- Đề xuất được một số giải pháp quản lý, phát triển đội ngũ giảng viênTrường Cao đẳng Múa Việt Nam trong phạm vi nhà trường.. Các luận văn trên nêu được những yếu kém chung, những khó kh
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của quá trình học tập tại trường Đại học Vinhvới sự giảng dạy và giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo cũng như sự nỗ lựchọc hỏi của bản thân Bên cạnh đó là sự tổng hợp quá trình công tác tạiTrường Cao đẳng Múa Việt Nam
Với tình cảm chân thành, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất đếnPGS.TS Nguyễn Thị Hường - Cán bộ hướng dẫn khoa học - đã hết lònghướng dẫn, chỉ bảo những kiến thức và kinh nghiệm quí báu để giúp tác giảthực hiện đề tài này
Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo, các khoa, phòngTrường Đại học Vinh đã tham gia giảng dạy, quản lý và giúp đỡ tác giả trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, các phòng, khoa chuyên mônTrường Cao đẳng Múa Việt Nam đã cung cấp số liệu, cung cấp thông tin,đóng góp ý kiến, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tác giả hoàn thành đượcLuận văn
Trân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ, độngviên, khích lệ tinh thần để tác giả yên tâm trong suốt thời gian qua
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng do khả năng có hạn và kinhnghiệm thực tế còn ít nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giảrất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung của các thầy cô giáo vàcác bạn đồng nghiệp để Luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Lê Hoàng Phi Long
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Đóng góp của đề tài 4
8 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 5
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 5
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.2.1 Giảng viên 8
1.2.2 Đội ngũ, đội ngũ giảng viên 9
1.2.3 Phát triển, phát triển đội ngũ giảng viên 9
1.2.4 Giải pháp, giải pháp phát triển đội ngũ GV 12
1.3 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN 15
1.4 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA ĐNGV TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 16
1.4.1 Mục đích lao động sư phạm 16
1.4.2 Đối tượng lao động sư phạm của ĐNGV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 17
1.4.3 Công cụ lao động sư phạm của ĐNGV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 18
1.4.4 Điều kiện không gian, thời gian lao động sư phạm của GV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 19
1.4.5 Đặc điểm lao động sư phạm của ĐNGV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 21
Trang 41.5 NHỮNG YÊU CẦU VỀ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM ĐỐI VỚI ĐNGV TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT
NAM 23
1.6 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GV 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 33
CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 33
2.1 TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 33
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 33
2.1.2 Nhiệm vụ của Trường Cao đẳng Múa Việt Nam: 35
2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của trường 36
2.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 38
2.2.1 Thực trạng về số lượng 39
2.2.2 Cơ cấu của đội ngũ giảng viên 43
2.2.3 Thực trạng về chất lượng ĐNGV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam 46
ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐNGV TRƯỜNG CĐ MÚA VIỆT NAM 49
2.3 THỰC TRẠNG VIỆC PHÁT TRIỂN ĐNGV TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 51
2.3.1 Thực trạng về công tác tuyển dụng 52
2.3.2 Thực trạng về bố trí, sử dụng 53
2.3.3 Thực trạng về công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 54
2.3.4 Thực trạng về việc xây dựng và sử dụng đội ngũ giảng viên là những chuyên gia đầu ngành 56
2.3.5 Thực trạng về việc đánh giá giảng viên và tiêu chí kiểm định chất lượng 57
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG 58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 62
Trang 5MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO
ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 62
3.1 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG GIẢI PHÁP 62
3.1.1 Tính thực tiễn 62
3.1.2 Tính khả thi 62
3.1.3 Tính đồng bộ và thống nhất 63
3.1.4 Tính kế thừa 63
3.2 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM 64
3.2.1 Xác định nhu cầu về đội ngũ giảng viên và lập kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên phù hợp với mục tiêu phát triển 64
3.2.2 Hoàn thiện các cơ chế quản lý, các chính sách về tuyển dụng, đào tạo – bồi dưỡng đội ngũ giảng viên 69
3.2.3 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học trong đội ngũ giảng viên 78
3.2.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đội ngũ giảng viên 80
3.2.5 Đổi mới công tác đánh giá giảng viên 82
3.3 KHẢO SÁT TÍNH CẦN THIẾT VÀ TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC BIỆN PHÁP 91
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 95
1 Kết luận: 95
2 Kiến nghị: 98
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Việt Nam đang trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH –HĐH), tiến đến hội nhập khu vực và thế giới Trong xu thế hội nhập và pháttriển như hiện nay, Việt Nam đang chuyển sang một giai đoạn phát triển mớivới nhiều thời cơ và thách thức Việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng đểđáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội là một nhu cầu cấp thiết Đối với lĩnhvực giáo dục và đào tạo thì yếu tố chất lượng càng phải được coi trọng bởiđấy là yếu tố quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho sựnghiệp CNH - HĐH đất nước Tuy nhiên, so với đòi hỏi của sự nghiệp CNH -HĐH đất nước thì giáo dục Việt Nam còn rất nhiều bất cập Nói chung, giáodục chưa đáp ứng được về số lượng và đặc biệt là chất lượng Sản phẩm đàotạo chưa phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Sự bất cập này cónhiều nguyên nhân Trước hết là đội ngũ giảng viên thiếu về số lượng và yếu
về năng lực Các cơ chế, chính sách, trong đó có chính sách về tiền lương vàđiều kiện làm việc chưa tạo ra động lực đủ mạnh để thu hút đội ngũ giảngviên toàn tâm toàn ý với công việc giảng dạy và nghiên cứu Tiếp đến là sựyếu kém về cơ sở hạ tầng của các trường, sự thiếu hụt về nguồn kinh phí Mộtnguyên nhân rất quan trọng nữa là sự yếu kém về năng lực quản lý điều hànhcủa hệ thống giáo dục do thiếu các thể chế phù hợp, thiếu đội ngũ cán bộ quản
lý và chuyên môn có trình độ cao
Trong "Chiến lược phát triển giáo dục 2009 - 2020", mười một giảipháp lớn đã được xác định, trong đó giải pháp "đổi mới quản lý giáo dục" và
"phát triển đội ngũ giảng viên" được coi là những giải pháp quan trọng nhằmthực hiên mục tiêu phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp đổi mới đất nước.Hơn thế nữa, để hoàn thành mục tiêu giáo dục mà Đảng và Nhà nước đề ra là:
Trang 7"Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, sứckhoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lựccủa công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [7,5] thì trướchết phải xây dựng được một đội ngũ các nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, có phẩm chất đạođức và lương tâm nghề nghiệp, có kĩ năng sư phạm tốt và cách quản lý tiêntiến Bởi trong một môi trường nhà trường thì lực lượng giáo viên luôn giữvai trò nòng cốt, có tính chất quyết định đến chất lượng đào tạo của Nhàtrường Do vậy, đối với các trường Cao đẳng, Đại học hiện nay việc xây dựngđược một đội ngũ giảng viên giỏi chuyên môn, có kĩ năng sư phạm, phẩmchất đạo đức tốt, yêu nghề là một vấn đề hết sức cấp thiết
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam là một trường đầu ngành trong lĩnhvực đào tạo diễn viên múa của cả nước với bề dày thành tích hơn 50 năm.Tuy nhiên trong thời kì hội nhập sâu rộng với thế giới và hoàn thiện nền kinh
tế thị trường của Việt Nam, dường như gánh nặng là một ngôi trường đầungành đang trở nên quá sức đối với trường Trước những thách thức mà nhàtrường sẽ phải vượt qua trong thời gian trước mắt và lâu dài thì vấn đề làm thếnào để phát triển được một đội ngũ giảng viên đáp ứng được nhu cầu là mộtthử thách hóc búa nhất
Trong nhiều năm qua, nhà trường đã cố gắng phát triển lực lượng độingũ giảng viên để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong công tác đào tạonguồn nhân lực Trong quá trình phát triển đã đạt được những thành côngnhưng bên cạnh đó cũng có những hạn chế nhất định Việc xây dựng, pháttriển đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng là vấn đềquan trọng có tính chiến lược của nhà trường trong giai đoạn hiện nay và
Trang 8trong tương lai Từ các lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam".
2 Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn đề xuất các giải pháp pháttriển đội ngũ giảng viên nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ởTrường Cao đẳng Múa Việt Nam
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu.
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Công tác phát triển đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng MúaViệt Nam
4 Giả thuyết khoa học.
Đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam sẽ đảm bảo về sốlượng và chất lượng nếu đề xuất và thực hiện được các giải pháp phát triểnđội ngũ có tính khoa học và tính khả thi, phù hợp với điều kiện thực tiễn củanhà trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên và công tác quản
lý phát triển đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
5.3 Đề xuất một số giải pháp cơ bản về quản lý phát triển đội ngũgiảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu.
