểu dạy học truyền thống Điều này phải được thể hiện ở tất cảcác khâu: thiết kế bài học, tiến hành dạy bài học đã thiết kế và kiểm tra đánhgiá kết quả học tập của HS
1.2.2 Vấn đề tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
1.2.2.1 Khái niệm tích cực hóa
Tích cực hóa là một tập hợp các hoạt động của thầy giáo và các nhàgiáo dục nói chung, nhằm biến người học từ thụ động thành chủ động, từ đốitượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quảhọc tập [25]
1.2.2.2 Đặc điểm tính tích cực
Tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác:
Mặt tự phát của tính tích cực là những yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh thể
hiện ở tính tò mò, hiếu kỳ, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi mà ởmỗi đứa trẻ đều có, tùy theo mức độ khác nhau Cần coi trọng những yếu tố tựphát này, cần nuôi dưỡng phát triển chúng trong dạy học
Mặt tự giác của tính tích cực thể hiện chỗ tính tích cực có mục đích và
đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng đó Tính tíchcực, tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoahọc v.v
Trang 25Tính tích cực nhận thức phát sinh không phải chỉ từ nhu cầu nhận thức
mà cả từ những nhu cầu bậc thấp như nhu cầu sinh học, nhu cầu đạo đức;thẩm mĩ, nhu cầu giao lưu văn hóa.v.v
Hạt nhân cơ bản của tính tích cực nhận thức là hoạt động tư duy vàtưởng tượng của cá nhân được tạo nên do sự thúc đẩy của hệ thống nhu cầu
đa dạng
Tính tích cực nhận thức và tích cực học tập có liên quan chặt chẽ vớinhau nhưng không phải là một Có một số trường hợp, có thể tích cực học tậpthể hiện ở sự tích cực bên ngoài, mà không phải là tích cực trong tư duy Đó
là điều cần chú ý khi đánh giá tính tích cực nhận thức của HS [25]
1.2.2.3 Những biểu hiện và mức độ tích cực của học sinh
1.2.2.3.1 Biểu hiện của tính tích cực
Trong quá trình dạy học người GV có thể phát hiện tính tích cực của
HS dựa vào các biểu hiện sau:
- HS hăng hái tự nguyện tham gia vào mọi hình thức của hoạt động họctập
- HS nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày
mà các em chưa rõ
- HS hiểu bài, ghi nhớ tốt những điều đã học
- HS hứng thú, có ý chí quyết tâm vượt qua khó khăn trong học tập
- HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kỹ năng đã học đểnhận thức vấn đề mới
- HS mong muốn đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những nguồn khác nhau, có khi vượt ra ngoài phạm vị bài học môn học
1.2.2.3.2 Mức độ tích cực của học sinh
Tùy vào việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lý nào mà tínhtích cực hoạt động nhận thức của HS thể hiện ba mức độ từ thấp đến cao nhưsau:
Trang 26- Bắt chước: HS bắt chước hành động, thao tác của GV, của bạn cùnghọc
Trong hành động bắt chước HS cũng phải chú ý quan sát, nhận xét, phân tích,tổng hợp thông tin để sau đó tái hiện lại
- Tìm tòi: HS tìm kiếm trong vốn kiến thức và phương pháp của mình để
tự lực giải quyết một hoặc một số vấn đề cụ thể được GV nêu ra
- Sáng tạo: HS phát hiện vấn đề cần giải quyết hoặc tìm được cách giảimới khác hơn, hay hơn, độc đáo hơn Đây là mức độ tích cực cao nhất Dĩnhiên, mức độ sáng tạo của mỗi HS là có giới hạn nhưng đó chính là nền tảng
để phát triển óc sáng tạo về sau này
1.2.2.4 Các biện pháp phát huy tính tích cực của HS
Trong quá trình học tập, ở mỗi người học đều có biểu lộ tâm trạng chủquan nhất định có ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức Chính trạng tháitâm lý học đó được gọi là những nhân tố bên trong của sự phát triển nhâncách Tuy nhiên, thực chất của vấn đề là ở chỗ chỉ có tâm trạng tích cực bêntrong của người học đối với học tập mới chi phối tính tích cực nhận thực của
nó Còn nếu không có tâm trạng đó thì thông thường người học có thái độbàng quan và có sự thụ động trí tuệ trong những trường hợp này, việc vậndụng những biện pháp ép buộc, phần lớn đều không mang lại kết quả tích cực.Chính vì thế, GV phải hình thành ở người học tâm trạng tích cực đối với họctập khêu gợi những kích thích bên trong của tính tích cực nhận thức Đểngười học nhận thức được rằng, học tập trở thành một nhu cầu không thểthiếu được trong cuộc sống từ đó họ hứng thú và có động cơ đúng đắn tronghọc tập Trên cơ sở nhu cầu và hứng thú, sẽ hình thành động cơ học tập “Nếuhứng thú là nhu cầu mang màu sắc cảm xúc, thì động cơ là thái độ chủ quancủa người học đối với học tập mà cơ sở là mục đích được tự giác đặt ra”
Trang 27Vậy, vấn đề dạy học vật lý phải làm sao kích thích được hứng thú học tập củahọc sinh, làm cho HS thấy được ý nghĩa của việc học vật lý đối với đời sống,thực tiễn và đối với bản thân học sinh.
