1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những chính sách của nhà trần đối với nghệ an (từ năm 1225 đến năm 1400

138 411 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những chính sách của nhà Trần đối với Nghệ An (từ năm 1225 đến năm 1400)
Tác giả Mai Thị Nguyệt
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 329 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà Trần tồn tại trong suốt 175 năm, trong khoảng thờigian đó các vị vua Trần đã làm đợc rất nhiều việc có tácdụng trấn hng dân tộc nh đa đất nớc vợt qua khủng hoảng và khắc phục đợc nhữ

Trang 1

===  ===

Mai Thị Nguyệt

Khóa luận tốt nghiệp đại học

những chính sách của nhà trần đối với Nghệ An (từ năm 1225 đến năm 1400)

chuyên ngành lịch sử việt nam

Vinh - 2010

Trang 2

===  ===

Mai Thị Nguyệt

Khóa luận tốt nghiệp đại học

những chính sách của nhà trần đối với Nghệ An (từ năm 1225 đến năm 1400)

chuyên ngành lịch sử việt nam

Lớp 47B 1 - Lịch sử (2006 - 2010)

Giáo viên hớng dẫn: TS Nguyễn Quang Hồng

Trang 3

Để thực hiện đề tài này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâusắc đến thầy giáo TS Nguyễn Quang Hồng đã nhiệt tình h-ớng dẫn và giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình nghiên cứu

và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn những ngời thân trong gia

đình và bạn bè đã ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ, công nhânviên thuộc các cơ quan: Th viện trờng Đại học Vinh, Th việntỉnh Nghệ An

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủnhiệm, Cán bộ giảng dạy khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh đãtạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập,rèn luyện, tu dỡng tại Khoa và Nhà trờng

Chắc chắn rằng đề tài khóa luận tốt nghiệp sẽ khôngtránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đợc sự giúp đỡ từHội đồng khoa học, tập thể Cán bộ giảng dạy khoa Lịch sử tr-ờng Đại học Vinh

Vinh, tháng 5 năm 2010.

Tác giả

Trang 4

A Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phơng pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của khóa luận 4

6 Bố cục của khóa luận 4

B Nội dung 5

Chơng 1 Khái quát về vơng triều nhà Trần (từ năm1225 đến năm 1400) 5

1.1 Sự thành lập vơng triều 5

1.2 Khái quát những chính sách của nhà Trần đối với dân tộc 17

1.2.1.Về chính trị 19

1.2.2 .Về kinh tế .21

1.2.3 .Về văn hóa - giáo dục .24

Chơng 2 Những c hính sách về kinh tế của nhà Trần đối với Nghệ An (từ năm 1225 đến năm 1400) 26

2.1 Khái quát về vùng đất Nghệ An 26

2.2 Những chính sách về kinh tế nông nghiệp 31

2.2.1 .Chính sách khai hoang .31

Trang 5

2.2.2 .Chính sách đắp đê, trị thủy

362.2.3 .Chính sách về thuế khóa

422.3 Những chính sách về kinh tế thủ công và thơng

nghiệp 462.3.1 .Về kinh tế thủ công nghiệp

462.3.2 .Về thơng nghiệp

49

Trang 6

năm 1225 đến năm 1400) 533.1 Những chính sách về chính trị - xã hội 533.1.1 .Về hành chính

533.1.2 .Về pháp luật

603.1.3 .Về quõn đội

623.2 Những chính sách về quân sự 653.2.1 .Quá trình mở cõi về Phơng Nam

653.2.2 .Cuộc kháng chiến chống Mông - Nguyên (1258 - 1288)

703.3 Những chính sách về văn hóa - giáo dục 803.3.1 .Về tôn giáo và tín ngỡng

803.3.2 .Về giáo dục

843.3.3 .Về văn học - nghệ thuật

89

C Kết luận 93

D Tài liệu tham khảo 96

Trang 7

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại phong kiến dân tộc gắn liền với các vơngtriều Khúc-Ngô - Đinh - Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ và Lê Sơ dù làtồn tại trong thời gian dài hay ngắn khác nhau thì mỗi triều

đại này đều có những đóng góp nhất định cho sự tiến bộcủa lịch sử dân tộc, đành rằng ở mỗi dòng họ khi nắmquyền cai trị đều có cách thức và biện pháp thực hiện khácnhau song vẫn có tính kế thừa từ những thành tựu đã có từtrớc Nhà Trần tồn tại trong suốt 175 năm, trong khoảng thờigian đó các vị vua Trần đã làm đợc rất nhiều việc có tácdụng trấn hng dân tộc nh đa đất nớc vợt qua khủng hoảng

và khắc phục đợc những hậu quả cuối vơng triều Lý để lại,chăm lo phát triển kinh tế, ổn định chính trị - xã hội vàquan tâm đến văn hóa - giáo dục, không ngừng củng cốnền quốc phòng an ninh tiến tới xây dựng quốc gia Đại Việtthực sự vững mạnh trên tất cả các phơng diện và luôn lấynhân dân làm trung tâm quyết định đến các chính sáchcủa nhà nớc Thực tế cho thấy những việc làm của nhà Trần

đối với riêng vùng đất Nghệ An - vốn là một phần lãnh thổcủa quốc gia Đại Việt lúc bấy giờ, là một ví dụ sinh động vềcách cai trị đất nớc Nghệ An nói riêng và cả nớc nói chung ởthời nhà Trần đều có những chuyển biến đáng kể, với chủtrơng tiếp tục kinh dinh vùng đất Nghệ An các vị vua Trần

đã nỗ lực làm thay đổi một xứ sở hoang vu, vắng vẻ thànhmột mảnh đất trù phú, màu mỡ Đặc biệt là trong buổi Trầnsơ và buổi thịnh Trần thì quốc gia Đại Việt luôn ở trong

Trang 8

thành lập của vơng triều Trần mặc dù còn nhiều đánh giákhác nhau nhng những gì mà nhà Trần đã làm đợc choquốc gia dân tộc là thực sự đáng ghi nhận

Đến thời nhà Trần thì nhà nớc không chỉ quản lý chặtchẽ vùng đồng bằng xung quanh kinh đô mà đã vơn tớinhững vùng đất xa xôi, hẻo lánh, những vùng “phên dậu” củaquốc gia, Nghệ An là một vùng đất có vị trí chiến lợc cả vềkinh tế lẫn quốc phòng an ninh, là một phần máu thịt của tổquốc đứng ở nơi đầu sóng ngọn gió của phơng Nam, lạithuộc vào vùng “trọng trấn” nhiều phen trở thành bãi chiến tr-ờng và “chỗ đứng chân” của các triều đại phong kiến trongnhững lần phải tiến hành kháng chiến chống giặc ngoạixâm Điều kiện tự nhiên ở xứ Nghệ rất khắc nghiệt, cuộcsống của ngời dân nơi đây còn nhiều vất vả, lam lũ nhng

họ có nghị lực để vơn lên Chính vì nhận thức đợc điềunày mà nhà Trần đã thực hiện các chính sách vừa có tínhmềm dẻo nhng lại vừa kiên quyết nhằm ổn định kinh tế,chính trị và văn hóa nh khuyến khích nhân dân tổ chứckhai hoang phát triển sản xuất, chăm lo đến văn hóa và giáodục, trấn áp các lực lợng chống đối và mầm mống cát cứ địaphơng giữ vững biên cơng lấy đó làm bàn đạp tiến về ph-

ơng Nam

Nghiên cứu những chính sách của nhà Trần đối vớiNghệ An nhằm mục đích tìm hiểu thêm về nhà Trần, lấp

đi một khoảng trống trong nghiên cứu lịch sử

Đề tài còn góp phần vào việc nghiên cứu về vùng đất xứNghệ dới thời nhà Trần nhằm mục đích làm sáng rõ nhữngbiến đổi trên vùng đất này từ năm 1225 đến năm 1400

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Đề tài chủ yếu tập trung vào việc làm sáng tỏ về nhữngchính sách của nhà Trần đối với vùng đất Nghệ An kể từ năm

1225 cho đến năm 1400 Nghiên cứu và tìm hiểu về vấn

đề này có tầm quan trọng chiến lợc không chỉ trong khoảngthời gian vơng triều tồn tại mà còn quy định về cả sau này,qua đó khẳng định những đóng góp của vơng triều Trần

đối với vùng đất Nghệ An nói riêng và công lao đối với dântộc nói chung trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhà Trần và đã

đề cập đến vùng đất Nghệ An nh tác phẩm “Tìm hiểu xãhội Việt Nam thời Lý - Trần” của Viện Sử học tuy chỉ giới hạntrong hai triều đại phong kiến nhng đã đề cập một cách trọnvẹn bức tranh xã hội Đại Việt ở thế kỷ XI đến thế kỷ XV, mỗibài viết của các tác giả đã đi sâu từng khía cạnh của tìnhhình xã hội nh: cấu trúc xã hội chính trị, trị thủy và làm thủylợi

Hay tác phẩm “Thuyết Trần” của tác giả Trần Xuân Sinhviết về sử nhà Trần, trong đó đã nói lên một cách đầy đủnhững biến cố về dòng họ Trần và tình hình quốc gia ĐạiViệt dới từng vị vua trị vì

Tác phẩm “Lịch sử Nghệ Tĩnh” của Ban nghiên cứu lịch

sử tỉnh Nghệ Tĩnh, (tập 1) cho biết vài nét về nhữngchuyển biến của vùng đất Nghệ Tĩnh dới thời Trần

Trong tác phẩm “Khoa bảng Nghệ An (1075 - 1919)” củatác giả Đào Tam Tĩnh đi vào tìm hiểu những Nho sĩ thành

đạt dới chế độ phong kiến Việt Nam ở trên đất Nghệ An,

Trang 10

trong đó tác giả đã nhắc đến các bậc khoa bảng Nghệ Anthời Trần.