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp hệ thống hóa các tài liệu có liên quan để xác lập cơ
sở thực tiễn của đề tài
Trang 96.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
a) Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến nhằm thu thập sốliệu, thông tin về thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giảng viên và các biệnpháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên
b) Phương pháp phỏng vấn: đối tượng phỏng vấn là HT, PHT, Trưởngkhoa, Phó trưởng khoa, Trưởng phòng đào tạo, Trưởng các phòng ban có liênquan
c) Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
6.3 Phương pháp toán thống kê:
Nhằm xử lý số liệu thu được
7 Đóng góp của đề tài.
- Tổng kết công tác quản lý và phát triển đội ngũ giảng viên
- Chỉ ra những hướng đi đúng, những thành công và những hạn chế,những quan điểm chưa nhất quán trong quản lý phát triển đội ngũ giảng viêncủa Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
- Đề xuất được một số giải pháp quản lý, phát triển đội ngũ giảng viênTrường Cao đẳng Múa Việt Nam trong phạm vi nhà trường
8 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận - khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụlục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương 3: Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam.
Trang 10Đầu những năm 50 của thế kỷ XX trong hàng loạt những công trìnhnghiên cứu có tính hàn lâm của các nhà khoa học Liên Xô cũ, đã xuất hiệncác luận văn tiến sĩ, phó tiến sĩ về những khía cạnh khác nhau của quản lýgiáo dục Trong số những công trình đó, có những công trình nghiên cứu sâusắc về “thanh tra giáo dục”, “kế hoạch hoá giáo dục” Năm 1956, cuốn “Quản
lý nhà trường” của A.Pôpốp – nhà hoạt động sư phạm và quản lý giáo dục của
Trang 11Liên Xô cũ - ra đời được coi như một tài liệu hoàn chỉnh đầu tiên về quản lýgiáo dục Tiếp những năm sau đó, nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đãcho ra đời những tài liệu vừa có tính khoa học, vừa có tính thực tiễn về quản
lý hai quá trình sư phạm chủ yếu diễn ra trong nhà trường: quản lý quá trìnhdạy học và quản lý giáo dục Các tác giả đã dày công nghiên cứu, tổng kếtnhững thành tựu nghiên cứu những vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhàtrường như: Những cơ sở lý luận của quản lý nhà trường (1983), Những cơ sởcủa quản lý nội bộ trường học (1987), Kế hoạch hoá và quản lý giáo dục vi
mô (1990), Quản lý giáo dục – lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn (1996).Nghề hiệu trưởng – một triển vọng thực tiễn được phản ánh (1991) … đượcxuất bản Và ngày nay Quản lý giáo dục đã được công nhận là một nghề và làmột bộ môn về khoa học quản lý
Kế thừa và phát huy các giá trị lý luận và thực tiễn những thành tựunghiên cứu về quản lý giáo dục của một số nước trên thế giới Trong vònghơn một thập kỷ qua, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu mớ i vànhiều bài viết bàn về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường của các tác giảtiêu biểu được đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành, nhiều cuộc hội thảoquốc gia bàn về đổi mới quản lý giáo dục được tổ chức
Ở Việt Nam, một số nhà giáo dục như: GS Nguyễn Lân, GS PhạmMinh Hạc, GS Nguyễn Ngọc Quang, Vũ Ngọc Hải, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,Đặng Quốc Bảo … đã có những ý kiến và đi sâu vào nghiên cứu một cách có
hệ thống những cơ sở lý luận chung của vấn đề quản lý giáo dục, quản lý nhàtrường, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trong nhà trường Đây là nhữngcông trình nghiên cứu rất cần thiết cho sự phát triển khoa học quản lý giáodục và thực tiễn nhà trường
Nghiên cứu về việc quản lý các trường Nghệ thuật có các luận văn củacác tác giả:
Trang 12+ Các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo Trường Trunghọc Văn hoá Nghệ thuật Tỉnh Trà Vinh – Trần Thị Ngọc Thanh, luận vănThạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục.
+ Quản lý quá trình đào tạo của hiệu trưởng Trường Trung cấp Văn hoáNghệ thuật Hải Phòng – Nguyễn Minh Tuấn, luận văn Thạc sỹ chuyên ngànhQuản lý giáo dục
+ Một số biện pháp quản lý đào tạo giáo viên chuyên ngành mỹ thuật ởTrường Cao đẳng Sư phạm Trung ương – Vũ Dương Công
+ Biện pháp quản lý hoạt động dạy - học của phòng đào tạo - nghiêncứu khoa học Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật Đắk Lắk – NguyễnTường
Các luận văn trên nêu được những yếu kém chung, những khó khăn,bất cập một cách cụ thể trong việc quản lý chung của nhà trường, nhưng chưa
có đề tài nào đề cập đến việc quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trong môitrường nghệ thuật chuyên nghiệp như Nghệ thuật múa
Về lĩnh vực đào tạo nghệ thuật nói chung và đào tạo múa nói riêng, đã
có nhiều tác giả nghiên cứu chuyên sâu về công tác quản lý chất lượng đàotạo nghệ thuật duới nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau: đề tài "Các giảipháp tăng cường quản lý đào tạo tại Trường Múa Việt Nam" của NGƯT VũDương Dũng; "Múa trong Lễ hội" của NSƯT Trịnh Quốc Minh song đốivới việc phát triển đội ngũ giảng viên trong đào tạo nghệ thuật múa thì từtrước đến nay vẫn chưa có đề tài nào đề cập đến Vì những lý do như vậy vàtrên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng quí báu của các đề tài
đi trước, tác giả lựa chọn đề tài: "Một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
của mình
Trang 131.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI.
1.2.1 Giảng viên.
Theo Từ điển Giáo dục học, giảng viên là “chức danh nghề nghiệp củanhà giáo trong các cơ sở giáo dục Đại học và sau Đại học, dưới giáo sư, phógiáo sư và giảng viên chính” [36,103]
Điều 79 Luật Giáo dục năm 2009 ghi rõ: “Nhà giáo của trường Caođẳng, trường Đại học được tuyển dụng theo phương thức ưu tiên đối với sinhviên tốt nghiệp loại khá, loại giỏi, có phẩm chất tốt và người có trình độ Đạihọc, trình độ Thạc sĩ, trình độ Tiến sĩ, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, cónguyện vọng trở thành nhà giáo Trước khi được giao nhiệm vụ giảng dạy,giảng viên Cao đẳng, Đại học phải được bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm”
Như vậy, trước khi trở thành nhà giáo ở bậc CĐ, ĐH họ nhất định phải
là những người có trình độ đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ về ngành nghề
mà họ sẽ dạy Thuật ngữ "Giảng viên" được hiểu là chức danh nghề nghiệpcủa những nhà giáo giảng dạy ở các cơ sở ĐH và sau ĐH Họ là những ngườicông chức, viên chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy, đào tạo ở bậc
ĐH, CĐ thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường ĐH hoặc CĐ
Có thể nói GV là nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục TheoJacques Delors: Giáo viên giữ vai trò cốt tử trong việc chuẩn bị cho thế hệ trẻkhông những đối mặt với tương lai, với một niềm tin mà còn xây dựng tươnglai với quyết tâm và trách nhiệm Do vậy, GV phải có đủ những tiêu chuẩnnhư: phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt, đạt trình độ chuẩn được đào tạo vềchuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khoẻ theo yêu cầu nghề nghiệp và có lý lịchbản thân rõ ràng
Người GV luôn tự học tập, bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuẩn đãđược đào tạo, phù hợp với ngành đào tạo và trình độ đào tạo được phân công
Trang 14đảm nhiệm Thường xuyên cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ,phương pháp giảng dạy và nâng cao hiểu biết.
1.2.2 Đội ngũ, đội ngũ giảng viên.