Vật lý là môn khoa học thực nghiệm nên sự hiểu biết không chỉ đơnthuần là nắm được các công thức, khái niệm, sự suy diễn loogic mà phải có sựtrải nghiệm nhất định Do đó đổi mới PPDH là hướng tới việc tạo điều kiệncho HS tự chiếm lĩnh kiến thức thông qua hoạt động thực nghiệm, thông quaviệc giải quyết các vấn đề thực tế Gần đây tư tưởng dạy học tích cực đã trởthành một chủ trương lớn của nghành giáo dục nước ta Vì vậy đã có nhiềucông trình nghiên cứu đề xuất các biện pháp nhằm phát huy tính tích cực của
HS trong giờ lên lớp Những biện pháp này có thể tóm tắt như sau:
- Nội dung dạy học phải mới, cái mới ở đây không phải là quá xa lạ đốivới học sinh Cái mới phải kế thừa và phát triển cái cũ, kiến thực phải có thựctiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thứccủa HS
- Vận dụng và phối hợp các PPDH một cách hiệu quả, đặc biệt là cácPPDH
tích cực như: PPDH nêu vấn đề, phương pháp thực nghiệm, phương pháptương tác, phương pháp phát triển hệ thống câu hỏi Có như vậy mới khuyếnkhích tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS trong học tập
- Khởi động tư duy, gây hứng thú học tập cho học sinh HS càng hứng thúhọc
tập bao nhiêu, thì việc tiếp thu kiến thức của các em càng chủ động tích cựcbấy nhiêu Vì vậy cần chú ý đến việc tạo tình huống có vấn đề Những vấn đềcần nhận thức nên được làm bộc lộ đột ngột, bất ngờ nhằm gây ra sự xung độttâm lý của HS từ đó gây được sự tò mò, kích thích tính hiếu kỳ của HS
- Kích thích tính tích cực của HS qua thái độ, cách cư xử giữa GV và HS động viên khen thưởng kịp thời khi có thành tích học tập tốt
Trang 28- Sử dụng nhiều phương tiện dạy học, đặc biệt ở các lớp dưới, dụng cụtrực quan có tác dụng tốt trong việc kích thích hứng thú của HS.
- Luyện tập dưới nhiều hình thức khác nhau, vận dụng kiến thức vào thựctiễn, vào các tình huống mới
1.2.3 Khái niệm phần mềm dạy học vật lý
Theo từ điển tin học Anh - Việt, Nhà xuất bản Thanh niên 2000: "Phầnmềm (Software): Các chương trình hay thủ tục chương trình chẳng hạn nhưmột ứng dụng, tập tin, hệ thống, chương trình điều khiển thiết bị, cung cấpcác chỉ thị chương trình cho máy tính"
Phần mềm là một bộ chương trình thực hiện một nhiệm vụ tương đốiđộc lập nhằm phục vụ cho một ứng dụng cụ thể như quản lý hoạt động củamáy tính hoặc áp dụng máy tính trong các hoạt động kinh tế, quốc phòng, vănhóa, giáo dục, giải trí,
Theo chúng tôi, PMDH là phần mềm được thiết kế nhằm hỗ trợ có hiệuquả cho quá trình dạy của GV và quá trình học của HS bám sát mục tiêu, nộidung chương trình SGK
Không phải phần mềm nào được đưa vào sử dụng trong dạy học thì ược gọi là PMDH, mà chỉ có thể nói đến việc khai thác những khả năng củaphần mềm để hỗ trợ cho QTDH mà thôi [13], [27]
đ-PMDH hiện nay có nhiều và đa dạng, nhưng có thể chia làm ba loại:PMDH được xây dựng dựa trên đối tượng sử dụng, nội dung các môn học vàmục đích lý luận dạy học
PMDH là phương tiện dạy học hiện đại có tính năng ưu việt hơn so vớicác loại phương tiện thông dụng, là một chương trình được lập trình sẵn ghivào đĩa CD; có thể mang một lượng thông tin lớn, chọn lọc ở mức cần và đủtheo nhu cầu của nhiều đối tượng; là nguồn cung cấp tài liệu phong phú đadạng, hấp dẫn, gọn nhẹ, dễ bảo quản, dễ sử dụng PMDH có thể sử dụng
Trang 29những thành tựu hiện đại của công nghệ truyền thông đa phương tiện vàoQTDH để nâng cao tính trực quan sinh động, hấp hẫn của tài liệu nghe nhìn.