Tác phẩm “Nghệ An lịch sử và văn hóa” của PGS NinhViết Giao làm chủ biên trình bày về điều kiện tự nhiên và

vị trí địa lý, diễn trình lịch sử của vùng đất này gắn liềnvới từng triều đại

Tuy cha có tài liệu nào nghiên cứu một cách cụ thể vềchính sách của nhà Trần trong phạm vi nghành đề tài xác

định, nhng những công trình đi trớc là tài liệu tham khảohữu ích của chúng tôi

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tợng nghiên cứu: Những chính sách của nhà Trần

đối với Nghệ An (từ năm 1225 đến năm 1400)

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Về phạm vi không gian: đề tài tập trung làm sáng tỏ

“Những chính sách của nhà Trần đối với Nghệ An”

+ Về phạm vi thời gian: Từ năm 1225 đến năm 1400.Những nội dung khác không nằm trong phạm vi nghiêncứu của đề tài

4 Phơng pháp nghiên cứu

Cơ sở phơng pháp luận của đề tài dựa trên lý luận củachủ nghĩa Mác-Lênin và t tởng Hồ Chí Minh, quan điểm của

Đảng về công tác nghiên cứu khoa học

Đề tài sử dụng phơng pháp lịch sử và phơng pháp logiclàm chủ đạo, ngoài ra còn sử dụng phơng pháp thống kê,phân tích, so sánh

Trang 11

5 Đóng góp của khóa luận

- Đề tài lần đầu tiên nghiên cứu những chính sách củanhà Trần đối với vùng đất Nghệ An, đợc thể hiện trên cáclĩnh vực nh kinh tế, chính trị - quân sự và văn hóa - giáodục

- Qua nghiên cứu, chúng tôi đã chỉ rõ đợc một số chínhsách chung và chính sách riêng của nhà Trần đối với Nghệ Antrong thời gian nắm quyền quản lý đất nớc từ năm 1225 -1400

- Tập hợp đợc một số t liệu cho việc nghiên cứu và đốichiếu

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệutham khảo cho việc giảng dạy lịch sử địa phơng

6 Bố cục của khóa luận

văn hóa - giáo dục của nhà Trần đối với Nghệ An(từ năm 1225 từ năm 1400)

Phần kết luận

Phần phụ lục.

Trang 12

B Nội dung

Chơng 1 Khái quát về vơng triều nhà Trần (từ năm1225 đến năm 1400)

1.1 Sự thành lập vơng triều

Nhìn lại khoảng thời gian cuối vơng triều Lý, chúng tathấy rằng xã hội phong kiến Đại Việt đang trong tình trạngkhủng hoảng trầm trọng và kéo dài, từ thời vua Lý Anh Tôngtrở về sau thì chính trị ngày càng suy đốn, vua quan thảsức chơi bời vô độ, đời sống nhân dân hết sức cực khổ vànhững mâu thuẫn vốn có từ lâu trong xã hội bùng phát mộtcách gay gắt, giai cấp thống trị đã bất lực trớc đòi hỏi củalịch sử và của thời đại Theo quy luật thờng của chế độphong kiến thì khi chính quyền quân chủ ở vào thời kỳvững mạnh dờng nh mọi mâu thuẫn hay xung đột trong xãhội đều đợc hòa hoãn và lắng dịu, trái lại, một khi giai cấpthống trị bắt đầu bộc lộ những hạn chế và nhợc điểm củagiai cấp mình thì cũng là lúc chế độ phong kiến không còn

đạt đến sự tập trung cao nhất và bắt đầu bớc vào giai đoạnsuy vi Thực tế tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và vănhóa - giáo dục trong đầu thế kỷ XIII rất nguy ngập, bản thâncác vị vua Lý không đủ khả năng để vực dậy quốc gia ĐạiViệt nh trớc đợc nữa Cả xã hội cuối vơng triều Lý đang lêncơn sốt, tồn tại suốt 215 năm trải qua bao thăng trầm và biến

cố của lịch sử, những thành tựu của vơng triều này đónggóp cho quốc gia dân tộc không phải là ít, một nhà nớc đợc

Trang 13

coi nh là có công trong việc đặt những viên gạch đầu tiêncho quá trình xây dựng chế độ phong kiến ở nớc ta pháttriển phồn vinh, lâu dài và đa nền văn minh dân tộc lên

đỉnh cao Tuy vậy, sau những vũ công ấy, quốc gia Đại Việtlại rơi vào suy kiệt cũng bởi xuất phát từ giai cấp cầm quyền,những chính sách và các biện pháp đợc thực hiện tỏ rakhông phù hợp và lỗi thời, thậm chí là phản động, đối lậphoàn toàn với các vị vua Lý đầu triều Đặt cơ nghiệp củadòng họ Lý cho những ông vua cuối cùng này đã làm cho v-

ơng triều xiêu đổ, không thể tránh khỏi quỹ đạo của sựhình thành và phát triển rồi cuối cùng đi đến chỗ diệt vong.Không thể phủ nhận rằng ở cuối triều Lý có sự tan vỡ từngmảng trong hệ thống cấu trúc chính trị - xã hội, trong mốiquan hệ giữa kẻ trên ngời dới và giữa những ngời trong hàngngũ thống trị với nhau đã kéo theo cả một nền kinh tế, vănhóa - giáo dục rời vào đình đốn Các vị vua đơng thời nhậnthức đợc điều đó nhng không thể đa ra đợc những chínhsách thiết thực để giải quyết triệt để những vấn đề đang

đặt ra trớc mắt, chính hiện tại đẩy họ lao sâu vào lối sốnghởng lạc mà không mấy mặn mà với công việc triều chính,

điều này dẫn đến nhiều hậu quả tai hại đối với quốc giadân tộc và đối với cả sự nghiệp nhà Lý

Mở đầu trang sử triều Lý Cao Tông, Ngô Sĩ Liên đã kháiquát: “Vua chơi bời vô độ, hình chính không rõ ràng, giặccớp nổi nh ong, đói kém liền năm nhà Lý suy từ

đấy”[29;53] Không chỉ thế Vua Lý còn “ Xây dựng khôngngớt, rong chơi vô độ, hàng ngày cùng cung nữ dạo chơi làm

Trang 14

vui, nghe ngoài thành có trộm cớp thì lờ đi nh không biết,tính lại sợ sấm, nghe sấm là kinh hoảng ” [29;54] Đó là vua,còn bọn quan lại cận thần thì ra sức tham nhũng “phầnnhiều bán quan buôn ngục”, tầng lớp cuối cùng trong xã hộilàm bệ đỡ cho cả một Vơng triều phong kiến thì bị đẩyvào tình cảnh cực kỳ bi đát, khắp nơi dân tình đói khổvì nạn thuế khóa, quân dịch và loạn lạc: “Thế nớc suy yếu,triều đình không có chính sách hay, đói kém luôn, nhândân cùng khốn” [29;54] Khủng hoảng cung đình và khủnghoảng xã hội diễn ra đồng thời, toàn diện và sâu sắc, tăngphó Nguyễn Thờng đã phải nói: “ Kinh thi nói rằng âmthanh của nớc loạn nghe nh ai oán, giận hờn Nay dân loạn, nớcnguy, chúa Thợng thì rong chơi vô độ, triều chính rối loạn,lòng dân trái lìa, đó là triệu bại vong” [29;57] Xã hội Đại Việtcuối triều Lý đợc khái quát nh sau:

“ Tráng đinh phải xung vào quân ngũ và đi lao dịchxây dựng cung thất, nên sản xuất sút kém, thiên tai: lụt, hạn,sâu bệnh liên tiếp xảy ra không phơng cứu chữa Mùa màngsút kém, tài chính thất thoát do tham nhũng, su thuế lạinặng nề nên đói khổ liên miên Học hành thi cử bị bề trễ Xãhội rối ren ” [29;57] Trái ngợc với cảnh sống xa hoa chốncung đình là cảnh bách tính lu li, cực khổ, Vua Lý đã khôngcòn coi dân nh con và bỏ mặc họ trong muôn vàn khó khăn

là nguyên nhân sâu xa làm cho cả tòa tháp ấy nhanh chóngsụp đổ Lợi dụng điều đó các lực lợng chống đối ngóc đầudậy mu toan lật đổ Vơng triều nhà Lý, tại thời điểm đó nổilên ba thế lực của ba dòng họ chiếm cứ ở ba vùng khác nhau