Từ điển tiếng Việt định nghĩa "đội ngũ" có nghĩa: "Là tập hợp gồm một
số đông người cùng chức năng, nhiệm vụ hoặc nghề nghiệp hợp thành lựclượng hoạt động trong một hệ thống (tổ chức) nhất định [35,339]
Trong lĩnh vực giáo dục, thuật ngữ đội ngũ được sử dụng để chỉ nhữngtập hợp người được phân biệt với nhau về chức năng trong hệ thống giáo dục
Có rất nhiều cái tên gắn với khái niệm "đội ngũ": đội ngũ cán bộ, đội ngũgiảng viên, đội ngũ tri thức Tựu chung lại ta thấy đội ngũ của một tổ chứcchính là nguồn nhân lực trong tổ chức đó
Từ cách diễn đạt về khái niệm "đội ngũ" ở trên có thể suy rộng ra kháiniệm "Đội ngũ giảng viên": đó là tập hợp những GV được tổ chức thành mộtlực lượng có cùng chung một nhiệm vụ là thực hiện các mục tiêu giáo dục đặt
ra Khi xem xét trên quan điểm hệ thống thì ĐNGV không phải là một tậphợp rời rạc mà luôn bị ràng buộc bởi những cơ chế nhất định nào đó
1.2.3 Phát triển, phát triển đội ngũ giảng viên.
1.2.3.1 Phát triển.
Thuật ngữ phát triển theo nghĩa Triết học là biến đổi hoặc làm cho biếnđổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp Lýluận của phép biện chứng duy vật khẳng định: Mọi sự vật, hiện tượng khôngphải chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luônbiến đổi, chuyển hoá từ sự vật hiện tượng này đến sự vật, hiện tượng khác, cáimới kết thúc cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trìnhphát triển tiến lên mãi mãi Nguyên nhân của sự phát triển là sự liên hệ tácđộng qua lại của các mặt đối lập vốn có bên trong các sự vật, hiện tượng
Trang 15Hình thái cách thức của sự phát triển đi từ những biến đổi về lượng đếnnhững biến đổi, chuyển hoá về chất và ngược lại.
Con đường, xu hướng của sự phát triển không theo đường thẳng, cũngkhông theo đường tròn khép kín mà theo đường xoáy ốc, tạo thành xu thếphát triển, tiến lên từ từ, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ kémhoàn thiện đến ngày càng hoàn thiện hơn
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, thuật ngữ “Phát triển” được sử dụngkhá rộng rãi với cách hiểu đơn giản là phát triển kinh tế - sau đó, khái niệmnày được bổ sung thêm về nội hàm và được hiểu một cách toàn diện hơn.Ngày nay khái niệm phát triển được sử dụng để chỉ cả ba mục tiêu cơ bản củanhân loại: Phát triển con người toàn diện, bảo vệ môi trường, tạo hoà bình và
ổn định chính trị Phát triển là một quá trình nội tại, là bước chuyển hoá từthấp đến cao, trong cái thấp đã chứa đựng dưới dạng tiềm năng những khuynhhướng dẫn đến cái cao là cái thấp đã phát triển Phát triển là quá trình tạo ra
sự hoàn thiện của cả tự nhiên và xã hội Phát triển có thể là một quá trình hiệnthực nhưng cũng có thể là một tiềm năng của sự vật, hiện tượng
1.2.3.2 Phát triển đội ngũ giảng viên.
Phát triển đội ngũ giảng viên là tạo ra một đội ngũ (một tổ chức) giảngviên cho một trường CĐ, ĐH đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, có trình
độ, được đào tạo đúng quy định, có phẩm chất đạo đức, có năng lực trong cáchoạt động dạy học và giáo dục sinh viên Trên cơ sở đó, đội ngũ này đảm bảothực hiện tốt các yêu cầu của chương trình đào tạo của giáo dục ĐH
Phát triển ĐNGV là nhiệm vụ trọng tâm và ưu tiên hàng đầu trong quản
lý phát triển nhà trường Mục tiêu của phát triển ĐNGV là nhằm phát triểntoàn diện người GV trong hoạt động nghề nghiệp Ở cách tiếp cận hẹp trongmôi trường giáo dục, cụ thể là trong QLNT thì khái niệm phát triển đội ngũ
Trang 16giảng viên được hiểu là chăm lo cho ĐNGV đủ về số lượng, mạnh về chấtlượng và phù hợp về cơ cấu.
- Phát triển ĐNGV về số lượng:
Thực chất là xây dựng một ĐNGV đủ về số lượng, chuyên sâu về trình
độ chuyên môn nghiệp vụ tiến đến giảm tỉ lệ sinh viên/giảng viên, tăng tỉ lệ
GV cao đẳng, đại học có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ
- Phát triển ĐNGV về chất lượng:
Phát triển ĐNGV về chất lượng tức là đề cập đến phẩm chất, năng lựccũng như trình độ chuyên môn cua GV Trước hết, khả năng trình độ củangười GV thể hiện ở trình độ qua đào tạo đã đạt chuẩn hay không đạt chuẩntheo qui định, đã được đào tạo chính qui hay không chính qui, cũng như chấtlượng và uy tín của cơ sở đào tạo ra GV Trong quá trình lên lớp, ngoài việcnắm vững nội dung bài giảng, người GV còn phải biết sử dụng kết hợp côngnghệ dạy học mới để thiết kế bài giảng một cách khoa học, có chiều sâu, gắnvới thực tiễn
- Phát triển ĐNGV đồng bộ về cơ cấu:
Cơ cấu ĐNGV theo chuyên môn: Là tổng thể về tỉ trọng GV của mônhọc theo ngành học ở cấp tổ, bộ môn, cấp khoa Nếu tỉ lệ này vừa đủ, phù hợpvới định mức qui định thì ta có được một cơ cấu chuyên môn hợp lý Nếuthiếu thì chúng ta phải điều chỉnh cho phù hợp để đạt hiệu quả cảu các hoạtđộng giáo dục và đào tạo
+ Cơ cấu ĐNGV theo trình độ đào tạo: là sự phân dịnh GV theo
tỉ trọng trình độ đào tạo như: THCN, CĐ, ĐH, SĐH để sắp xếp bố trí GV chophù hợp với cơ cấu và có kế hoạch đào tạo nâng chuẩn theo yêu cầu chungcủa mạng lưới các trường CĐ, ĐH
+ Cơ cấu ĐNGV theo độ tuổi: xác định cơ cấu đội ngũ theo từngnhóm tuổi để phân tích thực trạng cũng như chiều hướng phát triển của nhà
Trang 17trường từ đó làm tiền đề cho việc tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm, đào tạo và bổsung bộ máy tổ chức phù hợp với mục tiêu phát triển của nhà trường.
+ Cơ cấu ĐNGV theo giới tính: thông thường tỉ lệ ĐNGV là nữluôn chiếm tỉ lệ cao hơn so với nam giới Yếu tố này tác động không nhỏ đếnchất lượng đội ngũ nói chung (vì nữ giới nghỉ dạy trong thời gian thai sản,con ốm đau ) Do vậy, việc phân tích cơ cấu giới tính về đội ngũ giúp chongười quản lý có các biện pháp phù hợp trong việc nâng cao chất lượng côngviệc của từng cá nhân và của toàn đội ngũ
1.2.4 Giải pháp, giải pháp phát triển đội ngũ GV.
+ Tính hiện thực: giải pháp phải giải quyết được vấn đề đặt ra
+ Tính hiệu quả: giải pháp phải giải quyết được vấn đề đặt ra và khônglàm nảy sinh những vấn đề mới phức tạp hơn
Trang 18+ Tính khả thi: giải pháp không bị các yếu tố chi phối, nó ràng buộc ởgóc độ cao.