PMDH vật lý là một PMDH được các chuyên gia tin học viết dựa trên
cơ sở các kiến thức vật lý, các hiểu biết hợp lý đã được các nhà sư phạm, nhàvật lý soạn sẵn, có thể được GV và HS dùng vào việc dạy và học các kiếnthức vật lý thông qua máy vi tính
Một PMDH vật lý có chất lượng phải đảm bảo những tiêu chuẩn củamột PMDH Trước hết phải đáp ứng một cách đầy đủ các yêu cầu sư phạm vềnội dung, hình thức và PP, ngoài ra phần mềm phải có lợi và phù hợp với nộidung chương trình dạy học
Nội dung PMDH vật lý phải đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tínhthiết thực, tính cập nhật của những kiến thức, kĩ năng theo mức độ quy địnhtrong chương trình vật lý PMDH phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổimới PPDH, phát huy tính tích cực chủ động trong HĐNT của từng HS; chú ýđến tính khoa học về hình thức thao tác Tính đơn giản, dễ sử dụng là mộttrong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tâm lí của đông đảo ngườidùng
PMDH góp phần đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chứcdạy học Có khả năng trình bày một cách trực quan, tinh giản, dễ hiểu, giúp
HS dễ dàng nắm được nội dụng của chương trình Mặt khác PMDH cung cấpthêm những tài liệu phong phú, đa dạng dùng để tra cứu, tham khảo, đọcthêm, hệ thống hóa, luyện tập theo các mức độ khác nhau, cung cấp những tàiliệu cần thiết cho mỗi môn học, thích hợp với nhiều đối tượng HS cùng lứatuổi
PMDH phải là một thiết bị dạy học tổng hợp giúp GV, HS làm việcmột cách dễ dàng nhanh chóng, hiệu quả, tiết kiệm nhiều thời gian, công sức
PMDH có thể biểu thị thông tin dưới dạng văn bản, kí hiệu, đồ thị, bản
đồ, hình vẽ Các tài liệu liên quan trong phần mềm được lựa chọn, thiết kế
Trang 30theo cách phối hợp tối ưu nhằm tận dụng được thế mạnh của từng loại trongdạy học Với đặc điểm gọn nhẹ của PMDH, mỗi GV hay HS có thể dễ dàng
có trong tay phương tiện để tự mình chủ động thực hiện PPDH tích cực ở bất
cứ nơi nào có máy tính Ngày nay giao tiếp với công nghệ đa phương tiện: âmthanh, hình ảnh, phim, đồ họa và văn bản được kết hợp với nhau thành mộtchỉnh thể rất hấp dẫn với HS PMDH phải đáp ứng yêu cầu để cho GV lựachọn các tài liệu trực quan cần cho từng phần của bài học Nó cho phép GV
mô phỏng, minh họa nhiều quá trình, hiện tượng trong tự nhiên mà không thểquan sát trực tiếp được trong điều kiện nhà trường, không thể hoặc khó có thểthực hiện nhờ các phương tiện khác PMDH có thể sao chép ra đĩa CD hoặc
in ra giấy một cách dễ dàng, ít tốn kém, tiết kiệm thời gian và công sức chuẩn
bị PMDH có thể giúp HS tự tìm tri thức mới, tự ôn tập, tự luyện tập theo nộidung tùy chọn, thco các mức độ tùy theo năng lực của HS
Trong thời đại xã hội phát triển với tốc độ nhanh như hiện nay, việcdạy học không chỉ hạn chế trong giờ học tại trường dưới sự hướng dẫn trựctiếp của GV mà HS có thể tự học tại nhà PMDH có thể giúp cho việc cá thểhóa cao độ, do nó có khả năng mô phỏng kiến thức cần trình bày một cáchphù hợp với trình độ HS
Ứng dụng công nghệ thông tin nói chung và PMDH nói riêng có thểgiúp đổi mới được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học; giúp
HS học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời; giúp GV dạy cho mọi ngườivới mọi trình độ tiếp thu khác nhau
PMDH có thể được sử dụng ở tất cả các khâu của QTDH Tuy nhiên,cần cân nhắc lựa chọn, phối hợp với các phương tiện dạy học khác để sử dụngđúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ, cường độ, nhằm đạt hiệu quả dạy học cao,đáp ứng tốt các yêu cầu về đổi mới mục tiêu, nội dung và PPDH
PMDH có các chức năng mà các phương tiện dạy học khác không có.PMDH giúp HS tự tìm tri thức mới, tự ôn tập, luyện tập theo nội dung tùychọn, theo các mức độ tùy thuộc vào năng lực của HS Cho phép HS điều
Trang 31khiển máy tính và khuyến khích HS đưa ra các quyết định phù hợp với yêucầu học tập của HS.