Trang 15

đó là họ Đoàn ở Hồng Châu - Hải Dơng - Hải Phòng, họ Trần

ở Thái Bình - Nam Định - Hng Yên và cuối cùng là họ Nguyễn

ở Quốc Oai - Hà Tây Trong đó, thế lực họ Trần là mạnh nhất

có thể làm khuynh đảo nhà Lý Vua Lý Huệ Tông thấy rõ mối

đe dọa đến sự tồn vong đang ở bên cạnh nhng bất lực bởimột mình Lý Huệ Tông không thể xoay chuyển đợc cụcdiện trên buộc phải tìm lấy một chỗ dựa mà chỗ dựa ấy phảicùng chung một mục đích với mình, để đè bẹp đợc họ Trầncho nên vua Lý bắt tay với họ Đoàn cũng là một việc dễ hiểu.Phía họ Đoàn cũng muốn lật đổ nhà Lý nhng vẫn còn haidòng họ khác đang tồn tại sẽ can thiệp nếu họ Đoàn tiếnhành đảo chính Do sức ép đó mà họ Đoàn phải bất đắc dĩliên kết với vua Lý tiêu diệt họ Nguyễn và họ Trần, gạt bỏ ch-ớng ngại sau rồi sẽ thanh toán luôn nhà Lý Nắm bắt đợc diễnbiến của tình hình, Trần Tự Khánh - ngời đứng đầu dòng

họ Trần đã khôn khéo hợp tác với họ Nguyễn tìm cách đốitrọng với họ Đoàn Rõ ràng, từ chỗ ba lực lợng phân cát đứngriêng rẽ, dần dần do sự toan tính của các bên đã tạo ra thế l-ỡng cực đối đầu với nhau, thế nhng mối liên kết ấy không vô

t và tự nguyện mà nó chỉ có tính chất tạm thời, sau khi tiêudiệt đợc địch thủ của mình tất yếu mối ràng buộc này sẽ tự

nó phá vỡ, từ đồng minh sẽ quay mũi dao vào nhau và sẽ cómột dòng họ nổi lên Thực tâm Lý Huệ Tông muốn loại trừ cả

ba dòng họ, trong đó mục tiêu chủ yếu trớc mắt vẫn là họTrần, nhng mối liên kết với họ Đoàn đã không đem lại cho vua

Lý một kết quả nh mong muốn Mọi hành động tỏ ra chống

đối đều bị Trần Tự Khánh bẻ gãy và bản thân Huệ Tông

Trang 16

phải chạy lên Lạng Châu Trớc đây vào năm Bính Thìn(1208) đất nớc xảy ra loạn lạc, vua Lý Cao Tông phải chạy lênvùng Tam Nông (Phú Thọ) còn thái tử Sảm (vua Lý Huệ Tôngsau này) lại chạy về Hải ấp (làng Lu Xá, Hng Hà - Thái Bình)vào ở nhà của Trần Lý và lấy Trần Thị Dung (vốn là con gáicủa Trần Lý) Trần Thị Dung có anh trai là Trần Thừa và Trần

Tự Khánh Nói đến sự kiện này vì nó có liên quan đến haidòng họ là thông gia với nhau nay lại đứng ở hai phía, mốiquan hệ này diễn ra phức tạp chồng chéo chứ không hoàntoàn “thuận buồm xuôi gió”

Đứng trớc sự lựa chọn, Huệ Tông có thể sẵn sàng “diệtthân” để đạt đợc cái đích lớn hơn đó là ngai vàng CònTrần Tự Khánh lấy đợc kinh đô có thể lên ngôi lập ra vơngtriều nhà Trần mà không vấp phải trở lực nào, nhng ông đãkhông làm nh vậy bởi ông hiểu đợc rằng lòng dân vẫn hớng

về vua cũ dù vị vua ấy nhu nhợc và không có thực tài nhngnhân dân vẫn nặng lòng biết ơn các vị vua Lý một thời đãtừng đa cả dân tộc tiến một bớc khá dài trong lịch sử Việcbắt nhân dân phải chấp nhận một vơng triều mới thay thếcho triều đại trớc cũng cần có thời gian, điều đó khiến choTrần Khánh phải tiếp tục lấy danh nghĩa phò tá vua Lý và gi-

ơng cao ngọn cờ đó để thu phục nhân tâm Cho nên Trần

Tự Khánh vẫn kiên trì và nhẫn nại sai ngời đem th lên LạngChâu gặp Huệ Tông nói rõ ý của mình

“Thần thấy bọn tiểu nhân ở cạnh bệ hạ, lất át ngời trunglơng, bng tai bịt mắt bệ hạ Dân tình uất ức, không thấu

đợc lên trên, cho nên nhân lòng ngời dận giữ của ngời trong

Trang 17

nớc, thần khởi binh dẹp lũ đó, cắt trừ gốc họa, để yên lòngdân mà thôi Đến nh thân phận vua tôi, thần không dámphạm đến một chút nào Ngờ đâu phải gánh lấy tội chuyênquyền đánh dẹp, để khiến cho xa giá phải long đong, tựxét tội của thần thật đáng vạn lần chết Xin bệ hạ nguôi cơngiận giữ, quay xa giá về kinh để thỏa lòng ngời mong muốn”[32;262].

Lời lẽ của Trần Tự Khánh rất hợp với vai trò là một bề tôidới vơng triều Lý, lúc đó các thế lực nổi lên chống đối làm

bề tôi phải có trách nhiệm bảo vệ vua và đập tan mọi sựphản kháng là đúng mực Nhng đằng sau đó là nhằm đánhvào lòng vua Lý Huệ Tông đang hoang mang lo lắng trớc thếnớc nguy và làm cho vua phải thay đổi thái độ thù địch vớiTrần Tự Khánh, cuối cùng bơ vơ không còn nơi nào để nơngtựa, Lý Huệ Tông đành chấp nhận trở về kinh đô, cũng từ

đây họ Trần bắt đầu chiếm lĩnh chốn quan trờng và thaotúng mọi hoạt động chính trị - xã hội cũng nh kinh tế và vănhóa - giáo dục Những việc làm của Trần Tự Khánh chứng tỏ

ông là một ngời có tài kinh luân, khôn khéo và thận trọngtrong từng đờng đi nớc bớc, trở thành ngời có vai trò quantrọng dọn đờng cho dòng họ mình vơn lên trở thành quýtộc Nói nh vậy không phải nhà Lý không có cơ hội để giànhlại quyền bính trong tay họ Trần, trớc đây Trần Lý chết, nhà

Lý đã bỏ lỡ cơ hội đó thì nay Trần Tự Khánh mất cũng là

điều kiện tốt để làm điều đó nhng những ngời trong tônthất nhà Lý không ai cáng đáng nổi cho nên Trần Thủ Độ lạitiếp quản sự nghiệp của Trần Tự Khánh còn đang dang dở

Trang 18

Những yêu cầu mà lịch sử đặt ra lúc bấy giờ không đợc nhà

Lý giải quyết một cách thỏa đáng, sự thay thế một vơngtriều đã ruỗng nát bằng một vơng triều mới đủ sức đảm đ-

ơng đa cả dân tộc ra khỏi bế tắc, khủng hoảng là cấpthiết, cho nên mới có câu:

“Công đức trời cho bát nớc đầy Cơ màu tạo hóa mấy ai hay

Đuốc thiêng vằng vặc hai lần sáng Vận hết, mặt trời ngả phía tây”

(Vận nhà Lý)Trần Thủ Độ xuất hiện muộn nhng ông là tác nhân quantrọng và lớn nhất đa đến sự thành lập triều Trần Đã có rấtnhiều ý kiến xoay quanh nhân vật này và sự thành lập nhàTrần Các sử gia phong kiến chính thống oán thán và coinhững việc ông làm là trái với lẽ trời, việc đánh giá xa và nayhầu nh chủ yếu liên quan đến giữa ông với vơng triều Lý màkhông mảy may xét đoán mối quan hệ giữa ông với vơngtriều Trần và giữa triều Trần với dân tộc, Trần Thủ Độ trớccâu hỏi lịch sử và việc tạo dựng nghiệp Trần Từng sống ởcuối triều Lý, Trần Thủ Độ thấy đợc sự chao đảo của nó diễn

ra với biên độ ngày một lớn, “Huệ Tông đau yếu, lại không cócon trai, tôn thất nhà Lý từ lâu vốn không a gì họ Trần, đôibên không thể cùng tồn tại, phải một mất một còn, bấy giờngoài cõi thì các lực lợng cát cứ đều muốn tranh bá đồ v-

ơng Giành thiên hạ dựng nghiệp lâu dài cho con cháu haygiữ lấy tiếng trung thần để bị tiêu diệt” [24;31], Trần Thủ

Độ phải lựa chọn một trong hai con đờng ấy với đầy khó

Trang 19

khăn, nếu không làm điều đó thì sẽ có ngời khác tiến hànhchi bằng phải nắm lấy khoảnh khắc giá trị này: “Sắc sảo vàráo riết từ lời nói đến hành động, từ ý nghĩ đến mu đồ giàdặn và cao tay, sắt đá đến tàn bạo trong mọi phát ngôn và

xử trí, để lập nên sự nghiệp của mình” [31;81] Nếu chorằng sự thay thế nhà Lý bằng nhà Trần hàm chứa sự toantính và thủ đoạn thì cũng không sai nhng đó là những ngờilàm chính trị “Nay nếu họ Trần có hết lòng trung thànhchống đỡ làm một Tô Hiến Thành thứ hai thì nhà Lý cũngchỉ kéo dài thêm vài chục năm nữa là cùng Tòa kiến trúc đãquá mục nát thì tất nhiên tự nó phải đổ” [24;30] Trần Thủ