- Xúc tiến việc thiết lập một hệ thống liên tục phát triển ĐNGV và độingũ cán bộ hỗ trợ chuyên môn trong các tổ chức giáo dục Quá trình phát triển
sẽ phù hợp với vai trò và trách nhiệm của nhà trường Sẽ có một hệ thống tiếptục theo dõi và đánh giá quá trình phát triển và tiến độ
- Phát triển số lượng các công trình nghiên cứu để những nghiên cứu đótrở thành một cơ chế tạo nên lực lượng ĐNGV mới Sẽ thiết lập một hệ thốngthu hút những người có năng lực, nhiệt huyết và khả năng tham gia đội ngũgiảng dạy
- Xây dựng một hệ thống kết nối giảng viên và giáo viên ở các cấp liênngành và liên trường, trong nước và ngoài nước Một mạng lưới như vậy sẽtạo nên sự hợp tác, hỗ trợ và trao đổi lẫn nhau về các lĩnh vực dạy, học,nghiên cứu, dịch vụ giáo dục và thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau để đemlại lợi ích cho xã hội
Trang 19- Hệ thống bổ nhiệm các vị trí chuyên môn sẽ được đa dạng hóa chophù hợp với nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục về các lĩnh vực dạy, học, dịch
vụ giáo dục Thúc đẩy các vấn đề về thẩm mỹ và văn hóa Những vấn đề nàycũng sẽ là cơ chế hỗ trợ, khuyến khích và tôn trọng đội ngũ quản lý, ĐNGV
và cán bộ, những người đã công hiến cho nhà trường
- Đặt ra các tiêu chí cho những loại hình trách nhiệm khác nhau củaĐNGV cũng như phân loại các chức năng khác nhau vì mục đích kiểm định
Với tư cách là những hoạt động cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ xácđịnh trong công tác phát triển đội ngũ, các giải pháp phát triển đội ngũ giảngviên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam có khả năng tác động để làm thay đổi
về số lượng, cơ cấu và chất lượng của đội ngũ giảng viên Chẳng hạn với nộidung giáo dục bồi dưỡng của công tác phát triển đội ngũ, hàng loạt các hoạtđộng có thể được triển khai để nâng cao năng lực chuyên môn và phẩm chấtnghề nghiệp cho các giảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam Ví dụ: xâydựng và thực thi chương trình bồi dưỡng tại chỗ, đánh giá khả năng và nhucầu đào tạo, bồi dưỡng của các giảng viên cơ hữu trong nhà trường v.v
Có thể nhận thấy hệ thống các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viênTrường Cao đẳng Múa Việt Nam rất phong phú và đa dạng Việc xác định cụthể các giải pháp và sử dụng các giải pháp này tùy thuộc vào điều kiện của tổchức và thực trạng của đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
Các giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Múa ViệtNam sẽ được xác định theo phức hợp các định hướng đã phân tích ở trên.Từphân tích trên, chúng tôi quan niệm: giải pháp phát triển ĐNGV Trường Caođẳng Múa Việt Nam là các hoạt động cụ thể được chủ thể quản lý, sử dụng đểtác động đến các thành tố cấu trúc của ĐNGV nhằm giải quyết những vấn đềtồn tại của đội ngũ này, phát triển nó hướng đến nâng cao hiệu quả trong côngtác quản lý và phát triển ĐNGV hiện nay
Trang 201.3 TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN
Đối với một trường CĐ, ĐH thì vấn đề ĐNGV đóng vai trò vô cùngquan trọng, quyết định trực tiếp đến chất lượng đào tạo của nhà trường Dovậy, việc phát triển ĐNGV cũng có một vai trò đặc biệt quan trọng Trongchiến lược giáo dục 2000 - 2010 đã xác định rõ mục tiêu: "Phát triển đội ngũnhà giáo đảm bảo về số lượng, hợp lý về cơ cấu, chuẩn về lượng, đáp ứng nhucầu vừa tăng qui mô, vừa nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục" Với vai tròđặc biệt của toàn đội ngũ thì cụ thể đối với mỗi cá nhân GV, vai trò của họ rất
đa dạng: họ là người thiết kế bài giảng sao cho phù hợp với mục tiêu đào tạocủa nhà trường cũng như người học; họ là nhà tổ chức và quản lý lớp học, tạođộng lực học tập trong sinh viên; là nguồn động viên, là người dẫn đườngđáng tin cậy trong việc khơi dậy nhận thức học tập đúng đắn, tạo tính tích cựcchủ động, sáng tạo trong sinh viên; và cuối cùng, với vai trò là người đánhgiá, họ chính là những người "cầm cân nảy mực" thật sự tin cậy trong việcđánh giá thành quả học tập của sinh viên Vì vậy, việc quan tâm chăm lo đếnviệc phát triển đội ngũ này cần được ưu tiên hàng đầu, xác định là nhiệm vụtrọng tâm trong chiến lược phát triển toàn diện của trường
Mục tiêu cơ bản của công tác phát triển đội ngũ giảng viên chủ yếu tậptrung ở những yếu tố sau:
+ Xây dựng một đội ngũ đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,vững vàng về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức và tưtưởng vững vàng, yêu nghề, tận tuỵ Tạo mọi điều kiện vật chất cũng như tinhthần để ĐNGV thực hiện tốt nhất, hiệu quả nhất nhiệm vụ được giao, cốnghiến hết sức sáng tạo vì mục tiêu chung của nhà trường
+ Phải gắn việc phát triển ĐNGV với công tác qui hoạch, tuyển chọn,đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ thường xuyên, liên tục nhằm mục đích
Trang 21tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của người GV trong hoạtđộng nghề nghiệp.
+ Mục tiêu phát triển ĐNGV không chỉ đơn thuần là nâng cao trình độchuyên môn, phát huy khả năng sáng tạo trong mỗi cá nhân mà cần phải chútrọng đến việc thăng thưởng, động viên kịp thời, quan tâm đến nhu cầu cần có
ở mỗi GV để khiến họ gắn bó trung thành và phấn đấu hết mình vì mục tiêuchung của tổ chức
Một khi người thầy không là chủ thể tích cực, quan trọng của quá trìnhđổi mới thì đổi mới giáo dục khó có thể thành công Hiện trạng đội ĐNGVbộc lộ những bất cập về số lượng, cơ cấu, trình độ, phương pháp giảng dạy;một số bộ phận giáo viên chưa có ý thức đầy đủ về việc nâng cao trình độchuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội
Vì vậy, việc thực hiện các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượngĐNGV là hết sức quan trọng và cấp bách, đặc biệt là ĐNGV trẻ Nhà nướccần có một chương trình quốc gia đào tạo và bồi dưỡng GV cả ở trong vàngoài nước Việc đào tạo và bồi dưỡng cần tập trung vào cả ba nội dung: nângcao tri thức, đổi mới phương pháp giảng dạy, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp
và nâng cao trách nhiệm xã hội Đặc biệt, coi trọng việc dạy cho sinh viêncách tiếp cận tri thức mới, các tự đề xuất và giải những bài toán khoa học vàthực tiễn, truyền thụ cho sinh viên khát vọng sáng tạo và vươn lên
1.4 ĐẶC ĐIỂM LAO ĐỘNG SƯ PHẠM CỦA ĐNGV TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM.
1.4.1 Mục đích lao động sư phạm.
Mục đích lao động sư phạm của ĐNGV Trường Cao đẳng Múa ViệtNam là nhằm giáo dục thế hệ trẻ, những cá nhân và tập thể yêu thích nghệthuật múa về hệ thống ngôn ngữ múa trong nước và nước ngoài; trở thànhnhững diễn viên múa có đầy đủ phẩm chất và năng lực chuyên môn mang tính
Trang 22đặc thù chuyên nghiệp về nghệ thuật múa Nói cách khác, lao động sư phạmcủa nhà trường góp phần "sáng tạo ra con người", "đào tạo người nghệ sỹ",góp phần tái sản xuất sức lao động xã hội, đào tạo và bồi dưỡng liên tục cácgiá trị nghệ thuật, bản sắc văn hóa nghệ thuật dân tộc cho đời sau.
Lao động sư phạm của ĐNGV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam là quátrình tác động qua lại giữa người dạy và người học Trong đó, người dạy làngười có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên ngành về hệ thống nghệthuật múa, được xã hội giao cho nhiệm vụ giáo dục, đào tạo nghệ thuật múacho thế hệ trẻ Còn người học có nhiệm vụ học tập, tiếp thu những giá trị bảnsắc văn hóa - nghệ thuật múa của xã hội loài người, rèn luyện hệ thống kĩnăng kĩ xảo để có thể lao động nhằm thỏa mãn các tiêu chí mà mục đích giáodục và xã hội đề ra
1.4.2 Đối tượng lao động sư phạm của ĐNGV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam.
Đối tượng lao động sư phạm của GV nhà trường không phải là nhữngvật vô tri, vô giác mà là những con người, đó là học sinh - sinh viên TrườngCao đẳng Múa Việt Nam, một thế hệ trẻ được đào tạo để trưởng thành cùngnền nghệ thuật múa Việt Nam
Đối tượng lao động sư phạm của GV rất đa dạng, phức tạp, liên quanđến nhiều thành phần học tập Đối với trường nghệ thuật như Trường Caođẳng Múa Việt Nam để có được nhiều tài năng trong lĩnh vực nghệ thuật thìcông tác tuyển chọn đối tượng có năng khiếu là khâu quan trọng mang tínhquyết định đến chất lượng đào tạo và việc thực hiện mục tiêu đào tạo của nhàtrường Đối tượng được tuyển chọn phải đạt được các tiêu chí xác định năngkhiếu như: thính giác âm nhạc; tiết tấu nhịp điệu âm nhạc; trí nhớ âm nhạc;cảm xúc âm nhạc; năng khiếu múa; khả năng nhận thức trực quan; khả năng
Trang 23mô phỏng; nhạc cảm và phản xạ múa Bên cạnh đó việc phân chia các hệ đàotạo khác nhau cũng yêu cầu phải có những đối tượng khác nhau.