1.2.4 Khả năng hỗ trợ của PMDH đối với vấn đề tích cực hóa HĐNT cho HS
Các PMDH, cùng với máy vi tính được sử dụng vào QTDH với tư cách
là một phương tiện dạy học PMDH góp phần đổi mới PPDH, có nhiều khảnăng vận dụng vào các PP dạy học khác nhau, nhất là các PPDH theo hướngphát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo trong HĐNT của HS (như PP tìm tòi,nghiên cứu, chương trình hoá ), đồng thời đảm bảo cho HS làm quen với PPkhoa học, hình thành kỹ năng kỹ xảo tự lực tìm kiếm và chiếm lĩnh thông tin,tri thức mới, khả năng thích ứng cao với sự phát triển của xã hội trong thời đạithông tin PMDH có tác dụng hỗ trợ nhiều mặt trong hoạt động dạy và học(như giảm bớt những công việc lao động chân tay cho GV, dễ dàng thuận tiệntrong việc giám sát kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của HS, kích thích,hứng thú, tăng cường tính trực quan )
Với các hiện tượng, quá trình vật lý vi mô, để tạo điều kiện cho HS cóthể tham gia vào hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức thì không thể thiếuđược sự hỗ trợ của các phần mềm mô phỏng
Tùy vào mục đích sư phạm mà người ta có thể viết phần mềm môphỏng cho phù hợp với từng giai đoạn hoạt động của HS Ở giai đoạn đầu,phần mềm có thể cho chạy tự động để minh họa hiện tượng, tạo tình huống cóvấn đề nhằm chuyển giao nhiệm vụ cho HS Với các quá trình có diễn biếnnhanh và phức tạp như các chuyển động cong, dao động, phần mềm môphỏng giúp HS có được cái nhìn sơ bộ về sự biến đổi của từng đại lượng để từ
đó định hướng được cho những hành động tiếp theo nhằm giải quyết vấn đề.Sau khi HS đã ý thức được vấn đề, ở pha hoạt động tự chủ, tìm tòi giải quyếtvấn đề, phần mềm mô phỏng có thể được xây dựng để HS nghiên cứu tương
tự như tiến hành thí nghiệm thực và qua đó giúp HS đưa ra giả thuyết Hỗ trợ
HS trong việc thiết kế các thí nghiệm trong thực tế nhằm kiểm tra giả thuyết
Trang 32Hỗ trợ HS hoạt động tự chủ chiếm lĩnh kiến thức đòi hỏi phải có cácphương tiện dạy học giúp HS có thể nhanh chóng thu thập được dữ liệu thựcnghiệm, vẽ được đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa các đại lượng làm cơ sởcho hoạt động tư duy như phân tích, so sánh, khái quát hóa và dự đoán xâydựng giả thuyết
Với một phần mềm được xây dựng để thực hiện các chức năng đó,trong dạy học chúng ta có thể sử dụng nó để hỗ trợ cho quá trình HĐNT của
HS một cách có hiệu quả khi nghiên cứu các quá trình cơ học có diễn biếnnhanh, nhất là các chuyển động cong như chuyển động ném ngang, ném xiên
và dao động cơ học
Tóm lại, PMDH với tư cách là một phương tiện dạy học có những khảnăng hỗ trợ rất đa dạng và phong phú đối với vấn đề tích cực hóa HĐNT của