Độ muốn chấm dứt sức tàn của Triều Lý để đa cả dân tộc

b-ớc sang một trang mới, giải quyết những tồn đọng và vực dậy

Đại Việt Chúng ta thử đặt một giả thiết nếu nhà Trần thaythế Nhà Lý mà không đủ sức để trấn hng dân tộc thì phảichịu sự phán xét của lịch sử và hậu thế ra sao? ấy vậy màTrần Thủ Độ dám mạo hiểm và quyết đoán, dám khẳng địnhtài năng và trách nhiệm của mình trớc sự tồn vong của dântộc, tinh thần đó không đáng biểu dơng hay sao?Con đờng

đi lên thành lập triều Trần còn nhiều vấn đề cần phải bàn,nhng phải khẳng định rằng sự thay thế là đúng lúc và họTrần mu nghiệp cũng chỉ vì dân vì nớc chứ đâu có choriêng dòng họ mình Trần Thủ Độ đã dám dấn thân vào cuộcphiêu lu quân sự - chính trị cuối thời Lý, ba mơi tuổi ông

đứng đầu đội quân cận vệ triều đình “Vỏ Lý ruột Trần”

và cũng là vị tớng cầm quân đánh dẹp các lực lợng chống

đối ngoài mặt trận bằng các cuộc hành quân chich phạt,

Trang 20

bằng nhiều thủ đoạn chính trị Vậy mà những việc làm của

ông đối nhà Lý đã xóa mờ toàn bộ công lao của ông đã đónggóp cho dân tộc, sử thần Ngô Sỹ Liên đã nói: “Đã lấy nớc củangời ta, lại giết vua ngời ta thì thực bất nhân quá lắm’’, rồilàm sập hầm chôn sống cả họ hàng nhà Lý, bắt Trần Cảnhphải bỏ Lý Chiêu Hoàng và buộc Trần Liễu phải nhờng vợ Những cũng không ai khác chính ngòi bút của các cụ đãkhẳng định: “Thủ Độ tuy không có học vấn nhng tài lợc hơnngời, làm quan triều Lý đợc mọi ngời suy tôn Thái Tông lấy

đợc thiên hạ đều nhờ mu sức của ông cả Vì thế ông đợcnhà nớc dựa cậy” [30;34] hay: “Thủ Độ tuy làm tể tớng nhngmọi việc không việc gì không để ý Vì thế đã giúp nên v-

ơng nghiệp và giữ đợc tiếng tốt cho đến lúc mất” [30;34]

Rõ ràng chúng ta cần phải khách quan trong đánh giá vềTrần Thủ Độ - một ngời có tầm ảnh hởng lớn đến vơng triềuTrần, rằng ông đã làm đợc gì có ích cho lịch sử, cho dântộc và cho thời đại còn những việc làm của ông đối với dòng

họ Lý không phải là không có tội nhng đặt trong hoàn cảnhlịch sử bấy giờ dù có độc tài, tàn bạo song cần thiết Dới sự

đạo diễn của Trần Thủ Độ, ngày 11 tháng chạp năm ất Dậu(1226), Lý Chiêu Hoàng đặt đại hội ở điện Thiên An banchiếu nhờng ngôi cho Trần Cảnh và nội dung đại lợc nh sau:

“[313] Từ xa, nớc Nam Việt ta đã có các bậc đế vơngtrị thiên hạ Duy họ Lý ta vâng mệnh trời, gồm có bốn biển,truyền nối hơn 200 năm, nhng vì Thợng hoàng mắc bệnh,không có ngời nối dõi, thế nớc gian nguy, sai Trẫm nhận minhchiếu, cố gắng lên ngôi, từ xa đến nay cha từng có việc đó

Trang 21

Than ôi! Trẫm là vua đàn bà, tài đức đều thiếu, không cóngời giúp đỡ, giặc cớp nổi lên nh ong, sao có thể giữ đợcngôi báu quá nặng nề, Trẫm dậy sớm thức khuya, chỉ sợkhông cáng đáng nổi, vẫn thờng nghĩ đến tìm các bậchiền lơng quân tử để cùng giúp chính sự, ngày đêm lo lắng

đến thế là cùng Kinh thi có câu: “Quân tử hảo cầu, cầu chibất đắc, ngụ mỵ t bặc, du tai du tai” Nay Trẫm tính đitính lại chỉ thấy có Trần Cảnh văn chất vẹn toàn, thực là cóthể cách t chất của bậc hiền nhân quân tử, uy nghi đạomạo, có t chất thánh thần văn võ, dù đến Hán Cao Tổ, ĐờngThái Tông cũng không hơn đợc Sớm hôm nghĩ kỹ thểnghiệm từ lâu, có thể nhờng ngôi báu để thuận lòng trời,

để thỏa lòng Trẫm, may ra có thể đồng tâm giúp sức cùnggiúp việc nớc để hởng phúc thái bình [314] Vậy bố cáo thiênhạ để mọi ngời đều biết”

Chiếu nhờng ngôi ban ra là dấu mốc kết thúc tồn tạicủa vơng triều Lý và đồng thời chính thức xác lập vơngtriều nhà Trần Sự kiện này diễn ra một cách êm thấmkhông gây ra sự xáo trộn nào đáng kể, việc nhà Trần thànhlập cũng có không ít những ý kiến nh ngời ta cho rằng họTrần nhờ có nhan sắc mà đợc thiên hạ, nhận định này hoàntoàn cha chính xác vì từ thời Trần Lý cho đến Trần Thủ Độ,mặc dù xuất thân từ những ngời bình dân làm nghề đánhcá biển nhng lại sớm bộc lộ tài kinh bang tế thế, ở họ mỗiquyết định liên quan đến dân tộc luôn gắn liền với dòng

họ, Tự Đức có lời phê bình nh sau:

Trang 22

“Thực là việc lạ, muôn nghìn năm cha hề có, các triều

đại phơng Bắc cha từng có chuyện đợc nớc nh vậy bao giờ”[24;26]

Có lẽ, việc lập ra triều Trần diễn ra trong một hoàn cảnh

đặc biệt là không có đổ máu mà lại diễn ra trong hòabình, điều mà chúng ta ít thấy trong lịch sử phong kiến

Sự thay đổi triều đại không phải là một sự kiện bình thờng

mà nó tác động đến chiều hớng phát triển của cả một giai

đoạn lịch sử và mỗi một vơng triều đợc khai sinh là sự kiệntrọng đại của dân tộc Những ngời họ Trần đã rất khéo léotrong việc chọn thời điểm để cho Lý Chiêu Hoàng ban chiếunhờng ngôi để hợp pháp hóa nhanh chóng vơng quyền cho

họ Trần vừa tạo đợc thế hợp lòng ngời Còn Lý Chiêu Hoàng bịmột số nhà nho vịnh sử chê cời là “bán nớc mua chồng”, mộtcô bé mới có bảy tuổi đâu đã hiểu hết đợc những toan tính

và thủ đoạn của những ngời chốn quan trờng lại càng cha ýthức đợc giá trị ngai vàng của nhà Lý cần phải đợc bảo vệ,thì việc gán cho Chiêu Hoàng tội “bán nớc” liệu có nặng nềquá chăng ? Sử gia Trần Trọng Kim chê Lý Huệ Tông nhu nhợc,

đem giang sơn phó thác cho ngời con gái thơ dại, thực tế vua

Lý Huệ Tông lên kế vị trong tình trạng đất nớc đã và đangsuy mòn phần nào tác động đến tâm lý chán nản bản thânlại phải chịu nỗi đau không có con trai nối dõi, từng ấy thứ đã

đủ để đánh gục ông chính vì vậy chỉ còn một giải phápduy nhất là truyền ngôi cho con gái của mình ở đây LýHuệ Tông và Lý Chiêu Hoàng đáng thơng hơn là đáng trách.Còn nhà Trần đợc thành lập là niềm phấn khởi đối với những

Trang 23

ngời trong dòng họ và ngời có công lớn nhất tạo ra bớc ngoặtcho sự phát triển của dòng họ này chính là Trần Thủ Độ Cóngời đã tán dơng công nghiệp của ông ở chỗ: “Nếu khôngsớm thay đổi guồng máy nhà nớc quá mục nát của nhà Lý, vớivua vô tài, bất đức, lại ốm đau, tôn thất và quan triều hènkém, vô dụng, các lực lợng cát cứ phân tranh đánh lẫn nhau,kinh tế suy sụp, dân tình đói khổ bằng một triều đại mớimạnh mẽ, thống nhất và phục hng đất nớc thì thời bấy giờ nớc

ta sẽ thành mồi ngon cho đến quốc Mông Cổ, chịu chung sốphận với nớc Đại Lý” [24;38]