Học sinh nhà trường không chỉ chịu sự tác động của hoạt động dạy của
GV mà còn phải chịu rất nhiều các nhân tố khác từ đó có thể tác động đếnviệc hình thành nên nhân cách, phong cách nghệ sỹ và quan trọng nhất là hìnhthành tài năng nghệ thuật múa như: học hỏi bạn bè hoàn thiện hệ thống kĩnăng - kĩ xảo trong cách thực hiện các động tác múa, tham gia học ngoại khóa
bổ sung chất liệu múa cho bản thân, học hỏi nghệ thuật múa các nước quaphương tiện thông tin đại chúng
Nghệ thuật múa là một loại hình lao động đặc thù của sự kết hợp giữalao động trí óc và lao động thể lực Trong quá trình học tập tại trường, giáoviên - chủ thể sư phạm - truyền đạt tất cả hệ thống ngôn ngữ múa kể cả múatrong nước cũng như múa nước ngoài cho học sinh - khách thể - tiếp nhận.Đòi hỏi người học phải có năng khiếu bẩm sinh cùng với quá trình học tập,trau dồi công phu, lao động nghệ thuật một cách nghiêm túc Chính điều đó
đã hình thành tính tự giác và tinh thần động cơ học tập nghiêm túc của sinhviên Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
1.4.3 Công cụ lao động sư phạm của ĐNGV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam.
Công cụ lao động sư phạm của GV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam lànhững hệ thống tri thức về nghệ thuật múa nói chung và các hình thức múa,ngôn ngữ múa, chất liệu múa nói riêng; những kĩ năng, kĩ xảo được truyền đạt
và rèn luyện Bên cạnh đó, hình thành tổ chức các hoạt động biểu diễn và giaolưu nghệ thuật nhằm phát huy khả năng thực hành các tác phẩm múa theo yêucầu đào tạo của nhà trường
GV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam có công cụ lao động rất đặc biệt
đó chính là phẩm chất nghệ sỹ, sự am hiểu sâu sắc về nền nghệ thuật múa
Trang 24trong nước và nước ngoài Mặt khác, nhân cách, sự uy tín về nghề nghiệp khảnăng năng lực chuyên môn vững vàng của GV là một công cụ lao động pháthuy tác dụng mạnh mẽ với đối với sự hình thành nên người nghệ sỹ và nhâncách ở học sinh.
Để có được những công cụ lao động sư phạm mang tính hiệu quả, bảnthân ĐNGV nhà trường liên tục giao lưu - tiếp biến, cải tạo, chọn lọc tri thứcnghệ thuật, thiết thực, phù hợp với mục tiêu đào tạo nghệ thuật của trường,ĐNGV không ngừng nâng cao trình độ bản thân về chuyên môn nghiệp vụ,hoàn thiện nhân cách, đạo đức, liên tục sáng tạo Đặc biệt luôn tìm tòi cácphương pháp giảng dạy nghệ thuật hiện đại, kết hợp phong cách nghệ thuậtmúa đặc trưng của dân tộc một cách nhuần nhuyễn, sử dụng thành thạo cácphương tiện dạy học tiên tiến để truyền tải kiến thức cho học sinh bằng conđường ngắn nhất và hiệu quả nhất
1.4.4 Điều kiện không gian, thời gian lao động sư phạm của GV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam.
- Về không gian:
Nếu ĐNGV Khoa Văn hóa và Kiến thức cơ bản thực hiện quá trình laođộng sư phạm với không gian cố định tại lớp học và trực tiếp trên bục giảngthì sự khác biệt rõ nét nhất về không gian giảng dạy chính là ở ĐNGV cácKhoa chuyên môn Ngoài việc thực thiện quá trình lao động sư phạm tronglớp học là sàn tập (gồm có: GV Piano, GV âm nhạc Dân tộc, gương 1 chiều,gióng tập, thiết bị âm thanh ) thì đội ngũ này còn thực hiện quá trình LĐSP
ở nhiều trường không gian và nhiều môi trường khác nhau như: thực hiệncông tác sáng tác, dàn dựng cho học sinh sinh viên các tác phẩm thực hànhmúa, luyện tập trực tiếp tại địa điểm chỉ định (sàn tập - sân tập - sân vận động
- quảng trường ); Bên cạnh đó việc tổ chức đi xem biểu diễn nghệ thuật múatại các Nhà hát, tham quan các trường nghệ thuật có hệ đào tạo chuyên ngành
Trang 25múa, thực hiện công tác sáng tác và biểu diễn chương trình theo yêu cầu củacác cơ quan ban ngành có liên quan
- Về thời gian:
Theo qui chế Giáo dục và Đào tạo thì các GV đều có được sự phân bổtiết học theo đúng số tiết qui định tại yêu cầu của môn học, lên lớp đúng giờ
và hoàn thành số tiết trong một khoảng thời gian được qui định
Đối với ĐNGV Khoa Văn hóa và Kiến thức cơ bản thì thời gian thựchiện quá trình lao động sư phạm trực tiếp trên lớp học được tính bằng số tiếtvới qui định thời gian là 45 phút/01 tiết Đối với ĐNGV Khoa Chuyên môn,
vì là một môn học đặc thù Chuyên ngành nên thời gian giành cho việc thựchiện quá trình lao động sư phạm được kéo dài hơn là 90 phút/01 tiết Việc tổchức các hoạt động dạy học, tham dự các sinh hoạt chuyên môn và hànhchính, thực hiện các hoạt động của nhà trường cũng đều trong khoảng thờigian qui định này
Vì là một trường Chuyên ngành về nghệ thuật múa nên ĐNGV làmviệc ngoài qui chế gắn liền với thời gian làm việc để soạn bài, chấm bài, thămgia đình học sinh, đọc sách, tài liệu phần lớn nằm ở ĐNGV Khoa Văn hóa;Với ĐNGV Khoa Chuyên môn, ngoài thời gian thực hiện quá trình giảng dạytại sàn tập, công tác soạn bài, chấm bài được thực hiện ngay tại sàn tập, việcđánh giá học sinh được trực tiếp thông qua sự hoàn thành các động tác vớichất lượng được qui chuẩn theo yêu cầu của GV Bên cạnh đó, ĐNGVChuyên môn còn phải tham gia và thực hiện công tác sáng tác, biểu diễn theoyêu cầu của xã hội, các Cơ quan ban ngành, Chính phủ giao cho khi thựchiện các nhiệm vụ văn hóa của đất nước
Cả hai bộ phận thực hiện quá trình lao động sư phạm trong qui chế vàngoài qui chế này đều có tầm quan trọng của riêng nó, song chúng có liênquan mật thiết và thống nhất với nhau nhằm thực hiện mục đích của lao động
Trang 26sư phạm Đó là việc để học sinh được tiếp xúc nhiều hơn với điều kiện biểudiễn thực tế trên sân khấu cũng như các hoạt động biểu diễn tại những địađiểm yêu cầu, từng bước hoàn thiện khả năng biểu diễn nghệ thuật múa, có cơhội học hỏi mỗi khi thực hiện chương trình biểu diễn với những yêu cầu đặcbiệt về Chuyên môn, có cơ hội tiếp xúc với các Chuyên gia đầu ngành củanghệ thuật múa Việt Nam cũng như Thế giới.
1.4.5 Đặc điểm lao động sư phạm của ĐNGV Trường Cao đẳng Múa Việt Nam.