HS, đây cũng chính là mục tiêu của đổi mới PPDH vật lý hiện nay
1.3 Tổng quan về Physics 2.1 (Part II)
1.3.1 Download và cài đặt.
- Vào website http://www.Training.us hoặc http://www.develop.com đểtải chương trình hoặc mua đĩa “Các thí nghiệm chứng minh Cơ, nhiệt,điện, quang ở THPT”
- Thuộc dạng “tự chạy”, chạy một trong những file sau:
1.3.2 Giao diện của Physics 2.1 (Part II)
(H.1)
1.3.3 Chức năng - nội dung.
Trang 33Đây là một phần mềm vi tính thiết kế các thí nghiệm ảo biểu diễn,chứng minh, mô phỏng các hiện tượng Vật Lí về điện, từ trường, quang học
và vật lí hiện đại Có thể nghiệm lại được một số bài toán Trong mỗi bài có
lý thuyết kèm theo để người đọc tham khảo và bài tập áp dụng lí thuyết
(H.2)
1.3.4 Ưu điểm của phần mềm Physics 2.1 (Part II)
Bài học được thiết kế với sự hỗ trợ của phần mềm Physics 2.1 giúp HS
có thể chiếm lĩnh được kiến thức một cách nhanh chóng, cụ thể và chính xác.Các TNMP biểu diễn hình ảnh trực quan, sinh động, đẹp, chính xác Tínhchất theo dõi của phần mềm cho phép ta phân tích chi tiết các hiện tượng,mang lại hiệu quả cụ thể GV có thể biểu diễn lại thí nghiệm bất cứ lúc nàotrong giờ học cho HS, không như thí nghiệm thực sẽ mất rất nhiều thời gian
Trang 34và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như thiết bị thí nghiệm, kĩ năng thựchành, Khi sử dụng các thí nghiệm này, GV sẽ tránh được việc áp đặt cáckiến thức cho HS, HS sẽ tin tưởng vào kiến thức của bài học, có ý thức củng
cố, vận dụng hơn đối với kiến thức vừa chiếm lĩnh được, đem lại niềm vui,hứng thú học tập cho HS
Không cần cài đặt phức tạp, có thể chạy ngay trên đĩa CDR hoặc có thểchép vào bất cứ ổ đĩa cứng nào trên máy vi tính để sử dụng
Tính linh động, với dung luợng 280MB nên có thể lưu trữ trên ổ cứng diđộng
Hoạt động tốt trên các hệ điều hành từ Windows 98 đến Windows XPvới cấu hình máy vi tính không cao
Kết luận chương 1
Trong chương này chúng tôi đã nghiên cứu phần mềm Physics 2.1 và vấn
đề đổi mới PPDH vật lý ở trường trung học phổ thông Nội dung của chươnggồm các vấn đề như sau:
- Tư tưởng cơ bản của đổi mới PPDH nói chung cũng như đổi mới PPDHvật lý nói riêng là phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS;bồi dưỡng PP tự học; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tácđộng đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS; đưa HS vào
vị trí chủ thể của quá trình nhận thức
- Việc đổi mới PPDH đòi hỏi GV và HS phải đảm nhận chức năng mới,khác với kiểu dạy học truyền thống Điều đó được thể hiện ở tất cả các khâu:thiết kế bài học, tiến hành dạy bài học đã thiết kế và kiểm tra đánh giá kết quảhọc tập của HS
- Trong QTDH không thể sử dụng một PP duy nhất mà thường phải phốihợp một vài PP, trong đó có một PP đóng vai trò chủ đạo Việc lựa chọn các
PP là việc làm quan trọng của người GV Nó quyết định đến hiệu quả của việcdạy học Không có một PPDH nào là vạn năng