Trải qua 175 năm (1225 - 1400) kể từ ngời đầu tiên khaisáng ra vơng triều là vua Trần Thái Tông cho đến ngời kế vịcuối cùng là vua Trần Thiếu Đế thì những cống hiến của họcho quốc gia dân tộc không phải là ít Trớc hết, phải nói đếncông lao của những ngời trong họ Trần buổi đầu khainghiệp nh Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông

và Trần Thủ Độ đã đa đất nớc vợt qua khủng hoảng, từng bớc

ổn định kinh tế, chính trị, văn hóa, tăng cờng thống nhất

và giành đợc thiện cảm trong lòng quần chúng nhân dân

đang đói khổ trăm bề Dù vấp phải nhiều khó khăn và tháchthức do triều đại trớc để lại, nhà Trần tiếp thu quyền lực từtay nhà Lý, gia tài xã hội để lại đã mọt ruỗng nhng họ đã nỗlực cố gắng thay đổi tình hình Họ Trần trớc đây đã từnglàm nghề đánh cá, một nghề lao động bình thờng và phảivất vả bơn chải kiếm sống, khi bớc vào hàng ngũ quý tộc họlại tỏ ra là những ngời nhạy bén với thời cuộc đã nhận thức vàgiải quyết đợc những vấn đề đang đặt ra cho họ, vậy nên

Trang 24

xã hội phong kiến Đại Việt nhanh chóng ở vào cảnh “thái bìnhthịnh trị” Mọi lĩnh vực từ chính trị - xã hội đến kinh tế vàvăn hóa - giáo dục đều gặt hái đợc những thành tựu rực rỡ,

đời sống nhân dân đợc cải thiện, nền tài chính quốc giadồi dào, quan hệ giữa vua - tôi và quan - dân đợc củng cốtạo ra cảnh “quốc thái dân an” là điều mà các vị vua cuốitriều Lý đã không làm đợc Những việc này có tác dụng tíchcực trong những năm mà cả nớc phải tiến hành ba lần khángchiến chống quân xâm lợc Mông - Nguyên ở thế kỷ XIII.Thắng lợi oanh liệt nhng đầy gian nan trong công cuộcchống ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc đã góp phầntăng thêm niềm tin của nhân dân Đại Việt vào nhà Trần Sự

đối đãi và lối ứng xử khéo léo, đúng mực của nhà Trần trớcbách tính dần dần cảm phục đợc nhân dân, cho họ thấyrằng sự thay thế triều đại cũ bằng một triều đại mới là phùhợp với hoàn cảnh lịch sử Nếu bảo thủ cố sức giữa lấy nhà Lýliệu có khả năng chống lại một đế quốc sừng sỏ nhất vào thời

điểm bấy giờ và đất nớc có đợc bảo toàn trọn vẹn hay khôngkhi mà lòng ngời li tán ? Có chăng chỉ là những hy vọngmong manh, những hậu quả khôn lờng đang tiềm tàng trongxã hội Đại Việt đã tụ lại thành một khối lớn Nói nh vậy khôngphải là đề cao nhà Trần mà hạ thấp nhà Lý, nhng việc làmcủa vua Trần đã đáp ứng đợc khát vọng cháy bỏng của hầuhết nhân dân trong nớc Những việc làm đó có tính chấthai chiều, vừa dung hòa đợc quyền lợi và lợi ích của giai cấpphong kiến vừa thỏa mãn quyền lợi cho đại bộ phận ngời lao

động, hai giai cấp đó là hai giai cấp cơ bản của xã hội phong

Trang 25

kiến và mâu thuẫn giữa hai giai cấp này giảm xuống đếnmức thấp nhất Với tầm nhìn chiến lợc của bậc đế vơng,những vị vua Trần đã tìm thấy đợc điểm chung giữa haigiai cấp đối kháng trong một thực thể xã hội, do đó đã bắttay vào phát triển kinh tế nông nghiệp bằng việc ban hànhmột loạt các chính sách khai hoang, thuế khóa, đắp đê làm cho các mối quan hệ trong xã hội bị ràng buộc và chiphối lẫn nhau Thời kỳ hùng cờng của nhà Trần gắn liền vớinhững tên tuổi của các bậc trung thần, lơng tớng nh TrầnQuốc Tuấn, Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật họ là chỗdựa chủ yếu để duy trì vơng quyền, vua Trần sẽ cùng với họquản lý và hoạch định việc nớc, sở dĩ quốc gia Đại Việt đợcphục hồi nhanh chóng phần lớn cũng do họ quyết định Hng

đạo đại vơng Trần Quốc Tuấn, một vị tớng tài ba lỗi lạc “luôn

đặt lợi nớc lên trên thù nhà, vun trồng cho khối đoàn kết giữatông tộc họ Trần, tạo cho thế nớc ở đỉnh cao ngàn trợng, đủsức đè bẹp quân thù” [7;23] Những lúc vận nớc nguy nan thìcác mâu thuẫn trong nội bộ quý tộc họ Trần đợc hòa hoãn vàsát cánh cùng nhau chiến đấu với kẻ thù vì mục đích cao cả,thiêng liêng, còn lúc thái bình họ vẫn cùng với vua chăm lotriều chính, cùng nhau ăn uống thậm chí nắm tay nhau cahát vui vẻ: “Trừ các buổi thiết triều vua mới phân biệt trên d-

ới, còn thờng ngày vua cho các hoàng thân vào điện ăn cùngmâm, nằm cùng chiếu, thật hòa hợp thân ái” [7;118] Rõ ràng

t tởng dân chủ tập thể biểu hiện rõ nét trong tôn thất nhàTrần, chỗ cha - con và anh - em sống rất hòa thuận Trớc khimất, Trần Quốc Tuấn đã không dấu giếm nói ra những lời

Trang 26

tâm huyết với vua Trần rằng: “Thời bình phải khoan th sứcdân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thợng sách giữ nớc”.Phải có những con ngời vì dân vì nớc hết lòng nh thế thì

sự nghiệp nhà Trần mới đạt đến thăng hoa, họ chính lànhững tấm gơng tiêu biểu của sự hy sinh và cống hiến choquốc gia dân tộc Trần Thủ Độ một thời mang tiếng với hậuthế nhng những việc ông đã làm chẳng những không tổnhại cho quốc gia mà còn đem lại sự phồn vinh cho dân tộc,

có ngời đã tố cáo ông lấn át nhà vua, ông nhận sai lầm màkhông thù oán gì với ngời đã tố cáo, hay ông thấy vợ mình sailầm vì vi phạm phép tắc thì nên trách cứ vợ hơn trách cứngời bắt lỗi Còn Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật lànhững anh hùng kiệt xuất từng xông pha ngoài mặt trận,

đồng thời cũng là ngời khéo léo trong ứng nhân xử thế.Những đóng góp của quý tộc tôn thất nhà Trần vào côngcuộc phục hng dân tộc có ý nghĩa lớn lao, bản thân các vịvua Trần: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông

và Trần Anh Tông đều là những vị vua sáng lại vừa là nhữngnhà chính trị đa năng vừa là những thi sĩ, triết gia am t-ờng Sớm định ra pháp luật, tổ chức lại bộ máy nhà nớc từtrung ơng đến địa phơng và chấn chỉnh lại quân đội lànhiệm vụ trọng tâm của vơng triều, thi hành chính sách đốinội và đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt làm cho cả trong và ngoàicõi phải nể phục

Từ thời Dụ Tông trở về sau, chính trị bắt đầu sút kém,không còn vua sáng tôi hiền và ít thấy những trung thần l-

ơng tớng, trong nội bộ giai cấp thống trị phân hóa lúc này

Trang 27

nhà Trần lại rơi vào vòng luẩn quẩn, những chính sách banxuống chỉ có tác dụng một chiều là nó chỉ đem lại lợi íchcho tầng lớp trên trong xã hội và tăng cờng gánh nặng cho ng-

ời lao động vô hình chung đã đẩy nhân dân vào cảnh

điêu đứng vì thuế khóa và quân dịch nặng nề, mất mùa

đói kém liên miên đây là mặt hạn chế mà giai cấp phongkiến không sao khắc phục đợc Không còn thấy cảnh vuatrực tiếp đi xem việc đắp đê phòng lụt bảo vệ mùa màngcho nhân dân, cũng không còn thấy các Hà đê chánh sứ vàPhó sứ đi tuần để kiểm tra đê điều nh trớc nữa Từ đồngbằng xung quanh kinh đô đến tận những vùng xa xôi hẻolánh ở phơng Nam biến thành những vùng đất hoang Đờisống của vua quan chốn kinh kỳ hết sức sung túc, còn nhândân ở các vùng nông thôn thì đói rách lam lũ Tất cả những

điều đó làm nên bức tranh tơng phản về tình hình quốcgia Đại Việt ở cuối vơng triều nhà Trần Cũng nh triều Lý, v-

ơng triều nhà Trần không phải là một triều đại toàn bích,

đành rằng những đóng góp của nó cho nền văn hóa vănminh Đại Việt vô cùng to lớn nhng vẫn còn những mặt hạn chế

và giai đoạn đỉnh cao của sự thống nhất, ổn định nhngcũng là giai đoạn cuối cùng của chế độ phong kiến quânchủ Các vị vua thời thịnh Trần đã coi trăm họ là con, lấybách tính làm trọng và vì cơ nghiệp của tổ tông làm chính.Thợng hoàng Trần Anh Tông từng nói rằng:

“Trẫm là cha mẹ dân, nếu sinh dân mắc vào cảnhlầm than thì phải cứu gấp, chả lẽ nào đi so đo khó dễ lợi hạihay sao” [30;116] Câu nói đó đã tỏ rõ trách nhiệm của một

Trang 28

bậc đế vơng đối với nhân dân trong nớc Mối quan hệ Vua tôi, quan - dân đợc nhà vua thay bằng cha - con đã xóa đimọi cách biệt về đẳng cấp, cha phải làm tròn bổn phận củamột ngời cha đối với con và phải làm chỗ dựa, làm tấm gơngsáng để cho con học tập Mối quan hệ đó còn là mối quan

-hệ giữa những ngời cùng sinh ra từ một bọc trăm trứng cócùng cội nguồn sinh thành Dù sống trong cảnh êm ấm, đợcmọi ngời cung phụng nhng họ luôn nghĩ đến dân và trăn trở

về nớc, vậy tại sao từ thời vua Trần Dụ Tông trở về sau lạikhông làm đợc điều đó? Rõ ràng truyền thống quyết địnhnhng ý thức của mỗi cá nhân cũng quan trọng không kém.Quyền lực mà các vua Trần để lại cho Trần Dụ Tông khôngphải là đổ nát mà nó hãy còn đang ở độ huy hoàng và trẻtrung nhất Vậy mà dới thời Dụ Tông trở đi nó trở nên ì ạch,méo mó và cứng nhắc Những vị vua ở cuối thời Trần lại đitheo vết xe đổ của các vị vua ở cuối vơng triều Lý, bất lựctrớc thực tại, họ đã đi chệch sang lối sống hởng thụ, xa rờiquần chúng nhân dân Ba lần kháng chiến chống lại sự xâmlợc của quân Mông - Nguyên thì tình đoàn kết nhất trí pháttriển cao đến vậy thế mà nay khi không còn bóng giặcngoại xâm đe dọa đến bờ cõi thì đất nớc lại rơi vào chiacắt, báo hiệu thời kỳ khủng hoảng kéo dài sắp diễn ra

1.2 Khái quát những chính sách của nhà Trần đối với dân tộc

Thế kỷ X đợc coi là dấu mốc quan trọng, chấm dứt 1000năm Bắc thuộc và chống Bắc thuộc của nhân dân ta, mở ra

Trang 29

tộc Từ thế kỷ X đến thế kỷ XI, trải qua các triều đại Khúc Ngô - Đinh và Tiền Lê thì chế độ phong kiến quân chủtrung ơng tập quyền cha đợc xác lập một cách vững chắc,

-sự ổn định chỉ có tính nhất thời Ngay trong thời Bắcthuộc, có nhiều cuộc khởi nghĩa đã đa đến sự thành lậpchính quyền tự chủ, ví nh cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trngvào mùa xuân năm 40 lập ra chính quyền quản lý đợc haiquận Giao Chỉ, Cửu Chân và chính quyền đã ban hành xáthuế trong hai năm cho nhân dân ở hai quận này Hay cuộckhởi nghĩa của Lý Bí vào năm 542 đã lập ra nhà nớc VạnXuân, ông đã trao chức tớng quân cho Lý Phục Man cónhiệm vụ coi giữ một vùng biên ải từ Đỗ Động (Thanh Oai - HàTây) đến Đờng Lâm (Ba Vì) để phòng ngừa Di Lão (tức cácnhóm dân tộc thiểu số khác Việt ở vùng phía Tây cha quyphục chính quyền mới), sau đó Lý Bí còn cử tớng Phạm Tumang quân vào phơng Nam đánh tan quân Chămpa xâmlấn vùng Cửu Đức (quận Cửu Đức thuộc Nghệ Tĩnh hiện naygồm: Đức Châu, Lợi Châu và Minh Châu) ở thời kỳ phongkiến dân tộc, những ngời đứng đầu mỗi triều đại đều tiếnhành cải tổ bộ máy hành chính và sắp đặt diên cách trong

điều kiện của một quốc gia đa dân tộc theo hớng quyền lực

và ảnh hởng của chính quyền trung ơng ngày càng mở rộng:

“Lê Đại Hành tiến hành phân phong cho các con đi trấn giữcác địa phơng Tuy vậy, thời kỳ này nhà Tiền Lê mới chỉ caiquản trên thực tế vùng đồng bằng ở miền núi và biên ảiquyền lực thực tế vẫn còn nằm trong tay các tù trởng theochế độ thế tập, yếu tố quốc gia còn yếu, trong khi đó biên

Trang 30

giới giữa ta và Tống cha ổn định” [8;15] Nh vậy, nhữngchính sách của chính quyền Hai Bà Trng và Lý Bí là nhữngchính sách đầu tiên đợc thực hiện đối với nhân dân dớichính quyền đó, sau này các triều đại phong kiến thời độclập tiếp tục tiến hành nhằm tăng cờng củng cố và thống nhấtquốc gia Không chỉ vậy mà đến nay (thời hiện đại), chínhsách dân tộc vẫn đợc duy trì, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn lịch

sử thì chính sách ấy mang những nội dung và đặc điểmkhác nhau Nớc ta vốn là một quốc gia có nhiều dân tộc, việcban hành các chính sách của nhà nớc trung ơng là cần thiết

do đó mỗi triều đại phong kiến khi lên cầm quyền để quản

lý đất nớc đều phải thực hiện chức năng đối nội và đốingoại của mình nhằm củng cố nhà nớc độc lập vừa mới giành

đợc tạo thế đứng vững chắc cho cả vơng triều Chính sáchdân tộc đợc áp dụng chung trong cả nớc, nhng bên cạnh đóvẫn phải căn cứ vào đặc trng và đặc thù của từng vùngmiền Đến nhà Lý, đây là thời kỳ mà chế độ phong kiến đivào ổn định và cũng là lúc nền văn minh Đại Việt bắt đầuthu đợc những thành công nhất định Trong buổi đầu, cácvua Lý tổ chức lại bộ máy cai trị và cắt cử quan lại về cácphủ, lộ trong cả nớc trực tiếp trấn trị để vỗ về nhân dân,khuyến khích khai khẩn đất hoang mở rộng diện tích sảnxuất trong nông nghiệp và đập tan những cuộc nổi dậycủa các lực lợng chống đối giữ yên cơng của Tổ quốc.Những chính sách này có tác dụng tích cực là nó tạo điềukiện cho kinh tế nông nghiệp phát triển, đảm bảo quốcphòng và an ninh cũng nh các mối quan hệ trong xã hội

Trang 31

ngày càng đợc thắt chặt Sang thời Trần, trên cơ sở kếthừa những thành quả của vơng triều Lý, nhà Trần tiếp tụcthực hiện những chính sách trên nhng với quy mô và tínhchất triệt để, mạnh mẽ hơn cho nên các mặt chính trị - xãhội, kinh tế cũng nh văn hóa - giáo dục đều tiến thêm mộtbớc so với nhà Lý Để tăng thêm quyền lực cho nhà nớc vàchống xu hớng li khai, cát cứ thì các vấn đề dân tộc trởthành một “hằng số”, những chính sách đó sẽ giúp cho họ

điều hành và quản lý việc nớc đợc dễ dàng hơn

Trang 32

dân, có quyền quyết định các công việc ở nơi đó nh thuthuế, khai hoang và tổ chức cho nhân dân làm thủy lợi.Cũng có khi nhà Trần lấy luôn ngời ở địa phơng vào hệthống quan lại nhằm tạo ra sự tin tởng đối với nhà nớc Trờnghợp này thờng là ở những vùng xa xôi hẻo lánh, những vùng

“trọng trấn” mà nhà nớc cha thể quản lý một cách trực tiếp,khi ảnh hởng của vơng quyền còn mờ nhạt do vậy mà thổ tùhay những thủ lĩnh đứng đầu vùng đó đợc lựa chọn, nhà n-

ớc sẽ phong tớc và giao quyền cai quản địa phơng cho họ

Đây là biện pháp tơng đối mềm dẻo nhằm thu phục và lôikéo nhân dân đứng về phía nhà nớc Sở dĩ nhà nớc lấy ngờitrong nhân dân ra làm quan vì họ hiểu đợc phong tục tậpquán, tâm lý của đồng bào nên những chính sách đó nhanhchóng thích ứng và hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân,qua đó tuyên truyền các chủ trơng của nhà nớc Để kiểm soátnhân đinh hộ khẩu trong cả nớc và nắm tình hình dân cthì dân đinh ở các hơng đợc ghi vào sổ hộ tịch, hàng nămvào mùa xuân quan lại ở các hơng, xã kiểm tra nhân khẩu

để báo lên trên giúp cho nhà nớc biết mức độ xê dịch của cdân trong xã đó

Về quân đội: Nhà Trần quan tâm xây dựng quân đội

ở triều đình và cả lộ phủ ở trung ơng, vua Trần Thái Tông

đặt ra các vệ Tứ thiên, Tứ thánh và Tứ thần Đến thời vuaTrần Anh Tông lập thêm Vũ tiệp Vua Huệ Tông lập thêm cácquân Uy tiệp, Bảo tiệp, Long tiệp Vua Trần Phế Đế lại lập

ra các quân Thần dực, Thiên uy, Hoa ngạch Bộ phận cấmquân ngày càng tăng cờng phiên chế một cách chặt chẽ, Vua