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam là một trường mang tính đặc thù vềđào tạo chuyên nghiệp nghệ thuật múa nên ĐNGV của trường cũng mangnhững nét rất riêng của ngành, nghề đào tạo
Hiện nay, cơ cấu của ĐNGV của trường phân theo lĩnh vực chuyênmôn được chia làm 4 khoa riêng biệt:
- Khoa Múa Nước ngoài: phụ trách giảng dạy các bộ môn như: Múa cổđiển Châu Âu, Múa tính cách, Múa hiện đại
- Khoa Múa Dân gian Dân tộc: giảng dạy các môn như: Múa Dân giancác dân tộc Việt Nam, Múa Sân khấu truyền thống
- Khoa Âm nhạc: được chia làm 2 bộ môn: Lý thuyết âm nhạc và khốithực hành đệm đàn GV lý thuyết âm nhạc chuyên về giảng dạy bộ môn lýthuyết - lý luận âm nhạc và môn ký xướng âm, lên lớp độc lập với tên mônhọc chuyên môn là Lý thuyết nhạc Khối GV thực hành đệm đàn luôn thựchiện công tác lên lớp cùng với GV chuyên môn giảng dạy Múa (giờ học múakhông thể thiếu phần âm nhạc đệm)
+ Khối GV phụ trách đệm đàn Piano sẽ lên lớp cùng GV múa Cổđiển Châu Âu, múa Tính cách, múa Sân khấu truyền thống và môn học:Phương pháp Huấn luyện múa Cổ điển Châu Âu, Kết cấu múa Cổ điển Châu
Âu, Nghệ thuật Biên đạo múa
Trang 27+ Khối GV phụ trách đệm nhạc cụ dân tộc sẽ lên lớp cùng với
GV khoa múa Dân gian Dân tộc và môn học: Phương pháp Huấn luyện múaDân gian Dân tộc, Kết cấu múa Dân gian Dân tộc
- Khoa Văn hoá và Kiến thức cơ bản: Giảng dạy tất cả các môn khoahọc cơ bản theo qui định của Bộ GD&ĐT ở tất cả các bậc học trong nhàtrường
Hàng năm, căn cứ vào chỉ tiêu tuyển sinh chính qui cũng như các chỉtiêu liên kết đào tạo với các cơ sở đào tạo khác sẽ có sự cân đối số lượng GVgiữa các khoa, nhất là GV múa và nhạc Số GV múa thường gắn liền với số
GV đệm đàn Do vậy, ở trường CĐMVN vẫn hay xảy ra tình trạng: thiếu GVmôn múa Cổ điển Châu Âu thì sẽ thiếu cả GV đệm đàn piano vì đây là 2 bộphận không thể tách rời
- Đối với GV chuyên môn múa: Hầu hết các GV được học qua cáctrường đào tạo chuyên sâu về nghệ thuật múa ở trong nước và ngoài nước.Trước khi trở thành GV đứng lớp, hầu hết đã từng làm diễn viên múa lâu nămhoặc đã có thời gian gắn bó với sân khấu Ngoài trình độ chuyên môn, GVmúa còn phải trải qua các lớp bồi dưỡng nâng cao như: nghiệp vụ sư phạm,nghiệp vụ ngành, tin học, ngoại ngữ, các lớp chuyên sâu về từng bộ môn múariêng biệt Tuy nhiên, do đặc thù của ngành đào tạo nghệ thuật múa nên số
GV chuyên môn là TS, Th.s rất ít so với các ngành khoa học xã hội khác
- Đối với GV khoa Âm nhạc: 100% GV đang công tác tại trường đềutốt nghiệp Học viện Âm nhạc Quốc gia, thuộc các chuyên ngành như: Lý luận
âm nhạc, Piano, nhạc cụ dân tộc (đàn tam, đàn tứ, đàn tam thập lục, đànbầu ) Do được đào tạo bài bản tại một môi trường chuyên nghiệp nên chấtlượng GV của khoa Âm nhạc rất đồng đều Điều này góp phần đảm bảo chấtlượng đào tạo của cả trường
Trang 28- Đối với khoa Văn hoá và Kiến thức cơ bản: cũng như GV của khoa
Âm nhạc, GV khoa Văn hoá và Kiến thức cơ bản đều đã tốt nghiệp ĐH SưPhạm, nhiều GV đã tốt nghiệp Thạc sỹ hoặc đang theo học Hiện nay tất cảcác GV đều được giảng dạy theo đúng chuyên ngành mà mình đã học ĐNGVcủa khoa Văn hóa và Kiến thức cơ bản hầu hết vẫn còn trẻ, nhiệt tình, năng nổ
và luôn đi đầu trong công tác đổi mới phương pháp dạy học cũng như ứngdụng công nghệ thông tin vào trong quá trình giảng dạy
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam do được xếp vào loại trường đào tạonghệ thuật chuyên biệt nên ĐNGV cơ hữu toàn trường đều được hưởng chế
độ phụ cấp nghề: hưởng 50% phụ cấp đứng lớp
Về trang phục lên lớp thì trừ các GV âm nhạc và văn hoá, với đặc thùnghề nghiệp là thao tác và vận dụng luật động cơ thể nên các GV giảng dạymôn múa sẽ mặc trang phục lên lớp theo qui định của từng bộ môn để phùhợp với môn học và dễ thực hiện công tác làm thị phạm cho HS (đặc thù mônhọc múa là giảng dạy bằng phương pháp truyền hình kết hợp với truyềnkhẩu)
1.5 NHỮNG YÊU CẦU VỀ PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM ĐỐI VỚI ĐNGV TRƯỜNG CAO ĐẲNG MÚA VIỆT NAM.
Chất lượng ĐNGV trong các trường nghệ thuật là những thuộc tính,bản chất, những tiêu chuẩn cần có để thực hiện nhiệm vụ đào tạo nghệ thuậtcho sinh viên theo chương trình, nội dung đã quy định Trong đó có nhữngthuộc tính, tiêu chuẩn đặc trưng nhất để phân biệt với những người xungquanh, trước hết là để phân biệt giảng viên Văn hóa và giảng viên Chuyênmôn cùng trường, cùng hệ thống giáo dục Chất lượng ĐNGV thể hiện thôngqua chất lượng của mỗi giảng viên
Người GV cần phải có các tiêu chuẩn sau:
Trang 29- Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt.
- Có bằng tốt nghiệp Đại học trở lên
- Đủ sức khỏe để theo nghề dạy học
- Có lý lịch bản thân rõ ràng
Trong các tiêu chuẩn cơ bản trên, thì yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, tưtưởng và trình độ chuyên môn là quan trọng nhất Yêu cầu về sức khỏe và lýlịch bản thân rõ ràng thì thực tiễn cho thấy, các trường đã giải quyết ngay từđầu khi tuyển dụng và hợp đồng thỉnh giảng Đủ sức khỏe và có lý lịch rõràng là tiêu chuẩn cơ bản, là tiêu chí chung của mọi giáo viên (khoa Văn hóa
và khoa Chuyên môn)
Phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt là yếu tố hàng đầu của người GV, bêncạnh đó việc xây dựng một thế giới quan về lòng yêu nước, giác ngộ lý tưởng
xã hội chủ nghĩa và lý tưởng nghề nghiệp trên nền tảng chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng, sự nghiệpgiáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện tốt nghĩa vụ của một công dântheo Hiến pháp và Pháp luật, yêu nghề, tôn trọng sinh viên, có nếp sống giản
-dị, khiêm tốn và chân thành cũng là những phẩm chất không thể thiếu đượcđược đối với một người GV đào tạo nghệ thuật
Năng lực về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm của người giảng viêngiảng dạy, thể hiện trước hết ở chỗ người giảng viên đó phải được đào tạotheo trình độ chuẩn "Tốt nghiệp Đại học, trên Đại học về chuyên ngành đượcđào tạo" để người giảng viên có đủ lượng kiến thức về môn học mà họ giảngdạy cho sinh viên
- Đối với GV Khoa chuyên môn múa: Ngoài kiến thức về hệ thống chấtliệu nghệ thuật múa, chất lượng người GV nghệ thuật múa còn thể hiện ởnghiệp vụ sư phạm, là tổng hợp về sự nắm vững và vận dụng linh hoạt nhữngkiến thức về Giáo dục học, Tâm lý học, Phương pháp dạy học bộ môn và
Trang 30những kinh nghiệm cuộc sống được rút ra trong quá trình giảng dạy, sưu tầm
và sinh sống ở mỗi vùng - miền Do đó, có năng lực về chuyên môn nghệthuật múa, có nghiệp vụ sư phạm theo chuẩn quy định là tiêu chuẩn cơ bảnđặc trưng nhất để phân biệt người GV nghệ thuật múa với các GV khác (GVKhoa Văn hóa & Kiến thức cơ bản) trong cùng trường và cùng hệ thống, đồngthời để phân biệt GV nghệ thuật múa trong trường nghệ thuật với nhữngngười có kiến thức về nghệ thuật múa hoạt động ở các lĩnh vực khác, khôngphải lĩnh vực dạy học
Sức khỏe là điều quan trọng với bất kỳ GV nào nhưng với GV Chuyênmôn chuyên ngành Múa, đủ sức khỏe là tiêu chí đặc trưng nhất Bởi đặc tínhchuyên môn đào tạo nghệ thuật múa, yêu cầu người giáo viên phải trực tiếpthị phạm, thực hiện hệ thống logic các kĩ năng - kĩ xảo Thông qua phươngpháp "truyền hình" học sinh nắm bắt được đường nét động tác, chi tiết độngtác, cách xử lý, luật động của các động tác múa Bên cạnh đó người giảngviên giảng dạy chuyên môn múa phải thông qua cách truyền đạt bằng ngônngữ giải thích chi tiết, phân tích cụ thể động tác múa Vậy nên ngoài việc GVchuyên môn nghệ thuật múa phải có phẩm chất đạo đức, tư tưởng tốt; có bằngtốt nghiệp Đại học thì việc đảm bảo sức khỏe để giảng dạy cũng là một yếu tốhết sức quan trọng
Đặc điểm nổi bật của người GV Trường Cao đẳng Múa Việt Namchính là sự đan xen, hòa quện giữa nhà giáo dục với người nghệ sỹ
- Đối với GV Khoa Văn hóa và Kiến thức cơ bản thì GV là nhà giáodục, GV cần phải nắm vững mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục củanhà trường, phải có kiến thức về Tâm lý và Tâm lý học lứa tuổi, kiến thức vềGiáo dục học, về Phương pháp dạy học, trên nền tảng thế giới quan khoa họcMác xít, đường lối giáo dục của Đảng, cùng với sự tâm huyết nghề nghiệp,tình yêu đối với sự nghiệp trồng người Họ phải là những giảng viên có phong
Trang 31cách mẫu mực, phong cách mô phạm Đó là những phẩm chất cơ bản đểngười GV thường xuyên trau dồi và nâng cao nghiệp vụ dạy học, nghiệp vụ
sư phạm nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