Trang 35- Sự phát triển của CNTT đã mở ra nhiều triển vọng trong việc đổi mớiPPDH MVT được sử dụng trong dạy học để hỗ trợ cho việc thực hiện cácnhiệm vụ cơ bản của QTDH và nhất là hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và họcchương trình mới theo hướng tích cực hóa người học Với sự trợ giúp củaMVT mà cụ thể là sử dụng phần mềm như một phương tiện dạy học, GV cóthể tổ chức quá trình học tập của HS theo hướng phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo trong HĐNT
- Các PMDH vật lý mới tư cách là người đồng hành và là sản phẩm chungcủa hai lĩnh vực dạy học và tin học có rất nhiều khả năng hỗ trợ cho quá trìnhđổi mới PPDH vật lý hiện nay
- Phần mềm Physics 2.1 là một PMDH có nhiều tính năng và dễ sử dụng.Với Physics 2.1 ta có các TNMP sinh động, hấp dẫn trong điều kiện bìnhthường ta không thực hiện được Ngoài ra có thể sử dụng Physics 2.1 để giảicác bài tập vật lý áp dụng cho bài kèm theo, giúp HS hiểu rõ được các kháiniệm, tính chất sự vật một cách chủ động và linh hoạt hơn cũng như vận dụngkiến thức vào thực tế cuộc sống một cách hiệu quả hơn
- Phần mềm Physics 2.1 cho phép thay đổi các thông số của các thành phầntrong mỗi lần chạy mô phỏng Khi thiết kế nếu thông số không phù hợp hiệntượng vật lý thì chương trình sẽ thông báo lỗi cụ thể để có thể điều chỉnh
- Trong phần mềm Physics 2.1 có thư viện hình ảnh và một số TNMP đượcthiết kế sẵn rất đa dạng, phong phú, GV chỉ việc lựa chọn hình ảnh, TNMPphù hợp để chèn vào TNMP mới theo yêu cầu Những bộ phận phụ trong môphỏng có thể được che giấu giúp người học có cảm giác như đang dùng cácphương tiện thông dụng để tìm kiếm các thông tin cần thiết
- Phần mềm Physics 2.1 có thể sử dụng trong việc kết hợp với các phần mềmkhác để tạo ra bài giảng điện tử, kết hợp với các PPDH thông thường mộtcách linh hoạt, sáng tạo nhằm phát huy tính tích cực, chủ động học tập của HS
Trang 36CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ BÀI HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM
PHYSICS 2.1 (PAR II) 2.1 Phân tích nội dung chương trình phần Quang hình học
2.1.1 Đặc điểm
Phần “Quang hình học” là phần hai của chương trình vật lý 11 THPT
Ở các lớp dưới HS đã được tiếp cận với các kiến thức liên quan đến đườngtruyền của ánh sáng, hiện tượng phản xạ, khúc xạ ánh sáng nhưng ở mức độ
sơ lược và mang tính định tính Phần này sẽ cung cấp cho HS kiến thức sâu,rộng, hệ thống và đầy đủ hơn hơn về quang hình nói chung và các ứng dụngcủa nó cho các dụng cụ quang học
2.1.2 Chuẩn kiến thức, kỹ năng
- Nêu được chiết suất tuyệt đối,chiết suất tỉ đối là gì?
- Nêu được tính chất thuậnnghịch của sự truyền ánh sáng
và chỉ ra sự thể hiện tính chấtnày ở định luật khúc xạ ánhsáng
- Mô tả được hiện tượng phản
xạ toàn phần và nêu được điềukiện xảy ra hiện tượng này
- Mô tả được sự truyền ánhsáng trong cáp quang và nêu
- Chấp nhận hiệntượng phản xạtoàn phần xảy rakhi i igh
Trang 37được ví dụ về ứng dụng của cápquang.