Trang 33

Trần Thái Tông đã lập ra Giảng võ đờng, đây là trờng caocấp quân sự nhằm đào tạo ra các võ quan Còn quân ở cáclộ: Lộ Thiên Trờng, Long Hng nhập vào quân Thiên thuộc,Thiên cơng, Chơng thánh; lộ Hồng Châu, Khoái Châu đợcnhập vào các quân tả hữu thánh dực Thời vua Duệ Tông tămthêm số quân ở các lộ: Thiên Trờng, Bắc Giang, Thanh Hóa,Nghệ An, Lâm Bình và Thuận Hóa Nhà Trần đã thực hiệnchính sách “ngụ binh nông”, binh lính ở các đạo thay phiênnhau về quê làm ruộng và dân đinh phải thực hiện chế độnghĩa vụ quân sự với nhà nớc Ngoài ra, ở các địa phơng còn

tổ chức ra các đội dân binh (hơng binh) để bảo vệ của cảicho nhân dân trong vùng

Về pháp luật: Ngay dới thời vua Trần Thái Tông đã banhành bộ “Quốc triều thông chế” Sau đó qua vài lần sửachữa và bổ sung, nhà Trần lại ban hành bộ “Quốc triều hìnhluật” Luật pháp ra đời dới mỗi triều đại là kết quả của sự kếthừa của luật pháp thời trớc và đợc nâng lên thành luật phápcủa triều đại mình Mỗi lần nh vậy sẽ là dấu mốc quan trọngtrong lịch sử pháp quyền của nớc ta, đóng góp vào thành tựucủa nền văn minh Đại Việt ở triều đình có thẩm hình việnchuyên xét xử ngục tụng, viện đăng văn kiểm pháp vua vàhoàng gia đợc pháp luật tuyệt đối bảo vệ Pháp luật thờiTrần có điểm tích cực là bảo vệ sản xuất nông nghiệp,trong đó có những điều khoản quy định mức hình phạt cụthể về tội trộm cắp, bảo vệ sức kéo trong nông nghiệp Đểphục vụ cho sản xuất nông nghiệp, nhà nớc đã cho đào vétcác con sông, đắp đê điều, đặt ra các chức Hà đê chánh

Trang 34

sứ và phó sứ chuyên trách về trị thủy và thủy lợi, những viênquan này có trách nhiệm trông coi cẩn thận và thờng xuyênphải đi tuần tra nếu không làm tốt nhiệm vụ sẽ tùy theo mứcnặng nhẹ mà định tội Luật pháp ban hành buộc thần dântrong nớc phải thực hiện và tuân theo, từng bớc đa xã hội vào

kỷ cơng, đảm bảo quyền lực cho nhà nớc

1.2.2 Về kinh tế

Trong nông nghiệp: Đây là ngành kinh tế đóng vai tròtrụ cột mà bất cứ ngành kinh tế nào không thể thay thế đợc,

nó nuôi dỡng cả một cơ thể dân tộc Bên cạnh chính trị - xãhội thì nhà Trần hết sức quan tâm đến nông nghiệp màvấn đề then chốt là ruộng đất là t liệu sản xuất chính củanông dân Dới thời Trần thì có ruộng đất do nhà nớc sở hữu

và ruộng t nhân Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nớc phải kể

đến là ruộng công làng xã, đây là loại ruộng có diện tích lớnnhất, nguồn thu nhập chính của nhà nớc vẫn là từ loại ruộng

đất này Ruộng công làng xã do các làng xã quản lý và các xãdân nhận ruộng đất này để cày cấy, phải đóng thuế chonhà nớc và đóng góp cho làng Ngời đại diện cho nhà nớcquản lý loại ruộng này là bộ máy quản lý xã thôn, đứng đầu

là xã trởng Các xã quan vào đầu năm phải khai báo số nhânkhẩu để nhà nớc định ra mức tô thuế, chia ruộng đất vàchủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng, Thanh -Nghệ Tĩnh Năm 1242, nhà Trần quy định: “Nhân đinh córuộng thì nộp tiền thóc, ngời không có ruộng đất thì miễntất cả” [23;193] Theo sử cũ, phép định tô thuế đầu tiên đ-

ợc ban hành vào năm 1242: “Nhân đinh có ruộng đất thì

Trang 35

nộp tiền thóc, có 1 - 2 mẫu thì nộp tiền 1 quan, có 3 - 4 mẫuthì nộp 2 quan tiền, từ 5 mẫu trở lên thì nộp 3 quan tiền Tôruộng mỗi mẫu nộp 100 thăng thóc” [23;193] Những nămmất mùa đói kém, dân tình cực khổ, vua Trần thờng xuốngchiếu miễn giảm tô thuế, thuế nhân đinh, thậm chí có nămcòn miễn cho cả thiên hạ Trong buổi thịnh Trần thì kho

đụn nhà nớc lúc nào cũng dồi dào, đời sống nhân dân no

đủ, hiện tợng mất mùa và lũ lụt rất ít Nhng về cuối thờiTrần, khi nhà nớc bắt dầu suy yếu thì hiện tợng đó diễn ravới nhịp độ nhanh và số lợng nhiều, vua còn phải xuốngchiếu phát thóc công chẩn cho dân nghèo

Để mở rộng diện tích sản xuất lơng thực, cả thiện đờisống cho nhân dân, nhà Trần còn khuyến khích khai hoang

nh cho các vơng hầu, phò mã, công chúa chiêu mộ dân phiêután đi khai hoang lập ra điền trang hoặc những ngời nào cókhả năng tự đứng ra tổ chức cho nhân dân đi khai khẩn,nhà nớc cũng không đánh thuế vào ruộng đất khai hoangnày, ai khai khẩn đợc nhiều hay ít đều tiến hành sản xuất

và tự thu lấy Tác dụng của chính sách này là nó giúp cho lãnhthổ quốc gia đợc mở rộng, diện tích đất đai canh tác tănglên đáng kể và giải quyết tốt các vấn đề về mặt xã hội nhphân bố dân c, địa bàn c trú nhằm tận dụng đất đai cònhoang phế

Một yếu tố quan trọng trong sản xuất nông nghiệp là hệthống thủy lợi, phục vụ đắc lực cho tới tiêu cây hoa màu nhngô, khoai, lúa, thóc Đến thời nhà Trần thì hệ thống thủynông đợc mở rộng, nhà nớc đặt ra các chức Hà đê chánh sứ

Trang 36

và phó sứ chăm lo việc đê điều, nếu để đê vỡ, lũ lụt pháhoại mùa màng cuốn trôi tài sản và đe dọa đến tính mạngcủa nhân dân thì có khi bị cách chức, giáng chức Đê ĐỉnhNhĩ là công trình thủy lợi tiêu biểu, nó không chỉ dành riêngcho vùng đồng bằng sông Hồng mà còn đợc thực hiện ở cảThanh Hóa và Nghệ An Đây là một bớc tiến toàn diện về sứcmạnh của nhà nớc đồng thời đánh dấu bớc ngoặt to lớn tronglịch sử thủy lợi nớc ta, việc đắp đê ngăn lũ, ngăn nớc mặn đ-

ợc triển khai một cách rầm rộ cha từng có

Bên cạnh ruộng đất thuộc sở hữu nhà nớc còn có bộphận ruộng đất t nhân, bấy giờ việc bán ruộng đất công trởthành phổ biến ở giai đoạn này làm cho sở hữu địa chủphát triển mạnh Nhà Trần đã tiến hành ban cấp thái ấp chonhững quý tộc trong tôn thất nh thái ấp Tĩnh quốc đại vơngTrần Quốc Khang, thái ấp của Thợng tớng Trần Quang Khải

và lập điền trang thì có Viên Thôn, xa là một phần điềntrang do công chúa Trần Khắc Hãn theo lệnh khẩn hoangnăm 1266 lập điền trang ở vùng Cổ Nhuế, hay vùng Tô Xuyên(Quỳnh Phụ, Thái Bình) cũng là điền trang thời Trần Đó là

điểm dân c tiêu biểu cho hình thái kinh tế - xã hội thờiTrần, nó ổn định chứ không nh ruộng đất của t nhân luônluôn giao động không tập trung và không ổn định

Trong thủ công nghiệp và thơng nghiệp:

Thủ công nghiệp: Các ngành thủ công nghiệp dới thờiTrần nh nghề gốm, nghề dệt, rèn sắt đều có nhữngchuyển biến Thủ công nghiệp bao gồm có thủ công nghiệpnhà nớc và thủ công nghiệp trong nhân dân đợc mở rộng về

Trang 37

quy mô Riêng thủ công nghiệp nhà nớc sản phẩm chủ yếulàm ra là phục vụ chốn cung đình, còn thủ công nghiệptrong nhân dân sản phẩm làm ra đáp ứng nhu cầu sinh hoạthàng ngày nh bát, bình, vò, Thủ công nghiệp lúc bấy giờcha tách khỏi nông nghiệp những sản phẩm của thủ côngnghiệp phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp lúc nàyngời thợ kiêm luôn cả hai ngành kinh tế.