- Đối với GV Khoa Chuyên môn Múa thì GV là người nghệ sĩ, GVchuyên môn nghệ thuật múa cần phải nắm vững những tri thức cơ bản về lĩnhvực nghệ thuật múa theo chương trình đào tạo chuyên môn về nghệ thuật múacủa nhà trường Từ đó thường xuyên học tập để nâng cao trình độ chuyênmôn, kỹ năng, vận dụng kỹ năng vào quá trình dạy học, hoạt động chuyênmôn, sáng tạo Nghệ thuật múa Hoạt động lao động sư phạm của người GVnghệ thuật múa thường mang đậm cá tính, phong cách riêng của người nghệ
sỹ Sự trầm tư trong quan sát, sự mạnh mẽ trong sáng tạo, sự lãng mạn trongứng xử là những phẩm chất nghệ sỹ trong lao động của người GV nghệ thuậtmúa Người GV trong trường nghệ thuật phải có khả năng khai thác, kế thừanền nghệ thuật truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa nghệ thuật nhânloại để làm giàu vốn tri thức, nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sưphạm Ngoài nhiệm vụ đào tạo chuyên môn trong nhà trường, GV nghệ thuậtmúa cần phải có năng lực hoạt động chuyên môn ngoài trường như: sáng tác,dàn dựng tác phẩm múa và thực hành biểu diễn Ngoài những hiểu biết về lýluận, nghề nghiệp hoạt động của mình người GV nghệ thuật múa chủ yếuthiên về thực hành Vì vậy hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ là sự rèn luyện
kỹ năng nghề nghiệp để phục vụ tốt hơn việc giảng dạy trong trường
Đặc điểm lao động sư phạm của giảng viên nghệ thuật múa có thể tómlược như sau:
- Giảng viên chuyên môn nghệ thuật múa được đào tạo theo chuyênmôn thuộc lĩnh vực nghệ thuật múa cho nên không chuyên sâu về công tác sưphạm trong các lĩnh vực nghệ thuật khác Vì vậy trong quá trình giảng dạy,
Trang 32ngoài sự nỗ lực về chuyên môn, người GV còn phải học hỏi, tích lũy về kỹnăng và phương pháp dạy học có liên quan.
- Nghệ thuật múa là môn học năng khiếu nên đặc trưng trong giảng dạycác môn học này mang tính sáng tạo cao, không áp đặt, không gò bó trongkhuôn khổ Lao động mang tính tự do, mang đậm dấu ấn cá nhân, có phongcách và thiên về lĩnh vực tình cảm hơn là lý trí
- Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của nhà trường, ĐNGV nàycòn phải tích cực tham gia các hoạt động nghệ thuật ngoài phạm vi nhàtrường như: biểu diễn, sáng tác, dàn dựng, giao lưu biểu diễn nghệ thuật trongnước và nước ngoài Phần lớn các hoạt động nghệ thuật chiếm thời gian đáng
kể trong quỹ thời gian của họ Vì hoạt động chuyên môn ngoài trường là mộtlĩnh vực để họ biến lý luận thành thực tiễn, rèn luyện kỹ năng, khẳng địnhphẩm chất nghề nghiệp Là những nghệ sỹ, vì vậy trong lao động họ luônvươn tới sự thăng hoa của xúc cảm thẩm mỹ Sản phẩm lao động của họkhông thỏa mãn về lĩnh vực vật chất cho xã hội mà là sự thỏa mãn về lĩnh vựctinh thần
1.6 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GV.
Nghị quyết Trung ương hai khoá VIII xác định: giáo dục - đào tạo làquốc sách hàng đầu, là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xãhội Phát triển giáo dục là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và của toàn xãhội, trong đó ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt, giữ vaitrò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục
Nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc phát triển ĐNGV trong giai
đoạn hiện nay, tại Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm
2005 của Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui định rất
rõ ràng về trình độ chuẩn được đào tạo của ĐNGV, bên cạnh đó là các chính
Trang 33sách đối với GV từng bước thúc đẩy khả năng phát triển giáo dục trong môitrường đào tạo.
Ngày 11 tháng 01 năm 2005 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định
số 09/005/QĐ-TTG về việc phê duyệt Đề án "Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 - 2010"
qui định rõ về mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu của ĐNGV như sau:
1 Mục tiêu tổng quát:
Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướngchuẩn hoá, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu,đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống,lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏingày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước
sĩ
b) Củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống các trường, khoa sư phạm,các trường cán bộ quản lý giáo dục; đẩy mạnh việc xây dựng các trường Đạihọc Sư phạm trọng điểm Thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, phươngpháp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng trong các trường, các cơ sở đào tạo, bồidưỡng sư phạm theo hướng hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam, trong
Trang 34đó chú trọng đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, gắn với nộidung đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông
c) Triển khai có hệ thống và chuẩn hoá công tác đào tạo, bồi dưỡnggiảng viên các trường CĐ, ĐH và giáo viên các trường trung học chuyênnghiệp, dạy nghề; bảo đảm cho các nhà giáo được bồi dưỡng nghiệp vụ sưphạm theo quy định của Luật Giáo dục; nội dung, chương trình phương phápđào tạo phải phù hợp với yêu cầu của từng bậc học
d) Đổi mới công tác quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theohướng nâng cao chất lượng, hiệu quả; quy định cụ thể trách nhiệm, quyền hạncủa các cấp, các ngành, các cơ quan quản lý giáo dục và các ngành có liênquan Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt là thanh tra chuyênmôn Hiện đại hoá và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thốngquản lý giáo dục
đ) Tiếp tục bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện và thực hiện chính sách ưu đãiđối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; khuyến khích đội ngũ nhà giáonâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đẩy mạnh sự gắn kết chặt chẽgiảng dạy với nghiên cứu khoa học; đổi mới công tác quản lý, sử dụng vàgiao biên chế ngành giáo dục nhằm nâng cao quyền và trách nhiệm của độingũ nhà giáo, tạo sự bình đẳng giữa các loại hình cơ sở giáo dục và đào tạo
e) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để tiếp tục xây dựng và nâng caochất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục Đẩy mạnh công táctuyên truyền, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về vai trò, trách nhiệm củanhà giáo và nhiệm vụ xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục cóchất lượng cao, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tuỵvới nghề nghiệp, làm trụ cột thực hiện các mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạonhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Trang 35Ngày 09 tháng 01 năm 2008 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 01/2008/QĐ-BGDĐT qui định về công tác bồi dưỡng
nâng cao trình độ cho GV các trường đào tạo chuyên nghiệp nhằm nâng caotrình độ chuyên môn, năng lực sư phạm cho ĐNGV, đáp ứng yêu cầu nângcao phát triển chất lượng giáo dục và đào tạo Quyết định này là cơ sở pháp lý
để các trường, cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo, thực hiện công tác bồi dưỡngnâng cao trình độ cho ĐNGV Quyết định nêu lên rất rõ các qui định về nộidung, chương trình và các hình thức bồi dưỡng nâng cao từ đó từng bước pháttriển ĐNGV
- Về nội dung bồi dưỡng:
1 Kiến thức về lý luận chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước; chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, chiến lượcphát triển giáo dục và những quan điểm của Đảng về đổi mới giáo dục nóichung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng
2 Kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, các kiến thức liên quan
về các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực chuyên ngành
3 Kiến thức nâng cao về năng lực sư phạm, trong đó chú trọng cácphương pháp dạy học tiên tiến, ứng dụng công nghệ và sử dụng phương tiện
đồ dùng dạy học, phương pháp đánh giá và kỹ năng thực hành giảng dạy
- Về chương trình bồi dưỡng:
1 Chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ GV phải thể hiện đượcmục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp, thời gian bồi dưỡng, cách thức tổchức và điều kiện thực hiện chương trình
2 Chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ GV bao gồm: bồi dưỡngnâng cao về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, bồi dưỡng nâng caonăng lực sư phạm và các chương trình bồi dưỡng khác Các chương trình bồi
Trang 36dưỡng này do hiệu trưởng các trường được giao nhiệm vụ bồi dưỡng banhành.