Kĩ năng
- Vận dụng được hệ thức củađịnh luật khúc xạ ánh sang
- Vận dụng được công thứctính góc giới hạn phản xạ toànphần
- Nêu được tiêu điểm chính,tiêu điểm phụ, tiêu diện, tiêu cựcủa thấu kính là gì
- Phát biểu được định nghĩa độ
tụ của thấu kính và nêu đượcđơn vị đo độ tụ
- Nêu được số phóng đại củaảnh tạo bởi thấu kính là gì
- Nêu được sự điều tiết của mắtkhi nhìn vật ở điểm cực cận và
- Không yêu cầuhọc sinh sử dụngcác công thức lăngkính để tính toán
- Không yêu cầuhọc sinh ttính toánvới công thức
Trang 38các tật này
- Nêu được sự lưu ảnh trênmàng lưới là gì và nêu được ví
dụ thực tế ứng dụng hiện tượngnày
- Nêu được nguyên tắc cấu tạo
và công dụng của kính lúp, kínhhiển vi, kính thiên văn
- Trình báy được số bội giáccủa ảnh tạo bởi kính lúp, kínhhiển vi, kính thiên văn
Kĩ năng
- Vẽ được tia ló khỏi thấu kínhhội tụ, phân kỳ và hệ hai thấukính đồng trục
- Dựng được ảnh của một vậtthật tạo bởi thấu kính
- Vận dụng các công thức vềthấu kính để giải được ccác bàitập đơn giản
- Vẽ được ảnh của vật thật tạobởi kính lúp, kính hiển vi, kínhthiên văn và giải thích tác dụngtăng góc trông ảnh của mỗi loạikính
- Xác định được tiêu cự củathấu kính phân kì bằng thựcnghiệm
Không yêu cầuhọc sinh giải bàitập về vật ảo
2.2 Quy trình thiết kế bài học với sự hỗ trợ của phần mềm Physics 2.1
Trang 392.2.1 Xác định mục tiêu của bài dạy học
Mục tiêu bài học là những gì HS cần phải hiểu rõ, phải nắm vững và đạtđược sau mỗi bài học về cả ba lĩnh vực kiến thức, kĩ năng, tình cảm và thái
để tìm hiểu nội dung của mỗi mục trong bài và cái đích cần đạt tới của mỗimục Căn cứ vào hệ thống câu hỏi và bài tập, nêu các kết luận cần xây dựngcủa bài và các câu hỏi đề xuất vấn đề tương ứng Trên cơ sở đó xác định đíchcần đạt tới của cả bài về kiến thức, kĩ năng, thái độ Mục tiêu ở đây là mục tiêuhọc tập chứ không phải là mục tiêu giảng dạy nghĩa là muốn nhấn mạnh kếtquả cuối cùng của bài học là ở phía HS chứ không phải ở phía GV [21]
2.2.2 Lựa chọn kiến thức cơ bản, trọng tâm và sắp xếp theo một cấu trúc
Trang 40hiểu biết khái quát toàn bộ chương trình và mối liên hệ hữu cơ giữa chúng đểthấy tất cả các mối liên quan và sự kế tiếp Do đó mới xác định đúng đắnnhững nội dung cần đi sâu, cần bổ sung vào hoặc giảm bớt đồng thời còn phảihết sức quan tâm đến trình độ HS, cần tham khảo thêm các tài liệu, sách báo,các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
Trong kiến thức cơ bản của bài dạy học, có những nội dung then chốt,trọng tâm Nội dung này có thể nằm gọn trong một, hai mục của bài, nhưngcũng có thể nằm xen kẽ ở tất cả các mục
Khi chọn lựa kiến thức cơ bản, cần tham khảo phần tóm tắt kiến thức củatừng chương, từng bài và hệ thống câu hỏi, bài tập cuối mỗi bài
2.2.3 Xác định các phương pháp dạy học
Việc xác định các PPDH có vị trí rất quan trọng trong thiết kế bài dạyhọc Để lựa chọn PPDH thích hợp cần căn cứ vào mục tiêu, nội dung kiếnthức của bài dạy, điều kiện vật chất của việc dạy học (đặc điểm, số lượng HS,tài liệu, phương tiện, thiết bị dạy học), thời gian học tập và khả năng học tậpcủa HS cũng như năng lực, thói quen, kinh nghiệm bản thân của người GV.Tuy nhiên, trong dạy học không chỉ sử dụng một PP duy nhất mà phải kết hợphợp lí nhiều PPDH khác nhau, đặc biệt tăng cường sử dụng các PPDH tíchcực nhằm phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo trongHĐNT của HS, từ đó nâng cao chất lượng dạy học
2.2.4 Chuẩn bị các thí nghiệm mô phỏng trên phần mềm Physics
Các thí nghiệm mô phỏng được thiết kế trên phần mềm Physics 2.1 cóthể được sử dụng nhằm tích cực hóa HĐNT của HS: sử dụng thí nghiệm đểtạo tình huống gây hứng thú học tập, minh họa cho các hoạt động của GV và
HS trên lớp; biểu diễn, mô phỏng về những quá trình, hiện tượng xảy ra trongthực tế để kích thích sự yêu thích môn học, lòng ham hiểu biết, tìm tòi, khámphá của HS; rèn luyện kỹ năng thí nghiệm và hình thành năng lực giải bài tậpvật lý bằng TNMP đơn giản cho HS Vì thế để thiết kế bài học tốt thì việcthiết kế các TNMP là rất quan trọng Sau khi thiết kế TNMP, GV nên biểu