Thơng nghiệp: Khá phát đạt, hệ thống giao thông thủy

bộ đã kích thích kinh tế thơng nghiệp phát triển hơn trớc,các đờng giao thông từ kinh đô Thăng Long về đến các phủ,

lộ Hoạt động buôn bán, trao đổi nhộn nhịp từ đồng bằngcho tới tận vùng biên viễn Đặc điểm cơ bản nhất của thơngnghiệp là hệ thống chợ và đợc hình thành nhiều ở các địaphơng, ngoài chợ còn có phố Hoạt động nội thơng đã đápứng đợc nhu cầu của các tầng lớp nhân dân trong vùng, sảnphẩm còn đợc đem ra buôn bán với cả những ngời nớc ngoài

mà biểu hiện rõ nhất là cảng Vân Đồn, vừa là một quâncảng vừa là một thơng cảng có dáng vẻ quốc tế và đô thànhThăng Long là trung tâm chính trị, văn hóa đồng thời cũng

là một trung tâm kinh tế lớn nhất Đại Việt lúc bấy giờ, cảThăng Long vẫn chia làm 61 phờng, những ngời buôn bán vàsản xuất chủ yếu cũng là ngời trong các phờng ở Thăng Long

Nh vậy, từ quy hoạch đô thị, kết cấu kinh tế và dân c đến

tổ chức chính quyền cho thấy Thăng Long là một thành thịtrung cổ

1.2.3 Về văn hóa - giáo dục

Trang 38

Đến thời Trần, những tín ngỡng cổ truyền vẫn đợc bảo

lu nh tục thờ cúng tổ tiên, thờ các anh hùng dân tộc, Songcác tôn giáo lớn nh Phật giáo và Nho giáo, Đạo giáo vẫn khôngngừng vơn lên Các vị vua Trần đầu triều rất coi trọng Phậthọc và đã chủ trơng tạo điều kiện cho tôn giáo này pháttriển trong cả nớc Phật giáo không chỉ giới hạn ở tầng lớn trêntrong xã hội mà nó còn thâm nhập vào đời sống của đông

đảo nhân dân lao động ở vùng nông thôn Bản thân các vịvua Trần rất sùng đạo Phật, Trần Thái Tông đợc ngời đời ví

nh một ngọn đuốc thiền học hay vua Trần Nhân Tông là mộttriết gia lớn, đứng đầu một triết phái đó là phái Thiền TrúcLâm Đạo Phật gần gũi với mọi ngời vì thế chùa chiền đợcxây dựng nhiều nơi để thờ Phật nó trở thành chỗ dựa vềmặt tinh thần cho nhân dân với nội dung đề cao lòng từ bi,bác ái Khi vào nớc ta đợc nhân dân đón nhận một cách tựnguyện nhng đã có những thay đổi nhất định, ngời taquan niệm “Phật ở trong lòng, lòng lặng lẽ và sáng suốt, đóchính là chân Phật” Nhng do yêu cầu phải xây dựng một bộmáy nhà nớc trung ơng tập quyền vững mạnh cho nên Phậtgiáo với giáo lý của nó đã không đáp ứng đợc điều đó, phầnnhiều nó hớng về con ngời và thế giới quan, nhân sinh quanchứ không đề cập đến cách cai trị đất nớc Mặc dù vậy thìPhật giáo vẫn tồn tại âm thầm trong đời sống hàng ngày của

c dân Đại Việt

Nho giáo vào nớc ta từ thời Bắc thuộc nhng cha có điềukiện phát triển, vì nó theo gót chân của chính quyềnphong kiến phơng Bắc khi du nhập đã gặp phải sự phản

Trang 39

kháng của nhân dân ta Những năm mà Phật giáo vơn lênthành quốc giáo thì Nho học vẫn tồn tại tuy không đợc tỏasáng nh Phật giáo, sang thế kỷ XIV thì Nho giáo chiếm lĩnh

đợc trận địa t tởng thay chân Phật giáo Nho giáo là một họcthuyết chính trị - xã hội, nó giúp cho ngời quân tử cai trị

đất nớc theo một khuôn mẫu nhất định Nho học phát triểnthì nền giáo dục khoa cử nớc nhà cũng có sự hng khởi dới thờiTrần, giáo dục tiến một bớc khá dài so với thời Lý, nhà nớc quantâm hơn đến việc học hành và thi cử của các sĩ tử trong cảnớc Mở nhiều khoa thi, đặt ra lệ lấy Tam khôi là Trạngnguyên, Bảng nhãn và Thám hoa, lấy Hoàng giáp và có nhữngkhoa thi lấy hai Trạng nguyên: Một Trạng nguyên kinh (ở kinh

đô) và một Trạng nguyên trại (từ Thanh Hóa trở vào) đểkhuyến khích ngời học lập nghiệp theo con đờng khoa cử

Có thể nói nhà Trần tổ chức việc thi cử một cách thờngxuyên và liên tục nhằm thông qua đó để tuyển chọn nhântài phục vụ cho đất nớc thậm chí có những ngời đỗ đạt nhngkhông ra làm quan lại xin về quê mở trờng dạy học Nếu nh ởthời Lý, Nho học chỉ mới đợc xác lập và chủ yếu dành chotầng lớp trên trong xã hội thì sang đến thời Trần, Nho giáothực sự đã phát triển thông qua đội ngũ trí thức xuất thânkhác nhau Những ai có tài và am hiểu Nho học, không căn cứvào xuất thân cao hay thấp cũng đợc ra đua tài cho nên ởthời Trần có nhiều nhân tài đậu đạt hơn thời Lý Nội dungthi cử thời Trần đợc quy định cụ thể và chặt chẽ hơn theo

xu hớng hoàn thiện, làm cho tầng lớp trí thức Nho học tăng lên

Trang 40

nhanh chóng và tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hộicủa đất nớc.

Đạo giáo đợc du nhập vào Đại Việt đến đây nhanhchóng hòa vào các tín ngỡng cổ truyền của nhân dân hoặc

đã chuyển hóa sang Phật giáo

Những chính sách, hay đúng hơn là những đóng gópcủa nhà Trần trong 175 năm tồn tại đối với quốc gia dân tộc

là rất lớn biểu hiện trên tất cả mọi lĩnh vực từ chính trị - xãhội đến kinh tế và văn hóa - giáo dục đều đạt đợc nhữngthành tựu nhất định Mặc dù là kế thừa những kinh nghiệm

từ thời Lý, nhng nhà Trần đã bổ sung và nâng cao hơn so vớinhà Lý theo xu hớng quyền lực tập trung và thống nhất

Ngày đăng: 19/12/2013, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lại Nguyên Ân (chủ biên, 1997), Từ điển văn học Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[2]. Ban Nghiên cứu lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh (1984), Lịch sử Nghệ Tĩnh, tập 1, Nxb Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ban Nghiên cứu lịch sử tỉnh Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
Năm: 1984
[3]. Hippolyte le Breton, An tĩnh cổ lục, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: An tĩnh cổ lục
Nhà XB: Nxb Nghệ An
[4]. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên, 1995), Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chí văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
[5]. Nguyễn Thị Phơng Chi (2002), Tình hình điền trang thời Trần, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 2-4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình điền trang thời Trần
Tác giả: Nguyễn Thị Phơng Chi
Năm: 2002
[6]. Nguyễn Tiến Cờng (1998), Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến
Tác giả: Nguyễn Tiến Cờng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[7]. Quỳnh C, Đỗ Đức Hùng, Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
[8]. Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam (2001), Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nớc phong kiến Việt Nam (X - XIX), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nớc phong kiến Việt Nam (X - XIX)
Tác giả: Phan Hữu Dật, Lâm Bá Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
[9]. Nguyễn Đăng Duy (1999), Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1999
[10]. Nguyễn Đăng Duy (2002), Văn hóa học Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2002
[11]. Trần Hồng Đức, Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vị trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt Nam
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
[12]. Ninh Viết Giao (2000), Tục thờ trần và thần tích Nghệ An, Sở Văn hóa Thông tin Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục thờ trần và thần tích Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Năm: 2000
[13]. Ninh Viết Giao (2003), Về văn hóa xứ Nghệ, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn hóa xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
[14]. Ninh Viết Giao (chủ biên, 2004), Văn bia Nghệ An, Hội Văn nghệ dân gian Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bia Nghệ An
Nhà XB: Nxb Nghệ An
[15]. Ninh Viết Giao (chủ biên, 2005), Nghệ An lịch sử và văn hóa, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An lịch sử và văn hóa
Nhà XB: Nxb Nghệ An
[16]. Mai Hồng (1989), Các trạng nguyên nớc ta, Nxb Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trạng nguyên nớc ta
Tác giả: Mai Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1989
[17]. Vũ Khiêu (1997), Nho giáo và phát triển ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Vũ Khiêu
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1997
[18]. Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn... (1976), Một số trận quyết chiến chiến lợc trong lịch sử dân tộc, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số trận quyết chiến chiến lợc trong lịch sử dân tộc
Tác giả: Phan Huy Lê, Bùi Đăng Dũng, Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân
Năm: 1976
[19]. Bùi Dơng Lịch (1993), Nghệ An ký, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An ký
Tác giả: Bùi Dơng Lịch
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
[20]. Tạ Ngọc Liễn, Chân dung văn hóa Việt Nam, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chân dung văn hóa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Thanh niên

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w