- Về hình thức bồi dưỡng:
1 Bồi dưỡng GV được tiến hành theo các hình thức tập trung hoặc
không tập trung Các hình thức này có thể được thực hiện thông qua các hoạtđộng: tập huấn về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp; bồi dưỡng chuyên đề;hội thảo khoa học; tham quan, nghiên cứu, khảo sát thực tế (trong nước hoặc
Trong những năm qua, Nhà nước quan tâm xây dựng, phát triển ĐNGV
và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hoá, bảo đảm đủ về số lượng,đồng bộ về cơ cấu, nâng cao chất lượng, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnhchính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độchuyên môn, nghiệp vụ của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sựnghiệp giáo dục trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.ĐNGV và cán bộ quản lý giáo dục là một bộ phận của đội ngũ viên chức và
có số lượng lớn, chiếm tới 80% viên chức cả nước Vì vậy, những quy địnhban hành đối với ĐNGV sẽ tạo điều kiện thúc đẩy cho sự phát triển ĐNGV,
đó cũng chính là những cơ sở pháp lý để từng bước xây dựng ĐNGV ngàycàng phát triển
Trang 37KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước; 6 nămthực hiện chiến lược phát triển dục đại học và hơn 1 năm gia nhập Tổ chứcthương mại thế giới (WTO) nền giáo dục Việt Nam chúng ta đang dần bắt kịpvới đà phát triển của các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực Mục tiêu phấnđấu đến năm 2015 có ít nhất 40% giảng viên có trình độ thạc sỹ và 35% đạttrình độ tiến sỹ; đến năm 2020 có ít nhất 50% giảng viên đạt trình độ thạc sỹ
và 40% đạt trình độ tiến sỹ sẽ là một thách thức lớn đối với toàn ngành giáodục nói chung và đối với các trường CĐ, ĐH nói riêng
Để đáp ứng mục tiêu trên đòi hỏi các trường CĐ, ĐH không chỉ chútrọng nghiên cứu phát triển lí luận quản lý giáo dục mà bên cạnh đó cần phảitìm tòi, xây dựng các biện pháp quản lý, phát triển đội ngũ giảng viên giỏichuyên môn, có phẩm chất tốt, có năng lực sư phạm … phục vụ cho sựnghiệp đổi mới đất nước và nhu cầu của nguồn nhân lực chất lượng cao
Trong khuôn khổ của để tài nghiên cứu, các thuật ngữ mà tác giả đãtrình bày trong chương I như: Quản lý giáo dục, Giảng viên, Quản lý pháttriển đội ngũ giảng viên … là những khái niệm cơ bản, là cơ sở lí luận choviệc phân tích thực trạng ĐNGV ở chương 2 và đề xuất các giải pháp cho đềtài ở chương 3
Trang 38họ là những người gieo mầm, nuôi dưỡng phát triển nghệ thuật múa Việt Nam.
Để có được vị trí của một trường đầu ngành như hiện nay, trường đãtrải qua rất nhiều những giai đoạn khó khăn, có thể tổng kết lại thành 2 thời kì:
- Những ngày đầu thành lập đến năm 1999:
Trường Cao đẳng Múa Việt Nam tiền thân là Trường Múa Việt Nam được thành lập ngày 21 tháng 09 năm 1959 theo Quyết định số 153-VH/QĐcủa Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch) vớinhiệm vụ: "Đào tạo và bổ túc nâng cao trình độ cho cán bộ, diễn viên múa đểcung cấp cho các ngành, các địa phương" Những ngày đầu thành lập là giaiđoạn khó khăn nhất nhưng được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, nhờ sựgiúp đỡ tận tình của chuyên gia các nước bạn như: Liên Xô (cũ), Trung Quốc,Triều Tiên trường đã dần đi vào ổn định, cả thầy và trò đều hăng say giảngdạy và học tập Khi nhân dân cả nước sôi sục chống Mỹ, trong giai đoạn
Trang 39-chiến trang ác liệt nhất, trường vẫn tiếp tục sự nghiệp đào tạo của mình ở nơi
sơ tán bằng cách rút ngắn thời gian đào tạo, mở thêm các lớp ngắn hạn, cáclớp bổ túc để bổ sung cán bộ, diễn viên múa sẵn sàng phục vụ đời sống tinhthần cho tiền tuyến Hoà bình lập lại và trong không khí của giai đoạn đầu đổimới đất nước, cùng với những khó khăn chung của cả nước, trường cũng phảiđối mặt với những điều kiện hết sức ngặt nghèo song vượt lên tất cả, công tácđào tạo của trường vẫn giữ vững và đạt được nhiều thành tựu: Huân chươnglao động Hang III do Đảng và Nhà nước trao tặng, hoàn thành - công diễnđược 4 vở Ballet , 01 tác phẩm kịch múa dân tộc
Đến năm 1999, khi trường Kỉ niệm 40 năm Ngày thành lập thì thànhquả mà nhà trường đã đạt được thật đáng trân trọng: Huân chương độc lậpHang III, Huân chương lao động Hạng I, II và nhiều Bẳng khen của BộVHTT, của Bộ GD&ĐT, gần 60 khoá học sinh Tốt nghiệp với khoảng 3000diễn viên Bên cạnh đó qui mô đào tạo không ngừng được mở rộng, chấtlượng đào tạo ngày càng được nâng cao, uy tín và vị trí của một trường đầungành ngày càng được khẳng định
- Giai đoạn năm 2001 đến nay:
Năm 2001 là cái mốc được đánh dấu bằng việc trường được nâng cấpthành như tên gọi hiện nay Chức năng chính của trường được cụ thể hoátrong quyết định 26/2001/QĐ-BVHTT là "Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, diễnviên có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn về nghệ thuật múa; nghiêncứu, giữ gìn, phát triển nghệ thuật múa truyền thống của các dân tộc ViệtNam và tiếp thu những tinh hoa nghệ thuật múa của các nước trên thế giớinhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường" Từ một cơ sở đào tạo múađầu tiên đến nay nhà trường đã trở thành một trung tâm đào tạo nghệ thuậtmúa lớn nhất của cả nước, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Bộ, ngànhnhà trường đã có được cơ sở vật chất tương đối khang trang, quy mô và chất
Trang 40lượng đào tạo được nâng cao, quan hệ hợp tác về đào tạo và biểu diễn giaolưu với các trường bạn trong khu vực ASEAN như Lào, Campuchia và cácnước trên thế giới được tăng cường mở rộng như: trường Múa Kiep (Ucraina),trường Múa Victoria (Ốtxtralia), đoàn Múa phương Bắc (Ốtxtralia), Học việnMúa Bắc Kinh, Quảng Tây (Trung Quốc), trường Múa lion (Pháp) tham giahợp tác đào tạo diễn viên Múa cho các nước trong khu vực: Thái Lan, Lào Ngoài ra trường cũng mở các lớp đào tạo theo địa chỉ, đào tạo liên kết tại cáctỉnh như: Huế, Lào Cai, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Ngãi, Hà Giang
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó, cán bộ,
GV nhà trường đang tiếp tục phấn đấu, đổi mới theo hướng “chính quy, khoahọc, dân tộc, hiện đại”, đổi mới công tác quản lý đào tạo, nội dung, chươngtrình đào tạo, phương pháp đào tạo phù hợp với xu thế, phát triển, hội nhậptừng bước nâng cấp trường lên Học viện Múa Quốc gia xứng đáng là trungtâm đào tạo nghệ thuật múa chuyên nghiệp của cả nước
2.1.2 Nhiệm vụ của Trường Cao đẳng Múa Việt Nam:
Theo Quyết định số 26/QĐ-BVHTT, Trường Cao đẳng Múa Việt Nam
có nhiệm vụ:
1 Căn cứ định hướng, kế hoạch đào tạo của Bộ Văn hoá - thông tin, BộGiáo dục & đào tạo và nhu cầu của ngành để xây dựng qui hoạch, kế hoạchphát triển của nhà trường, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
vụ với các phương thức đào tạo chính qui và không chính qui; kế hoạchnghiên cứu khoa học và tổ chức thực hiện khi qui hoạch, kế hoạch được cấp
có thẩm quyền phê duyệt
2 Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo và kế hoạch giảng dạy, họctập lý thuyết và thực hành cho các chuyên ngành múa trên cơ sở chương trìnhkhung do Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin ban hành; tổ chứcbiên soạn, duyệt và thầm định các giáo trình, tài liệu học tập của trường